Luận án Đổi mới giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH VŨ VĂN TUẤN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG KỸ THUẬT QUÂN SỰ HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH HỒ CHÍ MINH HỌC HÀ NỘI - 2019 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH VŨ VĂN TUẤN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG KỸ THUẬT QUÂN SỰ HIỆN NAY THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH HỒ CHÍ MINH HỌ

pdf216 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 18/01/2022 | Lượt xem: 355 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Luận án Đổi mới giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
C Mã số: 62 31 02 04 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. PGS, TS Trần Minh Trưởng 2. TS Văn Thị Thanh Mai HÀ NỘI – 2019 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. TÁC GIẢ Vũ Văn Tuấn ii DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT 1. CMCN 4.0 : Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 3. CNTT : Công nghệ thông tin 4. CNXH : Chủ nghĩa xã hội 5. GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo 6. GDLLCT : Giáo dục lý luận chính trị 7. HV-NT : Học viện - Nhà trường 8. KHCN : Khoa học công nghệ 9. KHKT : Khoa học kỹ thuật 10. KHXH&NV : Khoa học xã hội và nhân văn 11. KTQS : Kỹ thuật quân sự 12. LLCT : Lý luận chính trị 13. NCKH : Nghiên cứu khoa học 14. XHCN : Xã hội chủ nghĩa iii MỤC LỤC Trang Chương 1. 1.1. 1.2. 1.3. Chương 2. 2.1. 2.2. Chương 3. 3.1. 3.2. Chương 4. 4.1. 4.2. MỞ ĐẦU TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN Những công trình nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị nói chung Những công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chín trị và vận dụng vào thực tiễn hiện nay Nhận xét về các công trình nghiên cứu đã công bố và những vấn đề đặt ra cho luận án Tiểu kết chương 1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ Một số khái niệm liên quan Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị Tiểu kết chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG KỸ THUẬT QUÂN SỰ Khái quát về hệ thống tổ chức và đặc thù của giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự Thực trạng giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tiểu kết chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ TRONG CÁC HỌC VIỆN, NHÀ TRƯỜNG KỸ THUẬT QUÂN SỰ THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Những nhân tố tác động và yêu cầu đổi mới giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự hiện nay Giải pháp đổi mới giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh Tiểu kết chương 4 KẾT LUẬN DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO PHỤ LỤC 1 6 6 16 27 33 35 35 45 64 65 65 76 98 100 100 106 144 145 148 149 160 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng vai trò của lý luận cách mạng đối với phong trào cách mạng và ví nó như “kim chỉ nam”, như “ngọn đuốc” soi đường thắng lợi cho sự nghiệp cách mạng. Việc chú trọng công tác giáo dục lý luận chính trị (GDLLCT) của Hồ Chí Minh không chỉ do “sức mạnh vật chất” của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng, mà còn do Người rất thấu hiểu thực trạng “trình độ lý luận và chính trị rất thấp”[62, tr.110] cùng với căn bệnh “kém lý luận, hoặc khinh lý luận, hoặc lý luận suông” của Đảng ta, dẫn đến hậu quả là cán bộ “phải mò mẫm từng bước, luôn luôn vấp váp”[62, tr.113]. Đề cao vai trò của lý luận, cho rằng “Không có lý luận thì lúng túng như nhắm mắt mà đi”[63, tr.274], do vậy, GDLLCT được Người coi là nội dung cực kỳ quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng lý luận và xác định GDLLCT là một bộ phận vô cùng quan trọng trong công tác tư tưởng lý luận của Đảng. Vì vậy, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với tính chất là trang bị cơ sở, nền tảng tư tưởng, thế giới quan và phương pháp luận khoa học phải trở thành nội dung cốt lõi nhất, trung tâm nhất của GDLLCT nhằm hình thành nhân cách, bản lĩnh cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Đặc biệt, trước những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên gần đây ngày càng rõ nét, biểu hiện như: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”[29, tr.28], điều đó càng làm cho việc đổi mới GDLLCT trở nên cấp bách và có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, chính trị và quân sự luôn gắn bó chặt chẽ, song hành và tác động lẫn nhau. Chính trị định hướng cho quân sự, quân sự phục tùng và phục vụ chính trị, như Người đã khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[65, tr.217]. Quán triệt quan điểm này, trong các học viện, nhà trường (HV-NT) quân sự, GDLLCT được xác định là một nội dung cốt lõi trong xây dựng quân đội về chính trị, là một trong những nhiệm vụ 2 trọng tâm góp phần xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng và Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN); ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống. Sĩ quan tốt nghiệp tại các HV-NT kỹ thuật quân sự (KTQS), ngoài việc nắm chắc chuyên môn, nghiệp vụ thì đòi hỏi trước tiên phải có đạo đức cách mạng, nhân cách phù hợp và khả năng lý luận tương xứng để giải quyết những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra. Trong điều kiện tác chiến hiện đại, để có thể đối phó với các loại vũ khí tối tân, hiện đại, thông minh với sức công phá và hủy diệt lớn lại càng đòi hỏi đội ngũ kỹ sư, sĩ quan KTQS phải có đủ bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn chiến đấu. Do vậy, GDLLCT trở thành một bộ phận quan trọng, không thể thiếu trong suốt quá trình đào tạo ở các HV-NT KTQS. Trước diễn biến phức tạp và khó lường của tình hình quốc tế và khu vực; tác động của chiến lược “diễn biến hòa bình” và sự chống phá của các thế lực thù địch; thách thức của toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ (KHCN); sự tác động tiêu cực của nền kinh tế thị trường cùng những tồn tại, hạn chế, bất cập trong thực tiễn đổi mới hơn 30 năm qua về nhận thức tư tưởng, lý luận chưa được giải quyết kịp thời, trực tiếp là những mâu thuẫn, bất cập đang diễn ra ở các HV-NT KTQS đòi hỏi phải giải quyết kịp thời thông qua hoạt động đổi mới toàn diện và triệt để. Qua đó giúp nâng cao khả năng lý luận cách mạng, bản lĩnh chính trị, phẩm chất và nhân cách cho đội ngũ sĩ quan chuyên môn KTQS tương lai. Vì những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Đổi mới giáo dục lý luận chính trị trong các học viện, nhà trường kỹ thuật quân sự hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm luận án nghiên cứu của mình. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT, đánh giá thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm đổi mới GDLLCT trong các HV-NT KTQS hiện nay. 3 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tổng quan về các công trình nghiên cứu có liên quan đến Luận án; trên cơ sở nhìn nhận những vấn đề đã nghiên cứu, tham khảo, kế thừa để xác định những vấn đề đặt ra đối với việc đổi mới GDLLCT hiện nay. - Làm sáng tỏ nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT. - Đánh giá thực trạng GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan trong các HV-NT KTQS, chỉ ra nguyên nhân thành tựu, hạn chế. - Xác định các nhân tố tác động, yêu cầu, nhiệm vụ mới đặt ra và nguyên tắc đổi mới, trên cơ sở những bất cập, hạn chế mà thực tiễn đang đặt ra, đề xuất hệ thống giải pháp đổi mới mang tính toàn diện và đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan trong các HV-NT KTQS hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu Hoạt động GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan trong hệ thống các HV-NT KTQS hiện nay bao gồm: mục đích, vị trí, vai trò; nội dung chương trình; hình thức, phương pháp; công tác kiểm tra, đánh giá kết quả; giáo trình, tài liệu, cơ sở vật chất và môi trường bảo đảm cho GDLLCT tại các HV-NT KTQS. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Về nội dung: Nghiên cứu nội dung giáo dục chính khóa - ngoại khóa, trong thời khóa biểu - ngoài thời khóa biểu có liên quan đến lý luận chính trị (LLCT) cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan với 15 môn (thực hiện theo Quyết định số 917/QĐ- CT ngày 30/6/2010 của Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị), trong đó tập trung ở 8 môn cơ bản đó là: 05 môn thuộc nhóm “Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” trong phần giáo dục đại cương (Triết học Mác - Lênin, Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam); 02 môn thuộc nhóm “Khoa học xã hội và nhân văn” trong phần giáo dục đại cương (Nhà nước pháp luật, Tâm lý học và giáo dục học quân sự); 01 môn thuộc phần kiến thức chuyên ngành (Công tác đảng, công tác chính trị). - Về không gian: Tập trung nghiên cứu hoạt động GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan của 5 HV-NT KTQS, bao gồm: 01 học viện trực thuộc Bộ Quốc phòng đào tạo sĩ quan - kỹ sư, cán bộ KTQS làm công tác nghiên cứu khoa học 4 (NCKH), chuyển giao công nghệ, sản xuất chế thử, quản lý và khai thác các trang thiết bị, khí tài quân sự, bảo đảm kỹ thuật chung cho toàn quân (Học viện KTQS); 03 trường sĩ quan trực thuộc các binh chủng đào tạo sĩ quan làm công tác bảo đảm kỹ thuật theo chuyên môn của từng binh chủng (Trường sĩ quan Thông tin, Trường sĩ quan Công binh, Trường sĩ quan Phòng hóa); 01 trường sĩ quan thuộc Tổng cục Kỹ thuật đào tạo sĩ quan làm công tác bảo đảm kỹ thuật chung cho toàn quân (Trường sĩ quan Kỹ thuật Vinhempic). - Về thời gian: Nghiên cứu hoạt động GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan của các HV-NT KTQS bắt đầu từ Đại hội XI, khi Đảng ta đề ra đường lối đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) năm 2011 đến 2018. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng, Nhà nước, quân đội về GDLLCT. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện nhiệm vụ của luận án, tác giả sử dụng phương pháp liên ngành KHXH&NV (phương pháp nghiên cứu đặc thù của chuyên ngành Hồ Chí Minh học) để làm rõ nội dung, ý nghĩa, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT. Đồng thời, kết hợp với các phương pháp khác như: - Phương pháp logic - lịch sử: Dùng để xác định mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa tính phổ biến với tính đặc thù của vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh và tiến trình lịch sử cụ thể liên quan đến đề tài. - Phương pháp phân tích - tổng hợp: Dùng để thu thập và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu có sẵn liên quan; đánh giá các văn bản, tài liệu tổng thuật, mô tả khái quát nội dung văn bản để phục vụ cho nhiệm vụ của đề tài. - Phương pháp so sánh: Dùng đánh giá những vấn đề liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau nhằm chỉ ra sự khác biệt, tính đặc thù của từng vấn đề nghiên cứu. - Phương pháp điều tra xã hội học: Dùng để lựa chọn mẫu khảo sát; thiết kế bảng hỏi, quan tâm đến tính phổ thông của các loại câu hỏi; lựa chọn đối tượng, phạm vi khảo sát để bảo đảm tính diện và điểm của kết quả điều tra. 5 - Phương pháp thống kê: Sử dụng các công cụ toán học với sự hỗ trợ của phần mềm chuyên dụng SPSS-Version16.0 và phần mềm văn phòng Excel để ra được bảng số liệu liên quan phục vụ đề tài. - Phương pháp dự báo: Dùng để xác định những xu hướng phát triển và ảnh hưởng của các yếu tố có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. 