Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

Tài liệu Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam: ... Ebook Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam

doc77 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1180 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại Thương Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Lời mở đầu Giữa các quốc gia luôn có mối quan hệ về kinh tế và phi kinh tế. Biểu hiện của mối quan hệ kinh tế là giao lưu hàng hoá (thương mại quốc tế), đầu tư. Mối quan hệ phi kinh tế như viện trợ, giao lưu văn hoá, ngoại giao, chính trị. Chủ thể tham gia vào các mối quan hệ này chủ yếu là các nhà kinh tế, ngoài ra còn có chính phủ, cá nhân, tổ chức chính phủ và phi chính phủ. Các mối quan hệ kinh tế và phi kinh tế là cơ sở hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các quốc gia. Mối quan hệ phi kinh tế chỉ có dòng dịch chuyển một chiều mà không có dòng dịch chuyển đối ứng. ở bài viết này chỉ xin đề cập đến mối quan hệ thuộc lĩnh vực kinh tế mà không đề cập đến mối quan hệ phi kinh tế giữa các quốc gia. Ngân hàng Ngoại thương với lịch sử 60 năm hình thành và phát triển. Là ngân hàng đi đầu trong công cuộc cổ phần hoá các ngân hàng thương mại Nhà nước. Với phương châm phát triển “an toàn, hiệu quả, bền vững” và tôn chỉ “luôn vì sự thành đạt của khách hàng”. Với thực tế các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay hoạt động kinh doanh theo kiểu “phi vụ, chộp giựt” rất nhiều; vậy điều gì đảm bảo để các doanh nghiệp nước ngoài có thể tin tưởng để có thể kinh doanh mua bán với các doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là xuất khẩu hàng hoá cho phía đối tác Việt Nam nhận tiền thanh toán sau. Ngân hàng Ngoại thương đã thực hiện thanh toán cho các đối tác ở nước ngoài như thế nào và các doanh nghiệp Việt Nam cần có những điều kiện gì để Ngân hàng Ngoại thương đứng ra thanh toán hàng nhập khẩu thay cho các doanh nghiệp Việt Nam; liệu trong nghiệp vụ này Ngân hàng Ngoại thương có gặp nhiều rủi ro. Thực tế ở Việt Nam đặt ra và qua thời gian tìm hiểu ở Vietcombank với sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Lê Đức Lữ hướng dẫn, em đã chọn đề tài “hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam” để tiếp tục tìm hiểu và nghiên cứu. Đề án gồm ba chương: Chương 1. Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của các ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Chương 3. Giải pháp hoàn thiện và phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu tại Vietcombank. Chương 1 Tổng quan về thanh toán nhập khẩu của các ngân hàng thương mại Sự cần thiết và cơ sở pháp lý của hoạt động thanh toán nhập khẩu của ngân hàng thương mại Khái niệm thanh toán nhập khẩu Trong xu hướng phát triển thế giới hiện nay, các quan hệ kinh tế quốc tế diễn ra hết sức sôi động, kéo theo đó là sự đa dạng phức tạp của chu chuyển hàng hoá quốc tế. Các quốc gia khi có mối quan hệ về kinh tế, phi kinh tế hình thành các dòng tiền chuyển dịch giữa các quốc gia.Thanh toán quốc tế là việc chuyển tiền do các mối quan hệ đó tạo ra. Thanh toán xuất nhập khẩu là việc chi trả cho các nghiệp vụ và yêu cầu tiền tệ phát sinh từ các quan hệ kinh tế, thương mại, tài chính, tín dụng giữa các tổ chức kinh tế quốc tế, giữa các hãng, các cá nhân của các quốc gia khác nhau để kết thúc một chu trình hoạt động trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại bằng các hình thức chuyển tiền hoặc bù trừ trên các tài khoản tại ngân hàng. Thanh toán nhập khẩu là một phần trong thanh toán xuất nhập khẩu; thanh toán nhập khẩu trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại nhưng chỉ thực hiện cho các đối tượng là hàng hoá, dịch vụ từ nước ngoài nhập vào. Như vậy, trong thanh toán nhập khẩu các chủ thể tham gia thanh toán gồm: người xuất khẩu, người nhập khẩu và các ngân hàng cung ứng dịch vụ thanh toán cho khách hàng. Khác với thanh toán trong nước, thanh toán nhập khẩu thường gắn với việc trao đổi giữa đồng tiền của nước này sang đồng tiền của nước khác. Hiện nay, thanh toán nhập khẩu thường được chi trả thông qua mạng swift là mạng điện tử có thể thanh toán trên toàn cầu không mất phí chuyển và đảm bảo tuyệt đối an toàn. Ngoài ra, việc chi trả còn có thể được thực hiện thông qua điện tín, bưu điện, hoặc qua uỷ nhiệm chi hộ, thu hộ giữa các ngân hàng với nhau. Trong thanh toán nhập khẩu các ngân hàng đóng vai trò là người đứng ra thu hộ, chi hộ và thu phí của khách hàng nhờ thanh toán. Và ngân hàng thường cung cấp thêm các dịch vụ đi kèm như phát hành thư tín dụng (L/C); thực hiện bảo lãnh cho các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá trả tiền sau; cho vay để thanh toán cho đối tác nước ngoài, cung cấp các dịch vụ tư vấn, làm môi giới,… Sự cần thiết thanh toán nhập khẩu Một nước có thể tự sản xuất những hàng hoá cần thiết phục vụ cho đất nước mình. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường các nước nhận thấy lợi ích so sánh về sản xuất hàng hoá của từng nước; có nghĩa là mỗi nước có lợi thế về sản xuất một số mặt hàng nhất định vì vậy các nước tập trung sản xuất mặt hàng mà mình có lợi thế. Vì vậy, sẽ phát sinh những mặt hàng mà trong nước không có do không sản xuất được hoặc sản xuất được trong nước nhưng chi phí cao đòi hỏi phải nhập khẩu từ nước ngoài. Các tổ chức, cá nhân trong nước khi nhập khẩu hàng hoá và kết thúc bằng việc thanh toán tiền tệ. Do việc vận chuyển nhiều tiền qua lại giữa các nước có thể gặp nhiều rủi ro; mặt khác xu thế phát triển của các nước trên thế giới là các tổ chức, cá nhân đều có tài khoản ở ngân hàng. Vì vậy, để đáp ứng yêu cầu của thực tế và các khách hàng của mình ngân hàng cần có thêm nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu hơn nữa các ngân hàng lại có đủ khả năng thực hiện hoạt động thanh toán. Các tổ chức, cá nhân khi nhập khẩu hàng hoá của nước ngoài do xa cách về địa lý nên gặp khó khăn khi thanh toán trực tiếp cho nhau. Hơn nữa sự bất đồng về ngôn ngữ, khác về luật lệ trong thanh toán, chi trả và khác nhau về tiền tệ. Vì vậy, thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện qua hệ thống nhân hàng. Về phía ngân hàng có đủ điều kiện thực hiện hoạt động thanh toán nhập khẩu cho các tổ chức, cá nhân có yêu cầu. Ngân hàng có quan hệ trên diện rộng, trong nền kinh tế thị trường hiện nay không có ngân hàng thương mại nào không có quan hệ với một ngân hàng ở nước ngoài, ngân hàng có mối quan hệ trên diện càng rộng thì càng thuận lợi cho thanh toán. Ngân hàng giữ và quản lý tài sản cho các tổ chức cả đồng bản tệ và ngoại tệ; hơn nữa ngân hàng được phép dự trữ ngoại tệ. Ngân hàng là tổ chức có chuyên môn thanh toán có thể hiểu được luật thanh toán chung để vân dụng cho những trường hợp cụ thể; và ngân hàng luôn đổi mới hoạt động cũng như thiết bị máy móc phục vụ cho thanh toán một cách tốt nhất. Ngân hàng có mối giao tiếp rộng nên có thể có chi nhánh nước ngoài, có uy tín thuận lợi cho thanh toán. Thanh toán nhập khẩu là cần thiết và trong thời đại hiện nay chuyên môn hoá các công việc ở mức cao thì thanh toán nhập khẩu cần được thực hiện ở ngân hàng thương mại đảm bảo nhanh chóng, chính xác và an toàn cao. Những điều kiện liên quan đến thanh toán nhập khẩu Tiền tệ Mỗi quốc gia có đồng tiền riêng, việc lựa chọn đồng tiền nào làm phương tiện để chi trả cho phía xuất khẩu là tuỳ thuộc vào sự thoả thuận của hai bên có mối giao lưu và thực hiện thanh toán tiền cho nhau. Thường đồng tiền được sử dụng là đồng tiền có tính phổ biến và được thừa nhận rộng rãi, ở Việt Nam chủ yếu lựa chọn đồng USD trong thanh toán. Hơn nữa, sự biến động tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng tiền được lựa chọn làm phương tiện thanh toán cũng ảnh hưởng đến sự lựa chọn đồng tiền thanh toán của các bên. Do mọi chi phí ở trong nước được tính bằng đồng bản tệ còn