Kế hoạch thu ngân sách nhà n ước năm 2006 -2010

Lời Mở Đầu Sự thành công lớn trong công cuộc đổi mới mà trước hết là đổi mới trên lĩnh vực kinh tế đã không chỉ góp phần phát triển các ngành nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ mà còn giúp nguồn thu NSNN tăng mạnh. Việc chủ động xây dựng cơ cấu thu một các khoa học và hợp lý được xem là chìa khoá tạo nên sự bền vững cho sự phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong giai đoạn hiện nay. Giai đoạn mà chúng ta đã và đang hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu với nhiều thời cơ và thách thức. Qu

doc41 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1388 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Kế hoạch thu ngân sách nhà n ước năm 2006 -2010, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a hơn hai thập kỷ với nhiều biến chuyển sâu sắc trong chính sách tài chính nói chung và thu NSNN nói riêng đã đạt được kết quả đáng khích lệ cả về quy mô và tỷ trọng. Với kết quả thu được đó, NSNN không những đáp ứng nhu cầu chi thường xuyên mà còn dành được một phần dự trữ tài chính. Điều này xuất phát từ chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đúng đắn kết hợp với việc sử dụng có hiệu quả các công cụ và các định chế tài chính, đặc biệt là NSNN. Chính phủ đã có những giải pháp khá mạnh mẽ về cải cách cơ cấu thu ngân sách nhằm hỗ trợ cho các định hướng chính sách của mình. Các điều chỉnh đã được tiến hành từng bước trong 20 năm qua cùng tiến trình đổi mới. Tuy nhiên, do công tác lập kế hoạch và các giải pháp thực hiện chưa thật sự rõ ràng và thực tế ở từng giai đoạn, từng thời kỳ, chưa xác định rõ được ở những giai đoạn nào thì ưu tiên phát triền nguồn thu nào trong cơ cấu thu NSNN. Chẳng hạn như công tác phân loại thuế - nguồn thu chủ yếu cho NSNN lại chưa được chú trọng nên chúng ta chưa có những bước đi chiến lược rõ ràng để khai thác thế mạnh của từng loại thuế trong từng thời kỳ. Bên cạnh đó cơ cấu thu NSNN còn nhiều điểm bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của đất nước cũng như xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy cần có sự quan tâm đúng mức và đánh giá nhìn nhận một cách nghiêm túc về vấn đề này. Bài viết của chúng em chỉ xin được đề cập đến “kế hoạch thu NSNN năm 2006 -2010”. Trong đó đi sâu phân tích tình hình thu NSNN năm 2006 -2007 và giải pháp tài chính nhằm thực hiện nhiệm vụ thu NSNN những năm còn lại. I.Khái luận về thu NSNN (Những điều cơ bản cần biết về thu NSNN): 1.Khái niệm về thu NSNN: Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Trong đó,thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. 2.Phân loại thu NSNN: a.Phân theo cấp thu NSNN: Thu ngân sách nhà nước gồm thu ngân sách trung ương và thu ngân sách địa phương. a.1.Nguồn thu của ngân sách trung ương gồm: Các khoản thu ngân sách trung ương hưởng 100%: Thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu; Thuế xuất khẩu thuế nhập Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng hóa nhập khẩu; Thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành; Các khoản thuế và thu khác từ dầu, khí theo quy định của Chính phủ; Tiền thu hồi vốn của ngân sách trung ương tại các tổ chức kinh tế, thu hồi tiền cho vay của ngân sách trung ương (cả gốc và lãi), thu từ quỹ dự trữ tài chính của trung ương, thu nhập từ vốn góp của Nhà nước; Viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài cho Chính phủ Việt Nam; Các khoản phí, lệ phí nộp vào ngân sách trung ương; Thu kết dư ngân sách trung ương; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương: Thuế giá trị gia tăng, không kể thuế giá trị gia tăng hàng hóa nhập khẩu quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; Thuế thu nhập doanh nghiệp, không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành quy định tại điểm d khoản 1 Điều này; Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí quy định tại điểm đ khoản 1 Điều này; Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước; Phí xăng, dầu. a.2 Nguồn thu của ngân sách địa phương gồm: Các khoản thu ngân sách địa phương hưởng 100%: Thuế nhà, đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế sử dưng đất nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất; Tiền cho thuê và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động xổ số kiến thiết; Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; Các khoản phí, lệ phí, thu từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công an khác; Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước; Thu kết dư ngân sách địa phương theo quy định tại Điều 63 của Luật này; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; Các khoản thu phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương ( đã nói ở trên). Thu NSNN của trung ương với địa phương có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.Trong đó: -Thu ngân sách trung ương giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia và hỗ trợ những địa phương chưa cân đối được thu ngân sách; - Thu ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu bảo đảm chủ động trong thực hiện những nhiệm vụ được giao; tăng cường nguồn lực cho ngân sách xã. Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) quyết định việc phân cấp nguồn thu, giữa ngân sách các cấp chính quyền địa phương phù hợp với phân cấp quản lý kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và trình độ quản lý của mỗi cấp trên địa bàn. b.Phân theo nguồn thu : Thu ngân sách nhà nước gồm: 1. Thuế do các tổ chức, cá nhân nộp theo quy định của pháp luật. 2. Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ các khoản phí, lệ phí. 3. Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước theo quy định của pháp luật, gồm: Tiền thu hồi vốn của Nhà nước tại các cơ sở kinh tế, Thu hồi tiền cho vay của Nhà nước (cả gốc và lãi); Thu nhập từ vốn góp của Nhà nước vào các cơ sở kinh tế, kể cả thu từ lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ về thuế của các tổ chức kinh tế có sự tham gia góp vốn của Nhà nước theo quy định của Chính phủ. 4. Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các hoạt động sự nghiệp. 5. Tiền sử dụng đất; thu từ hoa lợi công sản và đất công ích. 6. Tiền cho thuê đất, thuê mặt nước. 7. Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật. 8. Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước. 9. Thu từ huy động vốn đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng 10. Phần nộp ngân sách nhà nước theo quy định của pháp luật từ tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước. 11. Các khoản viện trợ không hoàn lại của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước cho Chính phủ Việt Nam, các tổ chức nhà nước thuộc địa 12. Thu từ Quỹ dự trữ tài chính 13. Thu kết dư ngân sách theo quy định tại 14. Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, gồm: Các khoản di sản nhà nước được hưởng; Phần nộp ngân sách theo quy định của pháp luật từ các khoản phạt, tịch thu; Thu hồi dự trữ nhà nước; Thu chênh lệch giá, phụ thu; đ) Thu bổ sung từ ngân sách cấp trên; Thu chuyển nguồn ngân sách từ ngân sách năm trước chuyển sang; Các khoản thu khác. Nếu phân theo các nguồn thu cho thu NSNN này thì có thể thấy thuế đóng vai trò quan trọng nhất vào tổng thu NSNN .