Luận án Đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

Tài liệu Luận án Đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, ebook Luận án Đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay

pdf159 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 14/01/2022 | Lượt xem: 42 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
theo quy định. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Lê Mai Trang Lê Mai Trang MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7 1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7 1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước 13 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ 20 2.1. Những vấn đề lý luận về tuyên truyền và công tác tuyên truyền của Đảng 20 2.2. Những vấn đề lý luận về hội nhập quốc tế và yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng 34 Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 58 3.1. Thực trạng công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 58 3.2. Vấn đề đặt ra đối với công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 97 Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG ĐÁP ỨNG YÊU CẦU HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 102 4.1. Phương hướng đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế 102 4.2. Giải pháp về đổi mới công tác tuyên truyền đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay 103 KẾT LUẬN 140 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 145 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 146 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ANQP : An ninh quốc phòng CNH, HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNXH : Chủ nghĩa xã hội CTTT : Công tác tuyên truyền CU : Liên minh thuế quan FTA : Khu vực mậu dịch tự do HNQT : Hội nhập quốc tế NXB : Nhà xuất bản PTA : Thỏa thuận thương mại ưu đãi WTO : Tổ chức Thương mại thế giới XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Công tác tuyên truyền (CTTT), từ góc độ của khoa học chính trị, nhất là chính trị học, là hình thức hoạt động quan trọng và cần thiết của một đảng chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Đó là do CTTT - một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác tư tưởng - có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng trong quần chúng; xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và cổ vũ quần chúng hoạt động cách mạng. Vai trò của CTTT là làm cho lý luận thâm nhập sâu vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động và thông qua đó biến lý luận thành thực tiễn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng không chỉ phương thức truyền bá hệ tư tưởng chính trị, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; mà còn trở thành phương thức cầm quyền của Đảng - tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước. Hơn nữa, CTTT của Đảng còn trở thành một nội dung, một mắt khâu quan trọng của chu trình chính sách công - từ nghị trình chính sách đến quyết định, thực thi và đánh giá chính sách. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) và dân tộc ta, CTTT trở thành công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của của Đảng. CTTT có vai trò hết sức to lớn trong việc truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quần chúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng. CTTTcủa Đảng đã cổ vũ toàn dân tộc theo Đảng, làm nên Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. 2 Sau khi giành được chính quyền và trở thành đảng cầm quyền, CTTT trở thành một trong những phương thức cầm quyền của Đảng, đóng góp to lớn vào việc xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, CTTT của Đảng đã có nhiều đổi mới, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, góp phần vào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế (HNQT). Trong mối quan hệ giữa CTTT của Đảng và HNQT, với tính cách là trường hợp nghiên cứu hay đối tượng nghiên cứu của luận án này, có thể thấy CTTT của Đảng đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình và HNQT ở nước ta. CTTT của Đảng về HNQT đã tích lũy được những bài học kinh nghiệm bước đầu quý báu, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thành chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đáp ứng yêu cầu của HNQT ở nước ta hiện nay và những năm tới. Tuy nhiên, CTTT Đảng trong điều kiện HNQT cũng bộc lộ nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, đó là những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, điểm xuất phát thấp của đất nước khi tham gia HNQT, sự biến động phức tạp của tình hình thế giới. Về chủ quan, CTTT của Đảng về HNQT còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật, chưa chủ động. Phương pháp CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT cơ bản vẫn một chiều, còn biểu hiện chủ quan, giáo điều, hình thức, ít đối thoại, tranh luận, thảo luận dân chủ. Việc định hướng thông tin còn chậm, để có thông tin không chính thống, thông tin xấu lan tràn nhanh rộng trong xã hội, tác động không tốt đến tư tưởng của cán bộ và nhân dân. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái còn bị động, nội dung chưa sắc bén, chưa kịp thời thu hút 3 được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia. Phạm vi tác động của CTTT của Đảng còn hạn hẹp, phương tiện thông tin còn thiếu thốn và lạc hậu. Tổ chức bộ máy CTTT của Đảng chưa tinh gọn, thiếu tính chuyên nghiệp. Đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng còn nhiều hạn chế về năng lực và trách nhiệm, trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế. Công tác tuyên truyền của Đảng còn những bất cập nhất định như trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng cao; yêu cầu và mức độ cập nhật thông tin của cán bộ đảng viên và nhân dân ngày càng nhanh chóng và đa chiều; chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng ngày càng đa dạng và phức tạp; phạm vi và giới hạn của CTTT của Đảng ngày càng rộng rãi, không chỉ tuyên truyền ở trong nước mà còn tuyên truyền ra với thế giới. Thực hiện chủ trương của Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương của Đại hội X về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác và Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa X) ngày 05/02/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; chủ trương của Đại hội XI về HNQT, Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT, đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với quá trình HNQT, trong đó có CTTT của Đảng. Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT xác định: "Tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầu hội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về phương hướng, nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, từng lĩnh vực, để thống nhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập quốc tế" [35] là một trong những định hướng chỉ yếu của HNQT ở nước ta hiện nay. Theo đó, CTTT của Đảng cần phải được đổi mới về vị trí 4 và chức năng, nội dung và hình thức, phương pháp và phương tiện, tổ chức bộ máy và cán bộ. Công cuộc đổi mới nói chung, HNQT nói riêng đang đặt ra cho CTTT của Đảng những yêu cầu mới - dân chủ,khách quan, kịp thời, chủ động, đa chiều,... CTTT của Đảng không chỉ là sự thuyết phục bằng lý luận mà còn phải được chứng minh bằng thực tiễn sinh động. Nếu trước kia chỉ cần coi trọng một mặt “Đảng nói, dân tin”, nhưng ngày nay phải chú trọng hơn mặt thứ hai “Đảng làm, dân theo”, “Dân nói, Đảng nghe”. Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ Chính trị học của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới CTTT của Đảng. Luận án phân tích thực trạng và đề xuất nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng được yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay góp phần cho hội nhập thành công. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan hình hình nghiên cứu có liên quan: - Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cần thiết, có liên quan về CTTT của Đảng và CTTT của Đảng trước yêu cầu của HNQT của Việt Nam hiện nay. - Làm rõ thực trạng (kết quả, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và vấn đề đặt ra) của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay. - Đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đổi mới CTTT của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay. 5 Khách thể nghiên cứu của luận án là các văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan; các báo cáo thực tế của các cơ quan có liên quan; nghiên cứu, tham khảo các tài liệu thứ cấp khác. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về góc độ tiếp cận nghiên cứu, CTTT của Đảng được nghiên cứu dưới góc độ chính trị học, với tính cách một phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng ở Việt Nam hiện nay. - Về thời gian luận án nghiên cứu, CTTT của Đảng trong quá trình HNQT từ năm 2007 (khi Việt Nam gia nhập WTO) cho đến 2015. - Về không gian, luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu ở Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, một số bộ, ngành, đoàn thể, báo, đài ở Trung ương; Ban Tuyên giáo một số tỉnh, thành phố mang tính đại diện cho các vùng, miền trong cả nước. - Về nội dung nghiên cứu, luận án nghiên cứu các hoạt động nội dung của CTTT của Đảng trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng (ANQP) đối ngoại... 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về CTTT của Đảng. 4.2. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. - Các phương pháp công cụ cho việc nghiên cứu của luận án là phân tích, tổng hợp, lịch sử, lô gíc, so sánh và các phương pháp khác. 5. Những đóng góp về khoa học Thứ nhất, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về CTTT và đổi mới CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay từ góc độ chính trị học. 6 Thứ hai, làm rõ nội hàm của khái niệm CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng và những đặc điểm của nó. Thứ ba, làm rõ những yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay. Thứ tư, đánh giá thực trạng của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay (theo những tiêu chí về chủ thể, khách thể, đối tượng, phạm vi, mức độ, hiệu quả, v.v.). Thứ năm, đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT ở Việt Nam hiện nay và những năm tới. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn Kết quả luận án góp phần cung cấp luận cứ khoa học - thực tiễn cho việc xây dựng chủ trương, chính sách, lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai CTTT của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh HNQT ở Việt Nam hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của luận án có thể làm tư liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy các môn khoa học chính trị, khoa học tuyên truyền và nhất là chính trị học về những vấn đề của CTTT và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận án gồm 4 chương, 8 tiết. 7 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về CTTT nói chung và CTTT của đảng chính trị nói riêng - từ đảng chính trị nói chung đến đảng lãnh đạo, đảng cầm quyền với nhiều góc độ (góc độ tiếp cận nghiên cứu) và phương diện (mặt, khía cạnh, nội dung) khác nhau. Các công trình nghiên cứu về CTTT của đảng chính trị đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn từ nội dung đến hình thức và phương pháp của CTTT của đảng, xác định các quan điểm khoa học - thực tiễn và các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả CTTT của đảng. Tuy nhiên, do yêu cầu và đặc điểm về nội dung của luận án này, CTTT được nghiên cứu với tính cách một lĩnh vực hoạt động của Đảng Cộng sản, hơn nữa lại là Đảng Cộng sản cầm quyền, do vậy phần lớn các công trình nghiên cứu có liên quan đến luận án là của các tác giả Liên Xô trước đâyvà Trung Quốc cho đếnnay. 1.1.1. Những vấn đề lý luận chung về công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Thứ nhất, về mục đích, yêu cầu và nhiệm vụ của công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Tác phẩm "Làm gì?" của V.I.Lênin [119] đã kế thừa, phát triển một cách toàn diện những luận điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về CTTT. Tác phẩm đã phân tích, luận giải vị trí, tầm quan trọng của CTTT; khái niệm tuyên truyền cổ động; lực lượng, đối tượng, phương pháp tuyên truyền của Đảng của giai cấp công nhân. Trong tác phẩm này, V.I.Lênin đưa ra những đánh giá sâu sắc về xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ tuyên truyền đến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự: “Hàng tuần nên tổ chức giảng cho họ vài bài và biết kịp thời điều động họ đến những thành thị khác, nói chung tổ chức cho những người có khả năng tuyên truyền đi thăm các thị trấn” [119, tr.115]. 8 Tác phẩm "Tuyên ngôn Đảng Cộng sản" của C.Mác - Ph.Ăngghen [42] là tác phẩm lý luận đầu tiên đề cập đến CTTT và cổ động của giai cấp vô sản cách mạng. Tác phẩm này này đã chỉ ra mục đích của CTTT là xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, “tổ chức những người vô sản thành giai cấp, lật đổ sự thống trị của giai cấp tư sản, giai cấp vô sản thành chính quyền” [42, tr.42]; chỉ ra đối tượng tuyên truyền không chỉ là tập hợp quần chúng vô sản mà còn lôi kéo các tầng lớp khác đi theo giai cấp mình; nêu ra khẩu hiệu hành động cách mạng: “Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại!” [42, tr.75]. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Liên Xô trước đây, có nhiều công trình nghiên cứu về công tác tư tưởng, một số đã được dịch ra tiếng Việt. Khi nghiên cứu về cơ sở của hoạt động tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản, các nhà khoa học đi sâu phân tích làm rõ các đặc điểm và những yêu cầu dưới góc độ tâm lý học, giáo dục học đối với hoạt động này. Tác phẩm "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của M.I.Calinin [91] đã nêu những nguyên lý cộng sản dưới hình thức đơn giản nhất: trung thực, có học thức, có lòng yêu Tổ quốc; còn giáo dục và bồi dưỡng những phẩm chất cao quý là một yếu tố hết sức quan trọng trong sự nghiệp giáo dục cộng sản. M.I.Calinin khẳng định: “Cần phải đến với từng người, đánh giá họ, làm nổi bật những mặt tốt của họ bởi vì không thể chỉ giáo dục dựa trên mặt tiêu cực” [91]. Nhà giáo dục Xô Viết V.A.Cruchetxki viết: Nhiệm vụ quan trọng của giáo dục cuộc sống là hình thành thế hệ trẻ niềm tin và tình cảm cộng sản chủ nghĩa vững chắc và hành vi đạo đức dựa trên cơ sở niềm tin vào tình cảm đó. Chỉ có thể giải quyết được nhiệm vụ đó bằng cách dựa trên những trí thức về quy luật tâm lý của sự hình thành nhân cách tích cực và có mục đích, về những quy luật phát triển đạo đức của nó cũng như sự hiểu biết đầy đủ những đặc điểm cá nhân [118]. 9 Ở Trung Quốc, trong quá trình cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã rất coi trọng CTTT và xác định rõ nhiệm vụ cơ bản của CTTT là nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về chủ nghĩa Mác, tư tưởng Mao Trạch Đông, lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng “ba đại diện” quan điểm “phát triển khoa học”, coi “phát triển khoa học” là cơ sở để xây dựng “xã hội hài hòa”, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tích cực cải tiến các hình thức tuyên truyền, giáo dục đa dạng và phong phú để nâng cao nhận thức, làm cho cán bộ và quần chúng giữ vững niềm tin đối với chủ nghĩa Mác và công cuộc xây dựng CNXH đặc sắc của Trung Quốc. Về mục đích của CTTT, cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc [21] chỉ rõ: CTTT tư tưởng phải tạo ra động lực tinh thần to lớn, tạo nên sự ủng hộ bằng trí tuệ, bảo đảm về tư tưởng và môi trường dư luận lành mạnh cho công cuộc cải cách, mở cửa, xây dựng thể chế kinh tế thị trường XHCN một xã hội tiến bộ toàn diện. Thứ hai, về nội dung và hình thức công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Trong quá trình cải cách, mở cửa, xây dựng CNXH đặc sắc ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc rất coi trọng CTTT tư tưởng. Đặc biệt, cuốn: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của Trần Khang và Lê Cự Lộc dịch [71] đã tổng kết một cách có hệ thống những kinh nghiệm cơ bản trong CTTT tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của CTTT. Trên các mặt trận lãnh đạo của Đảng thì tuyên truyền tư tưởng là mặt trận hết sức quan trọng. Trong các cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng thì chính quyền làm CTTT tư tưởng là hết sức quan trọng, còn trong hàng ngũ cán bộ của Đảng thì những người làm CTTT tư tưởng là lực lượng hết sức quan trọng. Đảng Cộng sản Trung Quốc coi tuyên truyền tư tưởng của Đảng là phương tiện giáo dục, vận động quần chúng và mang tính chính trị rất cao có 10 đặc điểm là công khai, kịp thời, nhanh nhạy, có thể đưa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng vào trong quần chúng nhanh nhạy nhất, rộng rãi và biến thành hành động thực tế của quần chúng. Nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân chỉ rõ: "Tăng cường và cải tiến công tác chính trị, tư tưởng của Đảng trong tình hình mới là một việc lớn của toàn Đảng, cũng là nhiệm vụ nặng nề về công tác tuyên truyền tư tưởng" [47]. Trong bài "Tổng kết công tác xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa", tác giả Tập Cận Bình đã nêu: Trước sau như một, Đảng coi việc học tập và vận dụng chủ nghĩa Mác, đặc biệt là những thành quả mới nhất của sự nghiệp Trung Quốc hóa chủ nghĩa Mác là nội dung trung tâm giáo dục, bồi dưỡng cho đảng viên và cán bộ, v.v. ra sức thúc đẩy việc đưa vào giáo trình, giảng đường, tuyên truyền giáo dục những tư tưởng chói lọi quan trọng như lý luận Đặng Tiểu Bình, tư tưởng quan trọng “Ba đại diện” và quan điểm phát triển khoa học, để giúp đông đảo cán bộ, đảng viên xác định chắc chắn thế giới quan, nhân sinh quan, quan niệm giá trị chủ nghĩa Mác, tỉnh táo và kiên định chính trị, duy trì và phát triển tính tiên tiến của người đảng viên cộng sản [trích theo 33, tr.10]. Trong tình hình mới, việc giữ vai trò chủ đạo của chủ nghĩa Mác - Lênin đặc biệt chú ý không ngừng tăng cường sức thuyết phục sức chiến đấu của Chủ nghĩa Mác. Muốn vậy, phải tăng cường hai mặt: Kịp thời tổng kết kinh nghiệm, rút ra những nhận thức mới về tư tưởng, lý luận mà đời sống đặt ra; đồng thời vận dụng quan điểm mác - xít để đấu tranh chống lại các quan điểm sai lầm, góp phần giữ vững nhận thức. Thứ ba, về đối tượng và phương pháp công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Tác phẩm: "Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa" của M.I.Calinin [91] đã nhấn mạnh phương pháp CTTT quan trọng là sự đa dạng và phát huy hiệu quả vai trò của giáo dục với ý thức con người. 11 Ở Trung Quốc, bàn về đối tượng CTTT, trong bài: "Làm thế nào để làm công tác tư tưởng trong thời kỳ mới" của tác giả Phạm Vân Như và các cộng sự (Trần Khang, Lê Cự Lộc dịch) [71] cho rằng: đối tượng CTTT là con người và để làm tốt công tác tư tưởng cho quần chúng cần thích ứng cụ thể của quần chúng, áp dụng phương pháp khoa học. Theo tác giả Điền Trung Mẫn, phương châm CTTT là lấy dân làm gốc, bám sát thực tế, bám sát quần chúng nhân dân, cố gắng vận dụng nhiều hình thức. 1.1.2. Những vấn đề về đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Cuốn giáo trình: "Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới" của tác giả Bùi Phương Dung [47] đã góp phần bổ sung, làm rõ lý luận về CTTT; phân tích khái niệm, phương pháp, phương thức tiến hành CTTT, các loại hình cơ bản của công tác điều tra, nghiên cứu thông tin và xây dựng đội ngũ những người làm CTTT. Những yêu cầu đặt ra đối với CTTT cũng được bàn bạc sâu sắc trong bài: "Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc" của tác giả B.Mozias [40] đã nhấn mạnh những yêu cầu CTTT của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó bộ máy tuyên truyền Đảng Cộng sản từng bước “cấy” những giá trị thị trường mới vào khuôn khổ hệ tư tưởng hiện thời, làm cho chúng trở nên dễ hiểu và dễ chấp nhận đối với quần chúng nhân dân. Ở Trung Quốc, các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi đã đi sâu làm rõ những quan niệm về hiệu quả CTTT và tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả - trình độ hiểu biết chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ý thức, niềm tin cộng sản chủ nghĩa và tính tích cực xã hội (tiêu chuẩn quyết định công tác tư tưởng, CTTT). Các tác giả cũng chỉ ra các điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan để nâng cao hiệu quả CTTT. Theo đó, điều kiện khách quan là lối sống xã hội, chế độ dân chủ và môi trường xã hội. Nhân tố chủ quan bao gồm trình độ lãnh đạo của của Đảng đối 12 với CTTT, năng lực của cán bộ tuyên truyền, thường xuyên cải tiến các hình thức, phương pháp; phát huy vai trò của các cơ quan tuyên truyền và các tổ chức xã hội [109]. Các tác giả Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi còn chỉ ra tính tất yếu của việc đổi mới CTTT của Đảng Cộng sản, các tác giả này xác định rõ sự cần thiết phải đẩy mạnh công tác tư tưởng và phương hướng đổi mới CTTT. Trên cơ sở nghiên cứu nguyên nhân khiến Liên Xô, Đông Âu thay đổi chế độ, các tác giả cho rằng, không được để khoảng trống trên trận địa văn hóa, tư tưởng. Từ việc nhận thức rõ vai trò của các phương pháp, phương tiện - những binh chủng của CTTT như báo chí, truyền thông, dư luận xã hội, v.v. các tác giả còn chỉ rõ vai trò của những phương tiện đó để nâng cao hiệu quả của CTTT - đó là “xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư luận, tạo ra kênh thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ” [109, tr.83]. Có thể nói, từ sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, với sự ra đời và phát triển của các Đảng Cộng sản cầm quyền trên thế giới, những nghiên cứu về CTTT của Đảng Cộng sản đã được quan tâm nghiên cứu. Các công trình trên đã góp phần làm rõ lý luận về CTTT như khái niệm, đặc điểm, phương pháp, phương tiện, nguyên tắc của CTTT; đồng thời cũng chỉ rõ tính tất yếu khách quan, những giải pháp của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả CTTT trong mỗi giai đoạn lịch sử. Đó là những nguồn tư liệu quý báu cho CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên, với những nét đặc thù về chế độ chính trị - xã hội, truyền thống văn hóa giàu bản sắc của Việt Nam thì việc làm cần thiết là tiếp tục nghiên cứu, làm giàu những tri thức xung quanh đề tài này và vận dụng cho phù hợp với điều kiện nước ta sẽ nâng cao hiệu quả CTTT, góp phần tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đất nước vững bước đi lên trên con đường hội nhập và phát triển. CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT và trước yêu cầu HNQT cần thực hiện như thế nào để đạt được hiệu quả mong muốn là vấn đề cần được làm rõ. 13 1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG NƯỚC Trong những năm qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu (hội thảo, đề tài khoa học, giáo trình, giáo khoa, luận văn, luận án và bài tạp chí khoa học, v.v.) có liên quan đến lĩnh vực CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng từ những khía cạnh khác nhau và thể hiện ở một số vấn đề sau: Thứ nhất, về vị trí và vai trò của CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như: Cuốn sách "Một số vấn đề về công tác tuyên truyền" của tác giả Đào Duy Tùng [117] đã khẳng định rất cụ thể vị trí, vai trò và nhiệm vụ lớn lao của CTTT trong tiến trình cách mạng Việt Nam nói chung và trong công tác xây dựng Đảng nói riêng; những bài học kinh nghiệm và phương châm chỉ đạo của CTTT; những nội dung và biện pháp của CTTT nhằm chống lại những ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, phong kiến, nâng cao chất lượng và hiệu quả của CTTT. Cuốn sách "Nguyên lý công tác tư tưởng" tác giả Lương Khắc Hiếu [64] đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của CTTT như đối tượng, bản chất, hình thái, mục đích, chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc, phương châm hoạt động và vai trò CTTT; những nội dung cơ bản của công tác giáo dục tư tưởng về thế giới quan, những vấn đề về phương pháp, hình thức, phương tiện và sự lãnh đạo của Đảng đối với CTTT như hệ thống giáo dục lý luận chính trị, các phương tiện truyền thông đại chúng, xây dựng đội ngũ cán bộ tư tưởng. Tác giả nêu ra hai nhóm nâng cao hiệu quả CTTT. Nhóm thứ nhất là thiết lập các điều kiện cho công tác tư tưởng gồm: môi trường sống, điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tồn tại xã hội nói chung. Nhóm thứ hai là tác động vào các yếu tố công tác tư tưởng gồm: nắm vững đối tượng, xác định mục đích, nội dung, phương thức phù hợp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, kiện toàn bộ máy CTTT. Cuốn sách là tài 14 liệu rất cơ bản giúp nghiên cứu sinh làm tài liệu tham khảo và sử dụng để trình bày những vấn đề lý luận của luận án. Tuy nhiên, nội dung hai cuốn sách chỉ dừng lại ở những vấn đề lý luận chung về công tác tư tưởng nói chung, trong đó có CTTT. Công trình: "Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Trương Minh Tuấn [116] đã đề cập đến việc đổi mới CTTT ở Tây Nguyên trong bối cảnh HNQT. Việc nhận thức sâu sắc về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của CTTT sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội ở Tây Nguyên, đây là cơ sở để phát triển bền vững một trong những địa bàn trọng điểm của đất nước trong HNQT hiện nay. Cuốn sách: "Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới" của tác giả Phạm Tất Thắng [108] đã đề cập sâu về công tác tư tưởng, lý luận của Đảng, trong đó đưa ra những biện pháp đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, lý luận của Đảng nhằm phát huy sức mạnh của nền dân chủ XHCN, của đại đoàn kết toàn dân tộc, phấn đấu thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế. Về tuyên truyền thi đua yêu nước, cuốn sách viết: “Đổi mới cách viết, tuyên truyền gương người tốt, việc tốt, các phong trào thi đua yêu nước theo hướng thiết thực, không hình thức, không phô trương, lãng phí, phù hợp với điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN” [108]. Bài viết: "Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại" của tác giả Xuân Anh [4] đã chỉ rõ trong bối cảnh nước ta HNQT ngày càng sâu rộng, CTTT của Đảng có vai trò quan trọng làm cho thế giới hiểu rõ và hiểu đúng về Việt Nam, qua đó tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kỷ yếu khoa học: "Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020" của Ban Chỉ đạo Trung ương [8] đã tập hợp báo cáo của Ban Chỉ đạo và tham luận của các bộ, ngành 15 Trung ương, các tỉnh, thành phố, các huyện, xã và doanh nghiệp tiêu biểu, đánh giá cao vai trò của CTTT trong xây dựng nông thôn mới và đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn tham gia có hiệu quả vào quá trình HNQT. Tham luận của các đại biểu Hà Nội nêu rõ: Thành phố đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền bằng nhiều hình thức: tổ chức Lễ phát động "Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới"... Thông qua các lớp học tập nghị quyết, chuyên đề, lồng ghép công tác chuyên môn gắn với xây dựng nông thôn mới, tuyên truyền lưu động, xây dựng phim tài liệu, phóng sự, tiểu phẩm, thơ ca, tổ chức các cuộc tọa đàm, phát tờ rơi tuyên truyền, khẩu hiệu, panô, áp phích, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, v.v. [8]. Thứ hai, về thực trạng CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như: Cuốn sách: "Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng" của Ban Tuyên giáo Trung ương [11]; "Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta" của Ban Tuyên giáo Trung ương [13] đã chỉ ra những nhược điểm, hạn chế của CTTT nói chung và tuyên truyền kinh tế nói riêng là “chậm đổi mới phương thức hoạt động để phù hợp với tình hình mới và đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp đổi mới đất nước; công tác tuyên truyền về lĩnh vực kinh tế chưa được chú trọng đúng mức” [13]. Bài viết: "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo" của tác giả Lê Hồng Anh [2] đã chỉ rõ thực trạng CTTT hiện nay. Bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản đã góp phần nâng cao nhận thứ, niềm tin trong các tầng lớp nhân dân về con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn. Tuy nhiên, tác giả cũng đã chỉ ra một số vấn đề còn tồn tại trong CTTT về nội dung còn "đơn điệu, nghèo nàn", biện pháp còn "sơ cứng", chưa tạo hiệu quả sau và rõ nét. Từ đó, tác giả đã đề cập tới một số giải pháp cho là khả thi để nâng cao hơn hiệu quả CTTT của Đảng. 16 Thứ tư, về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới CTTT của Đảng nói chung và CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT nói riêng, có các công trình nghiên cứu như: - "Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại...n phải có sự đổi mới, bổ sung cho mình nội dung lẫn các hình thức để phù hợp với xu hướng này. Hơn nữa, cần khai thác truyền thông, những thành tựu khoa học kỹ thuật của thế giới để thúc đẩy hiệu quả CTTT trong nước. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay khi ở Việt Nam đã bước đầu hình thành hệ thống lý luận cơ bản về CNXH, chiến lược bảo vệ Tổ quốc và HNQT. CTTT, công tác giáo dục, lý luận được định hướng với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú hơn. Tuy nhiên, công tác lý luận còn lạc hậu, tính dự báo thấp, kết quả nghiên cứu lý luận chưa đáp ứng tốt yêu cầu của thực tiễn. Nhiều vấn đề nghiên cứu về tình hình thế giới, khu vực và thời đại chưa sâu sát. Kết quả nghiên cứu về chủ nghĩa Mác - Lênnin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn dàn trải, tính hệ thống chưa cao. Chính vì vậy, khi những vấn đề lý luận trên chưa được giải đáp thì CTTT lại ngày càng khó khăn trong nâng cao nhận thức góp phần định hướng rõ nét con đường HNQT của Việt Nam. Đó là chưa kể đến CTTT, giáo dục, bồi dưỡng, bồi dưỡng lý luận hạn chế, CTTT 32 chưa theo kịp yêu cầu, nhiệm vụ trong thời kỳ HNQT, đặc biệt điều kiện bùng nổ thông tin và phát triển mạng thông tin toàn cầu. 2.1.2.5. Công tác tuyên truyền với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng - Khái niệm CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng: Đảng cầm quyền là “đảng nắm chính quyền” bằng những người đại diện của Đảng trực tiếp thực hiện công việc quản lý trong bộ máy nhà nước. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước bằng đường lối, công tác kiểm tra, công tác cán bộ; bằng thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và sự gương mẫu của đảng viên. Để giữ vững địa vị cầm quyền, đòi hỏi Đảng phải giữ vững địa vị lãnh đạo, tức là Đảng luôn có vị trí tiên phong trong toàn xã hội, để nhân dân tin tưởng và đồng tình ủng hộ. Mặt khác, để có và giữ vững vai trò cầm quyền, thì ngoài việc Đảng phải thường xuyên nâng cao năng lực, tức nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách đảm bảo đúng đắn, hợp lòng dân; làm tốt công tác tư tưởng, tuyên truyền trong nhân dân; tạo sự đồng thuận cao trong Đảng và toàn xã hội; làm tốt sứ mệnh “người đầy tớ trung thành của nhân dân”. Để làm được nhiệm vụ này Đảng cần thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền của mình thông qua vai trò của Đảng tham gia gia vào bộ máy Nhà nước, công tác này thể hiện ở việc làm tốt CTTT góp phần đảm bảo hiệu quả cao trong quản lý của Nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Từ phân tích trên, theo tác giả của luận án này, có thể hiểu: CTTT của Đảng với tính cách một phương thứ cầm quyền của Đảng không chỉ là truyền bá chủ trương, đường lối của Đảng mà còn là truyền bá chính sách, pháp luật của Nhà nước (sự cụ thể hóa, thể chế hóa chủ trương, nghị quyết của Đảng thành chính sách, pháp luật của Nhà nước) đến quần chúng nhân dân nhằm thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. 