Luận án Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của freud

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG LốI SốNG TIÊU CựC CủA MộT Bộ PHậN GIớI TRẻ VIệT NAM HIệN NAY DƯớI LĂNG KíNH HọC THUYếT HàNH VI CON NGƯờI CủA FREUD LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYấN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ HÀ NỘI - 2015 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THỊ BÍCH HẰNG LốI SốNG TIÊU CựC CủA MộT Bộ PHậN GIớI TRẻ VIệT NAM HIệN NAY DƯớI LĂNG KíNH HọC THUYếT HàNH VI CON NGƯờI CủA FREUD LUẬN ÁN TIẾN SĨ

pdf169 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 25 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của freud, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG VÀ CHỦ NGHĨA DUY VẬT LỊCH SỬ Mã số: 62 22 03 02 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. TS. NGUYỄN TRỌNG CHUẨN HÀ NỘI - 2015 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo đúng quy định. Tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ....................................................................... 8 1.1. Những nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới ............................................................................. 8 1.2. Tổng quan các nghiên cứu về học thuyết Freud ở Việt Nam .................... 16 1.3. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu trong tổng quan và những vấn đề luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu ................................. 34 CHƯƠNG 2: LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD ................................................................ 38 2.1. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay ........... 38 2.2. Khái lược học thuyết hành vi con người của Freud ............................. 52 CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD ĐỂ PHÂN TÍCH NHỮNG BIỂU HIỆN LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY ................ 77 3.1. Hành xử bạo lực từ góc nhìn của xung lực bản năng eros và thanatos ........ 78 3.2. Vấn nạn đua xe trái phép từ góc nhìn triết học của tâm lý học đám đông của Freud .................................................................................... 88 3.3. Đồng tính luyến ái với cách nhìn nhận của Freud .............................. 107 CHƯƠNG 4: GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ TRONG HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CÓ TÍNH ĐỊNH HƯỚNG, NHẰM HẠN CHẾ LỐI SỐNG TIÊU CỰC CHO GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................ 116 4.1. Một số giá trị trong học thuyết hành vi con người của Freud ............ 116 4.2. Một số hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud ......... 125 4.3. Một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay .................................................. 128 KẾT LUẬN ................................................................................................................. 149 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ..................................................................................................... 152 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................... 153 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN APA : American Psychological Assosiation - Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ ĐH : Đại học ĐTLA GS : : Đồng tính luyến ái Giáo sư NCS : Nghiên cứu sinh NCKH Nxb : : Nghiên cứu khoa học Nhà xuất bản LGBT : Viết tắt tiếng Anh của các từ: L là của Lesbian - đồng tính nữ G là của Gay - đồng tính nam B là của Bisexual - những người lưỡng giới, ái nam, ái nữ T là của Transsexual - những người chuyển đổi giới PTCS : Phổ thông cơ sở PTTH : Phổ thông trung học SAVY1 : Viết tắt của Survey Assessment of Vietnamese Youth 1 - Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, do UNICEF, WHO, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2003 SAVY2 : Viết tắt của Survey Assessment of Vietnamese Youth 2 - Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam, do UNICEF, WHO, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê tiến hành năm 2010 TDĐG : Tình dục đồng giới TLĐĐ : Tâm lý đám đông TP.HCM TS : : Thành phố Hồ Chí Minh Tiến sĩ 1 MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới thế hệ trẻ. Người khẳng định, thanh thiếu niên là chủ nhân tương lai của đất nước. Trong bản Di chúc để lại cho Đảng, Nhà nước và nhân dân ta, khi nói về thanh niên, Người căn dặn:“Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” [94, tr.498]. Thực hiện lời căn dặn của Bác Hồ và tiếp tục sự nghiệp trồng người của Bác, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đặt nhiệm vụ giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ lên hàng đầu. Có rất nhiều các định hướng, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước thể hiện qua các văn kiện, nghị quyết, chương trình hành động dành cho thanh niên. Đặc biệt, khi bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, sự quan tâm đó càng được chú trọng hơn. Đường lối đổi mới và hội nhập quốc tế trong xu hướng toàn cầu hóa đã đưa đất nước ta thay đổi mọi mặt về kinh tế - xã hội và đã thu được những thành tựu quan trọng, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong bối cảnh đó, thế hệ trẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội học tập, nâng cao trình độ, tham gia đóng góp sức lực của mình vào công cuộc xây dựng đất nước. Những thành tựu mà chúng ta đạt được có phần đóng góp đáng kể của thế hệ trẻ. Tuy nhiên, hội nhập và toàn cầu hóa cũng gây ra những khó khăn và thách thức không nhỏ cho đất nước nói chung và thế hệ trẻ nói riêng. Thực tế cho thấy, thế hệ trẻ rất nhạy cảm và dễ bị tổn thương trong thời kỳ hội nhập này. Khoa học công nghệ mới, các phương tiện truyền thông tiên tiến, giao lưu quốc tế rộng mở là điều kiện tốt cho giới trẻ tiếp cận nhanh chóng những mặt ưu việt, tích cực của thế giới hiện đại, đồng thời họ cũng chịu ảnh hưởng không nhỏ từ những mặt tiêu cực của nó. Những tiêu cực này lan tỏa trong lối sống của một bộ phận giới trẻ như những virus gậm nhấm tinh thần và thể chất của họ. Có nhiều xu hướng sống khác nhau đang len lỏi trong mọi thành phần của giới trẻ như: học sinh phổ thông, sinh viên, công nhân, viên chức, thanh thiếu niên ở thành thị, nông thôn và miền núi. Từ tình trạng lười học tập, 2 lười lao động tới ăn chơi đua đòi, sống buông thả bản thân, sống thác loạn với các tệ nạn ma túy, mại dâm, sinh hoạt theo kiểu bầy đàn rồi đi tới tuyệt vọng, bế tắc, mất phương hướng. Tình dục đồng giới, chuyển giới, thậm chí hôn nhân đồng giới trong giới trẻ có xu hướng ngày càng gia tăng. Lối sống ích kỷ, thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm; không quan tâm tới người khác; không quan tâm tới tương lai, vận mệnh đất nước; không quan tâm tới chính trị, tư tưởng, khác hẳn với tính cách vốn có của thanh niên trước đây. Tình trạng bạo lực, coi thường pháp luật, tội phạm vị thành niên, tội phạm học đường ngày càng phát triển và diễn biến phức tạp với nhiều dạng rất nguy hiểm như hành động của các kẻ sát nhân máu lạnh trẻ tuổi Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa, Nguyễn Hải Dương trong mấy năm gần đây. Tình hình trên đặt ra cho Đảng và Nhà nước ta nhiệm vụ cấp bách là phải giáo dục chính trị tư tưởng cho thế hệ trẻ. Cùng với các biện pháp nhằm từng bước đẩy lùi sự lây lan của lối sống tiêu cực này, nhiều cuộc điều tra xã hội học đánh giá thực trạng, nhiều nghiên cứu về thanh thiếu niên đã được tiến hành. Việc mổ xẻ tìm nguyên nhân của hiện tượng này dưới góc nhìn của các lĩnh vực khoa học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, tội phạm học cũng đã có. Tuy nhiên, trước những diễn biến vô cùng phức tạp với hình thức lan truyền của dạng virus khó kiểm soát, cùng với mối nguy hiểm như tảng băng trôi, các nghiên cứu đánh giá về thực trạng và nguyên nhân lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu. Hầu hết các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào những nguyên nhân ngoại sinh với các tác động ngoại cảnh như ảnh hưởng của du nhập lối sống ngoại lai, văn hóa phẩm, sách báo, phim ảnh độc hại trên internet, giáo dục bất cập của nhà trường và gia đìnhDo vậy, còn cần phải tiếp tục nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn và đa dạng hơn với nhiều cách tiếp cận khác nhau, để từ đó có các đánh giá đúng đắn và tìm ra các giải pháp phù hợp nhằm khắc phục căn bệnh phát sinh từ hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay. Người có công lớn nhất nghiên cứu khám phá tâm lý hành vi con người và các nghiên cứu của ông đã được nâng lên thành học thuyết là Sigmund Freud (1856- 1939). S.Freud là nhà khoa học mà tên tuổi của ông được đặt bên cạnh những tên tuổi vĩ đại khác như Archimedes, G. Galilei, I. Newton, A. Einstein... Công lao to lớn của Freud và là cơ sở của học thuyết mang tên ông (còn được gọi là học thuyết 3 phân tâm - Psychoanalysis) là khám phá ra vô thức như một tầng tư duy nền tảng mà ông coi là định hình và định hướng cho mọi hành vi của con người. Đánh giá về học thuyết Freud có nhiều quan điểm và ý kiến khác nhau, thậm chí có những ý kiến đối lập nhau. Tuy nhiên, mọi người đều thừa nhận rằng, học thuyết Freud có tác động và ảnh hưởng sâu rộng đến rất nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau của thế giới ngày nay như tâm lý học, triết học, xã hội học, luật học, văn học nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, tội phạm học, v.v.. Khám phá về vô thức của Freud là một cuộc cách mạng trong nhận thức về bản chất của hành vi con người, bởi trước đó người ta vẫn có xu hướng đề cao ý thức như phần tư duy chủ yếu của con người. Freud cấu trúc bộ máy tư duy của con người thành ba thành phần vô cùng quan trọng là vô thức, tiền ý thức và ý thức với ba thành tố là cái ấy (id), cái tôi (ego), cái siêu tôi (superego). Các thành phần này được kích hoạt bởi xung lực bên trong của mỗi con người, Freud gọi đó là libido, là năng lực tính dục nguyên thủy, đó là nguồn gốc dẫn tới mọi hành vi của con người. Từ libido, Freud đã xác định được hai bản năng đối lập song lại gắn bó với nhau là eros, được gọi là bản năng sống, đó là những ham muốn, dục vọng và đòi hỏi sự sinh tồn của con người và thanatos, được gọi là bản năng chết là nguồn gốc dẫn tới hành vi giận dữ, đập phá, hủy hoại, bạo lực, chém giết bất chấp mọi nguyên tắc, kỷ cương, luật pháp. Những luận thuyết cơ bản nêu trên cùng với các luận đề quan trọng của học thuyết Freud như tâm lý đám đông, tình dục đồng giới đều có thể vận dụng để lý giải tìm căn nguyên hành vi, lối sống của con người. Từ góc độ triết học có thể vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud như là một lăng kính để phân tích, nhận diện các hành vi lối sống tiêu cực, suy thoái đạo đức, ham vật chất, hành xử bạo lực, coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Khác với cách tiếp cận theo hướng chỉ tìm hiểu từ nguyên nhân ngoại sinh mà các nghiên cứu hiện nay về lối sống của giới trẻ thường tiếp cận, NCS cố gắng tìm hiểu nguyên nhân nội sinh, tức là đi tìm hiểu bản năng gốc rễ của mỗi con người hoặc mỗi nhóm cộng đồng đã hình thành hành vi tính cách của mình để lý giải hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ. 