Luận án Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tác giả. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố. Tác giả luận án Lê Hồ Hiếu DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TT Chữ viết đầy đủ Chữ viết tắt 1 Ban Chấp hành BCH 2 Ban Thường vụ BTV 3 Cán bộ, công chức, viên chức CBCCVC 4 Công nghiệp hóa, hiện đại CNH, HĐH 5 Đào tạo bồi dưỡng ĐTBD 6 Giáo dục và đào tạo GD&ĐT 7

doc186 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 96 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Hội đồng nhân dân HĐND 8 Hệ thống chính trị HTCT 9 Khoa học và Công nghệ KH&CN 10 Kinh tế - Xã hội KT-XH 11 Nguồn nhân lực NNL 12 Ủy ban nhân dân UBND MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT MỞ ĐẦU 5 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 10 1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố 10 1.2. Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình đã công bố liên quan đến đề tài và những vấn đề đặt ra luận án tiếp tục giải quyết 27 Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ NĂM 2005 ĐẾN NĂM 2010 32 2.1. Những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực 32 2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực (2005 - 2010) 49 2.3. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực (2005 - 2010) 53 Chương 3 ĐẢNG BỘ TỈNH QUẢNG NINH LÃNH ĐẠO ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TỪ NĂM 2010 ĐẾN NĂM 2015 76 3.1. Yêu cầu mới và chủ trương đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh (2010 - 2015) 76 3.2. Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực (2010 - 2015) 94 Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM 129 4.1. Nhận xét sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực (2005-2015) 129 4.2. Kinh nghiệm từ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực (2005-2015) 145 KẾT LUẬN 161 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 163 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 164 PHỤ LỤC 188 MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài luận án Phát triển NNL luôn là vấn đề quan trọng bậc nhất đối với mọi quốc gia, vì nguồn lực con người luôn là một nhân tố quyết định sức mạnh, vị thế của đất nước, đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của đời sống KT-XH. Quá trình toàn cầu hóa, sự tăng trưởng kinh tế ngày càng dựa nhiều vào trí thức và công nghệ tạo ra nhiều cơ hội phát triển NNL, đồng thời cũng đặt ra những yêu cầu mới về phát triển nguồn lực con người. Tại Việt Nam, tiến trình đổi mới đất nước, mở cửa hội nhập quốc tế, thực hiện CNH, HĐH cũng là tiến trình đổi mới nhận thức, cũng như phương thức xây dựng, phát triển NNL. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã xác định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân; gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ”[36, tr.755]. Thực tế, đến nay, bên cạnh những thành tựu về xây dựng, phát triển NNL, nhất là nhân lực chất lượng cao của Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế cả về số lượng và chất lượng, bất cập về chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng giao tiếp quốc tế, thái độ và đạo đức nghề nghiệp... Những hạn chế và bất cập đó đã ảnh hưởng không nhỏ tới thu hút đầu tư, tới sự phát triển, ổn định KT-XH đất nước. Do đó, nghiên cứu phát triển NNL trên phạm vi cả nước nói chung, ở cấp độ địa phương nói riêng để đút kết những kinh nghiệm hay, vận dụng vào phát triển NNL hiện nay cũng như tương lai là cần thiết, mang tính thời sự. Quảng Ninh là một tỉnh nằm trong tam giác kinh tế tăng trưởng Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, sau hơn 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới đã mang diện mạo của một khu vực kinh tế mở, năng động, đạt tốc độ tăng trưởng cao, quy mô không ngừng được nâng lên. Để đạt được những thành quả đó, ngoài lợi thế về vị thế địa lý, tài nguyên phong phú, trong những năm đổi mới, Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh đã tập trung xây dựng, phát triển NNL và đã thu được nhiều kết quả. Để tạo bước chuyển biến mang tính đột phá, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh khóa XI (3/2001) chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn lực con người; xây dựng đội ngũ lao động có trình độ chất lượng cao, có cơ cấu ngành nghề hợp lý và có trình độ tiếp thu công nghệ tiên tiến ứng dụng vào sản xuất” [29, tr.33]. Đảng bộ và nhân dân địa phương đã chọn đúng và giải quyết tương đối tốt vấn đề phát triển NNL, coi đây là hướng đột phá để phát triển KT-XH, một nhiệm vụ vừa cấp bách, thường xuyên vừa có tính chiến lược lâu dài. Dẫu vậy, chất lượng NNL của Quảng Ninh, nhiệm vụ phát triển NNL của địa phương trên cả phương diện chủ trương và tổ chức thực hiện còn bộc lộ những hạn chế, yếu kém. Do đó, việc nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL trong những năm 2005-2015 nhằm làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh vận dụng chủ trương của Đảng về phát triển NNL vào thực tiễn địa phương, qua đó, chỉ rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và tổng kết kinh nghiệm lịch sử để vận dụng vào giai đoạn tiếp theo. Với ý nghĩa đó, tác giả chọn vấn đề: “Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển nguồn nhân lực từ năm 2005 đến năm 2015” làm đề tài luận án tiến sĩ khoa học Lịch sử, chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích Nghiên cứu làm sáng tỏ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015, rút ra những kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho việc phát triển NNL của tỉnh trong giai đoạn tiếp theo. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đề đề tài luận án Làm rõ những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Phân tích, luận giải làm rõ những chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Làm rõ quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh chỉ đạo thực hiện phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Nhận xét những ưu điểm, hạn chế trong quá trình Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lãnh đạo phát triển NNL (2005 - 2015), từ đó rút ra những kinh nghiệm lịch sử chủ yếu vận dụng vào hiện thực. 3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Nghiên cứu hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu, làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh, bao gồm: xây dựng quy hoạch phát triển NNL, đào tạo, bồi dưỡng phát triển NNL và đổi mới cơ chế chính sách thu hút NNL của Tỉnh (tập trung chủ yếu vào NNL lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động ở các cơ quan hành chính sự nghiệp trong khu vực Nhà nước và NNL chuyên môn kỹ thuật ngành công nghiệp - xây dựng, công nhân kỹ thuật lành nghề, NNL ngành du lịch - dịch vụ, NNL ngành nông, lâm, ngư nghiệp...) trên các mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu NNL. Về thời gian: Luận án nghiên cứu trong 10 năm, mốc thời gian bắt đầu từ năm 2005, năm tiến hành Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XII (10/2005). Mốc kết thúc luận án là năm 2015, mốc thời gian kết thúc thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIII (nhiệm kỳ 2010-2015) mở đầu Đại hội Đảng bộ Tỉnh lần thứ XIV (10/2015). Tuy nhiên, để vấn đề nghiên cứu có hệ thống, luận án có đề cập một số năm trước năm 2005 và sau năm 2015. Về không gian: Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. 4. Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu 4.1 Cơ sở lý luận Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển NNL. 4.2 Cơ sở thực tiễn Thực tiễn hoạt động lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL trên địa bàn Tỉnh từ năm 2005 đến năm 2015 với hệ thống các nghị quyết, chỉ thị, báo cáo của Tỉnh ủy, các quyết định của UBND tỉnh Quảng Ninh; các đề án, báo cáo tổng kết hàng năm, tổng kết giai đoạn, quá trình phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninh; kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học liên quan đến phát triển NNL; kết quả điều tra, khảo sát thực tế, 4.3 Phương pháp nghiên cứu Tác giả sử dụng các phương pháp phổ quát của khoa học lịch sử như: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, kết hợp phương pháp lịch sử với phương pháp logic, ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp khác như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh Cụ thể: Phương pháp lịch sử được sử dụng chủ yếu trong chương 2 và chương 3 khi phân kỳ các giai đoạn lịch sử (2005 - 2010) và (2010 - 2015) nhằm hệ thống hóa các quan điểm của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL, đồng thời làm rõ quá trình chỉ đạo của tỉnh Quảng Ninh phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Phương pháp logic chủ yếu được sử dụng nhằm sâu chuỗi các sự kiện lịch sử cơ bản, khái quát hóa thành những luận điểm, quan điểm cơ bản từ các văn kiện của Đảng bộ, Chính quyền tỉnh Quảng Ninh nhằm thấy được quá trình nhận thức, phát triển về chủ trương, sự chỉ đạo của Đảng bộ Tỉnh về phát triển NNL. Phương pháp logic đặc biệt được sử dụng phổ biến trong chương 4 nhằm khái quát, tổng kết lịch sử đưa ra những nhận xét về ưu điểm, về hạn chế và rút ra kinh nghiệm lịch sử trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo thực tiễn phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015. Các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh được kết hợp sử dụng trong các chương nhằm làm rõ những nội dung nghiên cứu của luận án. 5. Những đóng góp mới của luận án Hệ thống hoá chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Nhận xét đánh giá một cách khách quan, khoa học thành tựu và hạn chế trong hoạt động lãnh đạo phát triển NNL của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh từ năm 2005 đến năm 2015. Đúc kết một số kinh nghiệm từ quá trình lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển NNL từ năm 2005 đến năm 2015. Góp phần tổng kết lý luận, thực tiễn phát triển NNL của Đảng thực tiễn của một Đảng bộ địa phương. 6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của đề tài Góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tiếp tục bổ sung, điều chỉnh chủ trương, sự chỉ đạo phát triển NNL phục vụ cho công cuộc phát triển KT-XH của địa phương và đất nước. Kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho lãnh đạo phát triển NNL ở tỉnh Quảng Ninh nói riêng và các địa phương khác trong cả nước nói chung. Đồng thời, là tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam ở các Học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 4 chương (9 tiết). Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án đã được công bố 1.1.1. Các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài 1.1.1.1. Các công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực Phát triển NNL là một mục tiêu cơ bản và quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của nhiều quốc gia trên thế giới, vì vậy, đây là vấn đề được nhiều nhà quản lý, nhà khoa học trên thế giới tập trung nghiên cứu, tiêu biểu với một số công trình như sau: Các tác giả Theodore Schultz (1971), “Investment in Human Capital” (Đầu tư vào vốn con người) [239] và tác giả Gary S.Becker (1964) trong loạt bài giảng về Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysic, with Special Reference to Education (Vốn con người: Một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục) [234] là những người đầu tiên đưa ra khái niệm về “vốn con người”. Thuyết về “vốn con người” đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chính sách phát triển giáo dục và phát triển kinh tế của nhiều quốc gia từ thập niên 60 của thế kỷ XX. Lý thuyết này đã chứng minh vai trò to lớn của GD&ĐT để phát triển con người-một trong những nguồn vốn quan trọng nhất của sản xuất vật chất. Tác giả Walter W. McMahon, “Education and Development: Measuring the Social Benefits” (Giáo dục và phát triển: Đo lường các lợi ích xã hội) [240] đưa ra một cách tiếp cận mới nhằm đo lường tổng lợi nhuận từ việc phát triển nhân lực thông qua đầu tư vào GD&ĐT. Trên cơ sở sử dụng dữ liệu trong khu vực và trên toàn thế giới, ông đã phân tích và ước tính đóng góp cận biên ròng của giáo dục và kiến thức mới đối với tăng trưởng kinh tế, cũng như những ảnh hưởng rộng lớn của nó đối với dân chủ, nhân quyền, ổn định chính trị, y tế, tỷ lệ gia tăng dân số, giảm nghèo, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, tội phạm, sử dụng ma túy, và môi trường. Các tác giả Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development” (Những quan điểm dựa trên lý thuyết làm rõ những ranh giới của phát triển nguồn nhân lực ) [235], đã công bố những kết quả nghiên cứu về khái niệm và phạm vi phát triển NNL trên khía cạnh học thuật; luận giải sự khác biệt giữa phát triển NNL với phát triển vốn nhân lực và phát triển con người, qua đó có thể ứng dụng để làm rõ về mặt lý luận nghiên cứu NNL trong một lĩnh vực cũng như một tổ chức nhất định. Bên cạnh đó, một số tài liệu được xuất bản ở nước ngoài cho thấy rõ hơn về yêu cầu đào tạo NNL cho phát triển của mỗi quốc gia, như nghiên cứu của M. Jones và P. Manu (1992), “International perspectives on development and learning” (Quan điểm quốc tế về phát triển và học tập) [238], đã đề cập đến chính sách khuyến khích phát triển NNL thông qua đào tạo và quản lý con người; vai trò của của phát triển NNL trong công cuộc xây dựng kinh tế ở các quốc gia châu Phi và châu Á. Tác giả đề xuất các giải pháp và đề cập đến các chính sách, các bước tiến hành phát triển NNL. Các tác giả Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith đã trình bày kết quả nghiên cứu trong công trình khoa học “Human Resources in the 21st century” (Nguồn nhân lực trong thế kỉ XXI) [237]. Đó là những ý tưởng được đề xuất qua khảo sát của các chuyên gia hàng đầu về nhân lực trên các phương diện như chính sách đào tạo, quản lý, sử dụng lao động nhằm tạo nên NNL cho thế kỷ 21. 1.1.1.2. Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về nguồn nhân lực ở nước ngoài Bên cạnh các công trình nghiên cứu về NNL ở các nước khác nhau trên thế giới của các học giả nước ngoài, các tác giả trong nước cũng có nhiều công trình nghiên cứu công phu về NLL ở các nước, cũng như những kinh nghiệm sử dụng NNL ở nhiều nước trên thế giới, tiêu biểu là các công trình của các học giả sau: Các tác giả Trần Văn Tùng và Lê Thị Ái Lâm (1996), “Phát triển nguồn nhân lực - kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” [192], đã chỉ ra rằng sự phát triển thành công của một đất nước luôn gắn chặt với chính sách, chiến lược phát triển NNL, nhất là chiến lược phát triển giáo dục và khái quát kinh nghiệm phát triển NNL ở khía cạnh phát triển giáo dục ở một số nước trên thế giới, đặc biệt, các tác giả đã tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá vấn đề GD&ĐT trong chính sách phát triển NNL ở Việt Nam, từ thực trạng đến việc định hướng GD&ĐT nhằm phát triển NNL cũng như việc lựa chọn chính sách phát triển NNL ở nước ta. Tác giả Lê Thị Ái Lâm (2003), “Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo- kinh nghiệm của Đông Á” [82], đã đi từ thực tiễn thành công một cách thần kỳ của một số nước, vùng lãnh thổ ở Đông Á, Đông Nam Á, như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Công, Singapo, Indonexia, Malaixia, trong việc phát triển NNL để luận giải một số lý thuyết phát triển NNL thông qua GD&ĐT trên các nội dung sau: Một là, vai trò của phát triển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á. Hai là, chiến lược công nghiệp hóa phù hợp với phát triển GD&ĐT ở các nước Đông Á. Ba là, điều chỉnh phát triển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á. Bốn là, vấn đề phát triển NNL hiện nay thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á. Từ việc phân tích thực trạng phát triển NNL thông qua GD&ĐT ở các nước Đông Á, tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay. Tác giả Nguyễn Kim Bảo (2004) trong công trình“Điều chỉnh một số chính sách kinh tế ở Trung Quốc (giai đoạn 1992 - 2010)” , đã tìm hiểu về những nhân tố tác động và nội dung chính trong điều chỉnh chính sách kinh tế ở Trung Quốc giai đoạn 1992 - 2010 và những tác động của việc điều chỉnh chính sách kinh tế đó với thế giới cũng như khu vực và Việt Nam. Đặc biệt, trong chương VI của cuốn sách, tác giả đã trình bày về vấn đề điều chỉnh chính sách KH&CN và chính sách phát triển NNL. Các điều chỉnh đó bao gồm: Thứ nhất, điều chỉnh các chính sách KH&CN; Thứ hai, điều chỉnh chính sách phát triển NNL. Trong bước điều chỉnh thứ nhất, tác giả trình bày 3 nội dung: Chính sách KH&CN trong thập kỷ 90; một số thành tựu và những tồn tại; xu hướng điều chỉnh chính sách KH&CN của Trung Quốc đến năm 2010. Trong bước điều chỉnh thứ hai, tác giả làm rõ các vấn đề liên quan, như chính sách phát triển NNL trong thập kỷ 90; thành tựu và những vấn đề tồn tại; xu hướng phát triển NNL đến năm 2010 Tác giả Trần Văn Tùng (2005) trong cuốn: Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng - kinh nghiệm của thế giới [176], trên cơ sở quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, nhân tài là nguồn lực quan trọng và quý báu nhất thúc đẩy quá trình phát triển KT - XH, tạo ra các giá trị vật chất, tinh thần to lớn cho toàn thể cộng đồng, do vậy, trên thế giới đang diễn ra một cuộc đua - cuộc đua phát hiện, bồi dưỡng, đào tạo và sử dụng tài năng, song ở mỗi quốc gia lại có những bí quyết riêng, tác giả đã nghiên cứu về các trường hợp điển hình ở các nước như Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước khác nhằm giúp độc giả có cái nhìn khái quát về vấn đề đào tạo, sử dụng nguồn lực tài năng ở các quốc gia này. Trên cơ sở đó, tác giả khẳng định rằng việc đổi mới chính sách đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn lực tài năng ở Việt Nam là một trong những yêu cầu cấp bách để đưa đất nước phát triển. Tác giả Vũ Bá Thể (2005), “Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [184] đã nghiên cứu kinh nghiệm phát triển NNL của một số nước tiên thế giới và thực trạng NNL ở nước ta, từ đó đưa ra những quan điểm về NNL và phát triển NNL; vai trò của NNL đối với tăng trưởng kinh tế và sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam; định hướng và những giải pháp nhằm phát huy nguồn lực con người ở nước ta hiện nay. 1.1.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước liên quan đến đề tài 1.1.2.1. Nhóm nghiên cứu chung về phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam Tác giả Mai Quốc Chánh (1999), “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [9], đã nhấn mạnh vai trò của NNL và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng NNL. Đồng thời, chỉ ra thực trạng chất lượng NNL và những giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng NNL trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, trong đó tác giả đặc biệt coi trọng NNL trí thức, coi đây là tài sản quý giá của tất cả các quốc gia và khẳng định công cuộc đổi mới ở Việt Nam muốn thành công thì đào tạo NNL trí thức là công việc cấp bách. Tác giả Trần Văn Tùng (2001), “Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam” [175], bàn về vai trò của tri thức với kinh tế thế giới, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam nói riêng. Từ đó tác giả nêu lên những yêu cầu đối với sự nghiệp GD - ĐT nhằm đáp ứng sự nghiệp xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng NNL cho quốc gia. Tác giả Bùi Thị Ngọc Lan (2002),“Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” [80], đã chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với sự phát triển của xã hội; làm rõ đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó khẳng định sự cần thiết phải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnh của nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu như: nâng cao nhận thức của toàn xã hội về sự cần thiết phải phát huy nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới; cải cách hệ thống GD&ĐT nhằm tạo nguồn cho quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ; tạo động lực thúc đẩy quá trình phát huy nguồn lực trí tuệ; xây dựng môi trường văn hóa, xã hội lành mạnh thúc đẩy sự phát triển cao và bền vững của nguồn lực trí tuệ Việt Nam. Tác giả Nguyễn Thanh (2002),“Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”,[180], đã luận giải nhằm làm rõ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển con người, về vai trò của GD&ĐT trong chiến lược phát triển con người; phân tích về NNL có chất lượng trong công cuộc CNH, HĐH ở nước ta hiện nay trên cơ sở phát triển GD&ĐT với tính cách “quốc sách hàng đầu”, coi đó là điều kiện tiên quyết để thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới nói chung và CNH, HĐH đất nước nói riêng. Tập thể tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Thế Nghĩa và Đặng Hữu Toàn chủ biên (2002) trong cuốn: “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn”, [169], đã đề cập đến nhiều vấn đề con người, những bất cập, đòi hỏi về nguồn lực con người trước sự nghiệp CNH, HĐH, những vấn đề quan tâm, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn lực con người dưới các khía cạnh khác nhau. Tác giả Nguyễn Hữu Dũng (2003), “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam” [24], đã trình bày hệ thống một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến phát triển, phân bố và sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam; đánh giá thực trạng 15 năm đổi mới lĩnh vực NNL; giới thiệu kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc về vấn đề này; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế ở nước ta tới năm 2010. Tác giả Trần Nhân (2004), “Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới” [108], luận bàn về phát triển nguồn lực, con người nhân tố quyết định thắng lợi của đổi mới và phát triển, tiếp tục khẳng định con người là trung tâm của phát triển, con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của phát triển KT-XH. Tác giả khẳng định chiến lược phát triển con người không chỉ là phát triển từng mặt, mà là phát triển toàn diện đạo đức và tài năng, thể lực, trí lực, và tay nghề. Các tác giả Nguyễn Văn Đễ, Bùi Xuân Trường (2004) trong cuốn “Nhân lực Việt Nam trong chiến lược kinh tế 2001-2010” [39], đã tập hợp chi tiết các bài viết về vai trò của NNL Việt Nam trong chiến lược phát triển kinh tế 2001 - 2010. Cuốn sánh chia làm 4 phần: Kinh tế tri thức; chiến lược phát triển NNL Việt Nam trong chiến lược KT-XH giai đoạn 2001 - 2010; hướng tới nền kinh tế tri thức - cả nước với chương trình phát triển NNL giai đoạn 2001- 2010 và những thông tin về giáo dục - đào tạo. Nội dung sách xoay quanh vấn đề phát triển NNL do Đại hội IX của Đảng đề ra "Nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững - con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" [36, tr.472]. Tác giả Phạm Thành Nghị (2007), “Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [102], đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản, những nhận thức mới và hiện đại về quản lý NNL như vấn đề vốn con người và phát triển vốn con người; các mô hình quản lý NNL; các yếu tố tác động đến quản lý NNL và các chính sách vĩ mô tác động đến quản lý NNL. Đặc biệt, là việc phân tích những khác biệt trong quản lý NNL ở một số lĩnh vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh qua kết quả điều tra xã hội học. Qua đó kiến nghị áp dụng những mô hình quản lý NNL phù hợp thay thế cho các mô hình đã lạc hậu. Đồng thời đề xuất hệ thống những quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý NNL trong ba khu vực: hành chính nhà nước, sự nghiệp và sản xuất kinh doanh. Các đề xuất này khá toàn diện, đồng bộ, có cơ sở khoa học và có tính khả thi. Tác giả Lê Thị Hồng Điệp (2010), “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam” [40], đã hệ thống hoá và phát triển một số lý thuyết về phát triển NNL chất tượng cao gắn giữa quá trình hình thành nền kinh tế tri thức với việc phân tích nội dung, tiêu chí đánh giá và các yếu tố tác động tới phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức. Xem xét kinh nghiệm phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức của một số quốc gia tiêu biểu. Đánh giá quá trình phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam từ năm 2001 đến 2009 theo những nội dung và tiêu chí đã xác định. Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm phát triển NNL chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. Đối với công tác đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, tác giả Lô Quốc Toản (2009), trong công trình khoa học “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta” [171], đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác phát triển nguồn cán bộ dân tộc, đồng thời đánh giá thực trạng của công tác này qua những số liệu cụ thể. Từ đó đề ra phương hướng cũng như hệ giải pháp phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc nước ta hiện nay. Tác giả Trần Khánh Đức (2010), “Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI” [43], đã trình bày một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục; quản lý giáo dục và vai trò của giáo dục đối với phát triển NNL. Tác giả cũng nêu lên triết lí mới về xã hội và nền giáo dục hiện đại; lý thuyết hệ thống và hệ thống giáo dục hiện đại, nhà trường trong các nền văn minh và những kịch bản nhà trường tương lai; sư phạm kỹ thuật và công nghệ dạy học, phát triển chương trình giáo dục hiện đại; đo lường và đánh giá kết quả học tập, quản lý và quản lý giáo dục, chính sách và chiến lược giáo dục; chất lượng giáo dục và quản lý chất lượng giáo dục nhằm tạo điều kiện để giáo dục làm tốt chức năng đào tạo, bồi dưỡng NNL cho đất nước. Tác giả Nguyễn Văn Tài (2010), “Tích cực hoá đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”[123] đã tập trung phân tích làm rõ thực chất quá trình phát huy tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ, trong đó chỉ ra hệ thống động lực phát huy tính cực của người cán bộ, đó là động lực lợi ích, dân chủ và trí tuệ; chỉ ra vai trò nhân tố con người của đội ngũ cán bộ trong nâng cao chất lượng tổng hợp của HTCT, trong mối quan hệ giữa cán bộ với quần chúng và nhân viên thuộc quyền, trong mối quan hệ với chức trách, nhiệm vụ. Đặc biệt với phương pháp tiếp cận vấn đề một cách có hệ thống, tác giả đã đưa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộ nước ta hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phần kiện toàn, nâng cao chất lượng cán bộ các cấp. Bên cạnh những công trình nghiên cứu lý luận chung về NNL, những công trình nghiên cứu riêng về NNL vùng, miền, các địa phương cũng được nhiều tác giả tập trung nghiên cứu: Tác giả Bùi Tiến Lợi (2002), “Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hoá đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [90], đã đánh giá thực trạng NNL của tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời, căn cứ vào yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH, tác giả đã đề ra một số giải pháp cơ bản để phát triển NNL đáp ứng yêu cầu của địa phương đến năm 2010 và những năm sau, trong đó tác giả đã đề cập đến đào tạo NNL cho 11 huyện miền núi của tỉnh Thanh Hóa. Tác giả Trần Thị Minh Ngọc (2010), “Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020” [105], đã làm rõ những khái niệm liên quan trực tiếp đến vấn đề như: việc làm, thiếu việc làm, thất nghiệp, từ đó làm rõ đặc điểm việc làm nông thôn hiện nay. Tác giả phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn cũng như những thành tựu, hạn chế trong quá trình giải quyết việc làm cho nông dân vùng Đồng bằng sông Hồng trong quá trình CNH, HĐH, từ đó đề ra phương hướng và giải pháp cụ thể thiết thực nhằm tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn chính sách này. Bên cạnh các công trình chuyên khảo, trên các tạp chí khoa học có nhiều bài viết nghiên cứu về phát triển NNL, trong đó tiêu biểu là các bài viết: Tác giả Mạc Văn Tiến (2005),“Phát triển lao động kỹ thuật ở Việt Nam trên bước đường toàn cầu hóa” [126]; Nguyễn Thanh Tuấn (2007) , “Đa dạng hóa cơ cấu để phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực” của” [173]; Trần Thanh Đức (2007), “Giáo dục đào tạo với sự phát triển nguồn nhân lực” [44]; Nguyễn Thắng Lợi (2007), “Về công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới” [91]; Hồ Văn Vĩnh (2009), “Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn” [228];... Các bài báo của các tác giả đều nghiên cứu sâu về chủ trương đẩy mạnh CNH, HĐH nông nghiệp của Đảng, đồng thời nhất quán chủ trương coi đào tạo nhân lực chất lượng cao là một trong ba khâu đột phá để thực hiện thành công sự nghiệp CNH, HĐH. Trên cơ sở đó các tác giả nêu rõ thực trạng về đào tạo và sử dụng NNL ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI: đông về số lượng nhưng chất lượng lại chưa đáp ứng được yêu cầu KT - XH đặt ra; Các tác giả chỉ rõ: bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH, đòi hỏi NNL làm sao có thể chuyển mình kịp với nhu cầu của đất nước, thời đại. Luận giải sâu sắc đặc trưng, sức mạnh và vai trò của nguồn lực con người trong quan hệ với các nguồn lực khác. Tác giả Đoàn Văn Khái với một số bài viết “Nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” [75]; “Nguồn lực con người dưới sự tác động của việc giải quyết các mối quan hệ lợi ích” [76]; “Bàn thêm về khái niệm nguồn lực con người” [77], đã khẳng định vai trò của trí tuệ, phẩm chất đạo đức, tinh thần chất lượng nguồn lực con người. Đánh giá thực trạng, đề xuất phương hướng và giải pháp về phát triển NNL. Khẳng định đào tạo NNL thực sự có hiệu quả, quan trọng hơn phải có chính sách đào tạo, sử dụng NNL đúng tư tưởng chỉ đạo. Tác giả Phạm Minh Hạc (2001) trong bài viết “Giáo dục và nguồn nhân lực” [50], đã nêu lên quan điểm mới về phát triển NNL, lấy phát triển bền vững làm trung tâm, mỗi con người là cá nhân độc lập, làm chủ quá trình lao động của mình, lấy lợi ích của người lao động làm nguyên tắc cơ bản quản lý lao động, nhằm tăng năng suất lao động, bảc đảm môi trư...g mạnh. Giai đoạn 2005 - 2010, tăng trưởng kinh tế của tỉnh duy trì ở mức hợp lý, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt 12,7%/năm (cả nước là 7%), cao gần gấp đôi so với bình quân chung cả nước và nằm trong nhóm các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Quy mô GDP giá hiện hành năm 2010 gấp 1,8 lần năm 2005 [33, tr.20]. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn 5 năm ước đạt 69.869 tỷ đồng, tăng bình quân 29,4%/năm, là một trong 6 địa phương có số thu ngân sách cao nhất toàn quốc [33, tr.24]. Các khu vực kinh tế đều có bước phát triển phù hợp với tình hình thực tế, các ngành kinh tế trọng điểm: công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ, cảng biển có sự phát triển, quy mô được mở rộng, hiệu quả được nâng lên, từng bước khẳng định vai trò là động lực tăng trưởng trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Các thành phần kinh tế phát triển mạnh, số doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2005-2010 cao gấp 2,2 lần, vốn đăng ký cao gấp 4,7 lần so với giai đoạn 5 năm trước. Đã hoàn thành sắp xếp đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Quan tâm củng cố, phát triển kinh tế hợp tác với nòng cốt là hợp tác xã. Các hợp tác xã đã tạo việc làm cho 20% lao động (138.000 người), góp phần tích cực phát triển kinh tế, đặc biệt ở khu vực nông thôn, đóng góp 3,5% GDP của tỉnh. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã thực hiện 565 triệu USD, góp phần đổi mới công nghệ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu, phát triển kinh tế của tỉnh [33, tr.27]. 2.1.2.3 Về văn hóa - xã hội Quảng Ninh là tỉnh có dân số không cao so với bình quân chung của cả nước, theo điều tra dân số thời điểm 1/4/2009, dân số Quảng Ninh là 1.144.988 người đứng thứ 30/63 tỉnh thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùng đồng bằng sông Hồng. Với 22 dân tộc khác nhau, trong đó, có 5 dân tộc có dân số trên 1.000 người, tỉnh Quảng Ninh là “nơi hội tụ, giao thoa, thống nhất trong đa dạng của nền văn minh Sông Hồng”, các dân tộc phân bố đều trên lãnh thổ của Tỉnh, có tinh thần đoàn kết, chung sống hòa thuận tạo điều kiện thuận lợi trong việc cố kết cộng đồng dân cư của toàn tỉnh. Quảng Ninh có 4 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện trực thuộc, trong đó có 186 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 61 phường, 10 thị trấn và 115 xã. Các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh có nhiệm vụ và chức năng riêng, góp phần tạo nên sự thống nhất trong toàn bộ hệ thống chính trị của Tỉnh, có chức năng lãnh đạo và quản lý nhân dân thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước đề ra. Tín ngưỡng ở Quảng Ninh có nhiều nét tương đồng với tín ngưỡng các vùng trên toàn lãnh thổ Việt Nam do chịu ảnh hưởng của những quy luật hình thành và phát triển chung, song do những đặc điểm về tự nhiên xã hội, trước hết là đặc điểm dân tộc và những diễn biến trong lịch sử trên vùng Đông Bắc, tín ngưỡng Quảng Ninh có những nét đặc thù thể hiện trên 3 đặc điểm nổi bật: Đó là hiện tượng phân vùng tín ngưỡng, hiện tượng ghi đậm dấu ấn lịch sử và hiện tượng đấu tranh dung hòa các dòng phái tín ngưỡng. Quảng Ninh còn biết đến là trung tâm của Phật giáo Việt Nam với các công trình nghệ thuật mang đậm dấu ấn của đạo Phật nhiều thế kỷ, với gần 600 di tích lịch sử, văn hóa, nghệ thuật đặc sắc từ thời Lý, Trần, Lê Mạc, Nguyễn trong đó chùa Yên Tử, đền Cửa Ông, chùa Ngọa Vân, chùa Ba Vàng , khu di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng... là những điểm thu hút khách du lịch văn hóa, tôn giáo rất lớn, nhất là vào những dịp lễ hội; Quảng Ninh cũng là vùng đất có truyền thống cách mạng quật cường, cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam với tinh thần của giai cấp công nhân Vùng Mỏ “kỷ luật và đồng tâm”, là di sản tinh thần vô giá, là nền tảng thuận lợi xây dựng khối đoàn kết tạo nên sức mạnh tổng hợp để phát triển tỉnh trên mọi lĩnh vực. Các đặc điểm cơ bản về KT-XH của Quảng Ninh, đều có những thuận lợi thúc đẩy sự phát triển NNL của địa phương. Kinh tế phát triển mạnh, quy mô sản xuất được mở rộng, giải quyết việc làm cho người lao động; thu nhập bình quân đầu người cao, điều kiện sống được cải thiện; các dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí ngày càng phát triển, người dân có điều kiện và cơ hội để nâng cao dân trí, sức khỏe, đời sống văn hóa tinh thần. Đây chính là yếu tố vật chất ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động, đến việc phân bổ, sử dụng lao động trên địa bàn tỉnh, tạo điều kiện cho Quảng Ninh có hoà nhập vào quá trình phát triển của các tỉnh năng động trong vùng và của cả nước. