Khả năng , lợi ích và lộ trình của việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước Asean

LỜI NÓI ĐẦU Thế giới đã được chứng kiến một sự kiện kinh tế kỳ diệu trong thập kỷ vùa qua, một sự kiện chưa từng có trong lịch sử tiền tệ thế giới, một sự kiện đã được Tổng thống Pháp Jacques Chirac gọi là "sự cải cách lớn nhất và quan trọng nhất về kinh tế và tài chính trong vòng 50 năm qua". Đó là sự ra đời của Liên minh tiền tệ châu Âu EMU và đồng tiền chung châu Âu EURO. Khác với các liên minh tiền tệ trước đây hình thành trên cơ sở một mối quan hệ chính trị nào đó, Liên minh tiền tệ châu Â

doc83 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1842 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Khả năng , lợi ích và lộ trình của việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước Asean, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
u liên kết 12 quốc gia độc lập có chủ quyền với một mục tiêu chung là biến châu Âu trở thành khu vực thịnh vượng và ổn định nhất trên thế giới. Sự thành công và bài học kinh nghiệm của các nước châu Âu đã cho các nước Đông Nam á niềm tin vào triển vọng hình thành một đồng tiền chung cho khu vực. Trên thực tế, khả năng hình thành một liên minh tiền tệ ở Đông Nam á đã được một số nhà kinh tế học bắt tay nghiên cứu từ năm 1994. Nhưng phải đến sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu á năm 1997, đề tài này mới trở thành mối quan tâm thực sự đối với các nhà lãnh đạo cũng như các nhà kinh tế học ở Đông Nam á. ASEAN hy vọng đồng tiền chung sẽ thúc đẩy nền kinh tế khu vực tăng trưởng ổn định, bền vững, giảm bớt nguy cơ khủng hoảng và giúp ASEAN khẳng định được vị trí của mình trên các diễn đàn kinh tế thế giới. Xuất phát từ thực trạng phát triển kinh tế của khu vực ASEAN hiện nay, những đòi hỏi của quá trình hội nhập và hợp tác ngày một sâu rộng trên toàn thế giới, tôi xin chọn đề tài "Khả năng , lợi ích và lộ trình của việc ra đời một đồng tiền chung cho các nước ASEAN " làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình. Đây cũng là đề tài đang được các nước trong khu vực cũng như trên thế giới quan tâm và đi sâu nghiên cứu. Với khoá luận này, tôi xin trình bày về cơ sở lý luận ra đời một đồng tiền chung, quá trình hình thành liên minh tiền tệ châu Âu, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho ASEAN nói riêng cũng như bất kỳ một khu vực nào mong muốn hình thành một liên minh tiền tệ nói chung và những vấn đề của Việt nam trong tiến trình hội nhập hướng tới hình thành một đồng tiền chung. Từ những phân tích đó, cùng với đánh giá tình hình thực tế ở Đông Nam á hiện nay, có thể đi đến kết luận rằng một liên minh tiền tệ tương tự như liên minh tiền tệ châu Âu sẽ ra đời ở ASEAN trong tương lai không xa. Bố cục cụ thể của khoá luận gồm ba chương như sau: Chương I: Cơ sở lý luận ra đời một đồng tiền chung . Chương II: Khả năng , lợi ích và lộ trình cho việc ra đời một đồng tiền chung ASEAN. Chương III:Giải pháp nhằm hình thành những điều kiện cơ bản cho một đồng Tiền chung ASEAN và các vấn đề của Việt nam . Do trình độ còn hạn chế, khóa luận không khỏi có những sai sót và bất cập. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp phê bình từ phía thầy cô và các bạn. Cuối cùng, tôi xin nói lời cảm ơn chân thành tới PGS. TS. Nguyễn Phúc Khanh, người đã tận tình hướng dẫn và có những ý kiến , đóng góp quý báu giúp đỡ tôi thực hiện khóa luận này. Nam định , ngày 01 tháng 5 năm 2003 . Sinh viên : Bùi Quốc Thái . TC K18-A1. CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN CHO VIỆC RA ĐỜI MỘT ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN I.1 Liên minh tiền tệ và đồng tiền chung - Một hình thức cao nhất của liên kết kinh tế Quốc tế. Nhân loại đã bước sang những năm đầu của thế kỷ 21. Các quốc gia, dân tộc đang chuẩn bị hành trang cho một kỷ nguyên mới mà một trong các đặc trưng cơ bản là xu hướng hợp tác, liên kết giữa các Quốc gia để giải quyết các vấn đề kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và môi trường mang tính chất toàn cầu. Ngày nay trong quá trình phát triển của mình, các quốc gia trên thế giới đang từng bước tạo lập nên các mối quan hệ song phương và đa phương nhằm từng bước tham gia vào các liên kết kinh tế quốc tế với nhiều mức độ khác nhau, đem lại lợi ích thiết thực cho mỗi bên. Chính các liên kết kinh tế quốc tế là biểu hiện của xu hướng toàn cầu hoá khu vực hoá đang diễn ra hết sức sôi động trong những năm gần đây. Khái niệm: Liên kết kinh tế quôc tế hay còn gọi là nhất thể hoá kinh tế quốc tế là một hình thức trong đó diễn ra quá trình xã hội hoá có tính chất quốc tế đối với quá trình tái sản xuất giữa các chủ thể Kinh tế quốc tế. Liên kết kinh tế quốc tế chính là sự thành lập một tổ hợp Kinh tế quốc tế của các nước thành viên nhằm tăng cường phối hợp và điều chỉnh lợi ích giữa các bên tham gia, giảm bớt sự khác biệt về điều kiện phát triển giữa các bên và thúc đẩy Quan hệ kinh tế quốc tế phát triển cả bề rộng và chiều sâu. Quá trình Liên kết kinh tế quốc tế đưa tới việc hình thành một thực thể kinh tế mới ở cấp độ cao hơn với các mối Quan hệ kinh tế quốc tế phức tạp và đa dạng. Các bên tham gia các liên kết kinh tế quốc tế có thể là các Quốc gia hoặc các tổ chức doanh nghiệp thuộc các nước khác nhau. Như vậy liên kết Kinh tế quốc tế là một qúa trình khách quan bởi nó là kết quả của quá trình vận động mang tính quy luật, xuất phát từ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất và quốc tế hoá đời sống kinh tế do tác động của cách mạng Khoa học kỹ thuật. Mặt khác, liên kết Kinh tế quốc tế cũng là một quá trình chủ quan bởi nó là kết quả của những hoạt động của các quốc gia trong việc phối hợp nền kinh tế của các quốc gia đó, làm cho các nền kinh tế thích ứng với nhau, dần dần hình thành một chỉnh thể kinh tế có cơ cấu tối ưu, có năng suất lao động cao. Liên kết Kinh tế quốc tế hay nhất thể hoá Kinh tế quốc tế là một khái niệm được tranh luận tương đối nhiều, ý kiến chia rẽ tương đối lớn trên các diễn đàn kinh tế thế giới, trong những năm gần đây. Nhìn từ mặt hàm nghĩa thì từ liên kết Kinh tế quốc tế (Integration) là bắt nguồn từ chữ Latinh Intergratio, ý của nó là chỉ việc liên hiệp hoặc hoà nhập các bộ phận khác nhau lại thành một chỉnh thể. Về nghĩa rộng thì nhất thể hoá kinh tế thế giới có hai tầng bậc lớn là vi mô và vĩ mô. Về mặt vi mô thì buổi đầu sớm nhất chỉ là giữa các doanh nghiệp với nhau thông qua các hình thức độc quyền như Cácten, Tờ rớt, ... để kết hợp lại thành một thể liên hiệp kinh tế mới. Về mặt vĩ mô là chỉ sự liên hiệp kinh tế giữa các nước và khu vực khác nhau trong cùng một Châu lục hoặc giữa các Châu lục thông qua ký kết các điều ước hay Hiệp định, lập ra các chuẩn tác hoạt động chung để thực hiện các mục đích kinh tế và chính trị, thậm chí thông qua việc nhượng bớt chủ quyền cục bộ của quốc gia, xây dựng các tổ chức “siêu quốc gia” để thực hiện sự liên hiệp kinh tế. 1.1 Liên kết kinh tế quốc tế là kết quả tất yếu của quá trình Quốc tế hoá đời sống kinh tế Trong quá trình phát triển gần một trăm năm qua, kinh tế thế giới có những quy luật đặc thù và dần dần xuất hiện một xu thế có tính chất toàn thể. Đó chính là xu thế quốc tế hoá đời sống kinh tế. Quốc tế hoá đời sống kinh tế chính là sự dựa vào nhau để cùng tồn tại, sự xâm nhập vào nhau ngày càng sâu của kinh tế các nước trên thế giới. Trong thế kỷ XX, quá trình quốc tế hoá nền kinh tế thế giới không ngừng được tăng lên và phạm vi ngày càng mở rộng, nội dung ngày càng sâu sắc. Quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế dẫn đến việc hình thành các liên kết kinh tế quốc tế là một tất yếu khách quan do những nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất: Quốc tế hoá về các mặt vốn, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ sản phẩm làm gia tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Năng lực đơn độc trong việc điều chỉnh và khống chế kinh tế của các nước ngày càng suy giảm. Việc giải quyết các vấn đề kinh tế và đặt ra chính sách kinh tế của các nước ngày càng phụ thuộc chặt chẽ vào sự hợp tác, liên kết giữa các quốc gia. Thứ hai: Quốc tế hoá về mặt sản xuất đã làm cho các hoạt động kinh tế giữa các nước đan xen vào nhau, không thể phát triển một cách đơn độc và tách rời nhau. Để điều hoà một cách tổng thể quá trình quốc tế hoá sản xuất và tạo ra tiếng nói chung trong quá trình phát triển kinh tế và định hướng sản xuất, các nước hình thành nên các liên kết kinh tế dưới các cấp độ khác nhau. Thứ ba: Xu thế tập đoàn hoá khu vực tạo điều kiện thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước ngày càng sâu sắc. Tập đoàn hoá khu vực cho phép giải quyết những vấn đề kinh tế, thương mại có liên quan đến lợi ích của các nước ở quy mô quốc tế. Chính quá trình đó đã góp phần thúc đẩy liên kết chặt chẽ hơn giữa các quốc gia. Thứ tư: Quốc tế hoá một cách cao độ lực lượng sản xuất dẫn đến phân công lao động quốc tế diễn ra ngày càng sâu sắc, các nước tiến hành chuyên môn hóa nhằm đạt tới quy mô tối ưu cho từng ngành sản xuất. Các quốc gia sẽ tập trung vào một số ngành và sản phẩm nhất định mà họ có lợi thế rồi trao đổi với các nước khác. Ngày nay, các nước không chỉ trao đổi sản phẩm đã hoàn thiện với nhau mà thậm chí còn trao đổi từng bộ phận sản phẩm. Bởi vậy mới có tình trạng một loại hàng hoá có thể được sản xuất ở nhiều nước khác nhau, mỗi nơi một bộ phận theo khả năng chuyên môn hoá của từng nước. Chẳng hạn để sản xuất ra chiếc máy bay Boeing có tới 650 công ty trên thế giới tham gia và được đặt ở hơn 30 nước. Ôtô Ford cũng vậy có tới 165 công ty ở hơn 20 nước tham gia sản xuất ...Tính thống nhất của nền kinh tế thế giới làm cho toàn bộ quá trình sản xuất như một dây chuyền “dây chuyền quốc tế” cả về phạm vi và quy mô. Chính vì vậy các liên kết kinh tế quốc tế ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu liên kết với nhau để cùng phát triển của tất cả các quốc gia trên thế giới. 1.2 Các hình thức của Liên kết kinh tế quốc tế Có 2 hình thức : - Liên kết lớn (Macro Intergration) -Liên kết nhỏ (Micro Intergration) Duới đây chỉ đề cập đến hình thức liên kết lớn : Liên kết lớn là hình thức của liên kết kinh tế quốc tế mà chủ thể tham gia là các Nhà nước, các quốc gia trong đó các chính phủ ký với nhau các Hiệp định để tạo nên khuôn khổ chung cho sự phối hợp và điều chỉnh quan hệ kinh tế quốc tế giữa các Nhà nước. Dựa vào nội dung liên kết và mức độ hội nhập, liên kết lớn có những hình thức chủ yếu sau: Khu vực mậu dịch tự do (Free trade Area - FTA) Khu vực mậu dịch tự do là liên minh quốc tế giữa hai hay nhiều nước nhằm mục đích tự do hoá việc buôn bán về một hoặc một số nhóm mặt hàng nào đó. Khu vực mậu dịch tự do sẽ hình thành một thị trường thống nhất nhưng mỗi thành viên vẫn thi hành chính sách ngoại thương độc lập đối với các nước ngoài liên minh. Trên thế giới hiện nay hình thành rất nhiều khu vực mậu dịch tự do như: Khu vực mậu dịch tự do Châu Âu - EFTA, khu vực tự do Bắc Mỹ - NAFTA, khu vực mậu dịch tự do - AFTA của các nước ASEAN v.v.. Mục đích của khu vực mậu dịch tự do là nhằm: - Khuyến khích phát triển thương mại trong nội bộ khối, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. - Thu hút vốn đầu tư từ các nước bên ngoài khối cũng như trong nội bộ khối. Liên minh thuế quan (Custom Union) Đây là một liên minh quốc tế với nội dung bãi miễn thuế quan và những hạn chế về mậu dịch khác giữa các nước thành viên. Tuy nhiên, liên minh thuế quan có điểm khác với khu vực mậu dịch tự do là các nước thành viên còn có một biểu thuế quan chung áp dụng với các nước ngoài khối. Thị trường chung (Common Market) Thị trường chung là một