Huy động vốn và sử dụng vốn ở Ngân hàng đầu tư và phát triển Lạng sơn

A. Lời mở đầu Đất nước ta đang trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ thay da đổi thịt, chính vì vậy nhiệm vụ hàng đầu là phát triển kinh tế, ổn định chính trị xã hội. Từ một nước có nền kinh tế kém phát triển, thu nhập bình quân đầu người thấp, cơ sở hạ tầng còn thấp kém. Chính vì vậy để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, xã hội chúng ta cần có vốn. Hiện nay khi thị trường chưa phát triển thì ngân hàng là hệ thống quan trọng cho hoạt động kinh tế. Qua ngân hàng vốn được lưu chuyển từ nơi này sang nơi khá

doc15 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1253 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Huy động vốn và sử dụng vốn ở Ngân hàng đầu tư và phát triển Lạng sơn, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
c hay chính xác hơn là từ nơi thừa sang nơi thiếu. Tạo nguồn vốn cho các công cuộc đầu tư lớn thúc đẩy cho nền kinh tế phát triển. Trong những năm qua thực hiện đường lối của Đảng ngân hàng đầu tư và phát triển Lạng sơn nói riêng và toàn ngành ngân hàng nói chung đã không ngừng tăng cường khả năng huy động vốn, đẩy mạnh cho vay đối với các thành phần kinh tế, hiện đại hoá ngân hàng. Chính vì vậy đã góp phần quan trọng trong công cuộc đầu tư thúc đẩy kinh tế phát triển, kiềm chế lạm phát và giúp cho nhiều hộ dân có đời sống ổn định. Nhưng bên cạnh đó thì hệ thống ngân hàng toàn quốc cũng như ngân hàng đầu tư và phát triển Lạng sơn còn rất nhiều mặt cần khắc phục, đó là nguồn vốn huy động còn thiếu, công tác huy động vốn còn gặp nhiều khó khăn. Trong khi đó vốn cho vay sử dụng lãng phí, không hiệu quả. Chính vì vậy tăng cường khả năng huy động vốn và sử dụng vốn trong các ngân hàng toàn quốc nói chung và ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn nói riêng đang là vấn đề hàng đầu thu hút sự quan tâm của các nhà làm chính sách, các nhà quản lý đầu tư và ngân hàng. Và qua những vấn đề trên em đã chọn đề tài: " Huy động vốn và sử dụng vốn ở ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn" làm đề tài nghiên cứu. B. Nội dung I. Ngân hàng Đầu tư trong quá trình huy động vốn và sử dụng vốn đầu tư phát triển. 1. Vai trò của ngân hàng Đầu tư và phát triển. Ngân hàng Đầu tư là một thể chế tài chính nhằm thu hút, tập trung các nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ cho đầu tư phát triển nền kinh tế. Mục tiêu của ngân hàng không phải chỉ là lợi nhuận mà chủ yếu là hiệu quả chung của toàn bộ nền kinh tế. Từ những đặc điểm này ngân hàng đầu tư ở Việt Nam có một số nét cơ bản là: Trong hoạt động huy động vốn: Được nhận, vay từ các nguồn tài trợ của chính phủ, các tổ chức nước ngoài, ngân hàng đầu tư trung ương… Hoạt động sử dụng vốn cũng chủ yếu tập trung vào các dự án kinh tế, kỹ thuật có tầm chiến lược, then chốt của quốc gia, chủ yếu là các lĩnh vực như: giao thông, năng lượng, xây dựng, thông tin… Vấn đề đặt ra là ngân hàng đầu tư có nên thụ động dựa vào các nguồn tài trợ từ ngân sách và các tổ chức quốc tế hay chủ động mở rộng hoạt động tìm cách tạo nguồn vốn cho mình. Ngoài ra, trong hoạt động sử dụng vốn ngân hàng đầu tư cần chủ động nâng cao nghiệp vụ, sức cạnh tranh và uy tín cho riêng mình để phục vụ cho đầu tư phát triển kinh tế ngày càng hiệu quả hơn. 1.1. Định hướng của ngân hàng đầu tư. a. Đối với việc huy động vốn cho đầu tư phát triển. Ngân hàng đầu tư và phát triển chủ trương coi khâu tạo vốn là khâu mở đường, tạo ra nguồn vốn vững chắc cho Việt Nam đồng và ngoại tệ, đa dạng, các hình thức biện pháp, các kênh huy động vốn từ mọi nguồn và xác định: nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn nước ngoài là quan trọng. Với