Đồng thời,Luật quản lý thuế của QH khoá XI kỳ họp 10 số 78/2006QH11 ngày 29/11/2006 của nước ta khẳng định luôn và ngay trong Điều 4- Nguyên tắc quản lý thuế:Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước. Nộp thuế theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ và quyền lợi của mọi tổ chức, cá nhân. II.Thực trang việc thu NSNN từ 2006-2007: 1.Thực trạng thu NSNN năm 2006: Tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 47/2005/QH11 về dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2006 với tổng số thu cân đối NSNN 237.900 tỷ đồng; tổng số chi cân đối NSNN 294.400 tỷ đồng (bao gồm 8.000 tỷ đồng chi từ số thu chuyển nguồn năm 2005 sang năm 2006); bội chi NSNN 48.500 tỷ đồng, bằng 5% GDP. Nhiệm vụ thu NSNN năm 2006 được thực hiện trong điều kiện có nhiều thuận lợi: nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đạt nhiều kết quả quan trọng... Bên cạnh đó, phát sinh nhiều khó khăn, thách thức: thời tiết diễn biến không thuận lợi, gây khó khăn cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của nhân dân; dịch cúm gia cầm chưa thể khống chế triệt để vẫn có nguy cơ tái dịch cao, dịch lở mồm long móng gia súc bùng phát và diễn biến khó lường; giá xăng dầu và một số nguyên liệu quan trọng trên thị trường thế giới biến động lớn, tạo áp lực tăng giá nguyên liệu đầu vào trong nước, tác động xấu đến hiệu quả sản xuất - kinh doanh và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tuy nhiên, với sự nỗ lực phấn đấu của các ngành, các cấp, các doanh nghiệp và ngành tài chính trong việc thực hiện các biện pháp cấp bách để khống chế dịch bệnh, hỗ trợ kịp thời giảm thiểu tác hại của thiên tai, sử dụng đồng bộ các giải pháp ổn định giá cả, tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn NSNN, chống lãng phí, thất thoát,... đã thực hiện vượt mức chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội và tài chính thu NSNN năm 2006. Về mặt tổng quát,dự toán thu cân đối NSNN 237.900 tỷ đồng; thực hiện cả năm ước đạt 264.260 tỷ đồng, vượt 11,1% (26.360 tỷ đồng) so dự toán năm, tăng 21,7% so với thực hiện năm 2005. Trong đó, thu nội địa ước đạt 137.539 tỷ đồng, vượt 4,2% (5.539 tỷ đồng) so dự toán, tăng 19,4% so với thực hiện năm 2005; thu từ dầu thô ước đạt 80.085 tỷ đồng, vượt 26,3% (16.685 tỷ đồng) so dự toán, tăng 30,1% so với thực hiện năm 2005; thu cân đối từ hoạt động xuất- nhập khẩu ước đạt 42.900 tỷ đồng, vượt 7,2% (2.900 tỷ đồng) so dự toán, tăng 12,9% so với thực hiện năm 2005. Cụ thể như sau: 1.1  Thu nội địa (không kể thu từ dầu thô): dự toán 132.000 tỷ đồng, ước cả năm 137.539 tỷ đồng. Ngay từ đầu năm, các ngành, các cấp đã quan tâm đến công tác quản lý thu thuế, tổ chức thực hiện quyết liệt, tăng cường đôn đốc thu nợ đọng, thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra thu nộp ngân sách; hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc chế độ kê khai, nộp thuế thu nhập doanh nghiệp... Nhờ vậy, quá trình thực hiện mặc dù chịu nhiều tác động của các yếu tố bất lợi, song kết quả thu NSNN nói chung và một số khoản thu quan trọng nói riêng cơ bản vẫn đạt và vượt dự toán. Trong đó: 1.1.1 Khu vực kinh tế quốc doanh thực hiện nộp NSNN ước đạt 46.119 tỷ đồng, tăng 9,2% (3.876 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 18,5% so thực hiện năm 2005, chiếm 17,5% tổng thu NSNN. Trong điều kiện giá nguyên nhiên liệu nhập khẩu đầu vào thiết yếu (xăng dầu, phôi thép, clinke...) tăng mạnh làm tăng chi phí sản xuất, giảm tích luỹ, song nhờ từng bước cải tiến quy trình sản xuất, tiết kiệm chi phí, đồng thời phát huy được lợi thế để phát triển, nhiều Tập đoàn, Tổng Công ty đã phấn đấu thực hiện tốt nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh và hoàn thành vượt mức nhiệm vụ thu nộp NSNN năm 2006 được giao.  Trong năm 2006, các Bộ, địa phương, các Tổng công ty và Tập đoàn kinh tế đã tập trung rà soát, điều chỉnh phương án sắp xếp lại DNNN. Bên cạnh đó, sự khởi sắc của thị trường chứng khoán, cùng với những sửa đổi về chính sách thu hút đầu tư trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán cũng là các động lực khuyến khích nhiều DNNN nhanh chóng hoàn thành việc sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp. Ước cả năm 2006 có trên 500 doanh nghiệp và bộ phận DNNN thực hiện cổ phần hoá, sắp xếp lại (trong đó cổ phần hoá khoảng 300 doanh nghiệp, đạt 45,5% kế hoạch đã phê duyệt cho 2 năm 2006-2007). Phần lớn các DNNN sau cổ phần hoá đều phát triển, mở rộng được hoạt động sản xuất-kinh doanh. Tuy nhiên, nhìn chung hiệu quả và khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của nhiều DNNN còn hạn chế. 1.1.2 Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: năm 2006, tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp phép mới và tăng thêm ước trên 10 tỷ USD. Tuy nhiên, hoạt động của khu vực này trong năm 2006 bị tác động lớn chủ yếu do lượng tiêu thụ ô tô lắp ráp trong nước giảm mạnh, dẫn đến thu NSNN từ khu vực này ước đạt 24.218 tỷ đồng, chỉ bằng 87,1% (giảm 3.589 tỷ đồng) so với dự toán; song số thu vẫn tăng 26,9% so với thực hiện năm 2005, chiếm 9,2% tổng thu NSNN. 1.1.3 Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh: thực hiện nộp ngân sách cả năm ước đạt 21.880 tỷ đồng, tăng 6,0% (1.230 tỷ đồng) so dự toán, tăng 29,3% so với thực hiện năm 2005. Năm 2006 có khoảng 127 nghìn tỷ đồng vốn của dân cư và tư nhân đầu tư vào nền kinh tế, chiếm 32,5% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động, thực hiện xoá đói giảm nghèo. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh cũng là khu vực có tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp cao nhất, đạt 21% (so với của khu vực doanh nghiệp nhà nước là 9,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 18,6% và tốc độ tăng chung của các khu vực là 17%). 1.1.4 Việc huy động nguồn lực từ nhà, đất: Năm 2006 thị trường bất động sản kém sôi động, giá giảm, song nhờ chủ động làm tốt công tác đấu giá đất và tăng cường đôn đốc các khoản tồn đọng trong xử lý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nên nhiều địa phương vẫn đảm bảo đạt và vượt dự toán năm về thu tiền sử dụng đất; tính chung cả nước, năm 2006 thu tiền sử dụng đất đạt 15.051 tỷ đồng, tăng 1.051 tỷ đồng so với dự toán. Tổng hợp số thu về nhà và đất ước đạt 19.702 tỷ đồng, tăng 18,3% (3.052 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 15,3% so với thực hiện năm 2005. 1.1.5 Tình hình thực hiện thu nội địa tại các địa phương: cấp uỷ và chính quyền các cấp ở địa phương đã tích cực triển khai các giải pháp để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2006, trong đó đặc biệt chú trọng tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tăng nguồn thu cho ngân sách. Bên cạnh đó, công tác quản lý thu thuế cũng được chính quyền địa phương coi trọng, tập trung chỉ đạo các lực lượng chức năng phối hợp với cơ quan quản lý thu tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Nhờ vậy, nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện thu nội địa ước đạt và vượt dự toán năm 2006 Thủ tướng Chính phủ giao. 1.2  Thu từ dầu thô: dự toán 63.400 tỷ đồng, ước cả năm đạt 80.085 tỷ đồng, tăng 26,3% (16.685 tỷ đồng) so dự toán. Sau khi liên tiếp tăng trong 9 tháng đầu năm, từ tháng 10/2006, giá dầu thô thế giới liên tục giảm, nhưng tính bình quân cả năm, giá dầu thô xuất khẩu đạt 506 USD/tấn (tương đương 66 USD/thùng), tăng 71,2 USD/tấn (9,3 USD/thùng) so với mức giá dự toán. Sản lượng dầu thô thanh toán cả năm chỉ đạt 16,7 triệu tấn, giảm 1,8 triệu tấn so với dự kiến đầu năm. 1.3  Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: dự toán 40.000 tỷ đồng, ước cả năm đạt 42.900 tỷ đồng, tăng 7,2% (2.900 tỷ đồng) so với dự toán. Năm 2006, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá ước đạt 44,9 tỷ USD, tăng 21,4% so với thực hiện năm 2005. Trong cơ cấu hàng nhập khẩu năm 2006, máy móc thiết bị và hầu hết các vật tư, nguyên liệu cho sản xuất trong nước đều tăng so với năm trước, trong đó: nhập khẩu máy móc, thiết bị tăng 24,1%; xăng dầu tăng 16,4%, phân bón tăng 5,1%, chất dẻo tăng 