5. Đóng góp mới về khoa học của luận án Làm sáng rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về GDLLCT một cách khoa học và logic. Chỉ ra những yếu tố đặc thù của GDLLCT trong các HV-NT KTQS, đưa ra hệ thống giải pháp đổi mới tổng thể, đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT cho học viên đào tạo dài hạn sĩ quan trong các HV-NT KTQS hiện nay. 6. Ý nghĩa của luận án 6.1. Về lý luận Khẳng định ý nghĩa, giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT; vị trí, vai trò, tầm quan trọng của GDLLCT trong các HV-NT KTQS nói riêng và quân đội nói chung. Cung cấp những luận cứ khoa học cho cấp ủy, chỉ huy các HV-NT KTQS trong việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động đổi mới GDLLCT trong thời gian tới. 6.2. Về thực tiễn Bổ sung làm phong phú thêm nguồn tài liệu cho giảng dạy, học tập và tuyên truyền về Hồ Chí Minh, góp phần nâng cao chất lượng GDLLCT cho học viên ở các HV-NT KTQS, cũng như làm tài liệu tham khảo phục vụ cho GDLLCT ở các cơ sở giáo dục đại học trong và ngoài quân đội. 7. Kết cấu của luận án Nội dung của Luận án được bố cục thành 4 chương (9 tiết), ngoài ra còn có phần mở đầu, kết luận, danh mục các công trình nghiên cứu của tác giả đã công bố, danh mục tại liệu tham khảo và phụ lục. 6 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1.1. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ NÓI CHUNG Bàn về vấn đề này đã có nhiều công trình đề cập, tiêu biểu trong số đó là: Cuốn sách Góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy và đổi mới nội dung, chương trình các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của tác giả Lương Gia Ban [8], trên cơ sở những bất cập, hạn chế đang đặt ra trong giáo dục các môn LLCT để đề xuất một số biện pháp thiết thực nhằm cải thiện tình hình dạy học các môn LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra sự tác động qua lại giữa nội dung - phương pháp luận - phương pháp dạy học các môn khoa học này, giúp cho cả người dạy lẫn người học thấy được mối quan hệ mật thiết đó để từng bước can thiệp, cải thiện chất lượng GDLLCT hiện nay. Trong cuốn sách Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dạy và học các môn Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong trường đại học của tác giả Nguyễn Duy Bắc [10], đã tập trung làm rõ tình hình GDLLCT ở các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn Hà Nội từ năm 1995 đến năm 2004. Qua khảo sát, đánh giá thực tiễn, tác giả đã chỉ ra những vấn đề còn bất cập, chưa phù hợp về cả nội dung, chương trình, phương pháp dạy học, thể hiện sự thiếu thống nhất giữa lý luận và thực tiễn trong dạy học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho sinh viên đại học tạo tiền đề để xây dựng các giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy – học các môn học này. Cuốn sách Công tác giáo dục lý luận chính trị cho sinh viên hiện nay của tác giả Trần Thị Anh Đào cùng các cộng sự [29], đang nghiên cứu, giảng dạy về LLCT ở bậc đại học (chủ yếu ở khu vực Thủ đô và lân cận) đã làm rõ tình hình GDLLCT cho sinh viên hiện nay trên các mặt như: dạy học các môn LLCT; NCKH về lĩnh vực LLCT; thi tìm hiểu về lịch sử truyền thống văn hóa; thi Olympic các môn LLCT; thăm quan, học tập dã ngoại tại các khu di tích lịch sử cách mạng; học tập và quán triệt nghị quyết của Đảng; học tập chính trị pháp luật; thông tin thời sự Trên cơ sở đó chỉ ra vai trò của từng hình thức GDLLCT cho sinh viên cùng mối quan hệ 7 giữa chúng trong tổng thể các hoạt động để trang bị những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho sinh viên. Bàn về phương pháp truyền thụ kiến thức KHXH&NV, cuốn sách Phương pháp giảng dạy các môn khoa học xã hội của hai tác giả người LiênXô (cũ) X.G. Lucônhin và V.V. Xêrêbriannicốp [56] đã xuất phát từ những kinh nghiệm được tổng kết trong hoạt động giảng dạy KHXH&NV ở các nhà trường quân sự, đúc rút những phương pháp ưu việt khi giảng dạy các môn KHXH&NV ở bậc đại học. Thông qua những hoạt động mang tính phương pháp đó, giúp cho người dạy nâng cao trình độ và nghệ thuật giảng dạy, đồng thời giúp họ trưởng thành hơn khi tích cực nghiên cứu và thực hành những phương pháp giảng dạy mới. Ngoài ra, trong cuốn sách Nghệ thuật diễn giảng của tác giả người Liên Xô (cũ) E. Phancôvích [79], đã trình bày và giới thiệu khá tỉ mỉ về phương thức cơ bản để truyền bá những quan điểm LLCT, kiến thức khoa học đó chính là “diễn giảng” trong GDLLCT. Khi bài giảng được chuẩn bị chu đáo và sử dụng phương pháp thuyết trình phù hợp, sẽ giúp cho thính giả không chỉ có thêm kiến thức mới mà còn nâng cao và mở rộng khả năng tư duy để có thể lý giải được những hiện tượng phức tạp của tự nhiên và xã hội. Để giúp cho những người thuyết giảng có được những kỹ năng cần thiết, thu hút, lôi cuốn người nghe trong quá trình diễn giảng thì họ phải được đào tạo bài bản và biết chủ động điều chỉnh, cập nhật kịp thời những kiến thức, kỹ năng mới. Trước khi Liên Xô tan rã (1991) và sau đó kéo theo sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu – Đánh dấu sự cáo chung của mô hình XHCN hiện thực trên thế giới – đã có nhiều học giả Liên Xô bàn về công tác tư tưởng lý luận nói chung, cũng như GDLLCT nói riêng. Đã có khá nhiều trong số đó đã được dịch sang tiếng Việt, tiêu biểu như một số cuốn sách: Phương pháp luận công tác tư tưởng của D.A. Vôncôgônốp [120]; Hình thành niềm tin cho thế hệ trẻ của V.A. Xukhômlinxki [123]; Hoạt động tư tưởng của Đảng Cộng sản Liên Xô của X.I. Xurơnitrencô [124]; đã tập trung nhấn mạnh một số nội dung chính cần phải giáo dục như: chủ nghĩa Mác - Lênin; đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Liên Xô; chính sách, luật pháp của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết; giáo dục bản chất cách mạng của Đảng và các tổ chức chính trị - xã hội từ đó, hình thành và 8 củng cố niềm tin tuyệt đối của đảng viên và quần chúng vào Đảng Cộng sản và giai cấp công nhân. Đề tài NCKH Tình hình giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng và chủ trương, giải pháp cho thời gian tới của Ban Tuyên giáo Trung ương (chủ trì) [3], đã tập trung vào 2 nhóm đối tượng chính là người dạy và người học các môn LLCT ở bậc cao đẳng, đại học. Đối với lực lượng giảng viên LLCT, bên cạnh các ưu điểm nổi bật là trình độ được gia tăng (thông qua văn bằng, chứng chỉ), song điểm tồn tại lớn nhất chính là “sức ì” của họ trong cập nhật tri thức mới, trong đổi mới tư duy, thay đổi phương pháp vẫn khá lớn. Còn đối với sinh viên, hiện nay đa số không thấy hứng thú với những môn LLCT, cá biệt, không ít sinh viên còn có tâm lý coi các môn học này là môn phụ (thường xảy ra ở các trường khối kỹ thuật) nên ảnh hưởng xấu đến hoạt động dạy học LLCT. Trên cơ sở đó các tác giả đề xuất những biện pháp thiết thực góp phần cải thiện tình hình dạy học các môn LLCT trong thời gian tới. Quan tâm tới công tác quản lý hoạt động GDLLCT, đề tài NCKH Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác chỉ đạo, quản lý việc giảng dạy các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng của tác giả Nguyễn Tiến Hoàng (chủ nhiệm) [37] đã trực tiếp đề cập đến nghiệp vụ quản lý, chỉ đạo của các cơ quan chuyên môn ở Trung ương đối với hoạt động giảng dạy LLCT tại các trường đại học, cao đẳng. Các tác giả đề tài đã chỉ ra những mặt hạn chế trong công tác này như: sự thiếu thống nhất và đồng bộ giữa các cơ quan trong chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ; sự quan liêu trong công tác nắm bắt tình hình thực tiễn dạy học LLCT ở các trường đại học, cao đẳng; sự buông lỏng trong kiểm soát chất lượng dạy học; sự thiếu kiên quyết trong xử lý các vi phạm trong quá trình triển khai GDLLCT Từ đó, đề tài đưa ra những biện pháp hiệu quả để giải quyết tình trạng trên phù hợp với yêu cầu mới của công tác quản lý GDLLCT tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng hiện nay. Trong đề tài NCKH Chất lượng đào tạo, bồi dưỡng giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay của tác giả Trương Ngọc Nam (chủ nhiệm) [73], đã trình bày tổng quát về một số mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản trong đào tạo, bồi dưỡng giảng viên LLCT hiện nay; phân tích sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chất 9 lượng giảng viên LLCT; đề xuất các nhóm tiêu chí cụ thể, chi tiết, toàn diện nhằm nâng cao chất lượng của “sản phẩm đầu ra” ở các cơ sở đào tạo giảng viên LLCT. Trong đề tài NCKH KX 10-09 Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo giảng viên lý luận chính trị các trường đại học cao đẳng của tác giả Tô Huy Rứa (chủ nhiệm) [84]. Tác giả đã bắt đầu từ những bất cập, khó khăn trong triển khai thực hiện những vấn đề liên quan đến quá trình đào tạo giảng viên LLCT trong hệ thống trường Đảng, chỉ ra một số mâu thuẫn, bất cập về thời gian đào tạo; số lượng môn học chuyên ngành; thời gian dành cho kiến tập, thực tập; những bất cập giữa khối các học phần cơ bản với khối các học phần chuyên ngành; bất cập giữa lý thuyết với thực hành; Trên cơ sở yêu cầu và năng lực của từng cơ sở đào tạo, tác giả đề xuất bộ khung chương trình mới nhằm giải quyết một cách tổng thể những vướng mắc, hạn chế liên quan phục vụ cho đào tạo giảng viên LLCT hiện nay. Bàn về vấn đề phương pháp, đề tài NCKH Đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh các trường đại học, cao đẳng khối ngành kỹ thuật do Trường Đại học Bách khoa Hà Nội (chủ trì) [108], đã phân tích, đánh giá, làm rõ tính chất đặc thù của đối tượng sinh viên kỹ thuật (Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng, Đại học Thủy lợi, Đại học Giao thông vận tải) như tổng thời gian đào tạo kỹ sư dài tới 5 năm nhưng thời lượng dành cho học tập các môn LLCT lại không nhiều; tư duy logic thiên về khoa học tự nhiên nên thường thiếu sự “lãng mạn”, “bay bổng” của các lĩnh vực KHXH&NV; tâm lý ngại học LLCT chi phối đến hoạt động dạy – học. Bên cạnh đó, phương pháp dạy học còn nhiều bất cập, chưa phù hợp với môi trường và điều kiện giáo dục hiện đại; chưa áp dụng những công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại vào dạy học; còn nặng về truyền thụ kiến thức một chiều mà chưa chú trọng giáo dục phát triển kiến thức toàn diện, cùng những kỹ năng mềm cho sinh viên Từ đó, đề tài đưa ra những biện pháp cụ thể, thiết thực để đổi mới phương pháp của cả giảng viên và sinh viên khối trường kỹ thuật đối với các môn LLCT. Đề tài NCKH mã số KX 10-08 Đổi mới công tác giảng dạy các môn khoa học Mác - Lênin ở Việt Nam - Những vấn đề chung của Nguyễn Hữu Vui (chủ nhiệm) [121], đã trình bày một cách tổng quát về đội ngũ giảng viên Mác - Lênin, về những phương pháp giảng dạy truyền thống thường được sử dụng và khẳng định: 10 để đổi mới hoạt động GDLLCT một cách hiệu quả cần phải bắt đầu từ việc đổi mới tư duy, nhận thức của đội ngũ giảng viên về phương pháp giảng dạy. Do vậy, cần