thanh toán lại dùng đồng tiền khác vì vậy tỷ giá giữa hai đồng tiền ảnh hưởng đến lợi nhuận của các bên. Và các giao dịch có thể diễn ra trước quan hệ thanh toán diễn ra sau vì vậy sự biến động tỷ giá có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Phương pháp phòng ngừa là sử dụng hợp đồng quyền chọn, dựa vào cơ chế xác định tỷ giá, điều chỉnh tỷ giá. Địa điểm thanh toán Việc thanh toán bắt đầu từ ngân hàng phục vụ người bán (người thụ hưởng, người xuất khẩu) hay ngân hàng phục vụ người phải trả (người mua, người nhập khẩu) là tuỳ thuộc sự thoả thuận giữa hai bên nhưng thường bên được nhận sự hỗ trợ từ phía đối tác được quyền nêu lên địa điểm ngân hàng thanh toán. Thời điểm thực hiện thanh toán Có thể chia thời điểm thực hiện thanh toán làm các nhóm: thời điểm hàng xuất tập trung ở cảng, hàng được bốc lên tàu, hàng ra khỏi phao số 0, hàng tới cảng. Lựa chọn phương thức thanh toán Các bên lựa chọn phương thức thanh toán đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia thanh toán. Tuy nhiên, lựa chọn hình thức thanh toán nào thì cũng sẽ có một bên có lợi thế hơn và một bên dễ gặp rủi ro hơn. Vì vậy, tuỳ vào từng trường hợp cụ thể ưu thế trong giao dịch thuộc bên mua hay bên bán mà các bên lựa chọn phương thức này hay phương thức khác. Cơ sở pháp lý của thanh toán nhập khẩu Thanh toán quốc tế có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế nói chung và đối với kinh tế đối ngoại nói riêng. Có thể nói nếu không có thanh toán quốc tế thì thì kinh tế đối ngoại không phát triển hay ít nhất chỉ tiến hành với phạm vi hẹp và mức độ nhỏ. Tuy nhiên,do các chủ thể tham gia thanh toán quốc tế thuộc các quốc gia khác nhau nên có sự kác nhau về luật pháp, văn oá, phong tục,… vì vậy việc thực hiện thanh toán quốc tế phải theo các quy tắc chung do phòng thương mại quốc tế ban hành, đồng thời cũng phải chịu sự chi phối của luật pháp từng nước có chủ thể tham gia. Hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam mới được hình thành năm 1988, khi Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ban hành Nghị định 53/HĐBT chuyển ngân hàng một cấp sang hai cấp. Sau 16 năm – một khoảng thời gian không dài – NHTM Việt Nam đã tăng trưởng và phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, thành phần sở hữu và đặc biệt là chất lượng. Các NHTM, đặc biệt là NHTM nhà nước đã triển khai thực hiện nhiều nghiệp vụ ngân hàng quốc tế hiện đại – trong đó có hoạt động thanh toán nhập khẩu góp phần đưa kim nghạch xuất nhập khẩu từ 4 tỷ USD năm 1990 lên trên 55 tỷ USD năm 2004. Một thành quả rất quan trọng là xác lập vị thế và uy tín trên trường quốc tế. So với một số nước có nền kinh tế chuyển đổi khác, trong hoạt động ngân hàng quốc tế nói chung và thanh toán nhập khẩu nói riêng, các NHTM Việt Nam có độ tín nhiệm cao, hầu hết các NHTM trên thế giới đều chấp nhận các phương thức thanh toán nhập khẩu với Việt Nam, tin tưởng các cam kết của NHTM Việt Nam. Đạt được những thành tựu nêu trên, ngoài sự nỗ lực của các ngân hàng, còn có nguyên nhân quan trọng là nhờ hệ thống văn bản pháp lý đã được xây dựng từng bước khá đồng bộ, tạo thuận lợi cho hoạt động ngân hàng. Xét về góc độ quốc tế, đó là hệ thống luật lệ nhằm điều chỉnh mối quan hệ giữa các bên tham gia trong hoạt động thanh toán quốc tế. Bao gồm: Điều ước quốc tế, luật quốc gia và tập quán thương mại quốc tế. Các quy ước quốc tế về thanh toán nhập khẩu có trong UCP 500, URC 552, URR525, ISP98, SWIFT,… và hệ thống ngôn ngữ thống nhất; trong đó có quy định rõ về quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên tham gia trong hoạt động thanh toán trong từng trường hợp cụ thể, quy trình thanh toán,… mà các bên phải tuân theo khi thực hiện thanh toán quốc tế nói chung và thanh toán nhập khẩu nói riêng. Tuy nhiên, những văn bản trên chỉ là các quy tăc thực hành thống nhất về thanh toán quốc tế do Phòng Thương mại quốc tế ban hành không phải là văn bản luật mà chỉ là tập hợp các tập quán, quy ước và thực tiễn ngân hàng trong thanh toán quốc tế. Khác với luật quốc gia hoặc công ước quốc tế, các văn bản quy tắc này không được tự động áp dụng để điều chỉnh hoạt động thanh toán quốc tế mà mang tính pháp lý tuỳ ý. Nghĩa là các bên tham gia có quyền lựa chọn áp hay không áp dụng. Nhưng khi đã lựa chọn thì các quy tắc sẽ ràng buộc nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên tham gia. ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có quy định riêng về thanh toán nhập khẩu trong một Bộ Luật, Pháp lệnh hay Nghị định của Chính phủ. Các quy định của pháp luật về thanh toán nhập khẩu nằm rải rác ở các văn bản chủ yếu như: Bộ luật Dân sự năm 1995 phần thứ bảy gồm 13 điều từ Điều 826 đến Điều 838 quy định về các giao dịch có yếu tố nước ngoài. Trong đó có quy định ưu tiên áp dụng điều lệ quốc tế trong trường hợp có sự trùng lặp. Luật thương mại năm 1997 đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khó IX, kỳhọp thứ 11 thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 cũng có quy định về ưu tiên áp dụng pháp luật thương mại quốc tế. Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, tại Điều 3 quy định áp dụng điều ước quốc tế và tập quán quốc tế trong hoạt động ngân hàng với nước ngoài. Tuy nhiên, ưu tiên áp dụng luật nước ngoài, thông lệ, tập quán quốc tế khi nó không trái với pháp luật Việt Nam. Nghị định số 64/2001/NĐ-CP ngày 20 tháng 9 năm 2001 của Chính phủ về hoạt động thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán quy định tại Điều 4: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế trong hoạt động thanh toán với nước ngoài. Nghị định số 63/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ về quản lý ngoại hối. Quy định tại Điều 3: áp dụng điều ước quốc tế, tập quán quốc tế và pháp luật nước ngoài trong hoạt động ngoại hối với nước ngoài. Các phương thức thanh toán nhập khẩu Phương thức chuyển tiền Khái niệm Thanh toán bằng chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó bên nhập khẩu yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho bên xuất khẩu ở một địa điểm nhất định bằng phương tiện chuyển tiền do bên nhập khẩu yêu cầu. Thanh toán bằng phương thức chuyển tiền gồm có các bên tham gia thanh toán: Người yêu cầu chuyển tiền: là người yêu cầu ngân hàng thay mình thực hiện chuyển tiền ra nước ngoài. Trong nghiệp vụ thanh toán hàng nhập khẩu thì đây là nhà nhập khẩu trong nước. Người thụ hưởng: là người được nhận số tiền chuyển tới thông qua ngân hàng, thường là người xuất khẩu hàng hoá ở nước ngoài hoặc một người khác do người xuất khẩu yêu cầu. Ngân hàng nhận uỷ nhiệm chuyển tiền: là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu ở quốc gia nhập khẩu. Ngân hàng trả tiền: là ngân hàng trực tiếp trả tiền cho người thụ hưởng, thông thường là ngân hàng đại lý hay chi nhánh của ngân hàng chuyển tiền ở nước người thụ hưởng Đặc điểm Phương thức chuyển tiền được sử dụng trong hai trường hợp thanh toán trước tiền hàng và thanh toán sau. Thanh toán trước tiền hàng thuận lợi cho người bán và bất lợi cho người mua- bất lợi cho bên nhập khẩu vì dễ xảy ra trường hợp tiền đã trả nhưng bên xuất khẩu lại giao hàng không đúng mẫu mã, thời gian,… thậm chí là không giao hàng. Thanh toán sau ngược lại có lợi cho người nhập khẩu và bất lợi cho người xuất khẩu. Bên nhập khẩu có thể nhận hàng rồi nhưng thanh toán chậm hoặc từ chối thanh toán. Trong thanh toán nhập khẩu, các ngân hàng thương mại nên tư vấn cho khách hàng của mình ký được hợp đồng thanh toán sau. Tuy nhiên điều này có phụ thuộc vào lợi thế của các bên trong giao dịch, bên nào có ưu thế hơn trong giao dịch sẽ lựa chọn hình thức thanh toán có lợi cho mình. Phương thức này lợi ích nghiêng về một bên trong giao dịch nên ít được sử dụng đến; chỉ được sử dụng khi các bên có quan hệ lâu dài và tin tưởng tuyệt đối lẫn nhau hoặc trong mối quan hệ phi