liên minh quốc tế áp dụng các biện pháp tương tự như liên minh thuế quan trong việc trao đổi thương mại nhưng nó đi xa thêm một bước là cho phép di chuyển ở cả tư bản và lao động tự do giữa các nước thành viên với nhau và từ đó tạo điều kiện cho sự hình thành thị trường thống nhất theo nghĩa rộng. Cộng đồng kinh tế Châu Âu (EEC) từ năm 1992 theo loại hình này. Liên minh kinh tế (Economic Union) Liên minh kinh tế là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên thực hiện thống nhất và hài hoá các chính sách kinh tế - tài chính - tiền tệ giữa các nước thành viên. Giữa các nước cho phép tự do di chuyển hàng hoá, dịch vụ, sức lao động và tư bản. Khối đồng minh Benelux là một liên minh kinh tế giữa ba nước Bỉ, Hà Lan, Luxembua kể từ năm 1960, liên minh Châu Âu - EU từ năm 1994 cũng được coi là một liên minh kinh tế . Liên minh tiền tệ (Monetary Union) Đây là hình thức phát triển cao của liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên phải phối hợp chính sách tiền tệ với nhau và cùng thực hiện một chính sách tiền tệ thống nhất trong toàn khối. Trong liên minh tiền tệ, người ta thực hiện thống nhất các giao dịch tiền tệ giữa các thành viên, thống nhất về đồng tiền dự trữ và phát hành đồng tiền tập thể cho các nước trong liên minh. VD: Đồng tiền chung Châu Âu - Euro giữa 12 nước thành viên. Ngoài ra dưới khía cạnh địa lý, liên kết lớn có thể có các hình thức sau: - Liên kết khu vực: là hình thức liên kết giữa các quốc gia trong cùng một khu vực địa lý, chẳng hạn: ASEAN - liên kết 10 nước khu vực Đông Nam á, EU - 15 nước EU, NAFTA - 3 nước Bắc Mỹ, MERCOSUR - 6 nước Nam Mỹ I.2 Lý thuyết "Khu vực tiền tệ tối ưu"- cơ sở lý luận hình thành liên minh tiền tệ. Lý thuyết "Khu vực tiền tệ tối ưu" ra đời vào đầu những năm 1960 và cho đến nay đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Nghiên cứu đầu tiên mang tính tiên phong về lĩnh vực này do các nhà kinh tế Mỹ R.Mundell (1961) và R.Mc Kinnon (1963) (cùng Ingram 1962) đưa ra, trong đó nêu lên những đặc tính cơ bản nhất để xác định một "Khu vực tiền tệ tối ưu". Những nghiên cứu sau này của các nhà kinh tế khác như Grubel (1970), Corden (1972), Ishiyama (1975) và Tower và Willet (1976) đã chuyển sang tập trung đánh giá chi phí và lợi ích của việc tham gia một khu vực tiền tệ. Nhìn chung, lý thuyết này giải quyết các vấn đề như lựa chọn một cơ chế tỷ giá cho một nước như thế nào, vai trò của điều chỉnh tỷ giá khi xảy ra sự mất cân bằng cán cân thanh toán là gì và đặc biệt quan trọng, lý thuyết này đã đặt nền móng cho lý thuyết hội nhập về tiền tệ, là cơ sở cho sự hình thành Liên minh tiền tệ châu Âu cũng như sự ra đời của các liên minh tiền tệ khác trên thế giới trong tương lai. 2.1 Khái niệm: Trước hết, để hiểu được khái niệm "Khu vực tiền tệ tối ưu", chúng ta cần tìm hiểu khái niệm khu vực tiền tệ. Một khu vực tiền tệ là một khu vực trong đó tỷ giá hối đoái là cố định hoặc tồn tại một đồng tiền chung. Như vậy, mỗi nước có một đồng tiền riêng của mình đều là một khu vực tiền tệ. Vấn đề mà R.Mundell và R.Mc Kinnon đặt ra là liệu nước đó có phải là một khu vực tiền tệ tối ưu hay không, hay nói cách khác, liệu nước này có những đặc điểm cho phép nó sử dụng một cách tối ưu đồng tiền của mình hay không. Nếu câu trả lời là không thì thứ nhất, từng vùng của nước đó có phát triển tốt hơn nếu sử dụng đồng tiền riêng của vùng hay không. Và thứ hai, liệu nước đó có lợi hơn khi tham gia vào một khu vực tiền tệ lớn hơn thay vì sử dụng đồng tiền riêng của nước mình hay không. Để trả lời hai câu hỏi này, Mundell và Kinnon đã phát triển thành lý thuyết trong đó nêu lên khái niệm và các tiêu chuẩn của một khu vực tiền tệ tối ưu. Một khu vực tiền tệ tối ưu là một khu vực "tối ưu" về mặt địa lý trong đó phương tiện thanh toán là một đồng tiền chung hoặc là một số đồng tiền mà giá trị trao đổi của chúng được neo cố định với nhau với khả năng chuyển đổi vô hạn cho cả các giao dịch vãng lai và các giao dịch về vốn, nhưng tỷ giá hối đoái của chúng lại biến động một cách hài hoà với các nước khác trên thế giới.1 "Tối ưu" được xác định về mặt mục tiêu kinh tế vĩ mô là duy trì cân bằng cả bên trong và bên ngoài. Cân bằng bên trong đạt được tại điểm thoả hiệp tối ưu giữa lạm phát và thất nghiệp và cân bằng bên ngoài là sự duy trì trạng thái cán cân thanh toán cân bằng. 2.2 Các đặc điểm của một khu vực tiền tệ tối ưu a.Sự linh hoạt về giá cả và tiền lương: Giả sử một khu vực gồm nhiều vùng hoặc nhiều nước. Nếu giá cả và tiền lương thực tế đủ linh hoạt trên cả khu vực này để đối phó với những thay đổi của cầu và cung, thì các vùng trong khu vực đó nên được gắn với nhau bằng chế độ tỷ giá cố định. Sự linh hoạt tuyệt đối của giá cả và tiền lương sẽ làm cho thị trường luôn cân bằng và tạo điều kiện cho sự điều chỉnh thực tế diễn ra ngay lập 1 The New Palgrave Dictionary of Money and Finance, tập III, trang 78 tức khi có những rối loạn ảnh hưởng đến tình hình thanh toán trong khu vực mà không gây ra tình trạng thất nghiệp. Việc liên kết các vùng trong khu vực bằng chế độ tỷ giá cố định là có lợi cho toàn bộ khu vực vì điều này thúc đẩy tính hữu dụng của tiền tệ nhờ giảm bớt chi phí giao dịch, loại bỏ rủi ro tỷ giá, tiết kiệm chi phí phòng ngừa rủi ro tiền tệ, hạ thấp giá cả do giá cả trong toàn bộ khu vực trở nên dễ so sánh hơn. Sự cân bằng được duy trì bằng việc thả nổi tập thể các đồng tiền của khu vực so với các đồng tiền ngoài khu vực cũng như bằng sự linh hoạt của giá cả. Khi giá cả và tiền lương không linh hoạt thì sự điều chỉnh về vị trí cân bằng có thể gây ra thất nghiệp ở một vùng và/hoặc lạm phát ở một vùng khác. b. Sự hội nhập thị trường tài chính Nghiên cứu của Ingram (1962) đã nói lên rằng một khu vực tiền tệ thành công phải hội nhập chặt chẽ trong lĩnh vực tài chính, nghĩa là dỡ bỏ mọi rào cản đối với việc luân chuyển vốn. Khi xảy ra một sự rối loạn làm thâm hụt cán cân thanh toán thì các dòng vốn sẽ là một vùng đệm, làm cho yêu cầu điều chỉnh thực tế giảm đi hay thậm chí là việc điều chỉnh sẽ không cần thiết nữa. Nhờ các dòng vốn, quá trình điều chỉnh thực tế có thể được tiến hành trong một thời gian dài hơn. Chi phí của việc điều chỉnh cũng sẽ thấp hơn nếu có được sự linh hoạt của giá cả-tiền lương và sự tự do di chuyển các yếu tố bên trong. Do đó, sự hội nhập thị trường tài chính làm giảm nhu cầu thay đổi điều kiện thương mại giữa các vùng khi có sự biến động của tỷ giá hối đoái, ít nhất là trong ngắn hạn. c. Sự hội nhập thị trường các yếu tố Theo Mundell (1961), một khu vực tiền tệ tối ưu được xác định bởi sự tự do di chuyển các yếu tố bên trong (cả giữa các khu vực và giữa các ngành) và sự tự do di chuyển các yếu tố bên ngoài. Ví dụ, nếu giá hàng xuất khẩu ở một vùng giảm, thì để duy trì khả năng cạnh tranh với các vùng khác trong khu vực, cần điều chỉnh tỷ giá, chi phí sản xuất hoặc giá cả. Trong điều kiện tỷ giá cố định và giá cả không linh hoạt thì chỉ có thể giảm chi phí sản xuất, trong đó giảm chi phí sản xuất bằng cách giảm chi phí tiền lương là dễ thực hiện nhất, với điều kiện sức lao động được tự do di chuyển. Trên thực tế, khi giá hàng xuất khẩu giảm dẫn đến thu nhập của doanh nghiệp giảm, chủ doanh nghiệp phải cắt giảm tiền lương hay cắt giảm số lao động và lao động buộc phải rời bỏ vùng bị suy thoái để tìm kiếm việc làm mới hoặc tiền lương cao hơn ở các vùng khác. Như vậy, sự tự do di chuyển các yếu tố của sản xuất (đặc biệt là lao động) sẽ làm giảm nhẹ áp lực thay đổi giá cả thực tế của các yếu tố để đối phó với các cú sốc về cung và cầu. Do đó nhu cầu điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm điều chỉnh giá cả thực tế của các yếu tố cũng được giảm nhẹ. Theo nghĩa này, sự tự do di chuyển các yếu tố phần nào đóng vai trò là một sự thay thế cho tính linh hoạt của giá cả-tiền lương. Do thường thấp trong ngắn hạn nên sự tự do di chuyển các yếu tố giúp giải quyết sự mất cân bằng cán cân thanh toán thường xuyên trong dài hạn tốt hơn là giải quyết sự mất cân đối cán cân thanh toán tạm thời. Như vậy, sự hội nhập thị trường các yếu tố sẽ tạo điều kiện để các nước không phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm duy trì tình hình cán cân thanh toán ổn định giữa các vùng trong khu vực. d. Sự hội nhập thị trường hàng hoá Một khu vực tiền tệ thành công phải có "độ mở" bên trong cao, có nghĩa là phải buôn bán rộng rãi trong nội bộ khu vực. "Độ mở của một nền kinh tế được đo bằng tỷ lệ giữa trung bình cộng của xuất khẩu và nhập khẩu chia cho tổng sản lượng của nền kinh tế đó". Thoả thuận tiền tệ tối ưu của một nền kinh tế tương đối đóng cửa với bên ngoài và mở cửa với bên trong sẽ là neo đồng tiền của mình vào một cơ chế tỷ giá của khu vực để ổn định giá cả bên trong và áp dụng một chế độ tỷ giá linh hoạt với bên ngoài để cân bằng bên ngoài. Trong trường hợp này, việc áp dụng chính sách tỷ giá thả nổi hay tham gia vào một khu vực tiền tệ quá lớn đều không có lợi. e. Sự phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô và hội nhập về mặt chính trị Như vậy, sự hoạt động hiệu quả của một khu vực tiền tệ phụ thuộc vào sự tin tưởng tuyệt đối vào tính ổn định của tỷ giá hối đoái và khả năng chuyển đổi vô hạn của các đồng tiền các nước thành viên trong nội bộ khu vực đó. Điều này đòi hỏi các ngân hàng trung ương các nước thành viên phải phối hợp chặt chẽ với nhau và thậm chí còn phải thiết lập một ngân hàng trung ương siêu quốc gia để đảm bảo sự phối hợp đó. Cùng với sự phối hợp các chính sách tiền tệ, các nước thành viên cũng cần phải phối hợp chính sách tài khoá và chính sách thuế. Nguyên nhân là do một cú sốc xảy ra cho toàn khu vực hoàn toàn có thể tác động với mức độ khác nhau đến các nước khác nhau. Khi đó, việc di chuyển nguồn lực tài chính từ vùng ít bị ảnh hưởng sang vùng bị ảnh hưởng nặng nề sẽ có tác dụng làm giảm nhẹ gánh nặng điều chỉnh thực tế hoặc thậm chí còn giải quyết được cú sốc đó. Hệ thống thuế của khu vực tiền tệ cũng phải có sự đồng bộ để tránh các tác động tiêu cực của các hoạt động acbit tiến hành để lợi dụng sự chênh lệch về mức thuế. Kinh nghiệm của EMS cho thấy rằng sự cam kết về mặt chính trị có thể là một động lực tốt cho sự phối hợp trong lĩnh vực tiền tệ cũng như trong các chính sách tài khoá và chính sách thuế. I.3 Liên minh tiền tệ châu Âu - Một ví dụ điển hình cho liên minh tiền tệ và đồng tiền chung. 