33 - Đặc điểm của công tác tuyên truyền của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng, theo tác giả luận án này, là: Tuyên truyền có tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng): Trong điều Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng có tính tiên phong (dẫn dắt, định hướng) đối với toàn xã hội nói chung và hệ thống tuyên truyền của hệ thống chính trị, của Nhà nước nói riêng. Tính tiên phong của CTTT của Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính khoa học, khách quan, trung thực; Thứ hai, tính chính đáng, tính giá trị; Thứ ba, tính chủ động, kịp thời, trách nhiệm; Thứ tư, tính dự báo, định hướng, vượt trước; Thứ năm, tính nhạy bén, năng động, sáng tạo, của CTTT của Đảng. Tuyên truyền có tính chính thống: Tính chính thống của CTTT của Đảng thể hiện ở: Thứ nhất, tính đại diện; Thứ hai, tính hợp pháp; Thứ ba, tính công khai; Thứ tư, tính trách nhiệm của CTTT; Thứ năm, CTTT của Đảng được thực hiện không chỉ trong trong khuôn khổ quy định, điều lệ Đảng, mà còn trong khuôn khổ hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng đa dạng và phức tạp hơn, không chỉ hướng đến sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trítrong nội bộ giai cấp cầm quyền,mà còn hướng tới sự giác ngộ, sự đoàn kết, nhất trí trong toàn xã hội; chủ thể và đối tượng, phạm vi và mức độ của CTTT của Đảng được mở rộng; nội dung và hình thức, phương pháp và phương tiện công tác tuyên truyền tuyên truyền của Đảng phong phú hơn; yêu cầu và chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của CTTT của Đảng đòi hỏi cao hơn; điều kiện và năng lực, cơ hội và thách thức đối với CTTT của Đảng lớn hơn. Tuyên truyền có tính tổng hợp: Khi chưa giành được chính quyền, CTTT của Đảng tập trung vào việc giành chính quyền, do đó CTTT của các Đảng còn giới hạn về mục đích, nội dung, hình thức, đối tượng và phạm vi tuyên truyền. Khi trở thành Đảng cầm quyền (nhất là một Đảng duy nhất cầm quyền), CTTT của Đảng được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống 34 xã hội từ kinh tế, chính trị, văn hóa đến xã hội và hiện nay là cả vấn đề về môi trường; từ đối nội đến đối ngoại; từ an ninh đến quốc phòng. Vai trò của công tác tuyên truyền đối với Đảng cầm quyền: Công tác tuyên truyền của Đảng phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến nhân dân; tuyên truyền định hướng phát triển kinh tế - xã hội, giúp cho nhân dân nhận thức và thực hiện tốt các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội; nâng cao nhận thức, niềm tin vào đường lối của Đảng; giáo dục đạo đức, lối sống; bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng hành động cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; uốn nắn những lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm, hành động sai trái; xây dựng con người mới. Công tác tuyên truyền của Đảng là kênh quan trọng để các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động; kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ, công chức. Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ để cho nhân dân tiếp cận đến các chính sách xã hội, an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, cho người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ văn hóa, y tế, giáo dục; bảo tồn, phát triển và khai thác các di sản văn hóa, xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Công tác tuyên truyền của Đảng là công cụ phục vụ đối ngoại, ở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới, tranh thủ sự ủng hộ của các nước đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2.2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ YÊU CẦU CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN CỦA ĐẢNG 2.2.1. Hội nhập quốc tế 2.2.1.1. Khái niệm hội nhập quốc tế Thuật ngữ “hội nhập quốc tế” (tiếng Anh là international integration) được sử dụng chủ yếu trong các lĩnh vực chính trị học quốc tế và kinh tế quốc 35 tế, ra đời từ khoảng giữa thế kỷ XIX ở Châu Âu trong bối cảnh những người theo trường phái thể chế chủ trương thúc đẩy sự hợp tác và liên kết giữa các cựu thù (Đức-Pháp) nhằm tránh nguy cơ tái diễn chiến tranh thế giới thông qua việc xây dựng Cộng đồng Châu Âu. Có nhiều cách tiếp cận “hội nhập quốc tế”, nhưng cách tiếp cận phù hợp nhất là xem xét hội nhập như là một quá trình xã hội có nội hàm toàn diện và thường xuyên vận động hướng tới mục tiêu nhất định. Theo đó, HNQT được hiểu như là một quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế (Cho đến nay, có ba cách tiếp cận “hội nhập quốc tế” chủ yếu là: Cách tiếp cận thứ nhất, thuộc về trường phái theo chủ nghĩa liên bang, cho rằng hội nhập là một sản phẩm cuối cùng hơn là một quá trình. Sản phẩm đó là sự hình thành một Nhà nước liên bang kiểu như Hoa Kỳ hay Thụy Sỹ. Để đánh giá sự liên kết, những người theo trường phái này quan tâm chủ yếu tới các khía cạnh luật định và thể chế. Cách tiếp cận thứ hai, với Karl W. Deutsch là trụ cột, xem hội nhập trước hết là sự liên kết các quốc gia thông qua phát triển các luồng giao lưu như thương mại, đầu tư, thư tín, thông tin, du lịch, di trú, văn hóa từ đó hình thành dần các cộng đồng an ninh. Theo Deutsch, có hai loại cộng đồng an ninh - loại cộng đồng an ninh hợp nhất như kiểu Hoa Kỳ, và loại cộng đồng an ninh đa nguyên như kiểu Tây Âu. Cách tiếp cận thứ hai này xem xét hội nhập vừa là một quá trình vừa là một sản phẩm cuối cùng. Cách tiếp cận thứ ba, xem xét hội nhập dưới góc độ là hiện tượng/ hành vi các nước mở rộng và làm sâu sắc hóa quan hệ hợp tác với nhau trên cơ sở phân công lao động quốc tế có chủ đích, dựa vào lợi thế của mỗi nước và mục tiêu theo đuổi). Hội nhập quốc tế có thể diễn ra trên từng lĩnh vực của đời sống xã hội nhưng cũng có thể đồng thời diễn ra trên nhiều lĩnh vực với tính chất, 36 phạm vi và hình thức khác nhau. Bản chất của HNQT chính là sự gắn kết của một nước vào các tổ chức hợp tác kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các thành viên quan hệ với nhau theo các nguyên tắc, quy định chung. Đó là việc một quốc gia thực hiện chính sách kinh tế mở, tham gia các định chế kinh tế - tài chính quốc tế, tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại đầu tư ở các lĩnh vực. 2.2.1.2. Những nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế - Hội nhập quốc tế về kinh tế: Hội nhập quốc tế về kinh tế (hội nhập kinh tế quốc tế) là quá trình gắn kết các nền kinh tế của từng nước với kinh tế khu vực và thế giới thông qua các nỗ lực tự do hóa và mở cửa nền kinh tế theo hình thức khác nhau, từ đơn phương đến song phương, tiểu khu vực/vùng, khu vực và toàn cầu. Hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra nhiều mức độ khác nhau (Thỏa thuận thương mại ưu đãi (PTA) - khu vực mậu dịch tự do (FTA) - liên minh thuế quan (CU) - thị trường chung (hay thị trường duy nhất)). - Hội nhập quốc tế về chính trị: Hội nhập quốc tế về chính trị là quá trình các nước tham gia vào các cơ chế quyền lực tập thể (giữa hai hay nhiều nước) nhằm theo đuổi những mục tiêu nhất định và hành xử phù hợp với các luật chơi chung. Hội nhập chính trị thể hiện mức độ liên kết đặc biệt giữa các nước, trong đó họ chia sẻ với nhau về các giá trị cơ bản (tư tưởng chính trị, ý thức hệ), mục tiêu, lợi ích, nguồn lực và đặc biệt là quyền lực. Ở giai đoạn thấp của hội nhập chính trị, liên kết giữa các thành viên còn hạn chế và các thành viên vẫn cơ bản giữ thẩm quyền định đoạt chính sách riêng (ASEAN khi trở thành cộng đồng ASEAN năm 2015. Giai đoạn hội nhập chính trị cao đòi hỏi sự tương đồng về thể chế chính trị và độ tin cậy hoàn toàn của các thành viên. Về mặt tổ chức quyền lực, các thành viên chỉ giữ lại một số thẩm quyền nhất định ở cấp quốc gia và trao các quyền lực còn lại cho một cơ cấu siêu quốc gia. Thông thường hội nhập chính trị là 37 bước đi sau cùng trên cơ sở các nước liên quan đã đạt đến trình độ hội nhập kinh tế và văn hóa - xã hội rất cao, chẳng hạn, Liên minh Châu Âu (EU)). - Hội nhập quốc tế về văn hóa- xã hội: Hội nhập về văn hóa - xã hội là quá trình mở cửa, trao đổi văn hóa với các nước khác; chia sẻ các giá trị văn hóa, tinh thần với thế giới; tiếp thu các giá trị văn hóa tiến bộ của thế giới để bổ sung và làm giàu nền văn hóa dân tộc; tham gia vào các tổ chức hợp tác và phát triển văn hóa-giáo dục và xã hội khu vực và hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên hướng tới xây dựng một cộng đồng văn hóa - xã hội rộng lớn trên phạm vi khu vực và toàn cầu (Ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), v.v.; ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác - phát triển văn hóa - giáo dục- xã hội với các nước). - Hội quốc tế nhập về an ninh - quốc phòng: Hội nhập về an ninh, quốc phòng là sự tham gia của quốc gia vào quá trình gắn kết họ với các nước khác trong mục tiêu duy trì hòa bình và an ninh. Điều này đòi hỏi các nước hội nhập phải tham gia vào các thỏa thuận song phương hay đa phương về an ninh-quốc phòng trên cơ sở các nguyên tắc chia sẻ và liên kết: mục tiêu chung, đối tượng/kẻ thù chung, tiến hành các hoạt động chung về đảm bảo an ninh-quốc phòng (Ví dụ, tham gia Cộng đồng văn hóa - xã hội ASEAN, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO), v.v.; ký kết và thực hiện các hiệp định song phương về hợp tác - phát triển văn hóa - giáo dục- xã hội với các nước) (Hiệp ước phòng thủ chung: Đây là hình thức khá phổ biến trong thời kỳ Chiến tranh lạnh khi mà thế giới được cơ bản chia thành hai hệ thống (gọi là hệ thống hai cực) giữa một bên là các nước xã hội chủ nghĩa do Liên Xô lãnh đạo và bên kia là các nước tư bản chủ nghĩa do Mỹ đứng đầu. Đây là phương thức liên kết quân sự rất cao, đòi hỏi các thành viên phải đồng về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về 38 quan điểm, chính sách an ninh- quốc phòng, chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch. Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải đồng ý về ý thức hệ và cùng chia sẻ cao về quan điểm, chính sách an ninh - quốc phòng, chiến lược quân sự và có trình độ phát triển kỹ thuật quân sự cũng như năng lực tác chiến không quá chênh lệch. Phương thức liên kết này cũng đòi hỏi các thành viên phải chấp nhận chịu sự hạn chế về chủ quyền quốc gia và trao một phần thẩm quyền quốc gia cho một cơ chế chung siêu quốc gia. Các dàn xếp an ninh tập thể: Đây là hình thức liên kết an ninh dựa trên nguyên tắc các thành viên cam kết không tấn công nhau, nếu có một thành viên vi phạm, sẽ dùng sức mạnh hợp tác của cả khối để ngăn chặn và giúp giải quyết xung đột. Các dàn xếp về an ninh hợp tác: Đây là phương thức liên kết an ninh - quốc phòng lỏng lẻo hơn cả, dựa trên nguyên tắc lấy hợp tác trên các lĩnh vực, từ dễ đến khó, với các hình thức đa dạng như đối thoại, xây dựng lòng tin, ngoại giao phòng ngừa để xây dựng thói quen hợp tác và sự phụ thuộc, rằng buộc lẫn nhau, từ đó có thể hạn chế khả năng xảy ra xung đột giữa các thành viên). 