thường xuyên bồi dưỡng, nâng cao năng lực nhận thức, năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ giảng dạy, nhằm tác động tích cực ngược trở lại đối với việc đổi mới phương pháp giảng dạy các môn LLCT. Trong kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Quốc gia Nâng cao chất lượng đào tạo giảng viên lý luận chính trị ở Việt Nam hiện nay của Ban Tuyên giáo Trung ương – Bộ GD&ĐT – Học viện Báo chí và Tuyên truyền [6], đã tập trung nghiên cứu, bàn về ba vấn đề cơ bản sau: 1) Khẳng định vai trò, vị thế quan trọng của lực lượng giảng viên LLCT trong sự nghiệp cách mạng; 2) Đánh giá thực trạng và chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, bất cập trong quá trình đào tạo; 3) Đưa ra những biện pháp cụ thể để cải thiện chất lượng của hoạt động này trong các trường đại học hiện nay. Nội dung của Hội thảo đã cho thấy bức tranh khá toàn diện, nhất là những giải pháp khá phong phú, thiết thực gắn với hoạt động đào tạo giảng viên LLCT ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động này trong các cơ sở đào tạo đại học có liên quan. Cuốn kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Quốc gia Thực trạng và giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng giảng dạy và học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học và cao đẳng của Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương [7], các tác giả đã tập trung nghiên cứu, làm rõ các yếu tố liên quan đến hoạt động dạy và học các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phân tích thực trạng giảng dạy, học tập các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong các trường đại học, cao đẳng. Trên cơ sở đó, các tham luận đã đưa ra những biện pháp thiết thực để góp phần cải thiện chất lượng dạy học các môn LLCT, trong đó cải thiện chất lượng giảng viên được coi là điều kiện cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả giảng dạy các môn học khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Đại học Quốc gia Giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế của Đại học Quốc gia Hà Nội [23], tập hợp nhiều bài viết của các tác giả là những nhà nghiên cứu, chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực GDLLCT; trong đó, đề cập nhiều 11 nội dung khác nhau như: thực trạng hoạt động dạy học LLCT; những thành tựu và hạn chế, bất cập đang đặt ra; biện pháp điều chỉnh kết cấu nội dung, chương trình môn học, tài liệu và cách thức dạy học LLCT tại các trường đại học ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Kỷ yếu hội thảo khoa học cấp Quốc gia Nâng cao chất lượng giảng dạy, học tập các môn lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng của Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh – Bộ GD&ĐT – Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh [24], đã nêu bật những thành quả đáng khích lệ trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập các môn LLCT; làm sáng tỏ những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên cơ sở đó đi đến nhận định: Đội ngũ giảng viên và các nhà nghiên cứu về LLCT đã bám sát thực tiễn tình hình xã hội (nhất là các điểm nóng, những vấn đề bức xúc trong thực tiễn tổ chức triển khai hoạt động GDLLCT), chủ động tìm tòi, đổi mới về cả nội dung, chương trình, giáo trình, phương pháp dạy – học phù hợp với tình hình và điều kiện thực tiễn, gắn với định hướng đào tạo và NCKH của từng trường đại học. Việc học tập và nghiên cứu các môn LLCT của sinh viên bước đầu có sự chuyển biến theo chiều hướng tích cực như: chủ động học tập trên giảng đường; tự nghiên cứu tại thư viện, phòng truyền thống, các khu di tích và bảo tàng lịch sử cách mạng; tích cực trao đổi, thảo luận, tương tác với giảng viên khi tiếp nhận và xử lý thông tin trong quá trình học tập và rèn luyện. Tuy nhiên, hoạt động dạy – học các môn LLCT hiện vẫn còn bộ lộ không ít hạn chế, bất cập như: chương trình giảng dạy chưa thực sự tạo gắn kết, giữa nội dung giáo trình, tài liệu với cuộc sống, giữa lý luận với thực tiễn; còn tồn tại tư duy bảo thủ, giáo điều, những cách tiếp cận cũ trước những vấn đề mới, trước sự vận động, biến đổi nhanh chóng của thực tiễn nên chưa đáp ứng kịp đòi hỏi đặt ra của sự nghiệp đổi mới. Luận án Vấn đề chất lượng đội ngũ giảng viên lý luận chính trị trong các trường đại học, cao đẳng ở nước ta hiện nay, của tác giả Vũ Thanh Bình [12], trên cơ sở xác định giảng viên là bộ phận chủ đạo, giữ vai trò nòng cốt trong GDLLCT, luận án đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn có liên quan; xác định các tiêu chí bảo đảm chất lượng và sử dụng làm công cụ phục vụ cho việc đánh giá chất lượng giảng viên LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng. Từ đó, tác giả đưa ra hệ thống 12 quan điểm, biện pháp cải thiện chất lượng đội ngũ giảng viên LLCT trong các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam thời gian tới. Trong luận án Đảng lãnh đạo đào tạo giảng viên lý luận chính trị cho các trường đại học, cao đẳng từ năm 2001 đến năm 2015 [35], tác giả Nguyễn Thị Hiền đã sử dụng phương pháp lịch sử và logic để phân tích những yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng, những chủ trương chỉ đạo của Đảng về đào tạo giảng viên LLCT giai đoạn 2001-2006 làm tiền đề. Từ đó, phân tích tình hình mới, chủ trương cùng những quan điểm chỉ đạo của Đảng về đào tạo giảng viên LLCT cho các trường đại học, cao đẳng trong giai đoạn 2007-2015; rút ra những nhận xét và kinh nghiệm lãnh đạo quý báu về đào tạo giảng viên LLCT giai đoạn 2001-2015. Qua đó, khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng trong công tác GD&ĐT, trực tiếp là đào tạo giảng viên LLCT cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai. Luận án Xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị ở các trung, sư đoàn bộ binh Quân đội nhân dân Lào giai đoạn hiện nay của tác giả Salụi Sắcbunlon [87], đã đề cao vai trò của đội ngũ cán bộ chính trị ở cấp trung, sư đoàn trong Quân đội nhân dân Lào. Qua đó, khẳng định người thủ trưởng chính trị cần hội tụ đủ cả đức lẫn tài để xứng đáng là người chủ trì công tác đảng, công tác chính trị, cũng như tiến hành các hoạt động GDLLCT cho cấp dưới, nhằm bảo đảm thống nhất ý chí và hành động trong toàn đơn vị để có thể hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Luận án đã đưa ra được những biện pháp thiết thực (trong đó, có giải pháp nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, rèn luyện bản lĩnh chính trị ở mọi lúc, mọi nơi; thường xuyên đẩy mạnh học tập LLCT, cập nhật tình hình thời sự cho đội ngũ thủ trưởng chính trị) nhằm xây dựng đội ngũ thủ trưởng chính trị trong các đơn vị bộ binh cấp trung, sư đoàn của quân đội nhân dân Lào vững mạnh, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ bảo vệ đất nước trong tình hình mới. Trong luận án Đổi mới giáo dục lý luận chính trị cho cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh khu vực Nam Bộ [100], tác giả Lê Hanh Thông đã khảo sát thực trạng hoạt động GDLLCT ở một số trường chính trị trên địa bàn; đánh giá nguyên nhân mạnh, yếu ảnh hưởng tới chất lượng GDLLCT. Trên cơ sở đó, đưa ra một giải pháp thiết thực nhằm đổi mới những nội dung liên quan, góp phần cải thiện chất lượng GDLLCT trên địa bàn các tỉnh thành khu vực Nam bộ. 13 Luận án Phát huy vai trò đội ngũ giảng viên trong đổi mới giảng dạy các môn lý luận chính trị ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Quang Trung [107], đã khẳng định rõ: trong giai đoạn cách mạng hiện nay, đội ngũ giảng viên LLCT chính là nh... học xã hội và nhân văn quân sự trong quân đội ta hiện nay [71]; Xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học xã hội và nhân văn ở các học viện, trường sĩ quan quân đội trong giai đoạn hiện nay [114]; đã tập trung làm rõ vai trò của chủ thể giáo dục, đó chính là đội ngũ cán bộ KHXH&NV cũng như đội ngũ giảng viên LLCT trong hoạt động GDLLCT – Đây là lực lượng quan trọng nhất, có ý nghĩa sống còn đối với việc định hướng chính trị, tư tưởng, hình thành niềm tin, bản lĩnh cho học viên sĩ quan trong quân đội. Đồng thời, làm rõ những căn cứ lý luận và thực tế của việc xây dựng, phát triển, phát huy nguồn nhân lực KHXH&NV, cũng như đội ngũ giảng viên LLCT trong các học viện, nhà trường quân đội. Qua đó, đề xuất những giải pháp thiết thực nhằm góp phần xây dựng, phát triển, đội ngũ “nòng cốt” này trong sự nghiệp GD&ĐT hiện nay. Luận án liên quan đến phương pháp GDLLCT trong các HV-NT quân đội thời gian gần đây là: Vận dụng tư tưởng “lấy tự học làm cốt” của Hồ Chí Minh vào bồi dưỡng phương pháp học tập cho học viên cấp phân đội ở các nhà trường quân đội hiện nay [88] đã dựa trên nền tảng lý luận là quan điểm của Hồ Chí Minh về tự học để đánh giá thực trạng hoạt động này của học viên sĩ quan trong quá trình đào tạo tại các nhà trường quân đội. Trên cơ sở những yêu cầu bức thiết đang đặt ra đối với việc đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường hoạt động tự học, tự nghiên cứu 26 của học viên, tác giả đã vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh về tự học vào đề xuất những biện pháp cụ thể để nâng cao kỹ năng học tập cho học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội trong các nhà trường quân đội hiện nay. Bàn sâu về hoạt động đào tạo ở lĩnh vực KTQS, bài báo “Nâng cao chất lượng đào tạo kỹ sư quân sự, cung cấp ngồn nhân lực chất lượng cao cho quân đội và đất nước” của tác giả Nguyễn Công Định [31] đã xuất phát từ những tác động của CMCN 4.0 cũng như của nền giáo dục thông minh đang đặt ra cho hệ thống các HV-NT KTQS để nhận thức rõ yêu cầu bức thiết trong đổi mới hoạt động đào tạo của Học viện để đáp ứng nhiệm vụ của một trường đại học nghiên cứu hiện nay. Từ đó, tác giả đưa ra 5 biện pháp cụ thể liên quan trực tiếp đế quá trình đào tạo đội ngũ kỹ sư các chuyên ngành kỹ thuật khác nhau phục vụ hoạt động nghiên cứu phát triển, sản xuất chế thử, chuyển giao công nghệ, hợp tác và hội nhập quốc tế. Trong bài viết về “Xây dựng nhà trường thông minh, nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ quân đội trước tác động từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4” của tác giả Ngô Xuân Lịch [54], đã khái quát kết quả xây dựng và hoạt động của hệ thống nhà trường quân đội từ khi ra đời (năm 1945) đến nay và sự tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0 hiện nay. Trên cơ sở đó, đưa ra mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản để định hướng xây dựng các trường đại học thông minh theo yêu cầu hiện đại hóa quân đội trong tình hình mới. Bài báo “Nâng cao hơn nữa chất lượng giáo dục lý luận chính trị trong các nhà trường quân đội” của tác giả Phạm Hồng Thanh [92], đã đề cập việc vận dụng nguyên tắc giáo dục của Hồ Chí Minh vào công tác GDLLCT tại các học viện, nhà trường trong quân đội; trình bày khái quát tình hình GDLLCT hiện tại với những nội dung, biện pháp đổi mới đã được áp dụng cho các đối tượng học viên khác nhau trong từng cơ sở đào tạo. Từ đó, tác giả đưa ra những biện pháp cụ thể nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động GDLLCT tại các nhà trường quân đội trong thời gian tới. Nhóm các