26,8%, hoá chất tăng 18,6%, giấy các loại tăng 30,5%, vải tăng 23,1%,... Thuế suất của nhiều mặt hàng trong biểu thuế nhập khẩu được điều chỉnh giảm theo các cam kết hội nhập; thuế suất đối với xăng dầu nhập khẩu cũng được điều chỉnh linh hoạt theo diễn biến thực tế, góp phần ổn định thị trường nội địa trong điều kiện giá thế giới tăng cao. Việc thực hiện hoàn thuế giá trị gia tăng về cơ bản đảm bảo chặt chẽ, đúng chế độ quy định, phù hợp với kim ngạch xuất khẩu thực tế. Bên cạnh đó, việc thực hiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí. Đồng thời, đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan; chống buôn lậu, gian lận thương mại; sử dụng tham vấn giá đối với chủng loại hàng hoá tương đương trên thị trường thế giới để đấu tranh chống trốn thuế qua giá nhập khẩu, nhất là đối với nhập khẩu mặt hàng ô tô cũ, đồ điện tử, máy tính.v.v. 1.4  Thu viện trợ không hoàn lại: dự toán 2.500 tỷ đồng, ước thực hiện đạt 3.618 tỷ đồng, tăng 44,7% (1.118 tỷ đồng) so dự toán năm. Tóm lại, thu NSNN năm 2006, ước cả năm đạt 264.260 tỷ đồng, vượt 11,1% so với dự toán, chủ yếu do yếu tố tăng thu từ dầu thô do tăng giá bán; thu nội địa và thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đều đạt và vượt dự toán, một mặt do phát triển sản xuất - kinh doanh, mặt khác do yếu tố và điều chỉnh thuế suất thuế nhập khẩu xăng và tăng cường quản lý thu, chống thất thu, nợ đọng thuế... Tỷ lệ động viên vào NSNN đạt 23,0% GDP, trong đó thuế, phí đạt 21,2% GDP[1], đạt mức động viên theo Nghị quyết của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 (kể cả yếu tố tăng thu dầu thô do tăng giá, thì tỷ lệ động viên NSNN năm 2006 đạt 27% GDP). Về cơ cấu, thu nội địa chiếm 52% tổng thu NSNN; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 16,2%, thu từ dầu thô chiếm 30,3%. Cơ cấu thu đã chuyển dịch dần theo hướng tích cực hơn, tăng dần tỷ trọng thu từ nội bộ nền kinh tế Đánh giá về việc thực hiện thu NSNN năm 2006:  Đánh giá về tình hình thực hiện thu ngân sách Nhà nước năm 2006, theo Báo cáo của Chính phủ, ước thu ngân sách Nhà nước năm 2006 đạt 258.600 tỷ đồng, tăng 8,7% so với dự toán năm và tăng 19,1% so với thực hiện của năm 2005. Chúng em cho rằng, đây là cố gắng lớn của các cấp, các ngành trong việc lập dự toán và huy động các nguồn thu vào ngân sách Nhà nước. So với các năm trước, việc lập dự toán ngân sách Nhà nước năm 2006 tương đối sát với tình hình thực tế của các nguồn thu. Tạo điều kiện cho các cấp ngân sách chủ động bố trí điều kiện đảm bảo trong việc thực hiện các nhiệm vụ chi ngay từ đầu năm. Điều này đã góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội của mỗi địa phương và của cả nước.  Tuy nhiên, nguồn thu ngân sách còn thiếu ổn định và chưa bền vững, nguồn thu từ sản xuất kinh doanh còn chiếm tỷ lệ thấp chỉ chiếm 43% so với tổng thu ngân sách Nhà nước. Các nguồn thu từ khai thác tài nguyên như dầu thô, bán đất đai và xổ số kiến thiết là những nguồn thu thiếu ổn định, còn chiếm tỷ trọng cao.... Ngoài ra,tỷ lệ ngân sách tập trung ở Trung ương còn rất cao, cụ thể các nguồn ngân sách phân bổ ở Trung ương chiếm 64,1%, trong khi của địa phương chỉ có 35,9%.Nếu theo đà này thì việc phân bổ ngân sách chỉ tập trung ở Trung ương. Trong khi đó, một bộ phận ngân sách này bị chuyển xuống các địa phương cho các dự án tại địa phương. Với cách đi vòng vèo này, dễ nảy sinh nảy sinh cơ chế “xin- cho”. Các đại biểu đề nghị cần phân bổ ngân sách nhiều hơn cho các địa phương quản lý. Các dự án tại địa phương thì nên phân bổ ngân sách cho địa phương, còn Trung ương các Bộ, ngành quản lý về tầm chiến lược.  Và chúng em cho rằng, việc dựa vào tổng thu ngân sách của từng địa phương để phân bổ lại cho các địa phương còn nhiều điểm chưa công bằng, hợp lý. Chẳng hạn như trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, đầu tư trở lại mà dựa vào tổng thu theo cách đánh giá như vậy là không công bằng.  Chúng em cũng muốn nhấn mạnh đến việc thu, nợ đọng thuế, bởi hiện tại số nợ, đọng thuế còn rất lớn. Chúng em thiết nghĩ Chính phủ nên kiên quyết chỉ đạo truy thu số thuế nợ đọng, không để phát sinh nợ mới, phối hợp chặt chẽ với các ngành hải quan ở Trung ương, địa phương để thu hồi các khoản này cho ngân sách Nhà nước. Tóm lại,  nhiệm vụ thu NSNN năm 2006 đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo đà thuận lợi để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 theo Nghị quyết của Quốc hội: thu ngân sách vượt 11,1% so với dự toán, tăng 21,7% so với năm trước, cơ cấu thu có chuyển biến theo hướng tích cực.Trên cơ sở dự toán, dự phòng và tăng thu NSNN trong năm đã bố trí tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển, bổ sung kinh phí thực hiện những nhiệm vụ quan trọng về quốc phòng, an ninh, phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội, tăng kinh phí khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo kinh phí thực hiện cải cách tiền lương và chế độ đối với người có công với cách mạng, gia đình chính sách; tiếp tục thực hiện bù lỗ kinh doanh các mặt hàng dầu góp phần ổn định giá cả sản xuất và tiêu dùng trong nước. Tuy vậy, thu NSNN năm 2006 vẫn còn nhiều điều bất cập cần được sửa đổi cho thu NSNN năm 2007 tới này. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC  Đơn vị : Tỷ đồng Stt Nội dung DT 2006 ƯTH 2006 DT 2007 A B 1 2 3 A   THU CÂN ĐỐI NSNN 237,900 264,260 281,900 I   Thu nội địa 132,000 137,539 151,800 1   Thu từ kinh tế quốc doanh 42,243 46,119 53,954 2   Thu từ DN có vốn ĐTNN (không kể dầu thô) 27,807 24,218 31,041 3   Thuế CTN và dịch vụ ngoài QD 20,650 21,880 27,667 4   Thuế sử dụng đất nông nghiệp 85 120 81 5   Thuế thu nhập đối với người có TN cao 5,100 5,181 6,119 6   Lệ phí trước bạ 3,200 3,363 3,750 7   Thu xổ số kiến thiết 5,450 6,124 0 8   Thu phí xăng dầu 4,850 3,984 4,693 9   Các loại phí, lệ phí 3,550 4,024 3,885 10   Các khoản thu về nhà, đất 16,650 19,702 18,143  - Thuế nhà đất 490 592 584  - Thuế chuyển quyền sử dụng đất 840 1,250 1,249  - Thu tiền thuê đất 690 1,259 967  - Thu tiền sử dụng đất 13,500 15,051 14,500  - Thu bán nhà ở thuộc sở hữu NN 1,130 1,549 843 11   Thu khác ngân sách 1,760 2,160 1,804 12   Thu quỹ đất công ích, hoa lợi công sản tại xã 655 666 663 II   Thu từ dầu thô 63,400 80,085 71,700 III   Thu cân đối ngân sách từ hoạt động XNK 40,000 42,900 55,400 1   Tổng số thu từ hoạt động XNK 56,000 60,937 69,900  - Thuế XNK và TTĐB hàng nhập khẩu 22,000 26,296 23,800  - Thuế GTGT hàng hoá NK 34,000 34,641 46,100  - Chênh lệch giá hàng nhập khẩu 0 0 2   Hoàn thuế GTGT và k.phí q.lý thu thuế 16,000 18,037 14,500 IV   Thu viện trợ 2,500 3,618 3,000 V   Thu từ quỹ dự trữ tài chính 118 VI   Thu huy động đầu tư theo K3 Đ8 Luật NSNN B   THU CHUYỂN NGUỒN 8,000 8,617 19,000 C   THU QUẢN LÝ QUA NSNN 22,169 19,791 32,616 D   VAY VỀ CHO VAY LẠI 12,200 14,050 11,650 TỔNG CỘNG (A+B+C+D) 280,269 306,718 345,166 2.Thực trạng thu NSNN 2007: Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XI đã thông qua Nghị quyết số 68/2006/QH11 về dự toán ngân sách nhà nước (NSNN) năm 2007 với: tổng số thu cân đối ngân sách là 281.900 tỷ đồng; tổng số chi cân đối ngân sách là 357.400 tỷ đồng; trên cơ sở sử dụng 19.000 tỷ đồng thu kết chuyển năm 2006 sang năm 2007, bội chi NSNN năm 2007 là 56.500 tỷ đồng, bằng 5% GDP. Đồng thời,Quốc hội cũng đã xác định được mục tiêu tổng quát của NSNN cũng như việc thu NSNN: Góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP trên 8,2%; phát triển tiềm lực tài chính quốc gia tăng về quy mô, hợp lý về cơ cấu và sử dụng có hiệu quả; tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, tăng nguồn lực đầu tư cho phát triển con người, trong đó tập trung cho