2.2.2. Hội nhập quốc tế ở Việt Nam 2.2.2.1. Sự hình thành và phát triển đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế ở Việt Nam Bước vào thời kỳ đổi mới (1986), để thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phá được thế bao vây cô lập về đối ngoại, tiếp tục phát triển đất nước theo con đường đã lựa chọn, Đảng và Nhà nước ta chủ trương mở rộng và đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, tìm ra khâu đột phá để thoát vòng bao vây cô lập của các thế lực chống đối. Sau Đại hội VI của Đảng (1986), đặc biệt là sau Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khóa VI (1989), Việt Nam đã có những điều chỉnh cơ bản về chính sách đối ngoại. Cùng với chủ trương bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc và Mỹ, Việt Nam coi trọng cải thiện quan hệ với các nước láng 39 giềng Đông Nam Á, tạo môi trường quốc tế hòa bình, ổn định ở khu vực, thuận lợi cho phát triển đất nước. Nhằm thúc đẩy tiến trình mở rộng quan hệ đối ngoại, Đại hội VII của Đảng nêu chủ trương chiến lược “mở rộng sự hợp tác và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế” [49]. Trên cơ sở đó và trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế sau sự tan rã của Liên Xô, Hội nghị Trung ương 3 khóa VII (1992) chính thức xác định đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ quốc tế. Chủ trương chiến lược của Đại hội VII tiếp tục được Đại hội VIII khẳng định, bổ sung và đến Đại hội IX phát triển thành “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình độc lập và phát triển” [50]. Chủ trương hội nhập quốc tế tiếp tục được hoàn thiện hơn tại Đại hội X của Đảng. Cùng với việc nhấn mạnh sự cần thiết phải đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững, Đại hội khẳng định quan điểm “Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác”. Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội nêu 5 bài học lớn, trong đóbài học thứ 3 là bài học về hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ [53]. Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế là yêu cầu khách quan; chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không do dự chần chừ, không được nóng vội, giản đơn. Đại hội XI của Đảng (2011) đánh dấu bước phát triển mới trong chủ trương hội nhập quốc tế với sự khẳng định: Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới [56]. 40 Chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” được Đại hội nêu ra thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng. Đây không chỉ là sự chủ động, tích cực hội nhập riêng ở lĩnh vực kinh tế và một số lĩnh vực khác, mà là sự tích cực mở rộng hội nhập với qui mô toàn diện, trên các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh,bước phát triển này trong nhận thức và tư duy đối ngoại của Đảng, phản ánh những nhu cầu cấp thiết đối với sự nghiệp cách mạng nước ta trong bối cảnh quốc tế mới. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng (2015) xác địnhchủ trương tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Tiếp tục quán triệt và xử lý tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Dự thảo Báo cáo chính trị tại Đại hội XII của Đảng còn xác định Phương hướng và Nhiệm vụ của HNQT trong những năm tới. Phương hướng của HNQT trong những năm tới là bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Nhiệm vụ của HNQT những năm tới là nâng cao hiệu quả các hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu, v.v.; triển khai 41 mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, v.v.; chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, v.v.; đẩy mạnh HNQT trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và các lĩnh vực khác; tăng cường nghiên cứu, dự báo về đối ngoại; đổi mới nội dung, phương pháp tuyên truyền đối ngoại; chăm lo đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, v.v.; bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hoạt động đối ngoại, phối hợp chặt chẽ hoạt động đối ngoại của Đảng, ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân; giữa ngoại giao chính trị với ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa; giữa đối ngoại với quốc phòng, an ninh. Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng đã đưa đến việc xác lập những nội dung, tính chất cơ bản trong đường lối đối ngoại từ “rộng mở”, “là bạn” đến “đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế” và “sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy”, “thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế”, từng bước nâng cao vị thế đất nước trên trường quốc tế, thúc đẩy hội nhập ngày càng chủ động, tích cực và sâu rộng với khu vực và thế giới. 2.2.2.2. Nội dung của đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về hội nhập quốc tế ở Việt Nam - Mục tiêu, nguyên tắc của HNQT: Mục tiêu và nguyên tắc cơ bản, bao trùm của HNQT là nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. 42 - Quan điểm chỉ đạocủa HNQT: Thứ nhất, chủ động và tích cực HNQT là định hướng chiến lược lớn của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thứ hai, HNQT là sự nghiệp của toàn dân và của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Mọi cơ chế, chính sách phải phát huy tính chủ động, tích cực và khả năng sáng tạo của tất cả các tổ chức, cá nhân, khai thác hiệu quả các tiềm năng của toàn xã hội, của các tầng lớp nhân dân, bao gồm cả cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống và làm việc ở nước ngoài vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Thứ ba, HNQT trên cơ sở phát huy tối đa nội lực; gắn kết chặt chẽ và thúc đẩy quá trình hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hiện đại hóa kết cấu hạ tầng, nâng cao sức mạnh tổng hợp và năng lực cạnh tranh quốc gia; gắn kết chặt chẽ với việc tăng cường mức độ liên kết giữa các vùng, miền, khu vực trong nước. Thứ tư, hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy phát triển văn hóa, xã hội; hội nhập trong các lĩnh vực phải được thực hiện đồng bộ trong một chiến lược hội nhập quốc tế tổng thể với lộ trình, bước đi phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của đất nước. - Nội dung cơ bản của HNQT: Thúc đẩy phát triển quan hệ song phương và đa phương với các nước trên thế giới, tham gia các tổ chức khu vực và thế giới trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, kỹ thuật, v.v. nhằm đáp ứng lợi ích phát triển và nâng cao vị thế quốc tế của nước ta. - Phương châm chủ yếu của HNQT: Hội nhập quốc tế cần bảo đảm nguyên tắc cùng có lợi trong quan hệ song phương và đa phương. Theo đó, một mặt không để thiệt hại đến lợi ích 43 cần có và hợp lý được hưởng, mặt khác phải chấp nhận một sự chia sẻ hợp lý lợi ích cho các đối tác tùy theo mức độ đóng góp của các bên tham hợp tác. Trong hợp tác, liên kết và HNQT cần giữ vững nguyên tắc vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa kiên quyết vừa mềm dẻo để đạt tới mục tiêu, bảo vệ được lợi ích chính đáng của đất nước; đồng thời phải luôn cảnh giác, không mơ hồ trước những âm mưu và thủ đoạn lợi dụng HTQT để can thiệp, áp đặt về chính trị. 2.2.3. Ảnh hưởng và yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng 2.2.3.1. Ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng - Hội nhập quốc tế tạo ra thuận lợi và cơ hội phát triển đối với CTTT của Đảng: Thứ nhất, HNQT tạo ra những nhu cầu mới cho CTTT của Đảng: Đó lànhu cầu mới về mở rộng phạm vi và đối tượng tuyên truyền đối với CTTT của Đảng (không chỉ tuyên truyền trong Đảng, mà còn tuyên truyền trong nhân dân, không chỉ tuyên truyền trong nước mà còn tuyên truyền quốc tế, không chỉ tuyên truyền từ trong nước ra với thế giới mà còn tuyên truyền thế giới với trong nước); nhu cầu mới về mở rộng và làm phong phú, sinh động nội dung tuyên truyền (không chỉ tuyên truyền về kinh tế - xúc tiến và thu hút đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực và hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế, đưa nền kinh tế đất nước tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, mà còn tuyên truyền về chính trị, chính sách của Đảng và Nhà nước; tuyên truyền về phát triển văn hóa - xã hội, giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ; giao lưu, tiếp biến văn hóa; không chỉ tuyên truyền về thuận lợi mà còn tuyên truyền về khó khăn, thách thức, v.v.; không chỉ tuyên truyền nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế, mà còn tuyên truyền về xây dựng và duy trì môi trường quốc 44 tế hòa bình, ổn định cho hợp tác và phát triển); nhu cầu về mới hình thức, phương pháp và phương tiện tuyên truyền (không tuyên truyền qua báo chí mà còn tuyên truyền qua các hoạt động đối ngoại đảng, đối ngoại nhà nước, đối ngoại nhân dân; không chỉ bằng lời nói - kể cả chủ trương, chính sách, nâng cao chất lượng và hiệu quả của hoạt động chính sách - chính sách công, mà còn thực tiễn - kết quả và hạn chế của công cuộc đổi mới, của HNQT); không chỉ tuyên truyền áp đặt, đơn tuyến (một chiều, từ trên xuống, từ trong ra - trong Đảng ra ngoài xã hội, trong nước ra ngoài quốc tế) mà còn tuyên truyền thuyết phục, đa tuyến (không chỉ từ trên xuống mà còn từ dưới lên, từ ngoài vào, tiếp nhận và xử lý phản hồi); nhu cầu mới về khối lượng tuyên truyền (ngày càng lớn, đa dạng và phức tạp), chất lượng (ngày càng cao) và hiệu quả (tiết kiệm thời gian và chi phí cho hoạt động tuyên truyền nhưng lại mang lại và kết quả tuyên truyền lớn) choCTTT của Đảng; nhu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng (về chính trị tư tưởng, về chuyên môn nghiệp vụ, về ngoại ngữ, về kỹ năng - kỹ năng giao tiếp, kỹ năng kỹ thuật, nghiệp vụ). Thứ hai, HNQT tạo ra những cơ hội mới cho CTTT của Đảng: Cơ hội HNQT của CTTT của Đảng (do sự mở rộng các mối quan hệ của Đảng đối với các đảng phái chính trị trên thế giới - đến nay Đảng ta đã có mối quan hệ với hầu hết các đảng cộng sản và công nhân, các đảng cánh tả, các đảng cầm quyền trên thế giới, v.v; cơ hội hợp tác, cạnh tranh phát triển với hoạt động tuyên truyền của các tổ chức khác (nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp) từ trong nước đến các nước trên thế giới, các tổ chức khu vực và quốc tế; cơ hội về nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng. Thứ ba, HNQT tạo ra những điều kiện mới cho CTTT của Đảng: Những điều kiện mới phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, phát triển nhân lực, mở rộng dân chủ, giao lưu, hợp tác quốc tế, môi trường xã hội mang 45 lại; điều kiện mới về năng lực, trình độ của cán bộ làm CTTT của Đảng; điều kiện mới về cơ sở vật chất, trang thiết bị cho CTTT của Đảng. - Hội nhập quốc tế gây ra nguy cơ và thách thức cản trở CTTT của Đảng: Nguy cơ chệch hướng của CTTT của Đảng (đặc biệt là tuyên truyền chính trị, tư tưởng, hệ tư tưởng, định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước những khó khăn và thách thức của các diễn biến mới, phức tạp trong nước và thế giới; trong cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai trái, sự chống phá của các thế lực thù địch); nguy cơ lạc hậu, tụt hậu của CTTT của Đảng (lạc hậu, tụt hậu về thời gian - tính kịp thời, chất lượng và hiệu quả thông tin); thách thức về vị trí và vai trò của CTTT của Đảng (trong mối quan hệ với CTTT của các tổ chức khác, các “binh chủng” làm CTTT khác); thách thức về giữ vững tính đảng, tính định hướng xã hội chủ nghĩa, tính dẫn dắt của CTTT của Đảng trong tuyên truyền; thách thức về năng lực, chất lượng và hiệu quả của CTTT của Đảng (về khả năng cập nhật, xử lý, phổ biến, kiểm chứng thông tin); thách thức về phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng (dao động, giảm sút niềm tin vào mục đích và nội dung tuyên truyền của Đảng; thiếu tính tiên phong, gương mẫu và trách nhiệm của người làm CTTT của Đảng). 