3.1 Báo cáo Werner và kế hoạch Delors Các đề xuất nhằm hội nhập châu Âu trong lĩnh vực tiền tệ đã được đưa ra từ cuối những năm 1950. Sau đó, tháng 10/1962, Uỷ ban Châu Âu đã đệ trình lên Hội đồng bộ trưởng một loạt các đề nghị về việc thực hiện các chính sách kinh tế và tiền tệ trong nội bộ cộng đồng, chuẩn bị cho việc thành lập một liên minh kinh tế và tiền tệ sau này. Năm 1964, Hội dồng các thống đốc các Ngân hàng trung ương các nước thành viên được thành lập, cùng với uỷ ban ngân sách và uỷ ban chính sách kinh tế. Tháng 2/1968, Uỷ ban châu Âu đề xuất ý kiến rằng các nước thành viên nên tự cam kết chỉ điều chỉnh tỷ giá hối đoái khi có sự đồng ý của các bên và xem xét loại bỏ biên độ dao động xung quanh các tỷ giá song phương đã ấn định. Năm sau, vào ngày 12/2/1969, một bản báo cáo với tên gọi "Báo cáo Barre" đã yêu cầu các nước phối hợp chính sách kinh tế để đảm bảo đạt được các mục tiêu trung hạn đã thoả thuận. Hội đồng châu Âu đồng tình với nhiều điểm nêu trong "Báo cáo Barre" và tiếp đó, đã yêu cầu các nước thành viên phải tham vấn tất cả các bên liên quan khác mỗi khi thay đổi chính sách kinh tế của mình, nhất là các chính sách có ảnh hưởng lớn đến các nước thành viên khác. Tại Hội nghị thượng đỉnh tại Hague ngày 1/12/1969, sáu nước thành viên EEC đã chấp thuận về mặt nguyên tắc các giai đoạn để hình thành một liên minh kinh tế và tiền tệ. Theo lịch trình thì điểm xuất phát sẽ là tháng 1 năm 1971 và kết thúc vào cuối năm 1980. Sau cuộc họp, một Uỷ ban cấp cao được thành lập để nghiên cứu các biện pháp để hình thành một liên minh tiền tệ châu Âu vào năm 1980 và ông Pierre Werner được cử làm chủ tịch. Theo các nhà phân tích, đây là sự trả lời mạnh mẽ đầu tiên của châu Âu trước những biến động trong hệ thống tiền tệ quốc tế Bretton Woods trong đó đồng đôla là đồng tiền chủ đạo. Theo tinh thần của bản báo cáo Barre, các ngân hàng trung ương đã thiết lập một quỹ hỗ trợ cán cân thanh toán trong đó các thành viên có thể vay tối đa là 1 tỷ USD trong thời hạn ba tháng nhưng thời hạn có thể kéo dài thành 6 tháng. Bản báo cáo Werner đưa ra tháng 10 năm 1970 đề xuất một tiến trình 3 giai đoạn đi đến một liên minh tiền tệ hoàn chỉnh trong thời gian một thập kỷ. Liên minh tiền tệ này khi hoàn tất sẽ có những đặc điểm sau: -Tạo lập được một đồng tiền chung của Cộng đồng (hoặc nếu không là một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định không thể điều chỉnh, biên độ dao động bằng 0 và khả năng chuyển đổi vô hạn giữa các đồng tiền của Cộng đồng); -Tự do hoá hoàn toàn các dòng di chuyển vốn; -Hình thành một hệ thống ngân hàng trung ương, tổ chức theo kiểu của Hệ thống Dự trữ Liên bang; -Thành lập một "trung tâm quyết định chính sách kinh tế" chịu trách nhiệm tập trung cho Cộng đồng trước Quốc hội châu Âu. Kết quả chính của bản báo cáo Werner là sự ra đời của cơ chế "Con rắn tiền tệ" vào năm 1972, và như chúng ta đã thấy ở phần trên, cơ chế này gặp phải một số vấn đề và đã phải chấm dứt sự hoạt động vào năm 1978. Một trong những nguyên nhân cơ bản khiến cho liên minh tiền tệ không trở thành hiện thực vào năm 1980 như dự kiến là do điều kiện khách quan không thuận lợi và do các nước châu Âu đã quá lạc quan tin tưởng vào sự thành công của nó. Năm 1971, Hệ thống Bretton Woods sụp đổ, đồng đôla được thả nổi, tiếp theo đó vào các năm 1973-1974, cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất nổ ra đã gây ra một giai đoạn rối loạn trong lĩnh vực tiền tệ. Các nước giờ đây được giải phóng khỏi chế độ tỷ giá cố định nên được tự do áp dụng các biện pháp khác nhau để đối phó với việc giá dầu mỏ tăng. Ví dụ trong khi Anh và Italia áp dụng chính sách mở rộng tiền tệ để phòng ngừa suy thoái kinh tế thì các nước khác như Đức lại sử dụng chính sách thiểu phát để tránh nguy cơ lạm phát. Các chính sách khác nhau đó làm cho tỷ lệ lạm phát giữa các nước là rất khác nhau, do đó mọi hy vọng về khả năng duy trì một chế độ tỷ giá cố định lâu dài đều bị tiêu tan ngay sau đó. Trong khoảng thời gian từ 1971-1975 chỉ số giá tiêu dùng của Pháp tăng 51%, Đức tăng 34,7% và Anh tăng tới 82,5%. Kế hoạch xây dựng một liên minh tiền tệ do nhóm của Werner đưa ra tỏ ra là một dự án đi trước thời đại và do đó đã bị gác lại. Mức độ nỗ lực hội nhập tiền tệ châu Âu dao động cùng với chu kỳ biến động của đồng đôla: lên cao nhất khi đồng đôla suy yếu, như vào các giai đoạn đầu và cuối các thập kỷ 1960, 1970. Sau Báo cáo Werner, nỗ lực tiếp theo nhằm ổn định tình hình tiền tệ châu Âu là hình thành Hệ thống tiền tệ châu Âu theo sáng kiến riêng của Thủ tướng Đức Helmut Schidt, và Tổng thống Pháp thời bấy giờ - Valery Giscard d'Estaing, với sự hỗ trợ của một người thứ ba, ông Roy Jenkins, chủ tịch Hội đồng châu Âu lúc bấy giờ. Những ngày đầu của EMS hoạt động với những thành công và thất bại không rõ ràng, và ngay từ đầu EMS đã không được coi là phương tiện để đi đến EMU. Vào giữa những năm 1980, Tây Âu ở vào giai đoạn tăng trưởng kinh tế dài nhất của mình kể từ năm 1945. Cộng đồng châu Âu, như tên gọi của nó lúc bấy giờ, đã bước ra khỏi thời kỳ đình trệ về chính trị. Thủ tướng Helmut Kohl ở Đức, Tổng thống Francois Mitterand ở Pháp và Thủ tướng Margaret Thatcher ở Anh, tất cả đều đang rất ổn định về quyền lực và sẵn sàng bắt tay vào thực hiện một sáng kiến lớn ở châu Âu. Trên thực tế, EMS đã phục hồi được phần nào sự ổn định tỷ giá ở châu Âu. Mức độ dao động trong khoảng thời gian từ năm 1986 đến năm 1989 chỉ bằng 1/4 mức dao dộng của thời gian 1975-1979. Tháng 6/1988, tại cuộc họp Hội đồng châu Âu tại Hannover, lúc này do ông Jacque Delors làm chủ tịch, các nguyên thủ quốc gia EEC đã xác định mục tiêu lâu dài của Liên minh Kinh tế - Tiền tệ châu Âu. Hội nghị cũng quyết định thành lập một uỷ ban gồm các chuyên gia và tất cả thống đốc các ngân hàng trung ương dưới sự chủ trì của Jacques Delors để nghiên cứu vấn đề châu Âu và đưa ra những đề xuất chiến lược để đạt được EMU. Kết quả của các công trình nghiên cứu là bản báo cáo với tên gọi Kế hoạch Delors, được công bố vào năm 1989. Cũng giống như báo cáo của Werner, kế hoạch Delors đề xuất một chương trình ba giai đoạn nhằm đi đến EMU. Tuy nhiên, mặc dù kế tục một số mục đích và quan điểm của báo cáo Werner, kế hoạch Delors cũng có nhiều điểm khác biệt. Các ý kiến liên quan đến vấn đề thống nhất tiền tệ được phát triển xa hơn nữa. Tuy nhiên, trong khi báo cáo Werner nêu ra những giới hạn về thời gian thì kế hoạch Delors lại không đề cập đến vấn đề khuôn khổ thời gian để đạt được EMU. Lý do là các nước thành viên cho rằng sự hình thành đồng tiền chung sẽ được thực hiện với các tốc độ tiến triển khác nhau giữa các nước. Trong khi Pháp, Tây Ban Nha và Italy muốn chương trình tiến triển nhanh hơn nữa thì Đức, Anh và Luychxămbua lại đề nghị xem xét kỹ lại các chính sách. Quan điểm của Anh cho rằng thống nhất tiền tệ có thể được thực hiện không cần phải thành lập ngay ngân hàng trung ương châu Âu và đồng tiền chung châu Âu. Trong khi đó, lý thuyết và một phần thực tế, cũng như ý kiến của các nước EC khác lại khẳng định rằng EMU đòi hỏi một chính sách tiền tệ chung, một đồng tiền chung chứ không chỉ là một hệ thống tỷ giá hối đoái lâu dài, và một ngân hàng trung ương của EU để điều hành chính sách tiền tệ và lãi suất hơn là chỉ có sự hợp tác chặt chẽ giữa các ngân hàng trung ương các nước với nhau. Kế hoạch Delors còn nhấn mạnh về sự cần thiết phải hội nhập không chỉ trong chính sách tiền tệ mà còn trong chính sách tài khoá. Tự do hoá hoàn toàn thị trường vốn và liên kết thị trường tài chính cũng được xem là cần thiết. Trong kế hoạch xây dựng một thị trường chung của mình, Delors còn đi xa thêm một bước so với Werner là vạch ra những lợi ích và chi phí của việc hình thành EMU. Ông chỉ rõ rằng thị trường châu Âu sẽ không mang lại nhiều lợi ích cho các nước thành viên nếu tiếp tục tồn tại những yếu tố bất định do tỷ giá biến động và chi phí chuyển đổi giữa các đồng tiền tiếp tục cao như lúc bấy giờ. Do không đề ra lịch trình thời gian cụ thể nên phải tới cuộc họp của Hội đồng châu Âu tại Madrid tháng 6/1989, EC mới ấn định được thời điểm bắt đầu giai đoạn 1 của kế hoạch Delors là ngày 1/7/1990. Tiếp đó, tháng 12/1991 Hiệp ước Masstricht được ký kết trên tinh thần kế hoạch Delors, cụ thể hoá hơn nữa việc thiết lập đồng tiền chung châu Âu. Sau khi được Quốc hội tất cả các nước thành viên EC thông qua, hiệp ước trở nên có hiệu lực bắt buộc thi hành vào 11/1993. 3.2 Thực tiễn quá trình hình thành đồng tiền chung châu Âu Euro 3.2.1 Giai đoạn 1 (1990-1993) và hiệp ước Masstricht Giai đoạn 1 của EMU bắt đầu từ 1/7/1990 và kết thúc ngày 31/12/1993. Giai đoạn này phải hoàn tất toàn bộ các công việc chuẩn bị trước khi Hiệp ước Masstricht có hiệu lực. Cụ thể, các rào cản còn lại đối với sự di chuyển vốn tự do giữa các nước trong Cộng đồng châu Âu và giữa Cộng đồng và các nước thứ ba phải đã được dỡ bỏ. Các nước bắt đầu chú trọng vào tiến trình hội nhập kinh tế, bước đầu áp dụng các chương trình hội nhập nhiều năm với những mục tiêu cụ thể cho các biến số về lạm phát và ngân sách. Các chương trình này chịu sự đánh giá của Hội đồng các Bộ trưởng Kinh tế và Tài chính (ECOFIN) có mục tiêu là nhằm đảm bảo duy trì lạm phát thấp, tài chính nhà nước vững mạnh và ổn định tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên - theo đúng yêu cầu của Hiệp ước Masstricht, nhằm chuẩn bị cho việc phát hành đồng Euro làm đồng tiền chung của Cộng đồng. Hiệp ước Masstricht là sự sửa đổi bổ sung của Hiệp ước Rome (1957) về cải cách trong lĩnh vực chính trị và kinh tế. Nó tạo các điều kiện pháp lý cần thiết để hình th._.ành các tổ chức nhằm thúc đẩy quá trình hình thành EMU, ví dụ cho phép hình hành NHTW châu Âu (ECB). Hiệp ước cũng quy định những điều kiện cụ thể để một quốc gia được coi là đủ tư cách gia nhập EMU. Để gia nhập EMU, các nước phải: -Đạt được mức độ ổn định cao về giá cả, thể hiện ở tỷ lệ lạm phát (trong 12 tháng trước đó) không quá 1,5% so với tỷ lệ lạm phát của 3 nước thành viên có tỷ lệ lạm phát thấp nhất. -Duy trì tình hình tài chính của chính phủ ổn định, thể hiện ở ngân sách chính phủ không có thâm hụt quá lớn, thâm hụt không quá 3% GDP trong điều kiện bình thường, và tỷ lệ nợ chính phủ trên GDP không vượt quá 60%. Hiệp ước cho phép một sự linh hoạt nhất định khi đánh giá tiêu chí này, ở chỗ nó có tính đến những tiến bộ trước đây trong việc giảm thâm hụt ngân sách và/hoặc các yếu tố bất ngờ, đặc biệt gây ra sự thâm hụt đó. -Tuân thủ biên độ dao động bình thường mà cơ chế tỷ giá hối đoái của EMS cho phép trong ít nhất hai năm, cụ thể là trong giai đoạn đó, một nước thành viên không được chủ ý phá giá đồng tiền của mình so với tỷ giá trung tâm với một đồng tiền của một nước khác. -Duy trì tỷ lệ lãi suất dài hạn sao cho trung bình của thời kỳ mười hai tháng trước đó không quá 2% so với mức trung bình của ba nước thành viên có giá cả ổn định nhất khu vực. 3.2.2 Giai đoạn 2 (1994-1999) Giai đoạn 2 của EMU bắt đầu ngày 1/1/1994 và kéo dài đến ngày 31/12/1998. Giai đoạn này nhằm tiếp tục chuẩn bị cho các nước thành viên áp dụng đồng tiền chung. Sự thay đổi chính về mặt thể chế của giai đoạn này là việc thành lập Viện Tiền tệ châu Âu (EMI). Viện này là tiền thân của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) sau này và nhiệm vụ chính của nó là cụ thể hoá các khuôn khổ pháp lý, thực hiện các công việc tổ chức và hậu cần cần thiết khác để ECB thực hiện nhiệm vụ của mình kể từ đầu giai đoạn 3. Viện này cũng chịu trách nhiệm củng cố sự phối hợp các chính sách tiền tệ trước khi hình thành EMU và có thể tư vấn cho các ngân hàng các quốc gia thành viên về mặt này. Ngày 2/5/1998, Hội đồng họp với sự tham gia của các nguyên thủ quốc gia, bỏ phiếu quyết định việc thành viên nào sẽ áp dụng đồng Euro bắt đầu từ giai đoạn 3. Quyết định này dựa trên sự đề đạt của ECOFIN trên cơ sở những đánh giá độc lập của Uỷ ban châu Âu và Viện tiền tệ châu Âu về tình hình các nước thành viên ERM đáp ứng các tiêu chuẩn hội nhập của Hiệp ước Masstricht và các nghị định thư kèm theo. Sau khi có quyết định của Hội đồng châu Âu, ECB chính thức được thành lập và bắt đầu chuẩn bị cho việc hoạch định và thi hành một chính sách tiền tệ chung kể từ ngày 1/1/1999. 