phát triển giáo dục đào tạo, văn hoá, y tế...; đẩy nhanh hơn lộ trình cải cách tiền lương; thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ trả nợ đến hạn, đảm bảo nguồn kinh phí hỗ trợ các chính sách xã hội của đất nước, góp phần đẩy nhanh xoá đói, giảm nghèo; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; tăng cường quyền tự chủ ngân sách đi đôi với việc thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, thất thoát và chống tham nhũng.Và quan trọng là đã đưa ra được nhiệm vụ trọng tâm cho thu NSNN 20007:đảm bảo mức động viên vào NSNN hợp lý, tăng nhanh tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN; tập trung tổ chức thực hiện thu đúng, đủ, kịp thời theo các luật thuế nhằm động viên hợp lý, vừa khuyến khích sản xuất - kinh doanh phát triển, vừa đảm bảo nguồn lực thực hiện nhiệm vụ quan trọng phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện hội nhập quốc tế, chủ động ứng phó với những tác động của thị trường giá cả trong và ngoài nước; đồng thời đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính, thủ tục hải quan, mở rộng cơ chế tự khai, tự nộp, tăng trách nhiệm người nộp thuế và cơ quan thu; tăng cường kiểm tra, chống thất thu, nợ đọng, tạo môi trường thuận lợi, bình đẳng cho mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Dự toán NSNN năm 2007 được triển khai thực hiện trong điều kiện có nhiều thuận lợi: năng lực nội tại của nền kinh tế đã có bước phát triển mới; sự ổn định về chính trị, cùng với những đổi mới quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước sau cuộc bầu cử Quốc hội khoá XII; quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong nước. Bên cạnh đó, năm 2007 cũng phát sinh nhiều khó khăn, thách thức: thiên tai (hạn hán, lũ lụt, bão...) xảy ra trên phạm vi rộng, gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân; dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng ở gia súc, dịch tai xanh ở lợn bùng phát ở nhiều địa phương; giá thế giới của một số nguyên nhiên liệu đầu vào quan trọng của nền kinh tế (xăng dầu, sắt thép..) biến động phức tạp, giá cả hàng hoá tiêu dùng trong nước tăng cao so với những năm trước, tác động tiêu cực nhiều mặt đến sản xuất và đời sống xã hội... Đánh giá tình hình thực hiện thu NSNN cả năm 2007,chúng em thấy:dự toán thu NSNN Quốc hội quyết định 281.900 tỷ đồng; phấn đấu cả năm ước đạt 287.900 tỷ đồng, vượt 2,1% (6.000 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 11,6% so với thực hiện năm 2006. Kết quả thu một số lĩnh vực cụ thể như sau: 1.1 Thu nội địa: Dự toán 151.800 tỷ đồng, ước cả năm đạt 159.500 tỷ đồng, vượt 5,1% (7.700 tỷ đồng) so dự toán, tăng 21,4% so với thực hiện năm 2006. Nhiều khoản thu đạt và vượt dự toán, tăng khá so với thực hiện năm 2006, trong đó: thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh vượt 10,3%, tăng 39,4%; thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao vượt 12,1%, tăng 32,4%; các loại phí và lệ phí vượt 12,3%, tăng 8,4%; lệ phí trước bạ vượt 19,8%, tăng 33,6%... Trong đó: (1) Kinh tế quốc doanh năm 2007 đang trong quá trình sắp xếp lại và cổ phần hoá mạnh mẽ, nhưng vẫn tiếp tục khẳng định được vai trò quan trọng trong nền kinh tế nói chung và thu NSNN nói riêng. Theo đánh giá sơ bộ từ các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước thì kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp thành viên trong năm 2007 nhìn chung là khả quan, trong đó số kinh doanh có lãi chiếm khoảng 94% tổng số doanh nghiệp, số kinh doanh hoà vốn chiếm khoảng 4 - 4,5%, số kinh doanh thua lỗ chỉ chiếm khoảng 1 - 1,5%; thu nhập của người lao động trong các doanh nghiệp nhà nước có bước cải thiện quan trọng. Thu nộp NSNN từ khu vực ước đạt 53.963 tỷ đồng (chiếm 33,8% thu nội địa), bằng dự toán, tăng 17,0% so với thực hiện năm 2006. Hạn chế hiện nay của nhiều DNNN là năng suất lao động còn thấp, sức cạnh tranh yếu, chưa khai thác và phát huy hết những lợi thế so sánh; một số sản phẩm quan trọng trong công nghiệp (sản xuất và cung ứng điện, gas...) chưa đáp ứng được yêu cầu, làm ảnh hưởng đến sự phát triển của một số lĩnh vực trong nền kinh tế. (2) Kinh tế ngoài quốc doanh năm 2007 duy trì đà phát triển khá so với năm 2006, trong đó: giá trị sản lượng công nghiệp ước tăng 20,9%; vốn đầu tư ước tăng 24,8%, chiếm 40,7% tổng vốn đầu tư phát triển của toàn xã hội... Qua đó đóng góp thu NSNN năm 2007 ước đạt 30.508 tỷ đồng, vượt 10,3% (2.841 tỷ đồng) so dự toán, tăng 39,4% so với thực hiện năm 2006. Trong năm 2007 đã có khoảng 54 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh doanh với số vốn đăng ký khoảng 470 nghìn tỷ đồng; và có khoảng 871 hợp tác xã được thành lập mới, nâng tổng số hợp tác xã hiện có đạt xấp xỉ 17.880 đơn vị. Đồng thời, khu vực kinh tế này còn nhận được sự bổ sung quan trọng về nguồn lực và công nghệ từ các doanh nghiệp nhà nước đã thực hiện cổ phần hoá không thuộc diện Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Mặc dù đã có sự phát triển khá nhanh về số lượng, song phần đông doanh nghiệp ngoài quốc doanh có quy mô sản xuất nhỏ bé, công nghệ sản xuất lạc hậu, nên khả năng cạnh tranh yếu; bên cạnh đó công tác quản lý nhà nước phục vụ phát triển doanh nghiệp ở một số địa phương làm chưa tốt, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho  phát triển của doanh nghiệp. (3) Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài năm 2007 tiếp tục thu hút được một lượng lớn vốn đầu tư trực tiếp (FDI), trong đó vốn đăng ký cấp mới và đăng ký bổ sung ước đạt 20,3 tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006; Một số ngành sản xuất - kinh doanh lớn trong khu vực (sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy,...) trong năm 2006 gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, sang năm 2007 đã cơ bản phục hồi được sản xuất, song mức tăng trưởng chưa được như dự kiến. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp FDI sau một thời gian hoạt động có kết quả sản xuất - kinh doanh không được khả quan, phải cơ cấu lại hoặc phải chuyển đổi hình thức từ công ty trách nhiệm hữu hạn sang công ty cổ phần để huy động thêm vốn, đã ảnh hưởng đến số thu nộp NSNN; trong khi đó, số doanh nghiệp mới được cấp phép đi vào hoạt động vẫn đang trong thời gian được miễn giảm thuế theo quy định. Do vậy, số thu NSNN từ khu vực này cả năm ước đạt 30.378 tỷ đồng, tuy tăng 25,5% so với năm 2006, nhưng chỉ bằng 97,9% (giảm 663 tỷ đồng) so với dự toán được giao. (4) Các khoản thu liên quan đến nhà, đất năm 2007 đạt khá, tổng thu ngân sách ước đạt 21.724 tỷ đồng, tăng 19,7% (3.581 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 10,3% so với thực hiện năm 2006; riêng thu tiền sử dụng đất tăng 10,3% (1.500 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2006. Diễn biến thị trường bất động sản năm 2007 nhìn chung sôi động hơn so với năm 2006, nhờ kinh tế tăng trưởng khả quan, thu nhập một bộ phần dân cư tăng khá, cộng với đầu tư tăng trưởng mạnh đã đẩy cầu về đất tăng theo. Nhiều địa phương (Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Hà Nội, Đà Nẵng, Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Giang..) đã chủ động tạo quỹ đất và tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất, vừa đáp ứng nhu cầu tăng cao về đất, vừa tăng thêm nguồn lực cho NSĐP. (5) Tình hình thực hiện thu nội địa tại các địa phương: thực hiện Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chí._.nh phủ, cấp uỷ và chính quyền các cấp ở địa phương đã tích cực triển khai các giải pháp để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán NSNN năm 2007, trong đó đặc biệt chú trọng tạo môi trường thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh và xuất khẩu, tăng nguồn thu cho ngân sách. Bên cạnh đó, công tác quản lý thu thuế cũng được chính quyền địa phương coi trọng, tập trung chỉ đạo các lực lượng chức năng phối hợp với cơ quan quản lý thu tăng cường công tác kiểm tra, đôn đốc, xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật về thuế. Nhờ vậy, kết quả thực hiện thu tại nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đạt khá so với dự toán năm 2007 được Thủ tướng Chính phủ giao. 1.2 Thu từ dầu thô: Dự toán 71.700 tỷ đồng. Đánh giá cả năm, về sản lượng dầu thô thanh toán: ước đạt 15,57 triệu tấn, giảm 1,93 triệu tấn so với sản lượng tính dự toán, làm giảm thu NSNN khoảng 5.500 tỷ đồng. Về giá dầu thanh toán: dự kiến giá dầu Việt Nam thanh toán bình quân cả năm ước đạt 490,6 USD/tấn (64 USD/thùng), tăng 14,8 USD/tấn (2 USD/thùng) so với giá xây dựng dự toán, tăng thu cho NSNN khoảng 2.300 tỷ đồng. Bù trừ yếu tố tăng giảm, thu NSNN từ dầu thô cả năm ước đạt 68.500 tỷ đồng, bằng 95,5% dự toán (giảm 3.200 tỷ đồng), giảm 15,5% (gần 11.600 tỷ đồng) so với năm 2006. 