Khóa luận Đánh giá thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng tân, huyện Ứng hòa, thành phố Hà Nội

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ------- š&› ------- NGUYỄN THỊ TRANG KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC Xà Ở Xà ĐỒNG TÂN, HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Hà Nội – 2015 HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN ------- š&› ------- KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐÁNH GIÁ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HỢP TÁC Xà Ở Xà ĐỒNG TÂN, HUYỆN ỨNG HÒA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Sinh viên thực hiện

doc92 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 12/01/2022 | Lượt xem: 33 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Khóa luận Đánh giá thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng tân, huyện Ứng hòa, thành phố Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
: Nguyễn Thị Trang Chuyên ngành đào tạo : Kinh tế Lớp : KTB – K56 Niên khóa : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : Th.s Phạm Thị Thanh Thúy Hà Nội – 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi. Toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đều đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được chỉ rõ nguồn gốc. Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2015 Người cam đoan Nguyễn Thị Trang LỜI CẢM ƠN Trong thời gian thực tập vừa qua, để hoàn thành được đề tài tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các tập thể, các cá nhân trong và ngoài trường. Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới các thầy giáo, cô giáo Khoa KT & PTNT - Trường Học viện Nông nghiệp Việt Nam những người đã truyền đạt cho tôi những kiến thức bổ ích và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện khóa luận này. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới cô giáo ThS. Phạm Thị Thanh Thúy bộ môn kinh tế nông nghiệp và chính sách đã dành nhiều thời gian, tâm huyết và tận tình hướng dẫn chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài. Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới các đồng chí ban lãnh đạo, cán bộ của Ủy ban nhân dân xã Đồng Tân cũng như của Hợp tác xã nông nghiệp Đồng Xung và Hợp tác xã nông nghiệp Mỹ Cầu, cùng toàn thể xã viên trên địa bàn xã đã cung cấp cho tôi những số liệu cần thiết và tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài tại địa bàn. Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã khích lệ, cổ vũ giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 2 tháng 6 năm 2015 Sinh viên Nguyễn Thị Trang TÓM TẮT KHÓA LUẬN Hợp tác xã là loại hình kinh tế đã tồn tại lâu dài và phát triển ở nhiều nước. Mô hình HTX được hình thành từ giữa thế kỷ 19, bắt đầu từ các nước phát triển như Anh, Pháp, Đứcvà nhanh chóng phổ biến trên thế giới. Xã Đồng Tân là một xã thuần nông thuộc huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, người dân chủ yếu làm nông nghiệp. Trong những năm qua phong trào phát triển HTX ở xã Đồng Tân không ngừng được củng cố và ngày càng thể hiện vai trò hết sức to lớn. Tuy nhiên HTX của xã đang gặp phải không ít khó khăn. Một trong những nguyên nhân chính gây ra các khó khăn là do tổ chức, quản lý hoạt động của HTX còn nhiều bất cập và các cơ chế, chính sách còn thiếu tính đồng bộ, cụ thể, khó áp dụng vào thực tiễn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực thi chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội” Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài trên với mục tiêu: Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội Để đạt được mục tiêu lớn trên tôi thông qua các mục tiêu cụ thể: - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã. - Đánh giá thực trạng thực, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đến năm 2020. - Đối tượng nghiên cứu của đề tài : hoạt động thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa - Để nắm rõ được cơ sở lý luận của đề tài, tôi đưa ra một số vấn đề: khái niệm, vai trò, đặc điểm, nguyên tắc, các loại hình HTX, khái niệm chính sách, hỗ trợ, nội dung triển khai thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX. Trong phần cơ sơ thực tiễn là kinh nghiệm hỗ trợ sản xuất cho nông nghiệp của một số nước trên thế giới: Đức, Nhật Bản, Mĩ và bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX từ đó rút ra bài học cho xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa. Trong quá trình nghiên cứu tôi chọn các phương pháp nghiên cứu: phiếu điều tra phỏng vấn hộ thành viên HTX và các cán bộ, sử dụng phương pháp tiếp cận, phương pháp chọn điểm nghiên cứu. Thu thập số liệu đã công bố qua liên hệ với các phòng ban của huyện và internet, sách, báo Thu thập số liệu mới sử dụng phương pháp quan sát và chọn mẫu, tiến hành lựa chọn ra bốn nhóm mẫu. Sử dụng phương pháp thống kê mô tả và thống kê so sánh để phân tích, dùng phần mềm excel để xử lý số liệu. Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu gồm: chỉ tiêu phản ánh tình hình triển khai chính sách, chỉ tiêu phản ánh kinh tế xã hội, chỉ tiêu phản ánh kết quả của chính sách. Ở phần kết quả nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng tình hình thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Cụ thể là tìm hiểu các chính sách hỗ trợ phát triển HTX được triển khai trên địa bàn xã, cơ quan thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX ở xã, huyện, lập kế hoach tổ chức thực hiện chính sách của xã, tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX, kết quả thực thi chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, đánh giá việc thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX trên địa bàn xã và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX ở xã Đồng Tân. Về công tác tổ chức thực thi chính sách tập trung nghiên cứu công tác chuẩn bị triển khai chính sác, tuyên truyền, phổ biến chính sách, phân công phối hợp thực hiện chính sách. Kết quả thực thi chính sách được nghiên cứu 3 chính sách là chính sách đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực và chính sách ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ và chính sách hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng. Từ thực trạng đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX ở địa phương. Hoàn thiện công tác lập kế hoạch, cải tiến công tác triển khai chính sách, nâng cao năng lực cán bộ tổ chức thực thi chính sách, đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến ở địa phương, huy động nguồn tài chính cho chính sách và cải tiến chính sách hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Chính sách hỗ trợ phát triển HTX đang được triển khai thực hiện rộng khắp trên xã Đồng Tân tạo ra sự đồng thuận giữa Đảng Ủy, chính quyền và nhân dân, nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân. MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Đồng Tân (2012 – 2014) 36 Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động xã Đồng Tân (2012 - 2014) 38 Bảng 3.3 : Tình hình cơ sở vật chất của xã năm 2014 39 Bảng 3.4: Tổng giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế xã Đồng Tân giai đoạn 2012-2014 43 Bảng 4.1 Quy mô HTX NN Đồng Xung và HTX NN Mỹ Cầu 48 Bảng 4.2 Đánh giá của cán bộ HTX về Luật sửa đổi năm 2012 53 Bảng 4.3 Tình hình phổ biến chính sách hỗ trợ phát triển HTX 54 Bảng 4.4 Nội dung lớp học đào tạo, bồi dưỡng của cán bộ HTX năm 2014 57 Bảng 4.5 Số lượng cán bộ HTX đánh giá về các lớp đào tạo, bồi dưỡng năm 2014 58 Bảng 4.6 Số lượng xã viên đánh giá về chất lượng các lớp học đã tham gia năm 2014 62 Bảng 4.7 Trình độ chuyên môn cán bộ HTXNN Đồng Xung và HTXNN Mỹ Cầu năm 2014 66 Bảng 4.8 : Trình độ học vấn của các chủ hộ xã viên HTX 69 DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ SƠ ĐỒ Sơ đồ 4.1: Cơ cấu tổ chức của HTX tại 2 thôn Đồng Xung và Mỹ Cầu. 50 Sơ đồ 4.2 Công tác chỉ đạo chính sách hỗ trợ phát triển HTX xã Đồng Tân 52 ĐỒ THỊ Đồ thị 4.1 Nội dung lớp đào tạo, bồi dưỡng mà xã viên nhận được 61 DANH MỤC HỘP Hộp 4.1: Ý kiến của xã viên về việc tuyên truyền chính sách hỗ trợ phát triển HTX 55 Hộp 4.2: Ý kiến của chủ nhiệm HTX Đồng Xung về địa điểm lớp tập huấn 59 Hộp 4.3 Đánh giá của thành viên HTX về hệ thống cấp thoát nước 64 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Ký hiệu viết tắt HTX XHCN HTXNN HTXDVNN ĐVT SL CC TTCN XD TM DV GTSX SXNN LĐ BQ KH – KT UBND Nội dung Hợp tác xã Xã hội chủ nghĩa Hợp tác xã nông nghiệp Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp Đơn vị tính Số lượng Cơ cấu Tiểu thủ công nghiệp Xây dựng Thương mại Dịch vụ Giá trị sản xuất Sản xuất nông nghiệp Lao động Bình quân Khoa học – Kỹ thuật Ủy ban nhân dân PHẦN I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hợp tác xã là loại hình kinh tế đã tồn tại lâu dài và phát triển ở nhiều nước. Mô hình HTX được hình thành từ giữa thế kỷ 19, bắt đầu từ các nước phát triển như Anh, Pháp, Đứcvà nhanh chóng phổ biến trên thế giới, không phân biệt ở nước có nền kinh tế phát triển hay đang phát triển; HTX đều có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế và ổn định xã hội. HTX là tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao, HTX hoạt động như một doanh nghiệp dựa trên các giá trị và nguyên tắc tương trợ, tự chịu trách nhiệm, dân chủ, bình đẳng, công bằng và đoàn kết, tạo nên sức mạnh trong việc giúp các hộ gia đình, cá thể, tiểu chủ hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, tăng khả năng cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường. Hơn thế, ở nhiều nước, HTX được coi là tổ chức để thông qua đó Nhà nước có thể thực hiện được nhiều chương trình quan trọng như: xoá đói giảm nghèo, ứng dụng công nghệ mới, công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, khôi phục và phát huy ngành nghề truyền thống,  chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tham gia bảo đảm an ninh chính trị và xã hội...Do vị trí và vai trò quan trọng của các HTX như vậy, nên số lượng người tham gia xã viên của HTX ngày càng đông, tổ chức của HTX ngày được hoàn thiện và mở rộng phạm vi hoạt động trong nước và quốc tế. Mỗi nước đều có hệ thống tổ chức HTX từ cơ sở đến toàn quốc, rồi tổ chức HTX từng châu lục đến khu vực và toàn thế giới. Ở Việt Nam, khái niệm HTX đã xuất hiện từ hàng chục năm nay. Mô hình HTX đã có nhiều đóng góp quan trọng trong thời kỳ xây dựng miền Bắc, xây dựng XHCN và kháng chiến thống nhất đất nước. Như hầu hết các địa phương khác, phong trào hợp tác hóa ở Thành phố Hà Nội đã diễn ra mạnh mẽ trong thời kỳ kế hoạch hóa tập trung. Trong tiến trình đổi mới, HTX đã có những thay đổi căn bản về hình thức tổ chức và quản lý. Những năm vừa qua, trong khu vực nông thôn của thành phố Hà Nội có nhiều HTX mới thành lập, và nhiều HTX cũ chuyển đổi sang hoạt động theo Luật HTX. Các HTX, đặc biệt là HTX mới thành lập đã dần tuân thủ đúng các quy định pháp luật, đảm bảo các giá trị, nguyên tắc HTX. Hoạt động của các HTX đã có bước chuyển biến, nội dung hoạt động đa dạng và rõ nét hơn. Tuy nhiên, trong quá trình chuyển đổi, vì nhiều lý do khác nhau, có rất nhiều HTX chuyển đổi một cách hình thức, số HTX này chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng số HTX ở ngoại thành Thành phố. Thực tế phát triển các HTX ở ngoại thành Hà Nội thời gian qua cho thấy, đa phần các HTX hoạt động còn mang tính đơn lẻ, thiếu sự liên kết theo hệ thống, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp; phần lớn các HTX có quy mô nhỏ, thiếu vốn để tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đại bộ phận nhân dân chưa có sự nhận thức đúng về HTX, coi HTX như một tổ chức hỗ trợ, đa số cơ sở vật chất của các HTX còn nghèo nàn, lạc hậu, chưa có các công trình và điều kiện đảm bảo dùng để ứng dụng, thực nghiệm và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho thành viên; không còn đất đai do HTX sử dụng và quản lý; trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ HTX còn nhiều hạn chế. Xã Đồng Tân là một xã thuần nông thuộc huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội, người dân chủ yếu làm nông nghiệp. Trong những năm qua phong trào phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân không ngừng được củng cố và ngày càng thể hiện vai trò hết sức to lớn, nhất là trong nông nghiệp nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, phát triển ngành nghề, cuộc sống người dân được cải thiện, mức sống tăng lên, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú. Tuy nhiên HTX của xã đang gặp phải không ít khó khăn, hạn chế, thách thức cần phải vượt qua. Đó là: nhiều HTX quy mô nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít, khả năng cạnh tranh thấp, chậm đổi mới, năng lực nội tại của các HTX còn yếu, đội ngũ cán bộ quản lý HTX còn hạn chế về trình độMột trong những nguyên nhân chính gây ra các khó khăn trên là do tổ chức, quản lý hoạt động của HTX còn nhiều bất cập và các cơ chế, chính sách còn thiếu tính đồng bộ, cụ thể, khó áp dụng vào thực tiễn. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên cho thấy việc triển khai nghiên cứu đề tài: “ Đánh giá thực thi chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, Thành phố Hà Nội” là việc làm mang tính cấp thiết, góp phần quan trọng vào việc xây dựng cơ sở khoa học cho việc đề xuất các giải pháp, chính sách phát triển các HTX ở huyện Ứng Hòa thành phố Hà Nội trong giai đoạn tới. 1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1.2.1 Mục tiêu chung Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể - Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã . - Đánh giá thực trạng thực, xác định các yếu tố ảnh hưởng tới công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. - Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội đến năm 2020. 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Các hoạt động liên quan đến công tác thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung đánh giá công tác thực thi chính sách hỗ trợ phát triển Hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. - Phạm vi không gian: Trên địa bàn xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. - Phạm vi thời gian: + Số liệu được thu thập qua 3 năm gần đây nhất (2012-2014) + Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 1/2015 đến tháng 6/2015. PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ THỰC THI CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN HTX 2.1 Cơ sở lý luận về thực thị chính sách hỗ trợ phát triển HTX 2.1.1 Cơ sở lý luận về HTX 2.1.1.1 Khái niệm HTX Lịch sử ra đời và tồn tại của HTX đã có từ rất lâu đời. Cũng đã có rất nhiều nhà khoa học quan tâm tìm hiểu, nghiên cứu những vấn đề xung quanh HTX. Có nhiều tư liệu trong nước và quốc tế định nghĩa về HTX cho thấy khái niệm HTX được hểu và định nghĩa khác nhau khau nhau tùy từng góc độ nghiên cứu và xem xét. Khái niệm về HTX có thể đưa ra các quan điểm chính sau đây : Theo GS.TS Gecrges Fauquet (1972): “ Hợp tác xã là một hiệp hội của các cá nhân cùng mong muốn thỏa mãn chung về nhu cầu cá nhân, gia đình hay nghề nghiệp thông qua thực hiện các công cụ tập thể được tự họ quản lý. Sự hợp tác này có cả những thuận lợi và rủi ro trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và trách nhiệm”. Định nghĩa này được đặt trên 2 khái niệm cơ bản là sự cố gắng của từng cá nhân và sự đoàn kết tập thể để tạo nên sức mạnh chung. Theo định nghĩa Tiếng Việt năm 1992 – Trung tâm từ điển ngôn ngữ định nghĩa: “HTX là cơ sở sản xuất, kinh doanh thuộc chế độ sở hữu tập thể do các thành viên tổ chức và trực tiếp quản lý: HTXNN, HTX mua bán, mỗi HTX bầu ra ban quản trị HTX”. Theo điều 1 Luật HTX sửa đổi (26/11/2003): Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân (sau đây gọi là xã viên ) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật này để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia hợp tác xã, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Theo luật HTX sửa đổi 2003 : Hợp tác xã hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, có tư cách pháp nhân, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Theo Liên minh HTX quốc tế( ICA) đưa ra định nghĩa về HTX: “ Hợp tác xã là một tổ chức chính trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hóa thông qua một doanh nghiệp được sở hữu chung và được kiểm soát một cách dân chủ”. Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “HTX là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào HTX phù hợp với nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”. Theo luật HTX năm 2012: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã”. 2.1.1.2 Các loại hình hợp tác xã hiện nay HTX nông nghiệp Theo điều 1, chương 1 của điều lệ mẫu HTX Nông nghiệp của Việt Nam ghi rõ: HTXNN là tổ chức kinh tế tự chủ, do nông dân và những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng nhau góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho kinh tế hộ gia đình của xã viên và kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn, phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Như vậy, HTXNN là một trong các hình thức cụ thể của kinh tế HTX trong lĩnh vực nông nghiệp, là tổ chức kinh tế của những người nông dân có cùng nhu cầu và nguyện vọng, tự nguyện liên kết lại để phối hợp giúp đỡ nhau phát triển kinh tế hoặc đáp ứng tốt hơn các nhu cầu về đời sống của mỗi thành viên, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc luật pháp quy định, có tư cách pháp nhân. Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, ngoài những đặc điểm chung của HTX thì HTX nông nghiệp còn có những đặc điểm sau: - Được thành lập để tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ nông nghiệp; - Là một tổ chức kinh tế của nông dân, có đặc trưng gắn với hộ nông dân. Các loại hình HTX nông nghiệp Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp. Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp (HTXDVNN) là tổ chức kinh tế tập thể do các cá nhân, hộ gia đình, pháp nhân có nhu cầu lợi ích chung, tự nguyện góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của Luật HTX để phát huy sức mạnh tập thể của từng xã viên tham gia HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh trong lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản và kinh doanh các ngành nghề khác ở nông thôn. HTXDVNN kinh doanh những hoạt động dịch vụ trong lĩnh vực nông thôn. Vì vậy những hoạt động của HTX nông nghiệp không chỉ gói gọn trong lĩnh vực nông nghiệp mà còn mở rộng sang các lĩnh vực khác để phục vụ nhu cầu dân cư trên địa bàn. Đối tượng phục vụ của hoạt động này cũng chính là xã viên HTX, dân cư trong khu vực. Trong loại hình này, việc sản xuất nông nghiệp là việc riêng của các hộ, do các hộ xã viên tiến hành, hợp tác xã chỉ cung ứng các dịch vụ theo yêu cầu của các hộ. các dịch vụ này gồm có: Dịch vụ các yếu tố đầu vào cho sản xuất nông nghiệp (các hợp tác xã cung ứng vật tư, giống cây trồng cho hộ xã viên); Dịch vụ các khâu cho sản xuất nông nghiệp (Hợp tác xã làm đất, tưới nước, bảo vệ thực vật, khuyến nông, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thú y, ... cho các hộ xã viên); Dịch vụ các yếu tố đầu ra cho sản xuất nông nghiệp (Hợp tác xã chế biến, tiêu thụ nông sản ...). Hợp tác xã dịch vụ kết hợp với sản xuất, kinh doanh Đối với loại hình hợp tác xã này, ngoài việc làm các dịch vụ hỗ trợ kinh tế hộ xã viên, còn tổ chức sản xuất, kinh doanh và phát triển các ngành nghề khác phục vụ sản xuất, kinh doanh và đời sống của hộ xã viên và cộng đồng. 2.1.1.3 Đặc điểm của Hợp Tác Xã. Từ định nghĩa về HTX ta thấy HTX có những đặc điểm sau: HTX là tổ chức kinh tế tập thể. Các xã viên là chủ của hợp tác xã, có toàn quyền quyết định những vấn đề tổ chức, hoạt động và phân phối lợi ích trong hợp tác xã trên cơ sở những quy định của Luật Hợp tác xã và những văn bản có liên quan. Hợp tác xã có thể được thành lập khi có số lượng xã viên từ 7 trở lên, được đăng ký và hoạt động tất cả các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Hợp tác xã có tư cách pháp nhân, hoạt động như một loại hình doanh nghiệp, bình đẳng với các doanh nghiệp khác. Hợp tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính trong phạm vi vốn điều lệ, vốn tích lũy và các nguồn vốn khác của hợp tác xã theo quy định của pháp luật. Hợp tác xã là tổ chức mang tính xã hội, rộng mở cho tất cả những ai có nguyện vọng trở thành thành viên hợp tác xã. Hợp tác xã ra đời dựa trên nguyên tắc dân chủ, bình đẳng, công khai và đoàn kết.Mỗi xã viên có 1 phiếu bầu. Mục tiêu hoạt động của hợp tác xã là mang lại lợi ích vật chất và tinh thần cho tất cả các xã viên, tập thể và cộng đồng; Xã viên có trách nhiệm và nghĩa vụ tuân thủ, thực hiện tốt những quy định trong Điều lệ của hợp tác xã, hợp tác, xây dựng và phát triển hợp tác xã. 2.1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của Hợp Tác Xã. HTX tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc sau: Tự nguyện gia nhập và ra HTX, tất cả nông dân và người lao động có điều kiện theo quy định của Luật HTX, tán thành Điều lệ HTX nông nghiệp đều có thể trở thành xã viên HTX nông nghiệp, xã viên ccos quyền ra HTX theo quy định của Điều lệ từng HTX nông nghiệp. Quản lý dân chủ, bình đẳng và công khai: Xã viên HTX nông nghiệp có quyền tham gia quản lý, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của HTX và có quyền ngang nhau trong biểu quyết, thực hiện công khai phương hướng sản xuất, kinh doanh, tài chính, phân phối và những vấn đề khác quy định trong Điều lệ HTX nông nghiệp. Tự chủ tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi: HTX tự chủ và tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự quyết định về phân phối thu nhập, bảo đảm HTX và xã viên cùng có lợi. Sau khi thực hiện xong nghĩa vụ nộp thuế và trang trải các khoản lỗ của HTX, lãi được trích một phần vào các quỹ của HTX, một phần chia theo vốn góp và theo công sức đóng góp của xã viên, phần còn lại chia cho xa viên theo mức độ sử dụng dịch vụ của HTX. Hợp tác và phát triển cộng đồng: Xã viên phải có ý thức phát huy tinh thần xây dựng tập thể và hợp tác vơi nhau trong HTX, trong cộng đồng xã hội, HTX giữa các HTX trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật. 2.1.1.5 Vai trò của Hợp Tác Xã. Đối với các thành viên: Vì mô hình HTX xuất phát và hình thành hoàn toàn trên tinh thần tự nguyện, tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên nên HTX nông nghiệp là tổ chức liên kết hợp tác của bản thân các thành viên. Các thành viên giúp đỡ được lẫn nhau thông qua việc hợp tác này. Nếu nhìn vào điều kiện lịch sử trong quá trình hình thành và phát triển của mô hình HTX nông nghiệp, ta