3.2.3 Giai đoạn 3: Đồng Euro đi vào lưu thông Giai đoạn 3 của EMU bắt đầu ngày 1/1/1999. Từ đầu giai đoạn này, đồng Euro trở thành đồng tiền theo đúng nghĩa của nó và tỷ lệ chuyển đổi các đồng tiền quốc gia của các nước thành viên áp dụng đồng Euro được ấn định không thay đổi. Các đồng tiền quốc gia ban đầu sẽ lưu hành song song với đồng Euro. Đồng Euro sẽ thay thế đồng ECU với tỷ lệ 1:1. Việc đồng ECU thay thế các đồng bản tệ sẽ được tiến hành dần dần trong giai đoạn này và chỉ chính thức thay thế hoàn toàn các đồng tiền quốc gia tham gia liên minh vào năm 2002. Kể từ giai đoạn này, NHTW châu Âu cũng bắt đầu thi hành một chính sách tiền tệ chung cho các nước thành viên. Nhằm đảm bảo kỷ luật tài chính để tạo điều kiện cho chính sách tiền tệ chung, Hiệp ước ổn định và phát triển cũng đã bắt đầu có hiệu lực. Một cơ chế tỷ giá mới - gọi là cơ chế tỷ giá 2, ERM2 - gắn đồng tiền các nước chưa đủ điều kiện gia nhập với đồng Euro cũng sẽ đi vào hoạt động từ đầu giai đoạn này. Cơ chế mới nhằm thúc đẩy sự hội nhập của các nước chưa đủ điều kiện với các điều kiện kinh tế vĩ mô của khu vực đồng Euro, đồng thời giúp đảm bảo sự ổn định của tỷ giá trong Liên minh Châu Âu nói chung. Vào ngày 1/1/2002, tiền giấy và tiền xu Euro chính tức được đưa vào lưu thông và tiền giấy và tiền xu nội tệ bắt đầu rút lui khỏi lưu thông. Ngày 28/1/2002, Hà Lan là nước đầu tiên hoàn thành việc thay thế toàn bộ đồng tiền quốc gia cũ bằng đồng tiền chung. Ailen và Pháp cũng kết thúc giai đoạn tồn tại song song của hai đồng tiền vào ngày 9/2 và 17/2/2002. Với 9 nước còn lại, thời kỳ này đồng loạt chính thức kết thúc vào ngày 28/2. I.4 Điều kiện cần thiết để hình thành một liên minh tiền tệ - Bài học rút ra từ thực tiễn của liên minh tiền tệ châu Âu. 4.1 Hình thành một thị trường thống nhất về hàng hoá, vốn và sức lao động Nhìn lại lịch sử phát triển của Liên minh tiền tệ châu Âu, chúng ta thấy rằng Liên minh châu Âu đã tuần tự trải qua các giai đoạn phát triển từ thấp đến cao trước khi đạt tới trình độ của một liên minh kinh tế và tiền tệ. Đó là: khu vực thương mại tự do, liên minh thuế quan, thị trường chung, giai đoạn hài hoà và phối hợp chính sách kinh tế và cuối cùng là một liên minh kinh tế hoàn chỉnh với một số chính sách kinh tế được hoạch định ở cấp độ khu vực. Hoàn thành ba giai đoạn đầu chính là đã hình thành được một thị trường thống nhất về hàng hoá, vốn và sức lao động. Với châu Âu, có thể nói rằng hai giai đoạn đầu đã được hoàn tất tương đối nhanh chóng và dễ dàng. Tính đến ngày 1/7/1968, tức là chỉ 10 năm rưỡi sau khi thành lập Cộng đồng châu Âu, tất cả các hàng rào thuế quan và về số lượng đối với hàng hoá và dịch vụ xuất và nhập khẩu đã được dỡ bỏ và Cộng đồng đã xây dựng được một biểu thuế chung với các nước bên ngoài. Tuy nhiên, Liên minh thuế quan vẫn chưa phải là điều kiện đủ để đảm bảo sự di chuyển tự do của hàng hoá và dịch vụ giữa các nước trong Cộng đồng. Trên thực tế, mặc dù các hàng rào thuế quan đã được dỡ bỏ nhưng vẫn còn vô số các rào cản thương mại khác tồn tại dưới hình thức các tiêu chuẩn về y tế, vệ sinh, an toàn, kỹ thuật khác. Các hàng rào phi thuế quan này thậm chí còn là một trở lực lớn hơn đối với thương mại. Vì nếu như chỉ có các hàng rào thuế quan, các nhà xuất nhập khẩu có thể sẵn sàng nộp thuế, nhưng khi tồn tại một hàng rào kỹ thuật, các nhà xuất nhập khẩu không có cách gì khác hơn là thích nghi quy trình sản xuất của mình cho phù hợp với tiêu chuẩn của từng quốc gia hoặc chấp nhận hàng hoá của mình không thể thâm nhập thị trường nước đó. Tuy nhiên, việc tháo dỡ các rào cản phi thuế quan lại là một công việc khó khăn và phức tạp, do mỗi nước đều có nhu cầu sử dụng các biện pháp này nhằm bảo hộ các ngành sản xuất trong nước, bảo vệ người lao động trong nước hay có thể là bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng và môi trường sinh thái. Do đó, dỡ bỏ các hàng rào này đòi hỏi phải phối hợp nhiều chính sách và luật lệ chứ không chỉ đơn giản là cắt giảm thuế như trường hợp các hàng rào thuế quan. Các nước thành viên Cộng đồng châu Âu đã phải mất hơn một thập kỷ kể từ khi thiết lập thành công liên minh thuế quan, vất vả xoá bỏ các hàng rào cản kỹ thuật đối với thương mại mà không thu được mấy thành công. Phải đến giữa những năm 1980, Cộng đồng châu Âu mới đạt được những tiến bộ quan trọng trong lĩnh vực này, dựa trên những khuôn khổ pháp lý và thể chế vững chắc như ký kết các Hiệp định đa phương, thành lập Uỷ ban châu Âu, thành lập cơ quan hành pháp ở cấp độ khu vực như Toà án tối cao châu Âu, cơ quan lập pháp như Hội đồng Bộ trưởng. Giai đoạn "thị trường chung" được coi là chính thức hoàn thành ngày 31/12/1992, ngày hoàn tất chương trình thị trường chung do Uỷ ban châu Âu đưa ra. Tuy nhiên, kể cả cho tới ngày hôm nay, vẫn còn nhiều lĩnh vực như dịch vụ tài chính, năng lượng, viễn thông... cần được tiếp tục cải cách để thị trường của Liên minh châu Âu thực sự là một thị trường chung. Nghiên cứu sự biến động của tỷ giá hối đoái ở châu Âu giai đoạn từ 1960 đến cuối năm 1992, thời điểm được coi là hoàn thành giai đoạn thị trường chung, chúng ta sẽ thấy rằng những giai đoạn mà quá trình hội nhập của châu Âu tiến triển thuận lợi thường đi kèm với sự ổn định của tỷ giá hối đoái. Đó là thời kỳ tỷ giá ổn định theo Hệ thống Bretton Woods (thập kỷ 60) và Hệ thống tiền tệ châu Âu (từ 1979 trở đi). Giai đoạn những năm 1970 là thời gian tỷ giá biến động mạnh do Hệ thống Bretton Woods khủng hoảng, đồng thời cũng là thời kỳ mà các nỗ lực nhằm thúc đẩy sự ra đời của thị trường chung gặp nhiều khó khăn. Trên phương diện lý thuyết, các nghiên cứu mới đây đã chứng minh rằng sự biến động của tỷ giá hối đoái và sự hội nhập về thương mại có một mối quan hệ qua lại. Tỷ giá ổn định là điều kiện cần thiết để thực hiện chính sách kinh tế mở. Đồng thời, một nước theo đuổi chính sách kinh tế mở cửa nhất thiết cũng mong muốn duy trì tỷ giá hối đoái ổn định. Điều này cũng đúng với một khu vực tiền tệ tối ưu. Một nhóm nước dù chưa phải là một khu vực tiền tệ tối ưu nhưng nếu áp dụng một đồng tiền chung thì sau đó cũng dần dần thoả mãn các tiêu chí của một khu vực tiền tệ tối ưu như hội nhập thương mại, tài chính chặt chẽ hơn, chu kỳ kinh tế khớp nhau hơn. Tóm lại, kinh nghiệm của châu Âu về hình thành thị trường chung cho thấy một bài học quan trọng. Đó là nếu muốn áp dụng một đồng tiền chung, các nước ASEAN phải đặt ra những mục tiêu và chương trình cụ thể tiến tới thiết lập một thị trường chung chứ không chỉ thể dừng lại ở tháo dỡ các hàng rào thuế quan. Và muốn vậy, các nước ASEAN cũng cần phải chú ý hơn nữa đến việc ổn định tỷ giá hối đoái. Sao nhãng bất cứ nội dung nào trong hai nội dung trên (thiết lập thị trường chung và ổn định tỷ giá) đều cản trở việc thực hiện nội dung còn lại, và tóm lại là cản trở việc thực hiện mục tiêu về một đồng tiền chung. 4.2 Điều chỉnh kinh tế của các nước thành viên để hội nhập theo các tiêu chí thống nhất Hiệp ước Masstricht năm 1991 đã đề ra thời gian biểu chi tiết và những điều kiện để các nước tham gia vào giai đoạn cuối của quá trình hội nhập tiền tệ châu Âu. Trên thực tế, việc các nước ERM điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô nhằm thực hiện các tiêu chí của Hiệp ước Masstricht đã làm tăng sự ổn định của môi trường tiền tệ và tỷ giá hối đoái ở châu Âu từ sau năm 1993. Để đủ điều kiện tham gia khu vực đồng tiền chung, các nước thành viên phải đạt được tỷ lệ lạm phát và lãi suất (trên thực tế là thước đo mức lạm phát dự kiến) lần lượt không vượt quá 2% và 1,5% so với mức trung bình của ba nước thành viên có tỷ lệ lạm phát thấp nhất. Hai tiêu chí này chủ yếu nhằm mục đích hạn chế sự biến động của tỷ giá thực tế khi tỷ giá danh nghĩa đã được ấn định. Thêm vào đó, các nước này còn phải duy trì được tỷ giá ổn định trong biên độ cho phép của ERM mà không đơn phương điều chỉnh tỷ giá trung tâm trong ít nhất hai năm trước khi gia nhập khu vực đồng tiền chung. Điều này sẽ buộc các nước thành viên tương lai khi hoạch định chính sách tiền tệ phải cân nhắc đến lợi ích của cả khối chứ không chỉ là lợi ích của nước mình. Ngoài ra, có hai tiêu chí về mức thâm hụt ngân sách không quá 3% GDP và tỷ lệ nợ/GDP không quá 60% hay chí ít cũng đang giảm xuống mức này với một tốc độ thoả đáng. Mục đích của hai tiêu chí này là để tránh sự mất cân đối của một nước thành viên ảnh hưởng tiêu cực đến một nước thành viên khác thông qua áp lực thực hiện chính sách tiền tệ lỏng quá mức hay thậm chí là cho vay để cứu nguy cho chính phủ nước đó. Các nước Liên minh châu Âu đặc biệt coi trọng sự ổn định về mặt tài khoá. Hiệp ước ổn định và phát triển của Liên minh thậm chí còn đề ra điều khoản phạt đối với nước nào để cho mức thâm hụt tài chính quá 3%. Hiệp ước Masstricht một phần nhằm mục đích tạo ra một cơ chế loại bỏ những nước thành viên mà khi đã tham gia liên minh tiền tệ có thể không muốn áp dụng một chính sách kinh tế vĩ mô thận trọng, và khi đó sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến các nước thành viên khác trong liên minh. Mục đích cuối cùng là để hạn chế sự biến động của tỷ giá hối đoái thực tế giữa các nước thành viên EMU và tránh khả năng một số nước thi hành chính sách tài khoá lỏng, dẫn đến áp lực lạm phát trong toàn bộ liên minh. Rộng hơn nữa, các tiêu chí này còn nhằm tạo ra một môi trường ổn định giá cả và dần dần chuyển các chính sách kinh tế vĩ mô từ phục vụ lợi ích của từng nước sang phục vụ lợi ích của cả liên minh. Như vậy, điều chỉnh kinh tế để hội nhập là một tiền đề quan trọng để tránh sự bất ổn định về kinh tế vĩ mô do những thay đổi trong khả năng cạnh tranh và chính sách tiền tệ gây ra, và do đó, là một yêu cầu quan trọng trong giai đoạn chuẩn bị cho sự ra đời của một đồng tiền chung. Nhưng liệu ASEAN có thể áp dụng chính sách như EU đã làm hay không? Về vấn đề này, cần ghi nhớ rằng: Thứ nhất, một mặt tình hình châu Âu những năm 1990 và tình hình ASEAN ngày nay có nhiều điểm khác nhau. ở châu Âu, quá trình điều chỉnh kinh tế để hội nhập theo Hiệp ước Masstricht thành công là do sự ra đời của đồng tiền chung là một điều hoàn toàn chắc chắn và các nước thành viên có một mục tiêu rõ ràng là tham gia vào khu vực đồng tiền chung đó. Mặt khác, sự hội nhập này trên thực tế đã diễn ra và đạt được những kết quả đáng kể từ lâu trước khi lịch trình cụ thể đi đến EMU được công bố. Nói chung, kinh nghiệm của các nước châu Âu cho thấy rằng chính sách tài khoá và tiền tệ nhằm mục đích ổn định kinh tế vĩ mô là một tiền đề để ổn định tỷ giá hối đoái. Và chính sách tiền tệ chung và/hoặc các thoả thuận tỷ giá hối đoái chỉ có thể thành công nếu các chính sách này được tiến hành kết hợp với một chính sách nhằm điều chỉnh kinh tế vĩ mô để hội nhập. 4.3 Thiết lập một cơ chế liên kết tỷ giá Nhìn lại quá trình phát triển của cơ chế liên kết tỷ giá ở châu Âu, chúng ta có thể thấy cơ chế này đã trải qua ba giai đoạn lớn như sau: Giai đoạn một bắt đầu từ khi thành lập Cộng đồng vào năm 1957 cho đến khi thiết lập Hệ thống tiền tệ châu Âu năm 1979. Sự phối hợp trên lĩnh vực tỷ giá hối đoái ở giai đoạn này nhìn chung còn lỏng lẻo, kể cả trong khuôn khổ Hệ thống Bretton Woods cũng như cơ chế "Con rắn tiền tệ" của các nước châu Âu. Trên thực tế, các nước đều đã nhận thấy nhu cầu phối hợp trong lĩnh vực tỷ giá hối đoái cũng như chính sách tài chính và tiền tệ và đã thành lập một số uỷ ban nhằm mục đích thúc đẩy các hoạt động này như Hội đồng các Bộ trưởng Tài chính, Uỷ ban châu Âu, Hội đồng các thống đốc NHTW của Cộng đồng... Tuy nhiên, sau khi hệ thống Bretton Woods sụp đổ và cuộc khủng hoảng dầu lửa lần thứ nhất nổ ra năm 1973, các nước đã không thể thống nhất được về một biện pháp đối phó chung. Mỗi nước tự đưa ra chính sách tài khoá và tiền tệ riêng của mình để đối phó và tỷ giá hối đoái càng trở nên bất ổn định. Cuối cùng, các nước áp dụng chính sách kinh tế vĩ mô lỏng đã buộc phải rút lui khỏi cơ chế "Con rắn tiền tệ" và thả nổi đồng tiền của mình. Giai đoạn hai được đánh dấu bằng sự ra đời của Hệ thống tiền tệ châu Âu và kéo dài đến khi xảy ra cuộc khủng hoảng cơ chế tỷ giá ERM vào năm 1992- 1993. Giai đoạn này, các nước châu Âu đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực liên kết tỷ giá hối đoái, và dần dần đã đạt được một mức độ phối hợp đáng kể trong lĩnh vực chính sách tài chính, tiền tệ. Giai đoạn đầu của Hệ thống tiền tệ châu Âu cũng gặp phải những vấn đề hệt như giai đoạn "Con rắn tiền