Hoàn thiện Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần LiLama 69-1

Tài liệu Hoàn thiện Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần LiLama 69-1: MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường với xu thế hội nhập cao như hiện nay thì sức ép cạnh tranh đối với các doanh nghiệp trên mọi lĩnh vực ngành nghề là rất lớn. Để có thể tăng năng lực cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải áp dụng đồng bộ nhiều công cụ khác nhau trong đó vai trò của tài chính kế toán là vô cùng quan trọng. Bởi công cụ tài chính kế toán không chỉ cung cấp thông tin cho doanh nghiệp một cách kịp thời và chính xác làm cơ sở cho mọi quyết định quản trị doanh nghiệp mà nó còn cung ... Ebook Hoàn thiện Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần LiLama 69-1

doc85 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1424 | Lượt tải: 4download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện Kế toán chi phí sản xuất & tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần LiLama 69-1, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cấp hệ thống đánh giá tính hiệu quả trong hoạt động của doanh nghiệp. Việc sử dụng các công cụ tài chính phải phù hợp với từng biện pháp cụ thể mà kiểm soát chi phí, hạ giá thành sản phẩm đã trở thành yêu cầu bắt buộc đối với mọi doanh nghiệp. Chính vì vậy mà công tác kế toán chi phí sản xuất tính giá thành sản phẩm là bộ phận quan trọng nhất trong công tác kế toán của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng đó, qua quá trình thực tập tại Công ty cổ phần LiLama 69-1, được sự giúp đỡ của cô giáo TH.S Bùi Thị Thu Thuỷ và các cô chú tại phòng kế toán, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần LiLama 69-1” để làm Đồ án tốt nghiệp của mình. Đồ án ngoài Lời mở đầu và Kết luận gồm hai phần : Phần I: Lý luận chung về kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp kinh doanh xây lắp Phần II: Thực trạng kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Công ty cổ phần LiLama 69-1 PHẦN I LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH XÂY LẮP I.Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 1.Đặc điểm của hoạt động sản xuất xây lắp có ảnh hưởng đến công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập có chức năng tái sản xuất tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân. Nó tạo ra cơ sở vật chất cho xã hội, tăng tiềm lực kinh tế, quốc phòng cho đất nước. Trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng cơ bản đã trở thành ngành tiên phong đóng vai trò quan trọng trong công cuộc đổi mới của đất nước. So với các ngành sản xuất khác ngành xây dựng cơ bản có những nét đặc thù về sản phẩm và tổ chức sản xuất. Đặc điểm về tổ chức sản xuất: Hoạt động xây lắp được thực hiện theo phương pháp giao nhận thầu do đơn vị chủ đầu tư giao. Trong hợp đồng, hai bên thống nhất với nhau về giá trị thanh toán của công trình và các điều kiện khác. Do vậy tính chất hàng hóa không được thể hiện rõ, nghiệp vụ bàn giao công trình, hạng mục công trình hoặc khối lượng xây lắp đạt điểm dừng kỹ thuật cho bên giao thầu chính là quá trình tiêu thụ sản phẩm xây lắp. Hoạt động sản xuất xây lắp thường không cố định tại một địa điểm mà di động theo địa điểm đặt sản phẩm và hoạt động này chịu sự tác động trực tiếp của các yếu tố tự nhiên. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác thi công cả về kỹ thuật, tiến độ cũng như công tác quản lý và hạch toán vật liệu, máy móc thiết bị. Trong doanh nghiệp xây lắp cơ chế khoán được áp dụng rộng rãi với các hình thức: khoán gọn, khoán theo từng khoản mục chi phí nên phải hình thành bên giao khoán và bên nhận khoán, giá khoán. Khi tiến hành giao nhận khoán hai bên phải lập hợp đồng giao khoán. Hợp đồng này phải ghi rõ nội dung công việc, trách nhiệm và quyền lợi của mỗi bên tham gia, thời gian thực hiện và các điều khoản có liên quan khác. Khi công trình hoàn thành, được nghiệm thu, bàn giao hai bên sẽ lập biên bản thanh lý hợp đồng. Đặc điểm về sản phẩm xây lắp: Sản phẩm xây lắp là những công trình xây dựng, vật kiến trúc...có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian xây dựng dài đòi hỏi việc quản lý và hạch toán giá thành sản phẩm phải lập dự toán. Trong quá trình sản xuất phải luôn so sánh giá thực tế với giá dự toán, lấy giá dự toán làm thước đo. Giá bán của sản phẩm được xác định trước khi xây dựng, địa điểm sản xuất cũng là nơi tiêu thụ. Và sau khi công trình hoàn thành, các đơn vị xây lắp có trách nhiệm bảo hành công trình trong một thời gian nhất định. Sản phẩm xây lắp thì cố định tại nơi sản xuất còn các điều kiện sản xuất (máy móc thiết bị thi công, người lao động...) phải di chuyển theo địa điểm đặt sản phẩm. Chính vì vậy mà công tác quản lý sử dụng, hạch toán tài sản, vật tư rất phức tạp. 2.Khái niệm chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 2.1. Khái niệm chi phí sản xuất xây lắp Quá trình hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp là sự kết hợp các yếu tố của quá trình sản xuất: sức lao động của con người, tư liệu lao động và đối tượng lao động. Sự tham gia của các yếu tố đầu vào quá trình sản xuất hình thành nên các khoản chi phí tương ứng. Tương ứng với việc sử dụng TSCĐ là chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với việc sử dụng nguyên vật liệu là chi phí về nguyên vật liệu, tương ứng với việc sử dụng tiền lương là chi phí tiền lương, tiền công... Trong nền kinh tế hàng hóa các khoản chi phí trên đều được biểu hiện bằng tiền. Như vậy, chi phí sản xuất xây lắp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ hao phí lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động sản xuất xây lắp trong một thời kỳ nhất định. 2.2.Khái niệm giá thành sản phẩm xây lắp Trong quá trình sản xuất doanh nghiệp xây lắp phải bỏ ra các khoản chi phí sản xuất và kết quả sản xuất mà doanh nghiệp thu được là những sản phẩm, công việc xây lắp đã hoàn thành nhất định. Giá thành sản phẩm xây lắp là toàn bộ những chi phí về lao động sống, lao động vật hóa và chi phí khác biểu hiện bằng tiền mà doanh nghiệp xây lắp đã bỏ ra để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình, hạng mục công trình theo quy định. 3.Phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp 3.1.Phân loại chi phí sản xuất 3.1.1. Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung tính chất kinh tế của chi phí Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung kinh tế của chi phí là việc phân chia chi phí sản xuất thành những yếu tố chi phí khác nhau, mà mỗi yếu tố của chi phí bao gồm các chi phí có nội dung kinh tế giống nhau, không phân biệt địa điểm phát sinh, mục đích tác dụng của chi phí. Chi phí nguyên vật liệu: bao gồm toàn bộ chi phí về nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ, dụng cụ, nhiên liệu, động lực...sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm. Chi phí nhân công: bao gồm tiền lương và các khoản phụ cấp lương, các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân sản xuất, công nhân lái máy thi công, nhân viên quản lý tại các bộ phận, đội sản xuất. Chi phí khấu hao TSCĐ: là số tiền trích khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp, bao gồm khấu hao TSCĐ là máy thi công và khấu hao TSCĐ khác sử dụng cho hoạt động sản xuất và phục vụ sản xuất ở các tổ đội, bộ phận sản xuất. Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm toàn bộ số tiền doanh nghiệp xây lắp chi trả cho các loại dịch vụ mua từ bên ngoài phục vụ cho hoạt động sản xuất như tiền nước, tiền điện thoại, tiền điện ... Chi phí khác bằng tiền: gồm các chi phí khác chi ra bằng tiền ngoài 4 yếu tố kể trên. Cách phân loại này có ý nghĩa trong quản lý chi phí, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương đồng thời là cơ sở để kế toán tập hợp chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố phục vụ cho lập nội dung liên quan trong thuyết minh báo cáo tài chính. 