1.3 Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu: Dự toán 55.400 tỷ đồng, trên cơ sở dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu là 69.900 tỷ đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng là 14.500 tỷ đồng; ước cả năm đạt 56.500 tỷ đồng, tăng 2% (1.100 tỷ đồng) so với dự toán, tăng 31,7% so với thực hiện năm 2006, trên cơ sở tổng thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 74.000 tỷ đồng (vượt 4.100 tỷ đồng so với dự toán), hoàn thuế giá trị gia tăng theo chế độ 17.500 tỷ đồng (vượt 3.000 tỷ đồng so với dự toán, phù hợp với mức tăng kim ngạch xuất khẩu). Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hoá năm 2007 ước đạt 109,2 tỷ USD; riêng kim ngạch nhập khẩu ước đạt 60,8 tỷ USD, tăng 35,5% so với năm 2006. Nhiều mặt hàng nhập khẩu tăng lớn về kim ngạch hoặc sản lượng so với năm 2006, như: máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt gần 10,4 tỷ USD, tăng 56,5%, xăng dầu 7,5 tỷ USD, tăng 25,7%, sắt thép gần 4,9 tỷ USD, tăng 66,2%; điện tử, máy tính và linh kiện 2,9 tỷ USD, tăng 43,7%... Thực hiện cam kết thành viên của WTO và các thoả thuận tự do mậu dịch (FTA) đã ký kết, từ đầu năm 2007 Chính phủ đã thực hiện điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với 26 nhóm hàng, gồm 1.812 dòng hàng, chiếm 17% biểu thuế đã cam kết. Quá trình điều hành, để kiềm chế tốc độ tăng giá thị trường, hạn chế tác động tiêu cực của biến động giá cả tới sự phát triển của nền kinh tế, Chính phủ tiếp tục điều chỉnh giảm thuế suất thuế nhập khẩu đối với 18 nhóm mặt hàng (xăng dầu, sắt thép, thực phẩm, sữa, ô tô...), ước tính làm giảm thu NSNN khoảng 3.000 tỷ đồng. Nhờ có sự chuẩn bị từ khâu xây dựng dự toán và chủ động trong quá trình điều hành, kết hợp với kim ngạch nhập khẩu tăng mạnh, nên ảnh hưởng của việc điều chỉnh thuế đến kết quả thu NSNN từ xuất nhập khẩu năm 2007 đã được hạn chế tối đa. Bên cạnh đó, ngành Hải quan cũng đã tăng cường các biện pháp chống buôn lậu, gian lận thương mại; hoàn thiện quy trình kiểm tra, tham vấn và xác định trị giá hàng nhập khẩu, đồng thời xây dựng danh mục dữ liệu giá và đưa ra các mức giá chuẩn để tập trung quản lý những mặt hàng nhạy cảm có khả năng gian lận thương mại cao nhằm chống chuyển giá, trốn thuế qua giá; đẩy mạnh công tác kiểm tra sau thông quan; duy trì hoạt động đối thoại thường xuyên với các doanh nghiệp để giải đáp kịp thời các vướng mắc; tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hải quan, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, giảm thời gian và chi phí. 1.4 Thu viện trợ không hoàn lại: Dự toán 3.000 tỷ đồng, ước cả năm đạt 3.400 tỷ đồng, tăng 13,3% (400 tỷ đồng) so dự toán. Đánh giá chung, nhiệm vụ thu NSNN năm 2007 đã đạt được những kết quả quan trọng sau: Một là: Hoàn thành vượt mức dự toán thu ngân sách Quốc hội đã quyết định (vượt 2,1%), đạt tỷ lệ động viên so GDP là 25,2%, riêng thuế và phí là 23,4% GDP (nếu loại trừ yếu tố tăng giá dầu thô thì đạt 22,4% và 20,6% so GDP). Trong điều kiện dự toán năm 2007 được xây dựng ở mức cao (tăng 18,5% so với dự toán NSNN năm 2006), quá trình điều hành phát sinh nhiều khó khăn ảnh hưởng trực tiếp đến số thu ngân sách, như: sản lượng dầu thô thanh toán giảm lớn so với dự toán, thực hiện điều chỉnh giảm thuế để bình ổn giá cả thị trường... thì kết quả thu như vậy là tích cực. Cơ cấu thu NSNN tiếp tục được cải thiện, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu cân đối NSNN tăng từ 52,1% năm 2006 lên 55,4% năm 2007 (bình quân giai đoạn 2001-2005 là 52,4%), tỷ trọng thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu tăng từ 16,2% lên 19,6% (bình quân giai đoạn 2001-2005 là 20,3%), tỷ trọng thu từ dầu thô giảm từ 30,3% xuống còn 23,8% (bình quân giai đoạn 2001-2005 là 25,7%). Hai là: Những tác động tới thu NSNN sau một năm gia nhập WTO về cơ bản nằm trong phạm vi đã dự kiến; trong một số lĩnh vực, ảnh hưởng tích cực của quá trình hội nhập lớn hơn những ảnh hưởng tiêu cực. Các doanh nghiệp trong nước đã tích cực hơn trong đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm; kim ngạch xuất nhập khẩu tăng nhanh, thị trường xuất khẩu tiếp tục được mở rộng; nguồn vốn đầu tư phát triển ưu đãi (ODA) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt mức cao nhất từ trước đến nay..., qua đó tạo thêm cơ sở tăng nguồn lực cho phát triển và nguồn thu cho NSNN, mà kết quả là cả thu thuế nội địa và thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2007 đều hoàn thành vượt mức dự toán NSNN đã được Quốc hội quyết định. Ba là: Công tác quản lý và xử lý nợ đọng thuế đã có bước chuyển rất cơ bản so với những năm trước. Cơ quan Thuế và Hải quan đã thực hiện rà soát, phân loại các khoản nợ đọng thuế của từng đối tượng nộp thuế để có biện pháp xử lý phù hợp, như: hướng dẫn doanh nghiệp làm thủ tục để xử lý kịp thời đối với các khoản nợ thuế của đối tượng được xem xét miễn, giảm, xoá nợ thuế theo quy định; yêu cầu các doanh nghiệp chây ì, chậm nộp phải lập kế hoạch trả nợ thuế, nếu vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật; chuyển cơ quan công an xử lý đối với các doanh nghiệp đã bỏ trốn, mất địa chỉ mà sau khi cơ quan chức năng đã làm thủ tục xác minh vẫn không tìm được doanh nghiệp... Kết quả đó có được là nhờ 1 phần các biện pháp thu NSNN mà Nhà Nước đưa ra năm 2007: Một là, trong năm 2007, Bộ Tài chính đã tích cực, chủ động phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế chính sách tài chính nhằm cải thiện hơn nữa môi trường đầu tư và kinh doanh; thực hiện quyết liệt cải cách hành chính, nhất là đơn giản và công khai thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, kho bạc để tạo bước đột phá trong khuyến khích hoạt động sản xuất - kinh doanh của các thành phần kinh tế ở trong nước, tập trung thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước. Hai là, đẩy mạnh thu ngân sách Nhà nước, phấn đấu thu đạt và vượt dự toán Quốc hội quyết định. Để thực hiện mục tiêu này, Bộ Tài chính đã tham mưu cho Chính phủ ra nghị quyết yêu cầu các bộ, địa phương tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách Nhà nước, đặt mục tiêu phấn đấu tăng thu ngân sách Nhà nước năm 2007 trên 3% so với dự toán Thủ tướng Chính phủ giao. Ba là, trong năm 2007 Bộ Tài chính đã tổ chức triển khai có hiệu quả luật quản lý thuế; đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về thuế..., phối hợp với các lực lượng chức năng tổ chức thu dứt điểm các khoản nợ đọng thuế có khả năng thu hồi của các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh. Bốn là, đẩy mạnh cải cách hành chính nâng cao năng lực quản lý nhà