Hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt may Việt Nam

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU Đầu tư và đầu tư phát triển có vai trò quyết định đối với sự phát triển của từng ngành, từng lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp đầu tư là nhân tố quyết định việc nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh. Thực hiện CNH-HĐH phát huy lợi thế so sánh của đất nước, tham gia chủ động và tích cực vào hội nhập kinh tế thế giới là vấn đề cấp bách hiện nay đối với nền kinh tế nước ta. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh phát triển ngành dệt-may là m

doc87 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1661 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ột trong những ngành có nhiều lợi thế nhất của Việt Nam hiện nay và phù hợp với giai đoạn đầu của quá trình CNH-HĐH đất nước ở một nước như nước ta. Trong những năm qua những đóng góp của ngành dệt-may cho nền kinh tế đất nước một lần nữa khẳng định vai trò của ngành đối với quá trình CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam. Tổng công ty Dệt May Việt Nam đơn vị đầu ngành của ngành Dệt-May Việt Nam có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của ngành Dệt-May Việt Nam. Từ khi thành lập đến nay Tổng công ty đã không ngừng phát huy vai trò của mình trong việc định hướng và phát triển ngành Dệt-May Việt Nam đáp ứng yêu của quá trình CNH-HĐH và hội nhập kinh tế. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Tổng công ty luôn chú trọng đầu tư cho nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm giữ vững vị trí hàng đầu của mình trong ngành Dệt-May Việt Nam và không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm Dệt-May Việt Nam trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên, trước những yêu cầu phát triển của giai đoạn mới ngành Dệt-May Việt Nam nói chung và Tổng công ty Dệt-May nói riêng phải tiếp tục nâng cao hơn nữa mức chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh để có thể đứng vững được trên thị trường quốc tế và đóng góp nhiều hơn nữa cho nền kinh tế đất nước, tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của mình. Hiện nay, ngành Dệt-May Việt Nam và Tổng công ty Dệt-May Việt Nam đang thực hiện chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt-May Việt Nam theo quyết định 55/2001/TTg của thủ tướng chính phủ, trong chiến lược ấy đầu tư giữ vai trò quyết định để thực hiện thành công chiến lược ấy. Trong đó, đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những nội dung quan trọng của chiến lược. Là một sinh viên chuyên ngành Kinh tế Đầu tư được thực tập tại Tổng công ty Dệt-May Việt Nam, trong thời gian thực tập tại Tổng công ty tôi chọn đề tài “Hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng công ty Dệt-May Việt Nam” làm chuyên đề tốt nghiệp của mình nhằm khái quát về hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng công ty, những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm của Tổng công ty. Kết cấu của chuyên đề gồm ba chương: Chương I: Những vấn đề lý luận chung về đầu tư và chất lượng sản phẩm Chương II: Thực trạng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng công ty Dệt-May Việt Nam Chương III: Một số định hướng và giải pháp đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm tại Tổng công ty Dệt-May Việt Nam. Trong quá trình thực tập ngoài việc củng cố những kiến thức đã học, những kiến thức từ thực tế đã giúp tôi hiểu sâu hơn về chuyên ngành của mình. Đề tài này được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú trong Ban Kỹ thuật-Đầu tư và của Tiến sỹ Trần Văn Quyến cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo-Thạc sỹ Nguyễn Thu Hà. Em xin chân thành cảm ơn! CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ ĐẦU TƯ VÀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM I. ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1. Khái niệm đầu tư và đầu tư phát triển Có nhiều cách hiểu khác nhau về đầu tư xét trên phạm vi quốc gia: Theo nghĩa rộng: Đầu tư là sự “hy sinh” các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Nguồn lực ở hiện tại có thể là: tiền, tài nguyên thiên nhiên, thời gian, sức lao động và trí tuệ. Những kết quả đó có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Trong các kết quả đạt được trên đây những kết quả là các tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực tăng thêm có vai trò quan trọng trong mọi lúc mọi nơi, không chỉ đối với người bỏ vốn mà còn đối với cả nền kinh tế. Những kết quả này không chỉ người đầu tư mà cả nền kinh tế được hưởng. Theo nghĩa hẹp: Đầu tư chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được các kết quả đó. Như vậy, nếu xét trên phạm vi quốc gia thì chỉ có những hoạt động sử dụng nhưng nguồn lực ỏ hiện tại để trực tiếp làm tăng các tài sản vật chất, nguồn nhân lực và tài sản trí tuệ như: xây dựng nhà cửa, vật kiến trúc, mua sắm máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất, đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học công nghệ...hoặc duy trì sự hoạt động của các tài sản và nguồn nhân lực sẵn có thì mới thuộc phạm trù đầu tư theo nghĩa hẹp hay đầu tư phát triển. Có thể nêu ra khái niệm về đầu tư phát triển như sau: Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực và trí tuệ để xây dựng nhà cửa và cấu trúc hạ tầng, mua sắm máy móc, thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện chi phí thường xuyên gấn liền với sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực cho các tài sản đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế-xã hội, tạo việc làm và nâng cao đời sống cho mọi thành viên trong xã hội. Trên giác độ nền kinh tế đầu tư là sự hy sinh những giá trị ở hiện tại gắn liền với việc tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế. Các hoạt động mua bán, phân phối lại, chuyển giao tài sản hiện có giữa các cá nhân, không phải là đầu tư đối với nền kinh tế hay đầu tư phát triển. Có thể thấy rằng hoạt động đầu tư phát triển có những đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác như sau: Thứ nhất: hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và để nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển. Vì đầu tư phát triển thường gắn liền với việc xây dựng các công trình kiến trúc, nhà xưởng, mua sắm máy móc, thiết bị và lắp đặt chúng để phục vụ cho sản xuất hay hoạt động đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng chúng vào sản xuất... những hoạt động này thường đòi hỏi số vốn đầu tư lớn (Vốn đầu tư được hiểu là tiền và cả các nguồn lực khác như: các nguồn tài nguyên và trí tuệ). Mặt khác, trong quá trình thực hiện đầu tư số vốn đầu tư đã bỏ ra không phát huy tác dụng ngay mà phải sau khi kết thúc quá trình thực hiện đầu tư bước vào giai đoạn vận hành kết quả đầu tư chủ đầu tư mới bắt đầu thu hồi được vốn đầu tư đã bỏ ra ban đầu. Thứ hai: Đầu tư phát triển mang tính chất lâu dài, các nguồn lực vật tư, tiền, lao động cần được huy động lớn. Thời gian từ lúc tiến hành đầu tư cho đến khi các thành quả đầu tư phát huy tác dụng thường kéo dài nhiều tháng, năm và cần phải huy động một lượng rất lớn tiền vốn, lao động và vật tư để thực hiện. Thứ ba: Thời gian cần thiết để thực hiện một công cuộc đầu tư thường kéo dài. Quá trình vận hành các kết quả đầu tư cho đến khi thu hồi được vốn hoặc cho đến khi thanh lý tài sản do vốn đầu tư tạo ra cũng thường kéo dài trong nhiều năm. Nên không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế. Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài nhiều năm, có khi hàng trăm hàng nghàn năm và thậm chí tồn tại vĩnh viễn. Điều này nói lên giá trị lớn lao của các thành quả đầu tư phát triển. Những thành quả của hoạt động đầu tư phát triển là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó các điều kiện về địa lý địa hình tại đó ảnh hưởng đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như tác dụng sau này của các kết quả đầu tư. Thứ tư: Đầu tư phát triển là hoạt động mang tính rủi ro. Hoạt động đầu tư phát triển một mặt phải sử dụng một số vốn lớn ở hiện tại, mặt khác lại phải thực hiện trong một thời gian tương đối dài. Chính vì vậy, hoạt động này chịu tác động của rất nhiều yếu tố bất định thay đổi theo thời gian, không gian mà chủ đầu tư không thể biết trước được một cách chắc chắn, tác động của các yếu tố này có thể có lợi hoặc bất lợi đối với chủ đầu tư. Do đó, để tránh được những yếu tố bất lợi có thể tác động đến công cuộc đầu tư đòi hỏi chủ đầu tư phải tính toán kỹ lưỡng trước khi tiến hành công cuộc đầu tư và có các phương án dự phòng nếu xảy ra những tình huống không thuận lợi để có được một phương án đầu tư an toàn và có hiệu quả vững chắc. Tức là phải làm tốt công tác chuẩn bị đầu tư và sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư phải đảm bảo chất lượng tốt. 2.Vai trò của đầu tư phát triển trong nền kinh tế Dù xét trên góc độ nào các nhà kinh tế học đều thống nhất rằng đầu tư phát triển là chiếc chìa khoá của sự tăng trưởng là nhân tố quyết định với sự tăng trưởng kinh tế.Vai trò quan trọng đó thể hiện qua các mặt sau: 2.1 Trên giác độ nền kinh tế của quốc gia Thứ nhất: Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu, từ đó tác động đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế. Đối với tổng cầu: Đầu tư là một yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong tổng cầu của toàn bộ nền kinh tế. Đối với tổng cầu, tác động của đầu tư là ngắn hạn. Đối với tổng cung: Khi các thành quả đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung ( đặc biệt là tổng cung dài hạn ) tăng lên dẫn đến sản lượng tiềm năng tăng do đó giá giảm xuống. Sản lượng tăng, giá giảm cho phép tiêu dùng tăng; tiêu dùng tăng lại kích thích sản xuất phát triển mà sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản của để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên xã hội. Thứ hai: Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Sự tác động không đồng thời về mặt thời gian của đầu tư đối với tổng cầu và tổng cung của nền kinh tế có tác động làm cho mỗi sự thay đổi của đầu tư, dù là tăng hay giảm đều cùng một lúc vừa là yếu tố duy trì sự ổn định vừa là yếu tố phá vỡ sự ổn định của nền kinh tế các quốc gia. Ví dụ, khi cầu các yếu tố của đầu vào tư tăng làm cho giá cả của hàng hoá có liên quan tăng đến một mức độ nào đó sẽ dẫn đến lạm phát. Đến lượt mình, lạm phát là yếu tố làm cho sản xuất đình trệ, đời sống người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm. Mặt khác tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội và tất cả các yếu tố này làm cho kinh tế phát triển. Thứ ba: Đầu với việc tăng cường khả năng khoa học công nghệ của đất nước Có hai con đường cơ bản để có công nghệ là: tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là tự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là phương án không khả thi. Mặt khác công nghiệp là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự phát triển và tăng cường khoa học công nghệ nước ta hiện nay. Quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá của Việt Nam sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu chúng ta không đề ra được một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc. Thứ tư: Đầu tư tác động đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đất nước. Thực tiễn của các nước trên thế giới cho thấy, để tăng trưởng kinh tế nhanh với tốc độ 9% đến 10% thì phải tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển nhanh ở mọi khu vực. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mặt cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế địa hình của những vùng phát triển hơn làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. Thứ năm: Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế Qua nghiên cứu của các nhà kinh tế người ta thấy rằng, muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được tư 15% đến 25% so với GDP tuỳ thuộc vào chỉ số ICOR của mỗi nước Nếu như hệ số ICOR không đổi, mức tăng GDP hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đầu tư. Chỉ tiêu ICOR mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách mỗi nước. Thực tế cho thấy các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường ICOR trong nông nghiệp vẫn thấp hơn ICOR trong công nghiệp, ICOR trong giai đoạn chyển đổi cơ chế thường cao chủ yếu do tận dụng năng lực sản xuất. 2.2 Trên giác độ đơn vị kinh tế của đất nước Đối với các cơ sở sản xuất-kinh doanh-dịch vụ đầu tư quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của mỗi cơ sở. Khi tạo dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho sự ra đời của bất kỳ cơ sở nào đều cần phải xây dựng nhà xưởng, mua sắm máy móc thiết bị. Mặt khác sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này hao mòn, hư hỏng. Để duy trì sự hoạt động bình thường cần phải sửa chữa, thay mới, mua sắm bổ sung các thiết bị mới thay thế cho các thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư. Đối với các cơ sở vô vị lợi (hoạt động không thể thu lợi cho bản thân mình) đang tồn tại. Để duy trì sự hoạt động ngoài tiến hành sửa chữa lớn theo định kỳ các cơ sở vật chất kỹ thuật còn phải thực hiện các chi phí thường xuyên. Tất cả những hoạt động và chi phí này đều là những hoạt động đầu tư phát triển của đơn vị. 3. Đầu tư trong doanh nghiệp 3.1 Khái niệm đầu tư trong doanh nghiệp Đầu tư trong doanh nghiệp hay đầu tư phát triển trong doanh nghiệp là hoạt động chi dùng vốn cùng với các nguồn lực khác trong hiện tại nhằm duy trì và tạo ra những tài sản mới cho doanh nghiệp đồng thời tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của mọi thành viên trong doanh nghiệp. Đầu tư trong doanh nghiệp là bộ phận cơ bản của đầu tư. 3.2 Nội dung đầu tư trong doanh nghiệp Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm những nội dung chủ yếu như sau: Một là: Đầu tư xây dựng cơ bản Khoản đầu tư này bao gồm: -Đầu tư cho việc xây dựng mới và sửa chữa, nâng cấp nhà xưởng và các công trình phụ trợ khác phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. -Mua sắm máy móc thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh. -Các khoản đầu tư khác: sửa chữa lớn, thay mới bộ phận...máy móc, thiết bị, công nghệ và một số khoản mục khác. Hai là: Đầu tư phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp Hoạt động này bao gồm việc tuyển dụng; đào tạo và đào tạo lại, nâng cao tay nghề, trình độ chuyên môn; trả lương đúng và đủ cho người lao động cùng với chế độ khen thưởng và trợ cấp hợp lý đối với người lao động trong doanh nghiệp nhằm mục đích khuyến khích động viên họ yên tâm công tác, nâng cao tay nghề từ đó nâng cao năng suất lao động. Ba là: Đầu tư vào hàng tồn trữ Đó là việc doanh nghiệp dự trữ một lượng nhất định nguyên vật liệu và hàng hoá nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp duy trì được liên tục và luôn ổn định. Đây cũng là một khoản mục đầu tư rất quan trọng trong hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp. Bốn là: Đầu tư vào nghiên cứuvà phát triển Hoạt động này bao gồm việc đầu tư cho nghiên cứu khoa học công nghệ và ứng dụng chúng phục vụ quá trình sản xuất của doanh nghiệp, nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới, bổ sung những tính năng mới cho sản phẩm và cải tiến sản phẩm. Hoạt động này nếu thực hiện tốt sẽ đem lại hiệu quả rất cao cho doanh nghiệp góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Năm là: Đầu tư cho nghiên cứu thị trường và xúc tiên tiêu thụ sản phẩm. Hoạt động này bao gồm việc đầu tư cho việc nghiên cứu, dự báo nhu cầu trên thị trường về loại sản phẩm mà doanh nghiệp dự tính sản xuất, các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp và đầu tư cho quảng cáo và tiếp thị sản phẩm cùng với việc hoàn thiện hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm. Sáu là: Đầu tư vào các tài sản vô hình khác của doanh nghiệp như: việc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp và các hoạt động khác. 3.3 Phân loại đầu tư trong doanh nghiệp Có nhiều cách phân loại khác nhau đối với hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau. Có thể đề cập một số cách phân loại như sau: Theo ngành hay theo lĩnh vực đầu tư: Theo cách phân loại này đầu tư trong doanh nghiệp bao gồm: Đầu tư cho sản xuất, đầu tư cho các hoạt động thương mại và dịch vụ, đầu tư cho các hoạt động văn hoá xã hội. Theo mục tiêu đầu tư: Có đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu. Đầu tư chiều rộng là đầu tư xây dựng mới, cải tạo, mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có nhưng vẫn giữ nguyên trình độ công nghệ và mức độ hiện đại của những máy móc thiết bị hiện có; đầu tư chiều rộng làm tăng quy mô sản xuất, tăng sản lượng sản xuất ra của doanh nghiệp. Đầu tư chiều sâu là việc đầu tư hiện đại hoá, nâng cấp cơ sở vật chất hiện có hay đầu tư mới nhưng với kỹ thuật, công nghệ hiện đại hơn, tiên tiến hơn mức trung bình của ngành. Đầu tư chiều sâu là hoạt động cơ bản làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thông qua việc nâng cao mức chất lượng sản phẩm, và tăng năng suất lao dộng của doanh nghiệp. Theo hình thái biểu hiện của các kết quả đầu tư: Có đầu tư vào tài sản hữu hình và đầu tư vào tài sản vô hình. Đầu tư vào tài sản hữu hình trực tiếp làm tăng tiềm lực sản xuất của doanh nghiệp, đầu tư vào tài sản vô hình có tác động mạnh mẽ đến việc nâng cao uy tín và vị thế của doanh nghiệp trên thị trường. 3.4 Vốn và nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp Vốn đầu tư của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của tất cả các nguồn lực mà doanh nghiệp bỏ ra để tiến hành hoạt động đầu tư của mình. Vốn ở đây ngoài nguồn lực tài chính còn có cả các nguồn lực vật chất, nguồn nhân lực, trí tuệ... Nguồn vốn đầu tư trong doanh nghiệp là những nguồn mà doanh nghiệp có thể huy động vốn để phục vụ cho hoạt động đầu tư của mình. Vốn đầu tư trong doanh nghiệp có thể được hình thành từ các nguồn sau: (hay doanh nghiệp có thể huy động vốn từ những nguồn sau để phục vụ cho hoạt động đầu tư của mình) - Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp Vốn tự có của doanh nghiệp có thể là số vốn mà chủ doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện sản xuất kinh doanh (đối với doanh nghiệp tư nhân), hoặc số vốn được Nhà nước cấp (đối với doanh nghiệp Nhà nước), hoặc số vốn do các bên tham gia, các cổ đông đóng góp (đối với doanh nghiệp liên doanh và công ty cổ phần); Ngoài ra vốn tự có của doanh nghiệp được hình thành từ quỹ khấu hao cơ bản của doanh nghiệp được lập nên từ việc trích khấu hao của các tài sản cố định mà doanh nghiệp đã và đang sử dụng để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Vốn tự có của doanh nghiệp còn được hình thành từ lợi nhuận để lại của doanh nghiệp (phần lợi nhuận còn lại sau khi đã hoàn trả lãi vay và trả cổ tức cho các cổ đông). - Nguồn vốn vay Doanh nghiệp có thể huy động vốn cho hoạt động đầu tư của mình bằng cách vay vốn từ bên ngoài: từ các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng Nhà nước, hoặc qua thị trường vốn... II. SẢN PHẨM VÀ CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM 1. Sản phẩm Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra để trao đổi trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu nhất định của người tiêu dùng. Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402 thì sản phẩm được định nghĩa như sau: sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình (tập hợp các nguồn lực và hoạt động có liên quan đến nhau để biến đầu vào thành đầu ra). Nguồn lực ở đây gồm nguồn nhân lực, trang thiết bị, vật liệu, thông tin và phương pháp. Theo ISO 9002 sản phẩm được định nghĩa như sau: “Là kết quả của các hoạt động hay các quá trình”. Như vậy, sản phẩm được tạo ra từ tất cả các hoạt động bao gồm cả những hoạt động sản xuất ra vật phẩm, vật chất cụ thể và các dịch vụ. Do đó, tất cả các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân đều tạo ra hoặc cung cấp sản phẩm của mình cho xã hội. Hơn nữa, bất kỳ một yếu tố vật chất hoặc một hoạt động nào do doanh nghiệp tạo ra nhằm đáp ứng nhu cầu bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp đều được gọi là sản phẩm. Sản phẩm được hình thành từ các thuộc tính vật chất hữu hình và vô hình tương ứng với hai bộ cấu thành là phần cứng và phần mềm của sản phẩm. Phần cứng là các thuộc tính vật chất hữu hình, thể hiện dưới hình thức rõ ràng, cụ thể. Bao gồm : nhiều vật thể, bộ phận, sản phẩm được lắp ráp; nguyên vật liệu sử dụng để sản xuất ra sản phẩm đó. Phần cứng biểu hiện giá trị sử dụng khác nhau của các sản phẩm như: chức năng, công dụng, kỹ thuật, kinh tế của sản phẩm. Phần mềm của sản phẩm bao gồm các loại dịch vụ cung cấp cho khách hàng và các yếu tố thông tin như: khái niệm, các dịch vụ đi kèm...nhằm đáp ứng các nhu cầu tinh thần, tâm lý, xã hội của khách hàng. Những yếu tố phần mềm này ngày càng thu hút sự chú ý của khách hàng. Trong điều kiện cạnh tranh như hiện nay chính yếu tố phần mềm lại tạo ra nhiều lợi thế cạnh tranh khó sao chép của sản phẩm hơn là những yếu tố phần cứng của sản phẩm. Cấu trúc của sản phẩm hoàn chỉnh được khái quát như sau: Sản phẩm Phần mềm (vô hình) - các dịch vụ - các khái niệm - thông tin - các khái niệm - thông tin Phần cứng (hữu hình) - vật thể, bộ phận lắp ráp - sản phẩm lắp ráp - nguyên vật liệu 2. Chất lượng sản phẩm 2.1 Khái niệm và phân loại chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Do đó có rất nhiều quan niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm xuất phát trên những góc độ khác nhau nhằm giải quyết những nhiệm vụ và thực hiện những mục tiêu nhất định. Quan niệm xuất phát từ sản phẩm cho rằng chất lượng sản phẩm được phản ánh bởi các thuộc tính đặc trưng của sản phẩm đó. Theo quan niệm này có một số khái niệm về sản phẩm như sau: Theo quan niệm của Liên Xô (cũ) thì : “chất lượng là tập hợp những tính chất của sản phẩm chế định tính thích hợp của sản phẩm để thoả mãn những nhu cầu xác định phù hợp với công dụng của nó”. Ngoài ra, con có một định nghĩa khác về chất lượng sản phẩm: “Chất lượng là một hệ thống đặc trưng nội tại của sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc so sánh được, những thông số này lấy ngay trong sản phẩm đó hoặc giá trị sử dụng của nó”. Theo quan niệm của các nhà sản xuất thì chất lượng là sự hoàn hảo và phù hợp của một sản phẩm với một tập hợp các yêu cầu hoặc tiêu chuẩn, quy cách đã được xác định trước. Quan niệm về chất lượng sản phẩm theo hướng thị trường đưa ra những khái niệm về chất lượng sản phẩm xuất phát và gắn bó chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như: nhu cầu, cạnh tranh, giá cả... Trong nhóm quan niệm này lại có những cách tiếp cận khác nhau: Xuất phát từ người tiêu dùng, chất lượng sản phẩm được định nghĩa là sự phù hợp của sản phẩm với mục đích sử dụng của người tiêu dùng. Xuất phát từ mặt giá trị, chất lượng được hiểu là đại lượng đo bằng tỷ số giữa lợi ích thu được từ việc tiêu dùng sản phẩm với chi phí bỏ ra để đạt được lợi ích đó. Xuất phát từ tính cạnh tranh của sản phẩm thì chất lượng cung cấp những thuộc tính mang lại lợi thế cạnh tranh nhằm phân biệt nó với các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Những quan niệm về chất lượng sản phẩm theo hướng thị trường được đa số các nhà nghiên cứu và các doanh nhân