3.1.2. Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích, công dụng Các khoản chi phí có mục đích, công dụng giống nhau được xếp cùng một khoản chi phí, bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu thực tế sử dụng trong quá trình sản xuất xây lắp gồm chi phí vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, giá trị thiết bị kèm theo vật kiến trúc... nhưng không bao gồm giá trị thiết bị cần lắp của bên giao thầu, giá trị nhiên liệu sử dụng cho máy móc thi công và những vật liệu phục mụ cho công tác quản lý đội. Chi phí nhân công trực tiếp là các chi phí lương chính, lương phụ, phụ cấp lương của công nhân trực tiếp tham gia xây lắp công trình. Không bao gồm các khoản trích theo lương như: KPCĐ, BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp xây lắp. Chi phí sử dụng máy thi công là chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công việc xây, lắp bằng máy. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời. Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công gồm: lương chính, lương phụ của công nhân điều kiển máy; chi phí vật liệu; chi phí công cụ, dụng cụ, chi phí khấu hao TSCĐ; chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí khác bằng tiền. Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: chi phí sửa chữa lớn máy thi công, chi phí công trình tạm thời cho máy thi công. Chi phí sản xuất chung: là các chi phí sản xuất của đội, công trường xây dựng gồm: lương của nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) của nhân viên quản lý đội và công nhân trực tiếp tham gia xây lắp, chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động quản lý đội, chi phí vật liệu, chi phí công cụ, dụng cụ, và các chi phí khác phát sinh trong kỳ liên quan đến hoạt động của đội xây lắp. Cách phân loại này chỉ rõ chi phí bỏ ra cho từng lĩnh vực hoạt động, địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục chi phí, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm. 3.1.3. Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí sản xuất với khối lượng sản phẩm sản xuất. Theo cách này chi phí được chia thành chi phí bất biến, chi phí khả biến và chi phí hỗn hợp: Chi phí bất biến: là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi về khối lượng hoạt động của sản xuất hoặc khối lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ. Chi phí khả biến: là những chi phí thay đổi về tổng số tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động, khối lượng sản phẩm sản xuất ra trong kỳ. Chi phí hỗn hợp: là chi phí mà bản thân nó gồm các yếu tố của chi phí bất biến và chi phí khả biến. Cách phân loại này là cơ sở để doanh nghiệp xây lắp xây dựng giá đấu thầu hợp lý, có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý, phân tích mối quan hệ giữa chi phí-khối lượng-lợi nhuận, phân tích điểm hòa vốn và phục vụ cho việc ra quyết định quản lý cần thiết để hạ giá thành, tăng tính hiệu quả trong sản xuất kinh doanh. 3.1.4. Phân loại chi phí sản xuất theo mối quan hệ của chi phí sản xuất với đối tượng chịu chi phí Theo cách phân loại này chi phí sản xuất được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp Chi phí trực tiếp: là các chi phí sản xuất liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí. Các chi phí này được kế toán căn cứ trực tiếp vào các chứng từ phản ánh chúng để tập hợp trực tiếp cho từng đối tượng chịu chi phí. Chi phí gián tiếp: là những chi phí liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí, chúng cần được phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí theo các tiêu thức phân bổ thích hợp. Cách phân loại này có ý nghĩa trong xác định phương pháp kế toán tập hợp chi phí và phân bổ chi phí sản xuất cho các đối tượng chi phí một cách thích hợp. 3.2.Phân loại giá thành sản phẩm xây lắp 3.2.1. Phân loại giá thành theo thời điểm tính giá thành: Theo cách phân loại này giá thành được chia thành 3 loại: Giá thành dự toán: là tổng số chi phí dự toán để hoàn thành khối lượng xây lắp công trình. Giá thành dự toán được xác định trên cơ sở định mức và khung giá dự toán áp dụng cho từng vùng do Nhà nước quy định. Giá thành dự toán thấp hơn giá trị dự toán ở phần lãi định mức hay thu nhập chịu thuế tính trước. Giá thành dự toán của công trình, hạng mục công trình = Lãi định mức Giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình _ Giá thành dự toán là cơ sở để xác định khoản mục thu nhập chịu thuế tính trước hay tính lợi nhuận của nhà thầu trong bảng tổng hợp kinh phí dự toán xây lắp. Giá thành kế hoạch: là giá thành xác định xuất phát từ những điều kiện cụ thể ở mỗi đơn vị xây lắp trên cơ sở biện pháp thi công, các định mức, đơn giá áp dụng trong đơn vị. Mối liên hệ giữa giá thành kế hoạch và giá thành dự toán: Giá thành kế hoạch của công trình, hạng mục công trình = Mức hạ giá thành dự toán Giá trị dự toán của công trình, hạng mục công trình _ Giá thành kế hoạch là cơ sở để nhà quản lý đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất của doanh nghiệp từ đó có những điểu chỉnh kịp thời. Giá thành thực tế: là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ chi phí thực tế để hoàn thành khối lượng xây lắp gồm cả chi phí định mức và chi phí vượt định mức và không thuộc định mức trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp được phép tính vào giá thành. Giá thành thực tế được tính trên cơ sở số liệu kế toán về chi phí sản xuất của khối lượng xây lắp thực hiện trong kỳ. Như vậy, giá thành dự toán và giá thành kế hoạch được lập trước khi tiến hành thi công công trình, hạng mục công trình còn giá thành thực tế chỉ tính được sau thực hiện thi công có khối lượng xây lắp hoàn thành hoặc công trình, hạng mục công trình đã hoàn thành bàn giao. 3.2.2. Phân loại theo phạm vi phát sinh chi phí: Theo cách này giá thành được chia thành 2 loại: Giá thành sản xuất: là toàn bộ hao phí của các yếu tố dùng vào sản xuất các sản phẩm, dịch vụ. Giá thành sản xuất Chi phí sản xuất chung = Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp + + Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ Chi phí quản lý doanh nghiệp = Giá thành sản xuất của sản phẩm tiêu thụ Chi phí bán hàng + + Giá thành tiêu thụ: là khoản chi phí thực tế phát sinh liên quan đến việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. 4.Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành Tổng giá thành sản phẩm Chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ = Chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ + - Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt biểu hiện của quá trình sản xuất. Chi phí biểu hiện về mặt hao phí còn giá thành biểu hiện mặt kết quả của quá trình sản xuất. Xét về bản chất giá thành và chi phí sản xuất đều bao gồm chi phí về lao động sống, lao động vật hóa mà doanh nghiệp bỏ ra trong quá trình tạo ra sản phẩm. Tuy nhiên, chi phí sản xuất luôn gắn với từng thời kỳ phát sinh chi phí, còn giá thành sản phẩm lại gắn với khối lượng sản phẩm đã hoàn thành. Chi phí sản xuất trong kỳ có liên quan đến những sản phẩm hoàn thành, sản phẩm dở dang và những sản phẩm hỏng. Còn giá thành sản phẩm lại không liên quan đến sản phẩm dở dang kỳ trước chuyển sang. Do sự chênh lệch chi phí sản xuất dở dang kỳ trước chuyển sang và kỳ này chuyển sang kỳ sau nên chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong kỳ không trùng nhau. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm được thể hiện. II.Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp 1.Kế toán chi phí sản xuất xây lắp 1.1. Đối tượng, phương pháp, trình tự hạch toán chi phí sản xuất: 1.1.