thấy ý nghĩa của nó ở chỗ là một mô hình tự cứu mình, tránh được sự bần cùng hóa cho các thành viên. Thông qua HTX nông nghiệp mà các thành viên có thể tương trợ, giúp đỡ được cho nhau, tự cứu được lấy mình, trước khi mất hết những cơ sở kinh tế để tồ tại nếu không hợp tác lại với nhau. Nếu các thành viên có điều kiện tiếp cận với các loại thị trường ( thị trường nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào, thị trường dịch vụ, sản phẩm đầu ra) nhờ có mô hình kinh tế HTX nói chung thì thông qua mô hình HTX nông nghiệp nói riêng, các thành viên đã có điều kiện tiếp cận với các sản phẩm và dịch vụ của thị trường tín dụng, ngân hàng. Điều mà họ địa bàn sinh sống bất lợi, tài sản nghèo nàn ... hầu như không bao giờ có được nếu chỉ trông chờ vào Nhà nước hay sự hỗ trợ khác mà không tự tổ chức lấy cho mình những tổ chức kinh tế hợp tác. Như vậy các thành viên sé được hưởng các sản phẩm và dịch vụ mà tổ chức tín dụng hợp tác của họ tạo ra và cung cấp một cách kịp thời, thuận tiện với một mức giá cả chấp nhận được với tư cách là khách hàng. Thành viên cũng sẽ được tư vấn, cung cấp thông tin, trao đổi kinh nghiệm thông qua HTX nông nghiệp vì đó cũng thường là nơi tập hợp kiến thức, hiểu biết, kinh nghiệm làm ăn của cả địa phương. Họ sẽ tự tạo ra được công ăn việc làm cho bản thân và có thể còn cho cả địa phương nữa. Họ cũng được hưởng những quyền lợi từ HTX nông nghiệp với tư cách là chủ sở hữu như được chia cổ tức, được quyền tham gia biểu quyết, quyết định các chính sách kinh doanh của HTX nông nghiệp thông qua các bộ máy, cơ quan lãnh đạo để HTX nông nghiệp ngày càng phục vụ họ đắc lực và tốt hơn. Qua sự hỗ trợ này mà các hoạt động kinh tế, sản xuất, kinh doanh của các thành viên đã được hỗ trợ thiết thực, cuộc sống của họ được cải thiện rõ rệt và có những tích lũy. Trước đây, khi chưa có mô hình này, nếu từ từ hoạt động kinh tế của bản thân, họ không thể tạo ra lợi nhuận hoặc chỉ tạo ra ít lợi nhuận thì nay, trong sự hợp tác, họ được hỗ trợ và có điều kiện tạo ra nhiều lợi nhuận hơn. Đó chính là ý nghĩa to lớn của mô hình kinh tế hợp tác nói chung và mô hình HTX nông nghiệp nói riêng. Các HTX nông nghiệp chính vì thế có vai trò bảo đảm và duy trì sự độc lập về kinh tế và cơ sở kinh tế để tồn tại và phát triển của các thành viên. Đối với địa phương: Mô hình HTX nông nghiệp ra đời sẽ cung cấp các dịch vụ tín dụng, ngân hàng cho dân cư trên địa bàn hoạt động. Bất kể người dân nào cũng sẽ được hưởng các sản phẩm, dịch vụ của HTX nông nghiệp với tư cách là khách hàng. Qua hoạt động của HTX nông nghiệp, ý thức tiết kiệm và tích lũy của người dân được nâng cao. Những đồng vốn nhàn rỗi được huy động để đưa vào đầu tư phục vụ cho phát triển, giảm sự lãng phí tài nguyên cũng như tạo sự phồn vinh cho xã hội. HTX nông nghiệp vừa là người quản lý tài sản của thành viên, dân cư vừa là nhà đầu tư trên địa bàn. Đó cũng là nơi học nghề cho nhiều người. Trình độ và nhận thức của người dân trên địa bàn cũng sẽ được nâng cao thông qua các hoạt động tư vấn, thông tin của bản thân HTX nông nghiệp, góp phần nâng cao trình độ dân trí tại địa phương. Khi địa phương có HTX nông nghiệp hoạt động, nạn cho vay nặng lãi lập tức bị đẩy lùi tiến tới xóa sổ. Những ý nghĩa về xã hội như góp phần, xóa đói giảm nghèo, hỗ trợ địa phương chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp, vật nuôi, cây trồng...cũng là những đóng góp rất tích cực. Với tư cách là một HTX nông nghiệp, HTX nông nghiệp đóng góp một cách đáng kể các khoản thuế hàng năm cho ngân sách địa phương. Các HTX nông nghiệp sé là những tổ chức hoạt động tại địa phương, bám sát địa bàn, tham gia vào các chương trình phát triển kinh tế ở địa phương, hỗ trợ đắc lực nhất cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ một cách kịp thời, tạo ra nhiều việc làm và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế. Như vậy, HTX nông nghiệp là một yếu tố kinh tế quan trọng ở địa phương, góp phần nâng cao đời sống, thu nhập của người dân đem lại ổn định trật tự chính trị, xã hội trên địa bàn, tạo điều kiện cho phát triển kinh tế. Đối với Nhà nước: Xét trên góc độ Nhà nước, hoạt động của những HTX nông nghiệp sẽ bổ sung cho những nỗ lực vĩ mô của Nhà nước như cung cấp vốn cho người nghèo, nông thôn, nông nghiệp, thực hiện các mục tiêu xã hội lớn như tạo công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, ổn định tình hình trật tự kinh tế, chính trị, xã hội...ở những nơi, lĩnh vực mà nhiều khi Nhà nước không có khả năng hay hoạt động không hiệu quả thì mô hình HTX nông nghiệp nói riêng và mô hình kinh tế HTX nói chung lại là phù hợp. Mô hình HTX nông nghiệp cũng góp phần thực hiện các chương trình tiết kiệm, huy động tiềm năng trong nhân dân của Nhà nước phục vụ cho đầu tư, hay tránh lãng phí tài nguyên, nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân. Mô hình HTX nông nghiệp vì vậy có thể xem là mô hình “bộ đội địa phương” tại chỗ, kết hợp với các tổ chức tín dụng – “bộ đội chủ lực” – nhằm thông qua dịch vụ tín dụng, ngân hàng đánh bại giặc đói, giặc nghèo để phát triển kinh tế. 2.1.2 Cơ sở lý luận về thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã 2.1.2.1 Khái niệm chính sách Có nhiều tác giả đã đưa ra khái niệm về chính sách. James Anderson (2003) cho rằng chính sách là một quá trình hành động có mục đích mà một cá nhân hoặc một nhóm theo đuổi một cách kiên định trong việc giải quyết vấn đề (trích dẫn bởi Nguyễn Hải Hoàng, 2011). William N. Dunn (1992) cho rằng chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan Nhà nước hay các quan chức Nhà nước đề ra (trích dẫn bởi Nguyễn Hải Hoàng, 2011). Từ điển bách khoa Việt Nam đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa” (trích dẫn bởi Nguyễn Hải Hoàng, 2011). Theo Đỗ Kim Chung (2010), chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động về phương diện nào đó của nền kinh tế xã hội do Chính phủ thực hiện. Nó bao gồm mục tiêu mà Chính phủ muốn đạt được và cách làm để đạt được mục tiêu đó. Cũng theo Đỗ Kim Chung (2010), chính sách là tập hợp các chủ trương và hành động của chính phủ nhằm thay đổi môi trường cho phát triển bằng cách: tác động vào giá đầu vào hay đầu ra, thay đổi về tổ chức và khuyến khích công nghệ mới trong . 2.1.2.2 Khái niệm hỗ trợ Hỗ trợ là những hành động, chủ trương thực hiện sự giúp đõ một nhóm mục tiêu nhất định, nhằm khắc phục thất bại của thị trường thông qua hỗ trợ vật chất, phát triển nhân lực, thể chế và tổ chức. Hỗ trợ được thực hiện chủ yếu không thông qua hệ thống giá cả như phát triển nguồn nhân lực (giáo dục phổ thông, giáo dục hướng...cấp II, III. Công trình cấp nước sinh hoạt đầu tư xây dựng với 2,42 tỷ đồng và được đưa vào sử dụng được 7 năm qua đã cung cấp nước hợp vệ sinh cho 95% số hộ trong xã. Với vai trò là đầu mối chuyển giao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, HTX triển khai thực hiện tốt chương trình khuyến nông xã điểm.Trong năm 2010, HTX đã phối hợp với Ban nông nghiệp xã chỉ đạo xã viên thực hiện kế hoạch sản xuất lúa - màu, đạt năng suất 117 tạ/ha.Thông qua triển khai các mô hình khuyến nông, các hộ xã viên được tập huấn kỹ thuật đầy đủ.HTX đã ký kết hợp đồng sản xuất, tiêu thụ sản phẩm cho xã viên. Bên cạnh đó, HTX phối hợp chặt chẽ với trạm bảo vệ thực vật huyện, phân công cán bộ phụ trách các thôn hướng dẫn xã viên phòng trừ sâu bệnh, cung ứng các loại thuốc trừ sâu bảo đảm đủ số lượng, chất lượng, giá cả hợp lý, tổ chức diệt chuột bằng thuốc sinh học mỗi vụ từ 3 - 4 đợt, góp phần bảo vệ mùa màng, giảm thiệt hại cho nông dân. HTX đã duy trì liên kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ giống lúa thuần với công ty cổ phần Giống cây trồng tỉnh, với diện tích ổn định 27-30ha. Sản lượng năm 2010 là 286 tấn đạt giá trị trên 1,8 tỷ đồng. HTX Đông Dư, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội Đông Dư là một xã nằm phía Tây nam Thủ đô Hà Nội thuộc huyện Gia Lâm. HTX Đông Dư được thành lập năm 1998 theo luật HTX với mô hình đại diện hộ nông dân tham gia HTX. HTX có 220 xã viên đại diện cho 220 hộ nông dân/1000 hộ nông dân toàn xã. Hiện nay, HTX làm 7 loại hình dịch vụ kinh doanh giúp cho bà con nông dân thuận tiện cho việc sản xuất kinh doanh, trong đó nổi bật là dịch vụ hỗ trợ xã viên tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp. Là một xã nông nghiệp ven đô, thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp cho nên các dịch vụ mang tính cộng đồng được HTX rất chú trọng như: dịch vụ thuỷ lợi, dịch vụ khuyến nông, dịch vụ làm đất, dịch vụ vật tư nông nghiệp Mặc dù HTX Đông Dư không phải toàn bộ các hộ gia đình là xã viên nhưng HTX vẫn làm dịch vụ chung cho toàn bộ các hộ nông dân trong xã, vì phần nào các hoạt động dịch vụ này còn có ý nghĩa chính trị, cộng đồng trong địa phương. HTX tổ chức tốt các dịch vụ này thông qua các tổ trưởng, đã góp phần quan trọng cho năng xuất cây trồng. Kết quả, với 40 ha lúa hai vụ năng xuất đạt 53 tạ/ha, ngô hai vụ đạt năng xuất 45 tạ/ha, 40 ha rau an toàn có thu nhập 135 triệu/ha. Là một xã chuyên canh rau, vấn đề đầu ra cho sản phẩm là một nhu cầu cấp thiết của nông dân. Thông qua các hội chợ triển lãm, giới thiệu sản phẩm của HTX ở trong và ngoài nước, HTX đã ký được các hợp đồng tiêu thụ rau để xuất khẩu và cung cấp cho các hộ nông dân kết quả cung cấp cho 3.500 xuất ăn ca cho các bếp ăn tập thể riêng dịch vụ này có HTX có doanh thu 35 triệu đồng/tháng. Công tác chế biến của HTX rất phát triển, từ năm 2005 HTX đã chế biến được hơn 3 vạn sản phẩm dưa chuột bao tử và ngô bao tử, đã thu hút được hơn 30 lao động phục vụ. Do nhận thức đúng đắn về vai trò của HTX hiện nay là bà đỡ cho kinh tế hộ, vì vậy Ban quản trị HTX xác định việc kinh doanh tổng hợp là đúng hướng, từ năm 2003 khi dự án cầu Thanh Trì thực hiện, do điều tra thị trường chính xác HTX mở thêm dịch vụ kinh doanh vật tư xây dựng bao gồm sắt thép, xi măng, ống nhựa tiền phong để phục vụ cho các hộ có nhu cầu xây dựng; Dịch vụ ăn uống giải khát, hàng yếu phẩm bách hoá phục vụ nhu cầu thiết yếu dân sinh. c. HTX Bình Tây (Tiền Giang) Có rất nhiều HTX nông nghiệp giỏi ở đồng bằng sông Cửu Long nhưng nổi trội là HTX Bình Tây ( Tiền Giang). HTX này có quy mô liên thôn, và làm tốt 8 loại dịch vụ, trong đó có 3 dịch vụ “đầu vào” là: dịch vụ giống lúa, cây ăn quả, lợn, gia cầm và cá, dịch vụ vật tư phân bón các loại, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn gia súc, dịch vụ khuyến nông và tưới tiêu nước, và 3 dịch vụ “đầu ra” là: sấy lúa, xay xát lúa gạo và tiêu thụ thóc gạo, trứng và rau quả cho dân, và hai dịch vụ đời sống là: Nước sinh hoạt và chợ nông thôn. Hàng năm, HTX có doanh thu 3,5 – 4 tỷ đồng. d. HTX Duy Sơn 2 (Quảng Nam). Đây là HTX miền núi, quy mô thôn, ngoài việc làm tốt các dịch vụ tưới tiêu, dịch vụ điện ( tự làm lấy nhà máy thủy điện công suất 1200 KW để cung cấp điện cho xã viên), dịch vụ bảo vệ thực vật, dịch vụ giống, dịch vụ vật tưHTX còn mở rộng quan hệ liên kết, hợp tác với các ngành, các cấp, phát triển ngành nghề như liên kết với nhà máy làm đế giày xuất khẩu, doanh thu trên 8 tỷ đồng/năm, liên kết may với nhà máy may xuất khẩu, doanh thu trên 2 tỷ đồng, dệt xuất khẩu, xưởng mây tre đan xuất khẩu, doanh thu trên 2 tỷ đồng. Sản phẩm của HTX được xuất đi nhiều nước trên thế giới. Hàng năm tạo thêm việc làm cho gần 1000 lao động, với thu nhập ổn định từ 300 - 500 nghìn đồng/lao động/tháng, doanh thu năm 2000 của HTX đạt treenn 21,5 tỷ đồng. Bài học kinh nghiệm rút ra Mỗi nơi mỗi vẻ, tuy nhiên bài học chung rất đáng quan tâm và điểm chung nổi bật nhất đó là có chủ nhiệm giỏi có tâm, có tài, năng động và có trách nhiệm với công đồng, với hợp tác. Chủ nhiệm HTX là “động lực”của cỗ máy, thiếu chủ nhiệm cỗ máy sẽ khó hoạt động hoặc hoạt động thiếu hiệu quả. Cho đến nay, có nhiều nguyên nhân làm cho số đông HTX chuyển đổi chưa thành công, trong đó có một nguyên nhân quan trọng có tính chất quyết định là do không có người “cầm cờ”, “cầm lái” giỏi. Để có người “cầm cờ” giỏi cần có chiến lược lựa chọn người năng động và tâm huyết với sự nghiệp HTX ở quê hương, từ đó tiến hành mở lớp đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ cho họ, đồng thời càn có chế độ thù lao thỏa đáng và chế độ bảo hiểm xã hội cho đội ngũ cho cán bộ này. Hiện nay, thù lao đối với chủ nhiệm HTX rất thấp, nhiều HTX chỉ 100000đ- 200000đ/tháng, lại không có chế độ bảo hiểm xã hội nên đa số chủ nhiệm không an tâm. Nhiều chủ nhiệm HTX Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hà Nội...không muốn làm chủ nhiệm HTX. Ở những nơi tiền công quản lý HTX quá thấp, thù lao chủ nhiệm dưới 200 000đ/tháng thì nên có chế đô trợ cấp thêm từ ngân sách địa phương, coi đó là đầu tư ban đầu cần thiết cho sự nghiệp phát triển HTX. Mặt khác, sớm thực hiện chế độ bảo hiểm cho cán bộ xã viên HTX, trước hết là đối với cán bộ quản lý HTX. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất hàng hóa. Ở HTX Bình Tây ( Tiền Giang), HTX Ngang Nội ( Bắc Ninh), trước đây khi còn sản xuất tự cấp tự túc , độc canh lúa, nông dân tự làm lấy công việc đồng áng nên hoạt động của HTX rất hạn hẹp. Nhưng sau khi HTX đưa ra những giống cây trồng, vật nuôi mới cho các hộ nông dân sản xuất hàng hóa thì yêu cầu của nông dân đối với dịch vụ của HTX ( cả dịch vụ đầu vào và đầu ra) tăng lên rõ rệt. Từ đó, các hoạt động của HTX có điều kiện mở rộng, đa dạng và hoạt động có hiệu quả. Mở rộng liên kết sản xuất kinh doanh là bài học thứ 3 rút ra ở những HTX dịch vụ nông nghiệp làm ăn giỏi. Nổi bật ở bài học này là HTX Duy Sơn 2, HTX này đã liên kết, liên hệ với các Công ty nhà máy khắp đất nước từ Đà Nẵng đến Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội để tìm cơ hội đầu tư. HTX đã ký hợp đồng với các tổng công ty, nhà máy đầu ngành đầu tư máy móc, công nghệ mới, cử chuyên gia về đào tạo bồi dưỡng kỹ thuật sản xuất cho xã viên ngay tại địa phương và bao tiêu sản phẩm. Còn ở các HTX Bình Tây ( Tiền Giang), HTX Vạn Hoa (Lào Cai), HTX Mỹ Trung ( Nam Đinh)...đã thực hiện tốt quan hệ 4 nhà ( nhà nông, nhà khoa học, doanh nghiệp nhà nước và Nhà nước ) trong việc gắn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Thực hiện cổ phần hóa. Nhiều HTX sau một quá trình chuyển đổi đến nay hoạt động vẫn chưa hiệu quả “chuyển nhưng không đổi”, chuyển đổi có tính chất hình thức chưa thực hiện tốt chế độ cổ phần trong HTX. Khi đã cổ phần sẽ là sở hữu riêng của xã viên ( vào HTX thì phải gom góp vào HTX thì được hưởng lợi theo kết quả kinh doanh, khi ra HTX thì được rút cổ phần) và dù họ muốn hay không đều phải quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh, giám sát lẫn nhau và cùng nỗ lực cho sự sinh lời của cổ phần mình. Để thu hút được vốn cổ phần, các HTX đã phải xây dựng dự án làm rõ đầu vào đầu ra, thực hiện chi lãi và mức lãi phân phối theo cổ phần, chứng minh tính khả thi và hiệu quả thiết thực của từng dịch vụ kinh doanh mới. Có như vậy xã viên mới tin và góp cổ phần mới. Ngoài 4 bài học trên, việc có sự chỉ đạo đúng mức của Đảng và chính quyền Nhà nước các cấp, đặc biệt cấp chính quyền cơ sở cũng là yếu tố cực kỳ quan trọng. Xây dựng được HTX vững mạnh, kinh tế phát triển làm chỗ dựa cho chế độ, cho người dân là công việc vô cùng khó khăn, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức, song đã và đang có rất nhiều điển hình HTX làm ăn giỏi, nên toàn xã hội, toàn ngành cùng đồng tâm xây dựng làm cho kinh tế hợp tác sẽ phát triển đưa nền nông nghiệp nước nhà tiến lên một tầm cao mới. PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu. 3.1.1 Điều kiện tự nhiên 3.1.1.1. Vị trí địa lý Xã Đồng Tân nằm ở phía Đông Nam huyện Ứng Hòa cách trung tâm huyện khoảng 10km. Phía Đông Bắc giáp xã Trung Tú Đông Nam giáp xã Minh Đức Tây Nam giáp xã Trầm Lộng Tây Bắc giáp xã Hòa Lâm. Xã có tổng diện tích đất tự nhiên là 644,38 ha bao gồm 8 thôn: Thôn Vọng Tân, thôn Khả Lạc, thôn Tứ Kỳ, thôn Đồng Xung, thôn Xuân Tình, thôn Thái Bằng, thôn Khánh Vân và thôn Mỹ Cầu. Mỗi thôn được chia thành nhiều xóm liền kề và các thôn phân bố không đều nằm dọc theo sông Hồng. Nằm trên đường Hoàng quốc Việt từ Thị trấn Vân Đình về Cầu Giẽ ( quốc lộ 1A ), tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong xã giao lưu và trao đổi kinh tế, văn hóa, xã hội với các thôn trong ngoài xã, các vùng lân cận. 3.1.1.2 Địa hình và khí hậu a. Địa hình: Địa hình xã Đồng Tân khá đồng nhất với nhau, có địa hình thấp trũng, là nơi tiêu nước phía Đông Nam của Hà Nội. Trên địa bàn xã có nhiều ao, hồ rất thuận lợi cho phát triển ngành nuôi trồng thủy sản, đa canh. Với điều kiện này cần quan tâm đặc biệt tới cơ sở hạ tầng, hệ thống tưới tiêu. b. Khí hậu: Điều kiện khí hậu thủy văn của xã cũng nằm trong vùng khí hậu đặc trưng của đồng bằng Sông Hồng, khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều. Thuận lợi cho việc bố trí cây trồng hàng năm, nuôi trồng thủy sản. 3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội Đặc điểm địa lý, điều kiện tự nhiên trên đã cho phép xã có khả năng phát triển nền kinh tế NN, kết hợp với tiểu thủ công nghiệp – thương nghiệp và DV. Đặc biệt, là xã có lợi thế lớn trong phát triển mô hình đa canh, kết hợp giữa trồng lúa, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Giao thông thuận lợi, là trung tâm đầu mối chợ thủy sản. Đảng bộ và nhân dân xã đã và đang huy động mọi nguồn lực, khai thác những tiềm năng, thế mạnh vốn có của mình để phát triển kinh tế - xã hội. 3.1.2.1 Tình hình đất đai Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai vô cùng quan trọng. Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, chủ yếu và không thể thay thế được trong sản xuất nông nghiệp. Đất đai luôn cố định và có hạn do vậy trong sản xuất nông nghiệp con người phải biết sử dụng đất đai một cách đầy đủ, hợp lý và có hiệu quả để đất đai không ngừng phục vụ đời sống của con người. Qua bảng 3.1 ta thấy, xã Đồng Tân có tổng diện tích đất tự nhiên là 644,38 ha, được phân bố thành nhóm đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng. Trong đó, đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên của xã ( 68,12%), diện tích đất chưa sử dụng chiếm không đáng kể (0,29%) còn lại là đất phi nông nghiệp. Diện tích đất nông nghiệp gồm diện tích đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác. Năm 2012 và 2013 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 366,82 ha chiếm 56,93% tổng diện tích đất tự nhiên tới năm 2014 diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm xuống còn 438,95 ha chiếm 56,29% tổng diện tích đất tự nhiên. Bình quân qua 3 năm diện tích đất sản xuất đất nông nghiệp giảm tuy nhiên giảm không đáng kể chỉ giảm 0,56%, diện tích đất sản xuất nông nghiệp giảm là do đất nuôi trồng thủy sản và đất nông nghiệp khác tăng lên tuy tăng không nhiều nhưng đây là một xu hướng tích cực góp phần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2012 là 201,1 ha chiếm 31,21% tổng diện tích đất tự nhiên, năm 2013 là 205,16 ha chiếm 31,22% tổng diện tích đất tự nhiên. Năm 2014 diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là 203,56% chiếm 31,59%, bình quân qua 3 năm diện tích đất phi nông nghiệp tăng 0,61% . Diện tích đất phi nông nghiệp tăng lên là do đất ở tại nông thôn, đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp và đất có mục đích công cộng tăng lên. Như vậy qua số liệu thống kê từ ban địa chính xã Đồng Tân ta thấy diện tích đất nông nghiệp đang có xu hướng giảm do đang chuyển dần cơ cấu cây trồng, vật nuôi và chuyển sang mục đích sử dụng sang hạng mục khác, UBND xã Đồng Tân cần có những quy hoạch cụ thể trong quá trình phân bổ và sử dụng đất Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Đồng Tân (2012 – 2014) Chỉ tiêu Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 So Sánh (%) SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) SL (ha) CC (%) 13/12 14/13 BQ I. Tổng diện tích đất tự nhiên 644.38 100 644.38 100 644.38 100 100 100 100 1. Đất nông nghiệp 441.35 68.5 441.35 68.5 438.95 68.12 100 99.46 99.73 1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 366.82 56.93 366.82 56.93 362.7 56.29 100 98.88 99.44 - Đất trồng cây hàng năm 366.82 56.93 366.82 56.93 362.7 56.29 100 98.88 99.44 + Đất trồng lúa 366.82 56.93 366.82 56.93 362.7 56.29 100 98.88 99.44 + Đất trồng cây hàng năm khác - Đất trồng cây lâu năm 1.2 Đất lâm nghiệp 1.3 Diện tích mặt nước có khả năng nuôi trồng thủy sản 74.03 11.5 74.03 11.49 75.5 11.72 100.00 101.99 100.99 - Diện tích nuôi trồng thủy sản 74.03 11.5 74.03 16.77 75.5 17.20 100.00 101.99 100.99 1.4 Đất nông nghiệp khác 0.5 0.07 0.5 0.08 0.75 0.12 100.00 150.00 122.47 2. Đất phi nông nghiệp 201.1 31.21 201.16 31.22 203.56 31.59 100.03 101.19 100.61 2.1 Đất ở 53.44 8.29 54.5 8.46 55 8.54 101.98 100.92 101.45 2.2 Đất chuyên dùng 23.85 3.70 22.79 3.54 22.79 3.54 95.56 100.00 97.75 2.3 Đất phi nông nghiệp khác 123.81 19.21 123.87 19.22 125.77 19.52 100.05 101.53 100.79 3 Đất chưa sử dụng 1.93 0.30 1.87 0.29 1.87 0.290 96.89 100.00 98.43 II Một số chỉ tiêu BQ Đất nông nghiệp/hộ NN 0.50 0.50 0.49 100 98.677 99.22 Đất canh tác/ hộ NN 0.73 0.72 0.719 99.77 99.22 99.50 Đất canh tác/lao động NN 0.270 0.27 0.26 98.75 97.21 97.98 ( Nguồn Ban địa chính xã Đồng Tân) Tình hình dân số và lao động Tình hình dân số và lao động của xã từ năm 2012 – 2014 được thể hiện qua bảng 3.2 cụ thể như sau: Tổng dân số của xã tính đến năm 2014 là 5.085 người. Số nhân khẩu trong toàn xã có xu hướng tăng lên bình quân qua 3 năm số nhân khẩu trong toàn xã tăng 2,97%. Nhân khẩu tăng lên kéo theo số lao động trên địa bàn xã có xu hướng tăng lên theo các năm, bình quân qua 3 năm tổng số lao động trong toàn xã tăng 6,18. Trong toàn xã có 1163 hộ, trong đó có 894 hộ nông nghiệp chiếm 76,87%, có 269 hộ phi nông nghiệp chiếm 23,13%. Như vậy, tỷ lệ dân số nông nghiệp vẫn là chủ yếu. Lao động nông nghiệp cũng chiếm một tỷ lệ khá lớn trong tổng số lao động của xã là 66,50% năm 2012 và giảm còn 61,44% năm 2014. Ngược lại, tỷ trọng lao động phi nông nghiệp ngày càng tăng, sở dĩ có sự biến động như vậy một phần là do đất nông nghiệp ngày càng giảm, nên lao động đặc biệt là lao động nông nghiệp có xu hướng chuyển sang cá nghành nghề khác, là đi làm ở các khu công nghiệp hoặc các vùng lân cậnđây là một xu thế tất yếu. Hơn nữa, thu nhập từ trồng lúa là rất thấp, dù xã đã thực hiện dồn điền đổi thửa phát triển mô hình sản xuất đa canh, nuôi trồng thủy sản nhưng đa số thanh niên muốn làm một số ngành nghề khác mang lại thu nhập cao hơn và cả những công việc ở các vùng lân cận đã thu hút được lao động của xã. Giai đoạn 2012-2014 sự tăng lên về số lượng nhân khẩu trên địa bàn xã cũng đồng thời sự tăng lên về số lượng lao động do đó một số chỉ tiêu