tán đồng vì nó phản ánh đúng nhu cầu đích thực của người tiêu dùng, giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu thoả mãn nhu cầu của khách hàng, củng cố được thị trường và giữ được thành công lâu dài. Ngày nay, người ta thường ta thường nói đến chất lượng tổng hợp bao gồm chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ sau khi bán và chi phí bỏ ra để đạt được mức chất lượng đó. Quan niệm này đặt chất lượng sản phẩm trong mối quan hệ chặt chẽ với chất lượng của dịch vụ, chất lượng các điều kiện giao hàng và hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực. Theo tiêu chuẩn ISO 9000 chất lượng sản phẩm được định nghĩa là “mức độ thoả mãn của một tập hợp các thuộc tính đối với các yêu cầu”. Ta thấy rằng chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính kỹ thuật, kinh tế và thẩm mỹ nên có thể đứng trên nhiều góc độ khác nhau để xem xét. Do đó để thuận lợi cho việc quản lý chất lượng sản phẩm phục vụ cho việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp có thể phân loại chất lượng sản phẩm thành các loại sau: - Chất lượng thị trường: chất lượng thoả mãn nhu cầu mong đợi của khách hàng. - Chất lượng thành phẩm: chất lượng đảm bảo thoả mãn nhu cầu của một hoặc một số tầng lớp người nhất định. - Chất lượng phù hợp: Chất lượng đảm bảo theo đúng thiết kế hay tiêu chuẩn hoá quy định (còn gọi là chất lượng sản xuất). - Chất lượng thị hiếu: Chất lượng phù hợp với ý thích, sở trường tâm lý của người tiêu dùng. 2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là một chỉ tiêu mang tính tổng hợp, nó liên quan tới nhiều yếu tố khác nhau trong quá trình sản xuất-kinh doanh. Mặt khác, mỗi loại sản phẩm do có công dụng khác nhau nên hệ thống chỉ tiêu đánh giá cũng khác nhau, tựu chung lại có các loại chỉ tiêu sau đây: 2.2.1 Nhóm chỉ tiêu kỹ thuật Nhóm các chỉ tiêu này bao gồm các chỉ tiêu như: kết cấu vật chất của sản phẩm, thành phần cấu tạo, các đặc tính cơ, lý, hoá, độ bền, tuổi thọ của sản phẩm... và các thông số kỹ thuật khác như kích cỡ, công suất...Những chỉ tiêu kỹ thuật này phản ánh công dụng, chức năng của sản phẩm (sản phẩm được sử dụng vào mục đích gì) và các điều kiện sử dụng sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu này thường được giới thiệu rộng rãi để người tiêu dùng biết trong các bản thuyết minh, hướng dẫn sử dụng hoặc trên nhãn hiệu của sản phẩm, giúp người tiêu dùng có thể lựa chọn sản phẩm theo đúng mục đích sử dụng và phù hợp với điều kiện sử dụng của họ. 2.2.2 Nhóm chỉ tiêu về độ an toàn của sản phẩm Với một số loại hàng hoá nhóm chỉ tiêu này đặc biệt quan trọng và được kiểm soát hết sức nghiêm ngặt. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm những chỉ tiêu về an toàn trong sử dụng, vận hành sản phẩm, an toàn đối với sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường. Chỉ tiêu an toàn đối với hàng thực phẩm là vệ sinh, đối với máy móc thiết bị chỉ tiêu này là khả năng bảo vệ thiết bị khi bị sự cố, bảo vệ người sử dụng, sự an toàn của kết cấu khi vận hành. 2.2.3 Nhóm chỉ tiêu về độ tin cậy của sản phẩm Đây là một trong những nhóm chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh chất lượng sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu này thể hiện qua một số các chỉ tiêu chủ yếu như: mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn lượng của sản phẩm với các tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế (sản phẩm đã được cấp chứng chỉ đạt tiêu chuẩn chất lượng hay chưa), sự đánh giá của khách hàng đối với sản phẩm, uy tín của doanh nghiệp. Độ tin cậy của sản phẩm đảm bảo cho doanh nghiệp có khả năng duy trì và phát triển thị trường của mình. 2.2.4 Nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ Nhóm chỉ tiêu này đặc trưng cho sự truyền cảm, gợi cảm, sự hợp lý về mặt hình thức, dáng vẻ, kết cấu, kích thước, sự hoàn thiện, tính cân đối, màu sắc, trang trí và tính thời trang của sản phẩm. Nhóm chỉ tiêu thẩm mỹ rất quan trọng đối với hàng tiêu dùng và đặc biệt là hàng may mặc. 2.2.5 Nhóm chỉ tiêu sinh thái Nhóm chỉ tiêu này thể hiện mối quan hệ giữa con người, sản phẩm và môi trường, nó được phản ánh qua mức độ gây ô nhiễm môi trường của sản phẩm, sự phù hợp của sản phẩm với những quy định của pháp luật. Ngày nay, nhóm chỉ tiêu này đóng vai trò rất quan trọng đặc biệt là đối với những sản phẩm xuất khẩu vào thị trường khó tính như Nhật Bản hay Hoa Kỳ. 2.2.6 Nhóm chỉ tiêu về tính tiện dụng của sản phẩm Nhóm chỉ tiêu này phản ánh tính sẵn có, dễ vận chuyển, dễ bảo quản, dễ sử dụng của sản phẩm và khả năng thay thế khi có những bộ phận bị hỏng. Nhóm chỉ tiêu này có ý nghĩa quan trọng đối với sản phẩm là máy móc thiết bị. 2.2.7 Nhóm chỉ tiêu kinh tế Phản ánh hiệu quả sử dụng sản phẩm, nhóm chỉ tiêu này rất quan trọng đối với những sản phẩm khi sử dụng có tiêu hao nguyên liệu, năng lượng. Nhóm chỉ tiêu này bao gồm một số các chỉ tiêu chính như suất tiêu hao nhiên liệu, chu kỳ bảo dưỡng, cố lao động vận hành. 2.2.8 Nhóm các chỉ tiêu khác Ngoài những chỉ tiêu nói trên mức chất lượng sản phẩm còn được phản ánh qua một số chỉ tiêu khác nữa như: chỉ tiêu về công nghệ đặc trưng cho sự thuận lợi, hiệu quả sử dụng sản phẩm do những đặc điểm công nghệ mang lại; chỉ tiêu chuẩn hoá đặc trưng cho mức độ sử dụng các chi tiết, bộ phận được tiêu chuẩn hoá trong sản phẩm (các bộ phận cấu thành của sản phẩm được sản xuất theo hệ tiêu chuẩn quốc gia hay quốc tế...), sản phẩm được tiêu chuẩn hoá có tính thống nhất cao, dễ sử dụng, sửa chữa. Bên cạnh đó, ngày nay mức độ và chất lượng của các dịch vụ đi kèm, thương hiệu của sản phẩm cũng là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng sản phẩm. 2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm được tạo ra trong toàn bộ chu kỳ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, bắt đầu từ khâu thiết kế sản phẩm tới các khâu tổ chức mua sắm nguyên vật liệu, triển khai quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng. Mặt khác, chất lượng sản phẩm là sự tổng hợp của rất nhiều chỉ tiêu khác nhau; nên việc tạo ra và hoàn thiện chất lượng sản phẩm chịu tác động của rất nhiều các yếu tố thuộc môi trường kinh doanh bên ngoài và những nhân tố bên trong doanh nghiệp. Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ ràng buộc với nhau, tạo ra tác động tổng hợp đến chất lượng sản phẩm do doanh nghiệp tạo ra. Có thể chia các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm thành hai nhóm yếu tố khác nhau: đó là nhóm yếu tố thuộc môt trường bên ngoài doanh nghiệp và nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp. 2.3.1 Nhóm các yếu tố bên ngoài Nhóm yếu tố này nằm ngoài phạm vi tác động của doanh nghiệp, doanh nghiệp phải thường xuyên theo dõi nắm bắt chúng để có những biện pháp thích hợp đối với việc thực hiện chính sách chất lượng của doanh nghiệp mình. Những yếu tố thuộc nhóm yếu tố này bao gồm: Thứ nhất: Tình hình phát triển kinh tế thế giới Trong kinh doanh hiện nay, chất lượng đã trở thành ngôn ngữ phổ biến chung trên toàn cầu. Những đặc điểm của giai đoạn ngày nay đã đặt các doanh nghiệp phải quan tâm đến vấn đề chất lượng đó là: xu hướng toàn cầu hoá với sự tham gia hội nhập của các doanh nghiệp vào nền kinh tế thế giới của mọi quốc gia từ đó đẩy mạnh tự do th._.ương mại quốc tế; Sự phát triển nhanh chóng của tiến bộ khoa học-công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của công nghệ thông tin đã làm thay đổi nhiều cách tư duy cũ và đòi hỏi các doanh nghiệp phải có khả năng thích ứng; sự thay đổi nhanh chóng của những tiến bộ xã hội với vai trò ngày của khách hàng ngày càng cao; cạnh tranh tăng lên gay gắt cùng với sự bão hoà của thị trường thì vai trò của các lợi thế về năng suất chất lượng đang trở thành hàng đầu. Trước những đặc điểm trên của nền kinh tế thế giới hiện nay buộc các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp Việt Nam nói riêng phải không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng, hạ giáthành sản phẩm của mình, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng cao của thị trường trong và ngoài nước, chỉ có như vậy mới có thể đứng vững được trên thị trường mà áp lực cạnh tranh sẵn sàng đè bẹp bất cứ doanh nghiệp nào không có khả năng thích ứng. Các cuộc khảo sát cho thấy những công ty thành công trên thị trường là những doanh nghiệp đã nhận thức và giải quyết tốt bài toán chất lượng. Sản phẩm, dịch vụ sản xuất ra thoả mãn khách hàng trong nước và quốc tế. Nhiều doanh nghiệp đã tạo ra lợi thế độc quyền trong chất lượng về cạnh tranh. Như vậy, những yếu tố hội nhập trên có tác động sâu sắc và toàn diện đến chất lượng sản phẩm, dịch vụ do các doanh nghiệp sản xuất ra. Thứ hai: Tình hình thị trường Đây là nhân tố quan trọng nhất, là xuất phát điểm, tạo lực hút định hướng cho sự phát triển của chất lượng sản phẩm. Sản phẩm chỉ tồn tại khi nó đáp ứng được mong đợi của khách hàng. Xu hướng phát triển và hoàn thiện chất lượng sản phẩm phụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu trên thị trường. Nhu cầu càng phong phú, đa dạng và thay đổi nhanh càng cần hoàn thiện chất lượng sản phẩm để đáp ứng kịp thời đòi hỏi ngày càng cao của khách hàng. Yêu về mức chất lượng đạt được của sản phẩm phản ánh đặc điểm và tính chất của nhu cầu. Đặc điểm và tính chất của nhu cầu lại phụ thuộc vào tình trạng kinh tế, khả năng thanh toán, trình độ nhận thức, thói quen, truyền thống, và mục đích sử dụng sản phẩm của khách hàng. Xác định đúng nhu cầu, cấu trúc, đặc điểm và xu hướng vận động của nhu cầu là căn cứ đầu tiên, quan trọng nhất để doanh nghiệp xác định hướng phát triển chất lượng cho sản phẩm của mình. Để làm được điều đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức và thực hiện tốt công tác nghiên cứu thị trường, xây dựng cho mình một hệ thống thu thập thông tin thường xuyên, đầy đủ và chính xác về tình hình nhu cầu trên thị trường. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp Việt Nam còn chưa chú ý đầu tư thích đáng cho lĩnh vực này, đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nhiều sản phẩm của Việt Nam chưa có sức cành tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước. Thứ ba: Trình độ tiến bộ khoa học công nghệ Trình độ chất lượng của sản phẩm không thể vượt qua được giới hạn khả năng của trình độ tiến bộ khoa học-công nghệ của một giai đoạn lịch sử nhất định. Chất lượng sản phẩm trước hết thể hiện ở những chỉ tiêu kỹ thuật, mà những chỉ tiêu này lại phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật, công nghệ sử dụng để tạo ra sản phẩm. Đây là giới hạn cao nhất mà chất lượng sản phẩm có thể đạt được. Tiến bộ khoa học-công nghệ tạo ra khả năng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm. Thật vậy, tiến bộ khoa học-công nghệ tạo ra phương tiện điều tra, nghiên cứu khoa học chính xác hơn, xác định đúng đắn nhu cầu và biến đổi nhu cầu thành đặc điểm sản phẩm chính xác hơn trang bị những phương tiện đo lường, dự báo, thí nghiệm, thiết kế tốt hơn, hiện đại hơn; công nghệ, thiết bị mới ứng dụng trong sản xuất giúp nâng cao các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật của sản phẩm. Mặt khác, nhờ tiến bộ khoa học-công nghệ làm xuất hiện những nguồn nguyên liệu mới tốt hơn, rẻ hơn tạo điều kiện để nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm; khoa học quản lý phát triển hình thành những phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại góp phần nắm bắt nhanh chóng, chính xác hơn nhu cầu của khách hàng và giảm chi phí sản xuất, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng mức thoả mãn khách hàng. Do đó để không ngừng cải thiện chất lượng sản phẩm của mình các doanh nghiệp phải thường xuyên nắm bắt những