tệ", các nước thành viên liên tục phải điều chỉnh tỷ giá hối đoái. Tuy nhiên, dần dần, với một ngân hàng trung ương độc lập và chính sách tiền tệ theo đuổi mục tiêu ổn định giá cả, đồng Mark Đức đã trở thành nước neo giá danh nghĩa cho đồng tiền các nước trong hệ thống. Một số nước, cụ thể như Pháp, đã sử dụng tỷ giá hối đoái so với đồng D-Mark làm phương tiện chính để ổn định kinh tế vĩ mô. Các lần điều chỉnh tỷ giá trở nên thưa hơn và kể từ năm 1987 cho đến cuộc khủng hoảng của ERM vào năm 1992 thì không có lần điều chỉnh tỷ giá trung tâm nào. Thời kỳ cuối của giai đoạn này đã chứng kiến một cuộc khủng hoảng tỷ giá, Italia và Anh rời bỏ cơ chế tỷ giá còn biên độ dao động của các nước còn lại được mở rộng tới ±15%. Giai đoạn cuối cùng bắt đầu từ năm 1993 và kéo dài cho tới nay. Đây là giai đoạn phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô thành công với các mục tiêu chung về các chính sách tài khoá, tiền tệ, và tỷ giá hối đoái theo Hiệp ước Masstrict. Việc biên độ dao động được mở rộng tới ±15% vào tháng 8/1993 đã cho phép các nước có được một sự linh hoạt nào đó trong vấn đề tỷ giá hối đoái, giảm bớt sự căng thẳng của thị trường ngoại hối và nguy cơ các cuộc tấn công đầu cơ. Giai đoạn này đem lại một bài học bổ ích cho bất cứ nhóm nước nào xem xét việc thành lập một liên minh tiền tệ trong tương lai. Trong điều kiện ngày nay, các dòng vốn càng ngày càng được tự do di chuyển, gây khó khăn cho việc ổn định tỷ giá hối đoái. Chính vì vậy, để hình thành một liên minh tiền tệ, ASEAN sẽ phải cân nhắc phối hợp và liên kết chính sách tỷ giá ngay từ bây giờ, đồng thời với việc hình thành thị trường chung và ổn định môi trường kinh tế vĩ mô. Như kinh nghiệm của châu Âu đã cho thấy, việc phối hợp và liên kết tỷ giá sẽ tạo thuận lợi cho việc ổn định kinh tế vĩ mô, đông thời giúp tránh được những vấn đề trong việc ổn định tỷ giá hối đoái khi các các rào cản đối với việc di chuyển vốn đã được dỡ bỏ. 4.4 Tạo lập một đồng tiền khu vực và hình thành một ngân hàng trung ương độc lập với chính sách tiền tệ thống nhất Một liên minh tiền tệ không thể tồn tại nếu thiếu một đồng tiền chung. ở Liên minh tiền tệ châu Âu, đồng tiền chung với tên gọi đồng Euro đã được phát triển từ đơn vị kế toán của châu Âu lên thành đơn vị tiền tệ châu Âu, đồng ECU. So với đơn vị kế toán châu Âu, đồng ECU tồn tại với một hình thái cụ thể hơn, không chỉ được sử dụng để tính toán mà còn được sử dụng làm giá trị trung tâm của cơ chế tiền tệ châu Âu, làm cơ sở để nhận biết sự biến động khỏi biên độ cho phép của một đồng tiền thành viên, làm phương tiện thanh toán trong các giao dịch giữa các NHTW trong Cộng đồng. Sau đó, khi đã chuẩn bị đầy đủ các tiền đề khác, ngày 1/1/1999, một đồng tiền chung, đồng Euro, đã chính thức ra đời và tồn tại với đầy đủ các chức năng của một đồng tiền. Đồng Euro thay thế đồng ECU với tỷ lệ 1:1 và các nước châu Âu thậm chí đã chờ thêm ba năm nữa trước khi phát hành đồng Euro để sử dụng rộng rãi trong dân chúng. Nói đến EMU không thể không nói đến Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) và hệ thống các NHTW các nước thành viên. Trên thực tế, NHTW châu Âu đã được phát triển từ Quỹ hợp tác tiền tệ châu Âu (EMCF) và sau này là Viện tiền tệ châu Âu (EMI). Khi EMI ra đời, các mục tiêu hoạt động của EMCF được chuyển giao cho EMI (1/1994) và sau đó lại được chuyển giao cho Hệ thống Ngân hàng trung ương châu Âu (ESCB) đảm nhiệm (1998). Mục tiêu quan trọng nhất của ECB là duy trì sự ổn định giá cả của toàn khu vực đồng Euro, vì EU cho rằng sự ổn định giá cả sẽ là điều kiện tiên quyết để tạo ra một môi trường ổn định để khuyến khích các hoạt động kinh tế, tạo công ăn việc làm, và nói một cách tổng quát là tăng phúc lợi xã hội, do đó, sẽ góp phần đạt được các mục tiêu chung của Cộng đồng. Tất nhiên, trong quá trình phát triển của mình, rất có thể có những giai đoạn một hoặc một vài nước thành viên muốn hy sinh mục tiêu ổn định giá cả để giải quyết các ưu tiên khác, như vấn đề thất nghiệp chẳng hạn. Chính vì vậy mà sự tồn tại của một ngân hàng trung ương độc lập với một chính sách tiền tệ thống nhất là một điều kiện vô cùng quan trọng cho sự tồn tại của một liên minh tiền tệ. Ngân hàng trung ương của liên minh và hệ thống các ngân hàng trung ương quốc gia phải đảm bảo sự độc lập trong quá trình hoạch định và thực thi các nhiệm vụ về chính sách tiền tệ của mình. Chỉ khi có được sự độc lập đó thì mục tiêu ổn định giá cả mới có thể được thực hiện một cách hiệu quả. Trên thực tế, hệ thống ngân hàng trung ương châu Âu đã và đang tồn tại độc lập, không chịu sức ép của một thế lực chính trị nào nhằm phục vụ cho các mục tiêu và lợi ích ngắn hạn của họ. Hàng năm ECB công bố mục tiêu ổn định giá cả của mình và cam kết thực hiện chúng, dưới sự giám sát và đánh giá một cách dễ dàng của tất cả các nước thành viên. Tóm lại, một liên minh tiền tệ nhất thiết sẽ đòi hỏi sự ra đời một ngân hàng trung ương và một đồng tiền chung. Và để ra đời một ngân hàng và một đồng tiền như vậy, đòi hỏi phải có một quá trình chuẩn bị như tồn tại một thể chế khu vực dưới dạng quỹ tiền tệ khu vực, một đơn vị kế toán hay thanh toán chung của khu vực. Có như vậy, ngân hàng trung ương và đồng tiền chung mới có thể ra đời một cách xuôn xẻ và hiệu quả CHƯƠNG II: KHẢ NĂNG, LỢI ÍCH VÀ LỘ TRÌNH TIẾN TỚI ĐỒNG TIỀN CHUNG ASEAN II.1 Khả năng hình thành một đồng tiền chung ASEAN Quá trình thành lập một liên minh tiền tệ ở ASEAN chắc chắn cũng phải trải qua một giai đoạn mà EMU đã trải qua, nghĩa là đáp ứng các tiêu chí cụ thể để hội nhập, một hình thức thoả thuận tỷ giá nào đó (có thể là thiết lập các tỷ giá trung tâm với biên độ dao động thích hợp), thiết lập các quy định về tài khoá, về cạnh tranh ở cấp độ khu vực, và tự do hoá thị trường vốn và thị trường lao động. Tất nhiên, ASEAN và Tây Âu có nhiều điểm khác biệt. Thứ nhất, ở ASEAN không có nước nào có thể giữ vai trò trung tâm như Đức ở Tây Âu, một nền kinh tế không chỉ lớn về quy mô mà còn có một quá trình dài kinh tế vĩ mô ổn định. Thứ hai, và không kém phần quan trọng, các nước Tây Âu không chênh lệch về mặt trình độ phát triển kinh tế như các nước ASEAN. Tuy nhiên, xem xét khả năng ra đời của một liên minh tiền tệ ở ASEAN cũng phải dựa trên việc xem xét và đánh giá các điều kiện để hình thành một liên minh tiền tệ đã phân tích ở trên. 1.1 Khả năng hình thành một thị trường tự do di chuyển các yếu tố Như đã phân tích ở trên, việc tạo ra một môi trường tỷ giá thuận lợi cho sự phát triển của thương mại giữa các nước trong khu vực, cạnh tranh lành mạnh chính là một động cơ quan trọng khuyến khích ASEAN tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tiền tệ và tỷ giá. Việc tăng cường hội nhập trong lĩnh vực thương mại, cả ở cấp độ quốc tế và khu vực đều là cách để ASEAN hợp tác tiền tệ và tỷ giá thành công. Về mặt này, các nước ASEAN hiện đã cam kết thiết lập một Khu vực Thương mại tự do ASEAN vào năm 2008, và đối với một số nước phát triển hơn là năm 2003. Tất nhiên, một khu vực thương mại tự do mới chỉ là giai đoạn đầu trên con đường tiến tới thành lập một liên minh tiền tệ 1.1.1 Sự tự do lưu thông hàng hoá Cho đến nay các nước ASEAN đã đạt được những kết quả đáng khích lệ trong việc tạo lập một thị trường hàng hoá tự do lưu thông. Những nỗ lực trong việc cắt giảm thuế quan theo CEPT trong những năm qua đã góp phần làm cho mức thuế trung bình của các sản phẩm CEPT trong khu vực đã giảm từ 12,76% năm 1993 xuống 2.63% (dự tính)vào năm 2003. Với thành tích đó, các chuyên viên kinh tế ASEAN đã bắt đầu thảo luận về một kế hoạch giảm thuế xuống mức 0-5% đối với 8000 mặt hàng vào năm 2002 và thêm 1000 vào năm 2003 trong tổng số 9103 mặt hàng phải giảm thuế xuống mức này. Về các hàng rào phi thuế quan, ASEAN đã đưa ra định nghĩa cụ thể về các rào cản thương mại phi quan thuế ( NTBs) thích ứng với việc thực hiện các quy định về AFTA, đồng thời các nước ASEAN cũng đã xác định được những NTBs chủ yếu tác động lên thương mại nội bộ khu vực, bao gồm thuế phụ thu hải quan, các biện pháp kỹ thuật, những yêu cầu về đặc điểm sản phẩm và các biện pháp độc quyền nhóm Phương thức để loại bỏ các rào cản kỹ thuật mà các nước ASEAN đưa ra là hài hoà các tiêu chuẩn sản phẩm và công nhận lẫn nhau giữa các nước thành viên về chế độ hải quan. Hợp tác hải quan cũng được tiến hành rất tích cực trong phạm vi ASEAN, thông qua hội nghị các Tổng cục trưởng hải quan ASEAN. Các vấn đề quan trọng như: Điều hoà danh mục thuế, các hệ thống xác định trị giá hải quan, đơn giản hoá và điều hoà các thủ tục hải quan, triển khai hệ thống hành lang xanh đối với hàng hoá thuộc CEPT và vấn đề ký kết Hiệp định Hải quan, đã lần lượt được đưa ra thảo luận tại các Hội nghị. Như vậy, khả năng hình thành một khu vực thương mại hàng hoá tự do là hoàn toàn hiện thực và sẽ được hoàn tất trong tương lai không xa. Nếu so sánh với tiêu chí của khu vực tiền tệ tối ưu về hội nhập thị trường hàng hoá thì các số liệu về thương mại nội bộ khối của ASEAN cũng tương đối thuận lợi. Bảng 1. cho thấy rằng nếu tính theo tỷ trọng thương mại trong tổng thương mại thì tỷ trọng trên 50% của EU cũng như khu vực đồng Euro đều cao hơn nhiều mức của ASEAN và Mercosur. Một nguyên nhân là do tầm quan trọng của thị trường khu vực đối với ASEAN và EU là khác nhau. Tuy nhiên, nếu xét tới tỷ trọng thương mại trong GDP, chúng ta thấy rằng tỷ lệ này của EU và ASEAN cũng tương đối đều nhau, và cả hai đều cao hơn nhiều so với tỷ lệ của Mercosur. Theo lý thuyết khu vực tiền tệ tối ưu, tỷ lệ thương mại nội bộ khu vực càng cao thì lợi ích mà một đồng tiền chung mang lại càng lớn nhờ giảm được chi phí giao dịch và những tác động tiêu cực của sự biến động tỷ giá đối với thương mại. Cũng cần nhớ rằng mặc dù tỷ trọng thương mại nội bộ trong tổng lưu lượng thương mại của ASEAN không cao như EU nhưng ổn định tỷ giá khu vực vẫn có một ý nghĩa quan trọng đối với ASEAN để tránh những tác động tiêu cực của sự biến động tỷ giá đối với khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu từ các nước ASEAN sang cùng một thị trường thứ ba. Điều này cũng có nghĩa là sự phối hợp tiền tệ và tỷ giá của ASEAN có thể có những điểm khác với EU. Chẳng hạn, các nước ASEAN có thể sẽ muốn có một hình thức neo giá với bên ngoài hoặc một rổ tiền tệ có chứa đồng tiền của các nước bạn hàng chính. Bảng 1. Thương mại nội bộ khu vực của ASEAN và các khối kinh tế khác 1995 2000 Xuất khẩu Nhập khẩu Xuất khẩu Nhập khẩu % trong tổng thương mại khu vực ASEAN 5 23.2 17.8 22.4 22.6 ASEAN 25.3 19.1 23.9 24.3 EU 62.4 61.0 62.1 57.9 Khu vực Euro 52.1 51.3 50.8 48.1 Mercosur 22.6 20.3 23.5 23.9 % trong tổng GDP khu vực ASEAN 5 11.7 9.9 17.0 14.6 ASEAN 12.6 10.5 17.6 15.3 EU 14.6 13.6 18.0 16.8 Khu vực Euro 12.2 11.2 15.6 14.6 Mercosur 1.9 1.8 2.3 2.5 (Nguồn: IMF, World Economic Outlook, Direction of Trade Statistics,World Bank World Development Indicators, 2001) ASEAN 5: Indonesia, Malaysia, Philipin, Singapore, và Thái Lan Mercosur: Achentina, Brazil, Paraguay, Uruguay, Bolivia và Chile Như vậy, khả năng hình thành một thị trường thống nhất về hàng hoá, bước đầu tiên trên con đường tiến tới một liên minh tiền tệ ASEAN là hoàn toàn chắc chắn. Và như cả lý thuyết về khu vực tiền tệ tối ưu và thực tiễn của EMU đã cho thấy, một khi hàng hoá đã được tự do lưu thông giữa các nước ASEAN, yêu cầu ổn định tỷ giá hối đoái giữa các nước thành viên sẽ càng được củng cố thêm, thúc đẩy các nước này thiết lập một cơ chế ổn định tỷ giá. 1.1.2 Sự tự do di chuyển các dòng vốn và lao động Nói đến khả năng ASEAN trở thành một khu vực tự do di chuyển các dòng vốn, chắc chắn phải nhắc đến Hiệp định khung về khu vực đầu tư ASEAN (AIA) với hai mục tiêu chính như sau: Thứ nhất, xây dựng một Khu vực đầu tư ASEAN có môi trường đầu tư thông thoáng và rõ ràng hơn nhằm thu hút đầu tư từ cả nguồn trong và ngoài ASEAN; cùng thúc đẩy ASEAN thành một khu vực đầu tư hấp dẫn; củng cố và tăng cường tính cạnh tranh trên các lĩnh vực kinh tế của ASEAN; giảm dần hoặc loại bỏ những quy định và điều kiện đầu tư có thể cản trở các dòng đầu tư và sự hoạt động của các dự án đầu tư trong ASEAN; Thứ hai, đảm bảo rằng việc thực hiện những mục tiêu trên sẽ góp phần hướng tới tự do lưu chuyển đầu tư vào năm 2020. Để hoàn thành các mục tiêu trên, các nước ASEAN sẽ thực hiện: Một chương trình hợp tác đầu tư ASEAN nhằm khuyến khích đầu tư mạnh mẽ hơn từ các nước ASEAN và các nước ngoài ASEAN; Chế độ đối xử quốc gia được dành cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020; Tất cả các ngành nghề được mở cửa cho các nhà đầu tư ASEAN vào năm 2010 và cho tất cả các nhà đầu tư vào năm 2020; Khu vực kinh doanh đóng vai trò to lớn hơn trong các nỗ lực hợp tác về đầu tư và các hoạt động có liên quan trong ASEAN; Di chuyển tự do hơn về vốn, lao động lành nghề, chuyên gia và công nghệ giữa các quốc gia thành viên. Hoàn thành kế hoạch AIA nói trên, các nước ASEAN sẽ hoàn thành tiếp bước thứ hai trên con đường tiến tới một liên minh tiền tệ ASEAN mà Cộng đồng châu Âu cũng phải tới năm 1992 mới hoàn thành. Các nghiên cứu của các nhà kinh tế trên thế giới đã thậm chí còn kết luận rằng so với các nước EU vào thời điểm ký kết Hiệp ước Masstricht, ASEAN có mức độ tự do di chuyển lao động và vốn tương đối cao. Chẳng hạn, công nhân từ các nước Inđônêxia, Malaixia, Philippin và Thái Lan chiếm khoảng 10% lao động có việc làm tại Singapore, và chiếm khoảng 2% lực lượng lao động của các nước xuất khẩu lao động. Đây là những dấu hiệu cho thấy rằng khu vực hoàn toàn có những điều kiện cần thiết đầu tiên để tạo lập một đồng tiền chung. 1.2 Khả năng ổn định kinh tế vĩ mô của khối Ôn định kinh tế vĩ mô là một trong những điều kiện quan trọng để hình thành một liên minh tiền tệ tiền tệ. Môi trường kinh tế vĩ mô của các nước thành viên tương lai càng ổn định thì các nước này càng ít cần phải sử dụng đến chính sách tiền tệ của riêng nước mình để đối phó với các cú sốc, và như vậy sẽ sẵn sàng tham gia vào một khu vực đồng tiền chung hơn. Kinh nghiệm của EMU thậm chí còn cho thấy rằng ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định tỷ giá là hai mục tiêu hỗ trợ cho nhau, nghĩa là thực hiện tốt một mục tiêu sẽ hỗ trợ việc thực hiện mục tiêu kia. Bảng 2. Tình hình ngân sách chính phủ một số nước châu á % GDP 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Trung Quốc -1,5 -1,8 -3,0 -4,0 -3,6 -3,2 -3,2 Hàn Quốc 1,0 -0,9 -3,8 -2,7 2,5 2,0 1,2 ASEAN Indonesia -0,6 -2,1 -1,5 -2,3 -3,7 -2,5 Malaysia -2,6 -1,8 -4,1 -4,2 -5,9 -3,5 Philippines -0,6 -2,1 -1,5 -3,4 -4,1 Singapore 9,3 9,2 3,6 4,5 7,9 6,3 3,1 Thailand 2,8 -3,2 -8,4 -12,3 -4,1 (Nguồn: WB và IMF (WEO 12/2001)) Trên thực tế, tuy còn một số thành viên kém phát triển và kinh tế vĩ mô không ổn định, nhiều nước trong ASEAN thời gian qua đã đạt được tỷ lệ lạm phát tương đối thấp và mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ trong GDP nhỏ. Mặc dù những năm gần đây, khủng hoảng và suy thoái kinh tế khu vực đã làm môi trường kinh tế vĩ mô khu vực kém ổn định hơn trước nhưng tỷ lệ thâm hụt ngân sách của các nước ASEAN vẫn giữ ở mức thấp so với mức của các nền kinh tế đang chuyển đổi khác. Tuy các chỉ số kinh tế vĩ mô không đồng đều như của khu vực đồng tiền chung Châu Âu, nhưng môi trường kinh tế vĩ mô của ASEAN vẫn được coi là tương đối ổn định và thuận lợi cho việc hình thành m._.g, hiệu quả cũng như sức cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam. Thứ hai, chính sách thương mại còn cần khai thác triệt để thế mạnh của chính sách kinh tế nhiều thành phần để tăng cường tính năng động và khả năng thích ứng nhanh. Một trong những hệ quả tất yếu của hội nhập kinh tế quốc tế là chuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực. Dưới sức ép cạnh tranh một ngành sản xuất không hiệu quả có thể sẽ phải mất đi để nhường chỗ cho một ngành khác có hiệu quả hơn. Quá trình này sẽ diễn ra một cách suôn sẻ hơn, với chi phí thấp hơn nếu nền kinh tế có được tính năng động và khả năng thích ứng cần thiết. Đối với nước ta, hai đặc tính này sẽ được tăng cường nếu khai thác được hết thế mạnh của chính sách kinh tế nhiều thành phần. Chính sách thương mại một mặt cần thúc đẩy việc nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp quốc doanh, mặt khác cần khuyến khích sự phát triển của các thành phần khác trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, trong đó đặc biệt chú trọng tới các doanh nghiệp ngoài quốc doanh để tận dụng triệt để tiềm năng và khả năng thích ứng nhanh của họ. Thứ ba, chính sách thương mại cũng cần hướng tới một sự thay đổi căn bản về đối tượng và phương thức quản lý nhập khẩu. Hiện nay để điều tiết hàng hoá xuất nhập khẩu, chúng ta còn dùng nhiều biện pháp phi thuế quan. Các công cụ này đều là đối tượng phải bãi bỏ trong tiến trình hội nhập. Tiến trình loại bỏ các hàng rào phi thuế cần được tiến hành kết hợp chặt chẽ với việc cắt giảm thuế quan. Chính phủ và các Bộ ngành cần xem xét loại bỏ những biện pháp không cần thiết, đơn giản hoá các biện pháp còn lại, tạo điều kiện cho hoạt động xuất nhập khẩu. Trước hết, chúng ta nên bắt đầu bằng các biện pháp quản lý hành chính, tiếp đến là các biện pháp phi thuế quan phổ thông như giấy phép, hạn ngạch. Đối với những mặt hàng vẫn cần duy trì giấy phép, Bộ Thương mại tăng cường phối hợp với các Bộ, ngành chức năng cải tiến các thủ tục cấp giấy phép, bãi bỏ cơ chế "xin - cho", tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam xuất nhập khẩu. Việt Nam cần tự do hoá hoàn toàn quyền kinh doanh xuất nhập khẩu để tất cả các mặt hàng không phải chịu hạn chế định lượng (trừ các mặt hàng vì lý do sức khoẻ, an ninh, môi trường) và được nhập khẩu tự do với mức thuế suất thích hợp. Đối với những mặt hàng cần được bảo hộ để duy trì sự tồn tại và phát triển của các ngành sản xuất trong nước cũng cần loại bỏ dần các quy định về giấy phép nhập khẩu và hạn ngạch, chuyển sang bảo hộ bằng thuế quan cao trong thời gian đầu sau đó, cắt giảm dần thuế quan để tránh tư tưởng trông chờ vào bảo hộ của các doanh nghiệp và thực hiện các cam kết theo CEPT. Đồng thời trong khuôn khổ AFTA, Việt Nam cùng với các nước ASEAN sẽ ký các Hiệp định thừa nhận các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh, an toàn, chất lượng của nhau, xoá bỏ những rào cản kỹ thuật trong thương mại nội bộ khối. Đồng thời, Việt Nam cần bổ sung, hoàn thiện chính sách thương mại bằng các công cụ quản lý xuất nhập khẩu tiên tiến như hạn ngạch thuế quan, thuế tuyệt đối, thuế chống phá giá, thuế chống trợ cấp, phí môi trường và các biện pháp chống chuyển giá đối với một số loại hàng hoá nhập khẩu để bảo hộ sản xuất trong nước, bảo đảm thương mại công bằng và bảo vệ môi trường. Đây là công cụ được các nước dùng phổ biến và không bị loại bỏ trong quá trình thực hiện CEPT/AFTA. Như vậy, chính sách thương mại của Việt Nam cần phải loại bỏ các quy định không phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời bổ sung những công cụ quản lý tiên tiến được các nước thừa nhận và áp dụng. 2.2 Sửa đổi và hoàn thiện hệ thống thuế Một trong những yêu cầu của quá trình thực hiện CEPT/AFTA hướng tới hình thành đồng tiền chung là phải điều chỉnh hệ thống thuế, mà quan trọng nhất là thuế xuất khẩu, nhập khẩu. Đồng thời, hệ thống thuế của Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều điểm chưa hợp lý cần phải sửa đổi và hoàn thiện. Việc điều chỉnh hệ thống thuế phải đáp ứng một số nguyên tắc: - Điều chỉnh hệ thống thuế của Việt Nam phải thúc đẩy quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước trong khu vực ASEAN, tăng cường sức cạnh tranh so với các nước trong khu vực để thu hút đầu tư nước ngoài. - Phát huy nội lực của nền kinh tế và đóng góp nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo cam kết phải đi cùng với việc điều chỉnh các loại thuế nội địa hợp lý hơn, chống thất thu thuế để không ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách Nhà nước. - Thuế xuất khẩu, nhập khẩu phải là công cụ điều tiết xuất nhập khẩu để tiến tới bỏ hạn chế xuất nhập khẩu theo hạn ngạch và định hướng. Những điều chỉnh về chính sách thuế được xác định theo hai mục tiêu chính: cố gắng hạn chế phần giảm thu ngân sách khi thực hiện các cam kết về giảm thuế nhập khẩu, đồng thời sử dụng hệ thống thuế như một công cụ kinh tế vĩ mô để khuyến khích sản xuất và xuất khẩu, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam. Hai mục tiêu này cần được thực hiện thông qua toàn bộ hệ thống thuế vì tác động đến các nhà sản xuất và xuất khẩu không chỉ có thuế xuất khẩu, nhập khẩu mà cả các loại thuế khác. Trước hết, hệ thống thuế cần phải được điều chỉnh một cách toàn diện, khắc phục những bất cập của tất cả các sắc thuế nhằm hạn chế thất thu thuế cho ngân sách Nhà nước, đồng thời tạo sự công bằng cho các doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất trong nước phát triển. Trong thời gian qua, chính sách thuế, với vai trò là công cụ quản lý vĩ mô trong nền kinh tế đã thể hiện rất rõ sự ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp giảm chi phí sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế, khuyến khích đầu tư vốn vào sản xuất chế biến hàng xuất khẩu, bước đầu thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hướng: giảm xuất khẩu hàng nguyên liệu thô, tăng xuất khẩu hàng hoá đã qua chế biến có giá trị gia tăng cao, tận dụng nguyên liệu và lao động trong nước. Tuy nhiên, những thành tựu nói trên vẫn còn thấp so với tiềm năng và khả năng phát triển của nước ta. Để tiếp tục khuyến khích đầu tư sản xuất trong nước, khuyến khích xuất khẩu, đón trước quá trình hội nhập và hạn chế tối đa các bất lợi cho sản xuất trong nước khi trở thành thành viên AFTA cũng như WTO, trong thời gian tới chính sách thuế nên điều chỉnh theo hướng sau: - Tiếp tục mở rộng những ưu đãi về thuế gián thu (cụ thể là áp dụng thuế suất 0% thuế giá trị gia tăng, không thu thuế xuất khẩu và thuế tiêu thụ đặc biệt với hầu hết hàng xuất khẩu, không thu thuế giá trị gia tăng, xử lý hoàn thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt đối với nguyên liệu và máy móc, thiết bị nhập khẩu dùng để gia công, sản xuất hàng xuất khẩu,...) tạo điều kiện cho các doanh nghiệp giảm giá thành của hàng hoá xuất khẩu, tăng sức cạnh tranh về giá của hàng hoá Việt Nam so với các nước khác trong khu vực. Theo đó, sẽ thu hẹp mặt hàng chịu thuế xuất khẩu, tiến tới chỉ thu thuế xuất khẩu đối với dầu thô, đá quý, kim loại và phế liệu kim loại, da trâu bò sống, một số sản phẩm gỗ sơ chế. Đối những mặt hàng còn tiếp tục thu thuế xuất khẩu sẽ tiếp tục được nghiên cứu xử lý theo hướng giảm bớt mức thuế suất thuế xuất khẩu. Tiếp tục áp dụng thuế giá trị gia tăng 0% và hoàn thuế nhập khẩu nguyên liệu đầu vào của những hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu vào các Khu chế xuất, thúc đẩy việc xuất khẩu sản phẩm nội địa vào Khu chế xuất. - Duy trì và tăng mức ưu đãi về thuế trực thu đối với các nhà đầu tư sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu, đặc biệt là đối với những ngành Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu và lao động. Ví dụ, những doanh nghiệp có tỷ trọng sản phẩm xuất khẩu cao và sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi hoặc miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất. Thực hiện bảo hộ có chọn lọc, có hiệu quả