Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 tỉnh Phú Thọ

Tài liệu Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 tỉnh Phú Thọ: ... Ebook Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 tỉnh Phú Thọ

doc103 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1352 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kỳ 2006-2010 tỉnh Phú Thọ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế-xã hội giai đoạn 2001-2010 với mục tiêu cơ bản là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế-xã hội của cả nước, các ngành, các lĩnh vực, các tỉnh, thành phố đã xây dựng qui hoạch phát triển ngành, qui hoạch vùng và qui hoạch các địa phương. Các qui hoạch này đã có đóng góp cho sự chỉ đạo của các cấp, các ngành, các địa phương và làm căn cứ cho việc xây dựng các kế hoạch phát triển ngành, vùng ... Mục tiêu phát triển đối với một Quốc gia hay bất cứ địa phương nào cũng bao gồm ba mục tiêu là tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mục tiêu về phát triển xã hội. Trong đó chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện sự biến đổi về chất của nền kinh tế cho nên kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế mang tính mục tiêu. Vì thế kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có một vai trò rất quan trọng trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội của Quốc gia cũng như của bất cứ địa phương nào. Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, được biết đến nhiều qua nhiều di tích lịch sử nổi tiếng như Đền Hùng hay đặc biệt hơn đây chính là “đất tổ Vua Hùng”. Từ ngày tách tỉnh (1/1/1999) đến nay, tình hình kinh tế-xã hội Phú Thọ có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần tỉ trọng công nghiệp, dịch vụ. Tuy nhiên, đến nay tỉnh Phú Thọ vẫn nằm trong những tình nghèo của cả nước. Cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005, nông nghiệp chiếm 26%, công nghiệp-xây dựng chiếm 40% và dịch vụ chiếm 34% GDP của tỉnh. Trong khi đó cơ cấu ngành kinh tế của cả nước,nông nghiệp chiếm 20,5%, công nghiệp chiếm 41%, dịch vụ chiếm 38,5% GDP của cả nước. Trong thời gian tới, cơ cấu kinh tế của tỉnh có tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá- hiện đại hoá, phù hợp với xu hướng chuyển dịch chung của cả nước hay không thì việc đặt ra kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là rất quan trọng. Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là việc chủ động xác định các mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong thời kì kế hoạch, đưa ra các chính sách, giải pháp cần thiết để đạt được mục tiêu đó và tạo ra một cơ cấu ngành có hiệu quả cao nhất. Chính vì vậy mà trong thời gian thực tập vừa qua, em đã đi sâu nghiên cứu và lựa chọn đề tài “kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2006-2010 tỉnh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp cho mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu những lí luận chung về kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong hệ thống kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội cấp tỉnh. Từ đó đánh giá thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 ở tỉnh Phú Thọ. Qua đó rút ra những kết quả đã đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của nó trong quá trình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Trên cơ sở đó nhằm xây dựng kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế cho thời kì kế hoạch tiếp theo-thời kì 2006-2010 và tìm ra các giải pháp cần thiết nhất để thực hiện kế hoạch này một cách hiệu quả nhất. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung vào kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 để nhằm xây dựng kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2006-2010 và tìm các giải pháp cần thiết để thực hiện kế hoạch đó trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. 4. Phương pháp nghiên cứu Các phương pháp đã sử dụng trong đề tài là: - Phương pháp phân tích so sánh tổng hợp - Phương pháp kinh tế lượng - Các phương pháp thống kê 5. Kết cấu của đề tài Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài kết cấu gồm 3 chương sau: Chương 1: Lí luận chung về kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong hệ thống kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội cấp tỉnh. Chương 2: Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 của tỉnh Phú Thọ. Chương 3: Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2006-2010 của tỉnh Phú Thọ và các giải pháp thực hiện. Khi nghiên cứu đề tài này, do bản thân còn nhiều hạn chế nên chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự giúp đỡ của thầy, cô giáo và sự đóng góp của các bạn. CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ TRONG HỆ THỐNG KẾ HOẠCH 5 NĂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI TỈNH I. HỆ THỐNG KẾ HOẠCH 5 NĂM PHÁT TRIỂN KINH TẾ - Xà HỘI CẤP TỈNH 1. Vị trí của kế hoạch cấp tỉnh trong hệ thống kế hoạch Kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội là sự cụ thể hoá các chiến lược và quy hoạch phát triển trong lộ trình phát triển dài hạn của tỉnh. Nó xác định các mục tiêu, chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, nâng cao phúc lợi xã hội trong thời kì 5 năm và xác định các cân đối, các chính sách phân bổ nguồn lực, vốn cho các chương trình phát triển của khu vực kinh tế nhà nước và khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân. Nghị quyết đại hội IX của Đảng cộng sản Việt Nam đã xác định “xây dựng kế hoạch 5 năm trở thành công cụ chủ yếu của hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội”. Cũng như cấp Quốc gia, kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh giữ vị trí trung tâm trong hệ thống kế hoạch cấp tỉnh. Thời hạn 5 năm là thời hạn trùng lặp với nhiệm kì làm việc của cơ quan Chính Phủ, là thời hạn theo đó lợi ích đầu tư bắt đầu có sau một năm hoặc một vài năm. Những kế hoạch trong phạm vi 5 năm thường chính xác hơn, dễ thực thi hơn những kế hoạch có thời gian dài hơn. Mục tiêu chủ yếu của việc lập kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội cấp tỉnh bao gồm: (1) Xác định mục tiêu tổng quát và các mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương trong giai đoạn 5 năm như: mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động tiết kiệm, các chỉ tiêu về phúc lợi xã hội. (2) Xác định các chương trình và lĩnh vực phát triển. Đây là cơ sở để hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu phát triển của kì kế hoạch 5 năm. (3) Phần các giải pháp lớn của kế hoạch 5 năm sẽ bao gồm hai nội dung cơ bản: Thứ nhất là xác định các cân đối vĩ mô chủ yếu như cân đối vốn đầu tư, cân đối xuất nhập khẩu, cán cân thanh toán quốc tế. Thứ hai là xây dựng, hoàn thiện những vấn để cơ chế quản lý, các chính sách kinh tế, về hiệu lực bộ máy quản lý và các vấn đề tổ chức thực hiện. 2. Các bộ phận cấu thành kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh Kế hoạch là một công cụ quản lý và điều hành vĩ mô nền kinh tế quốc dân, nó vừa là sự cụ thể hoá các mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển theo từng thời kì bằng hệ thống các chỉ tiêu mục tiêu và chỉ tiêu biện pháp định hướng và hệ thống các chính sách, cơ chế áp dụng trong thời kì kế hoạch.Vì vậy kế hoạch mục tiêu và kế hoạch biện pháp là hai bộ phận cấu thành nên hệ thống kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội của Quốc gia cũng như của tỉnh (địa phương). Một là, các kế hoạch mục tiêu (còn được gọi là các kế hoạch phát triển) xác định những mục tiêu tổng quát và các mục tiêu chỉ tiêu chủ yếu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong giai đoạn 5 năm như: mục tiêu tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các chỉ tiêu về phúc lợi xã hội. Như vậy các kế hoạch mục tiêu như kế hoạch tăng trưởng kinh tế, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, kế hoạch hoá phúc lợi xã hội. Hai là, các kế hoạch biện pháp đưa ra các mục tiêu, chỉ tiêu cũng như các chính sách và giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu, chỉ tiêu của kế hoạch mục tiêu. Như vậy, các kế hoạch biện pháp bao gồm: kế hoạch các yếu tố nguồn lực: kế hoạch lao động, kế hoạch vốn đầu tư, kế hoạch bảo đảm ngân sách, kế hoạch phát triển thương mại, kế hoạch tài chính- tiền tệ. Hai bộ phận này có mối quan hệ trực tiếp với nhau. Hiện nay, trong nội dung đổi mới lập kế hoạch gắn với nguồn lực cân đối hơn sự gắn kết của hai bộ phận này với nhau. 3. Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong hệ thống kế hoạch 5 năm của tỉnh 3.1. Vị trí của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nhằm xác định quy mô, tỉ trọng của từng ngành trong tổng thể nền kinh tế địa phương, các chỉ tiêu của từng ngành kinh tế về tốc độ tăng trưởng, nhu cầu sử dụng các yếu tố nguồn lực như lao động, vốn... đồng thời đưa các chính sách và giải pháp hiệu quả để thực hiện được các chỉ tiêu đó. Trong hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có ý nghĩa đặc biệt, nó bao hàm cả ý nghĩa của kế hoạch mục tiêu và kế hoạch biện pháp. + Là kế hoạch mục tiêu vì: Thứ nhất, mục tiêu phát triển của Quốc gia hay của địa phương đều bao gồm ba mục tiêu là tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mục tiêu về phát triển xã hội. Trong đó, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện sự thay đổi bản chất của nền kinh tế. Vì vậy, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế mang tính mục tiêu. Thứ hai, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra trong kế hoạch tăng trưởng kinh tế. Nó bao hàm mục tiêu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế như qui mô và tỉ trọng nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP. + Là kế hoạch biện pháp vì kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là kế hoạch cụ thể của kế hoạch tăng trưởng kinh tế. Thật vậy, kế hoạch tăng trưởng kinh tế phải kế hoạch tăng trưởng trong từng ngành kinh tế từ đó sẽ dẫn đến mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ấy. Quan niệm như trên có một ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tuy nhiên, việc thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải được tiến hành từng bước với sự nỗ lực của từng ngành, phải được xây dựng trên yêu cầu của kế hoạch tăng trưởng kinh tế, kế hoạch các yếu tố nguồn lực đặt ra nhưng đồng thời kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế còn bao hàm nội dung chủ động, tích cực đặc biệt là trong việc tìm ra cơ chế, chính sách, giải pháp để phát triển từng ngành do chính kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đặt ra. Với vai trò và ý nghĩa như vậy của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì kế hoạch này giữ một vị trí quan trọng trong hệ thống kế hoạch hoá phân tử kinh tế-xã hội đối với một Quốc gia hay bất cứ một địa phương nào. 3.2. Mối quan hệ giữa kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế với các kế hoạch khác Nếu như cơ cấu kinh tế được hình thành từ chuyên môn hoá sản xuất, thì cơ cấu lãnh thổ hình thành từ việc bố trí sản xuất theo không gian địa lí. Sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, nguồn lao động, kết cấu hạ tầng và các điều kiện xã hội khác tạo cho mỗi vùng có những đặc thù, thế mạnh riêng. Như vậy, có thể nói kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có mối quan hệ mật thiết với với kế hoạch phát triển vùng (lãnh thổ), bởi mục đích của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là tìm ra được những ngành mũi nhọn, những sản phẩm lợi thế của địa phương còn kế hoạch phát triển vùng đảm bảo hình thành và phát triển có hiệu quả các