thông tin về khoa học công nghệ, đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển đóng vai trò quan trọng trong việc ứng dụng khoa học công nghệ mới vào sản xuất. Bởi vậy doanh nghiệp phải dành những nguồn lực thích đáng cho lĩnh vực này. Thứ tư: Cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước Cơ chế, chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước có tác động rất lớn đến việc tạo ra và nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Một quốc gia có cơ chế, chính sách quản lý nhạy bén, khuyến khích cạnh tranh và phù hợp với thông lệ quốc tế tạo động lực thúc đẩy các doanh nghiệp phải chủ động sáng tạo, không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm của mình đáp ứng yêu cầu cạnh tranh. Mặt khác, cơ chế quản lý kinh tế phù hợp còn tạo môi trường lành mạnh, công bằng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đẩy mạnh đầu tư phát triển sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngược lại, cơ chế không khuyến khích sẽ tạo ra sự trì trệ, giảm động lực nâng cao chất lượng. Ngoài ra, cơ chế, chính sách quản lý kinh tế thông thoáng, thông tin được cung cấp một cách đầy đủ kịp thời và thông suốt tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nhanh chóng có được những thông tin về nhu cầu trên thị trường từ đó có chính sách chất lượng hợp lý cho sản phẩm của mình. Thứ năm: Các yêu cầu về văn hoá, xã hội Yếu tố văn hoá, xã hội của mỗi khu vực, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc chi phối rất lớn đến các đặc điểm nhu cầu của khu vực thị trường đó. Chất lượng sản phẩm phải phải phù hợp với đặc điểm nhu cầu đó. Chính vì vậy, các yêu cầu về văn hoá, xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng của sản phẩm sản xuất ra. Các yêu cầu về văn hoá, xã hội này bao gồm: các thói quen, phong tục, tập quán, thị hiếu, lối sống, đạo đức của các cộng đồng xã. Các yêu cầu này thay đổi theo các khu vực, quốc gia, dân tộc khác nhau; Đòi hỏi các doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi thâm nhập vào một thi trường nào đó. Yếu tố văn hoá, xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành các đặc tính chất lượng sản phẩm. Những yêu cầu về văn hoá, xã hội và tập tục truyền thống, thói quen tiêu dùng có ảnh hưởng trực tiếp tới các thuộc tính chất lượng sản phẩm, đồng thời có ảnh hưởng gián tiếp thông qua các quy định bắt buộc mỗi sản phẩm phải thoả mãn những đòi hỏi phù hợp với truyền thống, văn hoá, đạo đức, xã hội của cộng đồng xã hội. 2.3.2 Nhóm các yếu tố bên trong doanh nghiệp Đây là những nhân tố thuộc về doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể tác động đến chúng thông qua những chính sách và các biện pháp khác nhau để phục vụ cho mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm của mình. Nhóm các yếu tố này bao gồm: Thứ nhất: Lực lượng lao động trong doanh nghiệp Lao động là nhân tố trực tiếp tạo ra, quyết định đến chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra. Thật vậy, cho dù quy trình sản xuất của doanh nghiệp có hiện đại đến đâu thì con người vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc sản xuất ra sản phẩm, lao động là đối tượng trực tiếp tác động đến máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, thực hiện các quy trình và phương pháp công nghệ để sản xuất ra sản phẩm. Do đó, trình độ chuyên môn, tay nghề, kinh nghiệm, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả năng thích ứng với mọi thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp có tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm; cùng với công nghệ lao động giúp doanh nghiệp đạt chất lượng cao trên cơ sở giảm chi phí. Vì vậy, các doanh nghiệp phải có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng lực lượng lao động hiện có để đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm và thực hiện những nhiệm vụ sản xuất-kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, doanh nghiệp cần xây dựng chính sách tiền lương, tiền thưởng hợp lý đảm bảo cuộc sống cho người lao động, đồng thời khuyến khích họ phát huy khả năng sáng tạo nâng cao tay nghề và năng suất lao động. Để làm được điều đó doanh nghiệp phải dành những nguồn lực thích đáng cho đầu tư phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp: Thông qua các hoạt động như đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện kỹ thuật cho các bộ phận làm nhiệm vụ đào tạo, tuyển dụng, cấp kinh phí cho công tác đào tạo, thực hiện chế độ tiền lương, tiền thưởng, trợ cấp hợp lý đối với người lao động. Thứ hai: Khả năng máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp Công nghệ là tổng hợp các phương tiện kỹ thuật, kỹ năng, phương pháp được dùng để chuyển hoá các nguồn lực thành sản phẩm hoặc dịch vụ. Trình độ hiện đại của máy móc, thiết bị và quy trình công nghệ của doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng sản phẩm thông qua việc ảnh hưởng trực tiếp tới các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật của sản phẩm sản xuất ra, đặc biệt là những doanh nghiệp tự động hoá cao, có dây chuyền sản xuất hàng loạt. Trong nhiều trường hợp trình độ và cơ cấu công nghệ quyết định đến chất lượng sản phẩm tạo ra. Công nghệ lạc hậu khó có thể tạo ra sản phẩm có chất lượng cao, có các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật đạt tiêu chuẩn. Cơ cấu công nghệ, thiết bị của doanh nghiệp và khả năng bố trí phối hợp máy móc thiết bị, phương tiện sản xuất ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp: một doanh nghiệp có cơ cấu công nghệ đồng bộ, các phương tiện sản xuất và máy móc thiết bị được bố trí một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm, đồng thời nâng cao năng suất lao động và tiết kiệm được chi phí. Mặt khác, máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại còn giúp doanh nghiệp sản xuất ra những sản phẩm với những tính năng mới, có độ chính xác cao đáp ứng đầy đủ những chỉ tiêu kỹ thuật như sản phẩm thiết kế; máy móc thiết bị có tính tự động hoá cao còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí cho lao động sống từ đó hạ thấp giá thành sản phẩm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng, nâng cao mức chất lượng sản phẩm. Có thể nói khả năng máy móc thiết bị, công nghệ hiện có của doanh nghiệp có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Để nâng không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm của mình các doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư đổi mới máy móc thiết bị, công nghệ đi đôi với việc tổ chức quản lý tốt máy móc thiết bị, tận dụng hết công suất, tính năng làm việc của máy móc thiết bị, công nghệ phục vụ cho sản xuất. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp có thể tận dụng những máy móc thiết bị, công nghệ hiện có chỉ đầu tư đổi mới, hiện đại hoá ở những khâu chủ chốt nhằm mục đích tiết kiệm được chi phí mà vẫn đạt được mức chất lượng như mong muốn. Đi đôi với đổi mới, nâng cấp máy móc thiết bị, cải tiến công nghệ doanh nghiệp phải chú trọng đào tạo nguồn nhân lực có đủ trình độ để vận hành, khai thác và quản lý một cách có hiệu quả những máy móc thiết bị và công nghệ ấy. Bởi vậy, đầu tư cho máy móc thiết bị, công nghệ phải gắn liền với đầu tư phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Thứ ba: Nguyên liệu và hệ thống cung ứng, đảm bảo nguyên vật liệu của doanh nghiệp Một trong những yếu tố đầu vào quan trọng tham gia cấu thành sản phẩm và hình thành các thuộc tính chất lượng là nguyên vật liệu. Vì vậy, đặc điểm và chất lượng nguyên vật liệu ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm. Tính đồng bộ nhất và tiêu chuẩn hoá của nguyên vật liệu là cơ sở quan trọng cho việc ổn định chất lượng sản phẩm. Ngoài ra, tính liên tục của sản xuất và chất lượng nguyên vật liệu được cung ứng phụ thuộc rất lớn vào hệ thống cung ứng, đảm bảo nguyên vật liệu của doanh nghiệp. Một hệ thống cung ứng tốt là hệ thống luôn đảm bảo cung cấp đúng và đủ nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp không chỉ về chủng loại chất lượng mà còn đúng về thời gian và tiến độ đáp ứng được cả những nhu cầu bất thường của sản xuất. Để có được nguồn cung ứng nguyên vật liệu có chất lượng tốt, một hệ thống cung ứng nguyên vật liệu tốt, và lượng nguyên vật liệu dự trữ hợp lý doanh nghiệp cần xây dựng cho mình chiến lược mua sắm và tạo dựng nguồn nguyên vật liệu đồng thời thiết lập mối quan hệ hợp tác chặt chẽ, lâu dài, hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau giữa doanh nghiệp và nhà cung cấp. Tức là, doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư cho việc tìm hiểu và mua sắm những nguyên vật liệu đảm bảo chất lượng, đầu tư hợp lý cho lượng nguyên vật liệu dự trữ. Bên cạnh đó, đầu tư cho việc xây dựng nguồn nguyên liệu cũng là một biện pháp hữu hiệu giúp doanh nghiệp có thể chủ động trong việc cung cấp nguyên vật liệu cho chính mình. Thứ tư: Trình độ tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất của doanh nghiệp Trình độ tổ chức quản lý nói chung và trình độ quản lý chất lượng sản phẩm nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đẩy nhanh tốc độ, cải tiến, hoàn thiện chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Các chuyên gia chất lượng cho rằng thực tế 80% những vấn đề về chất lượng là do quản lý gây ra.Trình độ tổ chức quản lý của doanh nghiệp ảnh hưởng đến cơ cấu bộ máy quản lý, đến cơ chế quản lý của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp xây dựng cho mình một bộ máy quản lý, một cơ chế quản lý linh hoạt, phù hợp sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc phối hợp, khai thác có hiệu quả các nguồn lực của doanh nghiệp để tạo ra sản phẩm có chất lượng cao với chi phí thấp. Mặt khác, chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ cấu bộ máy quản lý, khả năng xác định chính xác mục tiêu, chính sách chất lượng và việc tổ chức chỉ đạo thực hiện các mục tiêu và chính sách chất lượng của doanh nghiệp. Trình độ tổ chức sản xuất liên quan đến quy trình công nghệ: việc bố trí sắp xếp các khâu trong quy trình sản xuất ra sản phẩm, bố trí lao động máy móc trong dây chuyền sản xuất. Nếu việc tổ chức sản xuất hợp lý sẽ tận dụng hết công suất, năng lực làm việc của máy móc thiết bị, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, tiết kiệm chi phí lao động tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; đồng thời tạo điều kiện cho việc thực hiện kiểm tra chất lượng sản phẩm một cách dễ dàng. Chính vì vậy, hoàn thiện hệ thống quản lý, áp dụng những phương pháp quản lý, tổ chức sản xuất tiên tiến, hiện đại là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao chất lượng sản phẩm nói riêng và chất lượng hoạt động của doanh nghiệp nói chung. 