4 Tuy nhiên, cũng cần hiểu rõ thêm rằng, bản năng gốc rễ luôn tồn tại tiềm ẩn trong mỗi con người và là khởi nguồn cho tính cách, hành vi tốt hay xấu của con người. Ở thời đại nào cũng vậy, con người nói chung và giới trẻ nói riêng, đều bộc lộ ở các mức độ khác nhau những hành vi tích cực hoặc tiêu cực của mình. Nhưng vào thời kỳ đổi mới và hội nhập, bản năng gốc rễ dẫn tới hành vi tiêu cực nằm trong con người, nằm trong giới trẻ có điều kiện trỗi dậy và bùng phát mạnh mẽ hơn trước đây. Như vậy, có thể thông qua lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud để lý giải hành vi và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và từ đó tìm được một phần nguyên nhân của căn bệnh đang tiến triển xấu của một bộ phận giới trẻ này. Tìm được nguyên nhân của căn bệnh sẽ là cơ sở cho cách điều trị hiệu quả hơn và tăng sức đề kháng cho giới trẻ. Với ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn cấp thiết như trên, nghiên cứu sinh chọn Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới lăng kính học thuyết hành vi con người của Freud để viết luận án tiến sĩ triết học. Nghiên cứu sinh mong muốn rằng, luận án này sẽ hòa cùng với những nghiên cứu theo cách tiếp cận khác có thể, để tạo nên bức tranh chung nhiều mặt, đa sắc màu và rõ nét hơn về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay cùng cách thức hạn chế nó. 2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 2.1. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở phân tích những biểu hiện lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay, từ góc nhìn của học thuyết hành vi con người của Freud, luận án phân tích, lý giải căn nguyên gốc rễ từ nội sinh trong con người dẫn đến những hành vi lối sống tiêu cực ấy; từ đó đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau: Một là, tìm hiểu thực trạng lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và chọn những lối sống điển hình trong số đó để phân tích, lý giải. Hai là, khái quát hóa những nội dung cơ bản của học thuyết hành vi con người của Freud được vận dụng để nghiên cứu. 5 Ba là, từ các luận thuyết, luận đề phù hợp trong học thuyết hành vi con người của Freud, nhận diện, phân tích, lý giải căn nguyên của một số lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Bốn là, phân tích, chỉ ra những mặt giá trị và mặt hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud và đề xuất một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay, bao gồm thanh niên và thiếu niên trong độ tuổi học đường. - Các luận thuyết cơ bản và các luận đề chính của học thuyết Freud được chọn để phân tích vận dụng. 3.2. Phạm vi nghiên cứu - Nghiên cứu những luận thuyết cơ bản của học thuyết hành vi con người của Freud về vô thức, về cấu trúc bộ máy tâm lý, về libido, về cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi, về bản năng eros và thanatos cùng các luận đề về tâm lý đám đông, về tình dục đồng giới. Từ đó soi rọi tìm ra căn nguyên hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam và đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng nhằm hạn chế lối sống tiêu cực của giới trẻ. - Nghiên cứu tập trung vào lối sống tiêu cực phổ biến của một bộ phận giới trẻ Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Tuy nhiên, do có nhiều lối sống khác nhau trong đó có nhiều dạng biểu hiện của lối sống khác nhau và học thuyết Freud lại rất rộng lớn, đề cập tới nhiều vấn đề, nên luận án chỉ tập trung đi sâu vào ba lối sống tiêu cực điển hình với những dạng biểu hiện được lựa chọn mà có thể vận dụng các luận thuyết phù hợp của học thuyết hành vi con người của Freud để phân tích, lý giải. Đó là: + Lối sống hành xử bạo lực coi thường pháp luật với dạng biểu hiện được lựa chọn là hành xử bạo lực. + Lối sống hời hợt, a dua đua đòi với dạng biểu hiện được lựa chọn là đua xe trái phép, luận án gọi là vấn nạn đua xe trái phép. + Lối sống buông thả bản thân với dạng biểu hiện được lựa chọn là đồng tính luyến ái. 6 4. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1. Cơ sở lý luận Nghiên cứu dựa trên quan điểm và cơ sở lý luận của đường lối chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về thanh thiếu niên; tư tưởng Hồ Chí Minh; tinh thần của các nghị quyết của Đảng về thanh thiếu niên. Nghiên cứu tiếp thu, kế thừa có chọn lọc các đánh giá, các tổng kết có độ tin cậy cao của các nghiên cứu trước đây. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng: Phương pháp phân tích và tổng hợp để đánh giá tổng quan các nghiên cứu về lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay và các nghiên cứu về học thuyết Freud ở Việt Nam; Phương pháp lịch sử - lôgic để nghiên cứu đánh giá và phân tích những luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud. Đồng thời, luận án vận dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích, đánh giá, vận dụng học thuyết Freud để lý giải lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Từ đó, nhìn nhận rõ hơn những mặt giá trị cũng như mặt hạn chế của học thuyết Freud, đồng thời đề xuất một số giải pháp mang tính định hướng xây dựng môi trường sống lành mạnh, tăng sức đề kháng cho giới trẻ trong thời kỳ hội nhập quốc tế. 5. ĐÓNG GÓP MỚI VỀ KHOA HỌC CỦA LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu xác định được nguyên nhân nội sinh dẫn đến hành vi của một số lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay, khác biệt với các nghiên cứu về thanh thiếu niên trước đây chỉ nghiên cứu nguyên nhân ngoại sinh với các tác động ngoại cảnh. 2. Lần đầu tiên có một nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud để phân tích, lý giải tâm lý hành vi của lối sống tiêu cực của giới trẻ, khác với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam chỉ nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud trong văn học nghệ thuật, tôn giáo, tâm linh, tính cách dân tộc. 3. Làm sâu sắc hơn tính khoa học cho các giải pháp của Đảng và Nhà nước ta nhằm giảm thiểu lối sống tiêu cực của giới trẻ. Các giải pháp mang tính định hướng trong luận án, có thể tương tự như các giải pháp hiện có, song nó được xây dựng trên cơ sở của một học thuyết nổi tiếng về hành vi con người là học thuyết Freud. 7 6. Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN ÁN 1. Góp phần nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam, trong đó nghiên cứu sâu về căn nguyên hình thành ba lối sống tiêu cực với những biểu hiện của nó của một bộ phận giới trẻ đang là bức xúc lớn của xã hội hiện nay, đó là: Hành xử bạo lực coi thường pháp luật; Vấn nạn đua xe trái phép; Đồng tính luyến ái. 2. Góp phần nghiên cứu, đánh giá về học thuyết Freud ở Việt Nam, một học thuyết phổ biến rộng rãi trên thế giới song gần đây mới được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam. 3. Luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu về giới trẻ Việt Nam và về học thuyết Freud ở Việt Nam. 7. KẾT CẤU LUẬN ÁN Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học của tác giả có liên quan đến đề tài luận án, danh mục tài liệu tham khảo, luận án có kết cấu 4 chương, 11 tiết như sau: Chương 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án Chương 2. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay và khái lược học thuyết hành vi con người của Freud. Chương 3. Vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud để phân tích những biểu hiện lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Chương 4. Giá trị và hạn chế trong học thuyết hành vi con người của Freud và một số giải pháp có tính định hướng, nhằm hạn chế lối sống tiêu cực cho giới trẻ Việt Nam hiện nay. 8 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1.1. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ GIỚI TRẺ VÀ LỐI SỐNG CỦA GIỚI TRẺ VIỆT NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI Ở mọi giai đoạn của cách mạng Việt Nam, thanh niên là lực lượng xung kích, luôn đi đầu trong các phong trào và luôn sống theo lý tưởng cách mạng. Trong công cuộc chống ngoại xâm, giành độc lập và bảo vệ Tổ quốc, đã có hàng triệu thanh niên Việt Nam lên đường ra trận, dũng cảm chiến đấu, đổ xương máu và hy sinh tuổi thanh xuân đẹp nhất của mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước. Sau ngày hòa bình lập lại, thanh niên lại là lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Có rất nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu trong lao động sản xuất, làm kinh tế, trong hoạt động văn hóa xã hội, trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật và trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Các phong trào Thanh niên tình nguyện, Thanh niên làm theo lời Bác, Thanh niên với biển đảo quê hương đã thể hiện vai trò và ý chí của giới trẻ muốn đưa đất nước ta tiến kịp với các nước tiên tiến trên thế giới. Tuy nhiên, khi đất nước bắt đầu công cuộc đổi mới, mở cửa, bước vào kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế thì lối sống thực dụng cùng các trào lưu văn hóa, tư tưởng sống hưởng thụ, sống thác loạn, hành xử bạo lực coi thường pháp luật khác xa với thuần phong mỹ tục của dân tộc ta đã len lỏi, xâm nhập vào một bộ phận không nhỏ giới trẻ nước ta. Bệnh dịch này lan tỏa, lây nhiễm rất nhanh trong giới trẻ không chỉ thanh niên mà cả thiếu niên còn ngồi trên ghế nhà trường ở khắp mọi miền đất nước. 1.1.1. Các tổng kết đánh giá về thanh thiếu niên hiện nay Trong suốt quá trình lãnh đạo, nhất là từ Đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới công tác thanh niên và giáo dục thanh niên. Đảng ta nhìn rõ cả mặt tích cực lẫn mặt hạn chế của thanh niên trong thời kỳ hội nhập. Nghị quyết của các kỳ Đại hội của Đảng, của Đoàn đều khẳng định rằng, 9 thanh niên và giáo dục thanh niên là vấn đề trọng yếu của Quốc gia, nó gắn liền với chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và con người Việt Nam. Trong diễn văn khai mạc Đại hội lần thứ X của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ngày 12/12/2012, do Bí thư Trung ương Đoàn trình bày đã đánh giá những mặt tích cực của phong trào thanh niên như sau: Phong trào hành động cách mạng lớn của thanh niên là Năm xung kích phát tiển kinh tế, xã hội, bảo vệ Tổ quốc và Bạn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp đã đi vào cuộc sống, đã phát huy được vai trò xung kích, tình nguyện của tuổi trẻ trong phát triển kinh tế xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng, đảm bảo an sinh xã hộiCuộc vận động Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác và Chương trình Thắp sáng ước mơ Tuổi trẻ Việt Nam vì dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh do Đoàn phát động và tổ chức thực hiện đã phát hiện, biểu dương và nhân rộng hàng nghìn tấm gương điển hình tiên tiến trong các hoạt động của đời sống xã hội [31]. Cũng trong Đại hội này, sau khi biểu dương các mặt tích cực của Đoàn Thanh niên, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thẳng thắn đánh giá rằng: Một bộ phận thanh niên còn biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hóa dân tộcTình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong thanh niên vẫn gia tăng và diễn biến phức tạp. Đây là những vấn đề rất đáng