hàng hoá và chuyển tiền một chiều. Thanh toán theo hình thức chuyển tiền có thể thực hiện theo 2 hình thức chủ yếu: - Chuyển tiền bằng thư : là hình thức chuyển tiền trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức thư mà ngân hàng này gửi yêu cầu ngân hàng thanh toán thực hiện. Thư chuyển tiền là chỉ thị của ngân hàng chuyển tiền đối với ngân hàng thanh toán yêu cầu ngân hàng này chi trả một khoản tiền được ấn định cho người thụ hưởng được chỉ định trong thư. - Chuyển tiền bằng điện: là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dụng một bức điện mà ngân hàng này gửi co ngân hàng thanh toán thông qua truyền tin của mạng viễn thông như SWIFT. Trường hợp cả ngân hàng chuyển tiền và ngân hàng thanh toán đều là thành viên của SWIFT, hoặc có trao đổi dữ liệu điện tử với nhau thì các chỉ thị trao đổi chuyển tiền đều được chuẩn hoá và bảo mật hoàn toàn. Với hai hình thức chuyển tiền nêu trên phí dịch vụ chuyển tiền bằng thư thấp hơn phí dịch vụ chuyển tiền bằng điện nhưng lại không nhanh và an toàn bằng chuyển tiền bằng điện. Quy trình thanh toán Ng­êi thô h­ëng Ng­êi b¸n Ng­êi yªu cÇu chuyÓn tiÒn cho ng­ßi mua 1 2 4 Ng©n hµng tr¶ tiÒn Ng©n hµng nhËn chuyÓn tiÒn 3 Chú thích: Người xuất khẩu giao hàng hoá và chuyển bộ chứng từ cho người nhập khẩu. Người nhập khẩu kiểm tra hàng hoá - bộ chứng từ. Nếu phù hợp lập thủ tục chuyển tiền. Ngân hàng nhận chuyển tiền lập thủ tục chuyển tiền qua ngân hàng đại lý (hoặc chi nhánh) nhận trả tiền. Ngân hàng trả tiền thanh toán tiền cho người thụ hưởng. Trên đây là quy trình thanh toán chuyển tiền trả sau nếu là thanh toán trước thì bước 3 thực hiện đầu tiên đến bước 4 rồi mới đến bước 1 và bước 2 cuối cùng – người nhập khẩu kiểm tra hàng hoá và bộ chứng từ. Về phía ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu khi chuyển tiền đi ngân hàng sẽ hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng Có tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp. Và báo nợ cho khách hàng. Phương thức mở tài khoản, ghi sổ Khái niệm Mở tài khoản ghi sổ là phương thức thanh toán mà người bán xin mở một tài khoản (hoặc sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thànhgiao hàng hay dịch vụ, định kỳ sau khi kiểm tra, đối chiếu theo thoả thuận giữa hai bên (tháng, quý, bán niên) người mua trả tiền cho người bán. phương thức thanh toán này áp dụng để thanh toán tiền hàng nhập khẩu. Trường hợp cụ thể áp dụng là bán hàng qua đại lý, cơ sở sản xuất ở nước ngoài với đại lý ở nước khác. phía nhập khẩu phải trả khi bán hết hàng. Là hình thức thanh toán đơn giản nhất nhưng có nhiều rủi ro. Chấp nhận rủi ro để chiếm lĩnh thị trường; hoặc mở rộng hơn có quan hệ công ty mẹ - công ty con, những đơn vị có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về sản xuất kinh doanh. Tính về doanh số thì cách thức này không chiếm số lớn, nhưng chuyển tiền làm nhiều lần. Đặc điểm Đây là phương thức thanh toán không có sự tham gia của các ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực thi thanh toán; các ngân hàng chỉ đơn giản thực hiện chuyển tiền nếu hai bên có nhu cầu sử dụng dịch vụ chuyển tiền qua ngân hàng khi đến hạn trả tiền định kỳ. Các bên tham gia trong thanh toán ở đây chỉ gồm người mua và người bán. Tài khoản ở phương thức thanh toán này chỉ mở đơn biên không mở song biên tức là chỉ mở tài khoản ở một bên mà không có tài khoản đối ứng ở bên kia. Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản này chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị thanh quyết toán. Quy trình thanh toán Ng­êi b¸n Ng­êi mua 1 2 Ng©n hµng bªn b¸n Ng©n hµng bªn mua 3 Chú thích: Người bán hàng hoá và dịch vụ cùng với các chứng từ. Báo nợ trực tiếp. Người mua dùng hình thức chuyển tiền để trả khi đến hạn. Phương thức thanh toán mở tài khoản thường được áp dụng thanh toán trong quan hệ bạn hàng tin cậy, tín nhiệm lẫn nhau với điều kiện của thương vụ như dùng trong mua bán hàng đổi hàng, thường xuyên, trao làm nhiều lần trong năm; dùng trong thanh toán tiền gửi hàng bán tại nước ngoài; dùng trong thanh toán tiền phi mậu dịch như tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm, tiền hoa hồng trong nghiệp vụ môi giới, uỷ thác, tiền lãi cho các khoản vay và đầu tư. Phương thức nhờ thu Khái niệm Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức thanh toán mà người xuất khẩu sau khi giao hàng hoặc cung ứng dịch vụ cho người nhập khẩu tiến hàng uỷ thác cho ngân hàng thu hộ tiền trên cơ sở hối phiều hoặc chứng từ do người xuất khẩu lập. Các bên tham gia trong thanh toán nhờ thu gồm: - Người bán (người xuất khẩu, người cung ứng dịch vụ): là người có yêu cầu uỷ nhiệm thu. - Ngân hàng nhận uỷ thác thu: là ngân hàng phục vụ bên bán. - Ngân hàng xuất trình: là ngân hàng thu hộ, thường là ngân hàng đại lý hoặc chi nhánh của ngân hàng uỷ nhiệm thu (ở nước người mua). - Người trả tiền: người nhập khẩu, người sử dụng dịch vụ được cung ứng. 1.2.3.2. Phân loại Nhờ thu có hai loại nhờ thu trơn và nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu trơn là phương thức thanh toán trong đó bên bán uỷ thác cho ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua căn cứ vào hối phiếu do người bán lập. Các chứng từ thương mại có liên quan đến giao dịch bên bán đã chuyển giao trực tiếp chi bên mua, không qua ngân hàng. Phương thức nhờ thu trơn là phương thức thanh toán không bình đẳng, vì trong thanh toán bên mua có lợi thế hơn bên bán, bên mua có thể nhận hàng mà không trả tiền. Để công bằng hơn hạn chế rủi ro cho bên bán người ta bổ sung phương thức thanh toán nhờ thu kèm chứng từ. Nhờ thu kèm chứng từ là phương thức thanh toán mà hối phiếu do người bán phát hành đòi tiền bên mua kèm bộ chứng từ hàng hoá đã xuất, ngân hàng chỉ chấp nhận giao bộ chứng từ hàng hoá cho bên nhập khẩu để nhận hàng sau khi người nhập khẩu chấp nhận kí trả tiền trên hối phiếu. Đây cũng chưa là phương thức an toàn bởi hàng đã sản xuất và chuyển sang nước nhập khẩu nếu nhà nhập khẩu từ chối mua hàng hoá đó thì nhà xuất khẩu phải tìm biện pháp để xử lý. Những biện pháp xử lý gây lỗ vốn cho nhà xuất khẩu; thất thoát do tiền lưu kho, lưu bãi để tìm đối tác mới, giá hàng giảm đối tác mời chịu mua. Phương thức nhờ thu vẫn được chấp nhận vì các đơn vị có mối quan hệ với nhau, những ràng buộc pháp lý, hợp đồng không lớn về giá trị. Quy trình thanh toán Ng­êi b¸n Ng­êi mua 1 4 5 2 7 Ng©n hµng xuÊt tr×nh Ng©n hµng thu hé Ng©n hµng nhËn uû th¸c thu 3 6 Các bước trong thanh toán nhờ thu: Bên bán chuyển giao hàng hoá, đồng thời chuyển toàn bộ chứng từ hàng hoá cho bên mua. Bên bán lập hối phiếu đòi tiền người mua, uỷ nhiệm qua ngân hàng phục vụ mình thu hộ tiền từ người mua. Ngân hàng phục vụ bên bán chuyển hối phiếu qua ngân hàng phục vụ bên mua nhờ thu tiền từ người mua. Ngân hàng phục vụ bên mua đòi tiền người mua hoặc yêu cầu lý chấp nhận hối phiếu. Bên mua thanh toán tiền. Chuyển tiền trả qua ngân hàng phục vụ bên bán. Thanh toán tiền cho bên bán. Về phía ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sau khi trao chứng từ cho nhà nhập khẩu, hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi khách hàng hoặc tài khoản thích hợp Có tài khoản tiền gửi tại ngân hàng nước ngoài Có tài khoản thu dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp Đồng thời ghi nhận ngoại bảng Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ nước ngaòi gửi đến đợi thanh toán Báo nợ cho khách hàng là nhà nhập khẩu. Về phía ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu sau khi nhận được thông báo trả tiền, hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi ngoại tệ ở nước ngoài Có tài khoản tiền gửi của khách hàng Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp Đồng thời ghi nhận ngoại bảng Xuất tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ gửi đi nước ngoài nhờ thu Và báo có cho khách