3. Vai trò của chất lượng sản phẩm và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm đóng vai trò quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh như hiện nay. Thật vậy: Chất lượng sản phẩm tạo ra sức hấp dẫn thu hút người mua. Khách hàng hướng quyết định lựa chọn mua hàng vào những sản phẩm có các thuộc tính phù hợp với sở thích, nhu cầu và khả năng thanh toán, điều kiện sử dụng của mình; họ so sánh những sản phẩm cùng loại và lựa chọn loại sản phẩm nào thoả mãn những mong đợi của họ ở mức cao hơn, mà các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm đại diện cho khả năng đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng. Mặt khác, khi đời sống ngày càng được cải thiện, nhu cầu của người tiêu dùng ngày càng nâng cao thì những sản phẩm giá rẻ, chất lượng kém không còn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng nữa. Bởi vậy, chất lượng sản phẩm là một trong những căn cứ quan trọng cho quyết định lựa chọn mua hàng của người tiêu dùng. Doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại và phát triển được khi tiêu thụ được sản phẩm sản xuất ra. Bên cạnh đó, khi sản phẩm có chất lượng cao, ổn định, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng sẽ tạo ra một biểu tượng tốt, tạo niềm tin cho khách hàng vào nhãn mác của sản phẩm. Nhờ đó uy tín của doanh nghiệp được nâng cao, có tác động lớn đến quyết định mua hàng của khách hàng. Từ đó thúc đẩy sản lượng tiêu thụ của doanh nghiệp, nâng cao vị thế của doanh nghiệp trên thị trường nhờ chất lượng cao là cơ sở để duy trì và mở rộng thị trường, tạo sự phát triển lâu dài cho doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa tương đương với tăng năng suất lao động xã hội. Chất lượng sản phẩm tăng đồng nghĩa với giá trị sử dụng, lợi ích kinh tế-xã hội trên một đơn vị đầu vào tăng lên, tiết kiệm được các nguồn lực cho sản xuất. Như vậy, chất lượng và năng suất là hai khái niệm đồng hướng. Với cùng một đơn vị nguồn lực đầu tư cho quá trình sản xuất, doanh nghiệp thu được nhiều hàng hoá hơn hoặc giá trị sử dụng cao hơn đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng. Đối với những sản phẩm là các công cụ, phương tiện sản xuất hoặc tiêu dùng có sử dụng nguyên liệu, năng lượng trong quá trình tiêu dùng thì chi phí trong vận hành khai thác sản phẩm là một trong những chỉ tiêu chất lượng rất quan trọng. Sản phẩm càng hoàn thiện, chất lượng càng cao thì mức tiêu hao nguyên liệu năng lượng trong sử dụng càng ít. Cải tiến nâng cao chất lượng sẽ góp phần tiết kiệm chi phí trong sản xuất và tiêu dùng sản phẩm. Mặt khác, tính hiện đại của sản phẩm cũng tạo điều kiện giảm phế thải trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, nhờ đó giảm các nguồn ô nhiễm môi trường. Đây cũng là một trong những yêu cầu quan trọng đối với sản phẩm, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi mà yêu cầu về sử dụng tiết kiệm nguyên, nhiên liệu và bảo vệ môi trường đang đặt ra hết sức cấp thiết đối với toàn thể nhân loại thì những thuộc tính trên của chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên. Tạo ra sản phẩm có chất lượng cao và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm là nhân tố quyết định đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong kinh doanh hiện nay. Trong môi trường phát triển kinh tế mang tính hội nhập như hiện nay, áp lực cạnh tranh hết sức gay gắt và khốc liệt. Để tồn tại và phát triển được đòi hỏi các doanh nghiệp phải nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. Chất lượng sản phẩm trở thành một trong những chiến lược quan trọng nhất làm tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Nâng cao chất lượng sản phẩm giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng tiêu thụ, tăng doanh thu và lợi nhuận. Đây là những điều kiện cơ bản để doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước. Xu thế toàn cầu hoá cùng với sự tự do hoá thương mại quốc tế mở ra những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp nhưng cũng đặt ra cho các doanh nghiệp Việt Nam những thách thức: các doanh nghiệp không chỉ phải cạnh tranh với các đối thủ trong nước mà còn phải cạnh tranh cả với các đối thủ trên thị trường quốc tế có năng lực cạnh tranh rất lớn, chất lượng sản phẩm cao, chi phí sản xuất hợp lý; yêu cầu về chất lượng của các thị trường nước ngoài rất khắt khe. Vì vậy, để đảm bảo đứng vững trong cạnh tranh, và tham gia vào thị trường thế giới các doanh nghiệp Việt Nam phải đặt vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm lên hàng đầu đi đôi với việc hạ thấp chi phí sản xuất. III. ĐẦU TƯ VÀ QUÁ TRÌNH NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM CỦA DOANH NGHIỆP 1. Mối quan hệ giữa đầu tư với quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư phát triển của doanh nghiệp có liên quan mật thiết đến quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Có thể xem xét mối quan hệ này như sau: Thứ nhất: Đầu tư tạo tiền đề để thực hiện quá trình nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Thông qua hoạt động đầu tư của mình doanh nghiệp tạo ra những điều kiện tác động trực tiếp đến việc tạo ra và nâng cao mức chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Bằng việc tăng cường đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thị trường mà doanh nghiệp có thể nắm bắt một cách nhanh chóng và chính xác hơn nhu cầu của thị trường, từ đó có định hướng cho loại sản phẩm mà dự kiến sẽ sản xuất sao cho đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu của người tiêu dùng, tình hình và tiềm lực của các đối thủ cạnh tranh. Đây là biện pháp đầu tiên mà doanh nghiệp cần quan tâm để thực hiện kế hoạch nâng cao hơn nữa mức độ thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng khi sử dụng sản phẩm của mình, chiếm lĩnh được thị trường trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Hoạt động đầu tư cho khâu nghiên cứu và phát triển sản phẩm giúp doanh nghiệp có được những sản phẩm mới với những tính năng ưu việt hơn, các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cao hơn từ đó nâng cao mức chất lượng sản phẩm và mức độ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng. Hay việc tăng cường khả năng máy móc thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp thông qua việc đầu tư đổi mới, nâng cấp, hiện đại hoá những máy móc thiết bị hiện có, cải tiến công nghệ cũ và ứng dụng những quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất mà khả năng máy móc thiết bị và trình độ công nghệ của doanh nghiệp được cải thiện nhờ đó mà mức chất lượng của các sản phẩm sản xuất ra ngày càng cao. Bên cạnh đó hoạt động đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực của doanh nghiệp như: xây dựng cơ sở vật chất cho các cơ sở đào tạo và đào tạo lại, cấp kinh phí cho những hoạt động này nhằm nâng cao trình độ tay nghề, bồi dưỡng năng lực quản lý cho các cán bộ quản lý, trả lương đúng và đủ cho người lao động là những giải pháp quyết định trong việc phát triển nguồn nhân lực của doanh phục vụ cho chiến lược chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Ngoài ra, hoạt động đầu tư cho nguyên vật liệu với các khoản mục như: đầu tư mua sắm nguyên vật liệu, nghiên cứu chế tạo những vật liệu mới, đầu tư cho nguyên vật liệu dự trữ một cách hợp lý và có hiệu quả có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hệ thống cung cấp nguyên vật liệu của doanh nghiệp, là một trong những nhân tố tác động đến mức chất lượng sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất. Các hoạt đông đầu tư nhằm hoàn thiện hệ thống quản lý, tổ chức sản xuất của doanh nghiệp như: áp dụng hệ thống quản lý chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế, tổ chức và kiện toàn bộ máy quản lý, đổi mới và ứng dụng những phương pháp quản trị hiện đại trong doanh nghiệp nhằm xây dựng bộ máy và cơ chế quản lý linh hoạt hiệu quả đáp ứng yêu cầu và mục tiêu chất lượng. Bổ sung và hoàn thiện những dịch vụ khách hàng của doanh nghiệp tạo điều kiện thuận lợi và sự an tâm của khách hàng khi sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp nhờ đó nâng cao mức độ thoả mãn của người tiêu dùng khi doanh nghiệp chú trọng đầu tư cho việc phát triển dịch vụ khách hàng. Đầu tư xây dựng thương hiệu cho sản phẩm của doanh nghiệp trong nội dung đầu tư vào tài sản vô hình có vai trò quan trọng trong việc nâng cao uy tín và tăng thêm giá trị của sản phẩm. Nói tóm lại, hoạt động đầu tư phát triển trong doanh nghiệp tạo ra những phương tiện cần thiết để thực hiện việc nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thứ hai: Nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh tạo điều kiện thúc đẩy quá trình đầu tư nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Nhờ đầu tư hợp lý mà mức chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp được nâng cao, từ đó tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường, mở rộng thị phần và uy tín của doanh nghiệp trên thị; các chỉ tiêu như trường mức tiêu thụ sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp cao tạo điều kiện tích luỹ tái đầu tư nâng cao hơn nữa mức chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp của doanh nghiệp. 2. Nội dung đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp được phân loại theo nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp, đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược chất lượng sản phẩm là một trong những chiến lược hiệu quả, đảm bảo vững chắc cho sự thành công của doanh nghiệp trong kinh doanh với điều kiện thị trường cạnh tranh như hiện nay. Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu đảm bảo cho việc thực hiện chiến lược chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động đầu tư trong doanh nghiệp. Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm bao gồm những nội dung chủ yếu sau: 2.1 Đầu tư cho hoạt động nghiên cứu thị trường Trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh bất kỳ một loại sản phẩm, dịch vụ gì các doanh nghiệp đều phải căn cứ vào đặc điểm, tính chất của nhu cầu trên thị trường; tình hình các đối thủ cạnh tranh để xác định sản lượng và mức chất lượng mà sản phẩm của doanh nghiệp cần phải đạt được để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng một cách tối ưu nhất. Bởi vậy, nghiên cứu thị trường là khâu quan trọng hàng đầu, nó quyết định rất lớn đến khả năng thành công của doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay. Đầu tư cho nghiên cứu thị trường như: tổ chức các cuộc khảo sát, điều tra về số lượng, xu hướng tiêu dùng, những yêu cầu về chất lượng của khách hàng về loại sản phẩm mà doanh nghiệp dự định sẽ sản xuất, mức chi tiêu của khách hàng cho loại sản phẩm đó...dự báo mức cung trên thị trường về loại sản phẩm dự tính sản xuất, tiềm lực của các đối thủ cạnh tranh cùng với những chiến lược mà họ sẽ thực hiện trong giai đoạn tới giúp doanh nghiệp nắm bắt được những thông tin đầy đủ về tình hình cung cầu trên thị trường, từ đó dễ dàng xác định chính xác mức chất lượng cần phải đạt được và mức sản lượng sản xuất. Có như vậy sản phẩm mà doanh nghiệp sản xuất mới có thể được người tiêu dùng chấp nhận và ưa thích. 2.2 Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm Sau khi xác định được đặc điểm, tính chất nhu cầu của người tiêu dùng về một loại sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó, trên cơ sở đó bước tiếp theo của doanh nghiệp là xác định những thuộc tính cho sản phẩm dự tính sẽ sản xuất: trong bước này doanh nghiệp phải thiết kế kiểu dáng, mẫu mã, xác định các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật cần phải đạt được cho sản phẩm; nguyên vật liệu dùng để sản xuất, máy móc thiết bị, quy trình sản xuất sẽ áp dụng để chế tạo sản phẩm. Bước này sẽ hình thành mô hình sản phẩm, quy định những thuộc tính khác biệt của sản phẩm mà doanh nghiệp sẽ sản xuất với những sản phẩm cùng loại khác trên thị trường. Làm tốt khâu này sẽ quyết định đến khả năng phù hợp của sản phẩm với nhu cầu của người tiêu dùng hay đảm bảo mức chất lượng cao cho sản phẩm sẽ sản xuất ra. Bởi những sản phẩm thiết kế là sự mô tả hay hình mẫu của những sản phẩm được sản xuất hàng loạt sau này. Để làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải chú trọng đầu tư cho khâu nghiên cứu thiết kế sản phẩm; bằng các hình thức như xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị hiện đại cho các phòng thí nghiệm, bộ phận nghiên cứu thiết kế sản phẩm của doanh nghiệp... Bên cạnh đó, trong điều kiện kinh doanh như hiện nay chu kỳ sống của sản phẩm rút ngắn lại, để kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm đòi hỏi doanh nghiệp phải thường xuyên cải tiến, hoàn thiện sản phẩm nhằm bổ sung những tính naưng mới cho sản phẩm. Chính vì vậy mà việc đầu tư cho phát triển sản phẩm là vô cùng quan trọng. 