lo ngại, trong đó tổ chức Đoàn có phần trách nhiệm lớn [31]. Như vậy, các đánh giá của Đảng, của Đoàn chỉ rõ mặt mạnh và mặt yếu kém của thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới hiện nay, trong đó vấn đề đạo đức lối sống, tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội của thanh thiếu niên là bức xúc lớn của xã hội. 1.1.2. Điều tra xã hội học về thanh thiếu niên Bước sang thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, khi nước ta hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, khi toàn cầu hóa trở thành xu thế không thể đảo ngược, khi kinh tế và 10 xã hội Việt Nam có những bước phát triển vượt bậc thì bắt đầu xuất hiện những vấn đề bức xúc về xã hội nói chung và về thanh thiếu niên nói riêng, đã có một số cuộc điều tra xã hội học về tình hình thanh thiếu niên. Trước hết, phải kể tới cuộc điều tra của Ban Tuyên giáo Trung ương và Viện Nghiên cứu Thanh niên vào năm 2002, có tên là “Điều tra khảo sát về thực trạng văn hóa thanh niên”. Kết quả cuộc điều tra đã đưa ra các con số về thực trạng và lối sống của một bộ phận thanh niên vào những năm đầu thế kỷ mới, bao gồm cả mặt tích cực và cả mặt còn hạn chế. Phạm vi của cuộc điều tra chỉ tập trung vào một nhóm đối tượng là sinh viên, thanh niên nông thôn, thanh niên công nhân. Đặc biệt, vào năm 2003 và năm 2010, tổ chức WHO và UNICEF phối hợp với Bộ Y tế và Tổng cục Thống kê tiến hành cuộc điều tra xã hội học về thanh thiếu niên trên phạm vi toàn quốc với quy mô toàn diện và công phu hơn rất nhiều, có tên là “Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam” (Survey Assessment of Vietnamese Youth - SAVY1) [151]. Trong cuộc điều tra SAVY1 tiến hành từ năm 2001 tới năm 2003, SAVY1 đã thu thập tới 7.584 phiếu điều tra, với nhiều hạng mục khác nhau về thanh thiếu niên tuổi từ 14 đến 25. Thanh thiếu niên từ 42 tỉnh, thành trên cả nước, bao gồm thanh thiếu niên nam nữ, độc thân hoặc đã có gia đình, ở thành thị và nông thôn, thuộc dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số đã tham gia cuộc điều tra này. Bà Tống Thị Đua, Phó Vụ trưởng Vụ Xã hội, Môi trường, Tổng cục Thống kê cho biết: Kết quả cuộc điều tra SAVY cho thấy phần đông thanh thiếu niên Việt Nam rất lạc quan, cần cù và có nhiều hoài bão. Thanh thiếu niên có mối quan hệ chặt chẽ với gia đình và xã hội. Tuy nhiên, sự chuyển biến về kinh tế xã hội đang diễn ra rất nhanh chóng ở Việt Nam cũng đặt ra không ít thách thức cho giới trẻ. Thanh thiếu niên dân tộc thiểu số và thanh thiếu niên sống ở vùng sâu vùng xa là những nhóm có nhiều khả năng bị ảnh hưởng nhất trước tình trạng nghèo đói và thiếu thông tin, và đây chính là rào cản cho các cơ hội về giáo dục và việc làm [50]. 11 Tiến sĩ Christian Salazar, Phó trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam nhận xét: Kết quả của Điều tra Quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải ưu tiên một số vấn đề cho việc hoạch định và xây dựng chương trình trong tương lai. Đặc biệt, cần tập trung cho những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất và dễ bị ảnh hưởng nhất trước các nguy cơ. Các nhóm này bao gồm cả thanh thiếu niên dân tộc thiểu số [50 ]. Sau đó 7 năm, từ năm 2008 tới năm 2010, cuộc điều tra xã hội học SAVY 2 được thực hiện với quy mô rộng lớn hơn SAVY1 trên phạm vi toàn quốc. Cuộc điều tra thực hiện tại 63 tỉnh, thành với 10.044 thanh thiếu niên tham gia. Các đối tượng được điều tra là những học sinh đang đi học và những người đã đi làm; ở thành thị và nông thôn, dân tộc thiểu số; chưa kết hôn. Các vấn đề điều tra rất đa dạng với nhiều góc cạnh cuộc sống như giáo dục, việc làm, tình trạng sức khoẻ, sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục và một số vấn đề khác như HIV/AIDS, sử dụng các chất gây nghiện, tai nạn thương tích, bạo hành gia đình, sức khoẻ thể chất, sức khỏe tinh thần[152]. Tại Hội nghị công bố kết quả cuộc điều tra SAVY2, bà Trần Thị Thanh Mai, Vụ trưởng Vụ Truyền thông Giáo dục, Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình đánh giá: Qua kết quả của cuộc điều tra cũng như những quan sát trong cuộc sống hàng ngày, tôi thấy đa số vị thành niên và thanh niên của ta là tốt. Còn những hiện tượng vi phạm pháp luật, bất cần đời, phóng túng, bạo lực... chỉ là một tỉ lệ nhỏ không thể đại diện cho 2,4 triệu vị thành niên và thanh niên.Phần lớn các em đều có thái độ không chấp nhận những hiện tượng trên [51 ]. Mặc dù SAVY1và SAVY2 đề cập nhiều về các vấn đề y tế, sức khỏe, học đường, hôn nhân, giới tính, song cũng dành một phần nhỏ cho điều tra về tâm tư tình cảm, thái độ và hoài bão của thanh thiếu niên trong tình hình hiện nay. Các số liệu thu được từ hai cuộc điều tra này rất phong phú, có độ tin cậy cao, có giá trị thực tiễn và khoa học. Đó là nguồn thông tin tư liệu vô cùng quý giá. Tuy nhiên, các cuộc điều tra xã hội học chỉ cung cấp những thông tin qua con số về thực trạng tình hình mà chưa đi sâu vào tìm hiểu lối sống, nếp sống của giới trẻ, đặc biệt chưa có những phân tích, lý giải tìm nguyên nhân dẫn đến lối sống của họ. 12 1.1.3. Nghiên cứu về thanh thiếu niên và lối sống của thanh thiếu niên trong thời kỳ đổi mới Chỉ tính từ năm 1986 đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thanh thiếu niên mang tính học thuật sâu và ý nghĩa thực tiễn lớn. Các công trình này rất đa dạng, phong phú, từ các đề tài NCKH cấp cơ sở đến các chương trình NCKH cấp nhà nước; từ các bài báo nghiên cứu chuyên khảo đến các luận án tiến sỹ. Có thể chia làm hai giai đoạn, từ năm 1986 tới năm 2000 và từ năm 2000 đến nay để đánh giá như sau: Giai đoạn 1986-2000 Trong giai đoạn này, có nhiều đề tài NCKH độc lập và chương trình NCKH cấp nhà nhà nước nghiên cứu về thanh niên. Nhìn chung, các nghiên cứu mang tính chiến lược, tổng quát theo tầm vĩ mô và thiên về định hướng giáo dục. Điển hình là, chương trình NCKH cấp nhà nước KX06 về “Văn hóa, văn minh và phát triển” do Nguyễn Hồng Phong chủ trì [114], đã đưa vấn đề giáo dục và sự cần thiết nâng cao nhận thức tư tưởng của thanh niên như một nhân tố quan trọng cho thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới. Trong chương trình, có một số đề tài lấy tiêu chí là nghiên cứu xây dựng một nền văn hóa toàn diện theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đặng Cảnh Khanh trong tác phẩm “Giáo dục pháp luật cho thanh niên - vấn đề quan trọng của sự ổn định xã hội” [95] đã nhấn mạnh sự cần thiết phải giáo dục pháp luật cho thanh niên trong giai đoạn mới. Khi đất nước mở cửa, lối sống tự do từ bên ngoài đã tác động ảnh hưởng tới thanh thiếu niên và trực tiếp ảnh hưởng tới ổn định xã hội.Vì vậy, giáo dục pháp luật, kỷ cương cho thanh thiếu niên là nhiệm vụ sống còn của toàn Đảng, toàn dân ta. Trong thời gian này Phạm Minh Hạc, chủ nhiệm chương trình NCKH cấp Nhà nước KX-07 “Vấn đề con người trong sự nghiệp đổi mới”, đồng thời là chủ nhiệm đề tài NCKH “Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [57], đã đề xuất những vấn đề có tính chiến lược cho thanh niên trong giai đoạn đất nước đổi mới. Trong đề tài này, tác giả đã phân tích xu thế thay đổi cách nhìn và cách tư duy, đặc biệt là lối sống của con người Việt Nam, nhất là của giới trẻ trong thời kỳ mở cửa. Những thay đổi này 13 sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ tới phát triển kinh tế xã hội. Vì vậy, cần thiết phải hoạch định một chiến lược phát triển con người, bắt đầu từ giới trẻ, cả về thể lực và trí tuệ, để họ có đủ năng lực đáp ứng với đòi hỏi của phát triển k...ọc thuyết Freud: Tâm lý học Freud với Phân tâm học đã đi vào lịch sử văn hóa, văn minh Tây Âu, và về sau của cả loài người như là một học thuyết đã bàn đến bản tính (bản chất) con người, bảo vệ dòng giống và loài người, đi sâu vào một trong những động lực tâm lý người từ bản năng, từ vô thức với các cơ chế khác nhau, dành nhấn mạnh cơ chế thăng hoa có ý nghĩa to lớn thế nào cho văn minh, văn hóa, đạo đức chuẩn mực xã hội. Chẳng nói các bạn cũng nhận ra, đây là một đại vấn đề của nhân loại, từng dân tộc, từng cộng đồng và từng cá nhân con người, còn nguyên tính thời sự cho thời đại của chúng ta ngày nay [59, tr.238]. Như vậy, với 16 tài liệu nguyên gốc của Freud được xuất bản, cùng với hàng chục tác phẩm của các học giả Việt Nam và học giả nước ngoài nghiên cứu sâu về học thuyết Freud hiện có ở Việt Nam có thể thấy, toàn bộ nội dung của học thuyết Freud đã được cập nhật và lan tỏa sâu rộng trong giới nghiên cứu Triết học và Tâm lý học nước ta. Các luận thuyết của học thuyết Freud không còn xa lạ với những 27 người quan tâm tìm hiểu học thuyết Freud. Đó là cơ sở thuận lợi khi nghiên cứu học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào các vấn đề xã hội và các mặt khác nhau của cuộc sống. 1.2.2.2. Các nghiên cứu vận dụng học thuyết hành vi con người của Freud vào thực tiễn cuộc sống Học thuyết Freud có tầm ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều mặt xã hội và tâm lý con người. Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào phân tích, lý giải các hiện tượng trong đời sống xã hội, trong bệnh học, trong tâm lý con người, trong văn hóa nghệ thuậtLĩnh vực nghiên cứu này được gọi chung là nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud (applied Freudian theory). Năm 1992, Larry A.Hjelle và Daniel J.Ziegler cho ra mắt tác phẩm “Lý thuyết nhân cách: nghiên cứu giả định cơ bản và ứng dụng” [163]. Trong tác phẩm này, các tác giả đã nghiên cứu, tổng hợp tâm lý nhân cách con người của nhiều học giả nổi tiếng trên thế giới trong đó có học thuyết Freud. Các tác giả đã vận dụng các luận thuyết của Freud như vô thức, libido, cái ấy, cái tôi, eros, thanatos để phân tích lý giải nhiều trạng thái tâm lý hành vi con người và gợi mở rất nhiều vấn đề về tâm lý nhân cách có thể được kiến giải từ các luận thuyết này. Sớm hơn, vào năm 1935, Aichorn August đã có tác phẩm “Tuổi trẻ ngỗ ngược” [154]. Đây là tác phẩm nổi tiếng và là đầu tiên phân tích tâm lý hành vi người trẻ tuổi cùng với nguyên nhân động cơ dẫn đến hành vi này. Aichorn August đã vận dụng các luận thuyết của Freud về vô thức, cái tôi, eros để luận giải hành vi ham chơi, nghịch ngợm, quậy phá, bạo ngược của thanh thiếu niên. Trong tác phẩm “Tổng quan về sức khỏe tinh thần và trẻ em” [166] xuất bản năm 2001, A.Osenblatt đã vận dụng các nghiên cứu của Freud về bệnh lý học thần kinh, về libido để phân tích trạng thái và những biến động của sức khỏe tâm thần của trẻ em. Ngoài ra còn có rất nhiều các tác phẩm khác vận dụng học thuyết Freud để kiến giải nhiều vấn đề trong mọi lĩnh vực xã hội, văn hóa nghệ thuật và đời sống con người được xuất bản ở các nước Âu Mỹ. Ở Việt Nam cho đến nay, những nghiên cứu mang tính vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống mới chỉ dừng lại ở mức độ nhỏ lẻ, mang tính chất 28 đánh giá hoặc liên hệ từng vấn đề, thể hiện qua các bài báo trên các tạp chí, hoặc các báo cáo tại các hội thảo khoa học. Chỉ có một số rất ít công trình mang tính tổng hợp như: “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” của Vũ Đình Lưu [103] ; Một chùm tác phẩm về nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud của học giả Đỗ Lai Thúy; “Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam” của Trần Thanh Hà [52]; “Phân