hàng. Phương thức tín dụng chứng từ Khái niệm Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ hay L/C là phương thức thanh toán quốc tế được sử dụng rộng rãi nhất và ưu việt hơn cả trong thanh toán quốc tế, chiếm khoảng 70% giá trị thanh toán. lý do là nó bảo đảm quyền lợi một cách tương đối cho cả người mua và người bán. Thư tín dụng (L/C) là một cam kết thanh toán của ngân hàng cho người xuất khẩu nếu như họ xuất trình được một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với các điều khoản và điều kiện của L/C. Được hình thành trên cơ sở của hợp đồng ngoại thương, song sau khi được thiết lập, thư tín dụng lại hoàn toàn độc lập với hợp đồng ngoại thương và khi đó phương thức thanh toán này được thiết lập. Tính chất độc lập của thư tín dụng được thể hiện ở chỗ nghĩa vụ của ngân hàng đối với người hưởng lợi L/C (nhà xuất khẩu) không phụ thuộc vào mối quan hệ giữa người mua và người bán. Ngân hàng mở L/C chỉ căn cứ vào bộ chứng từ mà nhà xuất khẩu trình và nội dung của L/C đã được mở để trả tiền cho người bán. Việc thanh toán của Ngân hàng không phụ thuộc vào thực trạng của hàng hoá. Nếu thực trạng của hàng hoá không đúng với chứng từ thì hai bên mua bán phải trực tiếp giải quyết với nhau. Trong trường hợp người mua không thanh toán tiền cho ngân hàng thì ngân hàng vẫn phải trả tiền cho người bán, thực hiện đầy đủ và đúng các điều khoản đã quy định trong L/C, ngân hàng gặp phải rủi ro trong trường hợp này. Đặc điểm Ngân hàng và các bên tham gia liên quan chỉ giao dịch trên cơ sở chứng từ, khoong dựa trên hàng hoá hoặc dịch vụ. L/C phải chỉ rõ là huỷ ngang hay không huỷ ngang, nếu không nói gì thì được coi như là không huỷ ngang. Chứng từ được coi như không phù hợp với các điều khoản quy định trong L/C nếu: chứng từ mâu thuẫn với các điều khoản quy định của L/C hay các chứng từ mâu thuẫn nhau. Ngân hàng phát hành có một khoảng thời gian hợp lý không qua 7 ngày làm việc sau khi nhận được chứng từ để kiểm tra chứng từ và xác minh chứng từ phù hợp hay không phù hợp, nếu quá thời gian ngân hàng phát hàng không có quyền thông báo sai sót. Ngân hàng không có trách nhiệm kiểm tra những chứng từ không quy định trong L/C. Nếu ngân hàng quyết định từ chối chứng từ phải thông báo bằng phương tiện truyền thông trước luc đóng cửa của ngày làm việc thứ 7 và phải đưa ra lý do từ chối. Ngân hàng không chịu trách nhiệm về sự chậm trễ do truyền tin, về lỗi chính tả phát sinh trong quá trình chuyển giao hoặc truyền tin. Thực chất của phương thức thanh toán L/C là ngân hàng phục vụ nhà xuất khẩu cho ngân hàng của nhà nhập khẩu vay để ngay lập tức thanh toán cho nhà xuất khẩu. Đối với nhà nhập khẩu để mở được L/C nhà nhập khẩu phải kí quỹ – lấy một phần tiền gửi chuyên sang tài khoản ký quỹ mở L/C. Mức kí quỹ có thể từ 0% - 100% giá trị thanh toán của thư tín dụng. Những khoản hàng nhập ngân hàng chấp nhận cho vay thì sẽ không phải kí quỹ. Những khoản hàng nhập ngân hàng không chấp nhận cho vay và L/C la loại thanh toán ngay thì phải kí quỹ 100%. Thông thường mức kí quỹ là 25% cao hoặc thấp hơn là tuỳ vào từng trường hợp và tuỳ vào mối quan hệ của khách hàng với ngân hàng, đây còn là công cụ cạnh tranh của các ngân hàng. Có kí qũy vì thời gian từ lúc nhận hàng đến lúc thanh toán dài. Nhà xuất khẩu chỉ nhận được tiền khi chứng minh được hàng hoá đã xuất phù hợp với những yêu cầu được thể hiện trong L/C. Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu phải có đủ uy tín đối với nhà xuất khẩu mới được nhà xuất khẩu chấp nhận là ngân hàng mở L/C. Trong trường hợp ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu không đủ uy tín thì cần có một ngân hàng khác bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải do nhà xuất khẩu chỉ định. Các bên tham gia trong thanh toán L/C: - Nhà nhập khẩu: là người mua hàng hoá, dịch vụ, người yêu cầu mở L/C. - Ngân hàng phát hành: là ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu, mở L/C theo yêu cầu của nhà nhập khẩu và thanh toán khi nhà xuất khẩu trình bộ chứng từ đòi tiền hoàn hảo. - Nhà xuất khẩu: người bán, người hưởng lợi trong thanh toán. - Ngân hàng thông báo: là ngân hàng tiếp nhận bộ chứng từ L/C từ ngân hàng phục vụ người nhập khẩu chuyển tới thông báo cho nhà xuất khẩu biết nhà nhập khẩu đã mở L/C. - Ngân hàng thanh toán cho nhà xuất khẩu thường kiêm luôn thông báo, thực hiện chi trả tiền cho nhà xuất khẩu. - Ngân hàng xác nhận: là ngân hàng đứng ra xác nhận cho ngưowif mở L/C thưo yêu cầu của người mở L/C trong trường hợp nhà xuất khẩu không biết đến hoặc không tin tưởng vào uy tín của ngân hàng mở L/C.Thường ngân hàng xác nhận phải là ngân hàng có uy tín lớn trên thị trường tín dụng và tài chính quốc tế. Muốn xác nhận ngân hàng mở L/C phải mở thủ tục phí rất cao và đôi khi phải đặt cọc trước. Ngoài ra, còn có thể có ngân hàng chiết khấu là ngân hàng đứng ra mua hối phiếu có kỳ hạn chưa đến hạn trả tiền do người bán ký phát cho ngân hàng trả tiền theo yêu cầu của người mở L/C. Những quy định, hướng dẫn cụ thể về thanh toán theo phương thức L/C được nêu rõ trong UCP500 – hướng dẫn thực hiện thanh toán tín dụng chứng từ ấn phẩm số 500. Tuy nhiên, những quy định trong UCP500 không mang tính pháp lý bắt các bên phải thực hiện. Phân loại Có nhiều loại L/C nhưng cơ bản có hai loại: L/C có thể huỷ ngang và L/C không thể huỷ ngang. L/C có thể huỷ ngang là L/C đã mở nhưng nhà nhập khẩu có quyền huỷ trước khi thanh toán mà không cần sự chấp thuận của nhà xuất khẩu. Sử dụng L/C huỷ ngang nhà xuất khẩu dễ gặp phải những rủi ro do việc đã giao hàng nhưng nhà nhập khẩu có thể chỉnh sửa các điều khoản hoặc huỷ bỏ L/C. Vì vậy, L/C có thể huỷ ngang chỉ được sử dụng trong những trường hợp người mua và người bán có quan hệ tốt với nhau hoặc việc giao nhận hàng giữa công ty mẹ và công ty con. L/C không thể huỷ ngang là L/C đã mở hoặc không được điều chỉnh hoặc không được huỷ bỏ nếu không được sự chấp nhận của nhà xuất khẩu. L/C không thể huỷ ngang đảm bảo quyền lợi cho cả nhà xuất khẩu và nhập khẩu, thể hiện tính ưu việt của phương thức L/C vì vậy nó được áp dụng rất rộng rãi. Ngoài ra, còn có L/C có điều khoản đỏ, L/C tuần hoàn, L/C chuyển nhượng, L/C giáp lưng, L/C dự phòng, L/C xác nhận, L/C trả chậm. L/C có huỷ ngang hay không được quy định rõ trong L/C khi mở. Bộ chứng từ L/C chuyển sang bên ngân hàng của nhà xuất khẩu phải đóng dấu huỷ ngang. Nếu trong hợp đồng thoả thuận là huỷ ngang nhưng quên đóng dấu sẽ được coi là không huỷ ngang. L/C trả chậm là L/C mà nhà nhập khẩu được quyền nhận hàng, bán hàng đi sau đó mới thanh toán tiền cho ngà xuất khẩu. Khi bộ chứng từ chuyển đến đòi tiền bên nhập khẩu chỉ cần kí nhận chấp nhận trả tiền để nhận hàng sau đó mới phải trả tiền sau. Quy trình thanh toán Quy trình nghiệp vụ thanh toán L/C Sau khi ký hợp đồng thương mại về mua bán hàng hoá, nhà nhập khẩu đề nghị ngân hàng phục vụ mình phát hành L/C. Ngân hàng phục vụ nhà nhập khẩu sẽ căn cứ yêu cầu của khách hàng và hợp đồng thương mại để mở một L/C và gửi tới ngân hàng thông báo L/C. tại ngân hàng thông báo sẽ hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi của khách hàng nhập khẩu Có tài khoản ký quỹ thanh toán L/C. Ngân hàng thông báo kiểm tra tính hợp lệ của L/C và thông báo cho nhà xuất khẩu. Nhà xuất khẩu kiểm tra xem L/C có tuân thủ các điều khoản thương mại đã thoả thuận trong hợp đồng hay không, các điều kiện đã ghi cụ thể trong L/C có thể được thoả mãn hay không và sau đó tiền hành xuất hàng. Nhà xuất khẩu chuẩn bị bộ chứng từ được đề cập trong L/C, kiểm tra chứng từ xem có khác gì so với L/C không, ký phát hối phiếu và xuất trình hối phiếu cùng bộ chứng từ cho ngân hàng thông báo. Ngân hàng thông báo có trách nhiệm đối chiếu hối phiếu và chứng từ theo các điều khoản quy định trong L/C và gửi chúng tới ngân hàng phát hành. Ngân hàng phát hàng ghi sổ theo dõi ngoại bảng