để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu đầu tư theo hướng hiệu quả nhằm tận dụng lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của các doanh nghiệp sản xuất trong nước để tiến tới mở rộng xuất khẩu sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Trước mắt, các cơ quan chức năng sẽ nghiên cứu để tăng thuế suất thuế nhập khẩu những mặt hàng cần khuyến khích đầu tư trong tương lai, giảm thuế suất thuế nhập khẩu một số mặt hàng đã được bảo hộ trong thời gian dài nhưng chưa phát triển nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh hàng hóa của Việt Nam với các nước trong khu vực, hiện tại là chiếm lĩnh thị trường xuất khẩu đã có, tiến tới mở rộng thị trường xuất khẩu mới và tăng dần tỷ trọng xuất khẩu những thị trường quen thuộc. Việc điều chỉnh thuế suất này phải tính đến các cam kết cắt giảm thuế quan CEPT của Việt Nam, nhưng nói chung khi xây dựng các Danh mục hàng hoá của Việt Nam, các cơ quan chức năng đã tính tới vấn đề bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước. Biểu thuế nhập khẩu cần được đơn giản hoá các mức thuế tức là giảm dần số lượng các mức thuế suất khác nhau. Việc này sẽ tạo điều kiện quản lý tốt hơn, tránh thất thu thuế. Đồng thời, giảm mức chênh lệch giữa biểu thuế ưu đãi và đặc biệt ưu đãi để hạn chế sự lệch lạc về nguồn nhập khẩu từ những nước được hưởng ưu đãi thuần tuý về thuế nhập khẩu mà ít dựa trên chất lượng và tính năng sử dụng của hàng hóa. Hơn nữa, cần có chính sách miễn giảm thuế hợp lý. Hiện nay, vẫn còn một số mặt hàng được xét miền giảm thuế theo mục đích sử dụng và những mục tiêu cần ưu tiên hỗ trợ. Các quy định về xét miễn giảm thuế quá phức tạp. Điều này dễ gây ra tình trạng gian lận, khai sai mục đích sử dụng để được hưởng ưu đãi, gây thất thu cho ngân sách. Vì vậy, cần quy định các trường hợp miễn giảm một cách rõ ràng và khoa học hơn. Nên chăng, với những mục tiêu cần ưu tiên, hỗ trợ, Nhà nước nên trợ cấp qua ngân sách, không nên sử dụng công cụ thuế để trợ giá. 2.3 Điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài Một trong những cơ hội của Việt Nam khi tham gia thực hiện AFTA là tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài không chỉ từ các nước ASEAN mà còn nhiều quốc gia khác. Tuy nhiên, cơ hội này không chỉ dành riêng cho Việt Nam mà cho tất cả các quốc gia ASEAN vì mỗi quốc gia đều có những lợi thế riêng vì vậy, để tận dụng được cơ hội này, Việt Nam phải tích cực điều chỉnh chính sách đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thông thoáng. Mục tiêu của Việt Nam từ nay đến năm 2005 thu hút khoảng 11 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn thực hiện), chính sách đầu tư của Việt Nam trong thời gian tới phải điều chỉnh theo hướng: - Mở rộng, đa dạng hoá các lĩnh vực thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, mở thêm kênh thu hút vốn (bao gồm cả việc mở dần thị trường chứng khoán) phù hợp với những cam kết trong quá trình hội nhập. Trong đó, khuyến khích mạnh đầu tư trực tiếp nước ngoài đầu tư vào các ngành công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu, chế biến, công nghiệp phục vụ phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn, các dự án ứng dụng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, dầu khí, điện tử, vật liệu mới, viễn thông, phát triển hạ tầng... - Thiết lập một mặt bằng pháp lý chung để tạo dựng môi trường kinh doanh ổn định, bình đẳng giữa các loại hình đầu tư, tiếp tục thực hiện lộ trình giảm chi phí đầu tư, tiến tới áp dụng một giá thống nhất cho cả hình thức đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài, cải cách hệ thống thuế theo hướng đơn giản hoá... Bên cạnh đó, cần loại bỏ dần và cam kết không đặt ra bất kỳ hạn chế nào khác đối với việc thành lập và hoạt động của các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài (về hình thức đầu tư, phương thức góp vốn, thị trường tiêu thụ, chính sách ngoại hối, tỷ lệ nội địa hoá, tỷ lệ xuất khẩu, công nghệ, lao động...). Nguyên tắc Đối xử quốc gia và quy chế Tối huệ quốc trong đầu tư phải được thực hiện đầy đủ. - Đơn giản hoá thủ tục đầu tư, mở rộng diện các dự án đầu tư được đăng ký cấp phép, bãi bỏ các giấy phép không cần thiết gây cản trở, ách tắc đối với hoạt động đầu tư và công khai hoá các chính sách, quy định đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài, đảm bảo nhất quán về chính sách đầu tư từ Trung ương đến các địa phương. - Thủ tục sau khi cấp phép, đặc biệt trong vấn đề giải phóng mặt bằng, thu đổi ngoại tệ phải được đơn giản hoá rõ rệt. - Cung cấp thông tin kinh doanh cũng như nhanh chóng hoàn thiện công tác hành chính, đảm bảo các yếu tố trong sạch, trách nhiệm, giải thích rõ ràng và khả năng có thể dự đoán trước. Việt Nam phải phát triển hệ thống khuyến khích đầu tư, cung cấp thông tin ra các nước về cơ hội và môi trường đầu tư ở Việt Nam. Cho đến nay, các nhà đầu tư vẫn chưa có đủ thông tin thông qua Internet hoặc các websites. - Về vấn đề chuyển giao công nghệ, Chính phủ xem xét bãi bỏ các quy định hạn chế việc chuyển giao công nghệ của nhà đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, chẳng hạn như quy định trong khoản 2, Điều 81 của Nghị định 24/2000/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 liên quan đến giới hạn góp vốn bằng công nghệ. Theo đó, Chính phủ nên bãi bỏ quy định khống chế giá trị công nghệ chuyển giao dùng để góp vốn không được vượt quá 20% vốn pháp định. Việc bãi bỏ giới hạn về tỷ lệ góp vốn bằng giá trị công nghệ sẽ tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ hiện đại từ nước ngoài vào trong nước. 2.4 Điều chỉnh chính sách tài chính - tiền tệ Chính sách tài chính - tiền tệ, đặc biệt là chính sách tỷ giá hối đoái có vị trí quan trọng hàng đầu trong các chính sách thương mại. Trong quá trình hội nhập AFTA hướng tới hình thành đồng tiền chung, nền kinh tế nước ta đang gặp nhiều khó khăn nghiêm trọng: trong hầu hết mọi lĩnh vực kinh tế, chi phí sản xuất đều rất cao, làm cho giá hàng Việt Nam cao hơn, khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam thấp so với các nước trong khu vực. Theo ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế, để thoát khỏi tình trạng hiện nay, tự do hoá kinh tế nhanh và quyết liệt hơn kết hợp với phá giá vừa phải tỷ giá danh nghĩa là giải pháp phù hợp nhất. Tuy nhiên, việc phá giá tiền tệ là một trong những quyết định hết sức khó khăn và nhạy cảm vì nó liên quan đến rất nhiều khía cạnh của hoạt động kinh tế, xã hội và đời sống của dân chúng. Do đó, cần phải nghiên cứu thận trọng trước khi quyết định có phá giá nội tệ hay không. Trong năm 2001, tỷ giá danh nghĩa của đồng tiền Việt Nam đã được cho xuống giá từ từ khoảng 4%. Trong hiện trạng nền kinh tế Việt Nam hiện nay có thể thực hiện phá giá thêm 15 -20% vì phá giá trong bối cảnh hiện nay sẽ cho phép giải quyết một loạt các vấn đề nan giải trong nền kinh tế và xã hội: nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, chuyển nền kinh tế sang phát triển hướng ngoại, cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp, củng cố hệ thống ngân hàng, tăng thu nhập cho nông dân, tạo ra thêm nhiều việc làm, giảm tỷ lệ đô thị hoá và các tệ nạn trong xã hội. Ngoài ra, phá giá tiền tệ trong bối cảnh thặng dư ngoại tệ hiện nay đi kèm với chính sách tài chính - tiền tệ chặt sẽ không kéo theo tâm lý đầu cơ ngoại tệ, không làm tỷ lệ lạm phát tăng ngoài tầm chấp nhận được. Tuy vậy, phá giá nội tệ sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến các khoản nợ Chính phủ bằng ngoại tệ, đến thu nhập cố định của người lao động và sự ổn định xã hội. Đây là những yếu tố Việt Nam cần xem xét khi quyết định phá giá trong giai đoạn hiện nay. Nhìn một cách tổng thể, chúng ta sẽ được lợi nhiều hơn khi phá giá thêm đồng tiền Việt Nam kết hợp với toàn bộ các chính sách kể trên. Trong điều kiện Việt Nam tham gia AFTA , hướng tới hình thành đồng tiền chung, vấn đề chúng ta quan tâm nhất là phá giá tiền tệ làm nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Lý thuyết và kinh nghiệm quốc tế đều khẳng định phá giá tiền tệ chủ động, đủ tầm trong bối cảnh chưa phát sinh những mất cân bằng kinh tế trầm trọng sẽ có tác dụng rất lớn tới tăng cường sức cạnh tranh của nền kinh tế, tăng xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu vì phá giá tiền tệ làm cho chi phí sản xuất trong nước thấp hơn giá cả quốc tế. Trước hết, phá giá tiền tệ là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu. Kinh nghiệm ở Việt Nam từ khi đổi mới cũng cho thấy ảnh hưởng tích cực của các cuộc phá giá (năm 1987-1988, năm 1991 và từ năm 1997 đến nay) tới tăng trưởng xuất khẩu. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng mặc dù phá giá tiền tệ là giải pháp quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nhưng tiếp tục xây dựng và thực hiện những giải pháp khác để động viên xuất khẩu vẫn là nhiệm vụ cần thiết và cấp bách vì như đã nói ở trên, phá giá tiền tệ phải đi kèm với tự do hoá toàn diện thì mới phát huy hết hiệu quả của nó. Phá giá tiền tệ làm tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế, cho phép giảm hàng rào bảo hộ mậu dịch và đầu tư, tiến tới chủ động hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. Sức cạnh tranh của một nền kinh tế thường được đo bằng tỷ lệ giữa chi phí sản xuất trong nước và giá cả quốc tế. Khi đồng tiền bị đánh giá cao và kéo dài, chi phí sản xuất trong nước sẽ cao hơn giá cả quốc tế, tức là nền kinh tế mất sức cạnh tranh. Trong nhiều năm, việc đánh giá cao nội tệ ở Việt Nam đòi hỏi phải tăng thêm bảo hộ sản xuất nội địa, trong khi đó, bảo hộ sản xuất nội địa lại bóp méo và kìm hãm các hoạt động xuất nhập khẩu đồng thời sẽ khuyến khích đánh giá cao nội tệ ở mức cao hơn. Đây là vòng xoáy rất nguy hiểm cần phải thoát ra. Vì vậy, để tăng sức cạnh tranh và đảo ngược xu hướng bảo hộ mậu dịch và đầu tư hiện nay, phá giá tiền tệ là con đường cơ bản nhất. Phá giá tiền tệ làm tăng nhanh sức cạnh tranh của nền kinh tế, giảm được các sức ép phải ưu đãi và bảo hộ sản xuất nội địa, từ đó cho phép giảm dần các hàng rào bảo hộ và đầu tư, tiến tới thoả mãn từng bước những điều kiện hội nhập AFTA, hướng tới hình thành đồng tiền chung của khu vực. 2.5 Hoàn thiện cơ chế thị trường và ổn định các điều kiện kinh tế vĩ mô Việc tham gia CEPT/AFTA của Việt Nam đã tác động tích cực đến việc hình thành và hoàn thiện cơ chế thị trường ở Việt Nam. Tuy vậy, đến nay cơ chế thị trường của Việt Nam vẫn còn sơ khai, nền kinh tế chưa được vận hành hoàn toàn theo cơ chế thị trường. Lãi suất và tỷ giá hối đoái chưa hoàn toàn được hình thành theo cơ chế thị trường, vẫn có sự kiểm soát của Nhà nước. Các thủ tục hành chính vẫn còn quá rườm rà, cơ chế “xin-cho” đã được khắc phục nhưng vẫn còn tồn tại, tệ tham nhũng, cửa quyền,... Nhìn chung, Việt Nam vẫn còn nhiều khác biệt và bất cập so với các nước khác về cơ chế, chính sách, hệ thống luật pháp cũng như thực tiễn hoạt động kinh tế. Do vậy, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam trong quá trình thực hiện CEPT/AFTA là tiếp tục đẩy mạnh việc đổi mới cơ chế và hoàn thiện cơ chế thị trường một cách đồng bộ, hoàn chỉnh, phù hợp với thông lệ quốc tế, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. Chúng ta cần phải xem xét lại một cách toàn diện thể chế kinh tế hiện hành để sửa đổi những điều không phù hợp, bổ sung những luật lệ, chính sách mới để đảm bảo sự nhất quán, hoàn chỉnh của chính sách kinh tế. Ngoài ra, cần tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường công nghệ, loại bỏ cơ chế “xin-cho” và những phương thức điều hành kinh tế của thời kỳ bao cấp để lại. Trong một cơ chế thị trường như