bình quân cũng thay đổi theo. Năm 2012 BQLĐ/hộ là 3,12 người/hộ tới năm 2014 là 4,37 người/ hộ. Tổng số hộ gia đình trong toàn xã tăng tăng bình quân qua 3 năm là 0,74%. Trong đó số hộ nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn so với số hộ phi nông nghiệp do xã Đồng Tân là một xã thuần nông tuy nhiên xu hướng hộ nông nghiệp đang có xu hướng giảm đi nhưng giảm không đáng kể. Như vậy có thể thấy nguồn lao động trên địa bàn xã Đồng Tân là khá dồi dào, đây là một trong những điều kiện tương đối thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội Bảng 3.2: Tình hình dân số và lao động xã Đồng Tân (2012 - 2014) Chỉ tiêu ĐVT 2012 2013 2014 So sánh(%) SL CC(%) SL CC(%) SL CC(%) 13/12 14/13 BQ I Tổng số nhân khẩu Người 4.796 100 4.892 100 5.085 100 102.00 103.95 102.97 1 Nam Người 2.404 50.13 2.453 50.14 2.548 50.11 102.04 103.87 102.95 2 Nữ Người 2.392 49.87 2.439 49.86 2.537 49.89 101.96 104.02 102.99 II Tổng số hộ Hộ 1.146 100 1.152 100 1.163 100 100.52 100.95 100.74 1 Hộ nông nghiệp Hộ 885 77.23 887 77.0 894 76.87 100.23 100.79 100.51 2 Hộ phi nông nghiệp Hộ 261 22.77 265 23.0 269 23.13 101.53 101.51 101.52 III Tổng số lao động Người 3.573 100 3.846 100 4.028 100.00 107.64 104.73 106.18 1 Lao động nông nghiệp Người 2.376 66.50 2.406 62.56 2.475 61.44 101.26 102.87 102.06 2 Lao động phi nông nghiệp Người 1.197 33.50 1.440 37.44 1.553 38.56 120.30 107.85 113.90 IV Chỉ tiêu bình quân Người/hộ 1 BQLĐ/hộ Người/hộ 3.12 4.25 4.37 136.20 102.96 118.42 2 BQ nhân khẩu/hộ Người/hộ 4.18 4.25 4.37 101.47 102.96 102.21 Nguồn: ban thống kê xã Đồng Tân 3.1.2.3 Điều kiện cơ sở hạ tầng Cơ sở vật chất kỹ thuật và hạ tầng nông thôn là nhân tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp, TTCN – XD và TM – DV. Đây là vấn đề được Đảng bộ xã Đồng Tân rất quan tâm chú ý trong quá trình phát triển kinh tế xã hội. Bảng 3.3 : Tình hình cơ sở vật chất của xã năm 2014 Chỉ tiêu ĐVT Số lượng Ghi chú 1. Điện - Số trạm biến áp Cái 6 - Đường dây điện Km 21.98 - Số thôn có điện Xã 8 2. Thủy lợi - Trạm bơm tưới, tiêu Trạm 7 - Kênh mương Km 10 3. Giao thông + Đường liên xã km 3.78 + Đường liên thôn km 10.6 4. Số trường học + Trường mầm non Cái 1 + Trường tiểu học Cái 1 + Trường trung học cơ sở Cái 1 + Trường cấp 3 Cái 1 + Trung tâm, cơ sở đào tạo nghề Cái 0 4. Chợ Cái 1 Kiên cố 5. Số cơ sở y tế Cơ sở 1 6. Nhà văn hóa Nhà 8 Nguồn : Ban thống kê xã Đồng Tân - Về giao thông: Thực hiện chủ trương của huyện về công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn nên những năm gần đây hệ thống giao thông của xã Đồng Tân đã và đang được quan tâm đúng mức. Giao thông nông thôn, đường thôn xóm từng bước được bê tông hóa đồng thời thường xuyên kiểm tra, tiến hành tu sửa các tuyến đường giao thông nông thôn, đảm bảo việc giao thương, đi lại sinh hoạt của nhân dân trên địa bàn. - Về thủy lợi: xã Đồng Tân là vùng đồng chiêm trũng nên thích hợp với trồng lúa và phát triển mô hình đa canh, nuôi trồng thủy sản. Xã tiếp giáp với sông Hồng nên tương đối thuận lợi cho việc tưới tiêu, giữ nước cho nuôi trồng thủy sản. Việc cung cấp nước tưới, tiêu cho nông nghiệp được trang bị khá đầy đủ, các trạm bơm nằm đều các thôn đảm bảo việc tưới vào mùa khô và tiêu thoát nước vào lúc úng. Ngoài ra, xã còn một số hệ thống cống và mương máng dày đặc, đang dần được kiên cố hóa nên việc dẫn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất nông nghiệp ở địa phương là khá tốt. - Về điện: Cả xã có 6 trạm biến áp phục vụ cho nhu cầu điện sinh hoạt và sản xuất kinh doanh, tiểu thủ công nghiệp. Ngoài ra, trên địa bàn xã có khoảng 21,98 km đường dây tải điện phục vụ cho việc dẫn điện tới các cơ sở sản xuất và hộ gia đình trong địa bàn xã. Nhìn chung hệ thống điện của xã đã đáp ứng được nhu cầu của người dân trong sinh hoạt và 3 năm gần đây không còn hộ nào không có điện. - Về giáo dục, y tế: Đây là vấn đề luôn được xã đặc biệt quan tâm và chú trọng. Toàn xã có 4 trường học đáp ứng yêu cầu dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học. Cơ sở vật chất trường học ngày càng được khang trang. Công tác xã hội hóa giáo dục, khuyến học, được quan tâm. Xã có 1 trạm y tế với đội ngũ y, bác sỹ yêu nghề cùng trang thiết bị khá đầy đủ, đảm bảo tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. 100% trẻ trong diện được tiêm và uống vacxin phòng bệnh, hơn 90% số gia đình được sử dụng nước sạch. Công tác dân số - kế hoạch hóa cũng được triển khai mạnh mẽ và đạt được kết quả khả quan. - Hệ thống thông tin liên lạc: Dịch vụ Bưu chính viễn thông phát triển nhanh, đến nay 100% số thôn, xóm đã có đầu cáp nắp điện thoại cố định và có bưu điện văn hóa. Chúng ta thấy, cơ sở hạ tầng tại xã Đồng Tân là tương đối đầy đủ, ngày cáng đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt của người dân và sự phát triển của các ngành nghề. Đây sẽ là tiền đề thuận lợi để địa phương có sự phát triển doàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội trong thời gian tới. Tuy nhiên, so với các xã khác trong huyện thì Đồng Tân vẫn là đơn vị có nhiều khó khăn nhất. 3.1.2.4 Tình hình phát triển kinh tế của xã Qua bảng 3.4 ta thấy, Xã Đồng Tân là một xã nông nghiệp tỷ trọng ngành nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế khá cao ( khoảng 61%). Trong 3 năm gần đây, kết quả sản xuất kinh doanh của xã tăng nhanh. Năm 2014, tổng giá trị sản xuất của toàn xã đạt 94,810 tỷ đồng tăng 21,874 tỷ đồng so với năm 2012 ( là 72,936 tỷ đồng), tăng bình quân 14,01%. Là một xã thuần nông nên nông nghiệp vẫn đóng góp khoảng 56% tổng giá trị sản xuất của xã. Giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp của xã Đồng Tân, năm 2012 là 40,387 tỷ đồng đến năm 2014 là 56,810 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân là 17,95%. Trong đó, ngành trồng trọt đóng góp lớn nhất và chủ yếu là từ trồng lúa, đóng góp vào 23,651 tỷ đồng năm 2012, tăng lên vào năm 2014 là 25,754 tỷ đồng, tăng 2,103 tỷ đồng với tốc độ tăng bình quân là 4,35%. Trong khi đó, tỷ trọng ngành chăn nuôi có xu hướng tăng, đặc biệt là nuôi trồng thủy sản.Chăn nuôi của toàn xã đạt 18,652 tỷ đồng năm 2014 tăng 7,202 tỷ đồng so với năm 2012( 11,450 tỷ đồng). Do thực hiện chương trình dồn điền đổi thửa, phát huy thế mạnh của địa phương là phát triển mô hình đa canh, nên tỷ trọng ngành nuôi trồng thủy sản những năm gần đây tăng nhanh. Năm 2012 chỉ chiếm 7,87% tổng giá trị sản xuất toàn xã ứng với 5,736 tỷ đồng, nhưng đến năm 2014 đã tăng lên 12,404 tỷ đồng chiếm 13,08% với tốc độ tăng bình quân là 47,05%. Như vậy, cơ cấu kinh tế của xã đã có những chuyển biến tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng nông nghiệp, và tăng dần tỷ trọng ngành CN – XD, TM – DV. Đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện với giá trị sản xuất/khẩu/năm và giá trị sản xuất /hộ/năm đều tăng. Giá trị sản xuất /hộ/năm tăng từ 63,64 tỷ đồng lên 81,52 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân là 13,18%. GTSX/LĐ/năm tăng với tốc độ bình quân 25,65%. Do tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm nhanh hơn so với tốc độ giảm giá trị sản xuất nông nghiệp nên giá trị SXNN/LĐ/năm cũng tăng. Bảng 3.4: Tổng giá trị sản xuất và cơ cấu các ngành kinh tế xã Đồng Tân giai đoạn 2012-2014 (ĐVT : Tỷ đồng) Chỉ tiêu 2012 2013 2014 So sánh (%) SL CC (%) SL CC (%) SL CC (%) 13/12 14/13 BQ I. Tổng giá trị sản xuất 72.936 100 83.528 100 94.810 100 114.52 113.51 114.01 1. Nông_lâm_ngư nghiệp - Trồng trọt - Chăn nuôi - Nuôi trồng thủy sản 40.837 23.651 11.450 5.736 56.0 32.43 15.70 7.87 41.414 21.12 12.349 7.945 49.58 25.28 14.79 9.51 56.810 25.754 18.652 12.404 59.92 27.16 19.68 13.08 101.41 89.30 107.85 138.51 137.18 121.94 151.04 156.12 117.95 104.35 127.63 147.05 2. CN – XD 17.021 23.3 18.196 21.78 19.800 20.88 106.90 108.82 107.85 3. TM – DV 15.192 20.8 16.016 19.17 18.200 19.20 105.42 113.64 109.45 II. Chỉ tiêu BQ 1. GTSX/khẩu/năm 15.21 17.07 18.65 112.27 109.20 110.72 2. GTSX/LĐ/năm 14.91 21.72 23.54 145.67 108.38 125.65 3. GTSX/hộ/năm 63.64 72.51 81.52 113.93 112.43 113.18 4. GTSX NN/ha đất NN 165.26 189.26 215.99 114.52 114.13 114.32 Nguồn: ban thống kê xã Đông Tân 3.2 Phương pháp nghiên cứu 3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu Điểm nghiên cứu của đề tài được chọn là HTX Đồng Xung và HTX Mỹ Cầu của xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. Vì 2 HTX này có quy mô HTX, doanh thu chênh lệch nhau lớn và nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh khác nhau nên cũng làm quá trình thực thi chính sách hỗ trợ phát triển giữa 2 HTX khác nhau, có HTX thực thi chính sách tốt, có HTX thực thi chính sách chưa tốt. 3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu a. Thu thập thông tin thứ cấp Thông tin, số liệu được thu thập từ sách, báo, tạp chí, internet và các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến đề tài bằng cách tìm hiểu , tra cứu và chọn lọc thông tin, từ các ban ngành của xã như: thống kê, tài chính, kế toán, địa chính...; các văn kiện về HTX cũng như vấn đề mà đề tài hướng tới. STT Thông tin cần thu thập Nguồn 1 CSLL + CSTT Sách báo, Luật, Nghị quyết, Chính sách của Đảng và Nhà nước 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu (tự nhiên – kinh tế - xã hội) Tổng hợp từ ban thống kê của UBND xã Đồng Tân 3 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của hợp tác xã trên địa bàn xã Đồng Tân -Tổng hợp từ Báo cáo tổng kết về hợp tác xã hàng nằm của ban Kinh tế xã Đồng Tân -Báo cáo hoạt động hàng năm của hợp tác xã trên địa bàn xã Đồng Tân 4 Các chính sách phát triển HTX Các văn bản, nghị quyết, luật HTX của Xã b. Thu thập thông tin sơ cấp Được tiến hành thông qua xây dựng biểu mẫu điều tra ngẫu nhiên cho các Cán bộ lãnh đạo xã ; Cán bộ Ban quản lý và Ban kiểm soát HTX; Thành viên HTX. Thu thập từ các cán bộ, các thành viên trong HTX thông qua các cuộc trao đổi trực tiếp với nhóm, cá nhân về các vấn đề liên quan đến tình hình sản xuất và khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho xã viên của HTX. c. Phương pháp chuyên gia, chuyên khảo Thu thập ý kiến của giáo viên hướng dẫn, của cán bộ quản lý HTX, cán bộ địa phương để có những hướng đi đúng đắn, đảm bảo tính khách quan của đề tài. 3.2.3 Phương pháp xử lý Trên cơ sở số liệu thu thập được tiến hành hệ thống hóa số liệu sau đó tổng hợp và xử lý số liệu bằng tay, bằng phần mềm Excel. 