Nhập tài khoản chứng từ có giá trị ngoại tệ nước ngoài gửi đến đợi thanh toán Ngân hàng phát hành kiểm tra nếu bộ chứng từ không hoàn hảo thì sẽ gửi lại trả cho ngân hàng thông báo. Nếu là bộ chứng từ hoàn hảo sẽ tiến hành thanh toán ngay lập tức đối với L/._.C trả ngay hoặc thanh toán vào một ngày nào đó nếu là L/C trả chậm, khi thanh toán sẽ hạch toán: Nợ tài khoản ký quỹ thanh toán L/C Có tài khoản tiền gửi bằng ngoại tệ tại ngân hàng nước ngoài Đồng thời xuất tài khoản ngoại bảng: xuất tài khoản chứng từ có giá trị nước ngoài gửi đến đợi thanh toán Và báo nợ cho khách hàng (nhà nhập khẩu). Ngân hàng thanh toán thường là ngân hàng thông báo khi nhận được lệnh trả tiền sẽ hạch toán vào tài khoản cho khách hàng và báo có cho khách hàng là nhà xuất khẩu. Ngân hàng phát hành còn hạch toán việc thu phí mở L/C hoặc phí thanh toán được hạch toán: Nợ tài khoản tiền gửi khách hàng hoặc tài khoản thích hợp Có tài khoản thu phí dịch vụ thanh toán Có tài khoản thuế GTGT phải nộp. Những nhân tố ảnh hưởng đến thanh toán nhập khẩu Các nhân tố chủ quan Thanh toán quốc tế là một hoạt động của ngân hàng nên nó tất yếu bị ảnh hưởng bởi các yếu tố thuộc bản thân ngân hàng. Đặc biệt trong thanh toán nhập khẩu thì vai trò của ngân hàng là không thể thiếu vì rất hiếm khi các bên tự thanh toán tiền với nhau. Các ngân hàng đóng vai trò là trung gian thanh toán đứng ra đòi tiền nhà nhập khẩu để thanh toán cho nhà xuất khẩu. Do đí muốn việc thanh toán được thực hiện tốt, nhanh chóng, an toán, chính xác, kịp thời các ngân hàng cần: Vốn: trước hết để thực hiện tốt hoạt động thanh toán nhập khẩu ngân hàng cần có nguồn ngoại tệ đủ để có thể đáp ứng nhu cầu về thanh toán cho khách hàng. Hơn nữa so với các hình thức thanh toán khác thì thanh toán nhập khẩu đòi hỏi một chi phí đầu tư cao cho việc mua sắm trang thiết bị và công nghệ hiện đại vì thế vốn là điều kiện đầu tiên và vô cùng quan trọng để bắt kịp với những tiến bộ về công nghệ thanh toán trên thế giới. Nhân lực: là một phương tiện thanh toán hiện đại, thanh toán nhập khẩu mang tính tiêu chuẩn hoá cao, có quy trình thanh toán thống nhất. Vì vậy, đòi hỏi cán bộ ngân hàng phải có một trình độ phù hợp với yêu cầu của thanh toán nhập khẩu như trình độ về chuyên môn thanh toán, về ngoại ngữ, về luật pháp,… Hơn nữa, trình độ của nhân viên cũng là một trong các yếu tố quan trọng để thu hút khách hàng. Với nhân viên có trình độ cao sẽ thoả mãn nhu cầu khi khách hàng tìm đến vì vậy khách hàng sẽ có xu thế tiếp tục đến với ngân hàng và giới thiệu với những người quen về dịch vụ thanh toán nhập khẩu ở ngân hàng. Hoặc ngược lại khi khách hàng không được hài lòng. Vị thế và quan hệ của ngân hàng ở trong nước và trên thị trường thế giới: vị thế của ngân hàng ở trong nước sẽ quyết định số lượng khách hàng đến với ngân hàng. Thanh toán nhập khẩu rất quan trọng đối với một doanh nghiệp do số tài sản lớn của doanh nghiệp nằm ở lô hàng đó; do vây quyết định của doanh nghiệp khi lựa chọn ngân hàng phục vụ mình là dựa vào lý trí mà không vì tình cảm. Vì vậy, vị thế của ngân hàng rất quan trọng trong quyết định lựa chọn ngân hàng của nhà nhập khẩu. Hơn nữa, nếu ngân hàng không có vị thế trên trường quốc tế thì không đủ tin cậy cho nhà xuất khẩu vì vậy nhà xuất khẩu có thế không đồng ý cho ngân hàng đó bảo lãnh hoặc chấp nhận là ngân hàng phát hành (trong thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ). Quan điểm của lãnh đạo ngân hàng về phát triển dịch vụ thanh toán nhập khẩu: đây là một yếu tố rất quan trọng quyết định đến việc mở rộng và phát triển dịch vụ thanh toán nhập khẩu của một ngân hàng. Nếu ngân hàng đó có tất cả các yếu tố rất thuận lợi cho phát triển dịch vụ thanh toán nhập khẩu nhưng ban lãnh đạo ngân hàng lại nhận thấy ngân hàng mình không thể phát triển nghiệp vụ này được và có những quyết định bất lợi cho thanh toán nhập khẩu. Hoặc chủ trương của lãnh đạo ngân hàng là ưu tiên phát triển nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu vì vậy sẽ có những quyết định nhằm thúc đẩy nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu hơn. Để có thể thực hiện tốt được thanh toán nhập khẩu những yếu tố chủ quan về phía ngân hàng rất quan trọng. Ngân hàng ngoài việc đáp ứng tốt các yếu tố về thanh toán nhập khẩu còn cần có các chủ trương, chính sách thu hút khách hàng. Các nhân tố khách quan Sự phát triển kinh tế của một quốc gia: nếu một quốc gia có nền kinh tế tự cấp tự túc thì hoạt động ngoại thương không phát triển, vì vậy các hoạt động nhập khẩu ở trong nước hầu như không có. Vì vậy, nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu không thể phát triển được cho dù ngân hàng đó có tốt đến đâu đi chăng nữa. Khi một quốc gia có nền kinh tế mở, hoạt động ngoại thương phát triển thúc đẩy nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu phát triển. Trình độ sản xuất, nguồn tài nguyên của một quốc gia cũng ảnh hưởng tới thanh toán nhập khẩu. Một quốc gia có trình độ sản xuất cao, có nhiều tài nguyên thường là một quốc gia xuất siêu, hoạt động xuất khẩu sẽ phát triển hơn hoạt động nhập khẩu vì vậy mà thanh toán xuất khẩu cũng sẽ phát triển hơn thanh toán nhập khẩu. Là một quốc gia thiếu tài nguyên thì vẫn phải nhập khẩu nhiều cho dù trình độ sản xuất phát triển. Việt Nam là một quốc gia nhập siêu, doanh số thanh toán nhập khẩu lớn hơn so với doanh số thanh toán xuất khẩu. Ngoài ra, vị trí địa lý của một quốc gia thuận lợi sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí, hạn chế rủi ro vận chuyển trong hoạt động ngoại thương. Tỉ giá hối đoái có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ngoại thương và ảnh hưởng đến thanh toán nhập khẩu. Tỷ giá giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ thay đổi sẽ làm thay đổi hoạt động ngoại thương. Khi tỷ giá giảm làm giảm giá trị của đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ khi đó chi phí để mua cùng một loại hàng hoá ở trong nước sẽ rẻ tương đối hơn so với mua ở nước ngoài vì vậy sẽ có xu hướng thúc đẩy nhập khẩu của một nước. Ngược lại khi tỷ giá tăng làm tăng giá đồng ngoại tệ so với đồng nội tệ sẽ thúc đẩy xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Tình hình chính trị xã hội của một quốc gia cũng ảnh hưởng tới thanh toán nhập khẩu. Chính trị ổn định hay không chỉ ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế của một quốc gia mà còn ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tư vì chính trị bất ổn gắn với rủi ro cao trong vân chuyển, giao nhận hàng hoá, thanh toán… nên tất yếu sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cũng như quyết định xuất nhập khẩu của đơn vị. Khi nền kinh tế có tình hình chính trị xã hội ổn định thì hoạt động kinh tế sẽ có một nền tảng vững chắc để phát triển. Sự bất ổn định của chính trị xã hội sẽ làm trì trệ và tàn phá nền kinh tế. Trong mua bán ngoại thương thì rủi ro do chính trị xã hội bất ổn định là những rủi ro bất khả kháng vì thông thường không có bảo hiểm cho những rủi ro thuộc loại này. Do vậy, trong bất kỳ trường hợp nào thì các nhà kinh doanh đều tránh giao dịch với các tổ chức kinh tế tại các quốc gia có tình hình kinh tế xã hội không ổn định. Chủ trương chính sách ngoại thương của nhà nước có tác dụng khuyến khích hay hạn chế hoạt động nhập khẩu và nó có tác động trực tiếp hay gián tiếp lên tỷ giá. Do đó, sự ổn định đúng đắn của các chính sách vĩ mô của nhà nước sẽ có tác động rất lớn đến hoạt động nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ mà thanh toán quốc tế. Một chính sách mà không đúng đắn, hiệu quả, ổn định sẽ dẫn đến khó khăn trong việc thu hút vốn, khách hàng, cân đối ngoại tệ và rủi ro cho doanh nghiệp cũng như cho ngân hàng. Ví dụ với những chính sách thuế, điều khoản thu hút vốn đầu tư nước ngiàu, khuyến khích xuất khẩu hạn chế nhập khẩu bằng cách đánh thuế cao hàng nhập khẩu, cấp quota