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển KT-XH, vấn đề phát triển NNL, bên cạnh những tác động tích cực, sự phát triển NNL của tỉnh Quảng Ninh còn gặp nhiều khó khăn do dân số ít, chất lượng nguồn lao động thấp, đặc biệt là thiếu những chính sách, biện pháp tổng thể mang tính chiến lược của tỉnh trong việc phát triển, sử dụng NNL. 2.1.3. Thực trạng nguồn nhân lực ở Quảng Ninh trước năm 2005 Theo thống kê, năm 2005 dân số tỉnh Quảng Ninh là 1.096.112 người đứng thứ 30/63 tỉnh, thành trong toàn quốc, đứng thứ 6 trong vùng đồng bằng sông Hồng, có 702.121 người trong độ tuổi lao động, chiếm 64,1%, số lao động có việc làm 533.730 người đạt 76%. Đây là nguồn lực quan trọng góp phần phát triển KT-XH của tỉnh. Sự gia tăng cả về số lượng và chất lượng NNL đóng vai trò quyết định, đưa KT-XH của tỉnh phát triển nhanh, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, điều đó đưa đến sự thay đổi quan trọng trong cơ cấu và chất lượng NNL. Trong 5 năm 2001 - 2005, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm mới cho trên 2,1 vạn lao động, đưa gần 2.500 người đi lao động ở nước ngoài. Đến năm 2005, số lao động được đào tạo đạt tỷ lệ 33%, trong đó đào;tạo nghề đạt 21,2%. Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn từ 76% năm 2000 nâng lên 80% năm 2005; tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị từ 7,42% năm 2000 giảm xuống còn 5,7% năm 2005. Cơ cấu lao động có sự chuyển dịch phù hợp với chuyển dịch cơ cấu kinh tế: giảm ở khu vực nông nghiệp, tăng ở khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ. Điều kiện làm việc, năng suất và thu nhập của người lao động được cải thiện rõ rệt [31, tr.18]. Có thể nói, trước năm 2005, NNL của tỉnh không chỉ duy trì được tốc độ phát triển hợp lý về mặt số lượng mà còn được cải thiện khá rõ rệt về mặt chất lượng và tình trạng việc làm, tạo điều kiện thuận lợi cho các bước phát triển tiếp theo ở những năm tới. Tuy nhiên, NNL ở Quảng Ninh trước năm 2005 cũng bộc lộ nhiều điểm hạn chế: Công tác quy hoạch chưa theo kịp tiến trình phát triển, quản lý quy hoạch còn yếu, điều chỉnh quy hoạch chưa kịp thời. Đặc biệt là quy hoạch phát triển NNL chưa được chú ý đúng mức [31, tr.29]. Nhu cầu việc làm đối với lực lượng lao động trẻ trong tỉnh đang bức xúc, còn có tình trạng sinh viên đã tốt nghiệp đại học, nhưng chưa tìm kiếm được việc làm; việc bố trí công tác cho số sinh viên này thường gặp khó khăn do chất lượng và ngành nghề đào tạo không phù hợp với nhu cầu sử dụng của các đơn vị (đây là biểu hiện của công tác hướng nghiệp chưa tốt). Số lao động được giải quyết việc làm hàng năm liên tục tăng nhưng chưa bền vững. Sự phối hợp giữa các ngành, đoàn thể từ tỉnh đến cơ sở trong công tác giải quyết việc làm và dạy nghề chưa được phát huy, hiệu quả thấp. Việc đào tạo ở một số lĩnh vực còn trong tình trạng tự phát, thiếu quy hoạch và chưa sát nhu cầu sử dụng; cơ cấu đào tạo và sử dụng còn mất cân đối giữa các ngành, các vùng; chất lượng đào tạo, bồi dưỡng còn thấp; tỷ lệ đào tạo giữa các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật với khoa học xã hội chưa hợp lý so với định hướng phát triển và cơ cấu kinh tế của tỉnh. Vấn đề đào tạo sau đại học cũng trong tình trạng tự phát, thiếu quy hoạch và chưa thực sự xuất phát từ nhu cầu sử dụng. Trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật cũng như chất lượng cuộc sống có sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, cơ cấu lao động chưa hợp lý. Năng suất lao động thấp so với một số tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Công tác đào tạo, phát triển NNL khoa học và công nghệ của tỉnh còn thụ động, trông chờ vào các nguồn cung cấp từ các truờng đại học và sự “di chuyển” từ tỉnh ngoài vào. Nguồn đào tạo tại tỉnh chủ yếu là đại học hệ tại chức, chất lượng hạn chế do đào tạo không cơ bản, thiếu hệ thống và ẩn chứa nhiều nhược điểm. Công tác đào tạo nghề theo phương châm xã hội hoá tuy có nhiều tiến bộ, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, mới chỉ tập trung đào tạo đại trà, ngắn hạn chưa đủ điều kiện đào tạo lực lượng lao động có chuyên môn kỹ thuật cao, chưa đáp ứng kịp yêu cầu thị trường lao động, cơ cấu ngành, nghề đào tạo lao động còn nhiều bất cập với yêu cầu của nền kinh tế và của thị trường lao động. Các cơ chế, chính sách đối với trí thức còn thiếu và chưa phù hợp, chưa sát với thực tiễn, nhất là về chính sách đãi ngộ (tiền lương, đào tạo, thu hút), chưa tạo được môi trường làm việc phù hợp, thuận lợi cho trí thức cống hiến và phát huy năng lực. Công tác quản lý tổ chức cán bộ, nhất là khâu đánh giá, sử dụng trí thức còn nhiều điểm không hợp lý, chưa khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho trí thức chuyên tâm cống hiến, phát triển. Đánh giá về NNL của tỉnh, Báo cáo Chính trị tại Đại hội lần thứ XII (12/2005) của tỉnh Quảng Ninh cũng đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế yếu kém trong phát triển NNL, đó là: “Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thiếu nhân lực chất lượng cao: chuyên gia, nghệ nhân, công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật, còn có khoảng cách lớn về trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật giữa miền núi, nông thôn, hải đảo với thành thị. Năng suất lao động thấp so với một số tỉnh, thành phố trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực chưa được quan tâm đúng mức; công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và nguồn nhân lực khoa học và công nghệ còn thụ động. Cơ cấu ngành, nghề đào tạo lao động chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế; chưa có sự gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động,... bộ máy, biên chế một số đơn vị, cơ quan cấp tỉnh và nguồn nhân lực cấp huyện, xã còn chưa tinh gọn, hiệu quả” [31, tr.30]. Từ thực trạng NNL trước năm 2005 và trước yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, nhằm đảm bảo cho sự phát triển KT-XH của tỉnh, đồng thời chuẩn bị lực lượng lao động có trình độ cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của kinh tế, đảm bảo cho công cuộc xây dựng tỉnh Quảng Ninh trở thành một tỉnh dịch vụ, theo hướng CNH, HĐH thành công trong tương lai đòi hỏi Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh phải quan tâm tới việc phát triển NNL. 2.1.4. Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tích cực chủ động hội nhập quốc tế và chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực 2.1.4.1. Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa tích cực chủ động hội nhập quốc tế Trong thời đại ngày nay, KH&CN ngày càng xâm nhập sâu vào quá trình sản xuất và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp; là yếu tố hàng đầu quyết định việc sản xuất ra của cải, sức cạnh tranh. Trên cơ sở thành công của KH&CN, thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, trong bước phát triển này đòi hỏi các tổ chức, các quốc gia phải có NNL có chất lượng, nhanh chóng tiếp thu cũng như sáng tạo nên những thành tựu khoa học tiên tiến. Để làm được điều đó, không có con đường nào khác là phải tập trung đầu tư cải cách, phát triển giáo dục để đào tạo nên NNL có chất lượng cao, giải quyết được yếu tố then chốt quyết định đến quá trình tạo ra của cải cho xã hội, bởi vì "Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư vào nguồn nhân lực, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục"[110, tr.88]. Trên thực tế, các nguồn lực khác như: nguồn vốn, tài nguyên thiên nhiên, sản vật, đất đai đều có thể bị biến dạng và biến mất, duy chỉ có nguồn lực con người là tồn tại bền vững với thời gian và có thể tái tạo liên tục. Nguồn lực con người cũng chính là tác nhân quyết định tác động đến việc sử dụng, khai thác và bảo vệ các nguồn lực khác một cách có hiệu quả. Tiềm năng kinh tế của một đất nước phụ thuộc vào trình độ KH&CN của đất nước đó. Trình độ KH&CN lại phụ thuộc vào điều kiện giáo dục. Để phát triển đất nước không có lựa chọn nào khác, hoặc là đào tạo NNL quý giá cho đất nước, hoặc phải chịu tụt hậu so với các nước khác. Với Việt Nam, quá trình hội nhập quốc tế làm cho NNL đang đứng trước hai vấn đề. Thứ nhất, quá trình hội nhập trong điều kiện cách mạng KH&CN phát triển mạnh mẽ, phân công lao động xã hội ngày càng sâu sắc, nhiều ngành nghề mới ra đời, nhiều chuyên môn cũ thay đổi. Từ đó đòi hỏi trình độ lành nghề của NNL cần phải được nâng cao để đáp ứng yêu cầu của sự phát triển. Thứ hai, trong xu thế hội nhập, Việt Nam ngày càng thu hút đầu tư nước ngoài, NNL có dịp được cọ sát với thị trường lao động quốc tế. Ưu thế cạnh tranh của NNL Việt Nam là lực lượng dồi dào, giá nhân công thấp. Nhưng hạn chế chính là do nhiều nguyên nhân, chất lượng NNL ở nước ta nhìn chung còn rất thấp ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả cuộc cạnh tranh này. Khi điều kiện KT - XH phát triển chưa cao, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn thì điều kiện đảm bảo nhất cho sự thành công của CNH, HĐH chính là NNL khỏe về thể chất, giỏi về chuyên môn, ý thức tác phong công nghiệp nghiêm túc. Theo đó, phát triển NNL phải đáp ứng yêu cầu thị trường lao động trong nước và thị trường lao động quốc tế. Sau 10 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, đến năm 1996, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng KT - XH. Tuy nhiên, về cơ bản, bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, kinh tế Việt Nam còn nghèo nàn, lạc hậu. Trong khi đó, bản chất của CNH, HĐH được Đảng xác định là: quá trình chuyển đổi cơ bản, toàn diện các hoạt động lao động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý KT - XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ KH&CN, tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Mặt khác, quy luật của CNH, HĐH là mở rộng, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Quá trình này tạo ra những ngành kinh tế mới với hàm lượng KH&CN cao. Vì vậy, yêu cầu đặt ra với NNL cũng cao hơn để đáp ứng thực tiễn chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Bên cạnh đó, xuất phát từ thực trạng một nước sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, dân số đông, tốc độ gia tăng dân số lớn làm cho quy mô NNL lớn và tốc độ gia tăng NNL lớn nhanh. Đây là điều kiện để phát triển mạnh mẽ NNL nhưng đồng thời cũng là thách thức lớn đối với sự phát triển KT - XH trong vấn đề giải quyết việc làm và nâng cao chất lượng NNL. Bước sang thế kỷ XXI với sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật và công nghệ, ngoài những nguồn lực cơ bản như: vốn, công nghệ, thị trường, thì mối quan tâm hàng đầu là ưu tiên phát triển NNL, trang bị và không ngừng nâng cao trình độ kỹ thuật nghề nghiệp cho người lao động. Chỉ có những người lao động với năng lực phát triển toàn diện, trình độ lành nghề, khả năng nắm bắt khoa học kỹ thuật nhanh chóng để có thể khai thác tối đa các nguồn lực tự nhiên thì mới đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã khẳng định phát triển nguồn lực con người là một trong những mục tiêu quan trọng để đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển. Trong điều kiện đẩy mạnh CNH, HĐH và hội nhập quốc tế, phát triển NNL được coi là một trong ba khâu đột phá của chiến lược chuyển đổi mô hình phát triển KT-XH của đất nước; đồng thời phát triển