bài báo về công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quân đội: “Nâng cao bản lĩnh chính trị của học viên tốt nghiệp các học viện, trường quân đội trước tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư”[11]; “Tiếp tục điều chỉnh quy trình, chương trình, nội dung đào tạo trong các nhà trường quân đội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới”[25]; “Sức mạnh chính trị - tinh thần: 27 Nhân tố quyết định làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975”[53]; “Phát huy truyền thống anh hùng xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”[80]; đã tập trung vào việc khẳng định vị trí, vai trò rất quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho quân nhân, nhất là GDLLCT cho đội ngũ sĩ quan tương lai của quân đội. Đồng thời, nhấn mạnh vai trò, cũng như thực hiện công tác đãi ngộ giảng viên, cán bộ quản lý học viên để họ cống hiến hết mình cho sự nghiệp GD&ĐT nói chung, đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt cho quân đội nói riêng. Có thể nhận thấy, các công trình nêu trên ít nhiều đã đề cập, bàn đến hoạt động GD&ĐT nói chung, GDLLCT nói riêng trong các HV-NT trong quân đội. Một số công trình đã bàn trực tiếp đến hoạt động GDLLCT trong các HV-NT KTQS với những khía cạnh, nội dung, cấp độ khác nhau, song tựu trung lại đều hướng tới việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT vào nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo sĩ quan trong các nhà trường quân đội hiện nay. Tóm lại, tình hình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT và vận dụng vào hoạt động GDLLCT gần đây đã được đẩy mạnh và đạt được những thành quả nhất định, nhất là ở phạm vi trong các HV-NT quân sự. Những công trình nghiên cứu liên quan đã bước đầu làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh cùng giá trị của nó đối với hoạt động GDLLCT. Đồng thời, trên cơ sở bám sát thực tế của công tác này, các học giả đã vận dụng sáng tạo những quan điểm, tư tưởng đó vào thực tiễn nhằm không ngừng nâng cao chất lượng GDLLCT, nhất là chất lượng dạy – học các môn LLCT. Tuy chưa có nhiều công trình trực tiếp nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT trong các HV-NT KTQS, song cũng đã gợi mở cho tác giả Luận án hướng nghiên cứu mới, nhằm nâng cao chất lượng GDLLCT trong các HV-NT KTQS trong thời gian tới. 1.3. NHẬN XÉT VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU ĐÃ CÔNG BỐ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CHO LUẬN ÁN 1.3.1. Nhận xét khái quát về các công trình nghiên cứu Thứ nhất, đối với các công trình nghiên cứu về giáo dục lý luận chính trị Các công trình nghiên cứu cả trong và ngoài nước đã có sự đột phá mạnh mẽ về tư duy trước những vấn đề nóng hổi, bức xúc đang đặt ra trong thực tiễn cuộc 28 sống với những mâu thuẫn nội tại, những vướng mắc nảy sinh trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước và các đoàn thể xã hội đòi hỏi cần phải giải quyết kịp thời cũng trong quá trình đổi mới. Thông qua hoạt động GDLLCT trong các nhà trường thuộc hệ thống trường Đảng từ Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, các học viện khu vực, các trường chính trị tỉnh (thành phố) cho đến các trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện (quận) những kiến thức lý luận cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; những thông tin thời sự về tình hình chính trị - xã hội của đất nước và quốc tế; kinh nghiệm trong thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động cách mạng cả trong và ngoài nước đã được trang bị cho đội ngũ cán bộ (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp), đảng viên, giúp cho đội ngũ này thấm nhuần lý luận để vận dụng vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra. Đặc biệt, trong các công trình nghiên cứu liên quan đến hoạt động GDLLCT ở các cơ sở giáo dục đại học, các nhà khoa học, các nhà giáo dục đã đi sâu tìm hiểu thực trạng của nhà trường, đơn vị mình quan tâm để từ đó xem xét, đánh giá, đề xuất những biện pháp thiết thực để từng bước cải thiện hiệu quả hoạt động GDLLCT cho phù hợp với từng đối tượng đào tạo. Hoạt động nghiên cứu này chủ yếu hướng tới việc khẳng định rõ hơn vị thế của GDLLCT trong đào tạo đại học, cao đẳng hiện nay; vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và một số quan điểm lý luận mới của Đảng ta cũng như của những học giả có tư tưởng tiến bộ trên thế giới để đề xuất phương hướng, giải pháp đổi mới về nội dung, chương trình, phương pháp GDLLCT cho hiệu quả, thiết thực hơn. Một số công trình đã quan tâm giải quyết những vấn đề mang tính vĩ mô của lĩnh vực GD&ĐT hiện nay; trong đó, nhấn mạnh vị trí, vai trò của GD&ĐT; chú trọng xây dựng triết lý giáo dục; đổi mới tư duy trong GD&ĐT một số công trình đề cập đến hoạt động lý luận, tư tưởng, cũng như hoạt động GDLLCT; trong đó, đã đề cập đến các khâu trong quy trình công tác cán bộ đối với đội ngũ cán bộ, giảng viên trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy LLCT trong các cơ sở giáo dục đại học Việc đổi mới phương pháp dạy - học LLCT trong các trường đại học, cao đẳng (nhất là khối những trường đào tạo ra đội ngũ giảng viên LLCT) theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của sinh viên trong quá trình nhận thức theo mô hình học chế tín 29 chỉ hiện nay cũng đã được quan tâm, áp dụng những công cụ tư duy tiên tiến, mô hình nhà trường thông minh hay trang thiết bị hiện đại để trợ giúp cho hoạt động GDLLCT được hiệu quả hơn Các công trình này đều hướng tới quán triệt mọi đường lối, chỉ thị, nghị quyết của Đảng về đào tạo nhằm xây dựng nền móng vững chắc, coi đó là yếu tố căn bản nhất, có ý nghĩa quyết định đến chất lượng GD&ĐT hiện nay, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thứ hai, đối với các công trình nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục lý luận chính trị Tùy theo mục tiêu nghiên cứu của mình, các công trình này đã ít nhiều đề cập các khái niệm liên quan như “lý luận”, “lý luận chính trị”, “giáo dục”, “giáo dục lý luận chính trị”, “chất lượng giáo dục lý luận chính trị”, “hiệu quả giáo dục lý luận chính trị”; đều gắn với các đối tượng người học khác nhau như cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; công chức, viên chức công tác trong các cấp ủy đảng, chính quyền tham gia học tập cao cấp và trung cấp LLCT trong hệ thống các trường chính trị; học viên, sinh viên các trường đại học, cao đẳng; học viên các trường sĩ quan quân đội; hạ sĩ quan, chiến sĩ ở các đơn vị trong quân đội Song tất cả đều cơ bản thống nhất với nhau về nội hàm của từng khái niệm liên quan. Những công trình nghiên cứu về GDLLCT theo tư tưởng Hồ Chí Minh đã bước đầu làm sáng tỏ nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về lý luận, LLCT, GDLLCT, đó là cơ sở để nghiên cứu sinh tham khảo, xây dựng khái niệm công cụ phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu của mình. Mặc dù vậy, hiện nay chưa thấy có công trình nào nói đến khái niệm Đổi mới GDLLCT trong các HV-NT KTQS hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh - Khái niệm trung tâm của luận án này. Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT đã được một số học giả nghiên cứu, trình bày trong một số bài tham luận tại hội thảo khoa học có tính chất học thuật về Hồ Chí Minh học và đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên ngành thuộc lĩnh vực LLCT. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đã thống nhất với nhau về các vấn đề liên quan đến những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về GDLLCT. Qua đó, khẳng định sự đóng góp lớn lao của Hồ Chí Minh đối với việc xây dựng hệ thống LLCT của Đảng và Nhà nước ta, xác định rõ hơn những vấn đề 30 liên quan trên các khía cạnh cụ thể trong quá trình giáo dục, truyền bá LLCT cho các đối tượng liên quan trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước và xã hội. Thứ ba, đối với các công trình nghiên cứu vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn giáo dục lý luận chính trị hiện nay Các bài viết đã đứng trên các quan điểm lý luận của Hồ Chí Minh về GDLLCT để khai thác các góc độ khác nhau của hoạt động này gắn với đặc điểm của từng đối tượng người học theo các ngành nghề, lĩnh vực cụ thể. Các công trình ở nhóm này đã hệ thống hóa quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT; đồng thời, vận dụng sáng tạo nó vào giải quyết những vấn đề đang vướng mắc, tồn tại liên quan đến hoạt động GDLLCT thông qua những giải pháp cụ thể, thiết thực gắn với từng trường, từng chuyên ngành, từng lĩnh vực đào tạo. Qua đó, giúp hình thành nhân cách của sinh viên trong quá trình đào tạo ở bậc đại học. Việc vận dụng các quan điểm của Hồ Chí Minh về GDLLCT vào thực hiện nhiệm vụ GDLLCT của tổ chức, cơ quan hay đơn vị mình cũng đã được chú trọng. Trong đó, một số công trình cũng đã gắn với thực tiễn của hoạt động GDLLCT trong quân đội, đã đề cập việc đổi mới GDLLCT, song chủ yếu mới chỉ bàn đến việc đổi mới về phương pháp giảng dạy và học tập mà chưa đi sâu, bàn nhiều đến việc đổi mới nội dung, chương trình, giáo trình, tài liệu và các yếu tố bảo đảm khác Nguyên nhân là vì chương trình và nội dung GDLLCT trong các HV-NT quân đội được thiết kế chủ yếu dựa trên quy định của Tổng cục Chính trị. Trước yêu cầu đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII Đảng Cộng sản Việt Nam, hiện đã có một số cuộc hội thảo liên quan đến đổi mới GDLLCT được tổ chức cấp quốc gia hoặc ở cấp thấp hơn là tại các cơ quan cấp tổng cục của Bộ Quốc phòng hoặc Bộ Công an, hay do các HV-NT chuyên về chính trị (như Học viện Chính trị/ Bộ Quốc phòng, Trường Sĩ quan Chính trị/ Bộ Quốc phòng, Học viện Chính trị/ Bộ Công an) hoặc một số báo, tạp chí lớn đứng ra tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, các HV-NT KTQS thường ít tổ chức, ít tham gia những hoạt động mang tính học thuật chuyên sâu về lĩnh vực LLCT (nhất là ở khu vực các trường sĩ quan liên quan đến lĩnh vực KTQS) - Đây chính là một trong những điểm hạn chế cơ bản của 31 hoạt động NCKH về LLCT ở khu vực này thời gian vừa qua. Mặt khác, đội ngũ chuyên gia, nhà giáo hoạt động ở lĩnh vực LLCT trong các HV-NT KTQS còn mỏng, một số đồng chí chuyên môn chưa thật sâu nên hoạt động GDLLCT ở “khu vực” này còn hạn chế, chưa quan tâm đúng mức tới ngành KHXH&NV nói chung, lĩnh vực LLCT nói riêng để tập trung đổi mới cho thiết thực, hiệu quả. Như vậy, nhóm những công trình nghiên cứu này đã đề xuất phương hướng, biện pháp thiết thực liên quan chủ yếu đến phương pháp GDLLCT cho các đối tượng học viên, sinh viên để phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và điều kiện của từng đối tượng. Các kết quả nghiên cứu nêu trên mới chủ yếu đề cập đến hoạt động GDLLCT ở các cơ sở đào tạo đại học trong quân đội, chưa đi sâu vào vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong quá trình GDLLCT tại các HV-NT KTQS. Do vậy, đây là cơ sở thực tiễn quan trọng, là “mảnh đất hiện thực” để tác giả thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án đề ra. 1.3.2. Những vấn đề đặt ra cho luận án cần tiếp tục nghiên cứu Qua khảo cứu về các công trình đã được