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất xây lắp là phạm vi giới hạn mà các chi phí phát sinh được tập hợp, nhằm đáp ứng yêu cầu kiểm tra, giám sát chi phí và yêu cầu tính giá thành. Việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, yêu cầu trình độ quản lý, yêu cầu hạch toán và quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm. Trên cơ sở đó, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất có thể là từng tổ đội xây lắp, từng công trình, hạng mục công trình hoặc từng khối lượng xây lắp có thiết kế riêng. 1.1.2. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất Phương pháp kế toán chi phí sản xuất là một phương pháp hay hệ thống các phương pháp được sử dụng để tập hợp và phân loại các chi phí sản xuất trong phạm vi giới hạn của đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Với đặc điểm của đối tượng kế toán chi phí sản xuất ở các đơn vị xây lắp nên chi phí sản xuất xây lắp được tập hợp theo từng công trình, hạng mục công trình, hoặc nơi phát sinh chi phí như: tổ, đội sản xuất ... Trong các doanh nghiệp xây lắp có các phương pháp kế toán chi phí sản xuất sau: Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp Phương pháp tập hợp chi phí trực tiếp tức là chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí nào sẽ được tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó. Do đó, việc tập hợp chi phí chính xác cho từng đối tượng, cung cấp số liệu chính xác cho việc tính giá thành, đồng thời có tác dụng tăng cường công tác kiểm tra giám sát chi phí sản xuất theo đối tượng. Để áp dụng phương pháp này đòi hỏi việc hạch toán ban đầu phải chặt chẽ, việc ghi chép phải cụ thể cho từng đối tượng chịu chi phí. Phương pháp tập hợp chi phí gián tiếp Tỷ lệ phân bổ Tổng chi phí cần phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của các đối tượng = Chi phí sản xuất của đối tượng tập hợp chi phí Tỷ lệ phân bổ Tổng tiêu thức phân bổ của từng đối tượng = X Theo phương pháp này, chi phí sản xuất phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, việc hạch toán ban đầu không thể cụ thể cho từng đối tượng do đó phảỉ lựa chọn phương pháp phân bổ cho từng đối tượng tâp hợp chi phí. Việc lựa chọn tiêu thức phân bổ cần căn cứ vào đặc điểm hoạt động sản xuất, trình độ, yêu cầu quản lý và đặc điểm chi phí. 1.1.3.Trình tự kế toán chi phí sản xuất Trình tự hạch toán chi phí sản xuất là thứ tự các bước công việc cần tiến hành nhằm tập hợp chi phí sản xuất để phục vụ cho việc tính giá thành sản phẩm một cách chính xác, kịp thời. Trình tự này phụ thuộc vào từng ngành nghề, từng doanh nghiệp, vào mối quan hệ giữa các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, vào trình độ công tác quản lý và hạch toán ... Việc tập hợp chi phí sản xuất trong xây dựng cơ bản qua các bước sau: Tập hợp chi phí cơ bản có liên quan trực tiếp cho từng công trình, hạng mục công trình. Tính toán và phân bổ lao vụ của ngành sản xuất kinh doanh phụ có liên quan trực tiếp đến công trình, hạng mục công trình trên cơ sở khối lượng lao vụ và đơn giá của lao vụ. Tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung cho các công trình, hạng mục công trình có liên quan theo tiêu thức phù hợp. Xác định thiệt hại thực trong sản xuất để tính vào chi phí sản xuất trong kỳ Xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ, từ đó tính giá thành công trình, hạng mục công trình hoàn thành. 1.2. Phương pháp kế toán chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp 1.2.1.Kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Nguyên tắc kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm giá trị vật liệu, nhiên liệu sử dụng cho hoạt động xây lắp hoặc sản xuất sản phẩm thực hiện dịch vụ, lao vụ của doanh nghiệp. Giá trị nguyên vật liệu có thể được xác định theo một trong các phương pháp tính giá sau và phương pháp tính giá được lựa chọn phải thống nhất trong niên độ kế toán: - Phương pháp giá thực tế đích danh - Phương pháp giá thực tế bình quân - Phương pháp nhập trước, xuất trước - Phương pháp nhập sau, xuất trước Nếu nguyên vật liệu được xuất dùng có liên quan trực tiếp đến đối tượng tập hợp chi phí thì hạch toán trực tiếp cho đối tượng đó. Nếu nguyên vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng có liên quan. Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng TK 621-Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp. Tài khoản này được chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Kết cấu của tài khoản như sau: *Bên Nợ: Tập hợp chi phí nguyên, vật liệu đưa vào sử dụng trực tiếp cho hoạt động xây lắp trong kỳ. *Bên Có: - Giá trị nguyên vật liệu xuất dùng không hết - Kết chuyển chi phí vật liệu trực tiếp Tài khoản này cuối kỳ không có số dư. Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu: Trình tự hạch toán được minh họa qua sơ đồ sau Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp TK 152 TK 154 TK 133 TK 111,112,331 TK 621 TK 152 Xuất kho vật liệu Thuế GTGT được khấu trừ Vật liệu xuất trực tiếp tới công trình không qua kho Mua nguyên vật liệu nhập kho Kết chuyển CPNVLTT Vật liệu dùng không hết nhập lại kho 1.2.2.Hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Nguyên tắc hạch toán chi phí nhân công trực tiếp Chi phí nhân công trực tiếp là tiền công của công nhân trực tiếp xây dựng và lắp đặt. Tiền lương ở đây bao gồm lương chính, lương phụ và các khoản phụ cấp lương trả cho công nhân xây lắp trong danh sách và công nhân hợp đồng xây lắp. Chi phí này không bao gồm các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ trích trên quỹ lương của công nhân trực tiếp sản xuất. Để hạch toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp kế toán sử dụng TK 622- Chi phí nhân công trực tiếp. Tài khoản này được chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Kết cấu của tài khoản như sau: *Bên Nợ: Tập hợp chi phí nhân công trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp. *Bên Có: Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. TK này cuối kỳ không có số dư. Phương pháp hạch toán một số nghiệp vụ chủ yếu Trình tự hạch toán được minh họa qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.2: Sơ đồ hạch toán chi phí nhân công trực tiếp TK 622 TK 334 Tiền lương và phụ cấp theo lương phải TK 154 cho công nhân trực tiếp xây lắp TK 1413 Tạm ứng chi phí nhân công thực hiện Kết chuyển CPNVLTT giá trị khoán nội bộ ( đơn vị nhận khoán không tổ chức hệ thống kế toán riếng) TK 335 Trích trước lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp xây lắp 1.2.3.Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Nguyên tắc hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Chi phí sử dụng máy thi công là là chi phí cho các máy thi công nhằm thực hiện khối lượng công việc xây, lắp bằng máy. Chi phí sử dụng máy thi công bao gồm chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời. Chi phí thường xuyên sử dụng máy thi công: là những chi phí phát sinh thường xuyên, từng kỳ khấu hao, thuê máy, thợ máy, nhiên liệu, vật liệu, phụ tùng dùng cho máy thi công trong thời gian hoạt động. Chi phí tạm thời sử dụng máy thi công gồm: những chi phí phát sinh một lần như chi phí sửa chữa lớn máy thi công, chi phí công trình tạm thời cho máy thi công. Đối với trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện xây, lắp công trình theo phương thức thi công hỗn hợp vừa thủ công vừa kết hợp bằng máy kế toán sử dụng TK 623-Chi phí sử dụng máy thi công để hạch toán chi phí sử dụng máy thi công. Trường hợp doanh nghiệp thực hiện xây lắp công trình hoàn toàn bằng máy kế toán không sử dụng TK 623 mà doanh nghiệp hạch toán các chi phí xây lắp trực tiếp vào các TK 621, 622, 627. TK 623 không bao gồm các khoản trích theo lương BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân lái máy. Kết cấu của tài khoản như sau: *Bên Nợ: Tập hợp chi phí liên quan đến máy thi công phát sinh trong kỳ. *Bên Có: Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công vào chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Phương pháp hạch toán chi phí sử dụng máy thi công Hạch toán chi phí sử dụng máy thi công phụ thuộc vào hình thức sử dụng máy thi công: tổ chức đội máy thi công riêng biệt chuyên thực hiện các khối lượng thi công bằng máy hoặc giao máy cho các đội, xí nghiệp xây lắp. Nếu có tổ chức đội máy thi công riêng biệt và có phân cấp hạch toán cho đội máy có tổ chức kế toán riêng: Tập hợp chi phí liên quan đến hoạt động của đội máy thi công: Nợ TK 621, 622, 627 Có TK 152, 334, 214, 331.... Cuối kỳ, kết chuyển chi phí để tính giá thành trực tiếp ca máy: Nợ TK 154 Có TK 621, 622, 627 Căn cứ vào giá thành ca máy tính toán được phân bổ cho các đối tượng sử dụng Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức căn cứ lao vụ xe máy lẫn nhau giữa các bộ phận: Nợ TK 623 Có TK 154 Nếu doanh nghiệp thực hiện theo phương thức bán lao vụ máy lẫn nhau giữa các bộ phận nội bộ: Giá thành ca máy chuyển giao cho các bộ phận xây lắp trong nội bộ Nợ TK 632 Có TK 154 Trị giá cung cấp lao vụ máy tính theo giá tiêu thụ, kể cả GTGT: Nợ TK 623- Giá chưa có thuế Nợ TK 133- Thuế GTGT đầu vào được khấu trừ Có TK 512- Doanh thu tính theo giá chưa có thuế Có TK 3331- Thuế GTGT đầu ra Nếu không tổ chức đội máy thi công riêng biệt hoặc có tổ chức đội máy thi công riêng biệt nhưng không tổ chức kế toán riêng cho đội máy thi công: Tập hợp chi phí sử dụng máy thi công: Nợ TK 623- chi phí sử dụng máy thi công Nợ TK 133- thuế GTGT được khấu trừ Có TK 111, 112, 152, 331, 334.... Sau đó phân bổ và kết chuyển vào từng công trình: Nợ TK 154 Có TK 623 Nếu thuê ca máy thi công Căn cứ và chứng từ trả tiền thuê xe, máy thi công: Nợ TK 623- Chi phí sử dụng máy thi công Nợ TK 133- Thuế GTGT được khấu trừ Có TK 111,112,331..... Sơ đồ 1.3: Sơ đồ kế toán chi phí sử dụng máy thi công (trường hợp không tổ chức đội máy thi công riêng biệt, thi công hỗn hợp vừa bằng máy vừa thủ công) TK 153,142,242 TK 154 TK 334 TK 152 TK 623 Tiền lương, phụ cấp lương phải trả cho công nhân điều kiển máy thi công Kết chuyển chi phí sử Nhiên liệu, vật liệu dùng cho Công cụ dụng cụ dùng cho máy thi công máy thi công TK 214 TK 111,112 Khấu hao máy thi công TK 111,112,331 Dịch vụ mua ngoài dùng cho máy thi công Chi phí khác bằng tiền dùng cho máy thi công máy thi công 1.2.4.Kế toán chi phí sản xuất chung Nguyên tắc kế toán chi phí sản xuất chung Chi phí sản xuất chung là chi phí phát sinh trực tiếp trong quá trình hoạt động sản xuất xây lắp, ngoài chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công. Chi phí phục vụ và quản lý sản xuất phát sinh ở tổ, đội xây lắp bao gồm: chi phí tiền lương nhân viên quản lý đội, các khoản trích theo lương (BHXH, BHYT, KPCĐ) trên tiền lương của công nhân trực tiếp xây lắp, công nhân điều khiển máy thi công, nhân viên quản lý đội, chi phí vật liệu sử dụng ở đội máy thi công, chi phí công cụ, đồ dùng đội, chi phí dịch vụ mua ngoài sử dụng cho tổ đội thi công và các chi phí khác bằng tiền phát sinh ở tổ đội thi công. Để hạch toán chi phí sản xuất chung kế toán sử dụng TK 627- Chi phí sản xuất chung. Tài khoản này được chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình. Kết cấu của tài khoản như sau: *Bên Nợ: Tập hợp chi phí sản xuất chung thực tế phát sinh trong kỳ *Bên Có: Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung Kết chuyển hay phân bổ chi phí sản xuất chung sang chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Tài khoản này được mở chi tiết thành 6 tài khoản cấp 2: + TK 6271-Chi phí nhân viên phân xưởng +TK 6272- Chi phí vật liệu + TK 6273- Chi phí dụng cụ sản xuất + TK 6274-Chi phí khấu hao TSCĐ + TK 6277- Chi phí dịch vụ mua ngoài + TK 6278- Chi phí khác bằng tiền Phương pháp hạch toán một số nghiệp chủ yếu Trình tự hạch toán được minh họa qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.4: Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất chung TK 152 TK 154 TK 334,338 TK 111,112,331... TK 627 TK 111,152,335... Chi phí nhân viên quản lý đội, trích BHXH, BHYT, KPCĐ Kết chuyển chi phí sản Các khoản ghi giảm chi phí sản xuất chung Vật liệu xuất dùng cho quản lý đội TK 153,142,242 Chi phí công cụ, dụng cụ xuất dùng cho đội Chi phí dịch vụ mua ngoài và chi phí khác bằng tiền xuất chung 1.2.5.Đặc điểm hạch toán theo phương thức khoán gọn trong các doanh nghiệp xây lắp Phương thức khoán gọn là một hình thức quản lý mới trong các doanh nghiệp. Theo hình thức này, doanh nghiệp giao khoán cho các tổ đội sản xuất, các đơn vị này có thể nhận khoán gọn cả công trình hoặc hạng mục công trình. Giá nhận khoán gọn bao gồm cả chi phí tiền lương, vật liệu, công cụ dụng cụ và các chi phí chung khác. Khi nhận khoán giữa doanh nghiệp và các đơn vị nhận khoán gọn phải ký hợp đồng khoán gọn và khi thực hiện xong hợp đồng phải thanh lý hợp đồng khoán gọn làm căn cứ ghi sổ kế toán. Trường hợp đơn vị nhận khoán được phân cấp quản lý tài chính và tổ chức công tác kế toán riêng. Tại đơn vị nhận khoán: Để tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm xây lắp kế toán cũng sử dụng các tài khoản: TK 621 “ chi phí nguyên vật liệu trực tiếp”, TK 622 “ chi phí nhân công trực tiếp”, TK 623 “ chi phí sử dụng máy thi công”, TK 627 “ chi phí sản xuất chung”. Để phản ánh quan hệ thanh toán với đơn vị giao khoán kế toán sử dụng tài khoản: TK 3362 “ phải trả về giá trị khối lượng xây lắp nhận khoán nội bộ”. Khi nhận tiền, vật tư đơn vị giao khoán ứng kế toán ghi: Nợ TK 111,112, 152 Có TK 336 Phải trả nội bộ (3362) Khi thực hiện chi phí cho thi công, mọi chi phí đều được hạch toán thông qua TK 621, 622, 623, 627 và tập hợp trên TK 154. Khi công trình hoàn thành bàn giao cho bên giao khoán Nợ TK 336 Phải trả nội bộ (3362) Có TK 512 Doanh thu nội bộ Có TK 33311 Thuế GTGT đầu ra Giá thành thực tế công trình bàn giao kế toán ghi: Nợ TK 632 Giá vốn hàng bán Có TK 154 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Kế toán ở đơn vị giao khoán: Ở đơn vị giao khoán chỉ bao gồm chi phí quản lý, chi phí giao dịch....Do đó, kế toán nghiệp vụ giao khoán không cần sử dụng các TK 621, 622, 623, 627 mà sử dụng TK 642 để tập hợp chi phí thuộc nội dung chi phí quản lý doanh nghiệp. Để phản ánh quan hệ với đơn vị nhận khoán kế toán sử dụng TK 136(2)- phải thu về giá trị khối lượng xây lắp giao khoán nội bộ Sơ đồ 1.5 Sơ đồ hạch toán tại đơn vị giao khoán (trường hợp đơn vị nhận khoán có tổ chức hệ thống sổ sách riêng) TK 154 TK 111,112,152,153... TK 136(2) Tạm ứng tiền vật tư .... cho đơn vị nhận khoán Nếu chưa bàn giao TK 133 Nếu đã bàn giao công công trình cho chủ đầu tư trình cho chủ đầu tư Thuế GTGT được khấu trừ Trường hợp khoán khoản mục chi phí (đơn vị nhận khoán không được phân cấp quản lý tài chính, không tổ chức kế toán riêng) Kế toán ở đơn vị giao khoán: Để phản ánh tình hình giao tạm ứng vật tư tiền vốn cho các đơn vị nhận khoán để thực hiện khối lượng giao khoán xây lắp kế toán sử dụng tài khoản 14133- tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ Sơ đồ 1.6 Sơ đồ hạch toán tại đơn vị giao khoán (trường hợp đơn vị nhận khoán có tổ chức kế toán riêng) TK 621,622,623,627 TK 111,112,152,153 TK 1413(3) Tạm ứng vật tư, tiền vốn cho đơn vị nhận khoán Chi phí thực tế phát sinh TK 111,112,3388.... Thanh toán bổ sung số tạm ứng thiếu cho đơn vị nhận khoán khi hoàn thành TK 111,112,1388... (khi thanh lý hợp động) Thu số thừa khi thanh lý hợp đồng 1.2.6. Tổng hợp chi phí sản xuất Trong quá trình hoạt động