hạn ngạch,… tất yếu sẽ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu kéo theo tác động đến thanh toán xuất nhập khẩu vì hoạt động xuất nhập khẩu phát triển thì thanh toán xuất nhập khẩu mới có thể phát triển được. Hoạt động xuất nhập khẩu nói chung hay hoạt động nhập khẩu nói riêng có liên quan đến nhiều ngành trong nước vì vậy chịu tác động bởi nhiều luật thuộc nhiều ngành. Tại Việt Nam, thanh toán xuất nhập khẩu mới chỉ thực sự phát triển mạnh trong hơn 10 năm trở lại đây, hoạt động thanh toán nhập khẩu đã đạt được một số thành tựu nhất định, tuy nhiên các ngân hàng cũng gặp không ít những khó khăn trong thanh toán nhập khẩu cả về mặt chủ quan và khách quan. Như trường hợp ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam gần đây gặp tranh chấp trong thanh toán nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ; do việc ngân hàng nông nghiệp đã mở một L/C nhưng sau đó do việc giảm giá hàng hoá nên khách hàng không thanh toán cho ngân hàng và ngân hàng đã không thanh toán cho phía bên nhà xuất khẩu ở nước ngoài; trong vụ việc này ngân hàng nông nghiệp đã làm sai quy định do việc thanh toán L/C chỉ dựa trên bộ chứng từ hoàn hảo phía bên nhà xuất khẩu xuất trình và khi đã ký phát hành L/C thì ngân hàng là người chịu trách nhiệm đầu tiên trong thanh toán chứ không phải là nhà nhập khẩu. Việc này cũng làm giảm uy tín của các ngân hàng Việt Nam trong thanh toán nhập khẩu. Chương2. Thực trạng thanh toán nhập khẩu tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 2.1. Khái quát Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 2.1.1. Lịch sử hình thành Hoạt động kinh doanh đối ngoại ở một đất nước là không thể thiếu, và do nhu cầu có một ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực thanh toán quốc tế là cần thiết. Đáp ứng nhu cầu cấp bách lúc bấy giờ, Ngân hàng Ngoại thương đã ra đời ngày 1/4/1963 hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực thanh toán đối ngoại. Trước năm 1987, hệ thống ngân hàng nước ta là hệ thống ngân hàng một cấp. Vì vậy các ngân hàng chuyên nghiệp như Ngân hàng Ngoại thương (1963), Ngân hàng kiến thiết (1957)…chỉ có bộ máy tổ chức ở trung ương, không có hệ thống cơ sở, thực hiện chức năng và nhiệm vụ do Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giao. Do đó, thực chất các ngân hàng chuyên nghiệp chỉ là một vụ, cục chức năng hay chi nhánh đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà thôi. Đến năm 1987, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI, những hoạt động của hệ thống Ngân hàng cũng được cải cách cho phù hợp với những đổi mới của nền kinh tế thời kỳ đó. Ngày 26/03/1988, Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ra Nghị định 53/HĐBT về việc tổ chức lại hệ thống ngân hàng. Theo tinh thần Nghị định này hệ thống Ngân hàng Việt Nam bao gồm hai cấp là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các ngân hàng chuyên doanh gồm: Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Từ sau Nghị định này Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam thực sự là một ngân hàng thương mại quốc doanh, hoạt động kinh doanh một cách độc lập, tách rời chức năng phát hành tiền và là cơ quan hành chính của Nhà nước; từ đây Ngân hàng Ngoại thương chỉ chịu sự quản lý vĩ mô của Ngân hàng Nhà nước và các cơ quan quản lý Nhà nước có liên quan. Vốn tự có của Ngân hàng Ngoại thương năm 1991 là 200 tỷ đồng, đến năm 1993 tăng lên 213 tỷ đồng và không ngừng tăng lên qua các năm, đến năm 2001 là 1908 tỷ đồng. Đến 31/12/2004 vốn tự có của Ngân hàng Ngoại thương là 3955 tỷ đồng và cuối năm 2005 lên tới 9000 tỷ đồng, tăng gần 7000 tỷ so với cuối năm 2000 – thời điểm Ngân hàng Ngoại thương xây dựng đề án tái cơ cấu. Tỷ lệ an toàn vốn (CAR) từ 4,5% cuối năm 2000 lên 9,3% cuối năm 2005. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có tên tiếng Anh là bank for foreign trade of Vietnam gọi tắt là vietcombank thành lập ngày 1/4/1963 . Là doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt, được tổ chức theo mô hình Tổng công ty 90,91. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng thành viên của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam; hiệp hội ngân hàng Châu á; tổ chức thanh toán toàn cầu Swift và liên tiếp trong 10 năm liền 1996, 1997, 1998, 1999, 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 2005 được công nhận là Ngân hàng có chất lượng dịch vụ tốt nhất về thanh toán Swift theo tiêu chuẩn quốc tế; tổ chức thẻ quốc tế Visa, Master Card. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng hoạt động lâu đời nhất trong lĩnh vực phục vụ đối ngoại và là ngân hàng đầu tiên ở Việt Nam hoạt động kinh doanh ngoại tệ, luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng và cũng là Ngân hàng chiếm tỷ trọng thanh toán xuất nhập khẩu và bảo lãnh lớn nhất tại Việt Nam; đứng hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực tài trợ thương mại, thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối và ứng dụng công nghệ vào hoạt động ngân hàng. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cũng là ngân hàng đầu tiên quản lý nguồn vốn tập trung và là trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 ngân hàng trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Là ngân hàng đầu tiên phát hành và thanh toán thẻ quốc tế Visa, MasterCard và là đại lý thanh toán thẻ lớn nhất tại Việt Nam, hiện nay là ngân hàng độc quyền phát hành thẻ American Express tại Việt Nam. Ngân hàng ngoại thương Việt Nam còn là đại lý thanh toán chuyển tiền nhanh toàn cầu Money Gram lớn nhất tại Việt Nam. Và được lựa chọn làm ngân hàng chính trong việc quản lý và phục vụ cho các khoản vay nợ, viện trợ của Chính phủ và nhiều dự án ODA tại Việt Nam. Là Ngân hàng duy nhất tại Việt Nam được tạp chí “the Banker” một tạp chí ngân hàng có tiếng trong giới tài chính quốc tế của Anh quốc bình chọn là “ngân hàng tốt nhất của Việt Nam liên tục trong 6 năm 2000, 2001, 2002, 2003, 2004 và 2005. Năm 2005 là năm đânngân hàng của Ngân hàng Ngoại thương. Ngân hàng đã trở thành một trong những ngân hàng hiện đại nhất Việt Nam với hệ thống công nghệ tiên tiến, tích hợp kết nối toàn bộ các sản phẩm, dịch vụ tạo điều kiện cung cấp cho khách hàng các sản phẩm ngân hàng hiện đại chất lượng cao. Nhờ mạnh dạn áp dụng các công cụ quản trị tiên tiến khác, Ngân hàng Ngoại thương đang có những bước tiến vững chắc trên con đường phát triển để trở thành tập đoàn tài chính đa năng của khu vực và quốc tế. Phßng quan hÖ kh¸ch hµng Phßng quan hÖ Ng©n hµng ®¹i lý Phßng Qu¶n lý Vèn Liªn doanh Cæ phÇn Phßng §Çu t­ Dù ¸n Phßng Tæng hîp thanh to¸n Phßng Qu¶n lý ThÎ Phßng Qu¶n lý Ng©n quü Phßng Vèn Phßng kinh doanh ngo¹i tÖ Phßng KÕ to¸n Vèn Phßng Qu¶n lý tÝn dông Phßng C«ng nî Phßng th«ng tin tÝn dông M¹ng l­íi trong n­íc Së giao dÞch C¸c chi nh¸nh C¸c c«ng ty con M¹ng l­íi ngoµi n­íc V¨n phßng ®¹i diÖn C«ng ty tµi chÝnh Paris-Moscow-Singapore ViÖt Nam t¹i Hång K«ng Phßng Qu¶n lý §Ò ¸n C«ng nghÖ Trung t©m tin häc Trung t©m thanh to¸n Phßng KÕ to¸n quèc tÕ Phßng KÕ to¸n tµi chÝnh Phßng Tæng hîp vµ Ph©n tÝch Kinh tÕ Phßng tæ chøc C¸n bé vµ ®µo t¹o V¨n phßng Phßng th«ng tin tuyªn truyÒn Phßng Ph¸p chÕ Phßng Qu¶n lý X©y dùng c¬ b¶n Phßng Qu¶n trÞ C¸c bé phËn hç trî kh¸c Héi ®ång qu¶n trÞ Ban kiÓm so¸t Ban tæng gi¸m ®èc Phßng KiÓm tra Néi bé Trung ¦¬ng Héi ®ång tÝn dông c¸c §CTC ALCO Héi ®ång TÝn dông Trung ¦¬ng Hội sở chÝnh Sơ đồ tổ chức 2.1.2. Một số loại dịch vụ chủ yếu Ngân hàng Ngoại thương cung cấp các dịch vụ chủ yếu như: dịch vụ tiết kiệm, dịch vụ tài khoản, dịch vụ kỳ phiếu, mua bán ngoại tệ, dịch vụ thẻ, dịch vụ thanh toán quốc tế, dịch vụ thuê mua tài chính, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ cho vay, dịch vụ nhờ thu trơn. 2.1.2.1. Dịch vụ tiết kiệm Là hình thức gửi tiền cho các cá nhân với thủ tục đơn giản, thuận