ngành, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội phong tục, tập quán, truyền thống của mỗi vùng nhằm khai thác hiệu quả thế mạnh của từng vùng. Kế hoạch hoá chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội. Nó gắn liền với kế hoạch hoá các yếu tố nguồn lực như kế hoạch lao động, kế hoạch vốn đầu tư. Bởi các dấu hiệu về nguồn lực là cơ sở để đề xuất các phương án chuyển dịch. Chẳng hạn, địa phương nào có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên sẽ phát huy lợi thế về đặc sản…, nếu địa phương nào có lợi thế về nguồn lao động thì sẽ phát huy những ngành sử dụng nhiều lao động như công nghiệp dệt may, da giày…Còn những địa phương nào có lợi thế về vốn sẽ phát huy những ngành đòi hỏi nhiều vốn như điện, điện tử… + Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có mối quan hệ với kế hoạch lao động thể hiện bởi: - Kế hoạch lao động là kế hoạch biện pháp của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Bởi nó nhằm thực hiện các mục tiêu của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tạo ra các điều kiện về lao động để thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế; kế hoạch lao động phải được xây dựng trên cơ sở các yếu tố cầu do kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đặt ra - Những nhân tố chi phối tổng lượng nhu cầu sức lao động xã hội chủ yếu là do: Thứ nhất, qui mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Sự tăng trưởng của nền kinh tế nếu coi các yếu tố khác không đổi thì nó phụ thuộc vào số lượng lao động và năng suất lao động. Nếu với mức năng suất lao động nhất định trên cùng một phương hướng, lượng nhu cầu sức lao động xã hội do qui mô và tốc độ tăng trưởng nền kinh tế quyết định. Thứ hai, sự thay đổi trong cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu sản phẩm cũng gây ảnh hưởng đến tổng nhu cầu sức lao động xã hội. Xuất phát từ nhu cầu sử dụng sức lao động khác nhau, có hoạt động cần một lượng sức lao động lớn, có hoạt động chỉ cần tương đối ít sức lao động, bởi vậy kết cấu hoạt động kinh tế cũng gây ảnh hưởng đến tổng lượng nhu cầu sức lao động xã hội. Vì vậy, việc tính toán nhu cầu sức lao động phải được dựa trên việc xác định sự biến đổi về tỉ trọng cơ cấu các ngành kinh tế tạo nên GDP. + Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có mối quan hệ với kế hoạch vốn đầu tư, bởi: - Kế hoạch vốn đầu tư chính là kế hoạch một yếu tố nguồn lực có liên quan trực tiếp và là tiền đề quan trọng nhất để thực hiện kế hoạch tăng trưởng kinh tế, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Vì vậy, nó là kế hoạch biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nó xác định quy mô, cơ cấu vốn đầu tư theo ngành căn cứ vào mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. - Kế hoạch vốn đầu tư là kế hoạch khối lượng vốn tài chính (tiền) cần thiết để thực hiện kế hoạch tái sản xuất giản đơn và kế hoạch tái sản xuất mở rộng tài sản của địa phương, tăng cường cơ sở vật chất, kĩ thuật của nền kinh tế. Bảo đảm nguồn tiền vốn đầu tư sẽ là cơ sở để biến các yếu tố vật chất của vốn đầu tư thành vốn sản xuất cần thiết cho hoạt động trong các ngành kinh tế được diễn ra. II. NỘI DUNG LẬP KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ 1. Phân tích các yếu tố có liên quan đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 1.1. Yếu tố tự nhiên Đây là một trong những nhóm nhân tố hết sức quan trọng và có tác động trực tiếp đến phát triển ngành cũng như thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Nhóm yếu tố tự nhiên bao gồm đất đai, thời tiết, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên ... Đối với ngành nông nghiệp thì những yếu tố này là tư liệu sản xuất chủ yếu. Qui mô và cơ cấu sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất lớn vào quỹ đất tự nhiên cũng như độ phì nhiêu và cấu tạo thổ nhưỡng. Những yếu tố này sẽ quyết định đến việc trồng cây gì, nuôi con gì cũng như cơ cấu cây trồng vật nuôi ở mỗi địa phương. Nguồn tài nguyên thiên nhiên là cơ sở để phát triển nông nghiệp, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến và là nguồn cung cấp nhiên nhiên liệu cho nhiều ngành khác. Những địa phương mà có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên sẽ có thuận lợi hơn để phát triển những ngành này hơn là những địa phương không có lợi thế về tài nguyên thiên nhiên. Tuy nhiên, do tính chất không có khả năng tái tạo và quy mô hạn chế của đa số tài nguyên nên chúng ta phải có sự đánh giá một cách chuẩn mực và có khoa học về nguồn lợi này để đưa ra các chỉ tiêu kế hoạch hợp lí và thực hiện chúng. Như vậy, yếu tố tự nhiên có thể gợi mở cho việc lựa chọn cơ cấu ngành kinh tế mang những dấu hiệu lợi thế và đặc sản; và tạo điều kiện để phát triển cơ cấu ngành theo hướng có hiệu quả hơn. 1.2. Yếu tố lao động Lao động là một trong những yếu tố cực kì quan trọng, có ảnh hưởng đặc biệt, tạo động lực rất lớn đối với việc thực hiện kế hoạch. Một kế hoạch để thực hiện thành công không thể không có sự đóng góp của các nguồn lực như lao động, vốn... Lao động là một trong những yếu tố đầu vào không thể thiếu trong qúa trình sản xuất. Lao động không chỉ là một bộ phận của nguồn lực phát triển mà còn là một bộ phận dân số, những người được hưởng lợi ích từ những kết quả của qúa trình sản xuất, từ sự phát triển. Do vậy lao động tác động qua lại với qúa trình tăng trưởng kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Tuy nhiên, trong qúa trình hoạt động sản xuất thì số lượng lao động mới là điều kiện cần, điều kiện đủ chính là chất lượng lao động- đó là những người lao động có trình độ, có kĩ năng tay nghề, có kinh nghiệm sản xuất nhất định. Đây chính là bộ phận góp phần vào việc tăng năng suất ...Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay thì thước đo chính là giả cả sức lao động biểu hiện bằng tiền cồng, tiền lương, thông qua thị trường lao động. Những người lao động có kĩ năng, tay nghề... có mức tiền công, tiền lương cao. Mà ngay từ cuối thế kỉ 19, E.Engel đã nhận thấy rằng, khi thu nhập của các gia đình tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho lương thực thực phẩm giảm đi, nên có thể suy ra tỉ trọng nông nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế sẽ giảm đi khi thu nhập tăng lên. Qua qúa trình nghiên cứu họ phát hiện ra xu hướng chung là khi thu nhập tăng lên thì tỉ lệ chi tiêu cho hàng tiêu dùng lâu bền tăng phù hợp với tăng thu nhập, còn chi tiêu cho tiêu dùng cao cấp tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập. Như vậy, quy luật tiêu thụ sản phẩm của E.Engel đã làm rõ tính xu hướng của việc chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong qúa trình phát triển. Hiện nay, một thực tế là phân công lao động xã hội còn nhiều bất cập, không hợp lý đã gây ra một gánh nặng cho qúa trình phát triển kinh tế-xã hội nói chung, các địa phương nói riêng và tác động tiêu cực đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Vì vậy, quản lý kế hoạch để cân đối quan hệ cung cầu sức lao động một cách hợp lý là một nội dung quan trọng để xác định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh một cách phù hợp. 1.3. Yếu tố vốn Bất kể một lĩnh vực, một ngành nào không thể phát triển nếu không có sự đầu tư. Đầu tư chính là một yếu tố bất định trong chi tiêu. Khi đầu tư tăng lên có nghĩa là nhu cầu về chi tiêu cũng tăng lên. Mặt khác đầu tư sẽ dẫn đến tăng vốn sản xuất, nghĩa là tăng thêm nhà máy, thiết bị, phương tiện vận tải mới…được đưa vào sản xuất làm tăng quy mô sản xuất của địa phương. Vốn đầu tư và vốn sản xuất được coi là yếu tố quan trọng trong qúa trình sản xuất. Nếu lao động và tài nguyên chỉ được coi là yếu tố đầu vào của qúa trình sản xuất thì yếu tố sản xuất vừa được coi là yếu tố đầu vào, vừa được coi là sản phẩm đầu ra của quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư không chỉ là cơ sở để tạo ra vốn sản xuất, tăng năng lực sản xuất của các doanh nghiệp và của nền kinh tế địa phương, mà nó còn là điều kiện để nâng cao trình độ khoa học-công nghệ góp phần đáng kể vào việc đầu tư theo chiều sâu, hiện đại hoá quá trình sản xuất. Việc tăng vốn đầu tư cũng góp phần vào việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động thông qua việc đầu tư vào các công trình xây dựng và mở rộng quy mô sản xuất. Điều này cho thấy sự tác động của vốn đầu tư đến phát triển ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản cũng như sự tác động theo hướng tích cực vào ngành dịch vụ. Ở Việt nam, trong những năm qua việc sử dụng vốn đầu tư đã góp phần vào qúa trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng gia tăng tỉ trọng các ngành công nghiệp, đặc biệt với sự tham gia của vốn và công nghệ nước ngoài, một số ngành kinh tế như thăm dò, khai thác dầu khí, thông tin ... đã có bước phát triển quan trọng, thúc đẩy ngành công nghiệp phát triển. Tóm lại, để thực hiện tốt chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì cần phải có chính sách đào tạo nguồn nhân lực kĩ thuật cao cũng như có các chính sách, giải pháp thu hút được càng nhiều vốn càng tốt kể cả vốn đầu tư trong nước và ngoài nước vào đầu tư. 1.4. Yếu tố thị trường + Thị trường chính là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi mua bán hàng hoá. Hay nói một cách khác thị trường chính là nơi tiêu thụ sản phẩm đầu ra cuả các ngành. Bất cứ một ngành nào không thể phát triển nếu không có thị trường đầu ra. Tuy nhiên thị trường đầu ra lại phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố có liên quan đến cầu tiêu dùng, đó là: - Thu nhập của người tiêu dùng: Khi thu nhập tăng lên sẽ có xu hướng tăng chi tiêu cho các hàng hoá lâu bền và xa xỉ, giảm chi tiêu lương thực thực phẩm, hàng hoá cấp thấp. Điều này làm thay đổi cơ cấu sản xuất, sản xuất theo hướng hàng hoá gắn với thị trường, tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng ngành công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp. - Thị hiếu của người tiêu dùng: Cùng với xu thế phát triển, đời sống ngày càng cao thì thị hiếu của người tiêu dùng ngày càng phong phú đa dạng. Vì thế mà các ngành luôn phải đổi mới sản phẩm về mẫu mã cũng như chất lượng, đồng thời không ngừng xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm sẽ giúp người tiêu dùng tiếp cận nhanh với thị trường hơn. - Số lượng người tiêu dùng: sẽ quyết định đến qui mô thị trường. Thị trường có thể là trong nước hoặc ngoài nước, tất cả đều quan trọng đối với sự phát triển của mỗi ngành kinh tế. Khi thị trường càng được mở rộng và ổn định thì sản lượng tiêu thụ của từng ngành tăng lên, kích thích các ngành mở rộng quy mô sản xuất... do vậy có thể thu được nhiều lợi nhuận hơn, tạo sự tích luỹ về vốn và sau đó có thể sử dụng chúng vào tái sản xuất mở rộng hoặc tái sản xuất chiều sâu. + Thước đo sản phẩm hàng hoá trên thị trường chính là giả cả, nó là một yếu tố khách quan, phụ thuộc vào quy luật cung cầu sản phẩm hàng hóa. Do vậy, giả cả có thể kích thích hoặc hạn chế tiêu dùng từ đó kích thích hoặc kìm hãm sản xuất. Do vậy, thông qua thị trường các doanh nghiệp, các ngành có thể nắm bắt được nhu cầu thị trường về từng loại sản phẩm, biết được giá cả của từng loại sản phẩm từ đó các ngành, các doanh nghiệp sẽ kế hoạch sản xuất, kế hoạch maketing… phù hợp. + Đồng thời thông qua thị trường có thể giao lưu thương mại, mở rộng quan hệ hợp tác, kích thích sự đầu tư, tăng thêm đầu tư dẫn tới sự phát triển nhanh của các ngành đặc biệt là công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu nền kinh tế. 1.5. Yếu tố khoa học- kĩ thuật Khoa học-kĩ thuật là yếu tố có tác động rất lớn, trực tiếp tới sự hình thành và thành công của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Theo Fisher thì tiến bộ khoa học- kĩ thuật có tác động đến sự thay đổi phân bố lao động vào 3 khu vực (nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ). Ông cho rằng, trong qúa trình sản xuất việc tăng cường sử dụng máy móc và các phương thức canh tác mới đã tạo điều kiện cho nhân dân nâng cao năng suất lao động... Như vậy khoa học-kĩ thuật phát triển sẽ cung cấp các trang thiết bị, máy móc, tạo những điều kiện và khả năng ứng dụng kĩ thuật công nghệ mới, cũng như nâng cao trình độ trang thiết bị cơ sở vật chất, đào tạo nguồn lao động được nâng cao cho toàn bộ qúa trình sản xuất cũng như gián tiếp cung cấp các vật phẩm tiêu dùng cho đời sống nhân dân và hàng hoá xuất khẩu với chất lượng ngày càng cao, mẫu mã ngày càng đa dạng phong phú, giả cả phù hợp với thu nhập của người dân, cũng như nâng cao được khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường. Cùng với quá trình tăng năng suất lao động, cho phép di chuyển một bộ phận lao động trong ngành nông nghiệp sang các ngành khác mà không làm giảm mức sản lượng của ngành nông nghiệp. Điều này lại càng chứng tỏ lao động và tiến bộ khoa học-kĩ thuật có tác động đến chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Sự tác động của tiến bộ kĩ thuật đến cơ cấu ngành còn thể hiện ở chỗ: tiến bộ kĩ thuật thúc đẩy ngành mới ra đời, nâng cao năng suất lao động, tác động đến cơ cấu lao động, cơ cấu đầu tư, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, thúc đẩy việc hợp lý cơ cấu ngành. 