tâm học với phê bình văn học” của Liễu Trương [141]. Hai tác phẩm sau có cùng đối tượng vận dụng nghiên cứu là văn học nghệ thuật như tác phẩm “Phân tâm học với văn học nghệ thuật” [131] của Đỗ Lai Thúy. Vì vậy, luận án chỉ phân tích tác phẩm của Vũ Đình Lưu và chùm tác phẩm của Đỗ Lai Thúy làm đại diện cho nhóm các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Tác phẩm “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” của Vũ Đình Lưu [103] xuất bản từ năm 1969 ở miền Nam trước đây. Tác phẩm này có giá trị cả về mặt khoa học lẫn ý nghĩa thực tiễn. Cho dù xuất bản cách đây gần 50 năm trong điều kiện chính trị xã hội khác biệt với đương thời, song tính thời sự và tính thực tiễn của tác phẩm vẫn còn giá trị. Có thể nói, “Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” là công trình nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn đầu tiên ở Việt Nam. Cho đến nay, đó cũng là tác phẩm bao quát tổng hợp nhất về khả năng áp dụng học thuyết Freud vào rất nhiều ngành khoa học. Tác phẩm Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn” có 3 phần. Phần 1, giới thiệu về tư trào nhân văn của người Mỹ. Đó là khuynh hướng phê bình, nghiên cứu, phát triển và vận dụng học thuyết Freud ở Mỹ trong nửa đầu thế kỷ XX. Khi phân tích những điểm đồng thuận và không đồng thuận của H.V.Sullivan và Karen Horney với quan điểm của Freud, Vũ Đình Lưu nhận xét rằng, tuy có điểm không đồng thuận, nhưng cả hai nhà Phân tâm học này đều thừa nhận vai trò và ảnh hưởng của học thuyết Freud là rất lớn đến nhiều lĩnh vực khoa học. Ở phần 2, Vũ Đình Lưu phân tích mối liên quan và khả năng ứng dụng học thuyết phân tâm của Freud vào các lĩnh vực: ngôn ngữ học; ngữ phạm học; sự liên 29 lạc giữa tiếng nói và hoạt động tiềm thức. Ông cũng dành một dung lượng lớn để phân tích mối quan hệ giữa học thuyết Freud và khoa học sư phạm. Đây là một trong những đóng góp có giá trị thực tiễn của Vũ Đình Lưu. Ông đã vận dụng học thuyết Freud để phân tích tâm trạng trẻ em, tâm trạng thiếu niên áp dụng vào sư phạm và vào giáo dục sinh lý. Tác giả đã gắn kết giữa triết lý giáo dục phương Đông với các luận điểm của Freud khá nhuần nhuyễn và hài hòa. Tuy ông không phân tích và vận dụng một cách chi tiết các luận điểm, ví dụ như vô thức, libido, cái ấy, cái tôi của Freud để lý giải, song người đọc vẫn hiểu được các tư tưởng của Freud trong mỗi vấn đề mà ông đưa ra. Khi phân tích tâm trạng trẻ em trên cơ sở các tư tưởng của Freud, Vũ Đình Lưu viết: Tiếp tục công việc của Freud, gần đây người ta tìm hiểu sâu rộng mối tương quan giữa cha mẹ và con cái. Mối tương quan đó có một tầm quan trọng lớn trong thời kỳ thơ ấu của đứa trẻ vì có ảnh hưởng quyết định đến cuộc đời của nó sau này. Đứa trẻ cần thân thiết với cha mẹ, vì đó không những là một nhu cầu tâm lý mà còn là một nhu cầu sinh lý [103, tr.13]. Khi phân tích các giai đoạn phát triển tâm sinh lý của thiếu niên, Vũ Đình Lưu nhấn mạnh: “Từ khi Freud nêu lên vấn đề, người ta thấy cần phải lưu ý các nhà giáo dục và phụ huynh học sinh đến những khó khăn của thiếu niên khi phải qua giai đoạn dậy thì” [103, tr.14]. Cũng trong mục phân tích tâm trạng thiếu niên, Vũ Đình Lưu đánh giá tâm lý hành vi trẻ em qua cách nhìn của học thuyết Freud: Thanh thiếu niên du đãng qua sự xét nghiệm Phân tâm học đều là những đứa trẻ bị giáo dục gia đình chểnh mảng, cha mẹ không biết đến nhu cầu của con. Người ta còn khám phá ra rằng đứa bé đã trải qua những thảm kịch nội tâm vào thời kỳ dậy thì, thiếu tình thương yêu của cha mẹ, tính tình nó phát triển theo chiều hướng củng cố của tính gây gổ, phá phách hung bạo. Còn phải kể đến sự đua đòi, sự bắt chước. Những đứa cầm đầu thường là những đứa thủ đoạn và can đảm liều lĩnh, bởi vậy trẻ khác đồng nhất hóa mình với nó thậm chí chịu phục tùng nó như nô lệ. Đứa trẻ phát triển những khuynh hướng gây gổ và hung bạo [103, tr.16]. 30 Những phân tích, đánh giá của Vũ Đình Lưu dựa trên việc vận dụng các tư tưởng của học thuyết Freud về thiếu niên nhi đồng và tâm lý của lứa tuổi này thực sự bổ ích. Luận án sẽ đi theo hướng tiếp cận như vậy đề lý giải các hiện tượng tiêu cực trong giới trẻ hiện nay. Khi trình bày học thuyết Freud và tội phạm học, Vũ Đình Lưu phân tích rất rõ hành vi và động cơ của kẻ phạm tội dưới góc nhìn của học thuyết Freud cho dù ông chỉ phân tích theo tư tưởng mà không phân tích chi tiết theo các luận điểm. Phân tích của Vũ Đình Lưu rất cụ thể, sâu sắc có ý nghĩa thực tiễn và vẫn còn đúng với tình hình tội phạm trong xã hội hiện nay. Ông viết: Hoàn cảnh sống, sự giao du với những người du thử du thực giúp cho kẻ có tiềm ý sát nhân phương tiện thực hiện hành vi sát nhân, cũng như khuyến khích đồng bọn bắt chước những hành vi ăn trộm, ăn cắp, du đãng dâm loạn. Thanh thiếu niên du đãng và phạm pháp phần lớn cũng là những đứa trẻ bất thường đã qua một thời thơ ấu thiếu thốn tình yêu và thiên lệch tâm tính [103, tr. 24]. Khi phân tích học thuyết Freud và nghệ thuật, Vũ Đình Lưu vận dụng các luận thuyết của học thuyết để phân tích rất nhiều vấn đề trong văn học nghệ thuật như xung đột nội tâm; văn nghệ - phương tiện giải thoát; mặc cảm phạm tội; đồng nhất và thăng hoa; tính chất sang tạo của văn nghệ; thực thể văn nghệ và tôn chỉ văn nghệ; linh hồn văn nghệ. Hiện nay cũng có một số học giả phân tích mối quan hệ này. Tuy nhiên, có thể nói, về tính sâu sắc và chi tiết, họ chưa vượt qua được những gì mà Vũ Đình Lưu phân tích trong nội dung này. Như vậy, cách đây gần 50 năm, Vũ Đình Lưu đã có cách nhìn sâu sắc về mối liên hệ giữa học thuyết Freud và các lĩnh vực khoa học xã hội, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật và tôn giáo. Vũ Đình Lưu cũng đã gợi mở rất nhiều vấn đề để có thể tiếp tục nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud đi sâu vào các lĩnh vực trên và các lĩnh vực khác của cuộc sống. Có thể nói, trong dòng triết học về Freud ở Việt Nam, Vũ Đình Lưu là người tiên phong và có công lớn trong việc đề xuất đưa học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống và xã hội. 31 Các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud của Đỗ Lai Thúy Trong khoảng hơn một thập kỷ vừa qua, Đỗ Lai Thúy cho ra mắt một số tác phẩm có liên quan tới học thuyết Freud, trong đó có chùm 4 tác phẩm nghiên cứu về việc vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống theo từng chủ đề. Đó là: “Phân tâm học và tình yêu” [131]; “Phân tâm học và văn học nghệ thuật” [132]; “Phân tâm học và văn hóa tâm linh” [133]; “Phân tâm học và tính cách dân tộc” [136]. Trong các tác phẩm của mình, Đỗ Lai Thúy dùng tên chung là Phân tâm học thay cho học thuyết Freud. Thực ra thì trong 4 tác phẩm này, chỉ có một phần là nghiên cứu của Đỗ Lai Thúy, phần còn lại là hợp tuyển các nghiên cứu của học giả nước ngoài có cùng chung một chủ đề. Công lao của Đỗ Lai Thúy không chỉ thể hiện trong các nghiên cứu của riêng mình mà còn là ở chỗ ông đã chọn tuyển được những công trình nghiên cứu có giá trị của thế giới về vận dụng học thuyết Freud. Đỗ Lai Thúy còn viết lời giới thiệu mang tính khảo cứu cho mỗi công trình được tuyển chọn. Tác phẩm “Phân tâm học và tình yêu” [131] được tổng hợp từ Ba tiểu luận về lý thuyết tính dục của S.Freud; Phân tâm học với tình yêu của E.Fromm; Siêu hình học tình yêu của A.Schopenhauer; Siêu lý tình yêu của V.Soloviev. Đỗ Lai Thúy viết lời giới thiệu chung và lời giới thiệu cho từng tác phẩm, kèm theo đó là bài nghiên cứu Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của mình. Đỗ Lai Thúy đã khuyến khích những ai quan tâm và say mê nghiên cứu Freud nên đi theo hướng áp dụng học thuyết này vào cuộc sống. Ông viết: Cuối cùng, thay cho lời bạt, tôi cho in vào đây bài Đi tìm ẩn ngữ trong thơ Hoàng Cầm của tôi như là một thu hoạch nhỏ nhoi của mình từ những công trình của các tác giả lớn. Tôi không có mục đích nào khác ngoài sự khuyến dụ bạn đọc áp dụng phương pháp Phân tâm học, hiện còn đang là một lối nhỏ, vào các lĩnh vực nghiên cứu của mình [131, tr.10]. Tác phẩm “Phân tâm học và văn học nghệ thuật” [132] được Đỗ Lai Thúy tuyển chọn từ các tác phẩm của các tác giả: S. Freud với Vô thức và sáng tạo; C.G.Jung với Bí ẩn của những siêu mẫu; J.Bellemin, Noel với Phân tâm 32 học và văn học; G.Bachelard với Phân tâm học về lửa; G.Tucci với Rati-Lila hay những trò chơi tình ái; V.Dundes với Folklore, nhìn từ phân tâm học; V.Vyshestsev với Đi tìm tính cách dân tộc Nga. Trong hợp tuyển này, Đỗ Lai Thúy có hai nghiên cứu: Phân tâm học và ngọn nguồn sáng tạo, Phân tâm học và phê bình văn học ở Việt Nam. Đỗ Lai Thúy lý giải sự sáng tạo của nghệ thuật bắt nguồn từ cảm xúc vô thức: “Với Freud, tác phẩm văn học trước hết là một giấc mơ. Nó phản ánh những ham muốn vô thức, những mặc cảm, đặc biệt là mặc cảm Oedipe. Freud thấy trong bi kịch Hy Lạp cổ đại đầy rẫy những mặc cảm ám ảnh nhân loại” [132, tr.12]. Đỗ Lai Thúy cũng phân tích cụ thể bức tranh sáng tác văn học nghệ thuật ở Việt Nam trong thế kỷ XX có đượm màu học thuyết Freud. Ông viết: Trong sáng tác văn chương, người đầu tiên vận dụng học thuyết Freud, có lẽ là Vũ Trọng Phụng trong Làm đĩ, Giông tố, Số đỏ, còn trong phê bình là Trương Tửu và Nguyễn Văn Hanh. Năm 1936, trên tờ Tiến hóa (số1), Trương Tửu viết bài Cái ám ảnh của Hồ Xuân Hương...Cũng năm này, Nguyễn Văn Hanh cho in hẳn một chuyên luận Hồ Xuân Hương: tác phẩm, thân thế và văn tài (Aspar, Sài Gòn) dùng lý thuyết của S.Freud để giải thích hiện tượng Hồ Xuân Hương [132, tr.499]. Đỗ Lai Thúy phân tích và lý giải hiện tượng Hồ Xuân Hương qua các bài thơ được người đời cho là “tục” dưới góc nhìn của học thuyết Freud. Tương tự, ông đã lý giải các ẩn ngữ trong tập thơ nổi tiếng của Hoàng Cầm Về Kinh Bắc với các bài thơ để đời: Em - Chị, Cây tam cúc, Lá diêu bông, Quả vườn ổi, Cỏ bông thi, Nước sông Thương. Ông viết: “Về Kinh Bắc là một giấc mơ. Giấc mơ với những liên tưởng đứt đoạn, những hình ảnh rời rạc và rất nhiều các khoảng trắng, các dấu lặngTất cả trôi đi trong nhịp điệu thôi miên. Giấc mơ Về Kinh Bắc này là sự siêu thăng của mặc cảm Oedipe, một thực tại siêu thực ấy, trong vô thức của Hoàng Cầm” [132, tr.514]. Tác phẩm “Phân tâm học và Văn hóa tâm linh” [133] được Đỗ Lai Thúy tuyển chọn từ các tác phẩm Sự trở lại ấu thơ của tục Tô-tem của S.Freud; Thăm dò 33 tiềm thức của C.Jung; Phân tâm học và tôn giáo của E.Fromm; Phân tâm học và Thiền của E.Fromm; Bông hồng tâm linh hay sự phát triển siêu cá nhân của R.Assagioli. Trong lời giới thiệu cho mỗi tác phẩm tuyển chọn, dưới góc nhìn của Phân tâm học, Đỗ Lai Thúy cho rằng, văn hóa tâm linh không phải là thần bí mà nằm trong một tổ hợp hài hòa của các mặt: sinh học - xã hội - tâm lý - tâm linh. Ông viết: “Bởi thế, đời sống tâm linh không phải là cái gì thần bí, dẫu đôi khi nó như cố ý khoác một cái vỏ thần bí, mà là cái thường tồn trong con người, có thể hiểu được, có thể khám phá được từ cái nhìn của phân tâm học” [132, tr.9]. Tác phẩm “Phân tâm học và tính cách dân tộc” [136] cũng được hình thành tương tự như ba tác phẩm nêu ở trên. Đỗ Lai Thúy đã chọn lọc những nghiên cứu của nhiều học giả trên thế giới nhìn nhận về tính cách dân tộc qua góc nhìn của học thuyết Freud, cụ thể là: P.Claret với Mô hình tâm lý-văn hóa về tính cách dân tộc; G.Devereux với Cái bình thường và cái không bình thường; G.Devereux với Bệnh tinh thần phân liệt, một chứng loạn tâm có tính tộc người; F.G.Baranov với Bệnh dân tộc-nguồn gốc những xung đột; G.Devereux với Những giấc mơ sinh bệnh ở các xã hội ngoài phương Tây; B.P.Vysheslagtsev với Đi tìm tính cách dân tộc Nga; V.A.Pronnikov và I.D.Ladanov với Tính cách Nhật; E.Fromm với Tâm lý của chủ nghĩa Quốc xã Đức; J.Dourner với Trần trụi điên; S. Zweig với Amok hay là bệnh điên xứ Malaysia. Trong hợp tuyển này, Đỗ Lai Thúy có chuyên luận: Cấu trúc văn hóa Nhật bản và Một chùm tính cách Việt. Từ tác phẩm này chúng ta thấy, tính cách dân tộc ở các quốc gia là rất đa dạng. Sự hình thành và phát triển tính cách dân tộc có thể được nhìn nhận và giải thích từ các luận thuyết của học thuyết Freud. Đây là không gian còn rất rộng cho những ai quan tâm nghiên cứu Freud. Đó là gợi mở của Đỗ Lai Thúy trong lời nói đầu của tác phẩm này: “Nhưng, tính cách dân tộc, có lẽ, giống như một tảng băng trôi, phần nổi lên mà chúng ta có thể nhìn thấy được bằng hữu thức chỉ chiếm một phần mười, còn chín phần kia chìm trong vô thức. Vì thế, tiếp cận tính cách dân tộc từ phân tâm học là một phương pháp khả quan và khả thi” [136, tr.5]. 