trên, ổn định kinh tế vĩ mô là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển kinh tế. Chính sách tài chính-tiền tệ được thực hịên nhằm đảm bảo quản lý tốt thâm hụt ngân sách, duy trì mức lạm phát thấp, quản lý được nợ nước ngoài và duy trì tỷ giá hối đoái cạnh tranh. Các yếu tố như: tốc độ tăng trưởng, tốc độ gia tăng xuất khẩu, mức lạm phát, cán cân thương mại,... cần giữ ổn định ở một con số hợp lý nhất, tuỳ từng chỉ tiêu. Nếu đảm bảo được mức thâm hụt ngân sách Nhà nước ở mức 5% GDP và ở mức lạm phát hàng năm ở một con số có thể coi như đảm bảo giữ vững ổn định về kinh tế. Cùng với sự ổn định về chính trị và xã hội, ổn định kinh tế sẽ là một trong những lợi thế của Việt Nam trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam trong quá trình thực hiện AFTA. Trong những năm gần đây, mặc dù cơ cấu kinh tế của Việt Nam đã có sự chuyển dịch tích cực một phần do tác động của quá trình hội nhập kinh tế khu vực, tuy vậy, trong cơ cấu kinh tế này nông nghiệp vẫn chiếm một tỷ lệ cao so với các nước trong khu vực. Với một cơ cấu kinh tế như vậy, Việt Nam sẽ gặp nhiều bất lợi trong quan hệ thương mại với các nước trong khu vực. Vì vậy, chúng ta cần phải tận dụng những tác động tích cực của việc tham gia AFTA để đẩy mạnh quá trình chuyển dịch kinh tế hơn nữa. Chúng ta đang hướng tới một nền kinh tế với cơ cấu hiện đại trong đó các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm tỷ lệ cao với mục tiêu năm 2020 về cơ bản đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp 2.6 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động xúc tiến thuơng mại Xúc tiến thương mại là hoạt động nhằm tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội buôn bán hàng hóa và dịch vụ thương mại, bao gồm các hoạt động chủ yếu như: thông tin thương mại, hội chợ, triễn lãm, quảng cáo, trưng bày giới thiệu hàng hoá, tư vấn và môi giới thương mại, đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ để nâng cao năng lực kinh doanh,...Đương nhiên hoạt động xúc tiến thương mại gắn liền với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời là trách nhiệm của chính doanh nghiệp. Song không chỉ ở nước ta mà nhiều doanh nghiệp của các nước khác cũng không có khả năng đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm tìm kiếm thị trường và bạn hàng do thiếu kinh nghiệm nghiệp vụ, thiếu vốn. Do đó, Nhà nước không những cần chia sẻ, gánh vác mà còn quản lý và định hướng cho hoạt động quan trọng này. Để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại trong thời gian tới, Nhà nước và các tổ chức xúc tiến thương mại cần chú ý một số điểm sau: Thứ nhất, quán triệt đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của công tác xúc tiến thương mại ở tất cả các cấp độ kể cả Trung ương và chính quyền địa phương, các tổ chức xúc tiến thương mại và các doanh nghiệp trong tình hình hiện nay là vô cùng cần thiết. Trong bối cảnh Việt Nam tham gia AFTA với mục tiêu tự do hóa về thương mại và đầu tư, không chỉ riêng Việt Nam mà tất cả các nước ASEAN, đều rất quan tâm đến lĩnh vực xúc tiến thương mại nhằm mục đích hỗ trợ cho doanh nghiệp đón nhận được những cơ hội kinh doanh, giành phần thắng trong cuộc cạnh tranh thương mại trong khu vực. Thứ hai, Nhà nước sớm thống nhất, hoàn chỉnh thể chế và năng lực hành động của hệ thống xúc tiến thương mại trên cơ sở chiến lược xuất khẩu của cả nước, của từng ngành, từng địa phương ở những cung độ ngắn, trung, dài hạn. Thứ ba, xây dựng cơ sở hạ tầng cho hoạt động xúc tiến thương mại. Hiện nay ở trong nước, kể cả Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh rất thiếu địa điểm có trang thiết bị, phương tiện và tiện nghi để có thể tổ chức những cuộc triển lãm thương mại tầm cỡ khu vực và quốc tế. Thứ tư, đào tạo đội ngũ xúc tiến thương mại cho các doanh nghiệp từ ngoại ngữ, kiến thức luật pháp thương mại quốc tế, nghệ thuật đàm phán,... 2.7 Phát triển kinh tế - xã hội tạo việc làm để giải quyết thất nghiệp Phát triển kinh tế xã hội tạo mở việc làm là giải pháp cơ bản nhất, quan trọng nhất, quyết định việc tăng, giảm chỗ làm việc. Do vậy, phải thực hiện các hoạt động nhằm giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tạo mở việc làm nhằm đạt mục tiêu ổn định việc làm cho người đã có việc làm và tạo 5 - 5,5 triệu chỗ làm việc mới trong 5 năm. Nhà nước cần tập trung một số chương trình phát triển kinh tế trọng điểm tạo việc làm, thu hút nhiều lao động bao gồm: Thứ nhất, các chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn - Tập trung thâm canh hơn 8 triệu ha đất nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đặc biệt là những vùng trọng điểm sản xuất nông nghiệp hàng hoá, chú trọng đầu tư phát triển kinh tế trang trại. - Đầu tư, khai thác tiềm năng của các tỉnh đồng bằng để phát triển nuôi trồng thuỷ sản, khai thác tiềm năng biển, mở rộng nghề đánh bắt ngoài khơi, tạo việc làm và tăng kim ngạch xuất khẩu. - Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như thuỷ lợi, kiên cố hoá kênh mương, giao thông nông thôn, các công trình phúc lợi nhằm tăng thời gian sử dụng lao động. Thứ hai, các chương trình phát triển công nghiệp và dịch vụ Phát triển công nghiệp và dịch vụ đóng vai trò quyết định đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động, nâng cao chất lượng lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Theo định hướng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2001-2005, trong lĩnh vực việc làm cần chú trọng các chương trình: - Chương trình xây dựng và phát triển các khu công nghệ cao, chủ yếu ở các vùng kinh tế động lực, các đô thị lớn, thu hút lao động có trình độ cao để tăng sức cạnh tranh. - Chương trình xây dựng và phát triển các trung tâm văn hoá, thể thao, các khu du lịch. - Các công trình kinh tế-xã hội trọng điểm của Nhà nước: đường Hồ Chí Minh, thuỷ điện Sơn La, hoá dầu Dung Quất, sân bay, bến cảng,... thu hút nhiều lao động. Thứ ba, các chương trình mở rộng, phát triển làng nghề, xã nghề, phố nghề, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo việc làm mới và việc làm thêm cho người lao động, từng bước rút dần lao động nông thôn ra khỏi khu vực nông nghiệp. 2.8 Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu lao động giải quyết việc làm Trong tình hình nước ta hiện nay, xuất khẩu lao động là một giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Những năm gần đây, mỗi năm Việt Nam xuất khẩu được hơn 30.000 lao động, góp phần giải quyết tình trạng thất nghiệp. Đối với người lao động, việc đi xuất khẩu lao động giúp họ có nguồn thu nhập cao, tích luỹ vốn để cải thiện đời sống và điều kiện làm việc. Đối với Nhà nước, xuất khẩu lao động trong thời gian qua đã giảm được khoản đầu tư trong nước cho việc đào tạo nghề và tạo việc làm, đồng thời nguồn ngoại tệ quốc gia cũng được bổ sung hơn 1 tỷ USD mỗi năm do người lao động chuyển về nước. Tuy vậy, hoạt động xuất khẩu nước ta đang gặp nhiều khó khăn. Về mặt khách quan, sự cạnh tranh giữa các quốc gia tại các thị trường tiếp nhận lao động ngày càng gay gắt. Về mặt chủ quan, hoạt động này của Việt Nam còn nhiều hạn chế về chất lượng lao động, cơ chế, chính sách, sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng đối với các doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu lao động,...Vì vậy, để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu trong thời gian tới, một số giải pháp đưa ra là: -Hoàn thiện hệ thống văn bản về xuất khẩu lao động, ban hành sửa đổi, bổ sung những cơ chế chính sách cho phù hợp với sự vận động của thị trường, đó là chính sách đầu tư phát triển thị trường cần có các quy định về tái đầu tư cho các doanh nghiệp xuất khẩu lao động từ nguồn thuế doanh nghiệp phải nộp từ hoạt động xuất khẩu lao động trong 5 năm. Hỗ trợ cho doanh nghiệp từ Quỹ đầu tư phát triển thị trường của Bộ, ngành, địa phương. Thêm vào đó, Nhà nước cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhất là cơ chế về tài chính để nâng cao khả năng hoạt động và tạo sự chủ động cho doanh nghiệp xuất khẩu, ví dụ cho phép các doanh nghiệp áp dụng phí môi giới theo thông lệ quốc tế tuỳ tình hình thị trường. -Việc sắp xếp và tổ chức lại các doanh nghiệp xuất khẩu lao động dựa trên cơ sở hoạt động của các doanh nghiệp (các tiêu chí về chất lượng tuyển chọn, đào tạo, giáo dục định hướng cho lao động và các bộ quản lý lao động ở nước ngoài, chấp hành chế độ tài chính, chế độ đăng ký hợp đồng, chế độ báo cáo, quy mô lao động đi từng thị trường,..). Tiến hành thanh tra kiểm tra, kiểm tra định kỳ hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Các Bộ, ngành, địa phương chủ quản cần lựa chọn sắp xếp lại doanh nghiệp xuất khẩu lao động đảm bảo số lượng phù hợp nhưng chất lượng cao. -Tăng cường trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương trong xây dựng, quản lý, chỉ đạo hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Đầu tư về cơ sở vật chất và cán bộ, đáp ứng nhiệm vụ mở cửa thị trường và quản lý hoạt động xuất khẩu lao động. Quản lý, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu lao động. Chỉ đạo, xử lý các vướng mắc, vi phạm của doanh nghiệp, phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hiện tượng tiêu cực. KẾT LUẬN Khu vực hoá và toàn cầu hoá là hai xu hướng nổi bật trong quan hệ kinh tế quốc tế của vài thập kỷ qua. Mặc dù hai xu hướng này có tác động không giống nhau đến từng khu vực và mỗi quốc gia nhưng không một khu vực , quốc gia nào trên thế giới có thể đứng ngoài hai xu hướng này. Quá trình hội nhập kinh tế sẽ tạo ra những cơ hội và thuận lợi lớn mà nếu các quốc gia biết tranh thủ, khai thác sẽ thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Do vậy, các quốc gia đều nỗ lực hoà nhập vào xu thế chung với mục đích tận dụng tối đa sự hợp tác quốc tế để tăng cường sức mạnh dân tộc. Xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá ngày càng mạnh mẽ cũng đã và đang khuyến khích sự ra đời của các liên minh tiền tệ. Sau sự ra đời của Liên minh tiền tệ châu Âu, lý thuyết và thực tiễn đều cho thấy rằng ở ASEAN có thể hình thành một liên minh tiền tệ. Nhưng cho dù ASEAN đã có những tiền đề cần thiết để hình thành một liên minh tiền tệ và nhận thức được rõ những lợi ích mà việc tham gia vào một liên minh tiền tệ như vậy đem lại thì con đường để tiến tới một liên minh tiền tệ thành công rõ ràng vẫn rất chông gai. Châu Âu đã phải mất gần nửa thế kỷ để vượt qua những khó khăn và hình thành một liên minh như thế. ASEAN cũng sẽ phải đối mặt với những thách thức không kém phần to lớn. Nhưng cũng cần nhớ rằng nếu như các nước châu Âu đã phải mất hàng thế kỷ để công nghiệp hoá thành công thì nhiều nước ASEAN chỉ phải mất vài thập kỷ để hoàn thành công việc đó. Tương tự như vậy, chúng ta có thể hy vọng rằng con đường tiến tới một liên minh tiền tệ ASEAN sẽ không quá dài như với EMU. Bất chấp những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực, AFTA sẽ vẫn được hoàn thành theo đúng lịch trình đã đề ra, thậm chí còn sớm hơn so với mốc năm 2008 ban đầu. Cùng với AFTA, Sáng kiến Chiang Mai là những bước tiến đầu tiên tới một liên minh tiền tệ trong tương lai, mặc dù ở giai đoạn này, các nước ASEAN vẫn được phép theo đuổi các mục tiêu và áp dụng các chính sách kinh tế độc lập với nhau, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ. Quá trình hình thành một liên minh tiền tệ nhất thiết sẽ lâu dài và bao gồm nhiều giai đoạn. Các nước ASEAN mới chỉ đi những bước đầu tiên nhưng với kinh nghiệm của EU và khả năng "rút ngắn thời gian" của khu vực này, đồng tiền chung ASEAN chắc chắn sẽ không phải là một đích đến quá xa. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc8095.doc