2.2.3.2. Những yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với công tác tuyên truyền của Đảng - Hội nhập quốc tế đòi hỏi CTTT của Đảng cần phải nâng cao hơn về vị trí và vai trò trong điều kiện mới. Công tác tuyên truyền của Đảng, hơn bao giờ hết, cần đứng ở vị trí tiên phong, vai trò định hướng (định hướng về nội dung, chất lượng thông tin) trong quá trình tuyên truyền về HNQT, góp phần đổi mới và nâng cao nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân - tạo sự nhất trí cao trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, huy động sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ quốc tế đối với quá trình HNQT của Việt Nam. HNQT là quá trình mới mẻ và 46 phức tạp, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, do vậy CTTT của Đảng cần có khả năng dự báo, đi trước một bước, thậm chí “đi tắt đón đầu” trong tuyên truyền. Hội nhập quốc tế mở ra những cơ hội to lớn cho sự phát triển của đất nước,đồng thời cũng đặt ra những thách thức rất lớn, rất mới đối với độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, định hướng xã hội chủ nghĩa và vai trò lãnh đạo của Đảng, v.v. do vậy CTTT của Đảng phải làm cho toàn Đảng, toàn dân nhận thức đúng tình hình, thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn và quan điểm, đường lối phát triển đất nước của Đảng ta trong bối cảnh HNQT. Nhận thức “CTTT phải giữ vị trí tiên phong trong quá trình hội nhập quốc tế” cần được quán triệt rõ trong tư tưởng của cấp ủy đảng, trong các cơ quan tuyên truyền và trong cả hệ thống chính trị. - Các vấn đề diễn ra trong HNQT đ... huy sức mạnh tổng hợp CTTT, bảo đảm tính khoa học, tính chiến đấu và tính thuyết phục trong tuyên truyền, bảo đảm tổ chức bộ máy cần có cơ cấu hợp lý, ổn định, tinh gọn và hiệu quả, đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực. Thường xuyên tổng kết CTTT, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia đội ngũ cán bộ tuyên truyền trong hệ thống chính trị, tinh thần trách nhiệm cán bộ, đảng viên. Nhóm quan điểm thứ ba là xác định và thực hiện đúng nguyên tắc và phương châm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT. Theo đó cần xác định và thực hiện đúng nguyên tắc đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT (giữ vững mục tiêu, quan điểm và định hướng tuyên truyền của Đảng, thực hiện tốt các nhiệm vụ của công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT, chủ động về nội dung và định hướng tuyên truyền, v.v.). Xác định và thực hiện đúng phương châm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT (đa dạng hóa, phong phú hóa các hình thức tuyên truyền, linh hoạt hóa, sáng tạo hóa phương pháp tuyên truyền, v.v). 2. Cần xác định đúng và thực hiện có kết quả các giải pháp (có thể nêu nhóm giải pháp) về nhận thức, thể chế và nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo đó: Thứ nhất, nhóm giải pháp về nhận thức, bao gồm: Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên về đổi mới CTTT của 139 Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT; Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ tuyên truyền về đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT; Nâng cao nhận thức của người dân, của doanh nghiệp về CTTT của Đảng và đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT; Thứ hai, nhóm giải pháp về thể chế, bao gồm: Xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HNQT, xác định đúng đắn và kịp thời định hướng đổi mới về nội dung và phương thức tuyên truyền về HNQT; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy làm CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT (xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức làm CTTT của Đảng về HNQT; kiện toàn tổ chức bộ máy làm CTTT của Đảng theo hướng tin gọn - chất lượng - hiệu quả, giữ vai trò hạt nhân (dẫn dắt, định hướng) trong hệ thống thống nhất - kết nối các cơ quan, tổ chức làm CTTT; các cơ quan tuyên truyền của Đảng cần tập trung nghiên cứu, và dự báo tình hình sát thực tiễn HNQT; thực hiện đúng lộ trình tuyên truyền về HNQT; Thứ ba, nhóm giải pháp về về cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật bao gồm: Tăng cường đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế (đổi mới và nâng cao chất lượng tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ làm CTTT của Đảng; tăng cường lãnh đạo, quản lý cán bộ tuyên truyền của Đảng; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. 140 KẾT LUẬN 1. Công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng là hoạt động truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, là hoạt động vận động quần chúng nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng nhằm hiện thực hóa các mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Trong điều kiện là đảng lãnh đạo, CTTT của Đảng là một phương thức lãnh đạo của Đảng; trong điều kiện đảng cầm quyền, CTTT của Đảng là một phương thức cầm quyền của Đảng. CTTT của Đảng bao gồm chủ thể khách thể, đối tượng và phương tiện, công cụ tuyên truyền. Những yếu tố ảnh hưởng đến CTTT của Đảng bao gồm tính chất của hệ tư tưởng, đường lối, chính sách, trình độ và năng lực, chất lượng đội ngũ cán bộ tuyên truyền của Đảng, trình độ và đặc điểm của khách thể tuyên truyền, điều kiện và môi trường xã hội có liên quan. CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng còn có những đặc điểm như tính tiên phong, tính chính thống, tính tổng hợp. Vai trò của CTTT đối với Đảng cầm quyền rất lớn với việc phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; là kênh quan trọng để các cấp ủy đảng, chính quyền tổ chức thực hiện và bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy, phương thức hoạt động; kiểm tra, giám sát, giáo dục, rèn luyện cán bộ, công chức; là công cụ để cho nhân dân tiếp cận đến các chính sách, phục vụ đối ngoại, phục vụ HNQT. Hội nhập quốc tế có thể hiểu là quá trình các nước tiến hành các hoạt động gắn kết, chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực và tuân theo các luật chơi chung trong khuôn khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế. Những nội dung cơ bản của HNQT bao gồm hội nhập về kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng và bảo vệ môi trường. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HNQT ở Việt Nam hình thành từ khi bước vào thời kỳ đổi mới (năm 1986) đến nay, đã xác định mục tiêu, nguyên tắc, quan điểm chỉ 141 đạo, nội dung cơ bản, phương châm HNQT; việc tuyên truyền về HNQT cũng dựa chắc trên cơ sở đường lối, chính sách này. Hội nhập quốc tế có ảnh hưởng rất lớn, tạo ra thuận lợi và cơ hội, nguy cơ và thách thức đối với CTTT của Đảng. HNQT đặt ra những yêu cầu đối với CTTT của Đảng như yêu cầu nâng cao vị trí và vai trò của CTTT của Đảng, nắm vững nội dung tuyên truyền về HNQT, mở rộng phạm vi, khách thểvà đối tượng của CTTT của Đảng, đổi mới nội dung và phương pháp, tổ chức bộ máy và cán bộ tuyên truyền của Đảng. HNQT đòi hỏi đội ngũ cán bộ tuyên truyền có phẩm chất chính trị, năng lực tổ chức, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, am hiểu tình hình thực tiễn - thực sự là những người tiên phong trong CTTT. Cán bộ làm CTTT của Đảng cần phải là những người tâm huyết, trách nhiệm và bản lĩnh, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao, có khả năng sử dụng thành thạo ngoại ngữ và tin học hiện đại vào CTTT. 2. Công tác tuyên truyền của Đảng về HNQT những năm qua đã tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HNQT; thành tựu của công cuộc đổi mới, của quá trình; lòng yêu nước, tự hào và tự tôn dân tộc; văn hóa, đạo đức, lối sống trong quá trình hội nhập; đấu tranh chống các quan điểm sai trái, chống “diễn biến hòa bình”; thời cơ và thách thức; lộ trình, bước đi của quá trình HNQT. CTTT của Đảng đã đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền; đẩy mạnh hoạt động của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên; coi trọng điều tra và xử lý dư luận xã hội; tăng cường công tác xuất bản, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; mở rộng phạm vi và mức độ tuyên truyền. CTTT của Đảng đã có một số đổi mới về phương pháp, tổ chức bộ máy, cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật. CTTT của Đảng đã có những đóng góp tích cực vào những kết quả HNQT của đất nước trên các lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, văn hóa - xã hội, quốc phòng - an ninh. Tuy nhiên, CTTT vẫn còn những hạn chế, còn thiếu chủ động, sắc bén; Hình thức tuyên truyền của Đảng về cơ bản vẫn theo cách làm cũ, mang tính 142 “bao cấp”; đi sau và đi chậm hơn so với quá trình HNQT; quy hoạch tổng thể CTTT của Đảng còn chậm, chấp vá và manh mún; cơ chế quản lý thông, thông tin hai chiều chưa tốt, tính thuyết phục chưa cao; việc bồi dưỡng lòng yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH còn biểu hiện hình thức; việc triển khai các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về CTTT còn chậm; ít có thực tiễn minh họa, một chiều, vẫn còn biểu hiện áp đặt, ít trao đổi, đối thoại; sự phối kết hợp giữa các lực lượng làm CTTT chưa chặt chẽ; cơ sở vật chất - kỹ thuật, kinh phí, phương tiện, chất lượng và hiệu quả chưa cao, chưa kịp thời, linh hoạt, phân tán, lãng phí, trùng lặp; tổ chức bộ máy, cơ chế, chính sách và cán bộ tuyên truyền còn nhiều bất cập; còn hạn chế về tầm nhìn chiến lược, định hướng và kế hoạch dài. Những bài học kinh nghiệm đã tích lũy được trong CTTT của Đảng có là kiên định sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng; nắm vững đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HNQT; thống nhất tính khoa học với tính cách mạng, gắn lý luận với thực tiễn trong CTTT; chú trọng tuyên truyền về cơ sở và tăng cường xử lý thông tin phản hồi; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị làm CTTT của Đảng, giữa các cấp, các ngành trong CTTT về HNQT; kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và cơ sở vật chất cho CTTT của Đảng; chủ động, “đi tắt, đón đầu” trong CTTT của Đảng về HNQT. HNQT