34 1.3. GIÁ TRỊ THAM KHẢO CỦA CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRONG TỔNG QUAN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN ÁN SẼ TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU 1.3.1. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu trong tổng quan 1.3.1.1. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu về lối sống của giới trẻ Từ đánh giá tổng quan các nghiên cứu về giới trẻ được tổng hợp trong mục 1 ở trên có thể thấy, các loại hình nghiên cứu rất phong phú, đa dạng từ điều tra xã hội học tới các nghiên cứu chuyên sâu, các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các tổng kết đánh giá và các nghị quyết chỉ đạo, v.v.. Các nghiên cứu, báo cáo đánh giá, đã phân tích thực trạng thanh thiếu niên Việt Nam trong thời kỳ đổi mới và hội nhập. Từ đó có thể thấy những mặt tích cực, năng động và cả những cơ hội thuận lợi cho phát triển của giới trẻ. Đồng thời, chúng ta cũng thấy được một số mảng màu tối trong bức tranh chung về giới trẻ hiện nay. Đó là một bộ phận thanh thiếu niên có biểu hiện suy thoái đạo đức, suy giảm niềm tin, ít quan tâm đến tình hình chính trị đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, lối sống thực dụng, ăn chơi đua đòi, xa rời truyền thống văn hóa dân tộc. Tình trạng tội phạm, bạo lực và tệ nạn mại dâm, hút chích trong thanh thiếu niên gia tăng và diễn biến rất phức tạp. Lối sống tiêu cực này đã được Phạm Hồng Tung nghiên cứu, phân tích, xác định rõ trong đề tài NCKH cấp Nhà nước KX03.16/06-10, (2006-2010): “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”. Lối sống tiêu cực đó là điều khó tránh trong tiến trình phát triển xã hội và là thách thức không nhỏ chúng ta phải đương đầu giải quyết. Một số nghiên cứu, dưới các góc độ khác nhau, đã cố gắng xác định nguyên nhân dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ nêu trên. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới tập trung vào xem xét các tác động ngoại cảnh như: do ảnh hưởng du nhập từ nước ngoài, ảnh hưởng của internet, ảnh hưởng của sách báo, phim ảnh, do thiếu giáo dục của gia đình và nhà trường, do hạn chế trong giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường, v.v.. 35 Cho đến nay, chưa có một nghiên cứu nào đi sâu vào tìm hiểu nguyên nhân nội sinh từ trong mỗi con người, từ bản năng vốn có của mỗi con người đã hình thành hành vi của mình để lý giải cho hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ hiện nay. Cụ thể hơn, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào vận dụng những tư tưởng và luận điểm của học thuyết Freud - học thuyết nổi tiếng về tâm lý hành vi con người để tìm nguyên nhân sâu xa, gốc rễ của lối sống tiêu cực, buông thả, suy thoái đạo đức, ưa bạo lực, coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ đang lan tràn hiện nay. 1.3.1.2. Giá trị tham khảo của các công trình nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống Học thuyết Freud hình thành và phát triển ở châu Âu và Bắc Mỹ từ đầu thế kỷ XX. Để đến và hiện diện ở Việt Nam, học thuyết Freud đã trải qua những chặng đường thăng trầm, thậm chí có những nơi, những lúc nó còn không được chấp nhận. Nhưng từ khi đất nước đổi mới (1986), đặc biệt từ sau năm 1990, khi có đổi mới trong công tác Văn hóa Tư tưởng, học thuyết Freud đã được nghiên cứu và bước đầu lan tỏa trong các lĩnh vực triết học, phê bình văn học và văn hóa nghệ thuật ở cả ba miền của đất nước. Học thuyết Freud không còn quá xa lạ, cách biệt, mà đã cùng hòa chung vào dòng triết học đương đại của Việt Nam và luồng không khí đổi mới hiện nay là lấy con người làm trung tâm cho mọi hoạt động của xã hội. Cho đến nay ở Việt Nam, đã có nhiều các nghiên cứu về học thuyết Freud và bắt đầu cũng đã có các nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào các lĩnh vực khoa học xã hội, văn hóa nghệ thuậtCác nghiên cứu của nước ngoài cho thấy rằng, có thể vận dụng học thuyết Freud vào luận giải rất nhiều vấn đề của xã hội học, tâm lý học, tôn giáo, giáo dục, đặc biệt là tính cách con người và lối sống của cá nhân hay cộng đồng. Đây là xu hướng nghiên cứu mới mẻ và có rất nhiều hứa hẹn phát triển ở Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu nào vận dụng ưu thế mạnh nhất của học thuyết Freud 36 là xuất phát từ gốc rễ sâu thẳm của tâm lý nhân cách con người để lý giải tâm lý hành vi của lối sống nói chung và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam nói riêng. Với các luận điểm nổi tiếng của Freud về vô thức, về libido, về bản năng eros, thanatos, về tính dục, về giáo dục giới tính, về đồng tính luyến ái, về tâm lý học đám đông, chắc chắn sẽ có mối dây liên hệ rất khăng khít để từ đó có thể lý giải những vấn đề đang nhức nhối là lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Cách tiếp cận như vậy là tìm hiểu nguyên nhân nội sinh từ trong mỗi con người, từ bản năng vốn có của mỗi con người dẫn đến hành vi và lối sống tiêu cực của giới trẻ. 1.3.2. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu Từ tên gọi của đề tài luận án, có thể thấy được hướng nghiên cứu của luận án chọn là nghiên cứu vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Các nghiên cứu tổng quan về học thuyết Freud đã chỉ ra rằng, đây là học thuyết về tâm lý hành vi con người và có thể vận dụng các luận thuyết của học thuyết để phân tích, lý giải nhiều hiện tượng tâm lý xã hội và hành vi con người. Từ các cơ sở nêu trên, luận án chọn cách tiếp cận mà ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào lựa chọn là nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ - nguyên nhân nội sinh của hành vi dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ nhìn từ các luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud, đó là: vô thức, libido, bản năng eros, thanatos, tính dục, đồng tính luyến ái, tâm lý đám đông. Lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam rất đa dạng, Phạm Hồng Tung đã xác định được 4 xu hướng sống đó. Đây là cơ sở tốt và thuận lợi để NCS phân tích, nghiên cứu, mà không cần phải đi lại từ đầu để tìm hiểu về lối sống tiêu cực. Tuy nhiên, không phải mọi hành vi lối sống tiêu cực của giới trẻ đều có thể lý giải từ các luận thuyết của học thuyết Freud. Vì vậy, NCS chọn ra ba lối sống tiêu cực điển hình với những biểu hiện của nó, để từ đó vận dụng các luận thuyết cơ bản phù hợp của học thuyết Freud để soi rọi, phân tích, nghiên cứu. Nhiệm vụ này sẽ được thực hiện trong các chương sau. 37 Kết luận chương 1 Trong chương 1, luận án giới thiệu tổng quan các nghiên cứu có liên quan tới nội dung đề tài luận án, đó là: Các nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ hiện nay, các nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống. Ở mảng tổng quan đầu, luận án đã nêu các nghiên cứu về giới trẻ và lối sống của giới trẻ thông qua các nghiên cứu từ điều tra xã hội học tới các đề tài NCKH, các tổng kết đánh giá, các văn kiện, nghị quyết về lối sống nói chung và lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt nam hiện nay. Luận án trình bày sâu hơn về đề tài NCKH cấp nhà nước KX03.16/06-10 “Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế” do Phạm HồngTung làm chủ nhiệm, cùng với tác phẩm công bố của đề tài là “Thanh niên và lối sống của thanh niên trong quá trình hội nhập”, theo đó, đã định dạng 4 xu hướng sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Đây là cơ sở để NCS phân tích trong luận án của mình mà không phải nghiên cứu tìm ra lối sống tiêu cực. Từ 4 lối sống đã được đề tài xác định, NCS chọn ra các biểu hiện của 3 lối sống mang tính điển hình mà có thể vận dụng các luận thuyết của học thuyết Freud để phân tích lý giải. Ở mảng tổng quan thứ 2, luận án đã nêu toàn cảnh các nghiên cứu về học thuyết Freud và vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống của các học giả trong và ngoài nước. Đây là hướng nghiên cứu rất thiết thực song còn mới mẻ ở Việt Nam. Sau khi tổng hợp hai mảng tổng quan, luận án đã phân tích đánh giá giá trị tham khảo của các nghiên cứu có trong tổng quan. Từ đó, NCS định hướng cách tiếp cận nghiên cứu của luận án mà ở Việt Nam hiện chưa có. Đó là tìm hiểu nguyên nhân nội sinh của hành vi dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ từ các luận thuyết cơ bản của học thuyết Freud. 38 CHƯƠNG 2 LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ KHÁI LƯỢC HỌC THUYẾT HÀNH VI CON NGƯỜI CỦA FREUD 2.1. LỐI SỐNG TIÊU CỰC CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI TRẺ VIỆT NAM HIỆN NAY 2.1.1. Về phạm trù “giới trẻ” và phạm trù “lối sống” Phạm trù “giới trẻ” Trong luận án, phạm trù giới trẻ được xác định là những người trong độ tuổi thanh niên và thiếu niên hay vị thành niên. Thuật ngữ giới trẻ được sử dụng nhiều trong vài ba thập kỷ qua; nó mang tính phổ quát rộng hơn cách vẫn thường gọi là thanh thiếu niên. Tuy nhiên, về bản chất, không có sự khác biệt giữa thuật ngữ giới trẻ và thanh thiếu niên. Tại điều 1 của “Luật Thanh niên” được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 (Luật số 53/2005/ QH11) xác định: “Thanh niên quy định trong luật này là công dân Việt Nam từ đủ mười sáu tuổi đến ba mươi tuổi”. Như vậy, “Luật Thanh niên” chỉ đề cập riêng về thanh niên với độ tuổi xác định. Trong khi đó giới trẻ còn được mở rộng tới độ tuổi thiếu niên, độ tuổi học đường rất nhạy cảm trong xã hội hiện nay. Theo “Từ điển Tiếng Việt” của Viện Ngôn ngữ học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam xuất bản năm 2010, thuật ngữ thanh niên được giải thích là: “Người còn trẻ, đang ở độ tuổi trưởng thành” [149, tr.1169]. Việc xác định của “Từ điển Tiếng Việt” về thanh niên như vậy còn khá sơ lược, chung chung và chưa rõ ràng. Cũng trong “Từ điển Tiếng Việt”, thuật ngữ “thiếu niên” được giải thích là: “Những trẻ em trong độ tuổi khoảng từ mười, mười một tới mười bốn, mười lăm tuổi” [149, tr.1208]. Như vậy, nếu tổng hợp cách xác định theo “Luật Thanh niên” và theo “Từ điển Tiếng Việt” có thể xác định được khá chính xác độ tuổi của thiếu niên và thanh niên hay độ tuổi của giới trẻ nằm trong khoảng từ mười, mười một tới ba mươi tuổi. Thuật ngữ giới trẻ, tuổi trẻ trong tiếng Anh được dùng chung là youth. Từ điển Oxford của Anh giải thích từ youth: “Là người trẻ tuổi, trong giai đoạn giữa 39 tuổi thơ ấu và tuổi người lớn” Như vậy, youth trong tiếng Anh được hiểu là cả thanh niên và thiếu niên hay giới trẻ nói chung. Một thuật ngữ khác cũng thường được dùng để nói về thiếu niên và cận thanh niên là vị thành niên. Tuy nhiên, vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) vị thành niên nằm trong độ tuổi từ 10 tới 19, còn thanh niên nằm trong độ tuổi từ 19 tới 24 tuổi. Ở Việt Nam thuật ngữ vị thành niên được dùng trong truyền thông mà chưa có xác định cụ thể về độ tuổi. Ở một số báo cáo của Hội kế hoạch hóa gia đình Việt Nam (KHHGĐVN) đã tự mặc định độ tuổi của vị thành niên và thanh niên là 10-24 tuổi tương tự như của WHO, trong đó vị thành niên là từ 10 tới 19 tuổi, còn thanh niên là từ 19 tới 24 tuổi. Từ phân tích ở trên, kết hợp hài hòa giữa độ tuổi thanh niên từ “Luật Thanh niên" (16 - 30 tuổi) với độ tuổi của thiếu niên, vị thành niên, thanh niên của các tổ chức Quốc tế và của “Từ điển Việt Nam” (10-24 tuổi), NCS xác định: giới trẻ là đối tượng nghiên cứu của luận án bao hàm cả thanh niên và thiếu niên có độ tuổi từ 10 đến 30. Đây là độ tuổi có nhiều mặt tích cực song cũng dễ nảy sinh những mặt tiêu cực, trong đó độ tuổi của thiếu niên rất dễ bị tổn thương nhất trước những tác động của môi trường xã hội. Trong luận án, để phù hợp với từng ngữ cảnh, NCS dùng hai thuật ngữ tương đương nhau về bản chất sinh học và độ tuổi như đã phân tích hoặc là giới trẻ, hoặc là thanh thiếu niên. Ngoài ra, trong luận án ở một số trích dẫn có thuật ngữ thế hệ trẻ, cũng được hiểu là đồng nghĩa với hai thuật ngữ trên. Phạm trù “lối sống” Thuật ngữ lối sống được sử dụng rộng rãi trong ngôn ngữ đời thường và ngôn ngữ truyền thông của người Việt Nam. Luận án sử dụng thuật ngữ lối sống xuyên suốt quá trình nghiên cứu.Tuy nhiên, ở một số ngữ cảnh, để phù hợp, luận án sử dụng cả thuật ngữ xu hướng sống. Hai thuật ngữ này xin được hiểu là tương đương nhau về bản chất. Cho đến nay có nhiều nghiên cứu về lối sống, từ đó có nhiều cách định nghĩa khác nhau về phạm trù lối sống. Theo Đôbơrianôp: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống những quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể những điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động của con người” [32, tr. 213]. 40 Trần Văn Bính coi “lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ, trong quan hệ giữa người với người, trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa” [10, tr. 211]. Dựa trên các phân tích và lập luận khoa học, Phạm Hồng Tung xác định: Lối sống của con người là các chiều cạnh chủ quan của văn hóa, là quá trình hiện thực hóa các giá trị văn hóa thông qua hoạt động sống của con người. Lối sống bao gồm tất cả những hoạt động sống và phương thức tiến hành các hoạt động sống được một bộ phận lớn hoặc toàn thể nhóm hay cộng đồng người chấp nhận và thực hành trong một khoảng thời gian tương đối ổn định, đặt trong mối tương tác biện chứng của các điều kiện sống hiện hữu và trong các mối liên hệ lịch sử của chúng [145, tr.89]. Dựa trên cơ sở xác định của UNESCO và của nhiều triết gia nổi tiếng trên thế giới, Wikipedia – Bách khoa toàn thư điện tử mở thông dụng hiện nay, đã đưa ra ...xã hội hóa; điều chỉnh các điều luật chưa hợp lý về xử phạt đua xe trái phép. Đặc biệt, cần khai thác mặt tích cực của tâm lý đám đông trong các cuộc vận động giới trẻ. Với hiện tượng đồng tính luyến ái, luận án nhấn mạnh, cần có một sự nhìn nhận đúng mức và một thái độ xây dựng nhằm giảm thiểu khuynh hướng tình dục bất bình thường này. 149 KẾT LUẬN Sau hơn 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế, đất nước ta đã có bước chuyển mình mạnh mẽ. Mọi mặt kinh tế, xã hội, đời sống, văn hóa, đã đổi thay rõ rệt. Thế hệ trẻ Việt Nam có điều kiện thuận lợi tiếp cận nhanh với khoa học kỹ thuật, văn hóa, công nghệ tiến tiến của thế giới. Tuy nhiên, đổi mới và hội nhập cũng mang tới những khó khăn và thách thức không nhỏ cho đất nước nói chung và thế hệ trẻ nói riêng. Thế hệ trẻ, đặc biệt là lối sống của họ, rất nhạy cảm và rất dễ bị tổn thương trước những tác động tiêu cực từ bên ngoài. Lối sống tiêu cực từ nước ngoài được du nhập, được giới trẻ Việt Nam tiếp thu bằng nhiều con đường và lan tỏa trong tư duy và lối sống của một bộ phận giới trẻ gây bức xúc cho xã hội và cũng là mối quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước ta. Đã có nhiều nghiên cứu phân tích, lý giải nguyên nhân dẫn đến hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ đưa ra các nguyên nhân ngoại sinh từ các tác động ngoại cảnh tới giới trẻ, như ảnh hưởng của văn hóa phẩm ngoại lai độc hại; giáo dục bất cập của gia đình nhà trường, cộng đồng, xã hội; ảnh hưởng của môi trường bạn bè...Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào đi sâu nghiên cứu tìm hiểu nguyên nhân nội sinh, tức là đi tìm hiểu bản năng gốc rễ trong mỗi con người đã hình thành hành vi của mình để lý giải hành vi lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ. Cụ thể hơn, cho đến nay chưa có một nghiên cứu nào vận dụng những tư tưởng và luận điểm của học thuyết Freud, một học thuyết nổi tiếng về tâm lý hành vi con để tìm hiểu căn nguyên gốc rễ của lối sống nói chung và lối sống tiêu cực nói riêng của giới trẻ. Vận dụng học thuyết Freud vào thực tiễn cuộc sống là xu hướng mới mẻ và có rất nhiều triển vọng phát triển ở Việt Nam. Các luận điểm nổi tiếng của Freud về vô thức, về libido, về bản năng eros, thanatos, về tính dục, về giáo dục giới tính, về đồng tính luyến ái, về tâm lý học đám đông, có mối dây liên hệ rất khăng khít để từ đó có thể lý giải tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến lối sống tiêu cực của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay. Học thuyết Freud tuy đã hiện diện ở Việt Nam, song nghiên cứu về học thuyết Freud chưa nhiều, đặc biệt là vận dụng học thuyết này vào 150 việc xem xét một số mặt trong thực tiễn cuộc sống của giới trẻ. Luận án này cố gắng khắc phục các khiếm khuyết đó. Luận án đã chọn được ba xu hướng sống tiêu cực điển hình khái quát nhất mà có thể soi rọi từ những nội dung phù hợp của học thuyết Freud để phân tích lý giải. Với lối sống hành xử bạo lực coi thường pháp luật, từ các luận thuyết của học thuyết Freud về vô thức, về cấu trúc bộ máy tư duy với cái ấy, cái tôi, cái siêu tôi đặc biệt từ hai xung lực bản năng eros, thanatos, luận án đã vận dụng phân tích làm rõ căn nguyên dẫn đến hành vi của lối sống tiêu cực này. Có thể thấy được xuất phát điểm dẫn đến các hành vi bạo lực trong một bộ phận giới trẻ hiện nay là từ vô thức, từ cái ấy, từ xung lực của hai bản năng eros và thanatos. Đó là nguồn động lực nội sinh đưa đến các hành vi bạo lực. Với vấn nạn đua xe trái phép, từ góc nhìn Triết học của Freud về tâm lý đám đông có thể phân tích lý giải sự hình thành và phát triển của đám đông đua xe trái phép. Luận án đã làm rõ toàn cảnh và bản chất thực của đám đông ô hợp này. Điểm xuất phát dẫn đến hành động như một bầy thú điên loạn của đám đông đua xe trái phép là từ vô thức, từ libido, từ cái tôi và xung lực bản năng eros. Đó là nguồn động lực nội sinh đưa đến các hành vi đua xe trái phép. Với đồng tính luyến ái, luận án đã tổng hợp phân tích các đánh giá, cách nhìn nhận của Freud, trong đó đi sâu phân tích quan điểm của Freud cho rằng, đồng tính luyến ái là một sự lệch lạc của tính dục nguyên thủy libido, rõ hơn, đó là một biến thể của chức năng tình dục do kìm hãm lidibo. Đó cũng là sự khởi nguồn nội sinh cho sự hình thành và phát triển đồng tính luyến ái, Từ phân tích đó, luận án đã làm rõ hơn, sâu xa hơn về hiện tượng đồng tính luyến ái, mà cho đến nay ở Việt Nam chưa có những phân tích theo góc nhìn của học thuyết Freud. Luận án nêu ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm hạn chế lối sống tiêu cực xuất phát từ tâm lý, nhân cách con người của giới trẻ. Đó là khai thác triệt để cái siêu tôi và phát triển điểm tích cực, điểm chủ động của cái tôi và hạn chế đến mức tối đa những điểm tiêu cực của cái ấy, tránh xa những ham muốn đòi hỏi của bản năng dục vọng eros của cái ấy. Đồng thời hướng giới trẻ hoàn thiện chính 151 bản thân mình, chủ động tiếp nhận các mặt tích cực của môi trường xã hội và thích nghi với hoàn cảnh xã hội tác động. Đặc biệt, cần hướng cho giới trẻ tự xác định được ý nghĩa, giá trị sống, lựa chọn lối sống của mình và tự chịu trách nhiệm về các hành động trong lối sống của mình, hướng giới trẻ có ý thức tự trau dồi tu dưỡng bản thân; nâng cao hiệu quả giáo dục của gia đình, nhà trường và cộng đồng; phát huy lợi thế của các phương tiện truyền thông; hoàn thiện hệ thống chính sách và chiến lược đối với thế hệ trẻ phù hợp với điều kiện của đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Để giảm thiểu lối sống tiêu cực coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ còn cần tăng cường các biện pháp răn đe, xử phạt nghiêm minh, ngăn chặn sớm những hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật; tạo sân chơi lành mạnh cho giới trẻ. Đặc biệt, cần có sự nhìn nhận đúng mức, khoan dung hơn và khoa học hơn về đồng tính luyến ái, song không khuyến khích và không cho phép hôn nhân đồng tính mà tăng cường giáo dục giới trẻ để giảm thiểu tình trạng đồng tính luyến ái. 152 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nguyễn Thị Bích Hằng (2006), Quan điểm của Freud về Libido, Vô thức, Thông báo Khoa học, Trường Cao đẳng sư phạm Hà Tĩnh, (1), tr. 26-29. 2. Nguyễn Thị Bích Hằng (2007), Một vài nhận định về chủ nghĩa Freud từ lập trường phép biện chứng duy vật mác-xit, Thông báo Khoa học, Trường Cao đẳng sư phạm Hà Tĩnh, (1), tr. 29-32. 3. Nguyễn Thị Bích Hằng (2008), Sự bổ khuyết của Adler và Jung với lý luận của Freud, Thông báo Khoa học, Trường Đại học Hà Tĩnh, (1), tr. 113-115. 4. Nguyễn Thị Bích Hằng (2008), Chủ nghĩa Freud mới và ý đồ kết hợp chủ nghĩa Freud với chủ nghĩa Mác, Thông báo Khoa học Trường Đại học Hà Tĩnh, (2), tr. 92-96. 5. Nguyễn Thị Bích Hằng (2010), Từ phân tâm học đến chủ nghĩa Freud, Thông báo Khoa học số Trường Đại học Hà Tĩnh, (6),tr.95-99. 6. Nguyễn Thị Bích Hằng (2012), Quan niệm của S.Freud về động lực sinh tồn, phát triển của con người và xã hội, Tạp chí Triết học, (7), tr. 71-79. 7. Nguyễn Thị Bích Hằng (2013), Những nét tương đồng trong tư duy ở một số luận điểm của Freud và Marx, Tạp chí Triết học, (10), tr. 51-60. 8. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), Đồng tính luyến ái trong giới trẻ hiện nay, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (5), tr. 72-79. 9. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), Lối sống hành xử bạo lực coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn từ hai bản năng Eros và Thanatos của S.Freud, Tạp chí Triết học, (6), tr. 76- 82. 10. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), Đồng tính luyến ái - hiện tượng xã hội đang lan rộng trong giới trẻ hiện nay, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Hà Tĩnh, (4), tr. 63-70. 