tiện, nhanh, lãi suất hấp dẫn với các kỳ hạn phong phú. Dịch vụ này không thu phí khi khách hàng gửi và rút tiền. Và khách hàng được bảo đảm bí mật đối với việc gửi tiền này và được Ngân hàng mua bảo hiểm tiền gửi, đảm bảo khi có vấn đề xảy ra đối với Ngân hàng thì khách hàng vẫn có thể nhận được số tiền của mình. Đến hạn tất toán tài khoản nếu khách hàng không đến nhận Ngân hàng sẽ tự động nhập lãi vào gốc và tính lãi cho kỳ hạn tiếp theo của khách hàng. 2.1.2.2. Dịch vụ tài khoản Hiện nay, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được coi là Trung tâm thanh toán ngoại tệ liên ngân hàng của trên 100 ngân hàng trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam. Với uy tín lâu năm cùng với công nghệ hiện đại và đội ngũ cán bộ lành nghề, nhiệt tình Ngân hàng Ngoại thương có thể đáp ứng mọi nhu cầu khách hàng đảm bảo nhanh chóng, chính xác, an toàn, với chi phí thấp nhất. Mở tài khoản tại Ngân hàng Ngoại thương khách hàng còn được hưởng những ưu đãi như: được đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu về vốn, được hưởng ưu đãi về lãi suất khi gửi cũng như khi vay giúp khách hàng kinh doanh có hiệu quả hơn. 2.1.2.3. Dịch vụ mua bán ngoại tệ Đây là lĩnh vực mạnh nhất của Ngân hàng Ngoại thương với 2 trung tâm giao dịch lớn tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được trang bị hệ thống máy tính hiện đại cập nhất thông tin trong nước và thế giới về tình hình kinh tế, đặc biệt là về tình hình tỷ giá; giao dịch nối mạng toàn cầu của các hãng tin lớn như Reuters, Bridge Telerate,… Đội ngũ cán bộ kinh doanh lành nghề được đào tạo chuyên sâu. Ngân hàng Ngoại thương hiện có hàng trăm đối tác nước ngoài là các ngân hàng, các tổ chức tài chính hàng đầu trên thế giới ở khắp các thị trường Tokyo, Singapore, Frankfurt, London, Newyork… với doanh số giao dịch lên đến hàng chục tỷ USD một năm. 2.1.2.4. Dịch vụ nhờ thu trơn Đối tượng nhờ thu là Sec đích danh do ngân hàng nước ngoài phát hành trả cho người hưởng có tên trên sec; hoặc tiền mặt ngoại tệ không đủ tiêu chuẩn lưu hành (rách, bẩn). Khi đến Ngân hàng Ngoại thương nhờ thu khách hàng cần phải có đơn xin nhờ thu theo mẫu do Ngân hàng cung cấp và giấy chứng minh thư hoặc hộ chiếu. Sau 24 giờ sau khi nhận được báo có của ngân hàng nước ngoài khách hàng sẽ nhận được tiền tại chi nhánh Ngân hàng Ngoại thương nơi phục vụ khách hàng. 2.1.2.5. Dịch vụ thẻ Là ngân hàng đầu tiên triển khai dịch vụ thẻ, hiện nay Vietcombank vẫn giữ vững vị trí hàng đầu về thị phần thanh toán và cũng là đơn vị duy nhất chấp nhận thanh toán cả 5 loại thẻ ngân hàng thông dụng nhất trên thế giới là Visa, MasterCard, JCB, American Express, Dines Club. Không chỉ là ngân hàng đại lý thanh toán lớn nhất cho các tổ chức thẻ quốc tế ở Việt Nam, Vietcombank còn trực tiếp phát hành thẻ tín dụng quốc tế: Vietcombank MasterCard,Vietcombank Visa và Vietcombank Express. Trong đó, Vietcombank là ngân hàng độc quyền phát hành thẻ American Express- một trong sản phẩm thẻ có uy tín và dịch vụ tốt nhất trên thế giới tại thị trường Việt Nam. Ngoài thẻ tín dụng quốc tế, tháng 4 năm 2002 Vietcombank lần đầu tiên cho ra đời thẻ ghi nợ nội địa Connect 24. Thẻ này được thực hiện giao dịch trên các máy ATM của Vietcombank trên toàn quốc. Với các sản phẩm thẻ đa dạng, hướng tới phục vụ tối đa nhu cầu của khách hàng, Vietcombank không ngừng tăng cường chất lượng dịch vụ thẻ và các điểm chấp nhận thẻ trên toàn quốc và vươn ra nước ngoài. Hiện nay, phòng thẻ của Vietcombank được đánh giá là phòng có tốc độ phát triển nhanh nhất tại Vietcombank. Mới đây nhất phòng thẻ đang nghiên cứu để cho ra đời một loại thẻ mới là thẻ MTV, mục tiêu là nhằm vào giới trẻ với tính năng hiện đại, năng động, đầy màu sắc, phù hợp với giới trẻ ngày nay - đây cũng là những khách hàng có tỷ lệ dùng thẻ tín dụng nhiều nhất. 2.1.2.6. Dịch vụ thanh toán quốc tế Luôn là một hoạt động mạnh nhất của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam tại Việt Nam.Ngân hàng Ngoại thương là Ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên đã tham gia hệ thống thanh toán SWIFT (Hệ thống viện thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu) nhằm tăng cường khả năng hỗ trợ và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng trong việc thanh toán.Trong nhiều năm qua Ngân hang ngoại thương luôn được đánh giá là Ngân hàng có quy mô sử dụng mạng SWIFT lớn nhất, 5 năm liền (từ năm 1996 đến 2000) được công nhận là ngân hàng có chất lượng thanh toán SWIFT tốt nhất. Thực hiện thanh toán qua Ngân hàng ngoại thương khách hàng sẽ tiết kiệm được thời gian, đảm bảo an toàn và tiết kiệm chi phí tối đa trong những giao dịch. 2.1.2.7.Dịch vụ cho vay: Trong những năm qua, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam luôn duy trì được vị trí là Ngân hàng Thương mại có tổng tài sản lớn nhất trong số các ngân hàng Việt Nam. Với thế mạnh về vốn của mình, Vietcombank có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng bằng VND hoặc các loại ngoại tệ mạnh với thời hạn vay được chia theo 3 loại chủ yếu sau: Ngắn hạn, trung hạn, dài hạn. Để hộ trỡ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Ngân hàng Ngoại thương đã phối hợp với một số tổ chức Quốc tế như quỹ phát triển dự án sông Mêkông, MPDF, SME… theo đó các doanh nghiệp được tổ chức Quốc tế giúp đỡ tư vấn miễn phí trong việc thiết lập, xây dựng dự án kinh doanh khả thi. Phía Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam sẽ tiến hành thẩm định và cho vay bằng vốn của mình. Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam có khả năng đáp ứng mọi nhu cầu vay vốn của khách hàng (là cá nhân, đại diện hộ gia đình, đại diện tổ hợp tác). Thủ tục vay ở Vietcombank diễn ra rất đơn giản, thuận tiện, với lãi suất vay hấp dẫn so với thị trường; và khách hàng được phục vụ tận tình, chu đáo bởi đội ngũ cán bộ nhân viên có trình độ cao, thái độ phục vụ nhiệt tình. 2.1.2.8. Một số dịch vụ khác Ngoài các loại dịch vụ kể trên của Vietcombank, còn có các dịch vụ khác cũng là thế mạnh của VCB như : dịch vụ kỳ phiếu, dịch vụ bảo lãnh, dịch vụ cho thuê mua tài chính, dịch vụ chiết khấu chứng từ,… cũng là những dịch vụ có tính cạnh tranh cao trên thị trường. 2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh Năm 2005, với sự nỗ lực của toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh tiếp tục mang lại cho Ngân hàng Ngoại thương hàng nghìn tỷ đồng lợi nhuận. Ngân hàng Ngoại thương là ngân hàng hoạt động lâu đời nhất trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối, ra đời do yêu cầu về kinh tế đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới ra đời. Ngân hàng Ngoại thương ra đời đã làm cho hoạt động đối ngoại của nớc ta trở nên dễ dàng hơn. Và hơn nữa trong công cuộc đấu tranh giành độc lập tự do cho tổ quốc, Ngân hàng Ngoại thương đã góp công sức không nhỏ vào việc cung cấp sức ngời, sức của cho cuộc chiến tranh thống nhất đất nước khi cung ứng kịp thời nguồn vốn để mua sắm trang thiết bị, lương thực, thực phẩm, thuốc men, đạn dược,… phục vụ chiến trường. Trong thời bình, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam không ngừng hoạt động kinh doanh vươn lên là ngân hàng dẫn đầu trong số các ngân hàng thương mại Nhà nước, là ngân hàng đi đầu trong lĩnh vực kinh doanh ngoại hối và thanh toán quốc tế. Thật vậy, năm 2005 trái phiếu của Vietcombank đã lập kỷ lục “trái phiếu bán chạy nhất” trên thị trường tài chính Việt Nam. 8,4 triệu trái phiếu tăng vốn bán ở mức lãi suất được đánh giá là thấp “bất ngờ” chỉ 6%/năm, thấp hơn nhiều so với lãi suất trái phiếu Chính phủ 9,1%/năm. Vietcombank đã bán nốt 5,25 triệu trái phiếu cho các nhà đầu tư công chúng chỉ trong vài phút sáng ngày 15/12/2005 khiến hàng chục điểm giao dịch cha kịp nhập một lệnh mua nào thì đã hết khối lượng phát hành. Tổng số 1365 tỷ đồng trái phiếu với lãi suất 