NNL trở thành nền tảng phát triển bền vững và tăng lợi thế cạnh tranh quốc gia. Thực tiễn của nước ta và các nước đi trước đã chứng minh, quá trình CNH, HĐH diễn ra với tốc độ nhanh hay chậm, hiệu quả cao hay thấp phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng trước hết tuỳ thuộc vào chất lượng NNL, bởi nền kinh tế thế giới đã phát triển theo hướng kinh tế tri thức, yếu tố tri thức đã chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản phẩm, tỷ lệ lao động giản đơn trong sản phẩm chỉ còn 1/10, trí tuệ được coi là thước đo trình độ CNH và động lực của quá trình phát triển. Trong thế kỷ XX, đã có những quốc gia nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng do phát huy tốt NNL nên đã đạt được thành tựu phát triển KT-XH, hoàn thành CNH, HĐH chỉ trong vài ba thập kỷ. Mặt khác, trong xu thế toàn cầu hoá và việc mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế hiện nay, các nước có thể khắc phục sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ thông qua con đường chuyển giao, khắc phục sự thiếu vốn qua con đường nhập khẩu hoặc gia tăng nguồn vốn bằng cách vay từ ngân hàng, quỹ phát triển của thế giới, nhưng không thể khắc phục hoàn toàn sự yếu kém về NNL qua nhập khẩu lao động hay vay mượn khả năng sáng tạo của con người. Vì vậy, Việt Nam cũng như tất cả các nước trên thế giới đều quan tâm tới việc đầu tư phát triển NNL. 2.1.4.2. Chủ trương của Đảng về phát triển nguồn nhân lực Xuất phát từ nhận thức khách quan, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, từ khi ra đời, để thực hiện sứ mệnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhận thức rõ vai trò quan trọng của vấn đề con người. Ở mỗi thời kỳ cách mạng, quan điểm của Đảng về con người luôn được bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với yêu cầu phát huy nhân tố con người trong điều kiện mới, song quan điểm nhất quán và xuyên suốt là: "Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp. Nguồn lực đó là người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học và công nghệ hiện đại" [35, tr.11]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), lần đầu tiên thuật ngữ “nguồn lực con người” được sử dụng trong văn kiện của Đảng: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” [36, tr.340]. Sự nghiệp CNH, HĐH được Đại hội VIII của Đảng khẳng định với tính chất là chiến lược thì vấn đề phát triển NNL càng được chú trọng. Đại hội khẳng định: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại” [36, tr.413]. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), vấn đề “nguồn lực con người” tiếp tục được Đảng ta khẳng định, trong đó nhấn mạnh “phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” [36, tr.472] Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), Đảng đã chỉ rõ để thực hiện thắng lợi công cuộc đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức phải phát triển NNL chất lượng cao, tức là chuyển hướng chiến lược phát triển NNL theo chiều rộng sang chiều sâu, coi trọng và gia tăng nhanh chất lượng của NNL: “phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là chuyên gia đầu ngành. Chú trọng phát hiện, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài; nhanh chóng xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý về ngành nghề, trình độ đào tạo, dân tộc, vùng miền” [36, tr.637]. Đồng thời, xác định KH&CN là quốc sách hàng đầu, thông qua đổi mới toàn diện GD&ĐT, phát triển NNL chất lượng cao, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam, thực hiện: “Đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư, huy động các thành phần kinh tế tham gia và đẩy mạnh hội nhập quốc tể trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Có chính sách trọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao; thu hút các nhà khoa học và công nghệ giỏi ở trong nước, ngoài nước và trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài”[36, tr.637-638]. Bên cạnh đó xác định, tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Phát triển mạnh mẽ hệ thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp nghề cho các khu công công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và xuất khẩu lao động, mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề quận, huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới. Đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích phát triển các hình thức đào tạo và dạy nghề đa dạng, linh hoạt. Dạy nghề ngoài công lập, tại doanh nghiệp, tại làng nghề..., tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động học nghề, lập nghiệp. Tổ chức dạy nghề, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ sản xuất phù hợp cho nông dân, đồng bào dân tộc thiểu số. Xây dựng một số trường đại học trọng điểm đạt trình độ khu vực và quốc tế. Thực hiện xã hội hóa giáo dục, huy động nguồn lực vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục. Về phương hướng, nhiệm vụ phát triển NNL: Một là, phát triển mạnh KH&CN, GD&ĐT; nâng cao chất lượng NNL, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước và phát triển kinh tế tri thức. Hai là, mở rộng quy mô dạy nghề và trung học chuyên nghiệp, bảo đảm tốc độ tăng nhanh hơn đào tạo đại học, cao đẳng. Quy mô tuyển sinh dạy nghề dài hạn tăng 17%/năm và trung học chuyên nghiệp tăng 15%/năm. Tăng nhanh tỷ lệ học sinh tốt nghiệp phổ thông được học tiếp lên đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề. Phát triển rộng khắp và nâng cao chất lượng các trung tâm giáo dục cộng đồng, tích cực triển khai hình thức giáo dục từ xa. Ba là, đẩy mạnh xã hội hóa GD&ĐT, rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng các trường công lập. Bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng. Có lộ trình cụ thế cho việc chuyển một số cơ sở GD&ĐT công lập sang dân lập, tư thục, xóa bỏ hệ bán công. Khuyến khích thành lập mới và phát triển các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề ngoài công lập, cả kể trường do nước ngoài đầu tư. Bốn là, tạo chuyển biến mạnh trong việc xây dựng văn hóa, đạo đức và lối sống, kiềm chế tốc độ tăng dân số, nâng cao thể chất và sức khỏe nhân dân. Bảo vệ và cải thiện môi trường. Năm là, chú trọng nâng cao chất lượng dân số và phân bổ dân cư hợp lý giữa các vùng; xây dựng các quy hoạch và chính sách thích hợp nhằm đáp ứng xu thế chuyển dịch cơ cấu dân số ở nông thôn và thành thị. Chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỉ trọng lao động nông, lâm nghiệp và thủy sản xuống dưới 50% vào năm 2010. Tăng tỷ trọng lao động công nghiệp, xây dựng và đặc biệt là lao động ở khu vực dịch vụ trong tổng lao động xã hội. Sáu là, ưu tiên dành vốn đầu tư của Nhà nước và huy động vốn của toàn xã hội để giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp. Khuyến khích người lao động tự tạo việc làm, phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp thu hút nhiều lao động. Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân, nhất là những nơi đất nông nghiệp bị chuyển đổi do đô thị hóa và công nghiệp hóa. Phát triển các dịch vụ phục vụ đời sống của người lao động ở các khu công nghiệp. Tiếp tục thực hiện chương trình xuất khẩu lao động, tăng tỷ lệ lao động xuất khẩu đã qua đào tạo, quản lý chặt chẽ và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Về mục tiêu phát triển NNL, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng đã xác định mục tiêu tổng quát cho 5 năm 2006 - 2010, phấn đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp điệu nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn với phát triển con người: Trong 5 năm, tạo việc làm cho trên 8 triệu lao động, tỉ lệ thất nghiệp ở thành thị dưới 5% vào năm 2010. Chuyển đổi cơ cấu lao động, cơ cấu công nghệ: Phát triển NNL, bảo đảm đến năm 2010 có NNL với cơ cấu đồng bộ và chất lượng cao; tỉ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp còn dưới 50% lực lượng lao đông xã hội. Chú trọng phát triển công nghệ cao để tạo đột phá và công nghệ sử dụng nhiều lao động để giải quyết việc làm. Năm 2010, hoàn thành phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; đạt 200 sinh viên đại học và cao đẳng trên 10.000 dân; lao động đã qua đào tạo chiếm 40% tổng lao động xã hội; tỷ lệ bác sĩ đạt 7 người trên 10.000 dân [36, tr.689]. Những điểm mới trong tư duy của Đảng về chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam của Đại hội Đảng lần thứ X, một mặt là sự tiếp nối những quan điểm, tư tưởng nhất quán của Đảng về vấn đề này tại các kỳ đại hội trước, mặt khác là sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa hơn để triển khai có hiệu quả trong thực tế, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội đề ra. Đây là yếu tố quan trọng góp phần cho sự thành công của quá trình CNH, HĐH và hội nhập quốc tế của nước ta. 2.2. Chủ trương của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển nguồn nhân lực (2005 - 2010) 2.2.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực của Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII (12/2005) diễn ra tại thành phố Hạ Long có ý nghĩa trọng đại, mở ra một giai đoạn phát triển mới của tỉnh với quy mô lớn hơn, toàn diện hơn, tốc độ nhanh hơn để phấn đấu hoàn thành kế hoạch sớm hơn trong công cuộc CNH, HĐH đất nước. Quán triệt các quan điểm của Đảng về phát triển NNL và khai thác các thế mạnh của tỉnh như: Phát triển kinh tế cửa khẩu, kinh tế du lịch, công nghiệp khai khoáng... tiếp tục đưa Quảng Ninh phát triển bền vững, Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII xác định: “Phấn đấu tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao, nâng cao chất lượng và yếu tố bền vững của sự tăng trưởng trên cơ sở tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, phát huy có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế của tỉnh”[31, tr.40] Để thực hiện tốt những nội dung nêu trên trước hết cần tập trung xây dựng, phát triển nguồn nhân lực: Một là, phát triển và nâng cao chất lượng NNL là một trong những khâu đột phá, là nhân tố quyết định sự phát triển KT-XH tỉnh, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và nhân dân các dân tộc tỉnh Quảng Ninh, nhằm huy động nguồn lực toàn xã hội để xây dựng, phát triển NNL của tỉnh có chất lượng, đáp ứng tốt yêu cầu trước mắt và lâu dài. Hai là, phát triển NNL có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đào tạo lao động chất lượng cao, gắn với bồi dưỡng, tập huấn thường xuyên làm khâu đột phá; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, lao động đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Ba là, có chính sách, cơ chế hợp lý phát triển, bồi dưỡng, thu hút cán bộ chuyên môn, khoa học, công nghệ có trình độ cao về công tác tại tỉnh; ưu tiên các ngành, lĩnh vực đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh. Đào tạo đội ngũ lao động có tay nghề cao, có năng lực cạnh tranh tìm việc làm, gắn với các chương trình phát triển KT-XH của tỉnh, đặc biệt chú ý đào tạo công nhân lành nghề cho các khu, cụm công nghiệp và lao động xuất khẩu. 2.2.2. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực Để phát triển NNL nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH, HĐH, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII (12/2005) đã đưa ra mục tiêu cụ thể phát triển NNL trong 5 năm từ 2005 đến 2010 là: Thực hiện có kết quả chương trình giải quyết việc làm, tạo nhiều việc làm mới, nhất là trong nông nghiệp và nông thôn. Phấn đấu đến năm 2010 tỷ lệ thời gian lao động ở nông thôn đạt 85%; giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở khu vực thành thị xuống dưới 4,5%; bình quân mỗi năm tạo việc làm mới cho 2,4 vạn lao động [31, tr.63]. Thực hiện chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh lao động khu vực phi nông nghiệp. Đến năm 2010 lao động khu vực nông, lâm, ngư nghiệp còn khoảng 30-35%, khu vực công nghiệp, xây dựng 30-32%, khu vực dịch vụ 35-38%. Có kế hoạch đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, công nhân kỹ thuật. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt từ 30-35% vào năm 2010 và 35-40% vào năm 2020. Đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Đào tạo công chức nhà nước các cấp, đào tạo các nhà doanh nghiệp [31, tr.64]. Để cụ thể hóa mục tiêu của Nghị quyết Đại hội lần thứ XII (2005), BCH Đảng bộ tỉnh đã ban hành các nghị quyết chuyên đề: Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 15/3/2007 của BCH Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tỉnh về phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2007-2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó xác định: Tiếp tục đẩy mạnh đào tạo NNL có chất lượng cao và dạy nghề đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh và đất nước. Đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, khoa học kỹ thuật, tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 53-55% vào năm 2010. Thu hút 35-40% học sinh tốt nghiệp THPT, bổ túc trung học phổ thông hàng năm vào các trường thuộc hệ thống giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học trên địa bàn tỉnh vào năm 2010; thu hút 5-8% số học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở hàng năm vào trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề giai đoạn 2007-2010 [141]. Xây dựng đội ngũ nhân lực tỉnh Quảng Ninh có quy mô, cơ cấu, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển KT-XH trong điều kiện hội nhập; tạo ra lực lượng lao động có trình độ, kỹ năng, kỹ thuật ngày càng cao đáp ứng nhu cầu lao động qua đào tạo cho các chương trình KT-XH trọng tâm của tỉnh và cho doanh nghiệp trên địa bàn. Đào tạo cán bộ công chức, cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý có phẩm chất và năng lực, có phong cách làm việc hiện đại, chuyên nghiệp, có khả năng hội nhập kinh tế quốc tế để thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH, đảm bảo quốc phòng, an ninh và xây dựng HTCT của tỉnh. Những mục tiêu cụ thể nêu trên là nền tảng để xây dựng nguồn lực Quảng Ninh trong điều kiện mới. Các mục tiêu đó là tiền đề, động lực để Đảng bộ và nhân dân tỉnh phấn đấu đạt được các mục tiêu lớn hơn trong quá trình xây dựng tỉnh Quảng Ninh phát triển theo hướng CNH, HĐH. 2.2.3. Nhiệm vụ, giải pháp phát triển nguồn nhân lực Trên cơ sở mục tiêu phát triển NNL trong 5 năm 2005 - 2010, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII (12/2005) đã xác định rõ nhiệm vụ và giải pháp phát triển NNL trong giai đoạn 2005 - 2010: Thứ nhất, phát triển và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục - đào tạo một cách toàn diện để đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân, nâng cao dân trí và góp phần đào tạo NNL cho sự nghiệp CNH, HĐH [31, tr.55] Thứ hai, đẩy mạnh xã hội hóa tro...(82), tr. 15-16. 69. Lê Hồng Huyên (2015), "Một hướng phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh", Tạp chí Cộng sản, (4/2015). 70. Nguyễn Duy Hưng (2009), "Xây dựng Quảng Ninh giàu mạnh, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của cả nước", Tạp chí Kinh tế và Phát triển,(143), tr. 49-54. 71. Vũ Thành Hưng (2004), "Một số vấn đề về đào tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam", Tạp chí Kinh tế và phát triển,( 90), tr. 38-40. 72. Nguyễn Thị Mỹ Hương (2009), "Phát triển nguồn nhân lực ở Nghệ An trong bối cảnh hội nhập: những vấn đề đáng lưu tâm", Tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương,(274), tr. 32-38. 73. Nguyễn Trọng Kiểm (2004), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế", Tạp chí Giáo dục lý luận,(3), tr. 40-42. 74. Trần Kiều (2005), "Phát triển trí tuệ người Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá", Tạp chí Khoa học giáo dục,(1), tr. 37-40. 75. Đoàn Văn Khái (1995), "Nguồn lực con người - yểu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Triết học,(4). 76. Đoàn Văn Khái (1997), "Nguồn lực con người dưới sự tác động của việc giải quyết các mối quan hệ lợi ích", Tạp chí Sinh hoạt lý luận,(5). 77. Đoàn Văn Khái (2000), "Bàn thêm về khái niệm nguồn lực con người", Tạp chí Triết học,(3). 78. Đặng Cảnh Khanh (2005), Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số: Những phân tích xã hội học, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 79. Võ Thành Khối (2010), "Đề tài nghiên cứu khoa học “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở vùng Đông Nam bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa”",Võ Thành Khối (Chủ nhiệm). 80. Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Bùi Thị Ngọc Lan (2007), "Một số bổ sung, phát triển trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam", Tạp chí Lý luận chính trị,(2), tr. 28-30. 82. Lê Thị Ái Lâm (2003), Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo – kinh nghiệm của Đông Á, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 83. Nguyễn Thị Mai Linh (2006), "Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh trong quá trình hội nhập", Tạp chí Du lịch Việt Nam,(12), tr. 20-22. 84. Nguyễn Thị Mai Linh (2007), "Xã hội hoá giáo dục du lịch phục vụ phát triển nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Ninh", Tạp chí Du lịch Việt Nam,(3), tr. 26-27 85. Lê Thị Kim Loan (2009), "Quảng Ninh thực hiện quyết định của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức giai đoạn 2006 - 2010", Tạp chí Tổ chức nhà nước,(Số 12/2009), tr. tr.35-37. 86. Đỗ Hoàng Long (2007), "Quan hệ giữa xúc tiến đầu tư và nguồn nhân lực trong việc thu hút FDI", Tạp chí Lý luận chính trị,(3). 87. Hoàng Xuân Long (2006), "Chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ: Thực trạng và kiến nghị", Tạp chí Lao động và xã hội,(288), tr. 37-41. 88. Nguyễn Thanh Long (2004), "Phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Cộng sản,(13). 89. Trương Giang Long (2004), "Đào tạo nguồn nhân lực qua kinh nghiệm phát triển giáo dục ở một số nước", Tạp chí Cộng sản,(13). 90. Bùi Tiến Lợi (2002), Phát triển nguồn nhân lực của Thanh Hoá đến năm 2010 theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 91. Nguyễn Thắng Lợi (2007), "Công tác đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Lịch sử Đảng,(12), tr. 30-32. 92. Vũ Thị Phương Mai (2004), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở tỉnh Quảng Ninh hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. 93. Trần Văn Miều (2001), Phong trào thanh niên với việc đào tạo nguồn nhân lực trẻ, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 94. Nguyễn Lê Minh (2006), "Hội nhập quốc tế và thách thức về nguồn nhân lực", Tạp chí Lao động và xã hội,(288), tr. 11-12. 95. Trần Văn Minh (2012), Nghiên cứu phát triển thị trường công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Mỏ-Địa chất, Hà Nội. 96. Đào Hoàng Nam (2004), "Về phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá tỉnh Bạc Liêu", Tạp chí Giáo dục (84), tr. 15-17. 97. Lê Thị Ngân (2003), "Phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn", Tạp chí Cộng sản,(12/2003). 98. Lê Thị Ngân (2005), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 99. Phạm Thành Nghị (chủ nhiệm) (2004), Đề tài nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Nhánh 1: Những vấn đề chung”, Viện Nghiên cứu con người. 100. Phạm Thành Nghị (2004), "Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực giáo dục – đào tạo", Tạp chí Phát triển giáo dục,(10), tr. 33-35. 101. Phạm Thành Nghị (2004), "Những vấn đề văn hóa và phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Phát triển giáo dục,(8), tr. 28-32. 102. Phạm Thành Nghị (2007), Nâng cao hiệu quả quản lý nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 103. Nguyễn Thế Nghĩa (1996), "Nguồn nhân lực, động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", Tạp chí Triết học,(1/1996). 104. Trần Thị Minh Ngọc (2009), "Đào tạo nguồn nhân lực khoa học cho Hà Nội trong thời kỳ đổi mới", Tạp chí Giáo dục lý luận,(2), tr. 13-15. 105. Trần Thị Minh Ngọc (2010), Việc làm của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng sông Hồng đến năm 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 106. Thu Nguyên (2017), "Sau 4 năm triển khai Nghị quyết 07-NQ/TU về phát triển du lịch: Những khởi sắc ấn tượng", Báo Quảng Ninh. 107. Thu Nguyệt (2015), "Đột phá trong phát triển nguồn nhân lực", Báo Quảng Ninh. 108. Trần Nhân (2004), Tư duy lý luận với sự nghiệp đổi mới, Nxb Chính trị, Hà Nội. 109. Phạm Công Nhất (2003), "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu đổi mới và hội nhập quốc tế", Tạp chí Cộng sản số,(786 (2003)). 110. Bùi Văn Nhơn (2006), Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, Nxb Tư pháp, Hà Nội. 111. Vũ Hồng Phong (2007), "Định hướng và giải pháp giải quyết việc làm tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010", Tạp chí lao động và xã hội,(306), tr. 28-29. 112. Nguyễn Ngọc Phú (2010), Nguồn nhân lực và nhân tài cho phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở Việt Nam trong tiến trình đổi mới: Những vấn đề lý luận, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội. 113. Lê Thị Mỹ Phượng (2009), "Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Đồng Nai", Tạp chí Lao động và xã hội,(354), tr. 26-29. 114. Nguyễn Thị Lan Phương (2005), Đổi mới kế hoạch hoá nguồn nhân lực trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 115. Nguyễn Thị Mai Phương (2015), Phát triển nhân lực tại Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Luận án tiến sĩ Kinh tế phát triển, Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. 116. Nguyễn Hồng Quân (2003), Quảng Ninh Đất và Người, NXB Lao động- Xã hội, Hà Nội. 117. Phạm Văn Quý (2005), Các giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Luận án tiến sĩ Kinh tế Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 118. Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Ninh (2016), Báo cáo sô 2102/BC-KHĐT ngày 22/7/2016 Sơ kết 5 năm thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 119. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội (2016), Báo cáo tổng kết công tác đào tạo nghề năm 2015, phương hướng, nhiệm vụ năm 2016, Hạ Long. 120. Sở Nội vụ Tỉnh Quảng Ninh (2012), Báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức của tỉnh phục vụ xây dựng Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nhân lực, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 121. Nguyễn Ngọc Sơn (2000), Nguồn nhân lực nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta - đặc điểm và xu hướng phát triển, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 122. Nguyễn Văn Sơn (2007), "Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và phát triển kinh tế tri thức", Tạp chí Triết học,(9), tr. 18-21. 123. Nguyễn Văn Tài (2010), Tích cực hoá đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 124. Hà Minh Tâm (2007), "Quảng Ninh: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực gắn với giải quyết việc làm", Tạp chí Lao động và Xã hội,(314). 