153 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO A. TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT 1. Nguyễn Hồng Anh (2010), “Nghiên cứu phát triển con người trên thế giới và kiến nghị cho nghiên cứu phát triển con người ở Việt Nam”. Tạp chí Nghiên cứu Con Người, (2), tr.3-10. 2. Mai Anh ( 2014), “Tội phạm vị thành niên”, Báo Đời sống & Pháp luật, số 14(296), ngày 20/1/2014. 3. Mai Anh (2015), “Bạo lực học đường”, Báo Đời sống & Pháp luật, số 27(312), ngày 26/3/2015. 4. Appignanesi Richard, Oscar Zarate (2006), Freud nhập môn, Nxb Trẻ, Hà Nội 5. Aristotle (2013), Chính trị luận, Nxb Thế giới, Hà Nội. 6. Sơn Bắc (2013), “Những “anh hùng” xa lộ”, Báo Công an nhân dân,số 3578, ngày 22/3/2013. 7. Bennet E. A. (2002), Jung đã thực sự nói gì, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 8. Benoit Hubert (1970), Hành trình vào phân tâm học, Nxb Đông Phương, Sài Gòn. 9. Nguyễn Ngọc Bích (2000), Tâm lý học nhân cách, một số vấn đề lý luận, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 10. Trần Văn Bính (1997), Văn hóa và xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 11. Christian Carol (1991), Những gương mặt lớn của thời đại chúng ta, Nxb Hội nhà Văn, Hà Nội. 12. Nguyễn Trọng Chuẩn (2000), Một số vấn đề về triết học - con người - xã hội, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 13. Nguyễn Trọng Chuẩn (2000), Xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới – Trong: Văn hóa Việt Nam xã hội và con người, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 14. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”,Tạp chí Triết học, (1), tr. 5-13. 15. Nguyễn Trọng Chuẩn (2014), “Môi trường và sự phát triển của con người”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (4), tr. 22-30. 154 16. Nguyễn Trọng Chuẩn (2014), “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh để có con người đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững”, Tạp chí Cộng sản, (864), tr. 21-29. 17. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (2002), Giá trị truyền thống trước những thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 18. David Stafford-Clark (1998), Freud đã thực sự nói gì, Nxb Thế giới, Hà Nội. 19. Hoàng Đức Diễn (2003), Chủ nghĩa Freud và biểu hiện của nó trong văn học tính dục miền Nam Việt Nam trước 1975, Luận văn thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Huế, Thừa Thiên Huế. 20. Nguyễn Tiến Dũng, Bùi Đăng Duy (2004), Giáo trình lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Đại học Huế, Thừa Thiên Huế. 21. Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Văn Quế (2012), “Sự tiếp nhận Phân tâm học ở Việt Nam: lịch sử và vấn đề”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr.15-25. 22. Đài Truyền hình Việt Nam VTV1, Bản tin Thời sự 19h, ngày 30/4/2015. 23. Thanh Đạm (2012), “Về trưng cầu ý kiến đề xuất công nhận hôn nhân đồng giới”, Báo Dân trí Điện tử, tại trang cau-y-kien-de-xuat-cong-nhan-hon-nhan-dong-gioi/20120711615345233.htm, [truy cập ngày 29/7/2014]. 24. Đảng Cộng sản Việt Nam (1986), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 26. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 27. Đảng cộng sản Việt Nam (2000), Chỉ thị của Bộ Chính trị Về tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ đảng ở cơ sở đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2012), Báo cáo tại Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 155 29. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2007), Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đoàn khóa VIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 30. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2009), Báo cáo công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 31. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (2012), Văn kiện Đại hội lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 32. Đôbơrianôp V. (1985), Xã hội học Mác- Lênin, NxbThông tin Lý luận, Hà Nội. 33. Lưu Phóng Đồng (1994), Triết học phương Tây hiện đại, t.4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 34. Erich Fromm (2002), Ngôn ngữ bị lãng quên, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 35. Freud S. (1969), Nghiên cứu phân tâm học, Nxb An Tiêm, Sài Gòn. 36. Freud S. (1970), Phân tâm học nhập môn, Nxb Khai Trí, Sài Gòn, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội tái bản 2002. 37. Freud S. (1998), Vật tổ và cấm kỵ (Totem ed Tabou), Nxb Trung tâm Văn hóa Dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh. 38. Freud S. (2000), Nguồn gốc văn hóa tôn giáo: Vật tổ và Cấm kị, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 39. Freud S. (2002), Phân tích một ca ám sợ ở một bé trai 5 tuổi (Chuyện bé Hans), Nxb Thế giới, Hà Nội. 40. Freud S. (2002), Bệnh lý tinh thần trong đời sống hàng ngày, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 41. Freud S. (2005), Luận bàn về văn minh, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội 42. Freud S. (2005), Các bài viết về giấc mơ và giải thích giấc mơ, Nxb Thế giới, Hà Nội. 43. Freud S. (2006), Ba tiểu luận về thuyết tính dục, Nxb Thế giới, Hà Nội. 44. Freud S. (2009), Cảm giác bất ổn với văn hóa, Nxb Thế giới, Hà Nội. 45. Freud S. (2009), Freud Sigmund , tại trang sigmund_freud.html, [truy cập ngày 12/4/2013]. 46. Gustave Le Bon (2006), Tâm lý học đám đông, Nxb Tri thức, Hà Nội. 47. Gustave Le Bon (2013), Tâm lý đám đông, tại trang / tam ly dam dong, the free encyclopedia, [truy cập ngày 14/6/2013]. 156 48. Hồng Hà (2013), “Tuổi trẻ và Đồng tính luyến ái”, Báo Đời sống & Pháp luật, số 25(290), ngày 28/3/2013. 49. Hồng Hà (2013), “ Ngày hội của những người đồng tính” Báo Đời sống & Pháp luật, số 84(512), ngày 28/10/2013. 50. Vân Hà (2004), “Hội nghị tổng kết SAVY1”, Báo Tiền phong điện tử, tại trang [truy cập ngày 30/6/2013]. 51. Vân Hà (2011), “Hội nghị tổng kết SAVY2”, Báo Tiền phong điện tử, tại trang [truy cập ngày 30/6/2013]. 52. Trần Thanh Hà (2008), Học thuyết Freud và sự thể hiện của nó trong văn học Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội 53. Tạ Thị Vân Hà (2014), Tư tưởng Triết học của S. Freud, Luận án Tiến sĩ Triết học, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia, Hà Nội. 54. Phạm Minh Hạc (1980), Nhập môn Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 55. Phạm Minh Hạc (1994), Phát triển giáo dục, phát triển con người phục vụ sự nghiệp hiện đại hóa, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 56. Phạm Minh Hạc (1995), Vấn đề con người trong sự nghiệp đổi mới, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, mã số KX-07, (1991-1995), Hà Nội. 57. Phạm Minh Hạc (1995), Chiến lược phát triển toàn diện con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đề tài khoa học cấp Nhà nước KHXH 04-04, (1991-1995), Hà Nội. 58. Phạm Minh Hạc (2004), Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 59. Phạm Minh Hạc (2013), Học thuyết và tâm lý học S.Freud, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 60. Nguyễn Hào Hải (2003). Người đàn ông có nhiều nhiều ảnh hưởng tới văn chương - S.Freud, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 61. Nguyễn Vũ Hảo (2012), “Triết học Áo và những ảnh hưởng của nó đến triết học phương Tây đương đại”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 59-68. 157 62. Nguyễn Thị Bích Hằng (2005), Chủ nghĩa Freud - Lịch sử và sự biểu hiện ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Khoa học Huế, Thừa Thiên Huế. 63. Nguyễn Thị Bích Hằng (2006), “Quan điểm của Freud về Libido, Vô thức”, Thông báo Khoa học, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh, (1), tr. 26-29. 64. Nguyễn Thị Bích Hằng (2007), “Một vài nhận định về chủ nghĩa Freud từ lập trường phép biện chứng duy vật mác-xit”, Thông báo Khoa học, Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tĩnh, (1), tr. 29-32. 65. Nguyễn Thị Bích Hằng (2008), “Sự bổ khuyết của Adler và Jung với lý luận của Freud”, Thông báo Khoa học, Trường Đại học Hà Tĩnh, (1), tr. 113-115. 66. Nguyễn Thị Bích Hằng (2008), “Chủ nghĩa Freud mới và ý đồ kết hợp chủ nghĩa Freud với chủ nghĩa Mác”, Thông báo Khoa học, Trường Đại học Hà Tĩnh, (2), tr, 92-96. 67. Nguyễn Thị Bích Hằng (2010), “Từ phân tâm học đến chủ nghĩa Freud”, Thông báo Khoa học, Trường Đại học Hà Tĩnh, (6), tr. 95-99. 68. Nguyễn Thị Bích Hằng (2012), “Quan niệm của S.Freud về động lực sinh tồn, phát triển của con người và xã hội”, Tạp chí Triết học, (7), tr.71-79. 69. Nguyễn Thị Bích Hằng (2013), “ Những nét tương đồng trong tư duy ở một số luận điểm của Freud và Marx”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr.51-60. 70. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), “Đồng tính luyến ái trong giới trẻ hiện nay”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, (5), tr.72-79. 71. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), “Lối sống hành xử bạo lực coi thường pháp luật của một bộ phận giới trẻ Việt Nam hiện nay dưới góc nhìn từ hai bản năng Eros và Thanatos của S. Freud”, Tạp chí Triết học, (7), tr.76-82. 72. Nguyễn Thị Bích Hằng (2014), “Đồng tính luyến ái - hiện tượng xã hội đang lan rộng trong giới trẻ hiện nay”, Tạp chí Khoa học, Trường ĐH Hà Tĩnh, (4), tr. 63-70. 73. Hergenhahn B. R. (2003), Nhập môn lịch sử tâm lý học, Nxb Thống kê, Hà Nội. 74. Đoàn Đức Hiếu (2003), Sự phát triển của cá nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 158 75. Nguyễn Chí Hiếu, Đỗ Minh Hợp (2013), Chủ nghĩa Mác phương Tây (Trường phái Frankfurt), Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 76. Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ (2010), Homosexuality tại trang homosexuality, the free encyclopedia, [truy cập ngày 27/2/2013]. 77. Dương Thị Diệu Hoa và các cộng sự (2008), Giáo trình Tâm lý học phát triển, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội. 78. Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Việt Phương (2012), “Phân tâm học của Sigmund Freud qua sự kiến giải của một số nhà tư tưởng nữ quyền đường đại”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 77-88. 79. Nguyễn Minh Hoàn (2008), “Quan điểm triết học Mác về con người và việc xóa bỏ sự tha hóa con người”, Tạp chí Lý luận Chính trị,(7), tr. 34-40. 80. Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam (2005), Báo cáo của Uỷ Ban Trung ương Hội khóa IV tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Hà Nội. 81. Nguyễn Ánh Hồng (2006), Phân tích về mặt tâm lý học lối sống của sinh viên Thành phố Hồ Chí Minh, Luận án Tiến sỹ Tâm lý học, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Tp. Hồ Chí Minh. 82. Đỗ Minh Hợp (2004), “Nhân học triết với vấn đề tồn tại người”, Tạp chí Triết học, (3), tr. 65-72. 83. Đỗ Minh Hợp (2006), Diện mạo triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 84. Đỗ Minh Hợp (2012), “Freud - Nhà Triết học”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 99-106. 85. Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn và Nguyễn Thanh (2008), Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh. 86. Đỗ Minh Hợp và các cộng sự, (2014), Nhân học triết học Freud và ảnh hưởng của nó đến nhân học triết học phương Tây hiện đại, Nxb Tôn giáo, Hà Nội. 87. Phạm Việt Hưng (2011), “Luận về bản tính thiện, ác: học thuyết của Sigmund Freud”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, (10), tr. 40-48. 