công bố có liên quan trong thời gian gần đây, tác giả Luận án nhận thấy tuy đã đạt được những kết quả khả quan, rất đáng trân trọng, song vẫn đang tồn tại không ít những vấn đề bất cập, hạn chế chứa đựng những mâu thuẫn liên quan đến chất lượng GDLLCT mà các công trình này chưa đi sâu giải quyết một cách triệt để, đó là: Thứ nhất, về nhận thức chính trị tư tưởng Sự không thống nhất giữa yêu cầu nâng cao trình độ LLCT và giác ngộ chính trị của cả chủ thể lẫn đối tượng GDLLCT tại các trường đại học nói chung, các trường sĩ quan trong quân đội nói riêng để mỗi sinh viên, học viên khi tốt nghiệp phải “vừa hồng, vừa chuyên”, có đủ khả năng tự “miễn dịch” về chính trị tư tưởng, tích cực và thường xuyên tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng chính trị (chủ yếu trên các mạng xã hội và truyền thông) với sự nhận thức lệch lạc, mơ hồ về chính trị, đề cao thuyết “kỹ trị” của một số cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên; giữa sự lạc hậu của lý luận với thực tiễn sinh động song khá phũ phàng (bởi những yếu tố tiêu cực trong xã hội đang có xu thế ngày càng nhiều và diễn biến hết sức phức tạp) làm cho không ít cán bộ, giảng viên, học viên, sinh viên và quần chúng nhân dân bị hoang mang, dao động, thậm chí mất niểm tin vào sự nghiệp đổi mới. 32 Thứ hai, về xây dựng lực lượng nòng cốt trong giáo dục lý luận chính trị Bất cập giữa nhu cầu củng cố, kiện toàn lực lượng giảng viên LLCT về cả số lẫn chất lượng với tình trạng thả nổi chất lượng đào tạo do thiếu một hệ thống quản lý và đánh giá thống nhất, thiếu cơ chế sàng lọc, thẩm định thực sự hiệu quả, cùng những hạn chế trong đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này những năm gần đây; giữa việc không ngừng nâng cao chất lượng GDLLCT với sự lơ là, quan liêu, thiếu trách nhiệm của một bộ phận giảng viên và đội ngũ cán bộ ở các cơ quan chức năng chậm được khắc phục và giải quyết triệt để; giữa yêu cầu về phẩm chất, năng lực ngày càng cao và theo chuẩn quốc tế với chính sách đãi ngộ chưa tương xứng với đóng góp và lao động chất xám của các nhà khoa học đang trực tiếp nghiên cứu, giảng dạy LLCT hiện nay. Thứ ba, về nội dung chương trình Mâu thuẫn giữa tính khép kín và công thức hóa một cách máy móc nội dung học thuyết Mác - Lênin trong giáo trình đã cũ với sự hội nhập, phát triển đa dạng, phong phú của các lý thuyết, chủ thuyết, tư tưởng mới trong điều kiện bùng nổ thông tin như hiện nay; giữa nhu cầu của học viên trong các HV-NT KTQS đang cần tăng cường, phát triển tư duy LLCT trong điều kiện mới với sự giảm tải chương trình và nội dung các môn LLCT (vì thời gian đào tạo bị rút ngắn); giữa nhu cầu xem xét một cách khoa học toàn bộ tinh hoa của nhân loại với tư duy “phân tuyến” một cách cứng nhắc (một bên là CNXH, còn bên kia là Chủ nghĩa tư bản) nên khó có được sự nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, để từ đó chắt lọc lấy những “hạt nhân hợp lý” trong toàn bộ di sản tư tưởng lý luận đồ sộ của nhân loại khi xây dựng chương trình GDLLCT. Thứ tư, về phương pháp giáo dục lý luận chính trị Sự bất cập giữa phương pháp dạy học theo mô hình cổ điển, khô khan, thông tin một chiều, khép kín, khối lượng kiến thức ít, tốc độ chậm với nhu cầu hội nhập, tiếp cận thông tin nhanh, chính xác để phát triển năng lực toàn diện; giữa khối lượng kiến thức mà mỗi học viên phải học tập, trau dồi ngày càng lớn (nhất là những kiến thức LLCT nền tảng) với những công cụ hỗ trợ tự học chưa tương xứng, phương pháp dạy học chậm và chưa thường xuyên cải tiến, đổi mới, trong khi thời gian dạy học có xu hướng bị giảm thiểu, môi trường và điều kiện GDLLCT không 33 đồng đều, thời lượng tham quan dã ngoại, trải nghiệm thực tiễn ngày càng bị thu hẹp; giữa yêu cầu đạt chuẩn đầu ra ngày càng cao theo những tiêu chí quốc tế của “sản phẩm đào tạo đại học” với sự yếu kém, tiêu cực trong hoạt động thanh tra, giám sát đào tạo, cũng như đánh giá chất lượng GDLLCT. Thứ năm, về điều kiện bảo đảm và môi trường giáo dục lý luận chính trị Mâu thuẫn giữa điều kiện vật chất và hạ tầng kỹ thuật, CNTT còn thiếu thốn, lạc hậu, chưa đồng bộ với yêu cầu tự động hóa cao độ của nhà trường thông minh để phát huy tính tích cực, chủ động của người học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Bất cập giữa những vấn đề mặt trái, tiêu cực trong môi trường tự nhiên – xã hội và KHCN với yêu cầu định hướng chính trị, tư tưởng ngày càng cao đối với học viên, sinh viên trong bối cảnh phức tạp hiện nay. Trên cơ sở phân tích, đánh giá về những vấn đề kết quả đạt được của các công trình trước đây; thấy được những mâu thuẫn nội tại cần giải quyết, những vấn đề còn chưa rõ cần tiếp tục làm sáng tỏ và những “khoảng trống” trong nghiên cứu cần phải “lấp đầy”, tác giả Luận án sẽ tiếp thu, kế thừa những thành tựu liên quan đến GDLLCT và yêu cầu đổi mới GDLLCT trong các HV-NT KTQS hiện nay để bước đầu hình thành định hướng, từ đó đưa ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu theo mục đích đã xác định. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Lý luận nói chung, LLCT nói riêng có vị trí, vai trò cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng và đời sống xã hội. Đối với các cơ sở giáo dục đại học, GDLLCT là nội dung cơ bản trong chương trình đào tạo, nó không chỉ trang bị nền tảng tư tưởng lý luận, mà qua đó hình thành niềm tin, lý tưởng cao đẹp cho học viên, sinh viên. Qua khảo cứu, khá nhiều công trình nghiên cứu trên cơ sở khẳng định vai trò quan trọng của LLCT và GDLLCT, đã tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất một số biện pháp hữu hiệu, góp phần cải thiện hiệu quả GDLLCT cho các đối tượng khác nhau. Trong các công trình đó, tùy theo đối tượng, quy mô, phạm vi nghiên cứu... những công trình này đã làm sáng tỏ vai trò của các chủ thể, nhất là sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động GDLLCT trong các cơ sở giáo dục đại học. 34 Một số công trình đi sâu làm rõ nội dung liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT dưới dạng các tham luận khoa học, các đề tài NCKH hay các bài báo công bố trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, phần nào làm sáng tỏ: mục đích; vị trí, vai trò; chủ thể, đối tượng; nội dung; nguyên tắc; phương pháp; môi trường và điều kiện đảm bảo cho GDLLCT. Tuy hiệu quả của các công trình này đạt được ở mức độ khác nhau, song đều thống nhất khẳng định nội dung cơ bản và giá trị trường tồn, cùng ý nghĩa thiết thực của tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng. Một số công trình đề cập đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn GDLLCT cho các đối tượng khác nhau ở cả trong lẫn ngoài quân đội đã đưa ra một số biện pháp cụ thể gắn với đặc điểm của từng đối tượng người học liên quan đến các lĩnh vực khác nhau. Tuy chưa có tác giả nào đề cập đến việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về GDLLCT trong các HV-NT KTQS một cách trực tiếp, toàn diện, hệ thống, song bước đầu đã đề cập đến các yếu tố liên quan, các mối quan hệ tác động qua lại, những mâu thuẫn nội tại cần giải quyết và những vấn đề cần tiếp tục làm rõ về hoạt động GDLLCT. Trong bối cảnh tình hình chính trị thế giới, khu vực diễn ra hết sức phức tạp, khó lường với nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều bất cập liên quan đến lĩnh vực GD&ĐT nói chung, GDLLCT nói riêng đang đặt ra đòi hỏi cần phải được đổi mới kịp thời, những thành tựu nghiên cứu đã đạt được sẽ tạo cơ sở vững chắc để tác giả Luận án tiếp thu, kế thừa và phát triển nhằm hoàn thành mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra. 35 Chương 2 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ GIÁO DỤC LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ 2.1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN 2.1.1. Khái niệm “giáo dục lý luận chính trị” Khái niệm “lý luận” Lý luận là sản phẩm của quá trình nhận thức gián tiếp mang tính khái quát thế giới của chính con người. Thực chất lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát ở trình độ cao trong tư duy của con người, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và mối liên hệ cơ bản của hiện thực. Lý luận là hình ảnh chủ quan của những nguyên lý, quy luật khách quan trong thực tiễn đời sống. “Lý luận” đã được đề cập đến trong nhiều loại từ điển khác nhau như: Từ điển Giáo dục học quân sự [15]; Từ điển bách khoa Việt Nam [45]; Từ điển tiếng Việt [81; 127]; Từ điển triết học [72; 90]. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu, xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính” [63, tr.273]. Một cách định nghĩa khác được Hồ Chí Minh nêu trong Diễn văn khai mạc lớp học lý luận khóa I Trường Nguyễn Ái Quốc (7/9/1957): “Lý luận là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là tổng hợp những tri thức về tự nhiên và xã hội tích trữ lại trong quá trình lịch sử” [68, tr.96]. Lý luận Mác - Lênin, theo Người là “Khoa học về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội; khoa học về cách mạng của quần chúng bị áp bức và bị bóc lột; khoa học về thắng lợi của chủ nghĩa xã hội ở tất cả các nước; khoa học về xây dựng chủ nghĩa cộng sản” (Xtalin)” [68, tr.96]. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau, song đều chung một nhận thức đó là lý luận được khái quát từ thực tiễn, song ở trình độ cao hơn kinh nghiệm nên nó mang tính trừu tượng nên gắn với bản chất và các vấn đề mang tính quy luật, tính chân lý rõ hơn, vì thế phạm vi áp dụng cũng rộng hơn so với tri thức kinh nghiệm. Từ các khái niệm nêu trên, tác giả cho rằng: Lý luận là sản phẩm tư duy trừu tượng của con người khi nhận thức về thế giới xung quanh. Nó bao gồm một hệ 36 thống các khái niệm, phạm trù, quy luật được khái quát từ thực tiễn của con người trong quá trình lịch sử, chứa đựng thông tin thể hiện quy luật vận động của sự vật, hiện tượng. Khái niệm “lý luận chính trị” Có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này; Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “LLCT được hiểu là những vấn đề lý luận gắn liền với cuộc đấu tranh giữa các giai cấp trong xã hội có giai cấp, xung quanh vấn đề giành và giữ chính quyền nhà nước” [4, tr.7]. Theo đó, LLCT là một thuật ngữ ghép dùng để chỉ một hệ thống lý luận trong lĩnh vực chính trị đó là: lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước... Bàn về khái niệm này, trong bài viết “Vấn đề chính xác hóa khái niệm giáo dục các môn lý luận chính trị” tác giả đã nhấn mạnh: LLCT là một phạm trù của KHXH&NV dùng để chỉ “hệ thống những nguyên lý, những quy luật về sự hoạt động hay các cuộc đấu tranh chính trị của một tổ chức chính trị hay một chính đảng mà sự hoạt động hay các cuộc đấu tranh này là sự phản ánh mối quan hệ giữa các nhóm xã hội trong quá trình giành, giữ, sử dụng, xây dựng và hoàn thiện chính quyền nhà nước” [106, tr.66]. Như vậy có thể hiểu: Lý luận chính trị là một hệ thống quan điểm mang tính quy luật phản ánh tư tưởng của giai cấp cầm quyền dùng để định hướng, quản lý, điều hành xã hội. Hệ thống quan điểm chính thống hiện nay bao gồm: chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. Khái niệm “giáo dục” Thuật