định hướng không ngừng tăng tỷ trọng nguồn vốn trung và dài hạn phục vụ đầu tư phát triển. Thông qua huy động dưới các hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu và tiền tiết kiệm có thời hạn. Mặt khác, tiếp tục tăng trưởng nguồn tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế, khai thác triệt để nguồn vốn nước ngoài thông qua chức năng ngân hàng đại lý, ngân hàng phục vụ, cộng tác đầu tư các quỹ, các tổ chức quốc tế, chính phủ và phi chính phủ cho đầu tư. b. Đối với hoạt động sử dụng vốn cho đầu tư và phát triển. Ngân hàng đầu tư phát triển coi việc phục vụ trong sự nghiệp đầu tư phát triển là một định hướng chính thể hiện vai trò ngân hàng đầu tư của mình. Trong hoạt động cho vay đầu tư ngân hàng chú trọng quá trình tìm chọ dự án hiệu quả, thực hiện tốt công tác thẩm định và quản lý dự án sau khi cho vay cũng như thực hiện công tác tư vấn đầu tư giúp các chủ đầu tư hoạt động tốt nhằm đảm bảo nguồn vốn cho vay của ngân hàng. Như vậy định hướng rất rõ ràng, nhưng cái khó hiện nay là các hướng đi và giải pháp cụ thể. Để có được những giải pháp hữu hiệu cần phải có sự nghiên cứu hệ thống hoá có lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn qua nhiều năm để phục vụ tốt hơn cho đầu tư phát triển. 2. Hoạt động huy động vốn cho đầu tư phát triển ở ngân hàng đầu tư và phát triển . 2.1. Sự cần thiết của công tác huy động vốn ở ngân hàng đầu tư và phát triển. Huy động vốn là một trong những hoạt động chủ chốt của ngân hàng đảm bảo cho ngân hàng có thể tồn tại và thực hiện chức năng của một trung gian tài chính trong nền kinh tế, bởi chức năng hoạt động chủ yếu của ngân hàng là "đi vay để cho vay". Như vậy, một ngân hàng muốn thành lập phải có đủ vốn ban đầu nhất định do ngân hàng nhà nước quy định. Nhưng số vốn tự có chiếm khoảng 10% vốn hoạt động. Do vậy huy động vốn là điều kiện cần cho hoạt động của ngân hàng. Đối với ngân hàng đầu tư kể từ khi thực hiện chức năng như một ngân hàng thương mại hoạt động chủ yếu phục vụ trong lĩnh vực đầu tư phát triển thì để có vốn cho vay các dự án đầu tư đòi hỏi ngân hàng phải huy động được vốn. Theo pháp lệnh quy định thì một ngân hàng được phép huy động một lượng vốn tối đa bằng 20 lần vốn tự có. 2.2. Các nguồn vốn ở ngân hàng đầu tư và phát triển. Nguồn vốn huy động của ngân hàng bao gồm: ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Ngân hàng để có thể đóng góp vào hoạt động đầu tư và phát triển thì lượng vốn huy động đòi hỏi phải là vốn trung và dài hạn. Nguồn vốn ngắn hạn chỉ có vai trò là vốn lưu động đảm bảo các khoản cho vay ngắn hạn, và chỉ dùng một phần nhỏ để cho vay dài hạn khi lượng vốn ngắn hạn đủ lớn và ổn định. Theo quan điểm của các nhà kinh tế thì các nguồn vốn sau đây ở ngân hàng mới có đóng góp chính vào đầu tư và phát triển. + Các khoản tiền tiết kiệm và tiền gửi có thời hạn đến một năm. + Các kỳ phiếu, trái phiếu có thời hạn, phát hành trên thị trường trong nước và quốc tế. + Các khoản đi vay trung hạn và dài hạn của các tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài. + Các khoản thu nợ của dự án cũ. + Một phần huy động ngắn hạn có thể cho vay trung và dài hạn. + Các khoản thu nhập dành cho vay đầu tư phát triển khác. Như vậy trên cơ sở các nguồn vốn này ngân hàng có thể huy động được vốn. Để đầu tư và phát triển tốt ta phải có những giải pháp để phát triển các nguồn vốn này. 2.3. Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả công tác huy động vốn cho đầu tư và phát triển của ngân hàng. Để đánh giá hiệu quả huy động vốn cho đầu tư phát triển tại ngân hàng thì cần có các chỉ tiêu sau: - Khối lượng vốn lớn, tăng trưởng ổn định về mặt số lượng. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, thoả mãn nhu cầu tín dụng đầu tư. Tuy nhiên nguồn vốn phải ổn định về thời gian. - Chi phí huy động: phải được đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãi suất huy động từng nguồn, chênh lệch lãi suất đầu vào đầu ra, đồng thời cũng thông qua chi phí phát hành. Nếu ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi xuất huy động thì việc huy động vốn sẽ rất khó khăn. Do vậy khó có thể thực hiện. Ngược lại nếu lãi suất huy động càng cao thì lãi suất cho vay càng gây khó khăn cho người vay tiền và có thể gây ứ đọng vốn cho ngân hàng, khi đó ngân hàng cần phải trả lãi cho người gửi tiền trong khi khoản vốn ứ đọng không sinh lời. Vì vậy việc tăng giảm lãi suất có thể lợi cho người gửi tiền và người vay tiền có thể giảm chi phí khác như: chi phí in ấn phát hành, chi phí quảng cáo tiếp thị, trả lương cán bộ huy động… - Khả năng đáp ứng nhu đầu hoạt động kinh doanh của ngân hàng: chỉ tiêu này được đánh giá qua việc so sánh nguồn vốn huy động và nhu cầu cho vay vốn đầu tư phát triển và các nhu cầu khác. Từ đó xác định nguồn vốn có thể huy động được là bao nhiêu và nguồn vốn cần phải huy động thêm là bao nhiêu để đáp ứng nhu cầu đó. Để đạt được mục tiêu này, ngân hàng phải đặt ra cơ cấu huy động vốn trung và dài hạn một cách hợp lý. Và để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn đồng thời cũng đảm bảo cho ngân hàng huy động được nguồn vốn này với chi phí thấp nhất. Tóm lại, khi đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn nói chung và huy động vốn cho đầu tư phát triển nói riêng thì một chỉ tiêu không thể phản ánh đầy đủ mà phải kết hợp nhiều chỉ tiêu đánh giá đúng hiệu quả sử dụng vốn. 2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn. 2.4.1. Nhân tố chủ quan. - Các hình thức huy động vốn: đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến tình hình huy động vốn của ngân hàng. Hình thức huy động của ngân hàng càng phong phú thì khả năng đáp ứng nhu cầu gửi tiền của người dân sẽ tăng và vốn ngân hàng huy động được sẽ nhiều hơn. - Chính sách lãi suất cạnh tranh: lãi suất là yếu tố quan trrọng khiến hành động gửu tiền của dân chúng và ngân hàng, hay gửi từ ngân hàng này sang ngân hàng khác hoặc chuyển từ tiết kiệm sang đầu tư do vậy lãi suất có ảnh hưởng rất lớn đến huy động vốn của ngân hàng. - Chính sách khách hàng: nếu ngân hàng có chính sách khách hàng tốt thì khách hàng sẽ gửi tiền vào ngân hàng sẽ càng cao và ngược lại. - Công tác cân đối giữa huy động và cho vay: chiến lược sử dụng vốn đúng đắn và phù hợp còn phụ thuộc vào chiến lược sử dụng vốn nếu sử dụng vốn không hiệu quả thì ngân hàng cũng sẽ hạn chế khả năng huy động vốn và ngược lại. - Công nghệ ngân hàng: trong cạnh tranh ngân hàng không ngừng cải tiến công nghệ. Vì các dịch vụ đặc biệt về chuyên môn ngân hàng càng đa dạng đổi mới càng đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. - Chính sách cán bộ: cần phải có đội ngũ cán bộ chuyên môn có trình độ, luôn tạo nền tảng thành công. - Chính sách quảng cáo: đây là một trong những nhân tố đóng vai trò lớn. Vì quảng cáo tốt sẽ mang đến những thành công lớn. 2.4.2. Nhân tố khách quan: - Nhân tố tiết kiệm của nền kinh tế: nguồn huy động vốn của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn của dân cư, tổ chức kinh tế … do vậy nếu các đơn vị này có tỷ lệ tiết kiệm cao thì nguồn vốn huy động được sẽ cao hơn. - Nhân tố thu nhập của dân cư: nếu thu nhập của dân cư càng cao thì khả năng có thể tiết kiệm càng cao và khi đó họ có tiền gửi vào các tổ chức tài chính. - Môi trường pháp lý: nếu môi trường pháp lý ổn định cụ thể là cơ sở pháp lý cho hoạt động của ngân hàng được đảm bảo thì người dân sẽ an tâm gửi vào ngân hàng. II. Thực trạng tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng đầu tư và phát triển Lạng sơn. 1. Quá trình thành lập ngân hàng. Ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn là một trong những chi nhánh của ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam. Được thành lập ngày 28/05/1986. Toàn bộ hệ thống ngân hàng bên cạnh việc kinh doanh tổng hợp như những ngân hàng thương mại khác còn tham gia vào cho vay đầu tư phát triển theo kế hoạch nhà nước đề ra. Chính vì vậy, để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư và phát triển không chỉ căn cứ vào lợi nhuận mà còn phải căn cứ vào các đóng góp của nó thông qua việc cho vay đầu tư phát triển đối với kinh tế địa phương. Kể từ 1995 đến nay, ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn đã cho vay trên dự án với đầu tư với tổng số vốn là 438.697 triệu đồng. Hầu hết các dự án do ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn cho vay đều đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh điển hình như: cung văn hoá thiếu nhi, khu vui chơi giải trí Mẫu sơn, nhà máy xi măng Lạng sơn… 1.1. Những thuận lợi và khó khăn hiện nay đối với ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn. a. Thuận lợi. Trung tâm giao dịch thanh toán của ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn nằm ở trung tâm kinh tế, chính trị, văn hoá của tỉnh. Đây là môi trường thuận lợi cho ngân hàng hoà nhập với cơ chế mới trong hoạt động kinh doanh đồng thời dễ dàng trang bị cho mình những thiết bị công nghệ mới, học hỏi được nhiều kinh nghiệm quản lý kinh doanh cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho các đơn vị bạn đến giao dịch. Đội ngũ cán bộ công nhân viên có trình độ tương đối cao, 55% là trình độ đại học, phẩm chất đạo đức tốt, nhiệt tình với công việc. b. Khó khăn. Nhu cầu đòi hỏi về vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế rất lớn nhưng việc chuẩn bị được các dự án khả thi còn ít, doanh nghiệp yêu cầu vốn vay trong thời gian dài, lãi suất thấp, song việc huy động vốn trung, dài hạn còn gặp nhiều khó khăn. Để huy động được nguồn vốn đó thì phải đảm bảo lợi ích cho người gửi tiền (lãi suất phải cao hơn lãi suất gửi ngắn hạn). Huy động dài hạn với lãi suất cao nhưng cho vay đầu tư với lãi suất cao thì doanh nghiệp không chấp nhận. Đây là một khó khăn, thử thách rất lớn đối với ngân hàng để giữ vững và phát huy vai trò chủ đạo trong phục vụ đầu tư phát triển. Tình hình kinh tế tỉnh Lạng sơn vẫn đang gặp phải những khó khăn thử thách hết sức gay gắt, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vẫn chưa được cải thiện nhiều, sản phẩm sản xuất ra tiêu thụ chậm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng trả nợ cũng như vay ngân hàng để đầu tư. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Lạng sơn nhìn chung còn ở quy mô nhỏ bé, thiếu dự án hiệu quả để đầu tư. Hệ thống pháp luật, chính sách còn nhiều bất cập cụ thể là: cơ chế chính sách về đầu tư phát triển và tiền tệ tín dụng còn thiếu đồng bộ, chế độ về đầu tư xây dựng cơ bản bị sửa đổi, bổ sung nhiều lần gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng. 1.2. Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn. a. Thực trạng về huy động vốn của ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn. Việc huy động vốn của ngân hàng thường phải là những nguồn vốn có thời gian tương đối dài, ít nhất là một năm hay còn gọi là vốn trung và dài hạn. Đối với ngân hàng Đầu tư và phát triển với mục đích chủ yếu phục vụ cho đầu tư phát triển thì nguồn vốn này đóng một vai trò quan trọng. Thực tế trong những năm qua nguồn vốn có thời gian dài của ngân hàng cũng có nhiều thay đổi, ảnh hưởng đến chi phí huy động và hiệu quả của ngân hàng. Hiện nay