ở Việt Nam hiện nay đang đặt ra những vấn đề mới đối với CTTT của Đảng về nhận thức, về thể chế, về cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật, đòi hỏi nâng CTTT của Đảng lên ngang tầm nhiệm vụ. 3. Cần xác định những quan điểm (có thể nêu thành các nhóm quan điểm) về đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT, bao gồm: Nhóm quan điểm thứ nhất là nhận thức và xác định rõ tính bức thiết của đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế. Theo đó, một là, cần đánh giá đúng kết quả và nhất là những hạn chế (đội ngũ đông mà chưa mạnh, sự phối hợp lực giữa các lực lượng chưa chặt chẽ), tổ chức bộ máy 143 chậm đổi mới, đội ngũ cán bộ chưa thực sự mạnh về năng lực, trình độ; hai là, cần nhận diện đúng những thời cơ và thách thức (vấn đề đặt ra) đối với CTTT của Đảng, cần thấy rõ đổi mới CTTT của Đảng là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, góp phần giải quyết về mặt lý luận những vấn đề của đổi mới và phát triển trong thời kỳ HNQT; đổi mới CTTT của Đảng không phải là phủ nhận thành tựu và cách làm trước đây, mà là tiếp tục khẳng định những tư duy và hành động đúng, bổ sung nhận thức và xác định cách làm mới đáp ứng những yêu cầu của tình hình mới. Nhóm quan điểm thứ hai là xác định và thực hiện đúng phương hướng và nhiệm vụ của đổi mới CTTTcủa Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT. Theo đó, cần xác định và thực hiện đúng vị trí, vai trò và chức năng của CTTT của Đảng - dẫn dắt, định hướng CTTT của Nhà nước và hệ thống chính trị nói chung đáp ứng các yêu cầu của HNQT. Xác định và thực hiện yêu cầu và nhiệm vụ của đổi mới CTTT của Đảng là gắn kết CTTT của Đảng với thực tiễn HNQT, định hướng cả nhận thức và hành động, kết hợp học tập quán triệt với việc xây dựng và triển khainghị quyết, phát huy sức mạnh tổng hợp CTTT, bảo đảmtính khoa học, tính chiến đấu và tính thuyết phục trong tuyên truyền, bảo đảm tổ chức bộ máy cần có cơ cấu hợp lý, ổn định, tinh gọn và hiệu quả, đội ngũ cán bộ có phẩm chất và năng lực. Thường xuyên tổng kết CTTT, đổi mới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự tham gia đội ngũ cán bộ tuyên truyền trong hệ thống chính trị, tinh thần trách nhiệm cán bộ, đảng viên. Nhóm quan điểm thứ ba là xác định và thực hiện đúng nguyên tắc và phương châm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT. Theo đó cần xác định và thực hiện đúng nguyên tắc đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT (giữ vững mục tiêu, quan điểm và định hướng tuyên truyền của Đảng, thực hiện tốt các nhiệm vụ của công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế, chủ động về nội dung và định hướng tuyên truyền). Xác định và thực hiện đúng phương châm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng 144 yêu cầu của HNQT (đa dạng hóa, phong phú hóa các hình thức tuyên truyền, linh hoạt hóa, sáng tạo hóa phương pháp tuyên truyền). Cần xác định đúng và thực hiện có kết quả các giải pháp (nhóm giải pháp) về nhận thức, thể chế và nguồn lực nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Theo đó: Thứ nhất, nhóm giải pháp về nhận thức, bao gồm: Nâng cao nhận thức của các cấp ủy đảng, chính quyền và cán bộ, đảng viên về đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT; nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ tuyên truyền về đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT; Nâng cao nhận thức của người dân, của doanh nghiệp về CTTT của Đảng và đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT. Thứ hai, nhóm giải pháp về thể chế, bao gồm: Xây dựng và hoàn thiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về HNQT, xác định đúng đắn và kịp thời định hướng đổi mới về nội dung và phương thức tuyên truyền về HNQT; xây dựng và hoàn thiện tổ chức bộ máy làm CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT (xác định đúng chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức làm CTTT của Đảng về HNQT; kiện toàn tổ chức bộ máy làm CTTT của Đảng theo hướng tin gọn - chất lượng - hiệu quả, giữ vai trò hạt nhân (dẫn dắt, định hướng) trong hệ thống thống nhất - kết nối các cơ quan, tổ chức làm CTTT; các cơ quan tuyên truyền của Đảng cần tập trung nghiên cứu, và dự báo tình hình sát thực tiễn HNQT; thực hiện đúng lộ trình tuyên truyền về HNQT. Thứ ba, nhóm giải pháp về về cán bộ và cơ sở vật chất - kỹ thuật bao gồm: Tăng cường đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế (đổi mới và nâng cao chất lượng tuyển dụng, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ làm CTTT của Đảng; tăng cường lãnh đạo, quản lý cán bộ tuyên truyền của Đảng; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu HNQT./. 145 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Lê Mai Trang (2011), "Công tác tuyên truyền của Đảng - Vấn đề và giải pháp", Bản tin Thông tin Chính trị học, (4). 2. Lê Mai Trang (2011), "Giải phóng mặt bằng đường vành đai ba, quận Thanh Xuân: Tám năm dồn lạimười ngày", Tạp chí Cộng sản, (53). 3. Lê Mai Trang (2011), "Quận Thanh Xuân đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước", Tạp chí Cộng sản, (11). 4. Lê Mai Trang (2014), Công tác tuyên truyền của Đảng bộ Hà Nội trong xu thế hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo khoa học, Tạp chí Cộng sản và Tỉnh ủy Quảng Ninh chủ trì. 5. Lê Mai Trang (2015), "Một số vấn đề lý luận về công tác tuyên truyền của Đảng Cộng sản Việt Nam", Tạp chí Giáo dục lý luận, (223+224). 6. Lê Mai Trang (2015), "Đổi mới công tác tuyên truyền trong hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay", Tạp chí Cộng sản, (99). 146 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê Hồng Anh (2012), "Nâng cao tính chiến đấu, tính thuyết phục của các “sản phẩm thông tin đối ngoại”", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (3). 2. Lê Hồng Anh (2014), "Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác tuyên giáo", Tạp chí Tuyên giáo, (2). 3. Trần Thị Anh (2009), Phải làm tốt giáo dục các tầng lớp nhân dân nhận thức sâu sắc rằng, trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế, phải luôn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội. 4. Xuân Anh (2012), "Tạo bước chuyển biến căn bản trong tổ chức hoạt động đối ngoại", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (3). 5. Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XV, NXB Hà Nội, Hà Nội. 6. Ban Chỉ đạo đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa của Trung ương (2003), Chống âm mưu “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, Hà Nội. 7. Ban Chỉ đạo Trung ương (2010), Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020, Hà Nội. 8. Ban Chỉ đạo Trung ương (2014), Sơ kết 3 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới 2010-2020, Hà Nội. 9. Ban Đối ngoại Trung ương Đảng (2008), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác thông tin - tuyên truyền trong lĩnh vực đối ngoại nhân dân trong tình hình mới, Hà Nội. 10. Ban Tuyên giáo Trung ương (2002), Nguyên lý tuyên truyền, Hà Nội. 11. Ban Tuyên giáo Trung ương (2002), Giáo trình chuyên ngành công tác tư tưởng (Thông tin cổ động), Hà Nội. 147 12. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền về công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam trong giai đoạn 2000 - 2010, Hà Nội. 13. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Những vấn đề lớn của thế giới và quá trình hội nhập, phát triển của nước ta, Hà Nội. 14. Ban Tuyên giáo Trung ương (2004), Nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng trong quá trình chủ động hội nhập nền kinh tế thế giới, Hà Nội. 15. Ban Tuyên giáo Trung ương (2008), Tiếp tục đổi mới, nâng cao tính chiến đấu, sự sắc bén, chất lượng và hiệu quả công tác tuyên giáo, Hà Nội. 16. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Sổ tay báo cáo viên năm 2009, Hà Nội. 17. Ban Tuyên giáo Trung ương (2009), Tập trung trí tuệ, tâm huyết, phát huy sức mạnh tổng hợp, thực hiện có hiệu quả công tác tuyên giáo, Hà Nội. 18. Ban Tuyên giáo Trung ương (2010), Sổ tay báo cáo viên năm 2010, Hà Nội. 19. Ban Tuyên giáo Trung ương (2011), Sổ tay báo cáo viên năm 2011, Hà Nội. 20. Ban Tuyên giáo Trung ương (2015), Báo cáo tổng kết năm 2010-2015, Hà Nội. 21. Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (2010), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới, Trung Quốc. 22. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2000), 70 năm công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 23. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa - Thông tin, Hội Nhà báo Việt Nam (2002), Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền nhân tố mới, điển hình tiên tiến trong giai đoạn mới, Hà Nội. 148 25. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2004), Báo cáo điều tra phục vụ cho công tác sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa XI) về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới. 26. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Đổi mới mạnh mẽ hơn nữa hình thức, phương pháp tuyên truyền giáo dục, học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, Hà Nội. 27. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955 - 1975), Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955 - 1975), Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam (1955 - 1975), Tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 30. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 31. Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương (2005), Báo cáo điều tra phục vụ cho công tác sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương năm (khóa XI) về nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, Hà Nội. 32. Hoàng Chí Bảo (2010), Tổng thuật các quan điểm nghiên cứu và các kiến nghị về đổi mới hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay, Chương trình Khoa học - Công nghệ cấp nhà nước, Hà Nội. 33. Tập Cận Bình (2008), "Tổng kết công tác xây dựng Đảng Cộng sản Trung Quốc trong 30 năm cải cách mở cửa", Thông tin Những vấn đề lý luận, (5), tr.10. 34. Nguyễn Đức Bình (2005), Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 149 35. Bộ Chính trị (2013), Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 về hội nhập quốc tế các nội dung về mục tiêu, quan điểm chỉ đạo và định hướng hội nhập quốc tế, Hà Nội. 36. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2009), Báo cáo tác động hội nhập đối với nền kinh tế Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO, Hà Nội. 37. Bộ Ngoại giao (1999), Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế của Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 38. Bộ Thông tin và Truyền thông (2009), Báo chí với công tác tuyên truyền, đấu tranh chống các luận điệu sai trái, NXB Thông tin và truyền thông, Hà Nội. 39. Bộ Thông tin và Truyền thông (2015), Báo cáo đánh giá công tác báo chí năm 2015, Hà Nội. 40. B.Mozias (2009), "Cơ sở tư tưởng hệ của công cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc", Tạp chí Kinh tế thế giới và các quan hệ quốc tế, (11), tr.15. 