ngữ “giáo dục” được dùng khá phổ biến trong sinh hoạt, cuộc sống hàng ngày; có thể được dùng để diễn đạt theo nghĩa thông thường và nghĩa khoa học hay theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, “giáo dục” là tiến trình xây dựng nhân cách, là hoạt động có kế hoạch và được triển khai qua sự phối hợp giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm đạt được mục đích đề ra. Giáo dục theo nghĩa rộng được thực hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau như giáo dục thể chất (sức khỏe, y tế, thể chất, thể 37 hình); giáo dục tư tưởng, tinh thần (niềm tin, ý chí, tình cảm, văn hóa, nghệ thuật); giáo dục tri thức (tự nhiên, xã hội, kỹ thuật, chuyên ngành). Theo nghĩa hẹp, “giáo dục” thể hiện những biện pháp cụ thể, thường xuyên nhằm hình thành lý tưởng, niềm tin, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực đạo đức, tư tưởng chính trị, thẩm mỹ, Trong Từ điển tiếng Việt, “giáo dục” là động từ dùng để chỉ: “Hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra (giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục lao động)” [119, tr.394]. Còn “giáo dục” là danh từ dùng để chỉ: “Hệ thống các biện pháp và cơ quan giáo dục – giáo dục của một nước (nền giáo dục, ngành giáo dục)” [119, tr.394]. Theo Từ điển Giáo dục học quân sự thì “Giáo dục” là động từ dùng để chỉ: Hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu giáo dục, chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động, sản xuất và đời sống xã hội [15, tr.102]. Theo quan điểm của Hồ Chí Minh, giáo dục là “bồi dưỡng thế hệ công dân, cán bộ sau này phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới” [67, tr.344]; hoặc “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng Giáo dục nhằm đào tạo những người kế tục sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta” [70, tr.508], Tuy không đưa ra khái niệm cụ thể của “giáo dục”, song Hồ Chí Minh thiên về nghĩa rộng của thuật ngữ này, thể hiện tính mục đích và tính định hướng chính trị rất rõ đối với hoạt động giáo dục – Có nghĩa là thiên về GDLLCT. Như vậy: Giáo dục là một hoạt động sử dụng những tri thức, phương pháp, kỹ năng cụ thể một cách có tổ chức của hệ thống giáo dục tác động lên cả thể chất và tinh thần của người học nhằm làm cho làm cho họ dần hình thành nhân cách theo mục đích, yêu cầu nhất định. 38 Khái niệm “giáo dục lý luận chính trị” Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng: “GDLLCT là quá trình phổ biến, truyền bá một cách cơ bản, có hệ thống nền tảng tư tưởng, cương lĩnh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nâng cao nhận thức lý luận” [5, tr.8]. Giúp trang bị thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cách mạng, phương pháp luận duy vật biện chứng, niềm tin vào mục tiêu lý tưởng của Đảng, bản lĩnh, đạo đức cho các đối tượng liên quan. Từ đây, có thể hiểu GDLLCT là hoạt động có chủ đích của Đảng nhằm xác lập thế giới quan khoa học trên lập trường của giai cấp công nhân, là một phần quan trọng trong công tác tư tưởng lý luận của Đảng. Quan điểm của một số tác giả khác cũng thống nhất cho rằng GDLLCT là quá trình đưa lý luận Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và luật pháp của Nhà nước vào quần chúng nhân dân bằng các phương tiện thích hợp. Qua đó, trang bị thế giới quan khoa học, nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa, phương pháp luận biện chứng; hình thành niềm tin, lý tưởng cao đẹp vào sự nghiệp cách mạng, tính tích cực nhận thức của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân. Có thể nhận thấy, dù cách tiếp cận khác nhau, song các tác giả đã chỉ ra những mặt, những nội dung cụ thể gắn với từng đối tượng của GDLLCT. Tuy nhiên, các quan niệm trên thường thiên về mặt “chính trị” nhiều hơn mà ít đề cập đến tính “lý luận”, nên còn thể hiện tính xuôi chiều, áp đặt quan điểm của người dạy cho người học ...học khác nhau); 30 giảng viên, báo cáo viên; 30 cán bộ quản lý học viên và 40 cán bộ, trợ lý, nhân viên chuyên môn ở các cơ quan chính trị, đào tạo, khoa học quân sự, khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo. Đối với nhóm các trường sĩ quan đào tạo về chuyên môn, kỹ thuật trong Quân đội sử dụng 1080 phiếu, mỗi trường sĩ quan khảo sát 200 học viên đào tạo dài hạn bậc đại học (với đại diện của các khóa, các chuyên ngành học khác nhau); 20 giảng viên, báo cáo viên; 20 cán bộ quản lý học viên và 30 cán bộ ở các cơ quan chính trị, đào tạo, khoa học quân sự, khảo thí và đảm bảo chất lượng đào tạo. PL-43 5. Nội dung khảo sát Lý luận chính trị được xác định là nội dung giáo dục quan trọng trong chương trình đào tạo ở bậc đại học. Trong chương trình đào tạo sĩ quan cấp phân đội ở các HV-NT KTQS thì nội dung GDLLCT cơ bản được thể hiện qua 15 môn học, trong đó có 8 môn chủ yếu là: 1) Triết học Mác-Lênin; 2) Kinh tế chính trị học Mác-Lênin; 3) Chủ nghĩa xã hội khoa học; 4) Tư tưởng Hồ Chí Minh; 5) Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; 6) Nhà nước pháp luật; 7) Tâm lý học và giáo dục học quân sự; 8) Công tác đảng, công tác chính trị. Trên cơ sở đó, phiếu khảo sát được xây dựng với 3 mục là: 1) Thực trạng GDLLCT tại nhà trường hiện nay; 2) Yêu cầu, phương hướng, nguyên tắc, giải pháp đổi mới GDLLCT tại nhà trường trong thời gian tới; 3) Một số thông tin cá nhân. Trong mục 1, tác giả đưa ra 11 tiểu mục để khảo sát về mục đích, vai trò, chương trình, nội dung, phương pháp, tự đánh giá về hoạt động liên quan của bản thân đối tượng, hình thức thi, hình thức giáo dục bổ trợ, điều kiện đảm bảo, xác định những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng, nguyên nhân dẫn đến kết quả GDLLCT trong 5 năm gần đây. Trong mục 2, tác giả đưa ra 4 tiểu mục để khảo sát về yêu cầu đổi mới, phương hướng đổi mới, nguyên tắc, các nhóm giải pháp đổi mới GDLLCT hiện nay. Trong mục 3, tùy theo từng đối tượng khảo sát mà tác giả đưa ra những nội dung khác nhau để nắm bắt một số thông tin cá nhân phục vụ cho phân tích, đánh giá kết quả GDLLCT được chính xác hơn đối với từng đối tượng. 6. Phương pháp khảo sát Trên cơ sở phương pháp điều tra xã hội học, tác giả đã xây dựng bảng hỏi bằng hình thức trắc nghiệm khách quan. Mỗi vấn đề khảo sát được chia thành nhiều câu hỏi chi tiết và tương ứng với nó là 4 phương án trả lời để bảo đảm cấp độ đánh giá cho chính xác. Ngoài ra còn có thêm phương án trả lời khác ngoài các phương án có sẵn để đối tượng trả lời ghi thêm vào (nếu có). Quá trình thực hành khảo sát, sau khi được lãnh đạo, chỉ huy cùng cơ quan chức năng ở từng HV-NT KTQS cho phép, giới thiệu, tác giả đã trực tiếp gặp gỡ từng nhóm đối tượng khảo sát liên quan để trao đổi, nêu mục đích, đặt vấn đề, giới thiệu khái quát về nội dung và hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trắc nghiệm trong phiếu khảo sát. Quá trình làm việc với cả 4 đối tượng liên quan, tác giả Luận án nhận thấy đại đa số đều có nhận thức tích cực và khá quan tâm đến GDLLCT trong học viện, PL-44 nhà trường của mình; tất cả đều tham gia với thái độ nghiêm túc, nhiệt tình và trách nhiệm; những nội dung câu hỏi trong phiếu khảo sát được tích hoặc điền đầy đủ, rõ ràng điều đó tạo thuận lợi cho khâu cập nhật và xử lý số liệu sau này. Phiếu khảo sát sau khi các đối tượng trả lời được tác giả trực tiếp thu hồi, quản lý, và tập trung xử lý. Quá trình nhập dữ liệu và phân tích, đánh giá dữ liệu, tác giả đã sử dụng phần mềm SPSS-V16.0 là phần mềm chuyên dụng để xử lý số liệu thống kê xã hội học nhằm bảo đảm độ khách quan, chính xác, tin cậy cao nhất cho kết quả khảo sát. Kết quả phân tích số liệu khảo sát sẽ được tính theo tỷ lệ % tương ứng với từng nội dung câu hỏi dùng riêng cho từng đối tượng khảo sát cụ thể hoặc dùng chung cho tổng số 1480 phiếu khảo sát. 7. Đánh giá chung về kết quả khảo sát Về về tổng thể, kết quả khảo sát cho thấy nhận thức của đa số đối tượng được khảo sát là thống nhất với nhau. Kết quả trả lời trong mỗi phiếu khảo sát cũng phản ánh sự thống nhất về nội dung các vấn đề liên quan đến GDLLCT, cũng như tính logic giữa các vấn đề nghiên cứu mà tác giả đưa ra lấy ý kiến khảo sát là phù hợp với thực tiễn của hoạt động GDLLCT trong các HV-NT KTQS hiện nay. Trong từng nội dung khảo sát, tỷ lệ phân bố phổ lựa chọn giữa 4 phương án đưa ra thường có sự chênh lệch lớn (hoặc theo hướng tích cực, hoặc theo hướng hạn chế một cách rõ ràng), điều này thể hiện nhận thức và quan điểm khá rõ ràng của các đối tượng khảo sát trong từng vấn đề cụ thể liên quan đến GDLLCT. Nếu chia kết quả khảo sát thành 2 nhóm đối tượng là các đối tượng ở Học viện KTQS và các đối tượng ở 4 trường sĩ quan thì kết quả khảo sát cho thấy, nhóm đối tượng được khảo sát ở Học viện KTQS có khả năng nhận thức cao hơn (nhất là đối tượng học viên, do chất lượng đầu vào của họ cao hơn); hiểu biết của họ rộng hơn, đa chiều hơn (vì về cơ bản họ được sinh hoạt và công tác, học tập trong môi trường ở trung tâm, thủ đô nên có điều kiện tiếp cận với nhiều kênh thông tin, có điều kiện giao lưu, tiếp xúc nhiều với môi trường xã hội và học hỏi thêm các kiến thức bổ trợ từ bên ngoài); mô hình công nghệ giáo dục mới (theo học chế tín chỉ) được áp dụng và khai thác tốt hơn; những phương pháp giáo dục mới được cập nhật, bổ sung, đổi mới thường xuyên theo hướng tích cực hóa hoạt động giáo dục; điều kiện khai thác giáo trình, tài liệu và các phương tiện phục vụ cho hoạt động GDLLCT cũng thuận lợi hơn khá nhiều so với nhóm các đối tượng đang sinh hoạt, PL-45 công tác, học tập ở các trường sĩ quan. Nếu chia kết quả khảo sát thành 4 nhóm theo từng loại phiếu khảo sát thì kết quả khảo sát cho thấy: Nhận thức của đội ngũ cán bộ, nhân viên ở các cơ quan tham mưu liên quan đến hoạt động GDLLCT cho thấy kiến thức chuyên môn LLCT và phương pháp làm việc còn khá nhiều bất cập (do chưa được đào tạo lại hoặc bổ sung kiến thức về LLCT kịp thời, nhất là đội ngũ cán bộ trẻ ở cơ quan tham mưu về công tác cán bộ), kinh nghiệm tổ chức triển khai hoạt động GDLLCT nói chung còn ít (vì tuổi đời bình quân của đối tượng này thường thấp, chủ yếu là sĩ quan mới tốt nghiệp) nên ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng và hiệu quả công tác tham mưu, giúp việc cho cấp ủy, chỉ huy học viện, nhà trường trong lãnh đạo, chỉ đạo và triển khai thực hiện nhiệm vụ GDLLCT. Nhận thức của đội ngũ giảng viên, báo cáo viên về LLCT thường chuẩn chỉ và toàn diện hơn các đối tượng khác (do mặt bằng trình độ của họ cao hơn, lại nghiên cứu chuyên sâu về nội dung các chuyên ngành liên quan đến GDLLCT); tuy nhiên, trong một số nội dung cụ thể kết quả khảo sát cho thấy họ có những nhận thức hơi thiên về ý kiến chủ quan, thiếu thông tin thực tiễn nên thể hiện sự “tích cực” hơi thái quá, “lạc quan tếu”, hay “tô hồng” vấn đề liên quan trong thực tiễn (vì đặc thù chuyên môn nên nghiệp vụ của họ liên quan đến hoạt động giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu nên ít quan tâm đến việc nắm bắt những thông tin liên quan đến vấn đề chính trị - kinh tế - xã hội trong thực tiễn). Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý học viên ở đơn vị cơ sở thường thể hiện sự nắm bắt thông tin còn phiến diện, hiểu biết các vấn đề LLCT còn hạn chế (một phần do mặt bằng trình độ còn thấp, phần khác do môi trường quản lý học viên thường gò bó về thời gian, ít có điều kiện nghiên cứu, tìm hiểu, học hỏi thêm từ bên ngoài), tư tưởng còn thiếu độ ổn định và chưa thật yên tâm công tác (do đặc thù công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện con người rất phức tạp nên chủ yếu họ xác định môi trường quản lý học viên chỉ là bước đệm, là điều kiện “rèn luyện” bắt buộc để thực hiện mục tiêu phấn đấu của riêng mỗi người), phương pháp quản lý, giáo dục học viên chưa thật phù hợp và do đó hiệu quả chưa cao (do phương pháp, kỹ năng quản lý, giáo dục học viên ít được chú trọng, quan tâm đổi mới kịp thời trước yêu cầu ngày càng cao của thực tiễn hoạt động GDLLCT). PL-46 Nhận thức của học viên về GDLLCT thường còn phiến diện, có nội dung chưa phản ánh đúng bản chất vấn đề (vì sự quan tâm của họ đối với lĩnh vực LLCT không nhiều bằng lĩnh vực chuyên môn theo chuyên ngành học và theo đó thời gian dành cho học tập LLCT của họ cũng tỷ lệ thuận với sự quan tâm đó), điều này thể hiện học viên đang trong quá trình học tập, tu dưỡng, rèn luyện nên kiến thức và nhân cách chưa hoàn thiện, song chưa được định hướng, tư vấn, giúp đỡ kịp thời cả về tri thức lý luận, kinh nghiệm thực tiễn lẫn phương pháp tư duy, giải quyết vấn đề từ các lực lượng liên quan đến GDLLCT, nhất là đội ngũ giảng viên LLCT và cán bộ quản lý học viên ở cơ sở. Các số liệu thống kê cụ thể từng nội dung được liệt kê chi tiết trong bản “Tổng hợp kết quả khảo sát” kèm theo báo cáo này. Tóm lại, những kết quả thu được từ quá trình khảo sát là khách quan, trung thực phản ánh khá toàn diện và chính xác thực trạng GDLLCT trong các HV-NT KTQS hiện nay. Đây là một trong những nguồn tư liệu chủ yếu, chứa đựng những thông tin rất quý để tác giả Luận án phối hợp với những số liệu trong báo cáo tổng kết năm học của các HV-NT KTQS hàng năm, báo cáo thống kê chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục của Cục Nhà trường, cộng với kết quả thu thập được từ việc phỏng vấn sâu trực tiếp đại diện của các đối tượng khảo sát ở từng HV-NT KTQS để từ đó đánh giá đúng thực trạng, chỉ ra nguyên nhân, xác định những vấn đề cấp thiết đang đặt ra và đề xuất những giải pháp thiết thực đổi mới GDLLCT trong các HV-NT KTQS trong thời gian tới. PL-47 BẢNG TỔNG HỢP SỐ LIỆU KHẢO SÁT Thực trạng GDLLCT trong các học viện, nhà trường KTQS hiện nay (kèm theo Phụ lục 5: Báo cáo tổng quan kết quả khảo sát) STT Đối tượng khảo sát Đơn vị khảo sát (phân bổ số lượng phiếu) . Học viên Giảng viên Cán bộ QLHV Cán bộ Cơ quan 1 Học viện KTQS: 400 phiếu 300 30 30 40 2 TSQ Vinhempic: 270 phiếu 200 20 20 30 3 TSQ Phòng hóa: 270 phiếu 200 20 20 30 4 TSQ Thông tin: 270 phiếu 200 20 20 30 5 TSQ Công Binh: 270 phiếu 200 20 20 30 Tổng số: 1480 phiếu 1100 110 110 160 1. Đề nghị đồng chí cho biết thực trạng GDLLCT tại nhà trường hiện nay? 1.1. Mục đích của GDLLCT cho học viên nhằm trang bị: STT Mức độ đạt được của từng tiêu chí % Tốt % Khá % TB % Yếu A Thế giới quan khoa học và nhân sinh quan cách mạng 12.50 82.97 4.39 0.14 B Đạo đức và lý tưởng cách mạng 10.81 86.28 2.91 0.00 C Năng lực tư duy lý luận để giải quyết các nhiệm vụ thực tiễn 11.62 82.70 4.53 1.15 D Ý chí, nghị lực, bản lĩnh khi tham gia các hoạt động cách mạng 8.11 21.55 62.30 8.04 E Khả năng tham gia các hoạt động xã hội mang tính cộng đồng 11.35 18.24 60.07 10.34 1.2. Vai trò GDLLCT trong đào tạo cán bộ, sĩ quan KTQS hiện nay: STT Mức độ quan trọng của từng tiêu chí % Rất Q.trọng % Khá Q.trọng % Ít Q.trọng % Ko Q.trọng A Góp phần hoàn thiện tri thức cơ bản, toàn diện của người cán bộ, sĩ quan KTQS 8.58 82.91 7.43 1.08 B Là cơ sở để xây dựng và giữ vững phẩm chất, bản lĩnh chính trị của người cán bộ, sĩ quan KTQS 9.12 39.46 50.74 0.68 C Là định hướng chủ yếu cho người cán bộ, sĩ quan KTQS trong đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù và các thế lực phản động 8.24 37.36 53.58 0.81 D Là yếu tố cốt lõi giúp hoàn thiện nhân cách người cán bộ, sĩ quan KTQS, giúp họ hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao 8.18 40.20 50.68 0.95 1.3. Chương trình GDLLCT của nhà trường hiện nay đã bảo đảm: STT Mức độ đạt được của từng tiêu chí % Cao % TB % Thấp % Chưa A Tính kế thừa khi chuyển đổi từ “niên chế” sang “tín chỉ” 16.35 72.77 8.51 2.36 B Tính toàn diện, hệ thống, cơ bản của từng môn LLCT 15.14 77.91 4.39 2.57 C Sự thống nhất giữa nội dung với mục tiêu, yêu cầu đào tạo 20.41 71.28 6.89 1.42 D Sự phù hợp với tính chất đặc thù của đối tượng đào tạo 9.26 85.00 5.27 0.47 E Sự cân đối về dung lượng kiến thức giữa các môn LLCT 12.77 77.23 6.35 3.65 F Tính logic, không trùng lặp giữa các bài học, các môn LLCT 12.43 76.82 6.76 3.99 G Sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn (kinh tế - chính trị - xã hội) 8.31 25.27 53.24 13.18 H Tính sáng tạo, đổi mới trong từng bài học, môn học LLCT 11.82 18.45 48.85 20.88 I Thời gian dành cho các môn LLCT trong chương trình đào tạo 47.43 43.38 9.19 0.00 J Tỷ trọng kiến thức của các môn LLCT trong chương trình đào tạo 34.32 59.12 6.01 0.54 PL-48 1.4. Nội dung GDLLCT trong nhà trường bao gồm những yếu tố cơ bản: STT Mức độ cần thiết của từng tiêu chí % Rất cần % Cần % Ít cần % Ko cần A Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh 41.96 52.84 5.20 0.00 B Đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước 44.46 43.24 12.30 0.00 C Giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại 20.07 21.42 41.08 17.43 D Chuẩn mực và nguyên tắc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng 24.86 21.82 39.32 13.99 E Kinh nghiệm thực tiễn, tình hình thời sự chính trị - kinh tế - xã hội 27.64 15.61 43.92 12.84 1.5. Phương pháp GDLLCT trong nhà trường hiện nay: A Tần suất sử dụng của từng phương pháp: % Thường xuyên % Thỉnh thoảng % Rất ít khi % Chưa bao giờ A1 Thuyết trình truyền thống (một chiều) 69.93 28.78 1.28 0.00 A2 Thuyết trình kết hợp với phát vấn, đàm thoại (hai chiều) 64.26 26.49 9.26 0.00 A3 Thuyết trình kết hợp với sử dụng các thiết bị đa phương tiện 43.38 29.53 14.05 13.04 A4 Thăm quan thực tế tại các di tích lịch sử cách mạng 11.69 17.43 34.86 36.01 A5 Định hướng tự nghiên cứu kết hợp làm việc nhóm, thảo luận ở lớp 5.74 16.08 37.57 40.61 B Mức độ phù hợp của phương pháp GDLLCT với: % Rất phù hợp % Phù hợp % Ít phù hợp % Chưa phù hợp B1 Mục tiêu, yêu cầu đào tạo 11.22 49.19 30.88 8.72 B2 Nội dung, chương trình đào tạo 13.92 47.57 27.84 10.68 B3 Giáo trình và tài liệu tham khảo phục vụ đào tạo 8.65 19.12 37.36 34.86 B4 Điều kiện vật chất và môi trường đào tạo 23.99 36.69 32.70 6.62 B5 Đặc điểm nhận thức của đối tượng được đào tạo (học viên) 8.11 19.86 39.73 32.30 1.6. Tự đánh giá về hoạt động GDLLCT của bản thân từng chủ thể và đối tượng liên quan: 1.6.1. Tự đánh giá về hoạt động của cán bộ, chuyên viên ở các cơ quan chức năng: STT Mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực % Tốt % Khá % TB % Yếu A1 Bản lĩnh chính trị, sự yên tâm trong công tác 38.75 36.88 24.38 0.00 A2 Phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống 48.75 35.63 15.63 0.00 A3 Tình yêu thương, sự liên hệ, gắn bó, tinh thần phục vụ học viên 34.38 40.63 22.50 2.50 A4 Khả năng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn 21.88 40.00 18.13 20.00 A5 Trình độ nghiệp vụ phục vụ công tác tham mưu, quản lý 65.00 22.50 12.50 0.00 STT Mức độ đạt được về phương pháp, tác phong công tác % Tốt % Khá % TB % Yếu B1 Phương pháp công tác và kỹ năng tổ chức, hướng dẫn cho học viên 13.13 16.88 52.50 17.50 B2 Tính chủ động trong đổi mới phương pháp, tác phong công tác 36.25 39.38 14.38 10.00 B3 Khả năng bám nắm tình hình và kiểm tra, giám sát trong GDLLCT 10.63 18.13 43.75 27.50 B4 Trách nhiệm trong phối hợp tổ chức thi, đánh giá kết quả GDLLCT 38.75 36.25 25.00 0.00 B5 Thái độ và trách nhiệm trong tham mưu, quản lý, kiểm tra, đôn đốc 60.00 30.63 9.38 0.00 B6 Sự cầu thị trong tiếp thu ý kiến góp ý, phản hồi từ học viên 39.38 33.13 27.50 0.00 B7 Chỉ đạo, hướng dẫn nội dung và tổ chức học tập nghị quyết, chính trị pháp luật, thông tin thời sự, hoạt động ngoại khóa cho học viên 65.00 23.75 11.25 0.00 B8 Chỉ đạo, hướng dẫn, khuyến khích, tạo điều kiện cho học viên tham gia các hoạt động NCKH, thi Olympic các môn LLCT 58.75 21.25 20.00 0.00 B9 Chỉ đạo, hướng dẫn cho giảng viên và học viên thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy – học LLCT theo hướng tích cực 9.38 20.00 46.88 23.75 PL-49 1.6.2. Tự đánh giá về hoạt động của giảng viên, báo cáo viên: STT Mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực % Tốt % Khá % TB % Yếu A1 Bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống 47.27 40.91 11.82 0.00 A2 Khả năng nắm bắt đặc điểm học viên và tình hình thực tiễn 35.45 52.73 11.82 0.00 A3 Khả năng tự học, cập nhật tri thức và kỹ năng phục vụ giảng dạy 29.09 51.82 10.91 8.18 A4 Khả năng kết hợp giữa lý luận- thực tiễn, tính Đảng- tính khoa học 25.45 45.45 20.00 9.09 A5 Khả năng chuyên môn phục vụ giảng dạy và tuyên truyền 41.82 38.18 20.00 0.00 STT Mức độ đạt được về phương pháp, tác phong công tác % Tốt % Khá % TB % Yếu B1 Kỹ năng khơi dậy tố chất và truyền cảm hứng cho học viên 12.73 17.27 32.73 37.27 B2 Khả năng thuyết trình, khêu gợi và phát vấn trong giảng dạy 38.18 52.73 9.09 0.00 B3 Kỹ năng sử dụng kết hợp thiết bị KHCN tiên tiến trong giảng dạy 10.91 14.55 40.91 33.64 B4 Khả năng phát huy tính tích cực, chủ động của học viên trong giảng dạy 10.00 19.09 39.09 31.82 B5 Khả năng chủ động, sáng tạo trong đổi mới phương pháp giảng dạy 10.91 19.09 29.09 40.91 B6 Khả năng NCKH và đưa kết quả nghiên cứu vào giảng dạy 12.73 16.36 43.64 27.27 B7 Khả năng định hướng, giúp đỡ học viên về phương pháp học tập 10.91 18.18 40.91 30.00 B8 Khả năng kết hợp giữa dạy kiến thức với bồi dưỡng đạo đức, lối sống 26.36 45.45 19.09 9.09 B9 Khả năng động viên và hướng dẫn học viên NCKH các môn LLCT 12.73 17.27 31.82 38.18 B10 Kết quả học tập LLCT của học viên ở các lớp mà đồng chí giảng dạy, báo cáo (cho đến nay) thường đạt ở mức 8.18 50.91 40.91 0.00 1.6.3. Tự đánh giá về hoạt động của cán bộ quản lý học viên ở đơn vị cơ sở: STT Mức độ đạt được về phẩm chất, năng lực % Tốt % Khá % TB % Yếu A1 Bản lĩnh chính trị, sự yên tâm trong công tác 10.00 19.09 31.82 39.09 A2 Phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống 36.36 29.09 26.36 8.18 A3 Tình yêu thương, sự liên hệ, gắn bó với học viên 30.00 40.91 20.00 9.09 A4 Khả năng tự học để nâng cao trình độ chuyên môn 5.45 17.27 39.09 38.18 A5 Trình độ nghiệp vụ phục vụ quản lý, chỉ huy 18.18 43.64 30.00 8.18 STT Mức độ đạt được về phương pháp, tác phong công tác % Tốt % Khá % TB % Yếu B1 Phương pháp công tác và kỹ năng quản lý, chỉ huy học viên 17.27 44.55 26.36 11.82 B2 Tính chủ động trong đổi mới phương pháp tác phong công tác 20.00 43.64 29.09 7.27 B3 Sâu sát đơn vị, nắm bắt tâm tư tình cảm, nguyện vọng của HV 28.18 40.91 20.91 10.00 B4 Quan tâm hướng dẫn, giúp đỡ học viên về phương pháp học tập 10.00 17.27 37.27 35.45 B5 Thái độ và trách nhiệm trong quản lý, công tác kiểm tra, đôn đốc 30.00 40.91 20.00 9.09 B6 Sự cầu