nước; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cộng đồng. Bộ Tài chính tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật, các định mức, tiêu chuẩn, chế độ chi tiêu ngân sách Nhà nước, thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và phòng, chống tham nhũng; thực hiện chế độ công khai tài chính đối với các cấp ngân sách Nhà nước, các đơn vị dự toán ngân sách. Tóm lại,  nhiệm vụ thu NSNN năm 2007 đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo đà thuận lợi để phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 theo Nghị quyết của Quốc hội: thu ngân sách vượt 2,1% so với dự toán, tăng 11.6% so với năm trước, cơ cấu thu có chuyển biến theo hướng tích cực hơn so với thu NSNN năm 2006 t ỷ trọng các khoản thu nội địa tăng lên ; tỷ trọng các khoản thu bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới như thu từ dầu thô, từ xuất nhập khẩu đã giảm xuống.Tuy nhiên, 3 khoản thu không đạt dự toán ảnh hưởng đến kết quả thu của cả năm vẫn có tên khoản thu từ dầu thô, từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều đó để nói lên rằng, trong kết quả thu NSNN vẫn chịu sự chi phối từ những yếu tố bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thị trường thế giới.Vì vậy,theo chúng em, Chính phủ dứt khoát phải tiếp tục đẩy nhanh tốc độ thu hơn nữa, bảo đảm nâng tỷ lệ các khoản thu nội địa cao hơn trong thu NSNN, kéo dần tỷ trọng các khoản thu có ảnh hưởng từ nhân tố nước ngoài xuống trong thu NSNN những năm tới. THU NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Đơn vị : Tỷ đồng Stt Nội dung DT 2007 ƯTH 2007 DT 2008 A B 1 2 3 A THU CÂN ĐỐI NSNN 281,900 287,900 323,000 I Thu nội địa 151,800 159,500 189,300 1 Thu từ kinh tế quốc doanh 53,954 53,963 63,159 2 Thu từ DN có vốn ĐTNN (không kể dầu thô) 31,041 30,378 40,099 3 Thuế CTN và dịch vụ ngoài QD 27,667 30,508 38,347 4 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 81 97 82 5 Thuế thu nhập đối với người có TN cao 6,119 6,859 8,135 6 Lệ phí trước bạ 3,750 4,493 5,194 7 Thu phí xăng dầu 4,693 4,640 4,979 8 Các loại phí, lệ phí 3,885 4,364 4,889 9 Các khoản thu về nhà, đất 18,143 21,724 21,792 - Thuế nhà đất 584 644 698 - Thuế chuyển quyền sử dụng đất 1,249 1,739 1,974 - Thu tiền thuê đất 967 1,600 1,569 - Thu tiền sử dụng đất 14,500 16,000 16,500 - Thu bán nhà ở thuộc sở hữu NN 843 1,741 1,051 10 Thu khác ngân sách 1,804 1,811 1,937 11 Thu quỹ đất công ích, hoa lợi công sản tại xã 663 663 687 II Thu từ dầu thô 71,700 68,500 65,600 III Thu cân đối ngân sách từ hoạt động XNK 55,400 56,500 64,500 1 Tổng số thu từ hoạt động XNK 69,900 74,000 84,500 - Thuế XNK và TTĐB hàng nhập khẩu 23,800 25,000 26,200 - Thuế GTGT hàng hoá NK 46,100 49,000 58,300 2 Hoàn thuế GTGT và k.phí q.lý thu thuế 14,500 17,500 20,000 IV Thu viện trợ 3,000 3,400 3,600 B THU CHUYỂN NGUỒN 19,000 23,940 9,080 C THU QUẢN LÝ QUA NSNN 32,616 26,550 47,698 D VAY VỀ CHO VAY LẠI 11,650 28,100 12,800 TỔNG CỘNG (A+B+C+D) 345,166 366,490 392,578 III.Thu NSNN năm 2008: dự toán và biện pháp: 1.Đánh giá chung cho việc thực hiện thu NSNN năm 2008: Dự toán NSNN năm 2008 sẽ được triển khai thực hiện trong điều kiện có nhiều thuận lợi: nền kinh tế có nhiều sự phát triển đột phá; sự ổn định về chính trị, cùng với những đổi mới quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước ; quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế ngày càng được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế trong nước. Bên cạnh đó, năm 2008 cũng phát sinh nhiều khó khăn, thách thức: thiên tai (, lũ lụt, bão...) lại có xu hướng xảy ra gây thiệt hại lớn về tính mạng và tài sản của nhân dân; dịch cúm gia cầmH5N1, dịch bệnh ở gia súc, dịch tả lại có xu hướng tiếp tục bùng phát ở nhiều địa phương; giá thế giới của một số nguyên nhiên liệu đầu vào quan trọng của nền kinh tế (xăng dầu, sắt thép..) lại tiếp tục biến động phức tạp,tình hình thiếu lương thực,thực phẩm thế giới, giá cả hàng hoá tiêu dùng trong nước tăng cao so với cuối năm 2007, tác động tiêu cực nhiều mặt đến sản xuất và đời sống xã hội 2.Dự toán thu NSNN năm 2008: Tiếp tục thực hiện những mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, và tài chính - NSNN giai đoạn 2006-2010, mục tiêu, nhiệm vụ tài chính - NSNN năm 2008 là: Phát triển tiềm lực tài chính quốc gia, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính của Nhà nước góp phần quan trọng ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, tập trung đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực, hạ tầng kinh tế - xã hội, thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân; đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội. Trên cơ sở đó, dự toán NSNN năm 2008 thể hiện mục tiêu tạo môi trường đầu tư - kinh doanh thông thoáng, cởi mở, bình đẳng hơn, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho các nhà đầu tư, doanh nghiệp và hộ kinh doanh trong cả nước; vốn đầu tư từ NSNN tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật, đồng thời thu hút thêm các nguồn lực khác của Nhà nước, của dân cư và các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo có sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn lực toàn xã hội dành cho phát triển hạ tầng kinh tế - kỹ thuật; NSNN tập trung cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ lực lượng lao động, thông qua việc đảm bảo kinh phí phát triển các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học-công nghệ, văn hoá, bảo vệ môi trường...; tập trung nguồn lực đảm bảo yêu cầu tiếp tục cải cách chính sách tiền lương; thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, cơ cấu lại bộ máy quản lý Nhà nước, tinh giản biên chế. Đồng thời với vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế, NSNN năm 2008 và những năm tiếp theo cần đóng vai trò tích cực hơn trong việc đảm bảo công bằng xã hội, giảm bớt sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư, giữa các vùng, miền trong cả nước. Theo đó, thực hiện giảm bớt gánh nặng các khoản đóng góp tài chính của nông dân và người nghèo, đảm bảo kinh phí cho các hoạt động nhằm đẩy nhanh quá trình giảm nghèo; tạo điều kiện hỗ trợ tối đa cho các đối tượng là đồng bào dân tộc thiểu số, các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội được hưởng các dịch vụ công của Nhà nước. Nhiệm vụ quan trọng của công tác thu NSNN năm 2008 là: mức động viên phấn đấu đạt trên 22% GDP, trong đó thuế, phí trên 21% GDP, tăng tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu NSNN; bám sát dự báo tình hình đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, đúng chính sách, chế độ, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về thuế; đồng thời có các giải pháp hiệu quả, hợp lý trong việc tăng cường quản lý thu theo Luật quản lý thuế; tăng cường xử lý các khoản nợ đọng thuế, chống thất thu, trốn lậu thuế và gian lận thương mại, chống tình trạng chuyển giá, chuyển số thu từ địa bàn này sang địa bàn khác trái chế độ quy định; tăng cường thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý kịp thời các trường hợp vi phạm. Dự toán thu NSNN năm 2008 là 323.000 tỷ đồng, bao gồm: (1) Dự toán thu nội địa (không kể dầu thô): 189.300 tỷ đồng, tăng 18,7% (nếu không kể thu tiền sử dụng đất thì tăng 20,4%) so với ước thực hiện năm 2007. Đây là mức phấn đấu tích cực trong bối cảnh năm 2008, bên cạnh những yếu tố tích cực như dự kiến tăng trưởng kinh tế vẫn duy trì ở mức cao, đầu tư trong và ngoài nước vẫn tiếp tục tăng khá do tác động tích cực của hội nhập kinh tế quốc tế tạo thuận lợi lớn cho việc phấn đấu tăng thu NSNN, vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố ảnh hưởng đến thu như giá một số nguyên liệu đầu vào chính (như