1.6. Yếu tố về khả năng liên kết kinh tế trong và ngoài tỉnh + Sự liên kết trong tỉnh: có thể nói đây là một mối liên kết cần thiết và trước hết đối với sự phát triển kinh tế của địa phương. Sự liên kết này này thể hiện ở việc cung cấp và tiêu thụ giữa đầu vào- đầu ra, thông qua đó các ngành sản xuất, dịch vụ…trong tỉnh có mối quan hệ với nhau. Để tăng cường mối liên kết này, cần tăng cường mối liên kết kinh tế giữa các huyện, xã… trong tỉnh với nhau thông qua việc xây dựng những trung tâm kinh tế-thương mại, những chợ đầu mối giữa các huyện. Đây chính yếu tố thuận lợi để các huyện có thể tăng cường giao lưu kinh tế, trao đổi hàng hoá với nhau, qua đó làm tăng thêm sự liên kết kinh tế trong tỉnh. + Sự phát triển kinh tế-xã hội nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng của địa phương sẽ bị hạn chế nếu như không có sự liên kết kinh tế giữa tỉnh với các địa phương khác. Sự liên kết kinh tế nhằm tạo ra sự ổn định về chính trị- xã hội, thực hiện đồng bộ các chủ trương chính sách do Đảng và Nhà nước ban hành. Do đó tạo được một sự phát triển theo xu thế chung của vùng và cả nước, vì vậy cần: - Cần mở rộng giao lưu kinh tế dựa trên những lợi thế so sánh, khắc phục những hạn chế của tỉnh trong quan hệ với các tỉnh khác. Các lĩnh vực có thể liên kết là sản phẩm nông nghiệp, vận tải hàng hoá (đầu ra), công cụ phục vụ nông nghiệp, máy móc phục vụ chế biến, công nghệ, lao động (đầu vào). Qua đó tạo sự gắn kết kinh tế giữa các ngành được chặt chẽ hơn, thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp chế biến nhất là công nghiệp chế biến nông lâm thuỷ sản. - Cơ sở hạ tầng, giao thông… là một yếu tố quan trọng để có thể thúc đẩy liên kết kinh tế. Khi cơ sở hạ tầng, giao thông phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hoá, tiết kiệm được chi phí sản xuất … khắc phục được những khó khăn do vị trí địa lí, địa hình, phát huy triệt để những lợi thế về tài nguyên thiên nhiên…, tiếp thu được những phương thức canh tác sản xuất tiên tiến và những kinh nghiệm từ các địa phương khác được kịp thời; đồng thời có thể mở rộng thị trường tiêu thụ. Đặc biệt, thông qua sự phát triển loại hình du lịch, dịch vụ sẽ làm tăng sự liên kết kinh tế của tỉnh và địa phương khác hơn. - Các chính sách của địa phương: việc sử dụng những những công cụ quản lí vĩ mô như chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, quản lí đất đai . Xây dựng hệ thống thuế, cơ chế tín dụng thông thoáng phù hợp với địa phương, chính sách đất đai (giao đất giao rừng, chuyển quyền sử dụng đất…) rõ ràng sẽ tạo điều kiện để người dân yên tâm sản xuất, khuyến khích được đầu tư. Từ đó thúc đẩy sản xuất theo hướng hàng hoá, các ngành công nghiệp phát triển hơn. Từ việc nghiên cứu mối quan hệ kinh tế trong và ngoài tỉnh có thể đưa ra phương án chuyển dịch cơ cấu sẽ bảo đảm tỉnh “mở” tức cơ cấu sản xuất khác cơ cấu tiêu dùng và cơ cấu ngành hình thành bảo đảm tính hiệu quả cao: chỉ tập trung vào sản xuất những hàng hoá¸có lợi thế hơn. 2. Xác định mục tiêu, chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu kinh tế được hình thành một cách khách quan do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội. Một cơ cấu kinh tế như thế nào là phù hợp và xu hướng chuyển dịch ra sao là tuỳ thuộc vào những điều kiện-hoàn cảnh khác nhau về thể chế chính trị, kinh tế, tự nhiên và xã hội nhất định, chứ không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Khác với qui luật tự nhiên, qui luật kinh tế vận động và phát huy tác dụng thông qua hoạt động của con người. Vì vậy, trong quá trình hình thành và chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở mỗi giai đoạn khác nhau có chịu sự tác động nhất định và quan trọng của con người. Tuy nhiên, sự tác động chủ quan của con người phải phù hợp với qui luật khách quan. Điều đó có nghĩa là, ở mỗi giai đoạn nhất định, phù hợp với một trình độ nhất định của sản xuất sẽ cần thiết và có khả năng tồn tại một cơ cấu kinh tế tương thích. Nếu dựa trên một cơ cấu kinh tế hợp lí thì nền kinh tế phát triển thuận lợi, trường hợp ngược lại thì sự phát triển của nền kinh tế gặp khó khăn. Như vậy, kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế hướng vào xác định những nội dung sau: Thứ nhất, xác định những định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, câu trả lời của phần này chính là: + Xác định quan điểm thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong kì kế hoạch. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phụ thuộc vào sự phát triển của phân công lao động xã hội và sự phát triển của lực lượng sản xuất. Vì vậy, những quan điểm cần quán triệt khi thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là: (1) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo các động lực, các lợi thế và theo hướng phát triển kinh tế có trọng điểm (2) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo đúng xu thế. Trong điều kiện Việt nam như hiện nay thì xu hướng chuyển dịch chung là tăng tỉ trọng công nghiệp-xây dựng và dịch vụ, giảm tỉ trọng nông nghiệp trong GDP. (3) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo mô hình “mở”, bảo đảm tính hàng hoá, tính hiệu quả cao; chú ý đến các ngành cực tăng trưởng thuộc địa phương. (4) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phải gắn với đảm bảo sự công bằng và tiến bộ xã hội, giảm bớt sự chênh lệch về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng trong tỉnh, đồng thời phải tạo được sự đột phá để phát triển kinh tế xã hội. Kết hợp chặt chẽ chuyển dịch cơ cấu ngành, các lĩnh vực kinh tế, xã hội với bảo về và tái tạo môi trường sinh thái bền vững, xây dựng an ninh quốc phòng… + Xác định hướng chuyển dịch bao gồm: - Dạng cơ cấu ngành kinh tế Cơ cấu ngành kinh tế là mối quan hệ tỉ lệ giữa các ngành trong toàn bộ nền kinh tế, mối quan hệ này bao hàm cả về số lượng và chất lượng. Số lượng biểu hiện ở tỉ trọng của mỗi ngành trong tổng thể nền kinh tế địa phương như tỉ trọng theo GDP, GO, theo lao động, theo vốn đầu tư. Chất lượng (định tính) biểu hiện ở vị trí và sự tác động qua lại giữa các ngành, sự tác động ấy có thể trực tiếp hoặc gián tiếp. Vì vậy, để xác định dạng cơ cấu phải dựa vào tỉ trọng và vị trí của ngành đó trong tổng thể nền kinh tế địa phương, có thể có các dạng cơ cấu sau: (1) Cơ cấu nông nghiệp; (2) Cơ cấu nông nghiệp-công nghiệp; (3) Cơ cấu công nghiệp-nông nghiệp; (4) Cơ cấu công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp; (5) Cơ cấu dịch vụ-công nghiệp. Nếu là dạng cơ cấu (1) hoặc (2) thì theo Rostow, tỉ trọng nông nghiệp chiếm 40-60%, công nghiệp chiếm 10-20% và dịch vụ chiếm tỉ trọng 10-30% GDP. Nếu là dạng cơ cấu (3) khi tỉ trọng nông nghiệp chiếm 15-20%, công nghiệp chiễm 25-35% và dịch vụ chiễm 40-50% GDP. Nếu là dạng cơ cấu (4) hoặc (5) khi tỉ trọng nông nghiệp nhỏ hơn 10%, công nghiệp 35-40% và dịch vụ chiếm 50-60% GDP. - Hướng phát triển các ngành cụ thể trong cơ cấu là phải xác định được các ngành mũi nhọn, ngành cực tăng trưởng. Việc x._.ác định ngành cực tăng trưởng có thể dựa trên các dấu hiệu như: (1) Ngành có dấu hiệu lợi thế về tài nguyên (đặc sản), về lao động và vốn sẽ cho lợi thế về hiệu quả chi phí thấp và lợi thế về lịch sử-xã hội (cho lợi thế về thị trường tiêu thụ). (2) Ngành có hệ số ICOR thấp. (3) Có thị trường tiêu thụ rộng rãi trong và ngoài nước. (4) Ngành có khả năng tạo đà cho sự phát triển của khoa học-công nghệ trong tương lai. + Xác định những chỉ tiêu chủ yếu trong cơ cấu như: Qui mô và cơ cấu theo GDP, GO của toàn nền kinh tế. Qui mô và tỉ trọng GDP, GO của từng ngành Thứ hai, xác định các giải pháp, chính sách nhằm thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. Giải pháp chính sách của địa phương nên kết hợp với chính sách của nhà nước để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế nhanh hơn và hiệu quả hơn. Có thể đưa ra chính sách khai thác vốn đầu tư, chính sách thị trường… 3. Phương pháp xác định chỉ tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Để có thể xác định các chỉ tiêu mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau như: phương pháp cân đối I/O, phương pháp hồi qui tuyến tính. Tuy nhiên hiện nay ở cấp địa phương, các nhà kế hoạch địa phương thường sử dụng phương pháp hồi qui tuyến tính để dự báo. Có hai phương pháp chính sau: Phương pháp 1: Phương pháp hồi quy tuyến tính theo tốc độ tăng trưởng kinh tế Nội dung phương pháp: Dựa vào biến động về tỉ trọng của từng ngành trong GDP hoặc GO của toàn nền kinh tế địa phương. Do vậy, ta có thể căn cứ vào sự biến động về GDP, GO của 2 ngành (trong số 3 ngành nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ) để từ đó xác định được tỉ trọng cuả từng ngành so với tổng thể GDP, GO của toàn nền kinh tế địạ phương. Từ đó có thể rút ra tỉ trọng của ngành thứ 3. Qui trình tiến hành theo phương pháp này bao gồm các bước sau: (1) Xác định tỉ trọng của ngành nông nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế kì kế hoạch. (2) Xác định tỉ trọng của ngành công nghiệp trong cơ cấu ngành kinh tế kì kế hoạch, có thể thực hiện theo cách sau: - Thống kê dãy số theo thời gian qua nhiều năm về GDP, GO của từng ngành. - Sử dụng phương pháp hồi qui bé nhất để xác định tốc độ tăng trưởng bình quân năm của ngành (gi), t=1,2,3,... t GDP = t-t0 LnGDP - (-)2 (-)LnGDP Tổng Ta có hệ số điều chỉnh: =ek -1 (3) Xác định được GDP hoặc GO của từng ngành trong kì kế hoạch GDP i (k)= GDP i(0) (1+ gi) i=1,2 GDPDV(K) = GDPK - (GDPNN(K) + GDPCN(K)) (4) Xác định tỉ trọng của từng ngành (cơ cấu ngành kì kế hoạch) Phương pháp 2: Phương pháp hồi qui tuyến tính theo biến động về tỉ lệ GDP, GO của từng ngành trong cơ cấu ngành kinh tế Dựa vào sự biến động về tỉ lệ của các ngành trong GDP. Ta xác định sự biến động về tỉ lệ của 2 ngành (ví dụ ngành nông nghiệp và công nghiệp). Dự báo về tỉ lệ của từng ngành trong cơ cấu ngành từ đó xác định tỉ lệ ngành còn lại (có thể điều chỉnh tỉ lệ của 2 ngành trên nếu cần thiết). Phương pháp này có thể được thực hiện theo qui trình sau: (1) Thống kê dãy số về tỉ lệ của ngành i (nông nghiệp, công nghiệp) trong cơ cấu ngành kinh tế qua nhiều năm. (2) Sử dụng phương pháp hồi qui bé nhất (OLS): tìm