41. B.N.Promarep (1961), Từ điển chính trị, NXB Sự thật, Hà Nội. 42. C.Mác - Ph.Ăngghen (1952), Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, NXB Sự thật, Hà Nội. 43. C.Mác - Ph.Ăngghen (1980), Tuyển tập, Tập 5, NXB Sự thật, Hà Nội. 44. C.Mác - Ph.Ăng ghen (1995), Toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 45. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), "Hội nhập quốc tế: Cơ hội và thách thức đối với giá trị truyền thống trong điều kiện toàn cầu hóa hiện nay", Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (4). 46. Chương trình Phát triển Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới (2008), Báo cáo phát triển con người 2007 - 2008, Hà Nội. 47. Bùi Phương Dung (2005), Công tác tuyên truyền tư tưởng trong thời kỳ mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 48. Nguyễn Đăng Duy (1998), Văn hóa tâm linh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 150 49. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, NXB Sự thật, Hà Nội. 50. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 51. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Các nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng 2001 -2004, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 54. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 55. Đảng Cộng sản Việt Nam (2010), Dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XI của Đảng, Hà Nội. 56. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 57. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 58. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, NXB Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội. 59. Trần Thị Anh Đào (2008), Công tác tư tưởng và vấn đề đào tạo cán bộ làm công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 60. Trần Thị Anh Đào (2009), Công tác tư tưởng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 61. Phạm Quang Định (2005), “Diễn biến hòa bình” và cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội. 151 62. Ngô Huy Đức (2010), "Công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản", Bản tin Thông tin Chính trị học, (1). 63. Gustave Lebon, Surowecki (1995), Tâm lý học đám đông và trí tuệ đám đông, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 64. Lương Khắc Hiếu (2008), Giáo trình nguyên lý công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 65. Hà Thị Bình Hòa (2012), Tâm lý học tuyên truyền, NXB Chính trị - Hành chính, Hà Nội. 66. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa Tuyên truyền (2006), Nguyên lý tuyên truyền, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 67. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2008), Giáo trình nguyên lý công tác tư tưởng, Hà Nội. 68. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Chính trị học (2006), Tập bài giảng Chính trị học, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 69. Hà Học Hợi (2002), Đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 70. Nguyễn Văn Huyên (Chủ biên) (2010), Đảng Cộng sản cầm quyền - nội dung và phương thức cầm quyền của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 71. Trần Khang, Lê Cự Lộc (Chủ biên) (2005), Giáo trình tổng kết một cách toàn diện, có hệ thống những kinh nghiệm cơ bản trong công tác tuyên truyền tư tưởng của Đảng Cộng sản Trung Quốc, trong đó chỉ rõ vai trò đặc biệt quan trọng của công tác tuyên truyền, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 72. Phạm Gia Khiêm (2009), "Việt Nam sau hai năm gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới", tại trang [truy cập ngày 6/8/2015]. 73. Võ Thành Khôi (2006), Tâm lý học lãnh đạo, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 152 74. Phạm Huy Kỳ (2009), "Các loại hình tuyên truyền và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền", Tạp chí Lý luận chính trị và truyền thông, (6). 75. Nguyễn Lân (1989), Từ điển Hán - Việt, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh. 76. Nông Đức Mạnh (2008), "Làm tốt công tác lãnh đạo tư tưởng, thông tin tuyên truyền, tạo sự nhất trí, đồng thuận cao trong toàn xã hội", Tạp chí Thông tin đối ngoại, (8). 77. Vũ Văn Mạnh (2004), Nghiên cứu tỉnh biến động của tầng ô-zôn khí quyển phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ Địa lý, Trường Đại học Sư phạm, Hà Nội. 78. Hồ Chí Minh (2000), Về công tác tư tưởng văn hóa, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 79. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 1, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 80. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 2, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 3, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 82. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 4, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 83. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 84. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 6, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 85. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 7, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 86. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 8, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 87. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 9, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 88. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 10, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 89. Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, Tập 12, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 90. Hồ Ngọc Minh (2000), "Các lý thuyết phát triển và chính trị, thông tin Chính trị học", Tạp chí Khoa học chính trị, (2). 91. M.I.Calinin (1983), Về giáo dục cộng sản chủ nghĩa, NXB Thanh niên, Hà Nội. 153 92. Phạm Quang Nghị (1996), Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 93. Phạm Quang Nghị (Chủ biên) (1977), Những vấn đề về công tác tư tưởng, NXB Sự thật, Hà Nội. 94. Nguyễn Đức Ngữ (2009), Một số điều cần biết về biến đổi khí hậu, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 95. Nhiều tác giả (1984), Những nguyên lý tuyên truyền cộng sản chủ nghĩa, NXB Sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà Nội. 96. Ph.Ăngghen (1984), Tuyển tập, Tập 6, NXB Sự thật, Hà Nội. 97. Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (2003), Nguyên lý tuyên truyền, Hà Nội. 98. Hoàng Phê (1994), Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội. 99. Phùng Hữu Phú (2004), Thủ đô Hà Nội trong công cuộc xây dựng và phát triển, NXB Thống kê, Hà Nội. 100. Đào Duy Quát (Chủ biên) (2000), Công tác tư tưởng - văn hóa ở cấp huyện, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 101. Đào Duy Quát (2010), Công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 102. Lê Minh Quân (Chủ biên) (2014), Về một số xu hướng chính trị chủ yếu trên thế giới hiện nay, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 103. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2016), Luật Báo chí, Hà Nội. 104. Phan Xuân Sơn (Chủ biên) (2005), Tập bài giảng chính trị học, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 105. Văn Tân (Chủ biên) (2000), Từ điển tiếng Việt, NXB khoa học xã hội, Hà Nội. 106. Tạ Ngọc Tấn (2011), Truyền thông đại chúng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 107. Lê Hữu Tầng (Chủ biên) (1987), Từ điển triết học giản yếu, NXB Giáo dục, Hà Nội. 154 108. Phạm Tất Thắng (2010), Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận trong tình hình mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 109. Chu Hiểu Tín, Phùng Linh Chi (2008), Xây dựng cơ chế phản hồi nhanh dư lậu, tạo ra kênh thông tin thông suốt cho quyết sách của Đảng và Chính phủ, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 110. Tỉnh ủy Quảng Ninh (2004), Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - Hội nhập quốc tế - nhìn từ thực tế, Hà Nội. 111. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (1997), Một số vấn đề về công tác tư tưởng và nghiên cứu dư luận xã hội ở Hà Nội, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 112. Nguyễn Phú Trọng (2006), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 113. Trung tâm Thông tin công tác tuyên giáo, Ban Tuyên giáo Trung ương (2013), Báo cáo công tác tuyên truyền miệng năm 2012, phương hướng nhiệm vụ năm 2013, Hà Nội. 114. Phạm Quốc Trụ (2011), "Hội nhập quốc tế - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn", Nghiên cứu biển đông, (17). 115. Vũ Anh Tuấn (2006), "Giáo dục và hình thành niềm tin từ hướng tiến cận tâm lý học", Tạp chí Tâm lý học, (1). 116. Trương Minh Tuấn (2010), Đổi mới công tác tư tưởng của Đảng ở Tây Nguyên trong giai đoạn hiện nay, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 117. Đào Duy Tùng (1999), Một số vấn đề về công tác tư tưởng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 118. V.A.Cruchetxki (1981), Những cơ sở tâm lý học, Tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội. 119. V.I.Lênin (1957), Làm gì?, NXB Sự thật, Hà Nội. 120. V.I.Lênin (1975) Toàn tập, Tập 5, NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 155 121. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, Tập 19, NXB Tiến Bộ, Mátcơva. 122. V.I.Lênin (1975), Toàn tập, Tập 20, NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 123. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, Tập 39, NXB Sự thật, Hà Nội. 124. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, tập 41, NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 125. V.I.Lênin (1977), Toàn tập, Tập 43, NXB Tiến bộ, Mátxcơva. 126. Lương Ngọc Vĩnh (2012), Hiệu quả của công tác giáo dục chính trị - tư tưởng là sự tương quan giữa kết quả đạt được so với mục đích đề ra và sử dụng hợp lý các nguồn lực để đạt kết quả đó trong những điều kiện cụ thể, Luận án tiến sĩ Chính trị học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội. 127. Nguyễn Văn Vĩnh (2007), Đảng lãnh đạo Nhà nước trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay, NXB Lý luận chính trị, Hà Nội. 128. Vụ Tuyên truyền và hợp tác quốc tế (2005), Đối ngoại Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. 129. Nguyễn Như Ý (1989), Đại từ điển tiếng Việt, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_doi_moi_cong_tac_tuyen_truyen_cua_dang_dap_ung_yeu_c.pdf
  • pdfTom tat.pdf
  • pdftrang thong tin ncs Le Mai Trang.pdf
Tài liệu liên quan