thị trong tiếp thu ý kiến góp ý, phản hồi từ học viên 11.82 15.45 60.00 12.73 B7 Hiệu quả tổ chức học tập nghị quyết, chính trị pháp luật, thông tin thời sự và các hoạt động ngoại khóa cho học viên 19.09 51.82 21.82 7.27 B8 Khả năng động viên, khuyến khích, tạo điều kiện cho học viên tích cực tham gia các hoạt động NCKH, thi Olympic các môn LLCT 7.27 17.27 50.00 25.45 B9 Tạo môi trường thuận lợi, phù hợp để học viên học nhóm, thảo luận về LLCT nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GDLLCT 23.64 48.18 15.45 12.73 PL-50 1.6.4. Tự đánh giá về hoạt động học tập LLCT của học viên: STT Mức độ đạt được của từng tiêu chí % Tốt % Khá % TB % Yếu A Xác định mục đích học tập rõ ràng ngay từ đầu khóa học và mục tiêu cụ thể cho từng môn học LLCT ngay từ bài mở đầu 9.73 16.64 35.55 38.09 B Tinh thần, thái độ và ý thức trách nhiệm của bản thân trong học tập LLCT. 26.00 47.27 23.82 2.91 C Khả năng thích nghi với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực mà giảng viên đưa ra 10.64 16.82 44.45 28.09 D Mức độ tích cực, chủ động trong ôn luyện bài học cũ, nghiên cứu và chuẩn bị nội dung bài học mới trước khi nghe giảng trên lớp 11.09 18.64 47.09 23.18 E Khả năng tập trung chú ý và tốc ký những nội dung quan trọng khi nghe giảng trên lớp 29.82 40.99 26.04 3.15 F Chủ động, tích cực phát biểu xây dựng bài; nêu ra vấn đề còn vướng mắc và tranh luận đến cùng để làm rõ những vấn đề đó 6.64 17.64 27.45 48.27 G Khả năng tìm ra phương pháp tự học phù hợp và hiệu quả trên cơ sở định hướng, gợi mở, giúp đỡ của giảng viên 11.64 17.36 47.36 23.64 H Kỹ năng tìm kiếm giáo trình, tài liệu liên quan đến các môn học LLCT sau khi được giảng viên định hướng và tư vấn 18.45 51.64 25.91 4.00 I Kỹ năng đọc sách và khai thác thông tin trong các giáo trình, tài liệu liên quan đến các môn LLCT 26.36 46.09 24.18 3.36 J Chủ động, tự giác trong các hoạt động sau bài giảng (tự nghiên cứu tài liệu, đọc sách tại thư viện, làm bài tập, học nhóm) 7.00 20.91 24.55 47.55 K Áp dụng phương pháp “Tự nghiên cứu cá nhân kết hợp với làm việc nhóm và tích cực thảo luận” trong học tập 10.45 18.55 22.18 48.82 L Khả năng khai thác phương tiện, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ tiên tiến (Laptop, PC, Ebook, Internet, Projector) trong học tập 34.45 37.55 26.55 1.45 M Sự trăn trở, tư duy về những vấn đề còn chưa rõ; tích cực tham gia các hoạt động NCKH về các môn LLCT 8.55 21.18 20.00 50.27 N Kỹ năng vận dụng những kiến thức LLCT được học vào giải quyết những vấn đề chính trị - xã hội đặt ra trong thực tiễn 10.09 18.45 42.82 28.64 O Kết quả học tập các môn LLCT của đồng chí (cho đến nay) thường đạt ở mức 8.18 52.82 37.27 1.73 1.7. Hình thức thi và hiện tượng vi phạm quy chế trong thi kết thúc các môn LLCT: A Mức độ sử dụng các hình thức thi của học viên hiện nay: % Thường xuyên % Thỉnh thoảng % Rất ít khi % Chưa bao giờ A1 Thi “Vấn đáp” 45.41 37.70 16.89 0.00 A2 Thi “Tự luận” 15.54 24.05 60.41 0.00 A3 Thi “Trắc nghiệm khách quan” 6.62 12.70 42.57 38.11 A4 Thi kết hợp “Trắc nghiệm khách quan với Tự luận” 6.08 9.46 43.58 40.88 A5 Viết bài thu hoạch kết thúc môn học theo chủ đề 3.85 12.91 42.91 40.34 B Mức độ phạm quy trong thi các môn LLCT tại nhà trường: B1 Giảng viên thiếu trách nhiệm, thiên vị khi coi và chấm thi 11.22 28.51 49.66 10.61 B2 Giảng viên xử lý thiếu kiên quyết, triệt để các học viên vi phạm 11.82 26.62 39.73 21.82 B3 Học viên khiếu nại bài thi nhưng không được giải quyết thỏa đáng 1.49 10.81 41.35 46.35 B4 Học viên sử dụng “tài liệu”, “phao phỏm” khi thi 3.45 8.24 59.53 28.78 B5 Học viên trao đổi bài trong phòng thi 20.27 39.86 29.39 10.47 B6 Học viên dùng thiết bị công nghệ để gian lận khi thi 2.03 9.12 45.61 43.24 B7 Học viên xin điểm, chạy điểm trước, trong và sau khi thi LLCT 2.57 9.46 41.89 46.08 C Tỷ lệ kết hợp giữa hình thức thi “Trắc nghiệm khách quan” với hình thức thi “Tự luận” hiện nay đang áp dụng tại nhà trường % 50/50 % 60/40 % 70/30 % 80/20 C1 Trả lời (chọn 1 phương án theo hàng ngang): 39.53 13.24 36.55 10.68 PL-51 1.8. Các hình thức GDLLCT bổ trợ cho học viên trong nhà trường hiện nay: STT Tần suất sử dụng các hình thức GDLLCT bổ trợ % Thường xuyên % Thỉnh thoảng % Rất ít khi % Chưa bao giờ A Các cuộc vận động, đợt sinh hoạt chính trị tư tưởng: “Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” 21.22 56.22 22.57 0.00 B Các cuộc thi tìm hiểu về truyền thống của Đảng, Nhà nước, Quân đội, Nhà trường, đơn vị 18.92 58.24 22.84 0.00 C Thăm quan, học tập dã ngoại tại các bảo tàng, khu di tích lịch sử cách mạng, các hoạt động ngoại khóa (học ngoài thời khóa biểu) 9.73 14.46 41.96 33.85 D Thực hiện chế độ đọc báo, xem thời sự (trên VTV); các buổi thông tin thời sự; học tập các chuyên đề chính trị, pháp luật 49.86 35.27 14.86 0.00 E Các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, sinh hoạt Đảng, sinh hoạt của các đoàn thể chính trị - xã hội, giao ban và hội họp của các cấp 40.41 32.97 26.62 0.00 1.9. Điều kiện đảm bảo cho GDLLCT của nhà trường hiện nay: STT Mức độ đạt được của từng tiêu chí % Tốt % Khá % TB % Yếu A Giáo trình, tài liệu phục vụ cho học tập các môn LLCT 8.85 21.01 26.28 43.85 B Mức độ tiện ích của trang thiết bị dạy-học LLCT 31.35 43.31 21.28 4.05 C Môi trường dạy-học thông minh và điều kiện tự học LLCT 7.97 20.07 43.92 28.04 D Thời gian dành cho học viên tự học, đi thư viện và làm việc nhóm 33.85 39.80 24.46 1.89 E Không gian dành cho học viên tự học, đi thư viện, làm việc nhóm 12.77 16.96 39.53 30.74 1.10. Những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả GDLLCT: STT Mức độ phụ thuộc của từng yếu tố % Chủ yếu % Thứ yếu % Rất ít % Không A Nội dung, chương trình GDLLCT của nhà trường 69.73 20.27 10.00 0.00 B Số lượng và chất lượng giảng viên, cán bộ quản lý học viên 75.95 15.88 8.18 0.00 C Trách nhiệm và phương pháp của giảng viên, CBQL học viên 70.47 22.64 6.89 0.00 D Nhận thức, ý thức và phương pháp học tập của học viên 16.82 73.65 9.53 0.00 E Giáo trình, tài liệu và cơ sở vật chất bảo đảm 18.18 74.73 7.09 0.00 1.11. Kết quả GDLLCT của nhà trường trong thời gian 5 năm gần đây là do các nguyên nhân: STT Mức độ quan trọng của từng tiêu chí % Rất Q.trọng % Khá Q.trọng % Ít Q.trọng % Ko Q.trọng A Sự quan tâm lãnh đạo của Đảng ủy, Ban Giám đốc (Ban Giám hiệu) nhà trường 25.61 44.46 29.93 0.00 B Phẩm chất và năng lực cùng sự chỉ đạo sâu sát của đội ngũ cán bộ các cơ quan chức năng trong tham mưu, quản lý, điều hành 26.82 45.74 27.43 0.00 C Phẩm chất và năng lực cùng sự sâu sát, nhiệt huyết, bám nắm đơn vị, thấu hiểu học viên của đội ngũ cán bộ quản lý học viên 33.92 37.30 28.78 0.00 D Phẩm chất và năng lực cùng sự nhiệt tình, trách nhiệm trong giảng dạy, hướng dẫn của đội ngũ giảng viên, báo cáo viên các cấp 38.89 40.11 21.00 0.00 E Tinh thần tự giác trong tự học; tích cực, chủ động, sáng tạo trong nghiên cứu của đội ngũ học viên 9.19 20.00 65.47 5.34 F Sự phát triển mạnh mẽ của cuộc CMCN 4.0 với nhiều thành tựu tiện ích giúp học viên có thể nhanh chóng tiếp cận thông tin 11.82 17.16 51.42 19.59 G Sự quan tâm, động viên, khích lệ, cổ vũ từ gia đình cùng những người có uy tín trong và ngoài đơn vị 6.69 19.46 49.39 24.46 H Sự quan tâm, phối hợp, giúp đỡ của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội tạo môi trường lành mạnh cho học viên 10.14 18.18 43.31 28.38 I Thành tựu đạt được của đất nước qua hơn 30 năm đổi mới về kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng, đối ngoại 5.07 20.34 44.80 29.80 PL-52 2. Đề nghị đồng chí cho biết yêu cầu, quan điểm, nguyên tắc và giải pháp đổi mới GDLLCT tại nhà trường hiện nay? 2.1. Về yêu cầu đổi mới GDLLCT hiện nay: STT Mức độ cần thiết của từng tiêu chí % Rất cần % Cần % Ít cần % Ko cần A Xây dựng đội ngũ giảng viên LLCT có Tâm-Tầm-Tài, yêu nghề và tâm huyết với thế hệ trẻ, mẫu mực trong nghiên cứu, giảng dạy và sinh hoạt 38.92 51.76 9.32 0.00 B Xây dựng, hoàn thiện “Chương trình chuẩn” về LLCT với những nội dung, hình thức, phương pháp thích hợp với từng đối tượng 40.07 46.08 13.85 0.00 C Xây dựng, hoàn thiện “Giáo trình chuẩn” và các “Tài liệu tham khảo chuẩn” ứng với nội dung các môn LLCT và phù hợp với từng đối tượng 52.36 39.05 8.58 0.00 D Tích cực đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nội dung môn học, với đối tượng học viên và thực tiễn đổi mới của quân đội, đất nước 16.76 23.24 60.00 0.00 E Tổ chức, quản lý, đánh giá, tổng kết quá trình GDLLCT một cách khoa học, khách quan và rút ra bài học kinh nghiệm kịp thời 11.76 27.23 53.18 7.84 F Tăng cường vật chất, phương tiện kỹ thuật, kinh phí cho GDLLCT; nâng cao điều kiện làm việc và đời sống cho cán bộ, giảng viên LLCT 40.68 39.32 17.57 2.43 G Đẩy mạnh đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những tiêu cực xã hội, trong đó có những tiêu cực trong GDLLCT 4.73 20.20 43.65 31.42 2.2. Về quan điểm đổi mới GDLLCT hiện nay: STT Mức độ cần thiết của từng tiêu chí % Rất cần % Cần % Ít cần % Ko cần A Đổi mới toàn diện, đồng bộ, ngang tầm với yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy KTQS trong tình hình mới 57.97 32.70 6.96 2.36 B Cô đọng, thiết thực hơn; kế thừa thành tựu trước đó, chú trọng chất lượng; vận dụng sát với chức trách, nhiệm vụ người cán bộ KTQS 63.78 23.85 7.36 5.00 C Bám sát yêu cầu thực tiễn; nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục phù hợp với từng đối tượng; đảm bảo tính cơ bản, hệ thống, toàn diện 64.46 28.72 4.80 2.03 D Chú trọng năng lực thực hành và vận dụng lý luận vào giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình học tập, công tác 68.24 25.27 5.27 1.22 2.3. Về nguyên tắc định hướng đổi mới GDLLCT hiện nay: STT Mức độ cần thiết của từng tiêu chí % Rất cần % Cần % Ít cần % Ko cần A Đảm bảo đồng bộ, toàn diện, thiết thực, hiệu quả và khả thi 54.32 34.86 6.82 3.99 B Quán triệt và vận dụng quan điểm thống nhất giữa lý luận - thực tiễn 60.07 29.59 7.84 2.50 C Bảo đảm tính đảng và tính khoa học 52.36 32.77 10.68 4.19 D Sát đối tượng, logic chặt chẽ, tinh gọn về nội dung 62.70 23.31 11.22 2.77 E Tăng cường tự học, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên 16.82 13.11 57.57 12.50 2.4. Về các nhóm giải pháp đổi mới GDLLCT hiện nay: STT Mức độ cần thiết của từng tiêu chí % Rất cần % Cần % Ít cần % Ko cần A Nâng cao nhận thức của các lực lượng tham gia về mục đích, vị trí, vai trò của GDLLCT 61.55 25.68 6.69 6.08 B Kiện toàn bộ máy và phương thức quản lý hoạt động GDLLCT theo hướng chuẩn hóa chất lượng, tạo cơ chế minh bạch, dân chủ 11.22 14.19 45.88 28.72 C Đổi mới nội dung chương trình GDLLCT theo hướng tinh gọn, cập nhật tri thức lý luận mới nhưng vẫn bảo đảm chất lượng 55.34 24.86 10.81 8.99 D Đổi mới hình thức, phương pháp GDLLCT theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động của học viên 10.61 18.58 61.35 9.46 E Nâng cấp các điều kiện đảm bảo cho GDLLCT theo hướng thông minh, thuận tiện nhằm nâng cao khả năng tự học, cho học viên 73.92 16.35 8.65 1.08

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_doi_moi_giao_duc_ly_luan_chinh_tri_trong_cac_hoc_vie.pdf
  • pdfVŨ VĂN TUẤN-TTLA.pdf
  • pdfVuTuan-TTLA-Việt.pdf
Tài liệu liên quan