125. Phan Thanh Tâm (2000), Các giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 126. Mạc Văn Tiến (2005), "Phát triển nguồn nhân lực Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa", Tạp chí Lao động và xã hội,(64), tr. 33-35. 127. Nguyễn Tiệp (2011), Giáo trình Nguồn nhân lực, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 128. Hà Quý Tình (1999), Vai trò nhà nước trong việc tạo tiền đề nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội. 129. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2001), Nghị quyết số 01-NQ/TU ngày 03/05/2001, về công tác phổ cập giáo dục trung học cơ sở, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 130. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2001), Nghị quyết số 09 CT/TU “Đẩy mạnh tổ chức thực hiện chương trình giải quyết việc làm và đào tạo nghề giai đoạn 2001-2005, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 131. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2002), Báo cáo Tình hình công tác năm 2001, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 132. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2003), Nghị quyết số 03 BC/TU “ Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2002 và định hướng kế hoạch phát triển kinh tế- Xã hội năm 2003”, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 133. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2004), Báo cáo Kết quả hai năm thực hiện Kết luận Hội nghị TW 6 khóa IX về Giáo dục và đào tạo, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 134. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2004), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2004, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 135. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2005), Nghị quyết số 05 BC/TU “ Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2005”, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 136. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2006), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2006, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 137. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2006), Chương trình hành động số 06-CTr/TƯ ngày 25-9-2006 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 138. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Báo cáo số 65-BC/TU ngày 27/7/2007 về đội ngũ công nhân Quảng Ninh trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 139. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2007, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 140. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Chỉ thị số 10-CT/TU ngày 03/10/2007 "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đổi với công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập", Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 141. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 15/3/2007 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh tỉnh về phát triển giáo dục và đào tạo giai đoạn 2007-2015 và định hướng đến năm 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 142. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2007), Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 19/4/2007 về Phát triển giảo dục và đào tạo giai đoạn 2007-2015 và định hướng đến năm 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 143. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2008), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2008, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 144. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2008), Chương trình hành động số 21 - CTr/TU ngày 15/10/2008 Thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khoá X) về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Văn phòng tỉnh ủy Quảng Ninh. 145. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2008), Chương trình hành động số 22 - CTr/TU, Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 146. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2008), Kết luận số 89-KL/TU ngày 28/4/2008 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị 34-CT/TW ngày 30 tháng 5 năm 1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về tăng cường công tác chính trị tư tưởng, cùng cố tổ chức đảng, đoàn thể quần chúng và công tác phát triển đảng viên trong các trường học, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 147. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2009), Chương trình hành động số 26-CTr/TU ngày 29/4/2009 thực hiện Kết luận Hội nghị Trung ương 9, khoá X về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020, Văn phòng tỉnh ủy Quảng Ninh. 148. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2010), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 149. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2010), Chỉ thị số 28 CT/TU ngày 31/5/2010 về việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác dạy nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 150. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2010), Nghị quyết số 01-NQ/TV ngày 12/11/2010 về đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 151. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011), Báo cáo số 49-BC/TU ngày 2/12/2011 Tổng kết hai nghị quyết của Bộ Chính trị (khoá IX) về công tác quy hoạch cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 152. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2011, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 153. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011), Chương trình hành động Số 06 – Ctr/TU ngày 25/5/2011 của Tỉnh ủy Quảng Ninh về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 154. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011), Nghị quyết Số 03 - NQ/TU ngày 01/12/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phương hướng, nhiệm vụ năm 2012, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 155. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2011), Thông báo kết luận số 273-TB/TU ngày 14/6/2011 về việc phát triển giáo dục và đào tạo tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 156. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2012), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2012, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 157. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2012), Nghị quyết 04 - NQ/TƯ Về phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, định hướng đến năm 2020, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 158. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2012), Nghị quyết số 06 - NQ/TV ngày 20/3/2012 về tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng chiến ỉược, lập, quản lý và thực hiện quy hoạch trên địa bàn tỉnh, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 159. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2012), Thông báo kết luận số 571-TB/TU, ngày 26/3/2012 về “Đề án đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2011-2015 và điều chỉnh bổ sung Quyết định 2871/2004/QĐ-UBND ngày 19/8/2004 của UBND tỉnh Quảng Ninh, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 160. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo số 250-BC/TU ngày 29/11/2013 sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết 20 -NQ/TVV (khoá X) “về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Vỉêt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đạỉ hoá đất nước”, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 161. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo sơ kết 5 năm về thực hiện nghị quyết 20-NQ/TW (khóa X) số 250- BC/TU, , Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 162. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2013, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 163. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2013), Nghị quyết số 07-NQ/TƯ ngày 24/5/2013 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh về phát triển du lịch Quảng Ninh giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 20230, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 164. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2014), Báo cáo Tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 165. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2014), Chương trình hành động số 26-Ctr/TƯ của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 166. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2014), Kết luận số 64 - KL/TƯ về chỉ đạo của Ban thường vụ Tỉnh ủy về các giải pháp phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 167. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2014), Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 6/5/2014 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển kinh tế thủy sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 168. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2014), Nghị quyết số 15-NQ/TƯ Về đẩy mạnh cải cách hành chính và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030, Văn phòng Tỉnh ủy Quảng Ninh. 169. Đặng Hữu Toàn (Chủ biên) (2002), Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 170. Đặng Hữu Toàn (2012), "Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao – Một đột phá chiến lược” trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng ở Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020", Tạp chí Triết học,(8), tr. 30-33. 171. Lô Quốc Toản (2009), Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta, Luận án tiến sĩ Triết học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 172. Nguyễn Minh Tuấn (2015), "Một số kết quả và kinh nghiệm về cải cách hành chính ở tỉnh Quảng Ninh", Tạp chí Tổ chức nhà nước,( Số 10, tr.4-7). 173. Nguyễn Thanh Tuấn (2007), "Đa dạng hóa cơ cấu để phát triển số lượng và chất lượng nguồn nhân lực", Tạp chí Lao động xã hội,(318), tr. 31-33. 174. Thanh Tùng (2004), "Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực cho các khu chế xuất, khu công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh", Tạp chí Lao động và Xã hội (248), tr. 35-37. 175. Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt Nam, Nxb Thế giới, Hà Nội. 176. Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng – kinh nghiệm của thế giới, Nxb Thế giới, Hà Nội. 177. Nguyễn Ngọc Thạch (2005), "Hà Tây nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu xây dựng tỉnh công nghiệp", Tạp chí Lao động và xã hội (274), tr. 14-15. 178. Phạm Vĩnh Thái (2013), "Đào tạo nguồn nhân lực: còn nhiều việc phải làm", Tạp chí Kinh tế và Dự báo,(35), tr. 37-39. 179. Hoàng Thị Thành (2002), Một số định hướng chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu từng bước phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ 21- Tuyển tập chuyên đề, Nxb Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 180. Nguyễn Thanh (2002), Phát triển nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 181. Nguyễn Đăng Thành (Chủ biên) (2010), Đặc điểm nguồn nhân lực dân tộc thiểu số Việt Nam: Bằng chứng thu thập từ cuộc điều tra hộ gia đình dân tộc thiểu số năm 2009, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 182. Đỗ Hùng, Thanh Tùng (2005), "Giáo dục đào tạo Lào Cai góp phần quan trọng đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa", Tạp chí Đông Nam Á,(7), tr. 36-39. 183. Nguyễn Đức Thảo (2006), "Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp, nông thôn tỉnh Sơn La", Tạp chí Giáo dục lý luận,(23), tr. 38-41. 