159 88. Phạm Việt Hưng (2011), “Luận về bản tính thiện, ác: học thuyết Tuân Tử - Hàn Phi”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, (11), tr.42-51. 89. Phạm Việt Hưng (2011), “Luận về bản tính thiện, ác: gene tội phạm, một dấu hỏi lớn?”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, (12), tr. 39-47. 90. Phạm Việt Hưng (2012), “Luận về bản tính thiện ác: nền văn minh sẽ đi về đâu?”, Tạp chí Khoa học và Tổ quốc, (1), tr. 41-49. 91. Nguyễn Thị Lan Hương (2012), “Chủ nghĩa Marx – Freud một sự kết hợp tư tưởng của Marx và S. Freud trong nghiên cứu các vấn đề con người”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 136 - 144. 92. Jason Rentfrow (1999), Model of personality tại trang #q=freud%27s+model+personality, [truy cập ngày 23/5/2013]. 93. Jostein Gaarder (2002), Những luận thuyết nổi tiếng thế giới, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội. 94. Karl Marx và Phriedrich Engels (1995), Toàn tập, Tập 3, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 95. Đặng Cảnh Khanh (1995), Giáo dục pháp luật cho thanh niên - vấn đề quan trọng của sự ổn định xã hội, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 96. Đặng Cảnh Khanh (2002), Về việc khắc phục hiện tượng xa lánh của lớp trẻ với văn hóa văn nghệ dân gian truyền thống, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 97. Đặng Cảnh Khanh (2006), Văn hóa thanh niên trong quá trình hội nhập quốc tế của thanh niên, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội. 98. Nguyễn Cảnh Lâm, Minh Đức, (2006), Những khám phá bí ẩn của A. Einstein và Freud, Nxb Trẻ, Hà Nội. 99. Phạm Minh Lăng (1999),“Vài nét về Freud và Tâm phân học”, Tạp chí Triết học,(5), tr.61-69. 100. Phạm Minh Lăng (2000), S. Freud và tâm phân học, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 101. Đặng Vũ Cảnh Linh (2003), Vị thành niên và chính sách vị thành niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 160 102. Đỗ Long, Phan Thị Mai Hương (2002), Tính cộng đồng, tính cá nhân và cái tôi của thanh niên, Nxb Thanh niên, Hà Nội. 103. Vũ Đình Lưu (1969), Phân tâm học áp dụng vào việc nghiên cứu các ngành học vấn, Nxb Tổ hợp Gió, Sài Gòn. 104. Phương Lựu (2002), Lý luận phê bình văn học phương Tây thế kỷ XX, Nxb Hội nhà Văn Việt Nam, Hà Nội. 105. Dương Tuyết Miên (2012), Giáo trình tội phạm học, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 106. Miler H. Patricia (2003), Các thuyết về tâm lý học phát triển, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội. 107. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập, tập 12, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 108. Bùi Ngọc Minh (2004), Giáo dục các giá trị truyền thống dân tộc cho thanh niên hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 109. Nguyễn Thị Nga (2012), “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục với việc phát triển nền giáo dục Việt Nam những thập niên đầu thế kỷ XXI”, Tạp chí Triết học, (12), tr. 23-31. 110. Đoàn Đình Nghiệp (2004), Giáo dục lý tưởng cách mạng cho thanh niên hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 111. Nguyễn Tuệ Nguyễn và các cộng sự (2003), Giáo trình Tư liệu triết học phương Tây hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 112. Vũ Oanh (1996), Tập hợp đoàn kết rộng rãi thanh niên vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 113. Thanh Phong (2012), “Bệnh vô cảm trong xã hội hiện nay”, Báo Tiền phong điện tử, tại trang hoi-hien-nay-952476.tpo, [truy cập ngày 22/3/2013]. 114. Nguyễn Hồng Phong (1995), Văn hóa, văn minh và phát triển, Chương trình khoa học cấp Nhà nước, mã số KX-06, (1991-1995), Hà Nội. 115. Trần Văn Phòng (2009), “Về bản chất con người trong quan niệm của GS Trần Đức Thảo qua tác phẩm "Sự hình thành con người"”, Tạp chí Sinh hoạt Lý luận, (3), tr. 32-40. 161 116. Trần Văn Phòng (2010), “Sự phê phán của Ph.Ăngghen đối với lý luận về bạo lực của Đuy-rinh trong tác phẩm "Chống Đuy-rinh"”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (11), tr. 34-42. 117. Trần Văn Phòng (2013), “Phát triển giáo dục để phát triển cá nhân con người Việt Nam trong mối quan hệ hài hòa với xã hội”, Tạp chí Lý luận Chính trị, (5), tr. 36-48. 118. Nguyễn Phúc (1998), Khảo sát sự du nhập của phân tâm học và chủ nghĩa hiện sinh vào văn học đô thị miền Nam trước năm 1975, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh. 119. Tô Kiều Phương (1943), Học thuyết Freud, Nxb Tân Việt, Hà Nội. 120. Đăng Quang (2014), “Thờ ơ vô cảm trong thanh niên công chức” Báo Thanh niên điện tử, tại trang tho-o-vo-cam-trong- thanh-nien-cong-chuc -693764.html, [truy cập ngày 23/9/2013]. 121. Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (1999), Bộ luật hình sự số 15/1999/QH10, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 122. Hồ Sỹ Quý (2003), Con người và phát triển con người trong quan niệm của C.Mác và Ph. Ăng ghen, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 123. Robert B. Downs (2003), Những tác phẩm biến đổi thế giới, Nxb Lao động, Hà Nội. 124. Rolan Jaccard (2006), Freud - cuộc đời và sự nghiệp, Nxb Thế giới, Hà Nội. 125. Smith D. Barry, Harol V. (2005), Các học thuyết về nhân cách, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 126. Spaargaren G. (2000), Lifestyle, tại trang Lifestyle, the free encyclopedia, [truy cập ngày 16/7/2013]. 127. Suzuki D.T., Erich Fromm và Demartino R. (2010), Thiền và phân tâm học, Nxb Thời đại, Hà Nội. 128. Văn Thành (2012), “ Hiện tượng tự tử ở vị thành niên”, Báo Thanh niên điện tử, tại trang hien-tuong-tu-tu-o-vi-thanh-nien 624958.html, [truy cập ngày 18/7/2013]. 162 129. Đặng Quang Thành (2008), Xây dựng lối sống có văn hóa của thanh niên Thành phố Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, Luận án Tiến sĩ Xã hội học, Trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh 130. Đỗ Lai Thúy(1999), Hồ Xuân Hương: Hoài niệm và phồn thực, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 131. Đỗ Lai Thúy (2003), Phân tâm học và tình yêu, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 132. Đỗ Lai Thúy (2004), Phân tâm học và văn học nghệ thuật, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 133. Đỗ Lai Thúy (2004), Phân tâm học và văn hoá tâm linh, Nxb Văn Hóa Thông tin, Hà Nội. 134. Đỗ Lai Thúy (2004), Sự đỏng đảnh của phương pháp, Nxb Văn hóa Thông in, Hà Nội. 135. Đỗ Lai Thúy (2006), Theo vết chân những người khổng lồ, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội. 136. Đỗ Lai Thúy (2007), Phân tâm học và tính cách dân tộc, Nxb. Tri thức, Hà Nội. 137. Nguyễn Thị Thủy (2005), Phân tâm học và giáo dục nhân cách cho thanh thiếu niên Thừa Thiên Huế hiện nay, Luận văn thạc sĩ Triết học, Trường Đại học Huế, Thừa Thiên Huế. 138. Nguyễn Thanh Thủy (2012), “Phân tâm học và phân tâm học sau Freud, sự phê phán của Alfred Adler”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr.190-195. 139. Đặng Hữu Toàn (2012), “Nhân học Freud”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 196-206. 140. Vũ Mạnh Toàn (2012), “Quan điểm của S. Freud về tôn giáo”, Hội thảo Quốc tế Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó, Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXHVN, Hà Nội, tr. 207-212. 141. Liễu Trương (2011), Phân tâm học và phê bình văn học, Nxb Phụ nữ, Hà Nội. 142. Trung tâm biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam (1995), Từ điển Bách khoa Việt Nam, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 163 143. Trung tâm trợ giúp tâm lý Mỹ (1976), “Sexual orientation and homosexuality”, Báo cáo của APA tại hội nghị Quốc tế về ĐTLA, Toronto, Canada. 144. Phạm Hồng Tung (2010), Thực trạng và xu hướng biến đổi lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, đề tài khoa học cấp Nhà nước, mã số KX03.16/06-10, (2006-2010), Hà Nội. 145. Phạm Hồng Tung (2011), Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 146. Thanh Tùng (2014), “Tình hình nghiện ma túy, mại dâm năm 2013”, Báo Công an nhân dân, số 4723, ngày 18/2/2014. 147. Uỷ ban Quốc gia về Thanh niên Việt Nam (2010), Báo cáo kết quả công tác năm 2009, phương hướng, nhiệm vụ năm 2010, Hà Nội. 148. Văn phòng Chính phủ (2008), Công báo Chính phủ, số 88/2008/ND-CP, Nghị định về xác định lại giới tính. 149. Viện Ngôn ngữ, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (2010), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội. 150. Viện Triết học, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam (2012), Triết học Áo và ý nghĩa hiện thời của nó (Austrian philosophy and its relevance to day), Kỷ yếu hội thảo Quốc tế, Hà Nội. 151. WHO, UNICEP, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê (2003), Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of Vietnamese Youth, SAVY 1), Hà Nội. 152. WHO, UNICEP, Bộ Y tế, Tổng cục Thống kê (2010), Cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên Việt Nam (Survey Assessment of Vietnamese Youth, SAVY 2), Hà Nội. 153. Wilson Stephen (2001), Sigmund Freud - Nhà phân tâm học thiên tài, Nxb Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh. B. TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI 154. Aichorn August (1935), Wayward Youth, Viking Press, New York. 155. David. G. Winter (1996), Personality: Analysis and interpretatation of live, Mc Gaw-Hill Press, New York. 164 156. Erich Fromm (1962), Greatness and Limitations of Freud’s Thought, Mc Gaw-Hill Press, New York. 157. Freud S. (1940), Introductory lectures on psychoanalysis, George Allen & Unwin Press, London. 158. Freud S. (1948), An Autoblographical Study, Columbia University Press, New York. 159. Freud S. (1951), “Letter to an American mother”, American Journal of Psychiatry, (351), p. 142-150. 160. Freud S. (1957), The basic writings of S.Freud psychopathology of every Day, Mc Gaw-Hill Press, NewYork. 161. Freud S. (1995), Psychological writings and letters, Continuum Press, New York. 162. Hausman Ken (2001), “Attempts to change sexual orientation”, APA's Psychiatric News, (6), p. 24-30. 163. Larry A. Hjelle, Daniel.J. Ziegler (1992), Personality theories: Basic Assumptions research and application, Mc Gaw-Hill Press, NewYork. 164. Marcuse H. (1980), Eros and Civilization: A Philosophical Inquiry in to Freud, Mc Gaw-Hill Press, NewYork. 165. Murphy J. (1992), “Freud and sexual orientation therapy”, APA, Journal of Homosexuality, 23, (3), p.121-138. 166. Osenblatt A. (2001), An Overview of mental health and children, the niversity Press, San Francisco. 167. Scot Wortley at al (2008), Review of the Roots of Youth Violence, Queen`s Printer of Ontario, Canada. 168. Wallace E.R. (1983), Freud and anthropology International University Press, New York. 169. Зигмунд Фрейд (1989), Введение в психоанализ, Nxb Наука, Мовква. 170. Зигмунд Фрейд (1989), Психология бессознательного, Nxb Просвещение, Москва. 171. Зигмунд Фрейд (1992), Психоанализ. Религия. Культура, Nxb “Ренессанс”, Москва.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_loi_song_tieu_cuc_cua_mot_bo_phan_gioi_tre_viet_nam.pdf
  • docTóm tắt Tiếng Việt.doc
  • docTrang thong tin Viet-Anh.doc
Tài liệu liên quan