xăng, dầu, điện, than, thép, xi măng...) có khả năng tăng so với năm 2007; trong khi đó, cần tiếp tục thực hiện các biện pháp cắt giảm về thuế, phí, lệ phí để giúp các doanh nghiệp và người dân tăng tích luỹ, đầu tư mở rộng sản xuất, kinh doanh, và thực hiện các cam kết hội nhập quốc tế. Về cơ cấu thu theo khu vực, dự toán thu từ khu vực kinh tế quốc doanh tăng 17,0% so với mức ước thực hiện năm 2007; thu từ khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32%; thu từ khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh tăng 25,7%; thu tiền sử dụng đất tăng 3,1%; thu thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tăng 18,6%. (2) Dự toán thu dầu thô: 65.600 tỷ đồng, bằng 95,8% so với ước thực hiện 2007 (giảm 2.900 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2007 và giảm khoảng 14.500 tỷ đồng so với năm 2006). Dự toán thu dầu thô năm 2008 được xây dựng trên cơ sở dự kiến sản lượng dầu thô khai thác và thanh toán 15,49 triệu tấn, dự kiến giá thanh toán bình quân năm 2008 đạt 64 USD/thùng và đã tính thu toàn bộ lãi dầu được chia nước chủ nhà và lãi dầu chi phí từ Vietsovpetro. (3) Thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu: 64.500 tỷ đồng, tăng 14,2% so với ước thực hiện năm 2007. Số thu này được xây dựng trên cơ sở giảm thuế nhập khẩu để thực hiện các cam kết quốc tế, đồng thời tích cực đẩy mạnh thực hiện cải cách hành chính, thủ tục hải quan và công tác kiểm tra sau thông quan, tăng cường đấu tranh chống buôn lậu, chống gian lận thương mại và trốn thuế. Dự toán thu từ hoạt động xuất nhập khẩu năm 2008 đã tính đến việc khôi phục lại một phần thuế nhập khẩu đối với các mặt hàng phải thực hiện cắt giảm thuế để thực hiện kiềm chế tốc độ tăng giá tiêu dùng trong năm 2007 (trong phạm vi khung thuế suất đã cam kết hội nhập). (4) Thu viện trợ không hoàn lại: 3.600 tỷ đồng, tăng 200 tỷ đồng so với ước thực hiện năm 2007. (5) Thu chuyển nguồn: 9,080 tỷ đồng, bằng 38% so với ước thực hiện năm 2007, tạo nguồn thực hiện cải cách tiền lương năm 2008. Tổng hợp chung, dự toán thu ngân sách nhà nước năm 2008 là 323.000 tỷ đồng, tăng 12,2% so ước thực hiện năm 2007, mức động viên thu NSNN đạt 24% GDP, thuế và phí đạt 22,4% GDP (nếu loại trừ yếu tố tăng giá dầu thì đạt mức động viên 21,8% GDP, trong đó từ thuế phí là 20,3% GDP). Về cơ cấu thu năm 2008, dự toán thu nội địa chiếm 58,6% tổng thu ngân sách nhà nước, cao hơn mức ước thực hiện năm 2007 (55,4%), thu dầu thô chiếm 20,3%, thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu chiếm 20,0%. 3. Các nhóm giải pháp chủ yếu tổ chức thực hiện NSNN năm 2008 Một là, huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, tăng khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. (1) Thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư phát triển; thực hiện rà soát, điều chỉnh quy hoạch phát triển ngành, vùng nhằm phát huy lợi thế của từng vùng, từng ngành và từng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. (2) Đẩy nhanh việc rà soát, bãi bỏ các quy định và thủ tục không cần thiết, gây trở ngại cho các nhà đầu tư. Thúc đẩy các hoạt động xúc tiến đầu tư, huy động các nguồn vốn cho đầu tư phát triển. Tiếp tục phát hành trái phiếu Chính phủ để xây dựng các công trình giao thông, thuỷ lợi quan trọng và thực hiện kiên cố hoá trường lớp học, các bệnh viện y tế tuyến huyện. Tăng cường huy động và giải ngân nguồn vốn ODA.  Huy động các nguồn vốn kể cả nguồn vốn FDI để đầu tư cho các công trình kết cấu hạ tầng quy mô lớn dưới nhiều hình thức như BOT, BT, BO... Khẩn trương chuẩn bị các điều kiện và triển khai kế hoạch đầu tư một số công trình kết cấu hạ tầng quan trọng quy mô lớn của đất nước. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế hoạt động và phát triển theo cơ chế thị trường. Tiếp tục kiện toàn cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan đăng ký đầu tư đảm bảo thực hiện nhiệm vụ theo quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư. (3) Đối với doanh nghiệp nhà nước, tiếp tục thực hiện phân loại, chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước theo các tiêu chí đã được quy định tại Quyết định số 38/2007/QĐ-TTg ngày 20/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ. Đẩy mạnh việc sắp xếp, cổ phần hoá các tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các ngân hàng thương mại theo kế hoạch. Đồng thời mở rộng các hình thức chuyển đổi sở hữu khác nhằm nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nhà nước. Phát triển một số tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình mở cửa thị trường để hội nhập kinh tế quốc tế, phù hợp với điều kiện trong nước và các cam kết quốc tế. (4) Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, tiếp tục thực hiện Kế hoạch phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (theo Quyết định số 236/2006/QĐ-TTg ngày 23/10/2006 của Thủ tướng Chính phủ) nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển doanh nghiệp, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Thực hiện các biện pháp hữu hiệu nhằm trợ giúp các doanh nghiệp này được tiếp cận nguồn vốn tín dụng tại các ngân hàng thương mại, cung cấp thông tin về chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đăng ký quyền sở hữu trí tuệ. (5) Tiếp tục thực hiện công tác quy hoạch, tổ chức đấu giá công khai quỹ đất để tăng nguồn lực đầu tư phát triển đô thị, cơ sở hạ tầng, ưu tiên sử dụng một phần khoản thu tiền sử dụng đất cho công tác quy hoạch, quản lý đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện có hiệu quả cơ chế chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm, đời sống đối với những hộ nông dân có đất bị thu hồi để chuyển đổi mục đích sử dụng. Hai là, thực hiện nhiệm vụ động viên ngân sách nhà nước, phấn đấu tăng thu, nâng cao hiệu quả sử dụng NSNN; tiếp tục thực hiện cải cách tiền lương. (6) Xây dựng dự toán thu NSNN tích cực; thực hiện điều hành quyết liệt, phấn đấu tăng thu, chống thất thu. Các Bộ, ngành, địa phương cần tập trung tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đẩy mạnh hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu; qua đó tạo động lực và cơ sở để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng ở mức cao, tăng thu cho NSNN. (7) Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Quản lý thuế; có kế hoạch phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương trong việc rà soát, xử lý các khoản nợ đọng thuế, tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp trốn thuế, gian lận thuế. (8) Thực hiện rà soát lại toàn bộ các khoản thu phí, lệ phí, các khoản đóng góp của người dân theo quy định của pháp luật về phí, lệ phí và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Nhà nước; đình chỉ và bãi bỏ ngay các khoản thu trái quy định; thực hiện sửa đổi các khoản thu cho phù hợp. Từ năm 2008, thực hiện bỏ thu thuỷ lợi phí đối với nông dân. (9) Đối với các khoản huy động đóng góp của người dân mang tính chất tự nguyện, các địa phương không đặt yêu cầu bắt buộc đóng góp, không giao chỉ tiêu huy động từ cấp trên cho cấp dưới, không gắn việc huy động đóng góp với việc cung cấp các dịch vụ công mà người dân được hưởng. Một số khoản đóng góp chỉ phục vụ cho một nhóm hộ, cộng đồng dân cư thì chuyển sang phương thức nhóm hộ, cộng đồng dân cư tự huy động đóng góp và quản lý sử dụng để thực hiện mục tiêu theo thoả thuận; cơ quan nhà nước không quy định khoản huy động đóng góp này. (10) Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách. Thực hiện cơ cấu lại chi NSNN. Vốn đầu tư từ NSNN tập trung phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật khó có khả năng thu hút , đồng thời thu hút thêm các nguồn lực khác của Nhà