vốn dành cho đầu tư của ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn có bốn nguồn vốn chính: nguồn đi vay ngân hàng Đầu tư và phát triển TW, nguồn huy động bằng kỳ phiếu, trái phiếu, nhận tài trợ uỷ thác đầu tư và nguồn huy động của các tổ chức kinh tế và dân cư. Cụ thể của các nguồn này được thể hiện: Năm 1999 2000 2001 Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Giá trị Tỷ trọng Đi vay ngân hàng ĐT và PT VN 40.382 35% 36.812 37% 38.214 40% Kỳ phiếu và trái phiếu (>12Tháng) 12.235 12% 15.827 16% 16.923 18% Nhận tài trợ uỷ thác đầu tư 41.212 39% 35.813 35% 30.271 33% Tiền gửi của tổ chức KT và dân cư 19.512 14% 11.051 12% 8.102 9% Đơn vị: triệu đồng. Qua bảng trên ta thấy: * Đối với nguồn vay từ ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam: Theo bảng trên ta thấy khoản đi vay trung và dài hạn của ngân hàng Đầu tư và phát triển TW qua các năm xét về mọi giá trị có phần tăng giảm chút ít trong các năm. Từ năm 1999 đ 2001 tương ứng là 40.382 (35%) triệu đồng, 36.812 (37%) triệu đồng, 38.214 (40%) triệu đồng. Điều này cho thấy ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam là một cơ quan chủ quản cung cấp một phần vốn cho đầu tư và phát triển của chi nhánh. Nhưng đây là nguồn cố chi phí cao, ngân hàng chỉ sử dụng trong trường hợp thiếu vốn do vậy xu hướng chung là nên giảm nguồn này cả về số lượng tuyệt đối và số lượng tương đối. * Huy động kỳ phiếu và trái phiếu: Kỳ phiếu và trái phiếu là 2 công cụ quan trọng và có hiệu quả để huy động vốn. Do vậy trong những năm vừa qua và những năm tới ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn vẫn và sẽ sử dụng công cụ này một cách hữu hiệu để huy động vốn. Theo số liệu trên ta thấy nguồn vốn huy động bằng kỳ phiếu và trái phiếu của ngân hàng đã tăng lên trong các năm: 1999 là 12.235 (12%) triệu đồng, 2000 là 15.827 (16%) triệu đồng, 2001 tăng 16.923 (18%) triệu đồng. * Nhận tài trợ uỷ thác đầu tư. Cũng qua số liệu thống kê trên ta thấy nguồn vốn tài trợ uỷ thác đầu tư có số vốn giảm đi qua các năm cụ thể: 1999 là 41.212 (39%) triệu đồng, năm 2000 là 35.813 (35%) triệu đồng, năm 2001 là 30.271 (33%) triệu đồng. Đây là nguồn vốn cung cấp đầu tư trung và dài hạn cho đầu tư có chi phí thấp do ngân hàng chỉ làm đại lý nên không lo đầu ra và đầu vào của vốn, cũng không phải trả lãi mà còn nhận được một khoản phí từ dịch vụ này. Tuy nhiên hiện nay nguồn này đang giảm vì không có ngân hàng làm đại lý thanh toánvà tài trợ vốn uỷ thác. * Nguồn huy động từ các tổ chức kinh tế và dân cư: Tổ chức kinh tế và dân cư là hai nguồn vốn lớn để ngân hàng có thể huy động vốn. Nhưng thực tế tiền gửi của các nguồn này có thời gian lớn hơn một năm là thấp nhất. Mặt khác người dân không thích gửi tiết kiệm trong thời gian tương đối dài, do sợ rủi ro có biến động về lãi suất, lạm phát… Vì vậy để tăng được nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng và phát triển kinh tế thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực phấn đấu của bản thân ngành ngân hàng để đưa ra các giải pháp hữu hiệu cho huy động vốn. b. Thực trạng sử dụng vốn: Ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn đã phấn đấu và đã đạt được thành tựu đáng kể trong hoạt động cho vay, góp phần vào tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của đất nước và tỉnh Lạng sơn: Chỉ tiêu 1999 2000 2001 Tổng doanh số cho vay 110.300 100% 102.359 100% 105.291 100% Tài trợ uỷ thác đầu tư 39.829 34% 30.975 27% 26.793 23% Cho vay do chi nhánh tự lo 70.3479 66% 71.384 73% 78.498 77% Qua bảng số liệu của cột cho vay chi nhánh tự lo ta thấy tỷ trọng tăng lên của các năm. Điều này thể hiện ngân hàng ngày càng chủ động trong hoạt động sử dụng vốn của mình. 1.3. Những