được mức biến động trung bình về tỉ lệ của từng ngành i trong cơ cấu ngành (gTL(i)). Tương tự ta có bảng tính như sau: t TLi = t-t0 LnTLi - (-)2 (-)LnTLi Tổng Tli = ek – 1 (3) Xác định tỉ lệ ngành i (CN, NN) kì kế hoạch TLi (K) = TLi(0) x (1+ TLi) (4) Xác định TLDV(K) = 100% - (TLNN (K) + TLCN (K)) Cả hai phương pháp trên đều dễ tính, tuy nhiên địa phương nên sử dụng phương pháp hồi qui tuyến tính theo tốc độ tăng trưởng kinh tế để xác định cơ cấu ngành kinh tế kì kế hoạch vì phương pháp này cho kết quả ít sai số hơn so với phương pháp thứ hai. 4. Xác định các chỉ tiêu nguồn lực để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 4.1. Chỉ tiêu nhu cầu lao động Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, kế hoạch lao động cần xác định các chỉ tiêu về cầu lao động cho các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ. Đồng thời đưa ra các giải pháp quan trọng nhằm thu hút và sử dụng có hiệu quả lực lượng lao động xã hội. Cầu lao động (nhu cầu việc làm mới tăng): Số chỗ làm việc mà nền kinh tế có thể đem lại trong thời kế hoạch (VLK). Để xác định chỉ tiêu cầu lao động cho kì kế hoạch, cần căn cứ vào: - Quy mô nền kinh tế - Các yếu tố liên quan đến việc tính toán cầu lao động trong mối quan hệ với GDP như định mức hao phí lao động/1 đơn vị đầu vào không phải lao động (đất đai, đầu gia súc, sản lượng đánh bắt) hoặc căn cứ vào năng suất lao động, độ co giãn lao động theo GDP. Để thực hiện mục tiêu của kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, kế hoạch lao động cần: + Phương pháp 1: Xác định nhu cầu lao động theo định mức hao phí lao động. - Đối với ngành công nghiệp, dịch vụ ta xác định theo định mức hao phí lao động/1đơn vị đầu vào không phải là lao động. Cụ thể là lao động/ vốn (dK/L= K/L). Căn cứ vào: Kế hoạch tăng trưởng GDP, ta tính được DK (Biết hệ số ICOR k = DK/DY® DKK = k x DYK) Xác định được mức tăng cầu lao động, bằng công thức sau: DVLK = 1/dK/L x DKK Xác định nhu cầu lao động cho từng ngành kì kế hoạch VLi (K) = VLi (0) + DVLi (K) Xác định được cơ cấu mức tăng cầu lao động: %DVLK = x100 (%) - Đối với ngành nông nghiệp ta dựa vào định mức lao động/đất đai, đầu gia súc...qui trình tiến hành có thể theo các bước sau: (1) Xác định bảng định mức lao động (giờ công/ha, giờ công/đầu gia súc...) (2) Xác định bảng kế hoạch sản xuất: sản lượng sản xuất, đầu vào cần huy động (ha, con...) (3) Tính toán nhu cầu theo hai yếu tố trên Kết quả các bước tính toán nhu cầu lao động theo danh mục các yếu tố đầu vào thể hiện như trong bảng sau: Danh mục sản xuất Quy mô huy động (kế hoạch ) Định mức giờ công Nhu cầu giờ công lao động Nhu cầu lao động kế hoạch (1) (2) (3) (4)= (2) x (3) (5)= Trồng trọt ? ha Chăn nuôi ? đầu gia súc Thuỷ sản ?sản lượng đánh bắt Tổng + Phương pháp 2: Xác định nhu cầu lao động căn cứ vào độ co giãn của việc làm đối với kết quả sản xuất (GDP). Độ có giãn của việc làm đối với GDP cho biết khi GDP tăng hoặc giảm 1% thì số việc làm tăng lên hay giảm đi bao nhiêu phần trăm. Như vậy, quy trình xác định nhu cầu lao động theo phương pháp hệ số co giãn được tiến hành theo các bước sau: (1) Tính hệ số co giãn của việc làm đối với GDP, theo phương pháp thống kê qua nhiều năm về mối quan hệ giữa sự thay đổi GDP đối với sự thay đổi của việc làm. Năm (t) GDP VL LnVL (Y) LnGDP (X) X- (X- )2 Y(X-) (1) (2) (3) (4) (5) (6) (7) (8) Tổng Qua bảng ta tính được hệ số so giãn của việc làm theo GDP, theo công thức sau: el/g = (2) Xác định nhu cầu tăng trưởng lao động theo công thức: vlK = gK x el/g Trong đó: vlK - Tốc độ tăng trưởng lao động kì kế hoạch gk - Tốc độ tăng trưởng kinh tế el/g - Hệ số co giãn của lao động theo GDP (3) Xác định tổng nhu cầu lao động kì kế hoạch theo công thức: VLK = VL0 x (1 + vlK) Trong đó: VL0- lượng lao động kì gốc Các phương pháp trên có thể tính chung cho toàn nền kinh tế và tính riêng cho từng ngành để xác định cơ cấu nhu cầu lao động theo ngành. Các phương pháp đều hay song ở cấp địa phương thường sử dụng phương pháp xác định nhu cầu lao động căn cứ vào độ co giãn việc làm đối với kết quả sản xuất (GDP). Bởi trước hết đây là phương pháp dễ tính lại phù hợp với trình độ của những người làm công tác kế hoạch ở cấp cơ sở (địa phương ). 4.2. Chỉ tiêu về nhu cầu vốn đầu tư Xác định tổng nhu cầu khối lượng vốn đầu tư cũng như xác định cơ cấu đầu tư theo ngành là nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch vốn đầu tư để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. + Phương pháp chung là tính theo mô hình tăng trưởng đầu tư của Harrod- Domar. Theo phương pháp Harrod- Domar ta có công thức: = - d0 Trong đó: gK- tốc độ tăng trưởng kinh tế kì kế hoạch - tỉ lệ đầu tư trong GDP kì gốc d0- hệ số khấu hao kì gốc k- hệ số ICOR của kì kế hoạch () Từ công thức trên ta có thể suy ra tỉ lệ đầu tư trong GDP, theo công thức: i0=k(gK+d0) Và xác định được nhu cầu đầu tư : I= i0x GDP Phương pháp này có thể tính chung cho toàn bộ nền kinh tế và tính riêng cho từng ngành để xác định cơ cấu vốn đầu tư theo ngành. + Song địa phương cũng có thể sử dụng phương pháp do Bộ Kế hoạch & Đầu tư và Viện Chiến lược Phát triển hướng dẫn thống nhất nội dung tính toán dự báo nhu cầu vốn đầu tư phục vụ cho công tác qui hoạch tỉnh, ngành. Phương pháp tiếp cận có thể xuất phát từ mục tiêu phát triển kinh tế chung. Mục tiêu phát triển kinh tế được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu. Chỉ tiêu cơ bản để đánh giá mức độ phát triển của nền kinh tế là mức độ gia tăng GDP (DGDP, đối với các tỉnh) và giá trị gia tăng (VA, đối với các ngành). Qui trình xác định nhu cầu vốn đầu tư có thể tiến hành theo các bước sau: (1) Xác định mức độ gia tăng của GDP (DGDP, đối với qui hoạch tỉnh) và giá trị gia tăng (VA, đối với qui hoạch các ngành). (2) Xác định mức độ gia tăng của GDP (DGDP, đối với tỉnh) và giá trị gia tăng (VA, đối với các ngành) do phần đầu tư mới mang lại. Thực chất DGDP và VA có được là do 3 nguồn tạo ra, đó là do đầu tư thời kì trước; do phát huy cơ chế, chính sách và do đầu tư thời kì qui hoạch. SDGDP = DGD1 + DGDP2 + DGDP3 Trong đó: DGD1 do kết quả đầu tư thời kì trước chưa phát huy hết tác dụng. DGDP2 do cơ chế chính sách phát huy tác dụng và DGDP3 do đầu tư mới của kì qui hoạch Như vậy muốn dự báo nguồn vốn đầu tư cho kì kế hoạch cần phải tính được giá trị gia tăng của GDP do đầu tư mới mang lại DGDP3 = SDGDP – (DGDP1 + DGDP2) Để giải quyết vấn đề này cần có ý kiến của chuyên gia và kinh nghiệm nhiều năm. Giả sử tác động của đầu tư giai đoạn trước xác định được là k%; tác động của cơ chế, chính sách là p%. Những hệ số này sẽ được nghiên cứu xác định qua điều tra thống kê và ước cho kì qui hoạch một cách thống nhất và đưa ra cho từng tỉnh, từng ngành. Khi đó có thể tính được DGDP3 theo công thức: DGDP3 = SDGDP x (100-k-p) (3) Dự báo hệ số ICOR. Để dự báo hệ số ICOR thường căn cứ vào thực tế của đầu tư thời kì trước và đặc điểm của thời kì qui hoạch. Tuy nhiên, số liệu về dự báo các hệ số ICOR sẽ được tính thống nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho mỗi vùng (tỉnh), mỗi ngành trong từng thời kì qui hoạch. (4) Dự báo nhu cầu vốn đầu tư theo công thức: I = DGDP x ICOR Nhu cầu vốn đầu tư được tính cho từng ngành hoặc toàn bộ nền kinh tế, cho từng phương án của qui hoạch (kì kế hoạch). Phương pháp này có những thuận lợi như dễ tính, các dữ liệu tính toán dễ thu thập nhưng cũng có một số hạn chế như cần phải xác định hệ số ICOR, độ chính xác của nó phụ thuộc nhiều vào các chuyên gia… Tuy nhiên, trong phạm vi đề tài em chỉ sử dụng phương pháp tính chung theo mô hình tăng trưởng đầu tư. CHƯƠNG II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ THỜI KÌ 2001 - 2005 TỈNH PHÚ THỌ I. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ - Xà HỘI TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ CỦA TỈNH PHÚ THỌ 1. Đặc điểm tự nhiên a) Vị trí địa lý Phú Thọ là một tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, có tọa độ địa lý 20055’- 21043’ vĩ độ Bắc; 104048’-105027’ kinh độ Đông. Phía Bắc giáp với Tuyên Quang, phía Nam giáp Hoà Bình, phía Đông giáp Vĩnh Phúc và Hà Tây, phía Tây giáp Sơn La và Yên Bái. Phú Thọ cách Hà Nội khoảng 80km tính theo đường ô tô và cách các tỉnh khác từ 100-300km. Các hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sông từ các tỉnh phía tây Đông Bắc đều qui tụ về Phú Thọ rồi mới đi Hà nội, Hải Phòng và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước. Là cửa ngõ phía Tây của thủ đô Hà nội, cầu nối các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ với các tỉnh miền núi phía Đông Bắc. Với vị trí này Phú Thọ trở thành “ngã ba sông” - nơi chung chuyển hàng hoá thiết yếu của vùng. Thành phố Việt Trì là thủ phủ của tỉnh đồng thời cũng là một trong 5 trung tâm của vùng có các tuyến trục giao thông quan trọng chạy qua như quốc lộ số 2 chạy từ Việt Trì đi Tuyên Quang - Hà Giang sang Vân Nam (Trung Quốc). Đây là tuyến nằm trên hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng- Quảng Ninh. Quốc lộ 70 xuất phát từ thị trấn Đoan Hùng đi Yên Bái-Lào Cai và cũng sang Vân Nam-Trung Quốc, tuyến này đang được nâng cấp để trở thành con đường chiến lược Hà nội - Hải Phòng- Côn Minh (Trung Quốc). Đây là những điều kiện thuận lợi để Phú Thọ giao lưu kinh tế với bên ngoài và tổ chức cơ cấu ngành kinh tế theo hướng “mở”. b) Địa hình + Phú Thọ có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 10 huyện, 274 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 14 phường, 10 thị trấn và 250 xã trong đó có 215 xã, thị trấn miền núi và còn 50 xã đặc biệt khó khăn. + Phân chia theo đặc điểm địa hình, Phú Thọ chia làm 2 tiểu vùng: - Tiểu vùng miền núi bao gồm các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Hạ Hoà và một phần của huyện Cẩm Khê. Có độ cao trung bình từ 200m-500m so với mực nước biển. Diện tích tự nhiên khoảng 182475,82 ha, dân số khoảng 418.260 người, mật độ dân số 228 người/km2. Đây là tiểu vùng đang khó khăn về giao thông và dân trí còn thấp, lại nhiều dân tộc nên việc khai thác tiềm năng nông, lâm, khoáng sản ...