6%/năm, thời hạn 7 năm đã được bán hết trong thời gian cực ngắn. Điều này cho thấy thương hiệu và uy tín của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được công chúng đánh giá rất cao. Năm 2005, là năm kết thúc 5 năm thực hiện đề án tái cơ cấu Ngân hàng Ngoại thương (2001-2005) được Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Và ngày 21/9/2005 Thủ tướng ra quyết định số 230/2005/QĐ-TTg về việc thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Đây là cơ sở để Vietcombank phát hành trái phiếu tăng vốn, thuê tư vấn nước ngoài và định giá Vietcombank chuẩn bị cổ phần năm 2006. Ngân hàng Ngoại thương là ngân hàng duy nhất được tặng giải Sao Khuê năm 2005. Đây là giải thưởng do hiệp hội doanh nghiệp phần mềm Việt Nam (VINASA) tổ chức dới sự bảo trợ của Ban chỉ đạo quốc gia về công nghệ thông tin và Bộ Bưu chính viễn thông. Giải Sao Khuê là giải thưởng về công nghệ uy tín nhất trong năm ở Việt Nam. Thẻ của Ngân hàng Ngoại thương lập những kỉ lục trên thị trường thẻ Việt Nam. Gần 1 triệu khách hàng tính đến cuối năm 2005 sử dụng thẻ Connect 24. Năm 2005, Vietcombank đã bắt tay với Vietnam Airline và American Express cho ra đời thẻ Tín dụng “bông sen vàng”. Doanh số thanh toán thẻ quốc tế đạt mức kỉ lục trên 300 triệu USD, tăng 39% so với năm 2004. Giao dịch thực hiện qua ATM đạt 16882 tỷ VND, tăng 122% so với năm 2004. Tổng số máy ATM đã hoạt động là 565 máy. Trong năm 2005, Ngân hàng Ngoại thương chính thức áp dụng chuẩn mực quốc tế vào hoạt động tín dụng cho toàn hệ thống Vietcombank. Năm 2005, Ngân hàng Ngoại thương chính thức gia nhập tổ chức bao thanh toán quốc tế. Với đội ngũ cán bộ Ngân hàng Ngoại thương ngày càng đợc nâng cao trình độ nghiệp vụ, với hệ thống cơ sở vật chất hiện đại,…các hoạt động của Ngân hàng Ngoại thương ngày một vững mạnh góp phần bình ổn tỷ giá, giữ vững sự phát triển của nền kinh tế khi có biến động mạnh trên thị trờng quốc tế, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nước. Ngoài các hoạt động kinh doanh, Ngân hàng Ngoại thương còn không ngừng tham gia vào các hoạt động xã hội- đúng với tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc ta. Cụ thể Ngân hàng Ngoại thương đã góp 200 tỷ đồng cho Ngân hàng phục vụ người nghèo với lãi suất thấp, dành một phần quỹ phúc lợi ủng hộ trường trẻ em mồ côi, khuyết tật. Nhận nuôi dưỡng suốt đời 118 bà mẹ Việt Nam anh hùng với mức 150000đ/mẹ/tháng.Cấp 62 sổ tiết kiệm trị giá 2.000.000đ/sổ cho các trường hợp chính sách khác,… Bảng tổng kết tài sản Ngân hàng Ngoại thương (cho năm tài chính kết thúc ngày 31/12 hàng năm) Đơn vị tính: triệu VND Mục 2002 2003 2004 2005 Tài sản có: - Tiền mặt và tương đương tiền mặt -Tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước -Tiền gửi tại các tổ chức tín dụng -Cho vay các tổ chức tín dụng khác -Dư nợ tín dụng -Quỹ dự phòng rủi ro tín dụng -Góp vốn liên doanh, mua cổ phần -Đầu tư chứng khoán -Tài sản cố định -Tài sản khác 1.042.623 1.866.498 36.227.738 1.811.091 29.295.180 (650.476) 543.362 8.793.663 296.471 2.269.529 1.511.773 4.892.625 28.927.107 1.327.910 39.629.761 (794.699) 583.712 13.256.999 334.498 7.650.818 1.869.330 2.607.245 38.128.223 1.194.197 51.772.554 (1.078.008) 536.890 17.454.139 501.244 8.214.337 2.093.649 2.931.472 42.341.369 1.423.633 65.749.247 1.341.821 531.426 18.234.133 772.269 9.432.457 Tổng tài sản có 81.495.679 97.320.504 121.200.151 142.167.834 Tài sản nợ, vốn và các quỹ: -Tiền gửi của Ngân hàng Nhà nước và kho bạc Nhà nước -Tiền vay Ngân hàng Nhà nước -Tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác -Tiền vay các tổ chức tín dụng -Tiền gửi của khách hàng -Vốn nhận tài trợ uỷ thác -Các tài sản nợ khác -Vốn chủ sở hữu -Các quỹ -Lợi nhuận chưa phân phối -Lãi (lỗ) trong năm 2.460.115 2.511.097 5.805.213 2.780.637 56.422.051 193.744 6.924.974 2.445.245 565.521 1.058.131 328.951 5.947.664 807.094 4.105.529 3.421.045 71.810.035 151.330 5.342.842 3.030.733 446.324 1.381.093 876.815 7.008.449 3.128.766 6.550.659 5.973.739 85.340.881 118.822 5.246.043 4.843.309 276.362 1.438.404 1.274.717 732.453 1.246.343 6.938.992 5.426.377 110.248.748 138.267 5.643.234 8.426.377 388.422 1.523.263 1.455.358 Tổng tài sản nợ, vốn và các quỹ 81.495.679 97.320.504 121.200.151 142.167.834 2.2. Thực trạng hoạt động thanh toán nhập khẩu tại Vietcombank 2.2.1. Các phòng thực hiện nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu 2.2.1.1. Khái quát phòng thanh toán nhập khẩu Phòng thanh toán nhập khẩu thực hiên thanh toán quốc tế hàng mậu dịch và đối ngoại liên quan đến hàng nhập khẩu. Theo dõi các tài khoản liên quan đến nghiệp vụ này. Tại Ngân hàng Ngoại thương trung ương 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội, Phòng thanh toán nhập khẩu thuộc sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương được tách khỏi hội sở chính Ngân hàng Ngoại thương vào cuối năm 2005 đầu năm 2006; gồm có 8 nhân viên và một trưởng phòng, các nhân viên thuộc phòng thanh toán nhập khẩu quản lý khách hàng theo số thứ tự của tài khoản khách hàng thông thường mỗi nhân viên quản lý khoảng 200 khách hàng có mã số khách hàng liên tục, các nhân viên có nhiệm vụ thực hiện tất cả các nghiệp vụ thanh toán mà khách hàng mình quản lý yêu cầu, có nghĩa là mỗi nhân viên đều phải thực hiện tất cả các phương thức thanh toán. Vì vậy, các nhân viên thuộc phòng buộc phải biết tất cả các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán nhập khẩu. Phòng thanh toán nhập khẩu chỉ thực hiện thanh toán quốc tế cho các khách hàng là những công ty vừa và nhỏ. 2.2.1.2. Phòng tài trợ thương mại Phòng tài trợ thương mại thuộc hội sở chính Ngân hàng Ngoại thương, bao gồm 7 nhân viên và một trưởng phòng; thực hiện thanh toán nhập khẩu, xuất khẩu, bảo lãnh với đối tượng là các tổng công ty. Hiện nay, phòng tài trợ thương mại đang phục vụ 28 tổng công ty; doanh số thanh toán nhập khẩu của phòng tài trợ thương mại chiếm phần lớn trong tổng số thanh toán quốc tế thuộc phòng tài trợ thương mại do đặc thù của nước ta là nước nhập siêu. 2.2.2. Nghiệp vụ thanh toán nhập khẩu Phòng thanh toán nhập khẩu và phòng tài trợ thương mại đều thực hiện 3 phương thức thanh toán nhập khẩu là chuyển tiền, nhờ thu và phương thức tín dụng chứng từ (L/C). 2.2.2.1. Phương thức chuyển tiền Khách hàng có yêu cầu chuyển tiền sẽ gửi đến Ngân hàng một lệnh chuyển tiền theo mẫu của Ngân hàng Ngoại thương yêu cầu; gồm các mục như dùng tài khoản nào để chuyển, chuyển theo hình thức nào bằng telex, bằng thư hay bằng séc; ngày giá trị; ngoại tệ , số tiền, người ra lệnh, người hưởng, ngân hàng người hưởng, nội dung thanh toán,… và kèm theo lệnh chuyển tiền là hợp đồng thương mại giữa các bên. Ngân hàng khi nhận được lệnh chuyển tiền sẽ kiểm tra tài khoản của khách hàng và đối chiếu giữa hợp đồng với lệnh chuyển tiền. Tất cả đều hoàn hảo sẽ thực hiện chuyển tiền sang ngân hàng người hưởng và báo nợ cho khách hàng. Và Ngân hàng thực hiện thu phí chuyển tiền, mọi thao tác kế toán đều được thực hiện trên máy tính và được in ra thành văn bản để thông báo đến khách hàng. ở phương thức này ngân hàng không gặp nhiều rủi ro, do việc ngân hàng chỉ đơn thuần là trung gian thực hiện chuyển tiền cho khách hàng mà không phải chịu trách nhiệm nhiều, và ngân hàng chỉ chuyển khi khách hàng có yêu cầu chuyển tiền và tài khoản của khách hàng đủ khả năng chi trả. Ngân hàng chỉ chịu rủi ro về mặt nghiệp vụ như việc chuyển sai tài khoản hoặc thất thoát trên đường chuyển. Có ba loại chuyển tiền là chuyển tiền trước, trong và sau khi nhà nhập khẩu nhận được hàng hoá. Chuyển tiền trước khi nhận hàng là cách thức mà khách hàng của ngân hàng với tư cách là các nhà nhập khẩu sẽ gặp nhiều rủi ro hơn, do việc các nhà nhập khẩu phải thanh toán tiền trước nhưng có nguy cơ không nh._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32450.doc
Tài liệu liên quan