kết quả đạt được: a. Đối với công tác nguồn vốn. - Nguồn vốn tự huy động của ngân hàng đã tăng lên qua các năm, thể hiện năng lực tự chủ của ngân hàng và giảm được sự lệ thuộc vào ngân hàng trung ương trong việc cung cấp vốn. - Ngân hàng đã xây dựng được một mạng lưới huy động vốn rộng khắp địa bàn Lạng sơn. - Trong công tác huy động vốn, bước đầu tạo được lòng tin và uy tín của mình đối với khách hàng. b. Trong hoạt động sử dụng vốn. - Ngân hàng đạt được những kết quả rất lớn trong mở rộng và nâng cao chất lượng sử dụng vốn. - Nguồn vốn cho vay của ngân hàng đã góp phần quan trọng vào cung cấp vốn cho các doanh nghiệp. 1.4. Những hoạt động huy động vốn. a. Trong hoạt động huy động vốn. - Nguồn vốn huy động có thời gian dài chưa đáp ứng được nhu cầu. - Ngân hàng chưa thực sự đa dạng hoá các hình thức huy động vốn. - Chính sách lãi suất đối với khoản tiền gửi còn hạn chế. b. Trong công tác sử dụng vốn. - Nợ: quá hạn trong cho vay còn cao. - Cơ cấu cho vay đầu tư và thực hiện các biện pháp hỗ trợ sau khi cho vay vốn còn nhiều hạn chế. III. Giải pháp để tăng khả năng huy động vốn và sử dụng vốn ở ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn. 1. Giải pháp đối với hoạt động huy động vốn. - Mở rộng mạng lưới và đa dạng hoá hình thức huy động: như trong phần thực trạng, hình thức huy động vốn của ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn còn đơn điệu, mạng lưới giao dịch mỏng nên tỷ trọng vốn dài hạn cho đầu tư và phát triển còn nhỏ. Do vậy muốn đạt hiệu quả trong công tác huy động thì cần mở rộng mạng lưới và đa dạng hoá hình thức huy động. - Thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt hợp lý. 2. Giải pháp với hoạt động sử dụng vốn. - Nâng cao hiệu quả khâu thẩm định dự án vay vốn, đây là khâu quan trọng nhất quyết định khả năng thu được nợ và lãi của ngân hàng. Nếu khâu thẩm định làm không tốt thì các bước tiếp theo sẽ gặp nhiều khó khăn, là nguyên nhân dẫn đến quá hạn và nợ khó đòi. - Quản lý vốn sau khi cho vay nhằm khắc phục việc định lượng rủi ro và những nhân tố ảnh hưởng khả năng thu nợ. - Thực hiện biện pháp hạn chế nợ quá hạn. Ngoài ra cần kết hợp các giải pháp như: tổ chức hệ thống thu thập ti về khách hàng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, áp dụng công nghệ hiện đại… để nâng cao hiệu quả. C. Kết luận Huy động vốn và sử dụng vốn có vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng đầu tư nói chung và ngân hàng Đầu tư và phát triển Lạng sơn nói riêng. Huy động vốn và sử dụng vốn đòi hỏi khách quan của bất kỳ nền kinh tế nào, đặc biệt đối với nước ta hiện nay. Nhu cầu vốn và sử dụng vốn có hiệu quả đang là đòi hỏi cấp bách, do vậy để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đồng thời phát huy hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong thời gian tới thì ngân hàng cần tập trung hơn nữa trong việc mở rộng hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn. Bên canh đó nhà nước cần hoàn thiện, sửa đổi, ban hành các bộ luật, văn bản dưới luật có liên quan đến hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động ngân hàng nói riêng, đơn giản hoá các thủ tục liên quan đến đầu tư, tài sản thế chấp… Tạo điều kiện cho ngân hàng phát triển, thúc đẩy nền kinh tế đất nước. Với hiểu biết còn hạn chế nên trong bài viết này em không thể tránh khỏi thiếu sót, em rất mong được sự đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm ơn. Tài liệu tham khảo 1. Tạp chí ngân hàng ĐT& PT Việt Nam. 2. Báo cáo kết quả kinh doanh năm 1999 - 2000 của ngân hàng ĐT & PT Lạng sơn. 3. Tin tức trên mạng Internet. 4. Giáo trình tài chính tiền tệ - ĐH Quản lý kinh doanh Hà Nội. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc7154.doc