2.3 Đầu tư cho máy móc thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp Với các khoản mục đầu tư như: mua sắm máy móc thiết bị, công nghệ mới có trình độ kỹ thuật cao hơn, tiên tiến hơn; nâng cấp hiện đại hoá những máy móc, thiết bị hiện có, đổi mới quy trình công nghệ... Hoạt động đầu tư cho máy móc thiết bị, công nghệ làm tăng khả năng máy móc thiết bị, nâng cao trình độ công nghệ của doanh nghiệp. Việc đầu tư mua sắm những máy móc thiết bị hiện đại hơn nhưng máy móc thiết bị hiện có và hiện đại hơn mức bình quân hiện có của ngành mới có tác dụng thiết thực đối với việc nâng cao mức chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Hoặc doanh nghiệp có thể cải tiến công nghệ của mình trên cơ sở tận dụng những máy móc thiết bị hiện có, chỉ cần đầu tư đổi mới và hiện hoá ở những khâu quan trọng trong quy trình sản xuất sản phẩm cũng là một giải pháp quan trọng nâng cao mức chất lượng sản phẩm tạo ra; với cách làm này giúp doanh nghiệp tiết kiệm được chi phí mà vẫn đảm được mục tiêu nâng cao chất lượng sản phẩm. Thông thường công nghệ hiện đại và tiên tiến hơn đòi hỏi phần cứng của nó phải là những máy móc thiết bị hiện đại hơn và phần mềm cũng phải đổi mới tương ứng. Tức là, khi nâng cao trình độ công nghệ của mình các doanh nghiệp thường phải mua sắm những máy móc thiết bị mới tiên tiến, hiện đại hơn. Tuy nhiên, khi đầu tư mua sắm máy móc thiết bị doanh nghiệp không chỉ căn cứ duy nhất vào mức độ tiên tiến của những máy móc thiết bị ấy mà còn phải căn vào, phần mềm của công nghệ đi kèm: trình độ cần thiết của những người vận hành, quy trình vận hành, điều kiện sử dụng, điều kiện bảo dưỡng và thay thế khi có những chi tiết bộ phận hỏng, khả năng về tài chính của doanh nghiệp. Trong nhiều trường hợp, các doanh nghiệp chỉ chú trọng việc đầu tư cho mua sắm những máy móc thiết bị tiên tiến hiện đại mà không căn cứ vào trình độ nguồn nhân lực và các điều kiện sử dụng khác dẫn đến lãng phí, kém hiệu quả và không đạt được mức chất lượng như mong muốn. Chính vì vậy, bên cạnh phần cứng là những máy móc thiết bị hiện đại thì phần mềm là: con người, phương pháp, quy trình vận hành và các điều kiện khác...cũng phải tương xứng mới có thể đảm bảo nâng cao trình độ công nghệ hiện có của doanh nghiệp và nâng cao chất lượng sản phẩm. Ngoài ra tính đồng bộ của những máy móc thiết bị được đầu tư cũng tác động rất lớn đến mức chất lượng sản phẩm tạo ra. Một dây chuyền sản xuất chỉ có thể hoạt động tốt nếu các máy móc thiết bị trong dây chuyền ấy vận hành một cách đồng bộ và ăn khớp nhau. Do đó khi đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ doanh nghiệp cần lưu ý vấn để này để đảm bảo nâng cao mức chất lượng sản phẩm với mức chi phí hợp lý. Với một số dự án đầu tư mua sắm máy móc thiết bị của nước ngoài các doanh nghiệp phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề chuyển giao công nghệ. Bởi phần chuyển giao công nghệ đi kèm quyết định rất đến chất lượng sản phẩm. Có những tính năng của sản phẩm chỉ có thể được tạo ra khi áp dụng đúng phương pháp, quy trình sản xuất riêng biệt. Thông thường, mọi người cho rằng khi đầu tư vào máy móc, thiết bị hiện đại có thể tạo ra sản phẩm với chất lượng cao hơn nhưng giá thành cũng tăng lên do chi phí khấu hao cho máy móc, thiết bị trong giá thành sản phẩm tăng nhưng trên thực tế khi đầu tư vào máy móc, thiết bị công nghệ hiện đại sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao mức sản lượng sản xuất ra, tiết kiệm được chi phí cho lao động sống điều này đồng nghĩa với tăng năng suất lao động. Do đó, giá thà._.thì ngành Dệt-May Việt Nam phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào thị trường thế giới từ nguyên phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm đến thiết bị, máy móc. Chưa kể ngành thiết kế thời trang, mẫu mốt còn quá hạn chế. Bên cạnh đó, sau khi đạt được thoả thuận thương mại với Mỹ tại Bắc Kinh vào ngày 15/11/1999, Trung Quốc nhanh chóng ký được hiệp định Thương mại với các nước thành viên WTO, năm 2000 Trung Quốc chính thức trở thành thành viên của WTO. Trong khi đó, Việt Nam đang nỗ lực đàm phán gia nhập WTO. Ngành dệt may Trung Quốc với nhiều lợi thế hơn về nguyên liệu, lao động lại có lịch sử phát triển lâu dài, được qua tâm đầu tư phát triển từ rất sớm. Ngành Dệt-May Trung Quốc là ngành có nhiều lợi thế cạnh tranh nhất trên thị trường thế giới vì ngành có lợi thế từ nguồn nguyên liệu bông, xơ, hoá chất, thuốc nhuộm đến máy móc, thiết bị sợi-dệt-hoàn tất đều do các ngành sản xuất trong nước cung cấp với giá nhân công thấp. Do vậy mà Trung Quốc giữ được vị trí hàng đầu trong ngành dệt may thế giới: Trung Quốc luôn là nước đứng đầu thế giới về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may. Bởi vậy, áp lực cạnh tranh với hàng dệt may Trung Quốc là rất lớn trên cả thị trường nội địa và thị trường quốc tế. Quá trình hội nhập kinh tế đem lại cho ngành dệt may và Tổng công ty Dệt-May Việt Nam nhiều thuận lợi nhưng cũng không ít khó khăn thách thức. Theo các nguyên tắc về tự do thương mại được thể hiện trong các định chế AFTA, APEC, WTO…thì các thành viên phải mở cửa thị trường cho nhau và dành cho nhau quy chế thương mại bình thường, đồng các định chế này được kiểm tra giám sát chặt chẽ. Quá trình hội nhập đồng nghĩa với việc xoá bỏ các hàng rào bảo hộ, điều đó đặt các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh gay gắt. Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ cũng đặt ra cho ngành Dệt-May Việt Nam những thách thức, xuất khẩu hàng dệt may sang Mỹ buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tiếp cận với phương thức sản xuất và xuất khẩu FOB bởi lẽ hàng dệt may vào Mỹ bị ràng buộc bởi điều kiện xuất sứ và tỷ lệ nội địa hoá trên sản phẩm đó khi xuất vào thị trường này. Hiệp định này buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải tạo ra nguồn nguyên phụ liệu chất lượng cao ở trong nước nhằm đáp ứng yêu cầu trên. Đối với Tổng công ty Dệt-May Việt Nam, ngoài những khó khăn chung mà ngành dệt may phải đối mặt, Tổng công ty còn phải cạnh tranh với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác, mà đặc biệt là thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài có cơ chế quản lý linh hoạt hơn, dễ dàng thích ứng với những thay đổi của nhu cầu thị trường. Có thể đánh giá những mặt mạnh, yếu, cơ hội và thách thức đặt ra đối với ngành Dêt-May Việt Nam và Tổng công ty Dệt-May Việt Nam trong thời gian tới trên giản đồ SWOT như sau: Cơ hội: - Cơ hội thị trường mở rộng và đa dạng, tham gia AFTA. - Xu thế chuyển dịch ngành dệt may sang các nước đang phát triển. - Ngành May trong nước phát triển - Ngành Dệt được quan tâm phát triển với những ưu đãi đầu tư. - Việt Nam là nước ổn định về chính trị, là địa điểm thu hút đầu tư. Điểm mạnh: - Nhân lực dồi dào, ngành May có khả năng cạnh tranh. - Sự phát triển nhanh của ngành May tạo thị trường cho ngành Dệt. - Có khả năng phát triển nguyên liệu bông, tơ tằm - Ngành Dệt đang triển khai các dự án đầu tư lớn để cải thiện chất lượng vải. Thách thức: - Trung Quốc tham gia WTO và tăng cường đầu tư cho ngành dệt may. - Hiệp định hàng dệt may ATC, hiệp định AFTA có hiệu lực tạo áp lực lớn đối với ngành Dệt. - Các rào cản về kỹ thuật, môi trường, sinh thái, trách nhiệm xã hội được áp dụng từ các nước nhập khẩu. Điểm yếu: - Chất lượng nhân lực thấp - Thiếu vốn trầm trọng, chưa khai thác được vốn FDI. - Điểm xuất phát thấp, công nghệ dệt lạc hậu, thiết bị thiếu đồng bộ; kỹ năng tiếp thị, quản lý sản xuất, nghiên cứu phát triển, đào tạo nhân lực còn yếu. - Chưa chủ động về nguyên phụ liệu - Chất lượng, chủng loại, thời gian cung ứng vải cho ngành May còn hạn chế. - Tính hợp tác giữa ngành Dệt và ngành May chưa cao - Thị trường xuất khẩu của ngành May chưa ổn định Trước những khó khăn thách thức trên các doanh nghiệp dệt may Việt Nam nói chung và Tổng công ty Dệt-may Việt Nam nói riêng phải nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh trong đó đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm là một trong những giải pháp quan trọng. Đặc biệt là sau ngày 1/1/2005, khi hiệp định AFTA bắt đầu có hiệu lực sản phẩm dệt từ các nước ASEAN có tính cạnh tranh cao hơn, sẽ xâm nhập mạnh vào thị trường Việt Nam làm tính cạnh tranh và rủi ro với các dự án cho sản phẩm vải dệt thoi, chỉ các dự án đầu tư gắn liền với các sản phẩm có chất lượng cao mới có khả năng khả thi. II. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA TỔNG CÔNG TY TRONG NHỮNG NĂM TỚI 1. Quan điểm phát triển của Tổng công ty Để tiếp tục khẳng định vị trí của mình trong những giai đoạn phát triển tiếp theo của ngành dệt may Việt Nam, Tổng công ty đưa ra mục tiêu phát triển của mình là: “ trở thành tập đoàn kinh tế Nhà nước mạnh, giữ vai trò chủ đạo trong phát triển ngành Dệt-May Việt Nam”. Mục tiêu phát triển ngành dệt may VINATEX đến năm 2010 được chính phủ phê duyệt tại quyết định 55/2001/QĐ-TTg: Chỉ tiêu Đơn vị Mục tiêu VINATEX đến năm 2010 1. GTSX (theo giá cố định năm 1994) tỷ đồng 19000 2. Sản phẩm chính: -Bông xơ - xơ tổng hợp - Sợi - Vải lụa - Sản phẩm dệt kim - Sản phẩm may 1000 tấn 1000 tấn 1000 tấn triệu m2 triệu SP triệu SP 80 30 166 555 80 250 3. Doanh thu tỷ đồng 26000 4. KNXK triệu USD 2000 (Nguồn: Chiến lược tăng tốc phát triển ngành Dệt-May Việt Nam) Để đạt được những mục tiêu trên, Tổng công ty coi đầu tư là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu với phương châm: “có đầu tư thì mới có đổi mới”. Bên cạnh việc đầu tư mở rộng sản xuất tăng số lượng và chủng loại các mặt hàng sản xuất ra thì đầu tư nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm góp phần quyết định trong viêc thực hiện các mục tiêu về doanh thu, giá trị kim ngạch xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh của Tổng công ty. 2. Các quan điểm về đầu tư và phương hướng đầu tư sản xuất đối với một số mặt hàng chủ lực của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam trong thời gian tới 2.1 Các quan điểm về đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam Tổng công ty đã đưa ra một số quan điểm cho hoạt động đầu tư của mình trong thời gian tới như sau: Thứ nhất: Đầu tư nhằm nâng cao đẳng cấp mặt hàng, xây dựng các thương hiệu dệt may có tính cạnh tranh cao tránh trùng lặp với các mặt hàng phổ thông, giá thấp. Thứ hai: Đầu tư tại các doanh nghiệp May nhằm đáp ứng yêu cầu chính là tăng kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho người lao động. Thứ ba: Đầu tư tại các doanh nghiệp Dệt có tính chuyên môn hoá cao nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá, cung cấp vải đạt chất lượng cao phục vụ cho may xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. 