3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin Sau khi xử lý số liệu tiến hành phân tích số liệu thep phương pháp cụ thể như sau: Thống kê mô tả: Đây là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả thông qua số liệu thu thập được. Phương pháp được thực hiện thông qua việc mô tả các chỉ tiêu nghiên cứu: số tuyệt đối, số tương đối. Thống kê so sánh: Cho thấy hiệu quả các chính sách phát triển HTX qua các năm có gì thay đổi và đã thực hiện được những gì mà chính sách đã ban xuống. So sánh sự thay đổi của kết quả sản xuất kinh doanh của HTX qua các năm. 3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 3.3.1 Nhóm chỉ tiêu về thông tin cơ bản của các đối tượng điều tra - Thông tin cơ bản về cán bộ thực thi chính sách phát triển HTX: tuổi trung bình của cán bộ được hỏi, giới tính, trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, lĩnh vực phụ trách, thâm niên công tác - Thông tin về các hộ xã viên: tuổi trung bình của người được hỏi, giới tính, trình độ văn hóa, số lao động tham gia HTX, mức độ nhận biết về các chính sách phát triển HTX 3.3.2 Nhóm chỉ tiêu đánh giá tình hình thực hiên chính sách phát triển HTX - Công tác tuyên truyền và phổ biến chính sách đến các hộ xã viên: Số lượng xã viên tham gia phổ biến, số lượng cán bộ tham gia tuyên truyền - Các nguồn lực chuẩn bị để triển khai thực hiện chính sách: diện tích đất đai, số lượng nguồn vốn, số lượng nhân lực, kinh phí thực hiện chính sách - Đánh giá của cán bộ HTX, hộ xã viên. 3.3.3 Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả thực hiện chính sách - Số lượng hộ xã viên được hưởng lợi từ các chính sách phát triển HTX. - Công tác quản lý việc thực thi chính sách: số lần kiểm tra giám sát của các cơ quan chức năng đối với các hộ xã viên - Kết quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến chính sách: tỷ lệ hộ xã viên biết về chính sách, tỷ lệ hộ triển khai thực hiện theo chính sách - Số lượng hộ xã viên tham gia HTX biết thông tin về các chính sách hỗ trợ phát triển HTX, kết quả thực tế đạt được so với yêu cầu của các chính sách 3.3.4 Nhóm chỉ tiêu phản ánh ‎các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách Tổng số ý kiến đánh giá và tỷ lệ ý kiến đánh giá về mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách. PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng phát triển các Hợp tác xã tại xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. 4.1.1 Tình hình hoạt động của HTX HTXNN Đồng Tân được thành lập từ năm 1998, có quy mô thôn bao gồm 8 thôn, mỗi thôn là một hợp tác xã riêng. Hiện tại các HTX vẫn đang hoạt động theo Luật HTX năm 2003 và điều lệ HTX, Nghị quyết Đại hội xã và các nội quy, quy định khác do ban quản trị thống nhất để hoạt động . Lĩnh vực hoạt động của HTX Đồng Tân chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp. Các HTX trên địa bàn chủ yếu thực hiện hỗ trợ cho xã viên được một số khâu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của xã viên và người lao động như: hướng dẫn, chỉ đạo sản xuất, dịch vụ thủy lợi, thuốc bảo vệ thực vật, dịch vụ chuyển giao tiến bộ kỹ thuật và dịch vụ tư vấn quản lý sản xuất kinh doanh. Hoạt động dịch vụ của các HTX cơ bản đáp ứng được nhu cầu của xã viên và các hộ nông dân, nguồn vốn hoạt động hạn chế, hiệu quả đồng vốn xoay vòng không cao. Một số ít HTX khác lại chỉ làm được một đến hai khâu chủ yếu là dịch vụ thủy lợi và bảo vệ thực vật, còn các khâu khác trong hoạt động sản xuất nông nghiệp của xã viên và các hộ dân không quan tâm. Bên cạnh đó công tác quản lý của HTX này yếu kém mất niềm tin của xã viên và người dân. Đa số các HTX này chỉ hoạt động cầm chừng, tồn tại hình thức. Từ đó cho thấy các HTX nông nghiệp trên địa bàn xã chuyển biến chậm, đặc biệt là sự chủ động vươn lên trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của nhiều HTX hiệu quả chưa cao. Phương thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ quản lý của các HTX chưa đáp ứng với nhu cầu thực tiễn đề ra. Cơ bản còn nhiều HTX trông chờ ỷ lại vào sự quan tâm đầu tư của nhà nước. 4.1.2 Quy mô, tài sản vốn quỹ HTX - Quy mô: 8 HTX quy mô thôn. Nhìn chung ...canh tác mới thì các hộ còn được cung cấp thông tin về chuyển giao khoa học – kỹ thuật. Nguyên nhân các hộ chủ yếu đi tập huấn về phòng trừ sâu bệnh và kĩ thuật canh tác mới là do cán bộ khuyến nông của xã có chuyên môn kĩ thuật về canh tác và phòng trừ sâu bệnh còn trình độ chuyên môn về chuyển giao khoa học – kĩ thuật còn hạn chế, một phần do kinh phí hạn hẹp, một phần khác do thông tin tới các hộ còn chậm nên xã viên không thu xếp được thời gian đi học. 4.3.2.2 Đánh giá hiệu quả chính sách ứng dụng KH– KT và công nghệ Trong thời gian tham gia các lớp tập huấn gần đây đa số thành viên HTX đều cho thấy thời điểm tổ chức các buổi tập huấn hợp lý vì thời gian tổ chức vào lúc sau khi thu hoạch.Tất cả các thành viên HTX cho rằng nội dung lớp học đều phù hợp. Điều đó cho thấy nội dung bài giảng đã ứng dụng được nhiều vào thực tế vì vậy phần nào đã đáp ứng được mong muốn của xã viên. Giảng viên được đa số thành viên HTX nhận xét là chuyên nghiệp. Tuy nhiên một số ít xã viên nhận thấy giảng viên chưa chuyên nghiệp vì đa số trong các lớp đào tạo chuyển giao KH–KT giảng viên chưa có chuyên môn kỹ thuật sâu dẫn đến phương pháp giảng dạy cho xã viên cũng khó hiểu. Địa điểm các buổi tập huấn thường tổ chức ở địa phương phù hợp cho xã viên tham gia tuy nhiên do lớp tập huấn đông nên chưa đem lại hiệu quả cao. Một lớp tập huấn thường kéo dài từ 1 đến 3 ngày như vậy đối với xã viên là quá ngắn vì chưa thể áp dụng được lý thuyết vào thực tiễn. Bảng 4.6 Số lượng xã viên đánh giá về chất lượng các lớp học đã tham gia năm 2014 Chỉ tiêu Phòng trừ sâu bệnh Kỹ thuật canh tác mới Chuyển giao KH - KT 1. Thời điểm - Phù hợp 28 21 14 - Không phù hợp 2 4 4 2. Nội dung - Phù hợp 26 19 8 - Không phù hợp 4 6 10 3. Phương pháp giảng dạy - Dễ hiểu 26 18 6 - Khó hiểu 4 7 12 4. Địa điểm - Xa 0 1 2 - Gần 30 24 16 Nguồn: Số liệu điều tra 4.3.2.3 Đề xuất đối với chính sách - Nên mở nhiều địa điểm tập huấn, chia thành nhiều nhóm nhỏ để giảm số lượng xã viên trong một lớp tập huấn giúp xã viên có thể tiếp thu, nghe giảng hiệu quả hơn. - Thời gian đào tạo nên kéo dài hơn để xã viên có thể hiểu rõ và biết vận dụng, kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn. - Trong các buổi đào tạo nên có các chương trình khuyến khích xã viên tham gia như hỗ trợ kinh phí đi lại, tặng các sản phẩm, đồ da dụng cho xã viên tham gia. 4.3.2 Chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng 4.3.2.1 Kết quả thực hiện Cơ sở hạ tầng của HTX hiện nay chỉ có máy bơm điện và các công trình thủy lợi cụ thể: HTX Đồng Xung có 3 máy bơm điện: 2 máy bơm điện 33 KW và 1 máy bơm điện 7,5 KW, HTX Mỹ Cầu có 2 máy bơm điện 7,5 KW; 100% tỷ lệ máy móc còn sử dụng bình thường. Nhiều nơi chưa được đầu tư xây dựng trụ sở HTX để làm việc mà vẫn phải mượn nhà văn hóa thôn làm trụ sở như HTX Mỹ Cầu 4.3.2.1 Đánh giá hiệu quả chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng. Hệ thống kênh mương, trạm bơm, máy móctuy vẫn được bảo toàn về giá trị và chất lượng, nhưng chưa được đầu tư nâng cấp, cải tạo và sửa chữa. Việc đầu tư trang thiết bị tại các HTX những năm vừa qua không đáng kể. Thiết bị, máy móc hiện tại của các HTX có 100% tỷ lệ máy móc còn sử dụng bình thường. Tuy nhiên đa số các hộ xã viên nhận xét hệ thống thủy lợi hoạt động kém hiệu quả. Nguyên nhân không phải do chất lượng xây dựng kém mà do xây dựng chưa hợp lý nên vẫn thường xuyên trong tình trạng thiếu nước, không lấy được nước cung cấp cho đồng ruộng. Nhiều lúc bị ứ động, không thoát được, trời nắng bôc mùi hôi thối khó chịu ảnh hưởng tới sức khỏe người dân. Hộp 4.3 Đánh giá của thành viên HTX về hệ thống cấp thoát nước Ngày trước kênh mương rộng lấy nước nhanh nhưng từ khi họ xây hệ thống thủy lợi nhiều chỗ mương xây bé làm nước thải dềnh hết cả lên, gây ô nhiễm môi trường xung quanh, ai đi qua cũng sợ Ngô Thị Khôi, thành viên HTX cho biết 4.3.2.2 Nguyên nhân thực hiện chính sách kém hiệu quả - Do HTX không có chính sách tín dụng nên không được ưu đãi vay vốn cũng như không thể vay vốn từ các tổ chức tín dụng để xây dựng trụ sở HTX và đầu tư cơ sở hạ tầng. - Các HTX quy mô nhỏ, không có nhiều hoạt động dịch vụ nên việc đầu tư cơ sở hạ tầng chỉ ở mức tạm thời. - Các văn bản hướng dẫn chính sách từ trên xuống chưa cụ thể, rõ ràng. - Cán bộ HTX không năng động trong việc triển khai chính sách đến với xã viên để huy động sự ủng hộ từ phía xã viên. 4.3.2.3 Đề xuất đối với chính sách - Huy động vốn góp từ phía xã viên để xây dựng cơ sở hạ tầng phù hợp - Mở rộng các hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX để có kinh phí đầu tư cơ sở hạ tầng. 4.3.3 Đánh giá thực trạng các chính sách chưa thực hiện được - Chính sách xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường. + Hỗ trợ 50% kinh phí theo quy định của chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia cho các hoạt động như: Thông tin thương mại, tuyên truyền xuất khẩu, tư vấn xuất khẩu, đào tạo nâng cao năng lực và kỹ năng kinh doanh xuất khẩu, tham gia hội chợ triển lãm hàng xuất khẩu, quảng bá thương hiệu sản phẩm. + Theo kết quả điều tra thì không có hộ xã viên nào trong HTX quảng cáo thương hiệu sản phẩm trên các phương tiện thông tin đại chúng vì ở đây các HTX chưa có sản phẩm nào có thương hiệu nổi nên không thể - Chính sách ưu đãi về tín dung + Các hợp tác xã có nhu cầu vay vốn từ các tổ chức tín dụng để đầu tư mới, đầu tư nâng cấp, đầu tư mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh, thực hiện các hoạt động dịch vụ phục vụ phát triển kinh tế và đời sống xã viên thì được các tổ chức tín dụng tạo điều kiện thuận lợi để vay vốn và áp dụng hình thức đảm bảo tiền vay phù hợp với loại hình kinh tế hợp tác xã. + Theo kết quả điều tra thì các HTX đều không có tài sản thế chấp nên không thể vay vốn để đầu tư nâng cấp, mở rộng sản xuất kinh doanh phục vụ phát triển kinh tế và đời sống xã hội. -Chính sách đất đai: + Hợp tác xã có nhu cầu sử dụng đất để xây dựng trụ sở, nhà kho, sân phơi, cơ sở dịch vụ trực tiếp phục vụ xã viên sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối nhưng chưa được giao đất thì làm thủ tục xin giao đất. Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất của địa phương xem xét, quyết định việc giao đất không thu tiền sử dụng đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hợp tác xã + Đến nay HTXNN xã Mỹ Cầu vẫn chưa được giao đất để xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho Do vậy, HTX phải thuê, mượn đất của UBND xã để làm việc, hội họp. Đây thực sự là khó khăn lớn đối với HTXNN xã Đồng Tân. Vì vậy, các cơ quan chức năng cần sớm thực hiện việc giao đất không thu tiền cho HTX để HTX xây dựng trụ sở làm việc, nhà kho, sân phơi, cửa hàngƯ Chính sách thành lập mới HTX, liên hiệp HTX + Hợp tác xã chuẩn bị thành lập, sáng lập viên được hỗ trợ: Thông tin, tư vấn kiến thức về hợp tác xã; Dịch vụ tư vấn xây dựng Điều lệ hợp tác xã, hoàn thiện các thủ tục để thành lập, đăng ký kinh doanh và tổ chức hoạt động của hợp tác xã. + Qua điều tra nhận thấy các HTXNN chỉ hoạt động ở mức cầm chừng, quy mô nhỏ, ít các hoạt động nên không có nhu cầu thành lập thêm hợp tác xã. 4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển hợp tác xã ở xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội. 4.4.1 Năng lực của cán bộ HTX Phần lớn đội ngũ cán bộ trong HTX nông nghiệp thiếu kiến thức chuyên môn cần thiết để có thể quản lý điều hành HTX hoạt động một cách có hiệu quả. Đa số cán bộ đảm nhiệm chức vụ quản lý điều hành của HTX nông nghiệp đều trên cơ sở uy tín và kinh nghiệm tích lũy những hoạt động thực tế chứ chưa qua đào tạo, bồi dưỡng trước đó. Năng lực, tổ chức quản lý kinh tế và hoạt động của đội ngũ cán bộ quản lý HTX nông nghiệp còn chưa đáp ứng được với yêu cầu phát triển của HTX trong cơ chế thị trường. Bên cạnh đó các HTX lại chưa chú trọng xây dựng kế hoạch bồi dưỡng các đội ngũ kế cận và chưa cụ thể hóa các tiêu chuẩn, chức danh cho đội ngũ cán bộ Ban quản trị, Ban kiểm soát, kế toán HTX và nguồn tài chính để đáp ứng nhu cầu về đào tạo nguồn nhân lực. Bảng 4.7 Trình độ chuyên môn cán bộ HTXNN Đồng Xung và HTXNN Mỹ Cầu năm 2014 Danh mục HTX NN Đồng Xung HTX NN Mỹ Cầu Chủ nhiệm HTX Phó chủ nhiệm HTX Ban kiểm soát Kế toán Chủ nhiệm HTX Phó chủ nhiệm HTX Ban kiểm soát Kế toán 1.Trình độ văn hóa Cấp II Cấp II Cấp II Cấp II Cấp II Cấp II Cấp I Cấp I 2.Trình độ chuyên môn Trung cấp Trung cấp Trug cấp Trug cấp Trung cấp Trug cấp Chưa qua đào tạo Chưa qua đào tạo 3.Kinh nghiệm 10 8 5 5 8 8 5 5 4.