nước, của dân cư và các nhà đầu tư nước ngoài, đảm bảo có sự gia tăng mạnh mẽ của nguồn lực toàn xã hội dành cho phát triển hạ tầng kinh tế - kỹ thuật; NSNN tập trung cho đầu tư phát triển con người, nâng cao trình độ lực lượng lao động, thông qua việc đảm bảo kinh phí phát triển các lĩnh vực giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học-công nghệ, văn hoá, bảo vệ môi trường...; tập trung nguồn lực đảm bảo tiếp tục cải cách chính sách tiền lương; thúc đẩy quá trình cải cách hành chính, cơ cấu lại bộ máy quản lý Nhà nước, tinh giản biên chế. (11) Nâng cao chất lượng công tác giảm nghèo. Thực hiện lồng ghép chương trình, dự án có tác động đến giảm nghèo; tập trung nguồn lực cho các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, có tỷ lệ hộ nghèo còn cao. Tiếp tục thực hiện các chính sách khám chữa bệnh, hỗ trợ giáo dục, hỗ trợ nhà ở, cho vay vốn ưu đãi,... trợ giúp người nghèo. (12) Tiếp tục thực hiện đầy đủ các giải pháp tạo nguồn để cải cách tiền lương: Tiết kiệm 10% chi thường xuyên (không kể các khoản tiền lương và các khoản có tính chất lương); sử dụng 50% nguồn tăng thu ngân sách địa phương; sử dụng một phần (35-40%) nguồn thu để lại đơn vị theo chế độ để thực hiện cải cách tiền lương; ngân sách Trung ương sẽ hỗ trợ các Bộ, cơ quan Trung ương và các địa phương đảm bảo nguồn thực hiện cải cách tiền lương sau khi đã thực hiện đầy đủ các giải pháp nêu trên mà còn thiếu nguồn. Ba là, đẩy nhanh cải cách khu vực sự nghiệp công lập, nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp, thúc đẩy xã hội hoá, huy động nguồn lực cho phát triển các sự nghiệp xã hội. (13) Quyết liệt cải cách khu vực sự nghiệp công lập, nâng cao tính tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập. Khẩn trương sửa đổi, điều chỉnh các khoản thu sự nghiệp theo hướng từng bước tính đủ chi phí hoạt động. Thay đổi lại phương thức chi cho lĩnh vực sự nghiệp, chuyển dần từ hình thức cấp ngân sách cho các cơ sở cung ứng dịch vụ sự nghiệp sang thanh toán chi phí cho các đối tượng thuộc diện nhà nước đảm bảo. Qua đó, tạo điều kiện và cơ chế để các hoạt động sự nghiệp chuyển sang hạch toán thu, chi, trên cơ sở đó thúc đẩy phát triển khu vực sự nghiệp. (14) Thúc đẩy phát triển xã hội hoá. Khẩn trương ban hành và thực hiện thí điểm cơ chế cho thuê, cổ phần hoá để chuyển đổi một số cơ sở dịch vụ công có điều kiện sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp; áp dụng cơ chế Nhà nước đặt hàng, giám sát chất lượng dịch vụ...tạo điều kiện phát triển nhanh các sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế,... nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ cho người dân. Bốn là, phát triển đồng bộ các loại thị trường; thực hiện quản lý Nhà nước về giá cả theo nguyên tắc thị trường. (15) Xây dựng và phát triển mạnh hoạt động của các loại thị trường như thị trường tài chính, thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học công nghệ. (16) Hoàn thiện khung pháp lý, thể chế và chính sách, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát để thị trường chứng khoán phát triển lành mạnh và ổn định. Thực hiện tái cấu trúc và phát triển thị trường có tổ chức. Nâng cao năng lực tài chính của các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ thông qua việc nâng vốn pháp định, chuẩn hoá việc cấp chứng chỉ hành nghề và áp dụng đạo đức nghề nghiệp theo thông lệ quốc tế. Tăng cường giám sát hoạt động của các tổ chức kinh doanh dịch vụ chứng khoán, hoạt động giao dịch chứng khoán, tăng cường thực hiện chế độ công bố thông tin trên thị trường chứng khoán, nâng cao tính minh bạch của thị trường. (17) Thực hiện các giải pháp kiềm chế tốc độ lạm phát thấp hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế. Cơ bản thực hiện công tác quản lý giá cả theo các nguyên tắc thị trường.  Hoàn thành việc xây dựng lộ trình thực hiện giá thị trường đối với các loại hàng hoá và dịch vụ nhà nước còn định giá (giá điện, giá bán các mặt hàng dầu,...). Tôn trọng quyền định giá và cạnh tranh về giá của doanh nghiệp theo diễn biến của cung cầu trên thị trường và theo quy định của pháp luật. Các doanh nghiệp cần thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp tiết kiệm chống lãng phí trong sản xuất kinh doanh, tìm các biện pháp thích hợp cải tiến công nghệ, tăng năng suất, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm để xử lý giá đầu ra hợp lý, phù hợp với tín hiệu thị trường. Tăng cường kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi liên kết tăng giá các nguyên liệu đầu vào quan trọng và các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu một cách tuỳ tiện theo các biện pháp hành chính nhằm tránh việc tăng giá một cách dây chuyền. Phối hợp đồng bộ chính sách quản lý tài chính với chính sách tiền tệ, đặc biệt là việc điều hành cung ứng tiền tệ trong lưu thông, điều hành chính sách tỷ giá, lãi suất...  Kiểm soát có hiệu quả hoạt động tín dụng, giảm thiểu nợ xấu, nợ quá hạn trong hoạt động ngân hàng. Năm là, chủ động thực hiện hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế đối ngoại và hội nhập kinh tế quốc tế. (18) Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý phù hợp với quy định của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO). Hoàn thiện các văn bản pháp lý liên quan tới lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán... Đẩy nhanh việc hoàn thiện hạ tầng cơ sở, công nghệ của các Trung tâm giao dịch chứng khoán để đáp ứng yêu cầu về tăng quy mô và mở rộng thị trường. Tăng cường công tác quản lý, giám sát đối với thị trường, đảm bảo sự phát triển ổn định và bền vững của thị trường trong điều kiện hội nhập. (19) Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của công tác xúc tiến thương mại, đầu tư, du lịch. Thúc đẩy, vận động tiêu chuẩn hoá và công nhận lẫn nhau giữa Việt Nam và các đối tác thương mại nước ngoài, đặc biệt đối với những bạn hàng lớn. Thúc đẩy xuất khẩu, kiểm soát và thu hẹp nhập siêu. (20) Thực hiện tốt chiến lược vay và trả nợ nước ngoài theo hướng quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm, nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng vốn vay, bảo đảm khả năng trả nợ. Sáu là, đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước; thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực, tham nhũng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra: (21) Triển khai mạnh mẽ chương trình tổng thể cải cách hành chính, hướng tới mục tiêu xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân, trong sạch, dân chủ, hiệu lực, hiệu quả. (22) Khẩn trương kiện toàn và đổi mới chức năng, nhiệm vụ và tổ chức, sắp xếp lại bộ máy của Chính phủ, chính quyền địa phương các cấp. Thực hiện chế độ thủ trưởng trong các cơ quan hành chính, phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đứng đầu và tập thể lãnh đạo các cấp. Đẩy mạnh cải cách các thủ tục hành chính, trước hết là các thủ tục liên quan đến đầu tư, thành lập và hoạt động của doanh nghiệp, các dịch vụ hành chính có liên quan đến đời sống của nhân dân. Triển khai thực hiện tốt cơ chế một dấu - một cửa trong việc xử lý các công việc có liên quan đến doanh nghiệp, nhà đầu tư và nhân dân. (23) Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng; triển khai và thực hiện đồng bộ Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện Luật Khiếu nại, tố cáo. Tổ chức hoạt động có hiệu quả của Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng ở Trung ương, cơ quan phòng chống tham nhũng các bộ, ngành và Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng ở địa phương theo quy định của Luật phòng, c._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc6146.doc
Tài liệu liên quan