2.2 Phương hướng đầu tư sản xuất đối với một số mặt hàng chủ lực của Tổng công ty trong thời gian tới Đối với mặt hàng sợi: Mục tiêu phát triển sản xuất mặt hàng sợi như sau: Từ nay đến năm 2005, bên cạnh các mặt hàng sợi bông, sợi PES dạng cắt ngắn vẫn là các mặt hàng sợi chủ lực chiếm tỷ trọng lớn. Chú trọng đầu tư tăng tỷ lệ sợi chải kỹ từ 13% lên 35% để cung ứng sợi cho dệt vải chất lượng cao. Các sản phẩm sợi còn lại phát triển theo định hướng: - Phát triển các mặt hàng sợi mới (len pha polyester, tơ tằm spunsilk, sợi kiểu, sợi pha Spandex…) với quy mô và bước đi phù hợp. - Nâng cao sản lượng sợi OE cho dệt khăn, sợi OE cho chỉ may - chuẩn bị nghiên cứu khả thi dự án đầu tư sản xuất sợi bông tổng hợp Philamăng với công suất thiết kế 60.000-100.000 tấn/ năm và sẽ triển khai dự án trong thời gian tới. Tổng công ty cũng đưa ra kế hoạch đầu tư thiết bị kéo sợi và thiết bị xe sợi cho giai đoạn 2003-2005 như sau: Thiết bị kéo sợi dự kiến đầu tư trong giai đoạn 2003-2005 của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam Đơn vị đầu tư Số cọc sợi dự kiến đầu tư Dệt May Hà Nội 11000 Dệt Nam Định 20000 Dệt 8/3 22176 Sợi Trà Lý 11088 Sợi Phú Bài 20000 Dệt Phong Phú 13955 Dệt May Thành Công 20000 Dệt Nha Trang 30000 Dệt Đông Nam 14784 Dệt Kim Phương Đông 20000 Dệt May Hoà Thọ 10900 Toàn Tổng công ty 40320 (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Thiết bị xe sợi dự kiến đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam giai đoạn 2003-2005 Đơn vị đầu tư Số cọc dự kiến đầu tư Dệt May Hà Nội 300 Dệt 8/3 4544 Dệt Lụa Nam Định 288 Sợi Trà Lý 1920 Dệt Việt Thắng 240 Dệt Đông Nam 384 Dệt May Hoà Thọ 1760 Toàn Tổng công ty 9436 (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Đối với mặt hàng vải dệt thoi: Các mặt hàng này sẽ được đầu tư theo hướng đầu tư theo hướng hình thành các mặt hàng chủ lực ở mỗi công ty Dệt, đẩy mạnh việc sản xuất theo hướng chuyên môn hoá, hình thành các trung tâm sản xuất các mặt hàng chiến lược chất lượng cao: vải bông, bông pha, vải PES chất lượng cao, vải may complet... Phát triển các mặt hàng có xử lý hoàn tất cao cấp: chống co, chống nhàu, chống thấm nước và xử lý hoàn tất các chức năng khác. Phát triển các mặt hàng vải len pha, vải từ sợi tơ tằm dạng Spunsilk, sợi Linen, sợi phức hợp, các mặt hàng rèm, hàng nội thất, các mặt hàng vải kỹ thuật. Số lượng thiết bị dệt thoi dự kiến đầu tư giai đoạn 2003-2005 của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam (Số thiết bị dệt thoi được đầu tư ở đây là các máy dệt không thoi, khổ rộng sản xuất ra loại vải dệt thoi chất lượng cao) Đơn vị đầu tư Số thiết bị dự kiến đầu tư Dệt Nam Định 100 Dệt 8/3 100 Dệt Phong Phú 100 Công ty len 50 Dệt Sơn Trà 200 Toàn Tổng công ty 550 (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Số máy dệt không thoi được đầu tư giai đoạn 2003-2005 sẽ tăng năng lực sản xuất vải dệt thoi, cả về số lượng lẫn chất lượng, chủng loại. Đáp ứng tốt hơn nhu cầu cho may xuất khẩu và tiêu dùng. Đối với mặt hàng dệt kim: Trong thời gian tới các Công ty sản xuất vải dệt kim trong Tổng công ty vẫn tập trung bổ sung năng lực, đồng bộ hoá thiết bị hiện có, nâng cao chất lượng vải dệt kim đáp ứng nhu cầu cho may xuất khẩu. Các mặt hàng vải chính vẫn từ nguyên liệu bông, PE biến tính, bông pha PES, sợi Spandex cho may các sản phẩm T-Shirt, poloshirt, đồng thời quan tâm sản xuất các mặt hàng dệt kim dùng cho thể thao, trượt tuyết, điền kinh, vải dùng trong kỹ thuật và công nghiệp. Nghiên cứu hướng đầu tư phát triển các mặt hàng dệt kim dọc. Tổng công ty dự kiến đầu tư bổ sung năng lực 3957 tấn sản xuất trong giai đoạn 2003-2005 và 10780 tấn trong giai đoạn 2005-2010 đưa tổng năng lực vải dệt kim của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty đạt 16593 tấn vào năm 2005 và đạt 26383 tấn vào năm 2010. Số lượng thiết bị dệt kim dự kiến đầu tư giai đoạn 2003-2005 của Tổng công ty Dệt May Việt Nam Đơn vị đầu tư Số thiết bị dự kiến đầu tư Dệt May Thành Công 85 máy dệt kim tròn Dệt Đông Nam 2 máy dệt kim tròn 10 máydệt kim phẳng (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Tổng công ty cũng dự kiến tăng cường đầu tư cho khâu nhộm hoàn tất nhằm nâng cao năng lực xử lý hoàn tất vải dệt kim và dệt thoi, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng vải. Số lượng thiết bị nhuộm hoàn tất dự kiến đầu tư giai đoạn 2003-2005 của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam Thiết bị nhuộm hoàn tất cho vải dệt thoi: Đơn vị đầu tư Số thiết bị dự kiến đầu tư Dệt Nam Định 5 máy nhuộm gián đoạn 1 máy nhuộm sợi Dệt Phong Phú 1 dây chuyền nhuộm liên tục Dệt May Thành Công 4 máy nhuộm gián đoạn Nhuộm Yên Mỹ 1 dây chuyền nhuộm liên tục 2 máy nhuộm sợi Dệt Nhuộm Sơn Trà 1 dây chuyền nhuộm liên tục 1 máy in hoa 2 máy nhuộm sợi (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Thiết bị nhuộm hoàn tất cho vải dệt kim: Đơn vị đầu tư Số thiết bị dự kiến đầu tư Dệt May Hà Nội 2 máy nhuộm gián đoạn Dệt May Huế 5 máy nhuộm gián đoạn Dệt May thành Công 4 máy nhuộm gián đoạn (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Đối với mặt hàng May: Trong giai đoạn 2003-2005 bổ sung năng lực 49 triệu sản phẩm may/năm, gồm 17 triệu sản phẩm dệt kim và 32,4 triệu sản phẩm dệt thoi. Tới năm 2005 năng lực sản xuất các sản phẩm may của các doanh nghiệp thuộc VINATEX sẽ đạt 258 triệu sản phẩm/năm gồm 67 triệu sản phẩm dệt kim và 191 triệu sản phẩm dệt thoi. Đối với việc sản xuất nguyên liệu bông xơ Quy hoạch về diện tích bông vải của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam như sau: diện tích trồng bông 50000 ha, sản lượng bông xơ 25190 tấn/năm đến năm 2005 và diện tích trồng bông là 120000 ha, sản lượng bông xơ 80000 tấn vào năm 2010. Đối với phụ liệu may mặc: Mục tiêu phát triển các loại phụ liệu chính phục vụ sản xuất may mặc cụ thể như sau: Tên sản phẩm Đơn vị Sản lượng Năm 2005 Năm 2010 Chỉ may tấn/năm 1400 3000 Chỉ thêu tấn/năm 300 500 Vải mex triệu mét/năm 6 15 Cúc nhựa triệu chiếc 150 300 Dây kéo nhựa và kim loại triệu mét 0 10 Nhãn dệt triệu chiếc 45 100 Băng chun triệu mét 12 30 Băng gai triệu mét 0 4 Bao bì m2/5 lớp sóng 1000000 2000000 (Nguồn: Quy hoạch chi tiết đầu tư của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam) Để thực hiện được những mục tiêu phát triển đã đề ra Tổng công ty cần đẩy mạnh hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, nâng cao năng lực cạnh tranh trong thời gian tới. Mặt khác, trong thời gian tới bên cạnh nhưng cơ hội phát triển thì những khó khăn thách thức đặt ra đối với toàn ngành và với Tổng công ty là không nhỏ. Chính vì vậy, yêu cầu nâng cao chất lượng sản phẩm và năng lực cạnh tranh lại càng trở nên cấp thiết. Căn cứ vào những vấn đề còn tồn tại trong hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm của Tổng công ty trong thời gian qua, mục tiêu phát triển và phương hướng đầu tư của Tổng công ty, trong thời gian tới Tổng công ty cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp về đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm sau: III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ ĐẦU TƯ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM TẠI TỔNG CÔNG TY DỆT-MAY VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 1.Giải pháp về thu hút vốn Thiếu vốn đầu tư vẫn là một trong những khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty hiện nay. Có vốn đầu tư thì mới có thể thực hiện được các phương án đầu tư phát triển nói chung và đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm nói riêng. Để các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty Dệt-May Việt Nam có thể huy động vốn một cách có hiệu quả cần thực hiện các biện pháp sau đây: Thứ nhất: Xây dựng các dự án đầu tư và phương án kinh doanh có tính khả thi cao Một trong những khó khăn lớn nhất khi huy động vốn là thiếu các dự án, phương án kinh doanh khả thi. Trong điều kiện hiện nay, tiềm lực vốn nhàn rỗi ở Việt Nam vẫn được đánh giá là chưa khai thác hết, nhưng nhiều nhà đầu tư không dám cho vay vốn hoặc ngần ngại khi góp vốn vào doanh nghiệp vì không tin tưởng vào tính khả thi của các dự án đầu tư. Chính vì vậy, các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cần đưa ra các dự án có tính khả thi cao trên cơ sở các căn cứ chắc chắn, có đủ sức thuyết phục. Để làm được điều đó các doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ lưỡng các yếu tố về thị trường, nguồn nguyên liệu, địa điểm xây dựng, kỹ thuật công nghệ…đảm bảo dự án có tính khả thi cao. Thứ hai: Đa dạng hoá các hình thức huy động vốn Trong thời gian tới các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty cần tiếp tục đẩy mạnh việc huy động mọi nguồn lực sẵn có như: khấu hao cơ bản, bán, khoán, cho thuê các tài sản không dùng đến, giải phóng hàng tồn kho…để phục vụ cho đầu tư. Bên cạnh đó các hình thức huy động vốn như: huy động vốn thông qua các ngân hàng, các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, thị trường chứng khoán cũng là các hình thức huy động đáng chú ý. Ngoài ra, hình thức huy động vốn theo dự án, phát hành trái phiếu công trình đối với các dự án lớn cũng nên được xem xét trong thời gian tới. - Huy động vốn thông qua ngân hàng là hình thức huy động vốn phổ biến nhất đối với các nhu cầu vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tuy nhên, hiện nay huy động vốn trung và dài hạn qua ngân hàng còn hạn chế, do nhiều nguyên nhân. Do đó, bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng, có thể huy động thêm vốn của ngân hàng dưới hình thức góp vốn (vốn cổ phần) theo quyết định mới của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Cách huy động vốn này, ngoài tác dụng đáp ứng nhu cầu về vốn, còn tạo ra sự gắn bó giữa ngân hàng và doanh nghiệp, tạo điều kiện giảm bớt thông tin không cân xứng giữa ngân hàng và doanh nghiệp, do đó giảm bớt độ rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng và tăng cơ hội vay vốn trung và dài hạn của doanh nghiệp. - Huy động vốn thông qua các tổ chức tài chính phi ngân hàng: các tổ chức tài chính phi ngân hàng ở Việt Nam hiện nay chủ yếu bao gồm các Công ty tài chính và các công ty Bảo hiểm hoạt động khá khiêm tốn, phạm vi hẹp, đối tượng phục vụ có giới hạn. Tuy vậy, nhiều doanh nghiệp bắt đầu quan tâm đến hình thức này. Việc huy động vốn thông qua hình thức này khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng hình thức huy động vốn mới, đa dạng hoá nguồn vốn nhằm tăng khả năng đảm bảo nhu cầu về vốn, đồng thời thúc đẩy tính cạnh tranh giữa các tổ chức ngân hàng và phi ngân hàng. Một trong những hình thức huy động vốn qua các công ty tài chính rất đáng quan tâm là hình thức tín dụng thuê mua. - Huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán: Thị trường chứng khoán ở Việt Nam đã đi vào hoạt động từ tháng 7/2000, nhưng quy mô hoạt động còn nhỏ bé, dung lượng giao dịch không đáng kể, hơn nữa mới mang tính chất thu lợi ngắn hạn. Vì vậy, trong tương lai gần khó có thể coi đây là hình thức huy động vốn có nhiều triển vọng. Mặc dù vậy, thị trường chứng khoán vẫn là một kênh dẫn vốn quan trọng tạo điều kiện luân chuyển vốn dễ dàng hơn. Các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, cần nghiên cứu khả năng phát hành trái phiếu, cổ phiếu nhằm huy động mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển Tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích và kêu gọi đầu tư nước ngoài nhằm huy động mọi nguồn vốn từ bên ngoài và của mọi thành phần kinh tế. Tích cực triển khai huy động vốn qua Quỹ hỗ trợ phát triển đối với các dự án có vai trò quan trọng: như xây dựng cơ sở hạ tầng… vì nguồn vốn này được hưởng mức lãi suất ưu đãi, thời hạn vay vốn dài. 2.Giải pháp về sử dụng vốn cho đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm 2.1 Đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ Đầu tư nâng cao khả năng về máy móc, thiết bị và trình độ công nghệ là một trong những giải pháp quan trọng nhất nâng cao chất lượng sản phẩm dệt may của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam hiện nay, đặc biệt là đối với ngành Dệt. Đầu tư cho máy móc, thiết bị, công nghệ của Tổng công ty trong thời gian tới cần được tập trung theo những hướng sau: Đối với ngành Dệt: Tăng cường đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ theo hướng kết hợp đầu tư mới những thiết bị công nghệ hiện đại ở những khâu quyết định đến nâng cao chất lượng sản phẩm với đầu tư nâng cấp những thiết bị hiện có; chú trọng đầu tư đồng bộ hoá dây chuyền