Độ tuổi 56 tuổi 52 tuổi 48 tuổi 47 tuổi 53 tuổi 54 tuổi 50 tuổi 46 tuổi 5.Giới tính Nam Nam Nam Nữ Nữ Nam Nam Nữ Nguồn: số liệu điều tra Trong thời gian qua, mặc dù đã được Đảng và Nhà nước, các cấp chính quyền địa phương quan tâm đến việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt cho các HTX nông nghiệp, thông qua Chi cục phát triển nông thôn, Liên minh HTX tỉnh, các cơ quan chuyên môn khác đã lồng ghép tổ chức mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức về quản lý, điều hành và nghiệp vụ cho Ban quản trị, Ban kiểm sóat, kế toán HTX. Tuy nhiên số lượng cán bộ HTX tham gia các lớp tập huấn, bồi dưỡng rất ít và hiệu quả thực tế không cao do các chính sách đào tạo chưa phù hợp ( thời gian tập huấn, bồi dưỡng ngắn ngày, về giáo trình, trình độ nhận thức của cán bộ HTX còn hạn chế, chế độ đãi ngộ cho cán bộ đi học còn thấp) chưa thực sự hấp dẫn, khuyến khích được cán bộ HTX yên tâm học tập, đào tạo về trình độ chuyên môn nghiệp vụ do vậy mà công tác tham mưu, giúp việc cho HTX gặp rất nhiều khó khăn. Qua điều tra cho thấy năm 2014, ở 2 HTX đa số các cán bộ đều có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên, một số ít cán bộ là chưa qua đào tạo, việc đảm nhiệm chức vụ trong hợp tác xã tất cả trên cơ sở có kinh nghiệm lâu năm và có uy tín được người dân bầu cử. Các HTX vẫn thiếu cán bộ có trình độ đại học đây là một thiếu kém không chỉ đối với 2 HTX nói riêng mà hầu hết các HTX trên địa bàn xã nói chung. Vì vậy trng lúc này việc đào tạo cán bộ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động HTX là rất cần thiết. Nhìn chung trình độ chuyên môn của các cán bộ quản lý HTX vẫn chưa cao. Đa số các cán bộ HTX có trình độ trung cấp một số còn lại hầu như chưa qua trường lớp đào tạo nào. Các cán bộ chủ chốt được ứng cử đa số là do có kinh nghiệm lâu năm còn trình độ chuyên môn thì chưa cao chính vì thế khả năng tiếp thu, truyền đạt đến xã viên còn yếu. Nhiều khi các văn bản, chính sách đến với người dân chưa kịp thời, chưa chính xác. Trong thời gian tới, HTX cần có chủ trương khuyến khích, động viên các cán bộ tham gia học tập nâng cao trình độ chuyên môn để có thể hướng dẫn, chỉ đạo các xã viên được tốt hơn, để xã viên có niềm tin hơn vào trình độ chuyên môn của cán bộ HTX và yên tâm sản xuất. 4.4.2 Độ tuổi, kinh nghiệm, sức khỏe Độ tuổi cao thì thường sẽ nhiều kinh nghiệm, tuy nhiên sức khỏe giảm sút và ngược lại. Ở độ tuổi cao sẽ có kinh nghiệm lâu năm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của HTX. Tuy nhiên độ tuổi cao thì trình độ và các kỹ năng hạn chế nên việc điều hành, tổ chức sản xuất còn dựa trên kinh nghiệm nhiều, thiếu kiến thức về khoa học nên khó khăn trong việc triển khai áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bảng 4.7 cho thấy đa số các chủ nhiệm HTX đều có độ tuổi trên 50 và có thâm niên công tác cao từ 8 đến 10 năm. Các cán bộ trong HTX đều là những người có kinh nghiệm cả về quản lý lẫn sản xuất. Hơn thế nữa, cán bộ có tuổi đời lớn thường được bà con xã viên tin tưởng, tín nhiệm hơn là những cán bộ trẻ chưa có nhiều kinh nghiệm, mặc dù có trình độ cao hơn. 4.4.3 Giới tính Theo bảng 4.7: đa số các cán bộ HTX trên địa bàn xã Đồng Tân đều là nam, chiếm 62,5% trong đó nữ cán bộ chỉ chiếm 37,5%. Các số cán bộ nữ thường đảm trách chức vụ kế toán, số ít giữ chức vụ chủ nhiệm HTX. Nhìn chung, các cán bộ là nam vẫn điều hành HTX hoạt động phát triển tốt hơn nữ. Các cán bộ HTX là nữ thường gặp khó khăn trong quá trình quản lý và điều hành HTX; vì tình trạng sức khỏe, hơn nữa, các cán bộ nữ thường phải vất vả hơn vì vừa lo toan trong việc của HTX, vừa phải dành thời gian chăm sóc gia đình. Tuy vậy, cán bộ HTX nữ thường có khả năng thuyết phục tốt hơn cán bộ nam. 4.4.4 Vốn, tài sản của HTX Quản lý và sử dụng tài sản vốn, quỹ là một vấn đề quan trọng trong hoạt động của HTX, nó quyết định mức độ phát triển của một HTX. Đối với một HTX thì tài sản , vốn, quỹ thể hiện khả năng tài chính của HTX đó. Một HTX muốn phát triển phải có nền móng tài chính vững chắc, tức là có giá trị tài sản, vốn, quỹ lớn. Tài sản của HTX là những tài sản thuộc sở hữu của HTX được hình thành từ vốn hoạt động của HTX. Vốn của HTX được hình thành từ nhiều nguồn: vốn góp của xã viên, vốn tích lũy thuộc sở hữu của HTX, vốn vay và các nguồn vốn khác. Quỹ của HTX được trích lập từ lãi hoạt động dịch vụ của HTX. Việc quản lý và sử dụng tài sản, vốn quỹ của HTX phải thực hiện theo Luật HTX và Điều lệ HTX. Nhưng nhìn chung vốn ở HTX trên địa bàn xã Đồng Tân còn hạn chế. Xã viên tham gia HTX không phải góp vốn, hơn nữa HTX cũng không kinh doanh loại hình dịch vụ gì vì vậy nguồn vốn lại càng ít, không đảm bảo cho việc tổ chức sản xuất kinh doanh, không theo kịp được cơ chế thị trường, càng khó tổ chức lại HTX theo luật HTX 2012. Qua điều tra, tất cả các HTX trên địa bàn xã hoạt động theo quy mô thôn, nguồn vốn hạn hẹp, việc tổ chức sản xuất kinh doanh rất kém, đơn thuần chỉ là cung ứng một số dịch vụ thông thường mà tư nhân không cung cấp được và chưa có trụ sở riêng, dùng nhờ nhà văn hóa thôn. Tình trạng vốn lưu động ít nên dẫn đến HTX không mở rộng được hoạt động dịch vụ, hiệu quả hoạt động thấp, khả năng đáp ứng nhu cầu dịch vụ cho xã viên hạn chế. Đặc biệt khi HTX liên kết với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác để sản xuất kinh doanh các dịch vụ thì việc thiếu vốn cũng ảnh hưởng đến hoạt động của HTX cũng như khả năng đáp ứng nhu cầu đối với các xã viên. 4.4.5 Trình độ của xã viên Trình độ của xã viên cũng là một trong các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX. Nếu trình độ của xã viên tốt thì khả năng nhận thức các chính sách từ trên xuống sẽ diễn ra tốt hơn. Bảng 4.8 : Trình độ học vấn của các chủ hộ xã viên HTX Tiểu học THCS THPT Đại học SL (chủ hộ) 19 21 5 0 Tỷ lệ (%) 42,2 46,7 11,1 0 Nguồn: Số liệu điều tra Qua điều tra cho thấy: Nhìn chung trình độ của các xã viên còn hạn chế, chỉ có 11,1% số hộ được điều tra học hết THPT 42,2% học hết tiểu học, 46,7% học hết THCS, có đến 20% không qua trường lớp đào tạo và chỉ có 0% qua trường lớp Đại học. Vì vậy việc bổ sung nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao, khả năng nhạy bén và quyết đoán cao trong HTX ngày nay là rất cần thiết. 4.5 Đề xuất một số giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao hiệu quả việc thực thi chính sách tại xã 4.5.1 Tăng cường công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, Luật HTX - Tập trung tuyên truyền vào cán bộ, đảng viên các cơ quan lãnh đạo chỉ đạo phát triển kinh tế tập thể ở các cấp, các ngành, đặc biệt là cấp huyện và cơ sở, HTX, các hộ nông dân và người lao động. - Nội dung tuyên truyền đầy đủ, có hệ thống, khoa học, nhiều nội dung phong phú đa dạng nhằm giúp cho các cấp, ngành, chính quyền địa phương, các thành phần kinh tế và người dântiếp cận một cách nhanh nhất và có hiệu quả. - Công tác tuyên truyền cần phải có tính chiến lược và phù hợp với từng loại đối tượng cụ thể như: Luật HTX đưa nội dung giới thiệu Luật vào trong giáo trình, chương trình giảng dạy của các cơ sở đào tạo, hội thảo chuyên đề về kinh tế tập thể, tổ chức tọa đàm, xây dựng các chuyên mục, chuyên trang trên các phương tiện thông tin đại chúng 4.5.2 Tạo điều kiện để các HTX tiếp cận được với vốn vay Trong thực tế hiện nay, các ngân hàng và các tổ chức tín dụng không mặn mà lắm với việc cho vay đối với đối tượng là các HTX Nông nghiệp với nhiều lý do khác nhau. Bên cạnh đó, các chương trình hỗ trợ của Nhà nước lại chủ yếu tập trung vào các hộ nông dân chứ chưa chú trọng đến các HTX. Các HTX thiếu tài sản thế chấp, vướng mắc trong các thủ tục, lập các dự án đầu tư thiếu tính khả thinên không thuyết phục được ngân hàng và các tổ chức tín dụng. Để khắc phục tình trạng này, trước hết các HTX cần xác định rõ các mục đích, yêu cầu ngay từ khâu lập dự án sản xuất kinh doanh. Tiếp theo, cần có sự giúp sức từ phía nhà nước đứng ra làm trung gian, làm cơ sở pháp lý bảo lãnh tín dụng cho các HTX. Có như vậy mới giúp cho các HTX có thêm nguồn vốn để đầu tư cho các kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình. 4.5.3 Tăng cường đào tạo, nâng cao trình độ nguồn nhân lực của HTX Nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực có chất lượng cao giữ vai trò quan trọng trong điều kiện các HTX phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vì vậy định hướng trong thời gian tới, một mặt phải chú trọng tăng cường năng lực, trình độ chuyên môn, quản lý cho đội ngũ cán bộ HTX, mặt khác chú trọng nâng cao trình độ tri thức cho xã viên để có thể đáp ứng tốt việc ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong sản xuất kinh doanh. Coi trọng công tác đào tạo cán bộ cho HTX nông nghiệp trước hết là Chủ nhiệm HTX. Việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng cũng như cơ chế chính sách đối với chủ nhiệm HTX và ban quản trị phải được đổi mới cơ bản theo nguyên tắc lấy mục tiêu hiệu quả kinh doanh của HTX làm tiêu chí hàng đầu. Phân loại, xác định nhu cầu và đối tượng tập huấn phù hợp, chú ý đào tạo đội ngũ kế thừa và lực lượng trẻ, có trình độ. Với mục tiêu đào tạo được đội ngũ cán bộ quản lý HTX tốt cần phải có các giải pháp cụ thể sau: - Tăng cường công tác đào tạo bồi dưỡng ngắn hạn đối với các chức danh Ban quản trị, Ban kiểm soát, Kế toán trưởng và cán bộ nghiệp vụ HTX. Tiếp tục có cơ chế chính sách hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn. Bố trí việc đào tạo cán bộ HTX có trình độ quản lý và chuyên môn được thực hiện bằng nhiều hình thức như: Học chính quy hoặc tại chức ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, mở các lớp bồi dưỡng ngắn hạn, dài hạn theo chuyên đề. - Tăng cường tổ chức tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ chuyên môn theo dõi phát triển HTX ở các cấp, ngành địa phương. - Khuyến khích mọi xã viên HTX tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, khai thác và sử dụng hợp lý, có hieeuh quả lao động trong HTX bằng việc bố trí công việc phù hợp nhất với khả năng và trình độ chuyên môn của họ, trả lương xứng đáng với năng suất công việc được giao. 4.5.4 Có chế độ đãi ngộ xứng đáng cho cán bộ, xã viên - Có cơ chế, chính sách hỗ trợ cho cán bộ, xã viên có đủ điều kiện đi học tại các trường đại học, cao đẳng và trung học nghề chính quy hoặc tại chức. Hỗ trợ kinh phí đào tạo tùy theo điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và yêu cầu cán bộ xã viên đi học phải cam kết làm việc cho HTX ít nhất à 5 năm sau khi tốt nghiệp ra trường. Kinh phí thực hiện từ nhiều nguồn: Từ ngân sách nhà nước (thông qua kế hoạch đào tạo chung của tỉnh giao cho Liên minh HTX chủ trì), đồng thời tranh thủ các nguồn khác, dần dần có sự đóng góp của đơn vị cử người đi học theo phương châm “xã hội hóa”. Phương pháp tập huấn là “cùng tham gia”, nội dung đào tạo có tính thực tế cao và có kiểm tra, hỗ trợ sau đào tạo. PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 5.1 Kết luận Hợp tác hóa trong nông nghiệp là con đường tất yếu, khách quan trong quá trình sản xuất của người nông dân, đặc biệt là từ khi bước vào quá trình CNH – HĐH nông nghiệp nông thôn thì hợp tác lại càng quan trọng hơn, nó giúp liên kết những nhà sản xuất nhỏ lẻ, kinh doanh riêng lẻ dưới nhiều hình thức đa dạng và HTX được coi là nòng cốt của kinh tế tập thể. Liên kết trong sản xuất, giúp người sản xuất nhỏ lẻ đủ sức cạnh tranh, chống lại sự chèn ép của các thành phần kinh tế khác. Mặt khác, sự liên kết này giúp cho các hộ xã viên có điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất. Trong những năm qua, tuy rằng các HTX ở Đồng Tân chưa thực sự phát triển và lớn mạnh, nhưng nhờ có sự ủng hộ của chính quyền địa phương cùng ban ngành đoàn thể các cấp cũng như toàn thể xã viên mà các HTX vẫn duy trì hoạt động, giúp đỡ phần nào đó cho hoạt động sản xuất của các hộ xã viên. Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích, đề tài đã giải quyết những vấn đề sau: Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về HTX cũng như các chính sách hỗ trợ phát triển HTX, bao gồm các khái niệm: hợp tác xã,chính sách, chính sách hỗ trợ phát triển. Qua đó có thể thấy rằng HTX là tổ chức kinh tế do những người nông dân tự nguyện thành lập nhằm mục đích trợ giúp các hoạt động sản xuất nông nghiệp của họ thông qua việc cung cấp các dịch vụ giá rẻ do lợi thế về quy mô và chuyên môn hóa hoạt động HTX nông nghiệp ra đời dựa trên nền tảng kinh tế hộ; và HTX là tổ chức kinh tế nông nghiệp được tách hẳn để làm chức năng dịch vụ nông nghiệp, nó hoạt động theo Luật HTX, là một loại hình HTX kiểu mới; HTX được tổ chức nhằm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân, nó không hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận. Đề tài đã đưa ra được lý luận về các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX; gồm các nhân tố về chủ trương, chính sách; nhân tố về vốn, cơ sở vật chất của HTX; các nhân tố về trình độ, năng lực của cán bộ HTX cũng như sự hiểu biết của xã viên. Đề tài đã đưa ra kinh nghiệm phát triển HTX ở một số nước như Nhật Bản, Đức, Mỹ và cả ở Việt Nam ; từ đó rút ra được một số bài học kinh nghiệm về hoạt động của các HTX ở Việt Nam từ các nước. Thứ hai, phân tích thực trạng thực thi chính sách hỗ trợ phát triển tại xã Đồng Tân, cụ thể về tình hình tài sản, nguồn nhân lực của HTX, hệ thống các văn bản chính sách đã được nhận... Nhìn chung, tài sản của HTX chủ yếu là hệ thống máy móc, nhà trạm của HTX cũ chuyển lại, hệ thống tài sản này đã cũ nát, xuống cấp, giá trị sử dụng thấp, việc duy tu, bảo dưỡng phải tiến hành thường xuyên; trình độ đội ngũ cán bộ HTX còn rất hạn chế, số cán bộ được đào tạo chuyên môn qua trường lớp còn rất ít, hoạt động điều hành, chỉ đạo chủ yếu dựa vào kinh nghiệm có sẵn. Cùng với việc phân tích thực trạng của HTX thì đề tài đã đánh giá thuận lợi và khó khăn của HTX trong quá trình phát triển. Qua tìm hiểu đề tài đã có những đánh giá chung về tình hình cơ sở hạ tầng, vốn và các dịch vụ hiện tại mà HTX đang cung ứng; trong những năm qua các HTX đang hoạt động theo Luật HTX 2003, có nghĩa là HTX chưa chuyển đổi từ luật cũ sang luật mới và vẫn thực hiện một số hoạt động dịch vụ đầu vào phục vụ sản xuất nông nghiệp cho người dân. Dịch vụ mà HTX đang thực hiện gồm dịch vụ thủy lợi, dịch vụ BVTV, dịch vụ cung ứng vật tư; có thể thấy rằng tuy nền kinh tế thị trường hiện nay đang rất khó khăn, các HTX tại Đồng Tân chưa thực sự phát triển một cách lớn mạnh, song cũng có những giải pháp nhất định nhằm duy trì ổn định hoạt động của đơn vị mình như việc mở rộng ngành nghề kinh doanh dịch vụ nhằm tăng lợi nhuận cho HTX. Tuy nhiên, theo đánh giá của UBND xã Đồng Tân thì HTX vẫn chưa thực sự thích ứng kịp thời với sự thay đổi của nền cơ chế thị trường, nên số lượng và chất lượng dịch vụ còn một số hạn chế cần phải khắc phục. Trong đề tài này, tôi đã đi sâu phân tích tình hình thực hiện các chính sách hỗ trợ của HTX. Kết quả cho thấy: hầu hết các cán bộ HTX đều được tổ chức tập huấn bồi dưỡng kỹ năng như chính sách, tuy vậy mức độ hưởng lợi từ các chính sách chưa nhiều. Sau khi phân tích lấy ý kiến đánh giá của cán bộ quản lý HTX về khả năng hoạt động và chất lượng dịch vụ của HTX, đồng thời lấy ý kiến thăm dò xã viên, nông dân về nhu cầu, chất lượng, giá cả dịch vụ của HTX có thể thấy rằng nếu đặt ra giả thiết các yếu tố khác cố định, trong quá trình hoạt động kinh doanh, HTX đảm nhiệm được nhiều khâu dịch vụ thì sẽ mang lại kết quả kinh doanh cao hơn. Chính vì vậy, việc định hướng mở rộng ngành nghề kinh doanh cho HTX là một giải pháp cần thiết trong thời điểm hiện tại, đặc biệt là những ngành nghề gắn sát với nhu cầu thực tế của nông dân và cho doanh thu cao. Thứ ba, phân tích các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến tình hình thực thi chính sách của HTX. Có thể thấy được rằng các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực thi các chính sách nói chung gồm: vốn, tài sản của HTX, trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý; cán bộ chuyên môn HTX,năng lực, sự hiểu biết của bà con xã viên, bản thân các chính sách; trong các yếu tố đó thì yếu tố đặc biệt quan trọng tác động trực tiếp đến hiệu quả thực thi chính sách hiện nay đó là trình độ của cán bộ quản lý. Vì lãnh đạo là gốc rễ của mọi vấn đề, lãnh đạo có tốt, có hiểu biết thì mới có thể truyền đạt đến bà con xã viên một cách cụ thể và rõ ràng nhất. Thứ tư, từ những vấn đề trên, để nâng cao hiệu quả thực thi chính sách hỗ trợ phát triển HTX, đề tài xin đưa ra một số giải pháp chính như sau: - Nâng cao trình độ quản lý cán bộ chủ chốt của HTX - Tăng cường đầu tư vốn, cơ sở hạ tầng vào các hoạt động dịch vụ Tiếp tục triển khai công tác tuyên truyền về Luật HTX, cùng các văn bản hướng dẫn thi hành chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế hợp tác và HTX Để khuyến khích HTX phát triển, Nhà nước cần bổ sung, ban hành thêm một số chính sách và thực hiện một số giải pháp mang tính hỗ trợ về kinh tế, để khuyến khích, tạo thuận lợi cho HTX phát triển. 5.2 Kiến nghị Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện chính sách trên địa bàn xã Đồng Tân, huyện Ứng Hòa, Tp Hà Nội tôi đã đưa ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển HTX cũng như đưa các chính sách đến gần hơn với người dân . Tuy nhiên để các giải pháp này thực sự có thể áp dụng và triển khai có hiệu quả thì cần phải có sự phối kết hợp đồng bộ của các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, sự vào cuộc của chính bản thân HTX và xã viên. Trên cơ sở đó tôi xin mạnh dạn có một số kiến nghị để nâng cao hiệu quả hoạt động của HTX như sau: 5.2.1 Đối với Nhà nước Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện, bổ sung, sửa đổi Luật HTX cho phù hợp, tạo khung pháp lý đối với thành phần kinh tế HTX để làm nền tảng cho sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động trong toàn Đảng, toàn dân. Đặc biệt, cần phải có những hướng dẫn cụ thể để tháo gỡ các khó khăn về cơ chế, chính sách liên quan đến HTX như: về giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho HTX; cần có hướng dẫn cụ thể thực hiện chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dịch vụ phục vụ trực tiếp sản xuất NN của HTX như dịch vụ tưới tiêu, bảo vệ thực vật, khuyến nông, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, cung ứng giống cây trồng, vật nuôi, vật tư và các dịch vụ nông nghiệp khác cho xã viên. Nhà nước, các cấp, ban ngành chuyên môn cần có sự quan tâm sâu sắc ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực hơn nữa cho cộng đồng dân cư nông thôn theo Nghị quyết TW 26/TW-BCH về tam nông: + Cần có nhiều cơ chế, chính sách hơn nữa về công tác quản lý, hỗ trợ phát triển HTX; cơ chế hỗ trợ thông tin định hướng phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm hàng hóa cho khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông dân; xây dựng hệ thống khuyến công, khuyến nông cơ sở ban hành chính sách hỗ trợ hệ thống này thực hiện thành công việc chuyển giao khoa học công nghệ về nông thôn; + Cần tăng cường công tác đôn đốc, giám sát chặt chẽ việc thực hiện Luật HTX, thực hiện theo hành lang pháp lý và những quy định hiện hành. Tổng kết thực tiễn thường xuyên hàng năm, thấy được sự tiến bộ, hiệu quả để điều chỉnh kịp thời mọi hoạt động của HTXDVNN; + Tăng cường các chương trình, dự án tập huấn về nghiệp vụ quản lý kinh tế HTX cho cán bộ quản lý HTXDVNN, nhằm thích ứng kịp thời với sự thay đổi của nền kinh tế thị trường 5.2.2 Đối với chính quyền địa phương Chính quyền UBND xã cần phải hiểu được vị trí và vai trò của HTX trong giai đoạn hiện nay, tạo mọi điều kiện giúp đỡ cho sự phát triển HTX trên địa bàn xã, luôn có định hướng , giám sát chỉ đạo kịp thời. Trước mắt, UBND xã, huyện Ứng Hòa cần phải giúp đõ HTX trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm trụ sở cho HTX, để HTX có giấy chứng nhận có thể thế chấp ngân hàng vay vốn mở rộng sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, cùng với HTX đầu tư xây dựng CSHT phục vụ cho quá trình sản xuất nông nghiệp như giao thông thủy lợi nội đồng, cầu cống, kênh mương. 5.2.3 Đối với các hộ xã viên Cần nghiêm túc thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình được quy định rõ ràng tại Luật HTX (2003) và điều lệ của HTX. Đồng thời, là những người trực tiếp sản xuất nên đòi hỏi xã viên cần phải tích cực và mạnh dạn ứng dụng các tiến bộ KHKT, các mô hình làm ăn hiệu quả vào sản xuất. Đặc biệt xã viên phải mạnh dạn đóng góp ý kiến xây dựng HTX về mọi mặt và thay đổi tư duy mới khi tham gia HTX, tăng cường tham gia lao động trực tiếp và đóng góp cho HTX. DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1) Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Cẩm nang Hợp tác xã, NXB Lao động, năm 2006, Hà Nội. 2) Một số vấn đề cơ bản về HTX, NXB Lao động, 2004, Hà Nội. 3) Vương Văn Giang, 2013, Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ trên địa bàn huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Luận văn Thạc sỹ, Đại học Hà Nội. 4) Vũ Cao Đàm ,2011, Khoa học chính sách, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 5) Đào Quang Định,2013,”Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động HTX dịch vụ nông nghiệp xã Lưỡng Vượng, TP.Tuyên Quang”, Học viện Nông Nghiệp Việt Nam. Phạm Thị Hà Châm ,2013, “Nghiên cứu vai trò của hợp tác xã đối với các xã viên - Tiếp cận từ phía xã viên hợp tác xã dịch vụ tổng hợp Đa Tốn, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội”. Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam. Thạch Phú Thành,2010, “Phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đến năm 2020”,Luận văn thạc sĩ, Học viên Nông nghiệp Việt Nam. Dương Thị Nga (2012), “Nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên”, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam. Phạm Bảo Dương, Xây dựng các hình thức sản xuất phù hợp trong nông thôn, Tạp chí Kinh tế và dự báo, Việt Nam, 2004 10) Nguyễn Ngọc Bích (2012), ‘Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở Hà Nội’, Luận văn Thạc sỹ kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế. 11) Nguyễn Đình Kháng, Chính sách phát triển HTX ở Việt Nam, Tạp chí Kinh tế và dự báo, số tháng 8/2009

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • dockhoa_luan_danh_gia_thuc_thi_chinh_sach_ho_tro_phat_trien_hop.doc
Tài liệu liên quan