để phát triển kinh tế-xã hội còn nhiều hạn chế. - Tiểu vùng trung du đồng bằng gồm: thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thanh Thuỷ, Tam Nông, Đoan Hùng và phần còn lại của huyện Cẩm Khê, Hạ Hoà. Có độ cao trung bình từ 50m-200m so với mặt nước biển. Diện tích tự nhiên khoảng 169487,5 ha, dân số khoảng 884.734 người, mật độ dân số 519 người/km2. Đây đang là tiểu vùng có kinh tế-xã hội phát triển, tiềm năng nông-lâm-thuỷ sản được khai thác tương đối triệt để, nơi sản xuất nhiều hàng hoá nông sản, hàng hoá xuất khẩu như chè, đậu tương, lạc,..vv. Nơi có nhiều khu, cụm, điểm công nghiệp …Nhưng đã xuất hiện hiện tượng đất bị thoái hóa ở một vài nơi, còn dải đất ven sông lại màu mỡ, thuận tiện cho việc phát triển chèm đậu tương, lạc vừng, cây ăn quả, sản xuất lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản… là tiểu vùng thuận lợi về điều kiện giao thông vận tải, có đất đai phù hợp cho phát triển khu công nghiệp và đô thị. Tóm lại, Phú Thọ có địa hình đa dạng, vừa có núi, vừa có trung du và đồng bằng ven sông đã tạo ra nguồn đất đai đa dạng, phong phú để phát triển nông lâm nghiệp hàng hóa toàn diện với cây trồng vật nuôi có giá trị kinh tế cao phù hợp với thị trường trong nước và thế giới như chè chế biến, cao su mủ, cà phê, đậu, đỗ lạc, hoa quả phải kể đến là bưởi Đoan Hùng, hồng Hạc Trì... Tuy nhiên do địa hình chia cắt, mức độ cao thấp khác nhau nên việc đầu tư khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất, phát triển hạ tầng để phát triển kinh tế- xã hội, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải đầu tư tốn kém nhất là về giao thông, thủy điện, cấp điện cấp nước… c) Tài nguyên thiên nhiên Tài nguyên thiên nhiên khá đa dạng và phong phú, là vùng có nhiều tiềm năng và thế mạnh chưa được khai thác có hiệu quả. ¨ Đất đai Diện tích tự nhiên toàn tỉnh là 351965 ha, trong đó đất đang được sử dụng là 299522 ha, chiếm 85,1%, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 47,9%; đất nông nghiệp chiếm 27,8%; đất chưa sử dụng chiếm 14,9% (số liệu năm 2003). Phân theo nguồn gốc hình thành thì nhóm đất có nguồn gốc từ phù sa, đá biến chất và đá macma axit chiếm tới 63,9% (đất có nguồn gốc từ phù sa chiếm 23,8%; từ đá biến chất và macma axit chiếm 40,1%). Đây là nhóm đất quan trọng để phát triển cây lương thực, cây công nghiệp dài ngày, phát triển chăn nuôi, phát triển công nghiệp và phát triển đô thị ... Còn nhóm đất Feralit núi có mùn và không có mùn chiếm 29,7%; là đối tượng để phát triển lâm nghiệp, một phần cây công nghiệp dài ngày và chăn nuôi gia súc lớn; còn nhóm đất xói mòn, sỏi đá, đá trọc, sông suối chiếm 6,5% thì chưa có khả năng sử dụng. Phân theo cấp độ dốc, diện tích đất bằng và hơi bằng chiếm 44,4%, còn diện tích đất dốc chiếm 51,6% trong đó 26,8% là đất dốc từ 250 trở lên. ¨ Khí hậu, thuỷ văn Phú Thọ nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, điểm nổi bật là mùa đông không lạnh lắm, nhiệt độ trung bình năm khoảng 230C; lượng mưa trung bình năm khoảng 1600-1800m; độ ẩm trung bình năm khoảng 85-87%. Với 3 sông lớn chảy qua đó là sông Hồng, sông Đà và sông Lô, trong đó sông Hồng là lớn nhất với mực nước bình quân khoảng 965-995 cm (trạm Việt Trì), cao 1685 cm, thấp 707 cm. Mực nước sông Lô (trạm Vụ Quang), trung bình khoảng 1332-1389cm; cao 2132 cm, thấp 1122 cm... Ngoài ra Phú Thọ còn có hàng chục sông, suối nhỏ chứa một lượng nước khá lớn. Với đặc điểm trên Phú Thọ có điều kiện phát triển mạnh về vận tải thuỷ, thuỷ điện và nuôi trồng thuỷ sản. ¨ Tài nguyên rừng Tính đến năm 2005, toàn tỉnh có khoảng 148985 ha đất lâm nghiệp, trong đó rừng tự nhiên 74125 ha và 74860 ha rừng trồng. Trữ lượng gỗ ước tính khoảng 3,5 triệuh m3 rừng tự nhiên, phần lớn là rừng non và mới phục hồi, nhưng vẫn còn một số rừng tự nhiên mang tính chất rừng quốc gia: Xuân Sơn, Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hoà với diện tích khoảng 20.000 ha. Rừng Phú Thọ có nhiều loài động vật quý hiếm, theo kết quả điều tra hệ thực vật rất phong phú và đa dạng, có từ nhóm 1 đến nhóm 8 động vật có 150 loài, trong đó có 50 loài thú, 100 loài chim, các loài thú quý như gấu, hươu, vượn quần đùi, khỉ bạc má...Hiện tại gỗ làm nguyên liệu giấy có thể đáp ứng được 40-50% yêu cầu của nhà máy giấy Bãi Bằng. ¨ Khoáng sản Phú Thọ có khoảng 215 mỏ và điểm quặng trong đó có 20 mỏ lớn và vừa, 50 mỏ nhỏ và 143 điểm quặng. Các khoáng sản có ý nghĩa nổi trội là Cao lanh, penpat, trữ lượng khoảng 30 triệu tấn, chất lượng tốt; Pyrit, quarit, đá xây dựng có ở 55 khu vực, trữ lượng 935 triệu tấn; cát sỏi khoảng 100 triệu m3 và nước khoáng nóng. Điều kiện khai thác các loại tài nguyên này đa số thuận lợi nhưng khai thác chưa nhiều. Đây là những điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, công nghiệp giấy, công nghiệp gốm sứ, công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng. ¨ Du lịch Với 150 di tích lịch sử văn hoá nghệ thuật được xếp hạng, trong đó có những di tích nổi bật như Đền Hùng, Ao Châu, khu Ao Trời- Suối Tiên, khu mỏ nước khoáng nóng La Phù (Thanh Thuỷ)... Các chiến khu Hiền Lương, Minh Hoà, chiến thắng sông Lô... Di tích khảo cổ Sơn Vi, gò Mun, rừng quốc gia Xuân Sơn cùng các lễ hội đền Hùng, Bạch Hạc, Chu Hoá. Các di tích nghệ thuật như đình Huy Cương, đình Hùng Lô, đền mẫu Âu Cơ... với 21 dân tộc anh em, mỗi dân tộc có một sắc tộc, sắc thái văn hoá riêng nên rất độc đáo và phong phú là động lực thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển trong những năm tới. 2. Điều kiện kinh tế-xã hội a) Thị trường Tổng mức bán lẻ hàng hoá¸xã hội (TMBL HHXH) năm 2000 của tỉnh là 1863 tỷ đồng tăng lên 3110 tỷ đồng năm 2005, tốc độ tăng TMBL HHXH thời kì 2001-2005 đạt 10,79%/năm. Năm 2005, TMBL HHXH bình quân đầu người của Phú Thọ đạt 2,34 triệu đồng/người/năm (bằng 45% so với cả nước). TMBL HHXH chính là chỉ tiêu phản ánh sức mua và mức độ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của dân cư. Mức thu nhập bình quân đầu người của Phú Thọ vào khoảng 55% so với cả nước, nhưng TMBL HHXH bình quân đầu người chỉ bằng 45% thể hiện sức mua của Phú Thọ còn thấp và vai trò của hoạt động thương mại chưa cao, làm ảnh hưởng đến cơ cấu ngành kinh tế. Trong các kênh lưu thông hàng hoá, luồng hàng hoá¸mà Phú Thọ có tiềm năng là một số hàng nông sản như chè, đậu tương, thịt gia súc, một số sản phẩm cây ăn quả như bưởi Đoan Hùng, hồng Hạc Trì, đồng thời cũng có một số sản phẩm chế biến như chè sơ chế, gỗ các loại và các sản phẩm từ gỗ. Các sản phẩm này một phần được xuất khẩu, còn đại đa số được đưa tới các thị trường khác trong nước. Riêng mặt hàng công nghiệp như công nghiệp vật liệu xây dựng, công nghiệp xi măng, công nghiệp hoá chất (mới chỉ đáp ứng 40% nhu cầu trong tỉnh) chủ yếu là tiêu dùng nội tỉnh do tính cạnh tranh chưa cao và phải nhập từ các tỉnh khác. Luồng hàng hoá công nghiệp tiêu dùng, công nghiệp giấy của Phú Thọ phần lớn được đưa tới thị trường Hà nội, Hải Phòng…Thông qua phân tích sự vận động của hàng hoá cho thấy khả năng phát triển các ngành của tỉnh còn nhiều hạn chế. Điều này chỉ ra rằng, Phú Thọ cần bố trí cơ cấu ngành cho hiệu quả, phát triển những ngành mà thị trường yêu cầu. Tuy nhiên, thu nhập bình quân đầu người của Phú Thọ không ngừng tăng qua các năm, từ 2998 nghìn đồng năm 2000 lên 4995 nghìn đồng năm 2005, khi thu nhập tăng không những tạo điều kiện nâng cao đời sống dân cư trong tỉnh mà còn tạo được tích luỹ về vốn cho tiêu dùng, cho tái sản xuất, từ đó thúc đẩy trị trường phát triển hơn. b) Nguồn nhân lực Dân số toàn tỉnh đã tăng từ 1275 nghìn người năm 2000 lên 1325 nghìn người năm 2005, tỉ lệ tăng dân số thời kì 2001-2005 là 1%/năm. Mật độ dân số trung bình tỉnh là 370 người/km2. Song phân bố không đều, cao nhất là thành phố Việt Trì (1793 người/km2), thấp nhất là huyện Thanh Sơn chỉ có 142 người/km2. Năm 2000, tỉ lệ dân thành thị là 14,2%, ở nông thôn là 85,8% thì đến năm 2005, tỉ lệ này là 16,5% và 83,5%. Tuy tỉ lệ dân nông thôn có giảm nhưng số tuyệt đối có tăng lên. Điều này thể hiện tốc độ đô thị hoá còn chậm và tốc độ tăng dân số ở nông thôn còn cao. Dân số trong tuổi lao động đã tăng từ 697,5 nghìn người năm 2000, chiếm 54,7% lên 746,3 nghìn người, chiếm 56,2% dân số toàn tỉnh năm 2005. Trong số 625 nghìn người đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2000 thì có khoảng 499 nghìn người làm việc trong ngành nông lâm thuỷ sản, chiếm 79,8%; trong ngành công nghiệp-xây dựng là 67 nghìn người, chiếm 10,7%; trong ngành dịch vụ là 59 nghìn người, chiếm 9,5%. Đến năm 2005 có khoảng 723,3 nghìn người làm việc trong các ngành kinh tế, trong đó: lao động nông nghiệp là khoảng 506,8 nghìn người, chiếm 70,1%; lao động trong công nghiệp-xây dựng khoảng 118,6 nghìn người, chiếm 16,4%; lao động trong ngành dịch vụ là 97,6 nghìn người, chiếm 13,5%. Như vậy, tỉ lệ lao động nông nghiệp vẫn là chính. Mặt khác, lao động của Phú Thọ tuy đông lực lượng lao động trẻ, nhưng chất lượng lao động chưa cao. Đến năm 2005, số lao động đã qua đào tạo đạt 29% trong đó có 21% là công nhân kĩ thuật. Đó là trở lực lớn cho sự phát triển của các ngành nghề có yêu cầu cao về trình độ nghiệp vụ. Vì vậy, cần phải chuyển dịch cơ cấu lao động nhanh hơn để phù hợp với xu thế. c) Hệ thống cơ sở hạ tầng + Hạ tầng giao thông Phú Thọ có đường bộ với tổng chiều dài gần 10.000km, trong đó có 5 tuyến quốc lộ chạy qua tỉnh dài 262 km, 31 tuyến đường tỉnh dài 730 km, 94 tuyến đường huyện dài 628 km, đường đô thị 95 km và đường liên xã, liên thôn (GTNT) dài 7.245km. Với 100% số xã có đường ô tô vào đến trung tâm, 320 km đường sông và gần 100 km đường sắt. Về chất lượng đường bộ: - Đường quốc lộ: 100% là đường nhựa, trong đó có 15 km đường cấp II, 45 km đường cấp III, 188 km đường cấp IV và 14 km đường cấp V. - Đường tỉnh: có 232km/730km là đường nhựa (chiếm 32%), trong đó có 62% đạt kĩ thuật từ cấp VI đến cấp IV miền núi, còn lại là đường đất, đất cấp phối và chưa vào cấp kĩ thuật. - Đường huyện, liên xã, xã, thôn, xóm (GTNT): hết năm 2005 có 830km/7873km được cứng hóa mặt đường bằng bê tông XM (265 km), đa dăm nhựa và đa dăm hỗn hợp (170 km), còn lại là đường đất. Đánh giá chung về mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh (đường bộ, đường sắt, đường thủy) được phân bố đều, hợp lí, thuận tiện cho việc lưu thông hàng hóa, hành khách nội và ngoại tỉnh. Tuy nhiên, chất lượng đường bộ còn thấp, công trình thoát nước chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được với tốc độ tăng trưởng của phương tiện vận tải cả về lưu lượng và tải trọng. Điều này hạn chế cho việc phát triển sản xuất nhất là ở các xã miền núi, giao lưu hàng hóa và cơ cấu ngành kinh tế chuyển dịch theo hướng phát triển. + Hạ tầng thuỷ lợi Cho đến nay hệ thống thuỷ lợi của tỉnh đã phát triển khá, gồm 146 công trình thuỷ lợi đầu mối, kiên cố hoá 517 km kênh mương tăng thêm năng lực mới cho khoảng 5560 ha, chiếm 61,2% diện tích cây trồng, trong đó riêng lúa đạt 87,6% diện tích tưới tiêu. Hệ thống đê, kè các tuyến sông được gia cố, cơ bản đap ứng nhu cầu phòng chống lũ lụt hàng năm. Nhưng do thủy triều lên xuống thất thường, thay đổi dòng chảy gây sạt lở 2 bên bờ sông, hiện đã có trên 60 km bị sạt lở, chiếm 16% tổng chiều dài đê sông, nhưng mới xử lí được 25 km. + Hệ thống điện và thông tin liên lạc Tuy là một tỉnh miền núi nhưng đến năm 2003 có 100% xã có điện lưới quốc gia, điện năng cung cấp trên 500 Kw/người/năm. Tuy nhiên, lưới điện nông thôn nhiều xã chưa đảm bảo kĩ thuật nên tiêu hao điện năng còn cao, đã ảnh hưởng đến việc cấp điện, thường xuyên xẩy ra sự cố mất điện làm cho giá điện sinh hoạt ở nông thôn còn cao, dẫn đến hạn chế cả trong việc tiêu dùng điện cho phát triển sản xuất. Hệ thống thông tin liên lạc của tỉnh cũng phát triển tương đối nhanh, đến năm 2004 đã đạt được 5 máy điện thoại/100 dân, dịch vụ internet, hộp thư thoại...được triển khai rộng khắp trên địa bàn. Chất lượng thông tin liên lạc ngày càng tốt hơn... Như vậy, cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật của Phú Thọ còn yếu kém, chưa đồng bộ đã ảnh hưởng đến việc khai thác tiềm năng, phát triển sản xuất nhất là theo hướng sản xuất những cây trồng vật nuôi có năng suất cao, phát triển những ngành công nghiệp chế biến từ những sản phẩm nông, lâm, thủy sản do hạn chế về giao thông, thông tin liên lạc dẫn đến tăng chi phí trong công tác vận chuyển giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ. Đồng thời việc giao lưu hàng hóa giữa các huyện, xã trong tỉnh và với ngoài tỉnh có nhiều hạn chế do thiếu những thông tin cần thiết. Từ đó ảnh hưởng đến phát triển sản xuất, làm chậm tốc độ chuyển dịch cơ cấu ngành theo hướng tăng nhanh tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp trong GDP. II. ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH KINH TẾ THỜI KÌ 2001 - 2005 TỈNH PHÚ THỌ 1. Đánh giá chung tình hình thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ 1.1. Kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 + Dạng cơ cấu ngành kinh tế Kết quả thực hiện kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế-xã hội thời kì 1996-2000, kinh tế Phú Thọ đã phát triển với tốc độ khá, đạt 8,16%/năm trong đó công nghiệp-xây dựng tăng 11,4%/năm, nông lâm nghiệp tăng 5,9%/năm, và dịch vụ tăng 6,97%/năm. Trong khi đó chỉ tiêu này tương ứng của cả nước là 6,7%/ năm, 10,9%/năm, 4,6%/năm và 5,3%/năm. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế từ năm 1996 đến năm 2000 tương đối nhanh, tỉ trọng công nghiệp-xây dựng tăng từ 33,2% lên 36,6%; tỉ trọng ngành dịch vụ năm 2000 là 33,7% và tỉ trọng ngành nông lâm thuỷ sản đã giảm từ 33,1% xuống còn 29,8% năm 2000. Qua đó ta thấy thời kì 1996-2000 cơ cấu ngành kinh tế đã được xác định là công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ và có xu hướng chuyển dịch như vậy trong thời gian tới. Như vậy mục tiêu đặt ra cho kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 cũng xác định dạng cơ cấu ngành là công nghiệp-nông nghiệp- dịch vụ. + Qui mô và tỉ trọng GDP, GO, lao động, vốn của từng ngành trong kì kế hoạch 2001-2005 được thể hiện như trong bảng sau: Bảng 2.1: Chỉ tiêu kế hoạch cơ cấu ngành thời kì 2001-2005 Ngành Theo GO Theo GDP Theo lao động Theo vốn đầu tư Qui mô (tỷ đồng) Tỉ trọng (%) Qui mô (tỷ đồng) Tỉ trọng (%) Qui mô (nghìn ng) Tỉ trọng (%) Qui mô (tỷ đồng) Tỉ trọng (%) Tổng 8887 100 6117 100 723 100 4100 100 N-L-TS 2027 22.8 1499 24.5 506.1 70.0 768 18.7 CN-XD 4686 52.7 2415 39.8 119.3 16.5 1672 40.8 DV 2174 24.5 2184 35.7 97.6 13.5 1660 40.5 Nguồn: Báo cáo kế hoạch 2001-2005 tỉnh Phú Thọ Qua bảng cho thấy, qui mô các chỉ tiêu thời kì này đều cao hơn thực tế năm 2000. GDP toàn ngành đặt ra trong kế hoạch khoảng 6117 tỷ đồng, cao gấp 1,6 lần so với thực tế năm 2000; trong đó tỉ trọng nông nghiệp chiếm 24,5% , giảm 5,3%; tỉ trọng công nghiệp chiếm 39,8%, tăng 3,3% và tỉ trọng dịch vụ chiếm 35,7%, tăng 2% so với năm 2000. Cùng với xu thế chuyển dịch của GDP, tỉ trọng nông nghiệp trong GO chiếm 22,8%, giảm 2%; tỉ trọng dịch vụ chiếm 24,5%, tăng 2,5%; tuy nhiên tỉ trọng công nghiệp chiếm 52,7%, giảm 0,5% so với năm 2000 đóng góp vào giá trị sản xuất toàn ngành lên 8887 tỷ đồng, tăng gấp 1,5 lần năm 2000. Về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo lao động thì có sự chuyển dịch nhanh hơn so với GDP và GO; tỉ trọng lao động nông nghiệp chiếm 70%, giảm 9,8%; tỉ trọng lao động công nghiệp chiếm 16,5%, tăng 5,78%; tỉ trọng lao động dịch vụ chiếm 13,5%, tăng 4,16% so với năm 2000. Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế là khoảng 723,3 triệu người, tăng gấp 1,16 lần năm 2000. Cùng với xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP, GO hay lao động thì xu hướng chuyển dịch theo vốn đầu tư cũng khá rõ nét, thể hiện ở qui mô vốn đầu tư khoảng 4100 tỷ đồng, tăng gấp 3,6 lần năm 2000; trong đó nhu cầu đầu tư cho công nghiệp và dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn tương ứng là 40,8% và 40,5%, còn dịch vụ chiếm 18,7% vốn đầu tư toàn ngành. 1.2. Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ ¨ Phân tích chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo GDP Thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, trong bối cảnh thế giới và khu vực phục hồi sau khủng hoảng, tạo cơ hội tranh thủ nguồn lực hợp tác quốc tế và tiêu thụ sản phẩm; tình hình kinh tế chính trị trong nước thuận lợi, đất nước ổn định, nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước được sửa đổi và ban hành đã thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Kinh tế-xã hội tỉnh đạt tốc độ tăng trưởng cao 9,71%/ năm trong khi cả nước là 7,5%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng trong công nghiệp và dịch vụ. Từ thực tiễn phát triển của giai đoạn trước đó, căn cứ theo khả năng của tỉnh, một số kết quả bước đầu trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh như sau: Bảng 2.2: Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ thời kì 2001-2005 (giá hiện hành) Đơn vị tính: GDP: tỷ đồng; Cơ cấu: % Chỉ tiêu Mục tiêu 2001-2005 Thực hiện 2001-2005 2001 2002 2003 2004 2005 GDP 6117 4183 4617 5183 5838 6565 N-L-TS 1499 1227 1343 1544 1646 1707 CNXD 2415 1565 1758 1912 2256 2626 DV 2184 1391 1516 1727 1965 2232 Cơ cấu 100 100 100 100 100 100 N-L-TS 24.5 29.3 29.1 29.8 28.2 26.0 CNXD 39.8 34.7 3._.đông nam Hạ Hoà, Tây Nam Cẩm Khê, Thanh Ba, Tam Nông, Thanh Thuỷ. Phát triển cây lúa, cây ngô chất lượng cao; chăn nuôi bò, lợn, gia cầm, nuôi trồng thuỷ sản theo qui mô tập trung, hình thành các vùng chuyên canh, sản xuất hàng hoá lớn đáp ứng yêu cầu thị trường. Như vậy, thời kì này muốn chuyển đổi nhanh cơ cấu nông nghiệp thì: - Tập trung giải quyết khâu đột phá là cung ứng đủ giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và giá bán hợp lí phù hợp với thu nhập của người dân. - Đảm bảo khâu tưới tiêu: xây dựng hệ thống thuỷ lợi tưới vùng đồi, núi; biện pháp thâm canh, tăng vụ, ứng dụng nhanh những tiến bộ kĩ thuật . - Tập trung đầu tư thực hiện tốt, hiệu quả các chương trình dự án sản xuất lương thực, phát triển vùng chè, nuôi lợn xuất khẩu, phát triển cây ăn quả, phát triển rừng và nuôi trồng thủy sản trong đó chú trọng đến những nông sản xuất khẩu. - Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoàn thành công tác giao đất khoán rừng cho các thành phần kinh tế. - Mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản không những trong tỉnh mà còn ngoài tỉnh và một số nước trong khu vực và thế giới. b) Trong công nghiệp - Lựa chọn một cơ cấu công nghiệp hợp lí, phù hợp với những đặc thù của tỉnh, đồng thời có thể khai thác tối đa, triệt để nguồn nội lực như vốn, nguyên liệu, lao động, tay nghề, cơ sở vật chất hiện có thì vấn đề then chốt là làm tốt công tác qui hoạch. Trong thời gian tới, trên cơ sở hoàn thành công tác qui hoạch tổng thể, các địa phương cần phải làm tốt công tác qui hoạch phát triển ngành công nghiệp. - Tập trung đầu tư phát triển những ngành có ưu thế phát triển tạo được sự chuyển biến rõ nét về chất lượng, hiệu quả, sản phẩm có sức cạnh tranh cao đó là công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy, công nghiệp phân bón hoá chất… Cần bố trí ở những nơi gần nguồn nguyên liệu để tiết kiệm chi phí vận chuyển cũng như phát huy được lợi thế của vùng. Khâu đột phá là phát triển khu, cụm công nghiệp vừa và nhỏ như khu công nghiệp Thuỵ Vân-Việt Trì; khu, cụm công nghiệp Đồng Lạng - Phù Ninh với trung tâm tinh chế chè ở Phù Ninh; điểm công nghiệp ở các huyện Thanh Sơn, Yên Lập, Thanh Thuỷ, Cẩm Khê, Đoan Hùng, Hạ Hoà để tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có này. - Một trong những khâu đột phá cho chuyển dịch cơ cấu công nghiệp là phát triển công nghiệp phải gắn với phát triển nông lâm thủy sản, du lịch và bảo vệ môi trường. - Phú Thọ phải phối hợp chặt chẽ với các Bộ ngành thực hiện tốt sự chỉ đạo của Chính Phủ là đẩy mạnh cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước đang ngừng hoạt động chờ giải quyết để khu công nghiệp Việt Trì phát huy được lợi thế ngày càng lớn trong nền kinh tế. Mở rộng liên doanh liên kết thu hút vốn bên ngoài để có thể đổi mới nhanh khu công nghiệp. c) Trong dịch vụ Phú Thọ là tỉnh có nhiều di tích lịch sử và được xếp hạng như Đền Hùng, Đầm Ao châu, khu Ao trời-Suối Tiên, mỏ nước khoáng nóng La Phù- Thanh Thuỷ…nên trong thời gian tới cần phát triển tổng hợp các loại hình du lịch nhằm khai thác triệt để tiềm năng, Trong đó ưu tiên phát triển du lịch lế hội, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái…khâu đột phá cần thực hiện là: - Xây dựng các khu đô thị, thương mại dịch vụ và nhà ở chất lượng cao, các khu thể thao, vui chơi giải trí, trọng tâm là phát triển dịch vụ du lịch xung quanh Đền Hùng, từng bước xây dựng vùng kinh tế động lực (hạt nhân là thành phố Việt Trì) trở thành trung tâm kinh tế,thương mại, dịch vụ của cả vùng các tỉnh miền núi phía Bắc. - Phát triển du lịch quanh khu vực Đầm Ao Châu (Hạ Hoà), đền Mẫu Âu Cơ (Lâm Thao), vườn quốc gia Xuân Sơn (Thanh Sơn), khu du lịch nước khoáng nóng La Phù (Thanh Thuỷ) … Tạo các điểm du lịch sinh thái hấp dẫn trong hệ thống các tuyến điểm du lịch của tỉnh. Đây sẽ là điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch đến với Phú Thọ. 2. Khai thác các nguồn lực để thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế 2.1. Vốn a) Nguồn vốn khai thác Thời kì 2001-2005, nguồn vốn được khai thác chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước khoảng 53,1% trong đó đầu tư qua ngân sách tỉnh chỉ chiếm 23,3%, còn lại là đầu tư qua Bộ, Ngành chiếm tới 29,8%; vốn đầu tư từ khu vực tư nhân chiếm 27,4% và trực tiếp nước ngoài chiếm 19,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Như vậy, khai thác các nguồn nội lực chưa nhiều, phần lớn nguồn vốn khai thác phải dựa vào nguồn vốn bên ngoài cả trong và ngoài nước. Thời kì 2006-2010, cần có những chính sách ưu tiên, động viên để huy động tới mức tối đa khả năng đầu tư từ khu vực dân cư và tư nhân, dự kiến nguồn vốn từ khu vực này chiếm 38,2% tổng vốn đầu tư xã hội. Tiếp tục huy động vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 19% tổng vốn đầu tư toàn xã hội. Đặc biệt với chủ trương thực hiện chính sách tiết kiệm, ngân sách tỉnh hàng năm giành 12% từ nguồn thu nội địa và 50% từ các nguồn vượt thu để bổ sung cho đầu tư phát triển, nâng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách tỉnh chiếm 24% tổng nguồn vốn. Nguồn vốn đầu tư thời kì 2006-2010 được thể hiện như trong bảng sau: Bảng 3.4: Cơ cấu VĐT theo nguồn thời kì 2006-2010 Đơn vị tính: Vốn đầu tư : tỷ đồng; cơ cấu:% Nguồn vốn Vốn đầu tư Cơ cấu VĐT Tổng 23126 100 Đầu tư từ NSNN 9898 42.8 Đầu tư của dân cư và tư nhân 8834 38.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) 4394 19.0 Nguồn: Kế hoạch vốn đầu tư thời kì 2006-2010 Như vậy, nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước chiếm khoảng 42,8% trong đó 24% nguồn vốn từ ngân sách của tỉnh và chỉ phụ thuộc vào ngân sách nhà nước khoảng 18,8%. Tuy nhiên, đầu tư trong ngân sách tỉnh chỉ chiếm 24%, vốn đầu tư từ khu vực dân cư, tư nhân chiếm 38,2%. Như vậy phần còn lại phải dựa vào nguồn vốn bên ngoài kể cả trong nước và ngoài nước. Giải pháp huy động nguồn vốn thời gian tới cụ thể là: - Điều chỉnh chính sách ưu đãi đầu tư theo hướng bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, phù hợp với khả năng hỗ trợ tài chính của tỉnh, sử dụng hiệu quả quỹ đất, tài nguyên và bảo vệ môi trường. Khuyến khích các nhà đầu tư, doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng các cụm, khu công nghiệp, các cơ sở dịch vụ, du lịch, khu đô thị mới, khu vui chơi giải trí. - Tích cực chuẩn bị các dự án để tranh thủ vốn đầu tư từ các cơ chế chính sách của Nhà nước, tranh thủ sự ủng hộ của các Bộ, ngành đối với các dự án quy hoạch ngành trên địa bàn. Bố trí đủ vốn đối ứng để khai thác tốt nguồn vốn đầu tư từ các chương trình, dự án quy hoạch của các Bộ, ngành, vốn ODA trên địa bàn. - Xây dựng mới và điều chỉnh các cơ chế, chính sách huy động vốn với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, để đầu tư các công trình hạ tầng gắn với lợi ích hưởng thụ trực tiếp của nhân dân như đường giao thông, công trình thuỷ lợi, chợ, trường học, cơ sở dịch vụ... khai thác tốt các nguồn lực trong dân cư đảm bảo nhu cầu vốn đầu tư phát triển. - Tiếp tục đổi mới và lành mạnh hoá tài chính, tín dụng. Phấn đấu tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tăng trên 15%/năm, tỉ lệ huy động ngân sách nhà nước trên 11% GDP của tỉnh. b) Đầu tư vốn theo trọng điểm ưu tiên Việc thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế phụ thuộc rất lớn vào nguồn vốn được tạo ra và cách sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn. Vì vậy, vốn cần được đầu tư theo trọng điểm ưu tiên, tránh đầu tư dàn trải gây lãng phí nguồn lực và đem lại hiệu quả không cao. Với mục tiêu đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư cả trong và ngoài nước, trọng tâm là thực hiện tốt cơ chế “một cửa”, nhanh chóng và thông thoáng trong giải quyết các thủ tục nhằm tăng nhanh số dự án đầu tư, chú trọng đầu tư các dự án lớn, có công nghệ tiên tiến, hiệu quả kinh tế cao, đóng góp nhiều cho ngân sách Nhà nước. - Ưu tiên phát triển các ngành có hệ số ICOR thấp, sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ, thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm và tăng trưởng nhanh như các ngành công nghiệp chế biến nông-lâm sản, sản xuất vật liệu xây dựng, sản xuất hàng tiêu dùng phục vụ đời sống, làm hàng xuất khẩu. Đây có thể coi là ngành công nghiệp “mũi nhọn” của tỉnh. Các dự án ưu tiên đầu tư: Tên Chương trình, dự án Địa điểm đầu tư Qui mô, công suất Dự kiến VĐT (Triệu USD) Hình thức đầu tư Nhà máy tinh chế chè Phù Ninh 2,5 Trong nước Trung tâm tinh chế chè và trộn chè Đoan Hùng, Thanh Ba 2,0 Trong nước Đầu tư cải tạo nâng cấp và mở rộng nhà máy xi măng Thanh Ba 160.000 tấn/năm 20 ODA, FDI Mở rộng sản xuất mành trúc, mành gỗ xuất khẩu Việt Trì 5 Trong nước - Đầu tư cho nông nghiệp đảm bảo an ninh lương thực, đảm bảo nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và cho xuất khẩu. Các dự án ưu tiên đầu tư: Tên chương trình, dự án Địa điểm đầu tư Qui mô, công suất Dự kiến VĐT (Triệu USD) Hình thức đầu tư Sản xuất giống cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả bằng công nghệ cao Việt Trì, Lâm Thao, Phú Thọ, Phù Ninh, Đoan Hùng 10 tấn/năm ODA. NGO Chương trình phát triển cây chè Trọng điểm 8 huyện 30 Liên doanh hoặc 100% vốn nước ngoài Trồng mới chè chất lượng cao Thanh Sơn, Yên Lập 2.300ha 38 Liên doanh Chương trình nuôi lợn, bò thịt Việt Trì, Phù Ninh, Lâm Thao 25 ODA hoặc FDI Trồng nguyên liệu giấy Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Phù Ninh 10.000 ha 12 Liên doanh - Đầu tư phát triển các khu đô thị mới, các khu thương mại-nhà ở, phát triển các ngành dịch vụ như khách sạn-du lịch, tạo diện mạo mới cho đô thị Việt Trì, mở rộng thị trường giao lưu kinh tế, tăng nhanh lợi nhuận. Các dự án ưu tiên đầu tư: Tên ch ương trình, dự án Địa điểm đầu tư Qui mô, công suất Dự kiến VĐT (Triệu USD) Hình thức đầu tư Khu du lịch Đền Hùng Lâm Thao 10 tấn/năm ODA, NGO Xây dựng khu du lịch Ao Châu Hạ Hòa 260 ha mặt nước 300 Liên doanh, ODA Xây dựng khu du lịch nước khoáng nóng chữa bệnh và điều dưỡng Thanh Thủy 200 ha mặt nước 10 Liên doanh, ODA Xây dựng trung tâm thương mại Việt Trì Việt Trì 8 Liên doanh Xây dựng chợ đầu mối Việt Trì, Thanh Sơn, Yên Lập, Cẩm Khê, Hạ Hòa, Đoan Hùng, Tam Nông 6 Liên doanh 1.2. Lao động Để khai thác nguồn lực về lao động có hiệu quả cho thực hiện chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thì trước hết cần phải chú trọng đến việc tăng cường đào tạo nguồn lao đông. Bởi, quá trình đào tạo nguồn nhân lực làm cho tỉ lệ lao động có trình đọ chuyên môn, có khả năng thích ứng với các trang thiết bị công nghệ tiên tiến, đáp ứng được nhu cầu về lao động cho phát triển công nghiệp; hơn nữa những người lao động qua đào tạo sẽ có nhu cầu việc làm cao hơn, thu nhập cao hơn, khi đó nhu cầu tiêu dùng đối với các hàng hoá lâu bền và cao cấp tăng lên, kích thích các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển, tăng tỉ trọng trong cơ cấu nền kinh tế. Mặt khác, lao động được đào tạo sẽ tăng được năng suất lao động trong tất cả các ngành kinh tế; sự chuyển dịch cơ cấu lao động đặc biệt là chuyển dịch lao động sẽ không ảnh hưởng đến kết quả đầu ra của nông nghiệp. Do vậy, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực là giải pháp có tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng nguòn lao động. Đồng thời, trong thời gian tới cũng cần đào tạo nhanh nguồn nhân lực có chất lượng cao để có đủ số lượng, chất lượng đáp ứng yêu cầu phát triển từng ngành; các giải pháp cụ thể là: - Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo, trong đó chú trọng đến chất lượng phổ cập giáo dục tiểu học, trung học đúng độ tuổi. Từng bước thực hiện các chuẩn về chất lượng, nội dung chương trình, điều kiện cơ sở vật chất cho các cấp học và bậc học tương ứng với quá trình đổi mới chương trình nội dung giáo dục. Tăng cường đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục có trình độ, đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đảm bảo các yêu cầu về chuẩn đào tạo. Huy động và sử dụng mọi nguồn vốn cho giáo dục đào tạo nguồn nhân lực. - Đổi mới cơ cấu đào tạo theo ngành nghề và trình độ, đáp ứng nhu cầu nhân lực và nhu cầu cán bộ cơ sở. - Hoàn thiện và nâng cao chất lượng đào tạo tại trường Đại học Hùng Vương. Tăng cường mối quan hệ giữa đơn vị sử dụng lao động với cơ sở đào tạo và người lao động; đẩy mạnh hình thức đào tạo theo địa chỉ, đào tạo liên kết với các đơn vị, ngành Trung ương để tăng cường phương tiện, trang thiết bị, giảng viên cho đào tạo với trình độ, chất lượng cao nhằm thu hút nhu cầu đào tạo của các tỉnh trong vùng. - Hoàn thiện và mở rộng các trường, trung tâm dạy nghề. Tăng kinh phí đào tạo cho các trường và các trung tâm dạy nghề để đáp ứng yêu cầu phát triển nhân lực cho thời kì này nhằm tạo nên lực lượng lao động cần thiết cho sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh, góp phần giải quyết công ăn việc làm, nhất là cho thế hệ trẻ. Cần ưu tiên đào tạo nghề cho các ngành nghề mũi nhọn của tỉnh, tạo nên sự chuyển dịch lớn có chất lượng về lao động. - Giải quyết việc làm, sử dụng tối đa tiềm năng lao động ở nông thôn. Tăng cường đào tạo đội ngũ lao động có sức khoẻ, có kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, có tay nghề cao, năng động phù hợp với sản xuất hàng hoá và cơ chế thị trường. Ưu tiên đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc. Có chính sách thoả đáng nhằm thu hút cán bộ khoa học kĩ thuật, các chuyển gia giỏi, công nhân lành nghề, các nghệ nhân về tỉnh xây dựng kinh tế. - Chú trọng việc đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên lực lượng lao động hiện đang làm việc để thích ứng với những yêu cầu mới về nhân lực. Mặt khác phải đưa công nghiệp thu hút nhiều lao động về nông thôn, thực hiện phương châm “ly nông bất ly hương”, tổ chức tốt dạy nghề cho thanh niên nông thôn để đấy nhanh quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở nông thôn. - Thường xuyên tổ chức hội chợ việc làm để gắn kết giữa người lao động cần việc làm với nơi cần tuyển dụng, hình thành thị trường lao động trên địa bàn tỉnh. - Quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi về điều kiện ăn, ở, sinh hoạt cho người lao động, nhất là các lao động ở khu, cụm công nghiệp. 3. Mở rộng thị trường sản phẩm hàng hoá Sự gia tăng dân số, nhất là dân số đô thị sẽ làm thay đổi mức tiêu dùng xã hội, làm tăng sức mua của thị trường, tác động đến sản xuất. Dự báo, các khu công nghiệp, đô thị, du lịch ở Hà nội, Hải Phòng, Quảng Ninh sẽ là thị trường tiêu thụ nhiều nông lâm sản. Hiện nay nước ta đã xuất khẩu hàng hoá sang 119 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó thị trường tiêu thụ lớn là Nhật Bản, Mỹ và các nước EU…Tỉnh cần tận dụng những cơ hội này để mở rộng và phát triển không những thị trường trong tỉnh, ngoài tỉnh mà còn với thị trường khu vực và thế giới để tận dụng tối đa vị trí của tỉnh, thế mạnh các sản phẩm hàng hoá, tăng cường giao lưu kinh tế, ổn định thị trường truyền thống, thúc đẩy hơn nữa mở rộng thị trường mới… Giải pháp về thị trường hướng vào việc thúc đẩy sự gắn kết thị trường trong tỉnh với ngoài tỉnh và thị trường quốc tế. Vì vậy, Phú Thọ cần tiếp tục duy trì những thị trường truyền thống, những thị trường chủ yếu cũng như không ngừng mở rộng sang các thị trường mới. + Đối với thị trường truyền thống của tỉnh thì thường là những chợ nông thôn, nơi cung cấp những mặt hàng thiết yếu cần thiết phục vụ đời sống và sản xuất cho nhân dân. Đối với một tỉnh miền núi như Phú Thọ, thu nhập của dân cư còn thấp nên sức mua còn hạn chế thì càng cần phải duy trì và giữ vững các thị trường truyền thống, ổn định. Giải pháp cho phát triển thị trường này là: - Cần phát triển nhanh mạng lưới chợ đầu mối và mạng lưới chợ nông thôn, bình quân cứ 4-5 xã có 1 chợ lớn tiện cho nhân dân mua bán không phải đi xa ảnh hưởng đến sản xuất. - Hình thành nhanh các trung tâm thương mại huyện để thu mua hàng hoá sản xuất ra của huyện đưa đến các trung tâm lớn tiêu thụ, kể cả xuất khẩu ra nước ngoài và cung cấp kịp thời các hàng hoá cần thiết cho sản xuất, đời sống của huyện. + Đối với thị trường chủ yếu của Phú Thọ vẫn là thị trường tiêu thụ trên địa bàn tỉnh và một số các tỉnh thành khác. Thủ đô Hà nội là thị trường lớn về tiêu thụ nông lâm thuỷ sản, khoáng sản và các sản phẩm công nghiệp như giấy, hoá chất, phân bón mà công nghiệp Phú Thọ đang sản xuất. Ngoài ra phải kể đến các khu công nghiệp, đô thị, du lịch ở Hải Phòng, Quảng Ninh là thị trường tiêu thụ nhiều nông lâm thuỷ sản. Phú Thọ cần tận dụng những cơ hội này để chiếm lĩnh thị trường. Giải pháp để phát triển thị trường này là: - Duy trì và phát triển thương mại nhiều thành phần để lưu thông hàng hoá. Đẩy nhanh tiến độ hoàn thành trung tâm thương mại Việt Trì, thị xã Phú Thọ để làm tốt chức năng đầu mối giao lưu hàng hoá ra và vào của tỉnh - Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại đầu tư: Nội thương cần làm tốt khâu cung ứng và tiêu thụ hàng hoá trên địa bàn tỉnh; ngoại thương làm tốt chính sách thu mua xuất khẩu hàng hoá. Thực hiện đồng bộ các khâu tiếp thị, quảng cáo, thiết lập mạng lưới phân phối. + Thị trường mới sẽ mở ra nhiều triển vọng cho phát triển của nước ta trong đó có Phú Thọ về thu hút đầu tư và xuất khẩu hàng hóa. Nhất là khi nước ta thực hiện cam kết AFTA vào năm 2006 và hy vọng trở thành thành viên chính thức của WTO vào cuối năm 2006 thì việc cạnh tranh trở nên gay gắt hơn. Giải pháp cho thị trường này là: - Đẩy mạnh công tác nghiên cứu thị trường, tận dụng mọi khả năng để có thể tiếp cận với thị trường mới thông qua những đối tác trung gian. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực có thị trường tiêu thụ với số lượng ngày càng lớn thì phấn đấu nâng cao chất lượng, hạ giá thành như chè, giấy, giầy thể thao, sản phẩm may, sản phẩm dệt, sản phẩm dự án, mành trúc, mành gỗ...Đồng thời tích cực tăng thêm sản phẩm mới thì mới có thể đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và cạnh tranh được với các đối thủ khác. - Ngay từ bây giờ Phú Thọ phải triển khai đồng bộ từ sản xuất đến xây dựng thương hiệu quảng bá sản phẩm và đặc biệt chú ý đến yếu tố chất lượng và giá thành sản phẩm, có như thế mới mở rộng được thị trường tiêu thụ một cách bền vững. - Tăng cường liên kết kinh tế trong và ngoài tỉnh. Liên kết kinh tế được xác định như là một biện pháp quan trọng nhằm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hưóng “mở”, qua đó góp phần nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa trên thị trường. Các biện pháp liên kết kinh tế như gắn liền khâu cung ứng và tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, tổ chức các tuyến điểm du lịch giữa các tỉnh và trong nội tỉnh với nhau. IV. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỚI NHÀ NƯỚC (1). Đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với các Sở, các huyện, thị, thành trong tỉnh và sự tư vấn của Viện Chiến Lược Phát Triển- Bộ Kế hoạch và Đầu tư tiếp tục hoàn thành và chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Phú Thọ và qui hoạch phát triển ngành. (2). Đề nghị Chính phủ cho thực hiện chính sách chuyển đổi quyền sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp, nhằm thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn tỉnh. Thực hiện giao đất, khoán rừng cho người dân và cho các thành phần kinh tế. (3). Đề nghị Chính Phủ tiếp tục hỗ trợ ngân sách Nhà nước cho phát triển kinh tế -xã hội tỉnh, cũng như trong việc phát triển các ngành kinh tế địa phương. Đầu tư nâng cấp, xây dựng mới kết cấu hạ tầng giao thông qua tỉnh như quốc lộ số 2, quốc lộ 32A, 32B, quốc lộ 70... Tiếp tục thực hiện xóa đói giảm nghèo cho nhân dân các xã miền núi đặc biệt khó khăn, giúp người dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, áp dụng những phương thức canh tác tiên tiến. (4). Đề nghị Chính phủ và các Bộ, ngành tiếp tục hoàn thiện triển khai chiến lược phát triển kinh tế -xã hội vùng miền núi Bắc Bộ đến năm 2010 trong việc tập tng phát triển thuỷ điện, khai thác và chế biến khoáng sản, chế biến nông lâm sản, phát triển du lịch, xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu. Xây dựng thành phố Việt Trì, Thái Nguyên, Yên Bái, Lạng Sơn, Điện Biên Phủ là những trung tâm kinh tế -thương mại của vùng. Đây là cơ hội tốt để Phú Thọ đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế. š { › Như vậy, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ cần phải tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được thời kì 2001-2005, khắc phục những tồn tại và yếu kém, vượt qua thử thách của một tỉnh miền núi phía Bắc phấn đấu hoàn thành mục tiêu chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2006-2010. KẾT LUẬN Sau gần 10 năm kể từ ngày tách tỉnh đến nay Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ đã có nhiều cố gắng, phấn đầu vươn lên phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn, nền kinh tế-xã hội của tỉnh có nhiều khởi sắc, chuyển biến tích cực. Kinh tế có mức tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng dần tỉ trọng công nghiệp-dịch vụ, giảm dần tỉ trọng nông nghiệp; cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội được củng cố và xây dựng mới, năng suất lao động tăng, sản phẩm hàng hoá sản xuất ra có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu ngày càng phong phú của người tiêu dùng cũng như có khả năng cạnh tranh trên thị trường. Thu nhập bình quân đầu người tăng lên, đời sống nhân dân được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được đó vẫn tồn tại những khó khăn, hạn chế cần khắc phục khi bước vào thời kì phát triển mới. Chưa khai thác được hết tiềm năng thế mạnh của tỉnh, việc phân bố và sử dụng các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, kĩ thuật và phương thức sản xuất chưa hiệu quả, phân công lao động còn nhiều bất cập. Trên cơ sở đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch thời kì trước, tìm ra những nguyên nhân ảnh hưởng làm tiền đề cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch trong những thời kì tiếp theo. Do vậy cần phải có kế hoạch chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đồng thời đưa ra những giải pháp cụ thể chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế để có được một cơ cấu kinh tế hợp lí. Cùng với sự nỗ lực của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Phú Thọ thì trong thời kì 2006-2010 không những thực hiện tốt mà còn hoàn thành vượt mức kế hoạch. Đưa Phú Thọ trở thành tỉnh giàu, đẹp, xứng đáng với “đất tổ Hùng Vương”. Phụ lục 1: Tính toán các chỉ tiêu cơ cấu ngành theo GDP thời kì 2006-2010 Áp dụng phương pháp hồi qui theo tốc độ tăng trưởng kinh tế như đã nêu ở chương 1.Ta có các bảng tính sau: t t' = t-t0 t'- (t' - )^2 GDP(NN) LnGDP(NN) (t'-)LnGDP(NN) 2000 0 -2.5 6.25 1139 7.038 -17.595 2001 1 -1.5 2.25 1227 7.112 -10.668 2002 2 -0.5 0.25 1343 7.203 -3.601 2003 3 0.5 0.25 1544 7.342 3.671 2004 4 1.5 2.25 1646 7.406 11.109 2005 5 2.5 6.25 1707 7.442 18.606 Tổng 15 17.5 1.522 GDP(CN) LnGDP(CN) (t'-)LnGDP(CN) GDP(DV) LnGDP(DV) (t'-)LnGDP(DV) 1395 7.241 -18.102 1288 7.161 -17.902 1565 7.356 -11.033 1391 7.238 -10.857 1758 7.472 -3.736 1516 7.324 -3.662 1912 7.556 3.778 1727 7.454 3.727 2256 7.721 11.582 1965 7.583 11.375 2626 7.873 19.683 2322 7.750 19.375 Tổng 2.172 2.057 Ta có hệ số điều chỉnh và tốc độ tăng bình quân của các ngành thời kì 2006-2010 thể hiện trong bảng sau: Hệ số điều chỉnh k Tốc độ tăng trưởng () Nông nghiệp 0.087 0.091 Công nghiệp 0.124 0.132 Dịch vụ 0.117 0.125 Þ GDP và cơ cấu GDP của các ngành được thể hiện như trong bảng sau: Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 GDP 7411 8336 9332 10449 11704 Nông-lâm- thuỷ sản 1862 2032 2217 2418 2639 Công nghiệp–xây dựng 2973 3365 3809 4312 4881 Dịch vụ 2612 2939 3306 3719 4184 Cơ cấu 100 100 100 100 100 Nông-lâm- thuỷ sản 25.0 24.4 23.8 23.1 22.5 Công nghiệp–xây dựng 39.9 40.4 40.8 41.3 41.8 Dịch vụ 35.1 35.2 35.4 35.6 35.7 Chú thích:Đơn vị tính: GDP- tỷ đồng (giá thực tế), cơ cấu-% Phụ lục 2: Tính toán các chỉ tiêu cơ cấu lao động thời kì 2006-2010 Áp dụng phương pháp tính hệ số co giãn việc làm- GDP (el/g) như đã nêu ở chương 1, ta có các bảng tính sau: Bảng tính hệ số co giãn của lao động theo GDP cho ngành nông nghiệp Năm GDP(nn) VL(nn) LnVL(nn) (Y) LnGDP(nn) (X) X- (X-)2 Y(X-) 2000 1139 499.2 6.213 7.038 -0.219 0.048 -1.363 2001 1227 489.2 6.193 7.112 -0.145 0.021 -0.898 2002 1343 484.5 6.183 7.203 -0.055 0.003 -0.338 2003 1544 483.7 6.181 7.342 0.085 0.007 0.525 2004 1646 486.6 6.187 7.406 0.149 0.022 0.921 2005 1707 506.8 6.228 7.442 0.185 0.034 1.154 Tổng 43.544 36.286 0.136 0.001 Bảng tính hệ số co giãn của lao động theo GDP cho ngành công nghiệp Năm GDP(cn) VL(cn) LnVL(cn) (Y) LnGDP(cn) (X) X- (X-)2 Y(X-) 2000 1395 67 4.205 7.241 -0.296 0.087 -1.244 2001 1565 76.5 4.337 7.356 -0.181 0.033 -0.784 2002 1758 81 4.394 7.472 -0.065 0.004 -0.284 2003 1912 86.8 4.464 7.556 0.019 0.000 0.087 2004 2256 97.2 4.577 7.721 0.185 0.034 0.846 2005 2626 97.6 4.581 7.873 0.337 0.113 1.543 Tổng 45.219 0.272 0.164 Bảng tính hệ số co giãn của lao động theo GDP cho ngành dịch vụ Năm GDP(dv) VL(dv) LnVL(dv) (Y) LnGDP(dv) (X) X- (X-)2 Y(X-) 2000 1288 59 4.078 7.161 -0.257 0.066 -1.050 2001 1391 66.9 4.203 7.238 -0.181 0.033 -0.759 2002 1516 78.8 4.367 7.324 -0.095 0.009 -0.413 2003 1727 81.8 4.404 7.454 0.036 0.001 0.158 2004 1965 86.3 4.458 7.583 0.165 0.027 0.735 2005 2322 97.6 4.581 7.750 0.332 0.110 1.520 Tổng 44.510 0.246 0.191 Hệ số co giãn của lao động theo GDP và tốc độ tăng lao động trong các ngành Ngành Hệ số co giãn el/g Tốc độ tăng VL (vl) Nông-lâm-thuỷ sản -0.002 -0.0002 Công nghiệp-xây dựng 0.613 0.0810 Dịch vụ 0.777 0.0971 Þ Bảng tính các chỉ tiêu về lao động theo ngành thời kì 2006-2010 tỉnh Phú Thọ Chỉ tiêu 2006 2007 2008 2009 2010 Số lao động làm việc trong các ngành kinh tế 719.3 738.2 758.7 781.1 805.6 Nông-lâm-thuỷ sản 506.7 506.6 506.6 506.5 506.4 Công nghiệp-xây dựng 105.5 114.0 123.3 133.3 144.0 Dịch vụ 107.1 117.5 128.9 141.4 155.1 Cơ cấu 100 100 100 100 100 Nông-lâm-thuỷ sản 70.4 68.6 66.8 64.8 62.9 Công nghiệp-xây dựng 14.7 15.4 16.2 17.1 17.9 Dịch vụ 14.9 15.9 17.0 18.1 19.3 Chú thích: Đơn vị tính: lao động- nghìn người, cơcấu: % Phụ lục 3: Tính toán các chỉ tiêu về cơ cấu vốn đầu tư thời kì 2006-2010 Áp dụng mô hình tăng trưởng đầu tư của Harrod-Domar, ta có thể suy ra tỉ lệ đầu tư trong GDP kì gốc là i0 = k (gK + ¶0). Theo số liệu thống kê hệ số khấu hao kì gốc là 2% và hệ số ICOR của nông nghiệp là 3, của công nghiệp và dịch vụ là 4,5. Với tốc độ tăng trưởng kì kế hoạch (2006-2010) đã tính như ở phụ lục 1. Ta tính được tỉ lệ đầu tư trong GDP kì gốc của các ngành như trong bảng sau: Ngành Tốc độ tăng trưởng () Tỉ lệ đầu tư (i0) Nông-lâm-thuỷ sản 0.091 0.333 Công nghiệp 0.132 0.608 Dịch vụ 0.125 0.605 Xác định được nhu cầu vốn đầu tư của các ngành theo công thức: I= i0 x GDP, ta có kết quả tính ở bảng sau: 2006 2007 2008 2009 2010 Tổng Nhu cầu VĐT 3807 4163 4482 5027 5648 23126 N-L-TS 698 765 833 905 995 4194 CN-XD 1562 1764 1998 2264 2561 10148 DV 1710 1472 1652 1859 2093 8784 Cơ cấu VĐT 100 100 100 100 100 100 N-L-TS 18.3 18.4 18.6 18.0 17.6 18.1 CN-XD 41.0 42.2 44.6 45.0 45.3 43.9 DV 40.9 35.2 36.8 37.0 37.1 38.0 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Văn kiện đại hội Đảng IX- Nhà xuất bản chính trị quốc gia 2001 2. Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội tỉnh Phú Thọ đến năm 2020- Viện Chiến Lược Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 3. Báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ - Viện Chiến Lược Phát triển. 4. Báo cáo kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội thời kì 2006-2010 tỉnh Phú Thọ - Viện Chiến Lược Phát triển. 5. TS. Ngô Thắng Lợi. Giáo trình kế hoạch hoá phát triển kinh tế-xã hội – NXB Thống Kê Hà nội 2002 6. Cục thống kê tỉnh Phú Thọ. 7. Tổng cụ thống kê (2005), Niên giám thống kê (2005), Nhà xuất bản Thống Kê. 8. Giáo trình Kinh tế Phát triển - Khoa KH& PT - ĐHKTQD Hà nội. 9. Qui hoạch phát triển kinh tế-xã hội: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn- Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà nội 2004 10. TS. Lê Huy Đức. Một số vấn đề lí luận và phương pháp hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội - NXB Thống Kê 2005. 11. Các tài liệu tham khảo khác. MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan, đề tài này là kết quả nghiên cứu nghiêm túc của riêng em. Các số liệu, thông tin là trung thực được cập nhật tại cơ quan thực tập và một số phương tiện khác. Tác giả luận văn CAO THỊ ÁNH LêI C¶M ¥N §Ó hoµn thµnh b¶n luËn v¨n nµy, tr­íc tiªn em xin ®­îc göi lêi c¶m ¬n ®Õn c¸c thÇy c« gi¸o tr­êng ®¹i häc Kinh tÕ Quèc D©n – Hµ néi ®· trang bÞ cho chóng em hoµn thµnh kiÕn thøc c¬ së. §Æc biÖt, em xin ®­îc bµy tá lßng biÕt ¬n s©u s¾c ®Õn thÇy gi¸o: PGS. TS. Ng« Th¾ng Lîi – gi¸o viªn khoa KÕ ho¹ch vµ Ph¸t TriÓn – Tr­êng §¹i häc Kinh TÕ Quèc D©n Hµ Néi ®· trùc tiÕp gióp ®ì em hoµn thµnh luËn v¨n nµy. Em còng xin ®­îc göi lêi c¶m ¬n ®Õn c¸n bé TS. Cao Ngäc L©n – c¸n bé ViÖn ChiÕn L­îc Ph¸t TriÓn ®· h­íng dÉn em trong suèt thêi gian thùc tËp t¹i c¬ quan. §ång thêi, t«i còng xin ®­îc göi lêi c¶m ¬n ®Õn c¸c b¹n ®· gióp ®ì t«i hoµn thµnh luËn v¨n nµy. DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CDCC Chuyển dịch cơ cấu N-L-TS Nông-lâm- thuỷ sản CNXD Công nghiệp- xây dựng DV Dịch vụ VĐT Vốn đầu tư LĐ Lao động KT Kinh tế GTNT Giao thông nông thôn DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Stt Danh mục bảng trang 1 Bảng 2.1: Chỉ tiêu kế hoạch cơ cấu ngành thời kì 2001-2005 37 2 Bảng 2.2. Cơ cấu kinh tế tỉnh Phú Thọ thời kì2001-2005 38 3 Bảng 2.3: Tăng trưởng kinh tế thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ 40 4 Bảng 2.4 : Thực hiện CDCC theo VĐT thời kì 2001-2005 41 5 Bảng 2.5: Cơ cấu lao động thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ 43 6 Bảng 2.6: Cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Phú Thọ thời kì 2001-2005 45 7 Bảng 2.7: Cơ cấu ngành công nghiệp-xây dựng thời kì 2001-2005 48 8 Bảng 2.8: Cơ cấu ngành công nghiệp chế biến thời kì 2001-2005 49 9 Bảng 2.9: Một số kết quả đạt được từ hoạt động DV thời kì 2001-2005 51 10 Bảng 2.10: So sánh cơ ngành kinh tế tỉnh với các tỉnh bạn và cả nước 53 11 Bảng 3.1: Chỉ tiêu cơ cấu ngành theo GDP thời kì 2006-2010 63 12 Bảng 3.2: Cơ cấu VĐT cho các ngành thời kì 2006-2010 64 13 Bảng 3.3: Chỉ tiêu kế hoạch lao động thời kì 2006-2010 tỉnh Phú Thọ 65 14 Bảng 3.4: Cơ cấu VĐT theo nguồn thời kì 2006-2010 72 Danh mục các biểu đồ 15 Hình 1: Cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ 39 16 Hình 2: Tăng trưởng kinh tế thời kì 2001-2005 tỉnh Phú Thọ 40 17 Hình 3: Cơ cấu ngành kinh tế thời kì 2006-2010 tỉnh Phú Thọ 63 18 Hình 4: Cơ cấu vốn đầu tư thời kì 2006-2010 64 19 Hình 5: Cơ cấu lao động thời kì 2006-2010 65 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29480.doc
Tài liệu liên quan