xây lắp, chi phí sản xuất thực tế phát sinh được tập hợp theo từng khoản mục chi phí. Cuối kỳ, kế toán phải tổng hợp toàn bộ chi phí sản xuất xây lắp, kế toán sử dụng TK 154- chi phí sản xuất kinh doanh dở dang. Tài khoản này được mở chi tiết theo địa điểm phát sinh chi phí (đội sản xuất xây lắp), theo từng công trình, hạng mục công trình. Kết cấu của tài khoản như sau: *Bên Nợ: - Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung liên q._.uan đến giá thành sản phẩm xây, lắp. - Tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sử dụng máy thi công, chi phí sản xuất chung liên quan đến giá thành sản phẩm công nghiệp và lao vụ, dịch vụ khác. - Giá thành xây lắp của nhà thầu phụ hoàn thành bàn giao cho nhà thầu chính chưa được tiêu thụ trong kỳ. *Bên Có: - Giá thành sản phẩm xây, lắp hoàn thành bàn giao hoặc chờ bàn giao. - Giá thành thực tế của sản phẩm công nghiệp hoàn thành và chi phí sản xuất thực tế của khối lượng lao vụ, dịch vụ hoàn thành. - Trị giá phế liệu thu hồi, giá trị sản phẩm hỏng không sửa chữa được - Trị giá nguyên liệu, vật liệu, hàng hóa gia công xong nhập lại kho Số dư bên Nợ: - Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang cuối kỳ - Giá thành xây lắp của nhà thầu phụ hoàn thành bàn giao cho nhà thầu chính chưa được xác định tiêu thụ trong kỳ. TK 154 được chi tiết thành 4 tài khoản cấp 2: - TK 1541- Xây lắp - TK 1543- Dịch vụ - TK 1542- Sản phẩm khác - TK 1544- Chi phí bảo hành xây lắp Trình tự tổng hợp chi phí sản xuất của doanh nghiệp xây lắp được minh họa qua sơ đồ sau: Sơ đồ 1.7: Sơ đồ tổng hợp chi phí sản xuất TK 154 TK 138,811,131 TK 621 Kết chuyển chi phí NVL trực tiếp TK 622 Các khoản thiệt hại trong sản xuất nếu có Kết chuyển chi phí nhân công trực tiếp TK 632 Kết chuyển chi phí sử dụng máy thi công TK 623 công trình hoàn thành Kết chuyển giá thành Kết chuyển chi phí sản xuất chung TK 627 2. Đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang và tính giá thành sản phẩm 2.1. Đối tượng và kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp 2.1.1. Đối tượng tính giá thành sản phẩm xây lắp Đối tượng tính giá thành là các loại sản phẩm, công việc do doanh nghiệp sản xuất ra cần phải tính được tổng giá thành và giá thành đơn vị. Xác định đối tượng tính giá là công việc đầu tiên trong toàn bộ công việc tính giá thành sản phẩm, nó có ý nghĩa quan trọng và là căn cứ để kế toán mở các bảng chi tiết tính giá thành và tổ chức công tác tính giá thành theo từng đối tượng phục vụ cho việc kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch giá thành. Việc xác định đối tượng tính giá thành phải dựa trên cơ sở đặc điểm sản phẩm của doanh nghiệp, các loại sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra và quy trình sản xuất sản phẩm. Trong các doanh nghiệp xây lắp do sản phẩm mang tính đơn chiếc, với thiết kế riêng nên đối tượng tính giá thành phụ thuộc vào thỏa thuận giữa bên giao thầu với doanh nghiệp xây lắp thường là công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc khối lượng, giai đoạn xây lắp đạt đến điểm dừng kỹ thuật hợp lý, xác định được dự toán riêng thuộc từng công trình, hạng mục công trình hoàn thành. 2.1.2. Kỳ tính giá thành sản phẩm xây lắp Đồng thời với việc xác định đối tượng tính giá thành, kế toán phải xác định kỳ tính giá thành. Kỳ tính giá thành là mốc thời gian mà bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công việc tổng hợp số liệu để tính giá thành thực tế cho các đối tượng tính giá thành. Việc xác định kỳ tính giá thành phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, chu kỳ sản xuất và hình thức nghiệm thu, bàn giao khối lượng sản phẩm hoàn thành và kỳ kế toán của doanh nghiệp xây lắp. Trong các doanh nghiệp xây lắp, kỳ tính giá thành được xác định như sau: - Nếu đối tượng tính giá thành là công trình, hạng mục công trình hoàn thành hoặc theo đơn đặt hàng thì thời điểm tính giá thành là khi công trình, hạng mục công trình hoặc đơn đặt hàng hoàn thành. - Nếu đối tượng tính giá thành là các công trình được quy định thanh toán theo giai đoạn xây dựng thì kỳ tính giá thành là theo giai đoạn xây dựng hoàn thành - Nếu đối tượng tính giá thành là những hạng mục công trình được quy định thanh toán định kỳ theo khối lượng từng loại công việc trên cơ sở giá dự toán thì kỳ tính giá thành là theo tháng (quý). 2.2. Đánh giá sản phẩm xây lắp dở dang cuối kỳ Sản phẩm xây lắp dở dang là khối lượng sản phẩm, công việc xây lắp còn đang trong quá trình sản xuất xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định hoặc đã hoàn thành nhưng chưa đạt tiêu chuẩn quy định để bàn giao. Chi phí sản xuất xây lắp được tập hợp theo từng khoản mục chi phí vừa liên quan đến sản phẩm hoàn thành, vừa liên quan đến sản phẩm dở dang được xác định ở cuối kỳ. Đánh giá sản phẩm dở dang là việc tính toán xác định phần chi phí sản xuất mà sản phẩm dở dang phải gánh chịu. Trong doanh nghiệp xây lắp, việc xác định sản phẩm dở dang tùy thuộc phương thức thanh toán khối lượng xây lắp giữa doanh nghiệp với chủ đầu tư. - Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng sau khi hoàn thành toàn bộ thì giá trị sản phẩm dở dang là tổng chi phí sản xuất xây lắp từ khi khởi công đến thời điểm kiểm kê đánh giá. - Nếu quy định thanh toán sản phẩm xây dựng hoàn thành theo giai đoạn xây dựng (theo điểm dừng kỹ thuật hợp lý) thì sản phẩm dở dang là khối lượng sản phẩm xây lắp chưa đạt tới điểm dừng kỹ thuật hợp lý đã quy định. 2.3. Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp Phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp là cách thức, phương pháp sử dụng để tính toán, xác định giá thành công trình, hạng mục công trình, hoặc khối lượng xây lắp hoàn thành trên cơ sở chi phí sản xuất xây lắp đã tập hợp của kế toán theo các khoản mục chi phí đã quy định. Việc lựa chọn phương pháp tính giá thành căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất, quy trình công nghệ, yêu cầu quản lý sản xuất và giá thành. Các phương pháp tính giá thành sản phẩm xây lắp được áp dụng: Phương pháp tính giá thành trực tiếp: Theo phương pháp này, giá thành công trình được xác định trên cơ sở tổng cộng chi phí phát sinh từ khi khởi công cho đến khi hoàn thành bàn giao. Trường hợp quy định thanh toán sản phẩm, khối lượng xây dựng hoàn thành theo giai đoạn xây dựng (điểm dừng kỹ thuật hợp lý) thì phải tính được giá thành khối lượng công Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ Chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ = + _ tác xây lắp hoàn thành bàn giao nhằm quản lý chặt chẽ chi phí dự toán Phương pháp tính giá thành theo định mức: Phương pháp này áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp xây lắp thực hiện phương pháp kế toán chi phí và tính giá thành sản phẩm theo định mức. Theo phương pháp này giá thành được xác định trên cơ sở các định mức kinh tế kỹ thuật, các dự toán chi phí được duyệt, những thay đổi định mức và thoát ly định mức đã được kế toán phản ánh. Việc tính giá thành được tiến hành theo trình tự sau: Căn cứ vào các định mức kinh tế kỹ thuật hiện hành và các dự toán chi phí sản xuất để tính giá thành định mức của công trình, hạng mục công trình. - Xác định khoản chênh lệch chi phí sản xuất thoát ly định mức. - Khi có thay đổi định mức kinh tế, kỹ thuật, kế toán tính lại giá thành định mức và số chênh lệch do thay đổi định mức. - Trên cơ sở tính được giá thành định mức, số chênh lệch do thay đổi định mức và chi phí sản xuất thoát ly định mức kế toán tính giá thành thực tế của công trình, hạng mục công trình theo công thức: Giá thành thực tế của công trình, hạng mục công trình Giá thành định mức của công trình, hạng mục công trình Chênh lệch do thay đổi định mức Chênh lệch do thoát ly định mức = + _ Phương pháp tính giá thành theo đơn đặt hàng: Phương pháp này áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp thực hiện nhận thầu xây lắp theo đơn đặt hàng, khi đó đối tượng tính giá thành là từng đơn đặt hàng. Theo phương pháp này, mỗi đơn đặt hàng ngay từ khi bắt đầu thi công được mở một phiếu tính giá thành (Bảng tính giá thành theo đơn đặt hàng). Chi phí sản xuất phát sinh được tập hợp cho từng đơn đặt hàng bằng phương pháp trực tiếp hoặc gián tiếp. Cuối kỳ căn cứ vào chi phí sản xuất tập hợp được cho từng đơn đặt hàng theo từng khoản mục chi phí ghi vào bảng tính giá thành của đơn đặt hàng tương ứng. Khi công trình hoàn thành chi phí tập hợp được chính là giá thành thực tế của đơn đặt hàng, nếu đơn đặt chưa hoàn thành thì chi phí sản xuất tập hợp là giá trị xây lắp dở dang. Phương pháp tổng cộng chi phí: Phương pháp này thường áp dụng trong các doanh nghiệp xây lắp có quy mô lớn, quá trính sản xuất được chia thành các tổ, đội sản xuất hay từng giai đoạn công trình, Trong đó, đối tượng tập hợp chi phí là từng tổ, đội sản xuất hoặc từng giai đoạn thi công còn đối tượng tính giá thành là các công trình xây lắp hoàn thành. Theo phương pháp này giá thành công trình xây lắp được tính như sau: Giá thành sản phẩm xây lắp hoàn thành Chi phí sản phẩm dở dang đầu kỳ Tổng chi phí phát sinh ở từng tổ đội hay từng giai đoạn thi công Chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ = + -_ Phương pháp hệ số: áp dụng khi giới hạn tập hợp chi phí là nhóm nhà cửa, nhóm vật kiến trúc, nhóm hạng mục công trình xây lắp. Trong trường hợp này cần căn cứ vào tổng số chi phí và hệ số quy định cho từng sản phẩm để tính giá thành. Phương pháp kết hợp: là phương pháp được áp dụng phổ biến trong việc tính giá thành đơn vị sản phẩm xây lắp, thường kết hợp phương pháp tính trực tiếp với phương pháp tổng cộng chi phí khi đối tượng hạch toán chi phí là nhóm nhà cửa, nhóm vật kiến trúc, nhóm hạng mục công trình xây lắp... 2.4 Bàn giao công trình Khi công trình, hạng mục công trình hoàn thành bàn giao phải theo đúng các thủ tục nghiệm thu và các điều kiện, giá cả đã quy định trong hợp đồng xây dựng. Việc ghi nhận doanh thu và chi phí của hợp đồng xây dựng được xác định theo một trong hai trường hợp sau: Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được ước tính một cách đáng tin cậy, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo cáo tài chính mà không phụ thuộc vào hóa đơn thanh toán theo tiến độ kế hoạch đã lập hay chưa và số tiền ghi trên hóa đơn là bao nhiêu. Trường hợp hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo giá trị khối lượng thực hiện, khi kết quả thực hiện hợp đồng xây dựng được xác định một cách đáng tin cậy và được khách hàng xác nhận, thì doanh thu và chi phí liên quan đến hợp đồng được ghi nhận tương ứng với phần công việc đã hoàn thành được khách hàng xác nhận trong kỳ được phản ánh trên hóa đơn đã lập. III. Các hình thức sổ kế toán áp dụng trong hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong kinh doanh xây lắp 1. Chứng từ hạch toán - Lao động tiền lương: Bảng chấm công, Bảng thanh toán tiền lương, Phiếu xác nhận sản phẩm công việc hoàn thành, Hợp đồng giao khoán... - Hàng tồn kho: Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Biên bản kiểm nghiệm, Thẻ kho, Phiếu báo vật tư còn lại cuối kỳ... - Tiền tệ: Phiếu thu, Phiếu chi, Giấy đề nghị tạm ứng, Giấy thanh toán tạm ứng... - Sản xuất: Phiếu theo dõi ca máy thi công - Bán hàng: Hóa đơn giá trị gia tăng... 2. Các hình thức ghi sổ kế toán 2.1. Hình thức kế toán nhật ký chung: Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô vừa và lớn. Số lượng nghiệp vụ kinh tế phát sinh nhiều, yêu cầu quản lý và trình độ nhân viên kế toán cao. Các loại sổ: Sổ Nhật ký chung; Sổ Cái; các sổ, thẻ kế toán chi tiết Sơ đồ 1.8: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký chung Chứng từ gốc Sổ chi tiết TK 621, 622, 623, 627, 154 Sổ Nhật ký đặc biệt Sổ nhật ký chung Bảng tổng hợp chi tiết Sổ Cái TK 621, 622, 623, 627, 154 Bảng cân đối số phát sinh Báo cáo tài chính 2.2. Hình thức kế toán Nhật ký – Sổ Cái Hình thức này áp dụng trong các doanh nghiệp có quy mô nhỏ hoạt động giản đơn, số lượng nghiệp vụ phát sinh không nhiều, tài khoản ít. Các loại sổ: Nhật ký – Sổ Cái; các sổ, thẻ kế toán chi tiết Sơ đồ 1.9: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Nhật ký- Sổ Cái Chứng từ gốc Bảng tổng hợp chứng từ gốc NHẬT KÝ-SỔ CÁI Báo cáo tài chính Sổ quỹ Sổ, thẻ kế toán chi tiết Bảng tổng hợp chi tiết 2.3. Hình thức kế toán Nhật ký chứng từ Hình thức này áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn số lượng nghiệp vụ phát sinh nhiều, yêu cầu quản lý cao, số lượng tài khoản nhiều, trình độ nhân viên kế toán cao và thường ghi sổ kế toán bằng tay. Các loại sổ: Nhật ký chứng từ, bảng kê, sổ Cái, sổ hoặc thẻ kế toán chi tiết. Sơ đồ 1.10: Sơ đồ trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức Nhật ký-Chứng từ Chứng từ gốc và các bảng phân bổ Sổ cái Nhật ký chứng từ Báo cáo tài chính Bảng kê Thẻ và sổ kế toán chi tiết Bảng tổng hợp chi tiết 2.4. Hình thức Chứng từ ghi sổ Hình thức này áp dụng trong các loại hình doanh nghiệp trong đó số lượng nghiệp vụ phát sinh nhiều, yêu cầu quản lý cao, số lượng tài khoản sử dụng nhiều, việc ghi sổ có thể thực hiện bằng tay hoặc bằng máy. Các loại sổ: Sổ Đăng ký chứng từ ghi sổ, Sổ cái, các sổ thẻ kế toán chi tiết Sơ đồ 1.11: Sơ đồ trình từ ghi sổ kế toán theo hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ Chứng từ gốc Bảng tổng hợp chứng từ gốc Chứng từ ghi sổ Sổ quỹ Sổ, thẻ kế toán chi tiết TK 621, 622,623,627,154 Bảng tổng hợp chi tiết Sổ cái TK 621, 622, 623, 627, 154 Báo cáo tài chính Bảng cân đối số phát sinh Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ Ghi hàng ngày Ghi cuối kỳ Đối chiếu, kiểm tra TK “ Sản phẩm dở dang” TK “Thành phẩm” TK “ NVL” Sơ đồ 1.8 : Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp kê khai thường xuyên Chi phí NVL trực tiếp TK “Chi phí sx chung” Sản phẩm Chi phí NVL gián tiếp hoàn thành TK “ Khấu hao lũy kế” Khấu hao TSCĐ dùng cho sản xuất Kết chuyển TK “ Phải trả người bán” Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng cho sx CPSXC TK “ Phải trả CNV” Chi phí nhân công gián tiếp Kết chuyển chi phí nhân công TT Sơ đồ 1.9 : Sơ đồ hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm theo phương pháp kiểm kê định kỳ TK “Giá vốn hàng bán Giá trị sản phẩm dở dang cuối kỳ TK “ NVL” TK “Tổng hợp sản xuất” TK “Sản phẩm dở dang” Giá trị NVL tồn kho đầu kỳ TK “ Phải trả CNV” Chi phí nhân công trực tiếp TK “Chi phí sx chung” CPSXC Chi phí nhân công gián tiếp Giá trị NVL tồn kho cuối kỳ Giá trị sản phẩm dở dang đầu kỳ TK “ Mua NVL” Giá trị NVL mua trong kỳ TK “CP mua NVL" CP mua NVL mua trong kỳ TK “Thành phẩm” Giá trị TP tồn kho cuối kỳ Giá trị TP tồn kho đầu kỳ TK “Dự trữ cho nhà máy" Chi phí vật liệu gián tiếp TK “Khấu hao lũy kế” Khấu hao TSCĐ dùng cho sx trong kỳ Giá trị TP tiêu thụ Giá trị TP sản xuất trong kỳ PHẦN II THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY C ÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 69-1 I. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN LILAMA 69-1 1. Quá trình thành lập và đặc điểm sản xuất kinh doanh 1.1. Quá trình thành lập. Trụ sở: Đường Lý Thái Tổ, Thành Phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh *Điện thoại : 0241.821518 Công ty cổ phần LiLama 69-1 là một thành viên của Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam tiền thân từ công trường lắp máy phân đạm Hà Bắc và công trường lắp máy điện Uông Bí (1961). Trải qua 45 năm hoạt động và phát triển đến nay Công ty có số càn bộ nhân viên vô cùng hùng hậu cả về số lượng và chất lượng, với trên 1.800 cán bộ công nhân viên. Cơ cấu tổ chức gồm 8 phòng ban,06 xí nghiệp,02 đội công trình. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý giàu kinh nghiệm, năng động, hàng trăm kỹ sư giỏi đầy nhiệt huyết với nghề nghiệp, số thợ hàn và các thợ lành nghề khác đạt chứng chỉ quốc tế có trên 300 người. Ngay từ những năm 2000 đã đạt được GLOBAL cấp chứng chỉ quản lý chất lượng ISO-9002 hiện nay đang quản lý chất lượng theo ISO 9001-2000 do QUACERT cấp năm 2003. Những năm qua mọi thế hệ cán bộ công nhân trong Công ty, với những bàn tay khối óc của mình đã lắp đặt lên hàng trăm công trình trên khắp cả nước như: Nhiệt điện Uông Bí, Phả Lại , Na Dương, phân đạm và hoá chất Hà Bắc, khí công nghiệp Bắc Việt Nam ( NVIG), kính đáp cầu, kính nổi Việt-Nhật (VFG),xi măng Chin Fon- Hải Phòng, Sao Mai , Nghi Sơn, Bút Sơn, Hoàng Mai, Tam Điệp, Hải Phòng mới….Những công trình mà Công ty tham gia lắp đặt đều đảm bảo 4 mục tiêu: an toàn, chất lượng, tiến độ, hiệu quả. Bằng việc gia công chế độ thành công một số chủng loại thiết bị và kết cấu thép cho các nhà máy xi măng, nhiệt điện, đặc biệt có những sản phẩm đã được xuất khẩu ra nước ngoài đã khẳng định năng lực của Công ty trong lĩnh vực chế tạo thiết bị. Với việc tham gia cùng LiLaMa là tổng thầu EPC dự án Điện Uông Bí mở rộng 300MW, thêm một lần nữa khẳng định về năng lực tổ chức, con người và tài chính của đơn vị. Công ty cổ phần LILAMA 69-1 đã trở thành địa chỉ tin cậy của nhiều nhà thầu và chủ đầu tư trong, ngoài nước. *Theo phương án cổ phần hoá: - Vốn điều lệ của Công ty cổ phần là 3.039.800.000 đồng; trong đó: tỷ lệ cổ phần nhà nước là 30%, tỷ lệ cổ phần bán cho người lao động trong Công ty là 70%. - Vốn điều lệ được chia thành 303980 cổ phần. - Trị giá mỗi cổ phần là 10.000 đồng. Điều này thực sự đã tạo ra một động lực phát triển mới cho công ty phát huy tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của người lao động. Nhờ đó, hai năm sau khi cổ phần Công ty đã có những phát triển tốt, tổng giá trị hợp đồng ký kết tăng 55,21% năm 2004 và tăng tới 151,02% năm 2005. 1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh 1.2.1. Ngành nghề kinh doanh Ngành nghề kinh doanh của công ty bao gồm: - Gia công chế tạo thiết bị đồng bộ cho các nhà máy: xi măng, điện, dầu khí: các thiết bị phi tiêu chuẩn kết cấu thép, chế tạo, lắp đặt, duy tu, sửa chữa các thiết bị nâng, thiết bị chịu áp lực, thiết bị lò hơn chung và cao áp, các loại bồn bể chứa dung tích lỏng và khí, cung cấp, lắp đặt và bảo trì thang máy, chế tạo và lắp đặt các hệ thống đường ống hạ áp, trung áp và cao áp (dẫn dung dịch lỏng dẫn khí). - Xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp đường dây và trạm biến thế đến 500kw, lắp đặt các dây truyền thiết bị công nghiệp. - Đầu tư kinh doanh và phát triển hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, kinh doanh bất động sản, cơ sở hạ tầng. - Sản xuất, kinh doanh đầu tư, thiết bị, vật liệu xây dựng, kim khí, sắt thép, điện máy, hoá chất,vật liệu điện, phụ tùng, dụng cụ cơ khí, xăng dầu, mỡ, khí đốt, khí công nghiệp, phế liệu, đại lý mua bán, kí gửi hàng hoá. -Xuất nhập khẩu vật tư, vật liệu xây dựng, thiết bị đơn lẻ, thiết bị đồng bộ, dây truyền công nghệ. - Tư vấn đầu tư và xây dựng công trình, dân dụng, công nghiệp, hệ thống cứu hoả, giao thông, thuỷ lợi, thuỷ diện, sây bay, bến cảng, trạm biến thế điện và đượng cao áp, hạ áp, công trình hạ tầng đô thị, khu công nghiệp, khu dân cư bao gồm: lập và thẩm định dự án, khảo sát, thiết kế, lập tổng dự toán, giám sát thi công, quản lý dự án, thiết kế công nghệ và các dây chuyền sản xuất vật liệu xây dựng, giấy, chế biến lương thực và thực phẩm. - Các ngành nghề kinh doanh khác theo quy định của pháp luật như: xây lắp các công trình văn hoá, dân dụng… 1.2.2. Địa bàn hoạt động Trong ba mươi năm hoạt động vừa qua Công ty đã thi công nhiều những công trình đạt chất lượng cao như: Khu giảng đường Đại học Văn , nhà máy ôtô Ford Hải Dương, nhà sáng tác Nha Trang, bưu điện Phú Thọ... Nhưng trong những năm bao cấp và tới tận cuối những năm chín mươi địa bàn hoạt động của công ty chỉ tập trung ở khu vực phía Bắc. Trong khoảng sáu năm trở lại đây, bên cạnh việc đa dạng hoá các lĩnh vực hoạt động sản xuất, kinh doanh, công ty còn không ngừng nỗ lực mở rộng địa bàn hoạt động của mình trên các tỉnh, thành phố ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. 1.2.3. Quy trình công nghệ Việc tổ chức sản xuất của công ty mang những nét đặc thù của một doanh nghiệp xây dựng. Đó là, hoạt động xây dựng được tiến hành ngoài trời; số lượng máy móc, thiết bị và vật tư lớn lại được quản lý ngay tại công trường nên dễ xảy ra mất mát, hư hỏng, ảnh hưởng lớn đến chất lượng công trình; kết quả sản xuất là các công trình, vật kiến trúc có qui mô lớn, kết cấu phức tạp và mang tính đơn chiếc. Điều này dẫn đến chi phí phát sinh đa dạng đòi hỏi phải được theo dõi ghi chép đầy đủ, đúng đối tượng. Quy trình sản xuất của công ty tuân theo một quy trình chung như sau: Sơ đồ 2.1: Sơ đồ quy trình sản xuất Đấu thầu và ký kết hợp đồng kinh tế Khảo sát, thiết kế kỹ thuật và lập kế hoạch thi công Tổ chức thi công Nghiệm thu và bàn giao công trình * Giai đoạn 1: Đấu thầu và ký kết hợp đồng kinh tế Thông qua đấu thầu hoặc chỉ định thầu, công ty đứng ra nhận thầu công trình * Giai đoạn 2: Khảo sát, thiết kế kỹ thuật và lập kế hoạch thi công Qua việc khảo sát, thu thập số liệu về những yếu tố như địa chất, vị trí địa lý...cùng với những yêu cầu của chủ đầu tư, phòng Kỹ thuật thi công sẽ tiến hành thiết kế bản vẽ thi công của công trình, xây dựng các biện pháp thi công và các định mức kỹ thuật; đồng thời, dựa vào các điều kiện trong hợp đồng, giá trị dự toán của công trình và các yếu tố khác để lập kế hoạch về tiến độ thi công. * Giai đoạn 3: Tổ chức thi công Sau khi đã có được bản vẽ thiết kế, các định mức kỹ thuật và căn cứ vào điều kiện thi công của từng đội, từng xí nghiệp ban giám đốc công ty sẽ quyết định giao công trình cho các xí nghiệp, đội thi công thích hợp. Các đội, các xí nghiệp sẽ tiến hành thi công theo thiết kế và các biện pháp đã được đặt ra của phòng Kỹ thuật thi công cùng với sự kiểm tra, giám sát của các phòng ban khác trong Công ty nhằm đảm bảo tiến độ, tính hiệu quả và chất lượng công trình. * Giai đoạn 4: Nghiệm thu và bàn giao công trình Đối với các doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói chung và Công ty cổ phần Lilama 69-1 nói riêng, quy trình công nghệ là khá phức tạp, một công trình gồm nhiều hạng mục, mỗi hạng mục lại gồm nhiều bước công việc với yêu cầu kỹ thuật chặt chẽ. Với quy trình sản xuất như trên, công ty đang tiến hành thi công với phương thức hỗn hợp vừa thủ công vừa bằng máy trong đó lao động thủ công chiếm tỷ lệ ngày càng nhỏ. 2. Đặc điểm tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh 2.1. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh Từ giữa năm 2004, công ty đã được cổ phần hoá do đó bộ máy quản lý của công ty cũng được tổ chức theo mô hình công ty cổ phần. Do đó, phương thức quản lý được chuyển từ tính chất tập trung vào một số cá nhân lãnh đạo và chịu sự chi phối của cấp trên sang tính chất tự quyết, lãnh đạo và kiểm soát bởi một tập thể các cổ đông. Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức quản lý Đại hội đồng cổ đông Hội đồng quản trị Ban kiÓm so¸t Giám đốc Công ty Phó giám đốc kinh doanh Phó giám đốc nội chính Phòng hành chính tổng hợp Phòng kế toán tài vụ Phòng kỹ thuật thi công Phòng kinh tế thị trường Đội thi công số 1 Đội thi công số 2 Xí nghiệp số 1 Xí nghiệp số 4 Xí nghiệp số 5 Xí nghiệp số 6 Xí nghiệp số 3 Xí nghiệp số 2 * Đại hội đồng cổ đông: Đại hội đồng cổ đông là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất của Công ty, bao gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết. Đại hội đồng cổ đông sẽ quyết định những vấn đề cơ bản, những kế hoạch cũng như chiến lược phát triển dài hạn của công ty. * Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích quyền lợi của công ty, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Đứng đầu Hội đồng quản trị là Chủ tịch Hội đồng quản trị, thay mặt hội đồng quản trị điều hành công ty là Giám đốc. Trong Công ty cổ phần Lilama 69-1, Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Giám đốc công ty. *Ban kiểm soát : Ban kiểm soán do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có chức năng kiểm tra giám sát hoạt động quản lý điều hành công ty của Hội đồng quản trị. Ban kiểm soát gồm ba thành viên trong đó có một người có chuyên môn kế toán, một người làm trưởng ban kiểm soát. *Ban giám đốc gồm : Giám đốc: là người điều hành hoạt động hàng ngày của Công ty, chịu trách nhiệm về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được giao. Hiện nay, Giám đốc Công ty chính là người trực tiếp quản lý phần vốn nhà nước tại công ty và cũng là đại diện theo pháp luật của công ty. Phó giám đốc: Công ty hiện có hai phó giám đốc, là những người giúp việc cho giám đốc về các lĩnh vực theo sự phân công của giám đốc. + Phó giám đốc kinh doanh: được phân công giúp việc trong công tác tiếp thị, trực tiếp chỉ đạo làm bài thầu, phối hợp điều hành các đơn vị trực thuộc, phụ trách an toàn lao động, chỉ đạo phòng kế toán tài vụ và phòng kế hoạch kỹ thuật. + Phó giám đốc nội chính: được phân công giúp việc trong công tác tổ chức nhân sự toàn công ty, chịu trách nhiệm về xây dựng cơ bản, văn thư, chính sách tiền lương, bảo vệ nội bộ và an ninh, quốc phòng tại địa phương và chỉ đạo phòng hành chính tổng hợp. Mô hình quản lý của công ty được theo hình thức trực tuyến chức năng, mô hình này được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp xây dựng.Trong đó bộ phận trực tuyến là quan hệ giữa giám đốc với các đội, các xí nghiệp sản xuất; bộ phận chức năng là quan hệ giữa các phòng ban với các xí nghiệp, các đội thi công. Theo đó, các phòng ban không lãnh đạo trực tiếp các đội, xí nghiệp mà trách nhiệm được đặt ra là tham mưu cho giám đốc trên các lĩnh vực có liên quan. Ban giám đốc sẽ là những người đưa ra các quyết định cuối cùng. Các phòng ban chức năng gồm có: Phòng hành chính tổng hợp, phòng kế toán tài vụ, phòng kỹ thuật thi công, phòng kinh tế thị trường. *Phòng hành chính tổng hợp: chịu trách nhiệm chung về các vấn đề tổ chức nhân sự, lao động tiền lương, bảo hộ lao động, vệ sinh môi trường... *Phòng kế toán tài vụ:có chức năng tham mưu cho giám đốc về công tác tài chính trên cơ sở chính sách nhà nước qui định; chịu trách nhiệm về mặt tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh như: quản lý cấp phát quỹ, quản lý vốn lưu động, vốn cố định, chế độ quản lý vật tư, hạch toán kinh tế, quyết toán công tác đầu tư mua sắm tài sản cố định và nguồn vốn (quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ BHXH...). *Phòng kỹ thuật thi công: có chức năng tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức thi công, theo dõi quản lý kỹ thuật, chất lượng công trình, lập phương án thiết kế kỹ thuật, lập dự trữ vật tư thiết bị, máy móc, tiến độ thi công cho các công trình, tính toán các thông số kỹ thuật, đề ra các biện pháp thi công; thường xuyên tổ chức kiểm tra đánh giá chất lượng công trình từ khâu vật tư, kết cấu bán sản phẩm đến sản phẩm hoàn thiện. Phòng cũng là nơi chịu trách nhiệm ký kết các hợp đồng giao khoán với các xí nghiệp, đội trực thuộc. *Phòng kinh tế thị trường: có chức năng tiếp thị phát triển thị trường. Khi có dự án thì phòng kinh tế thị trường sẽ phối hợp cùng với phòng kỹ thuật thi công lập dự toán, lập bài thầu. 2.2. Tổ chức hoạt động sản xuất Hiện nay, Công ty áp dụng phương thức khoán trong tổ chức sản xuất. Hình thức khoán bao gồm: khoán gọn, khoán theo hạng mục và khoán theo dự toán. Phương thức này được thực hiện giữa Công ty và các đơn vị nội bộ là các đội xây dựng, xí nghiệp xây dựng. Công ty sau khi đứng ra nhận thầu công trình sẽ tiến hành giao khoán lại cho các xí nghiệp. Giữa Công ty và đơn vị nhận khoán sẽ ký hợp đồng giao khoán làm căn cứ ghi sổ kế toán. Các xí nghiệp, đội trực tiếp thi công có nghĩa vụ trích nộp tỷ lệ trên giá dự toán công trình cho Công ty. Công ty sẽ trực tiếp thực hiện nghĩa vụ tài chính với ngân sách nhà nước thay cho xí nghiệp, đội xây dựng trực thuộc. Công ty sẽ tiến hành tạm ứng chi phí cho đội, xí nghiệp xây dựng để thực hiện giá trị khối lượng giao khoán xây lắp nội bộ. Dựa vào số thực chi, Công ty sẽ quyết toán số tạm ứng về giá trị khối lượng xây lắp đã hoàn thành bàn giao và được duyệt. Trong quá trình thi công, đội, xí nghiệp sẽ chịu sự giám sát chặt chẽ về kỹ thuật của phòng kỹ thuật thi công và sự hưống dẫn giúp đỡ của các phòng ban Công ty như sự trợ giúp pháp lý của phòng kinh tế thị trường... Công ty hiện có sáu xí nghiệp gồm: xí nghiệp xây dựng số 1, xí nghiệp xây dựng số 2, xí nghiệp xây dựng số 3, xí nghiệp xây dựng số 4, xí nghiệp xây dựng số 5, xí nghiệp xây dựng số 6 và hai đội thi công. Tại các xí nghiệp có giám đốc xí nghiệp, có nhân viên kế toán, còn các đội xây dựng chỉ mang tính chất tạm thời không có bộ máy quản lý chặt chẽ như ở xí nghiệp và thường được thành lập nhằm phục vụ cho một dự án cụ thể nào đó. 3. Mô hình tổ chức bộ máy kế toán 3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán Hiện nay, bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo kiểu tập trung. Theo hình thức này, tại các đội, các xí nghiệp xây dựng không tổ chức hệ thống sổ sách và bộ máy kế toán riêng mà toàn bộ mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh của công ty đều được hạch toán tập trung tại phòng kế toán tài vụ. Kế toán trưởng là người trực tiếp quản lý và chỉ đạo toàn bộ nhân viên trong phòng kế toán. Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức theo sơ đồ sau. Sơ đồ 2.3: Sơ đồ bộ máy kế toán Kế toán trưởng Kế toán thanh toán và chi phí Kế toán TSCĐ kiêm kế toán nguyên vật liệu Kế toán vốn bằng tiền Kế toán lương và các khoản trích theo lương Nhân viên kế toán tại các đội, các xí nghiệp trực thuộc 3.2. Phân công lao động kế toán - Kế toán trưởng kiêm kế toán tổng hợp và tính giá thành: là người chịu trách nhiệm một cách toàn diện trước ban lãnh đạo (giám đốc công ty) về công tác kế toán tài chính của công ty. Kế toán trưởng có nhiệm vụ điều hành và tổ chức công việc trong phòng, hướng dẫn hạch toán, chỉ đạo hoạt động của phòng, tổng hợp số liệu để ghi vào các sổ tổng hợp, tính giá thành và lập báo cáo tài chính. Bên cạnh đó kế toán trưởng còn tham mưu cho giám đốc về những lĩnh vực tài chính có liên quan. - Kế toán thanh toán và chi phí: có nhiệm vụ theo dõi các khoản phải thu, phải trả với khách hàng, các khoản thanh toán nội bộ, kiểm tra chung về các khoản mục chi phí. Nhân viên kế toán quản lý các tài khoản 131,138, 1413, 331,... và đối với các tài khoản công nợ ghi sổ chi tiết cho từng đối tượng. - Kế toán tài sản cố định kiêm kế toán nguyên vật liệu: có nhiệm vụ phân loại tài sản cố định, nguyên vật liệu của Công ty hiện đang theo dõi việc tăng giảm tài sản, nguyên vật liệu, thực hiện việc tính khấu hao, sửa chữa lớn tài sản cố định của Công ty. Nhân viên kế toán theo dõi các tài khoản: 211, 214, 152... - Kế toán vốn bằng tiền : theo dõi các nghiệp vụ liên quan đến tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản tiền vay của Công ty. - Kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương: có nhiệm vụ tính lương và các khoản trích theo lương cho cán bộ ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc11096.doc
Tài liệu liên quan