184. Vũ Bá Thể (2005), Phát huy nguồn lực con người để công nghiệp hóa, hiện đại hóa của, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội. 185. Lê Thi (2005), "Phát huy nguồn nhân lực nữ và xoá đói giảm nghèo ở nông thôn", Tạp chí Khoa học về Phụ nữ (9), tr. 32-34. 186. Đỗ Văn Thông (2005), "Chuyển dịch cơ cấu lao động và công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Ninh Thuận", Tạp chí Lý luận chính trị (12), tr. 75-78. 187. Thủ tướng Chính phủ (2006), Quyết định số 269/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Quyết định "Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 188. Thủ tướng Chính phủ (2013), Quyết định của Thủ tướng chính phủ Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Số 2622/QĐ-TTg ngày 31/12/2013, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 189. Diệu Thúy (2007), "Nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành công nghiệp", Tạp chí Công nghiệp Việt Nam,(21), tr. 33-34. 190. Nguyễn Văn Thụy (2003), "Vài suy nghĩ về chuẩn bị nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa", Tạp chí Cộng sản,(35), tr. 22-24. 191. Hà Minh Trần (2008), "Cao Bằng: Gắn giải quyết việc làm với đào tạo nguồn nhân lực", Tạp chí Lao động và xã hội, tr. 29-30. 192. Lê Thị Ái Lâm, Trần Văn Tùng (1996), Phát triển nguồn nhân lực – kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 193. Nguyễn Huy Trung (2006), "Xung quanh vấn đề xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao", Tạp chí Lao động và xã hội,(287). 194. Trung tâm thông tin khoa học và con người quốc gia (2004), Phát triển con người, nguồn nhân lực, giáo dục và việc làm - những vấn đề quan trọng của thế kỷ XXI. 195. UBND tỉnh Quảng Ninh (2001), Quy hoạch phát triển kỉnh tế- xã hội tỉnh Quảng Ninh đến 2010, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 196. UBND tỉnh Quảng Ninh (2002), Địa chí Quảng Ninh, tập 1, NXB Thế giới, Hà Nội. 197. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2004), Chỉ số phát triển con người tỉnh Quảng Ninh (2000- 2003), Nxb Thống kê, Hà Nội. 198. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2004), Quyết định số 2871/2004/QĐ-UB "Về việc ban hành quy định về chính sách khuyến khích đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức và thu hút nhân tài", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 199. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2005), Quyết định số 2872/QĐ-UBND ngày 15/8/2005 của UBND tỉnh Quảng Ninh, phê duyệt “Quy hoạch phát triển nguồn lao động Quảng Ninh thời kỳ 2005-2010 và định hướng tới năm 2020”, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 200. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2006), Kế hoạch số 2596/KH-UBND ngày 28/7/2017 về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức giai đoạn 2006-2010 Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 201. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2006), Quyết định số 3021/2006/QĐ-UBND ngày 09/10/2006 của UBND tỉnh Quảng Ninh phê duyệt “Chương trình đào tạo nghề và giải quyết việc làm tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010”, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 202. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2007), Quyết định số 388/QĐ-UBND ngày 01/2/2007 Phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 203. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2007), Quyết định số 389/QĐ-UBND ngày 01/2/2007 Phê duyệt Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng CB,CC xã, phường, thị trấn người dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2006-2010, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 204. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2008), Quyết định số 4009/QĐ - UBND, Quyết định về phê duyệt quy hoạch nông, lâm nghiệp và thủy lợi tỉnh Quảng Ninh đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 205. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2009), Quyết định Số 683/QĐ-UBND "Quyết định về việc phê duyệt đề án đào tạo bồi dưỡng nguồn lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa 2009-2010, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 206. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2011), Báo cáo Số 08/BC-UBND "Báo cáo kết quả thực hiện Quyết định số 137/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho công tác hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 2003-2010", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 207. UBND tỉnh Quảng Ninh (2011), Kế hoạch Số 5452 /KH-UBND ngày 30/11/2011 về Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chửc, viên chửc tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 208. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2011), Quyết định số 24/QĐ-UBND ngày 6/1/2011 phê duyệt “Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020”, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 209. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2011), Quyết định số 775/QĐ-UBND ngày 18/3/2011, Về việc phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới tỉnh Quảng Ninh, giai đoạn 2010 - 2020, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 210. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2012), Quyết định số 1996/QĐ-UBND ngày 09/8/2012 về phê duyệt Đề án Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đương chức và dự nguồn quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý các cấp của tỉnh giai đoạn 2012-2015, định hướng đến 2020, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 211. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2012), Quyết định Số 2239/2012/QĐ-UBND "Quyết định về việc ban hành quy định về chính sách khuyến khích đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức và thu hút nhân tài của Tỉnh Quảng Ninh”, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh 212. UBND tỉnh Quảng Ninh (2014), Đề án đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 213. UBND tỉnh Quảng Ninh (2014), Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 214. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2014), Quyết định Số 2704/QĐ-UBND Phê duyệt Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 215. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2015), Báo cáo Số 67/BC-UBND ngày 21/5/2015 "Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển KTXH 5 năm 2011-2015; Định hướng phát triển KTXH giaia đoạn 2016-2020", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 216. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2015), Báo cáo số 164/BC-UBND về Tình hình kinh tế - xã hội và công tác giáo dục đào tạo tỉnh Quảng Ninh năm 2015, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 217. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2015), Quyết định số 293/QĐ-UBND “Phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020”, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 218. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2015), Quyết định số 293/QĐ-UBND ngày 30/01/2015 "Phê duyệt đề án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 219. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2015), Quyết định số 2099/QĐ-UBND ngày 23/7/2015 Phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 220. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2016), Báo cáo số 110/BC-UBND ngày 18/8/2016, Báo cáo sơ kết thực hiện Quy hoạch phát triển nguồn nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 221. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2016), Báo cáo sơ kết thực hiện Quy hoạch phát triển nhân lực tỉnh Quảng Ninh đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 222. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2017), Báo cáo số 69/BC-UBND về việc sơ kết 04 năm triển khai kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 24/7/2013 của BCH Đảng bộ tỉnh về phát triển du lịch giai đoạn 2013 - 2020, định hướng đến năm 2030, Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 223. UBND Tỉnh Quảng Ninh (2017), Báo cáo số 181/BC-UBND về kết quả 5 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW, ngày 05/11/2012 của Ban Bí thư khóa XI "Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác đào tạo nghề lao động nông thôn", Văn phòng UBND tỉnh Quảng Ninh. 224. Uỷ ban kinh tế Quốc hội Viện nghiên cứu chính sách Quốc gia Nhật Bản và Trường Đaị học Kinh tế quốc dân (2011), Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc tế:"Chất lượng tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Giai đoạn 2001-2010 và định hướng tới năm 2020", Nxb Kinh tế quốc dân. 225. Nguyễn Thị Hồng Vân (2006), Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội. 226. Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2004), Quản lý nguồn nhân lực ở Việt Nam, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 227. Đào Quang Vinh (2006), Phát triển nguồn nhân lực cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Luận án tiến sĩ Kinh tế, Viện Kinh tế Việt Nam, Hà Nội. 228. Hồ Văn Vĩnh (2009), "Nâng cao chất lượng lao động đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn", Tạp chí Cộng sản,(12), tr. 34-36. 229. Nguyễn Tấn Vinh (2006), "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực của tỉnh Lâm Đồng", Tạp chí Kinh tế và phát triển,(107), tr. 28-30. 230. Vũ Thị Vinh (2005), "Phát triển nguồn nhân lực ở Bình Thuận", Tạp chí Lý luận chính trị,(11), tr. 33-35. 231. Nguyễn Văn Hà, Vũ Anh Tuấn, Nguyễn Thanh (2004), Cơ sở khoa học và thực tiễn phát triển nguồn nhân lực ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thống kê, Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh. 232. Đức Vượng (2006), "Xây dựng chiến lược con người tạo nguồn nhân lực, nhân tài cho đất nước", Tạp chí Xây dựng Đảng,(3), tr. 7-8,11. 233. Nguyễn Thị Hoàng Yến (2005), "Vấn đề đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục hòa nhập ở Việt Nam", Tạp chí Tâm lý học,(3), tr. 30-33. Tiếng Anh. Gary S.Becker (1964), Human Capital: A Theoretical and Empirical Analysic, with Special Reference to Education, National Bureau of Economic Research. Greg G.Wang và Judy Y.Sun (2009), “Perspectives on Theory Clarifying the Boundaries of Human Resource Development”, Human Resource Development International, Volume 12, Number 1, Feb, pp.99-103. Kelly D.J, Dual Perception of HRD: Issues for Policy: SME’s Other Constituencies, and the Contested Definitions of Human Resource Development, University of Wollongong. Marc Effron, Robert Gandossy, Marshall Goldsmith (2003), Human resources in the 21st century, John Wiley and Sons, New Jersey (USA). M. Jones, P. Manu (1992), International perspectives on development and learning, Kumarian press, West Hartford (USA) Theodore Schultz (1971), Investment in Human Capital, The Role of Education and of Research, New York: Free Press. Walter W. McMahon, “Education and Development: Measuring the Social Benefits”.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docluan_an_dang_bo_tinh_quang_ninh_lanh_dao_phat_trien_nguon_nh.doc
  • pdf1.3.1. Phụ lục Quy hoạch nguồn lao động đến năm 2010.pdf
  • pdf1.3.2. Nghị quyết 62 thu hút NNL.pdf
  • pdf1.3.3. Nghị quyết số 15 NQ-TU về đẩy mạnh CCHC và phát triển NNL.pdf
  • doc1.1. BIA LUAN AN.doc
  • doc1.3. Phụ lục.doc
  • doc2.1. Bìa tóm tắt tiếng Việt.doc
  • doc2.2. Tóm tắt tiếng Việt.doc
  • doc2.3. Bìa tóm tắt tiếng anh.doc
  • doc2.4. Tóm tắt tiếng anh.doc
  • doc3.1 THÔNG TIN MẠNG t.viet - Hieu.doc
  • doc3.2 THÔNG TIN MẠNG t.anh - Hieu-.doc
Tài liệu liên quan