công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chí phí quản lý và vận hành. Ở khâu kéo sợi: Hiện tại năng lực sản xuất khá nhưng chất lượng chưa cao do máy móc, thiết bị cũ kỹ, vẫn còn trên 60% là sợi chải thô nên việc cung cấp sợi cho dệt kim và dệt vải cao cấp còn khó khăn. Cần chọn lọc và thay thế dần những cọc sợi đã sử dụng trên 20 năm và nâng cấp cho số cọc sợi mới được đầu tư trong thập kỷ 80. Đầu tư tập trung theo hướng chuyên môn hoá cho một số doanh nghiệp để có được các loại sợi chất lượng cao cung cấp cho khâu dệt. Ở khâu dệt vải: Cần tập trung đầu tư mạnh để cân đối với năng lực kéo sợi và tạo ra các loại vải cao cấp phục vụ cho xuất khẩu, tạo sự gắn kết giữa ngành Dệt với ngành May, nâng cao chất lương và giá trị gia tăng của sản phẩm may. Hiện nay, đây vẫn là khâu yếu nhất trong quy trình sợi-dệt-may mặc. Do đó, phải đầu tư theo hướng chuyên môn hoá cao cho một số doanh nghiệp Dệt. Trong thời gian tới cần hoàn thành việc thay thế các máy dệt thoi tốc độ thấp, chất lượng kém bằng các máy dệt không thoi, tốc độ và chất lượng cao tới năm 2010. Việc đầu tư các thiết bị dệt thoi chất lượng cao cần đồng bộ với các thiết bị mắc, hồ sợi dọc, đánh ống. Bổ sung thêm năng lực sản xuất vải dệt kim, bằng việc đầu tư thêm các thiết bị mới; căn cứ vào định hướng thị trường để đầu tư. Chú trọng đầu tư đồng bộ hoá các thiết bị hiện có để nâng cao chất lượng vải dệt kim đáp ứng nhu cầu cho may xuất khẩu. Trong khâu nhuộn hoàn tất: Cần thay thế khoảng 50% thiết bị để đồng bộ, làm ra các mặt hàng cao cấp như: các loại vải dùng để may sơmi, jacket, quần âu…Khôi phục nâng cấp, bổ sung các thiết bị đơn lẻ để hoàn thiện dây chuyền. Nhuộm hoàn tất là khâu có công nghệ phức tạp và yêu cầu vốn đầu tư lớn. Vì vậy, cần đầu tư tập trung, quy mô lớn theo hướng hình thành các trung tâm in nhuộm, xử lý hoàn tất hiện đại, chất lượng cao. Đầu tư theo hình thức này có điều kiện để tập trung vốn cho công nghệ hiện đại, đồng thời giải quyết được cả vấn đề xử lý ô nhiễm môi trường. Đối với ngành May: Tiếp tục đổi mới những thiết bị may đã cũ vẫn còn tồn tại trong các doanh nghiệp, tiếp tục đầu tư các thiết bị hoàn thiện sản phẩm sau may như: giặt, là, gấp… ở các doanh nghiệp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm. Tích cực đầu tư hơn nữa cho khâu thiết kế, cắt sản phẩm may bằng hệ thống vi tính, đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng. 2.2 Đầu tư cho nghiên cứu thị trường và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm Trong thời gian tới cần đẩy mạnh đầu tư cho nghiên cứu thị trường và xúc tiến tiêu thụ sản phẩm, Tổng công ty cần đứng ra tổ chức phối hợp hoạt động này của các doanh nghiệp thành viên tránh tình trạng đầu tư manh mún, thiếu đồng bộ gây lãng phí. Cần nhanh chóng thiết lập thêm các văn phòng đại diện ở một số thị trường như: EU, Bắc Mỹ, các nước SNG…Công việc này đòi hỏi chi phi phí cao, Tổng công ty nên đứng ra làm đầu mối. Công tác nghiên cứu nhu cầu của thị trường ở hiện tại và dự báo nhu cầu thị trường cần được triển khai thường xuyên hơn nữa, thông qua việc tích cực tham gia các hội trợ triển lãm trong nước và quốc tế, tăng cường khai thác thông tin trên các phương tiện thông tin đặc biệt là hệ thống thông tin trên mạng INTERNET nhằm nắm bắt nhanh chóng nhu cầu của thị trường, phản ứng một cách linh hoạt trước những thay đổi của nhu cầu tránh tình trạng sản xuất vượt quá nhu cầu hay sản phẩm sản xuất ra không còn phù hợp với nhu cầu. Hoạt động quảng cáo tiếp thị cũng cần được tiến hành thường xuyên hơn: quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các hội trợ triển lãm, các đợt khuyến mại, hội nghị khách hàng…vừa tăng được mức tiêu thụ vừa có thể thăm dò được nhu cầu của khách hàng. Tăng cường đào tạo bổ sung đội ngũ nhân viên tiếp thị có trình độ chuyên môn theo từng mặt hàng (sợi, vải, may) 2.3 Đầu tư cho nghiên cứu và thiết kế sản phẩm Đẩy mạnh đầu tư cho hoạt động thiết kế mẫu tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty: triển khai áp dụng rộng rãi hệ thông thiết kế mẫu và giác sơ đồ bằng máy tính; tăng cường đầu tư cho viện nghiên cứu thời trang dệt may, đầu tư cho đào tạo bổ sung và nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm việc trong lĩnh vực thiết kế thời trang. Hình thành trung tâm nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, mà sản phẩm là các bộ sưu tập dệt may mang tên VINATEX. Trong đó công việc thiết kế bao gồm: thiết kế chất liệu, thiết kế sợi, thiết kế dệt, thiết kế màu và hoa văn, thiết kế kiểu dáng và bao gói. Các sản phẩm thiết kế không chỉ dừng lại ở việc hướng vào thị trường nội địa mà phải hướng dần ra thị trường quốc tế. Dành nguồn vốn thích đáng để nhanh chóng triển khai các đề tài nghiên cứu của các viện nghiên cứu, đầu tư thêm trang thiêt bị cho viện nghiên cứu Kinh tế-Kỹ thuật dệt may ứng dụng tăng cường khả năng nghiên cứu và thực nghiệm của viện. 2.4 Đầu tư cho xây dựng và phát triển nguồn nguyên phụ liệu dệt may Trong thời gian tới Tổng công ty cần tích cực triển khai các dự án đầu tư của Công Ty Bông để thực hiện tốt mục tiêu phát triển nguyên liệu bông xơ cho các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty và cho toàn ngành dệt may Việt Nam. Trong các dự án đầu tư trồng bông của Công Ty Bông Việt Nam ngoài việc tập trung đầu tư phát triển các giống Bông cho năng suất cao, chịu sâu bệnh còn cần phát triển, lai tạo các giống Bông xơ dài, chất lượng cao để có thể kéo được các loại Bông chải kỹ chỉ số cao từ Ne 40 trở lên. Đặc biệt là quản lý tốt phần thu hoạch bông, chú trọng đầu tư cho thiết bị cán bông đạt tiêu chuẩn bông xơ loại 1 đạt 80-85%, còn lại là bông loại 2, đảm bảo chất lượng bông xơ cung cấp cho các Công ty Dệt. Trong thời gian tới nên xem xét khả năng đầu tư xây dựng vùng nguyên liệu dâu tằm kết hợp với xây dựng các nhà máy chế biến loại nguyên liệu này để đạt hiệu quả kinh tế cao. Đẩy mạnh việc đầu tư sản xuất các loại vải sợi mới, chất lượng cao để phục vụ nhu cầu cho may xuất khẩu. Hiện nay, hầu hết các phụ liệu cho dệt may đều phải nhập khẩu trong thời gian tới Tổng công ty cần nghiên cứu triển khai các dự án sản xuất thay thế nhập khẩu dần dần một số phụ liệu đơn giản và sử dụng với số lượng lớn như: khuy, cúc, móc các loại khoá kéo, nhãn mác… có thể phối hợp đầu tư sản xuất giữa nhiều doanh nghiệp thuộc Tổng công ty. Nghiên cứu khả năng đầu tư, liên doanh, liên kết với các đối tác khác sản xuất các loại sơ sợi tổng hợp, hoá chất, thuốc nhuộm, chất trợ thay thế nhập khẩu trong tương lai. 2.5 Đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực Tổng công ty cần quan tâm hơn nữa cho công tác đầu tư phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn tới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang bị thiết bị phục vụ cho đào tạo tại các trường và các cơ sở đào tạo của Tổng công ty nhằm nâng cao khả năng đào tạo; thường xuyên đổi mới chương trình đào tạo cho phù hợp với thực tiễn sản xuất và xu hướng phát triển của khoa học-công nghệ. Tích cực tuyển dụng, nâng cao lượng học viên tại các cơ sở đào tạo đáp ứng yêu cầu về nhân lực cho các dự án mới của Tổng công ty cho toàn ngành, hình thành hệ thống liên kết đào tạo với các trường đại học trong và ngoài nước theo từng chuyên ngành. Tăng cường các hình thức đào tạo cả bên trong và bên ngoài tại các doanh nghiệp, thường xuyên bồi dưỡng và nâng cao trình độ tay nghề, cập nhật kiến thức về công nghệ mới cho người lao động. Trung tâm đào tạo của Tổng công ty tiếp tục đẩy mạnh công tác đào tạo: tiếp tục mở các lớp đào tạo Công nhân kỹ thuật, Tài chính kế toán, cán bộ quản trị doanh nghiệp nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật; cập nhật công nghệ và các phương pháp quản lý hiện đại. Nâng cấp trung tâm đào tạo của Tổng công ty thành Trường Đào tạo Cán bộ Quản lý Dệt May. Tiếp tục triển khai hình thức đưa người lao động đi học tập và làm việc ở nước ngoài. Thực hiện tốt chế độ khen thưởng, khuyến khích hợp đối với người lao động tại các doanh nghiệp thuộc Tổng công ty động viên họ phát huy khả năng sáng tạo, nâng cao trình độ tay nghề và năng suất lao động. Nâng dần mức thu nhập cho phù hợp với sức lao động bị hao phí, sự thay đổi của giá cả và điều kiện sống nhằm đảm bảo cuộc sống cho người lao động. Lao động dệt may là loại lao động nặng nhọc, môi trường lao động bị ô nhiễm do bụi, nóng, ồn…nhiều loại bệnh nghề nghiệp xuất hiện, trong khi đó thu nhập chưa cao chưa tương xứng với sức lao động bị hao phí. Do đó, trong thời gian tới Tổng công ty Dệt-May Việt Nam và toàn ngành dệt may cần kiến nghị với cấp trên và các cơ quan có liên quan có các chế độ đãi ngộ thích hợp với người lao động như: các chế độ tiền lương, bồi dưỡng độc hại… 2.6 Đầu tư cho hoàn thiện hệ thống quản lý Tiếp tục triển khai xây dựng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9000, môi trường 14000 và SA 8000 cho các đơn vị còn lại trong Tổng công ty, hoàn thiện các mô hình này trong các doanh nghiệp để tất cả các doanh nghiệp đều được cấp các chứng chỉ này, đáp ứng yêu cầu hội nhập trong thời gian tới. Nghiên cứu áp dụng các phương pháp quản lý tốt, hiện đại vào các doanh nghiệp. 2.7 Đầu tư cho xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm Trong thời gian tới, Tổng công ty cần nỗ lực hơn nữa việc quảng bá thương hiệu sản phẩm của mình dưới nhiều hình thức khác nhau: tham gia và tổ chức các hội chợ, triển lãm trong nước và quốc tế, giới thiệu rộng rãi hình ảnh sản phẩm của mình trên các phương tiện thông tin đại chúng…Tổng công ty đẩy mạnh việc xây dựng các bộ sưu tập mang tên VINATEX với các sản phẩm được thiết kế bởi chính VINATEX phù hợp thời trang và thị hiếu người tiêu dùng trong và ngoài nước. Thông qua hệ thống xúc tiến thương mại với thị trường quốc tế không ngừng quảng bá thương hiệu sản phẩm của Tổng công ty và sản phẩm dệt may Việt Nam. Bản thân các doanh nghiệp dệt may thuộc Tổng công ty, đặc biệt là các doanh nghiệp May cần đẩy mạnh việc đăng ký và khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường trong và ngoài nước để có được thương hiệu, nhãn hiệu riêng của mình khi xuất khẩu sản phẩm. KẾT LUẬN Qua sự phân tích về mặt lý luận các vấn đề có liên quan đến đầu tư và đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm. Hy vọng bài viết này phần nào làm sáng tỏ được vai trò của Đầu tư phát triển nói chung và Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm nói riêng đối với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh doanh hiện nay. Đối với Tổng công ty Dệt-May Việt Nam vấn đề Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm đã được Tổng công ty quan tâm thực hiện từ khi mới thành lập, nhằm đáp ứng những yêu cầu đặt ra và nhiệm vụ phát triển của Tổng công ty. Trong bài bài viết này đã giới thiệu một cách khái quát về hoạt động đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm của Tổng công ty Dệt-May Việt Nam trong thời gian qua, đánh giá những kết quả đạt được cũng như những mặt còn hạn chế, đồng thời phân tích những khó khăn và thuận lợi trong giai đoạn phát triển sắp tới của Tổng công ty. Từ đó, đề cập một số giải pháp về Đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm mà Tổng công ty cần thực hiện trong thời gian tới nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, năng lực cạnh tranh, đáp ứng những mục tiêu phát triển đặt ra. Chuyên đề tốt nghiệp được hoàn thành với sự giúp đỡ nhiệt tình của các cô chú trong Ban Kỹ thuật-Đầu tư, Tiến sỹ Trần Văn Quyến và sự hướng dẫn nhiệt tình của cô giáo Nguyễn Thu Hà. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn! ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docB0059.doc
Tài liệu liên quan