Luận án Nghi lễ mỡi của người Mường (nghiên cứu trường hợp người Mường ở huyện Lạc sơn tỉnh Hòa Bình)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Bùi Văn Hộ NGHI LỄ MỠI CỦA NGƢỜI MƢỜNG (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP NGƢỜI MƢỜNG Ở HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH) LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN Hà Nội - 2018 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM Bùi Văn Hộ NGHI LỄ MỠI CỦA NGƢỜI MƢỜNG (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP NGƢỜI MƢỜNG Ở HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH) Chuyên n

pdf189 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 13/01/2022 | Lượt xem: 290 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Nghi lễ mỡi của người Mường (nghiên cứu trường hợp người Mường ở huyện Lạc sơn tỉnh Hòa Bình), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
gành: Văn hóa dân gian Mã số: 9229041 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS Nguyễn Thị Hiền TS Hoàng Sơn Hà Nội - 2018 1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tƣ liệu đƣợc sử dụng trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng. Những phát hiện đƣa ra trong luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả luận án. Tác giả Bùi Văn Hộ 2 MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN..........................................................................................................1 MỞ ĐẦU.........................................................................................................................4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN .. 13 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu .................................................................. 13 1.2. Cơ sở lý luận ................................................................................................ 34 Tiểu kết ................................................................................................................ 50 Chƣơng 2: ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, NGƢỜI MƢỜNG, VĂN HÓA VÀ TÍN NGƢỠNG CỦA NGƢỜI MƢỜNG ........................................................................... 52 2.1. Giới thiệu về địa bàn và tộc ngƣời nghiên cứu ............................................ 52 2.2. Văn hóa của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn ......................................................... 59 Tiểu kết ................................................................................................................ 66 Chƣơng 3: THẦY MỠI VÀ VIỆC THỰC HÀNH NGHI LỄ MỠI CỦA NGƢỜI MƢỜNG Ở LẠC SƠN......... ..................... ..................................................68 3.1. Thầy Mỡi và sự hành nghề của họ ............................................................... 68 3.2. Số phận và quá trình trở thành thầy Mỡi ..................................................... 74 3.3. Đời sống và truyền nghề của các thầy Mỡi .................................................. 80 3.4. Điện thờ Mỡi ................................................................................................ 85 3.5. Các loại nghi lễ Mỡi ..................................................................................... 89 Tiểu kết .............................................................................................................. 106 Chƣơng 4: NGHI Ễ MỠI TRONG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TÍN NGƢỠNG CỦA NGƢỜI MƢỜNG Ở LẠC SƠN.............................. ............................ ...........108 4.1. Nghi lễ Mỡi phản ánh hệ thống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ................. 108 4.2. Quy trình thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng................................................................................................................ 115 4.3. Vị trí của nghi lễ Mỡi trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn .............................................................................................................. 125 4.4. Sự biến đổi của nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngƣỡng ngƣời Mƣờng hiện nay .138 Tiểu kết .............................. ..147 KẾT LUẬN........................................................................................ ................ .........149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ...... ......... ..............157 TÀI IỆU THAM HẢO......................... .......................... .....................................158 PHỤ LỤC................... ............................... ...................................................................167 3 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ viết đầy đủ NCS - Nghiên cứu sinh Nxb - Nhà xuất bản KT - Kinh tế Tp. HCM - Thành phố Hồ Chí Minh Tr - Trang VH - Văn hóa VHXH - Văn hóa xã hội XH - Xã hội 4 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Ngƣời Mƣờng nói chung và ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng có một kho tàng văn hóa dân gian, trong đó các sinh hoạt về tín ngƣỡng, nghi lễ rất phong phú và đa dạng. Các nghi lễ, tín ngƣỡng đƣợc tổ chức nhằm để cầu cúng chữa bệnh, trấn an, cầu yên và trong các phong tục tang lễ, cƣới xin, lễ hội, nghi lễ ở cộng đồng. Các nghi lễ thể hiện quan niệm vũ trụ quan, nhân sinh quan về “ba tầng - bốn thế giới”, trong đó con ngƣời có vía và vạn vật hữu linh. Trong tín ngƣỡng ngƣời Mƣờng, những việc rủi ro, gặp hạn, ốm đau, bệnh tật, trắc trở duyên phận .v.v. phần nào đó là nguyên nhân mang tính tự nhiên, là do con ngƣời bị mất vía, hoặc do ma quỷ quấy rầy. Trên nền tảng của hệ thống tín ngƣỡng này, mọi nghi lễ của ngƣời Mƣờng đƣợc sinh ra, việc thực hành các nghi lễ để giải quyết những vấn đề mang tính đức tin và thể hiện những quan điểm nhân sinh quan, vũ trụ quan của ngƣời Mƣờng đƣợc nảy sinh. Trong đời sống ngƣời Mƣờng nói chung và ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng, thầy Mo, Trƣợng, Mỡi là ngƣời tổ chức tất cả các nghi lễ liên quan về vòng đời ngƣời, từ khi sinh ra cho đến klhi sang thế giới bên kia, nghi lễ cầu yên, giải hạn .v.v. Các thầy Mỡi, theo số phận, phải làm lễ nhập môn, hay còn gọi là “Nổ”, để hành nghề, tổ chức nghi lễ chữa bệnh cho các thành viên trong cộng đồng. Theo tín ngƣỡng, họ có khả năng đặc biệt có thể giao tiếp với thần linh với thế giới vô hình. Họ là cầu nối giữa thế giới trần gian với một thế giới khác, ở đó có các vị thần tối linh, các hồn ma, và nơi mà vía đi lang thang bị lạc lối. Thế giới vô hình có tác động đến đời sống con ngƣời, sức khỏe, bệnh tật, ốm đau, công danh, sự nghiệp. Trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng, Mỡi là một trong những nghi lễ hình thành từ lâu đời. Tuy mục đích và hình thức tổ chức nghi lễ có những nét 5 khác nhau, các nghi lễ Mỡi nói chung nhằm truyền tải ƣớc muốn của con ngƣời về sức khỏe, sống lâu, gia đình đƣợc bình an, mùa màng, vạn vật tƣơi tốt, ƣớc vọng về một cuộc sống tốt đẹp. Trong thực tế, các nghi lễ Mỡi là một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. Trƣớc thời kỳ Đổi mới (1986), nghi lễ Mỡi cũng nhƣ nhiều thực hành tín ngƣỡng của các tộc ngƣời bị coi là mê tín dị đoan và cấm đoán. Đây là điều bất khả thi, bởi lẽ các nghi lễ là một phần trong cuộc sống tâm linh, tinh thần của con ngƣời. Chúng không hề mất đi, vẫn luôn tồn tại và biến đổi cho phù hợp với nhu cầu của con ngƣời trong thời đại mới. Đến nay, nghi lễ Mỡi có chiều hƣớng phát triển và trở nên phổ biến trong sinh hoạt tín ngƣỡng của cá nhân, gia đình, cộng đồng ngƣời Mƣờng. Thực hành nghi lễ Mỡi trƣớc kia cũng nhƣ bây giờ, là một điểm tựa về tinh thần, giúp con ngƣời vƣợt qua những khó khăn bất trắc, nhất là trong bối cảnh của nền kinh tế thị trƣờng với nhiều rủi ro trong kinh doanh, trong cuộc sống nói chung. Vậy, nghi lễ Mỡi là gì? Tại sao nó lại có vai trò quan trọng nhƣ vậy trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng? Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng, trong đó có các nghi lễ của thầy Mỡi, nhƣng các công trình mới chỉ mô tả khái quát và chƣa nêu bật đƣợc vai trò, chức năng, giá trị cũng nhƣ bản chất Shaman giáo của nghi lễ nhƣ công trình của tác giả: Bùi Huy Vọng (2016) [62]; Bạch Mỹ Trinh (2015) [51 . Các công trình này chƣa làm r đƣợc chức năng, vai trò, và khả năng của các thầy Mỡi nhƣ là thầy cúng tâm linh, là ngƣời tƣ vấn tinh thần và góp phần không nhỏ trong việc lƣu giữ những giá trị văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. NCS thấy rằng cần tìm hiểu sâu về nghi lễ Mỡi để làm rõ vai trò và chức năng của nó trong cuộc sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, 6 đồng thời nhấn mạnh vai trò của các thầy Mỡi đối với cá nhân, gia đình, cộng đồng. Do vậy, NCS chọn đề tài của n ườ ườn n u trường hợp n ườ ường ở huyện Lạ Sơn, tỉnh Hòa Bình) làm đề tài nghiên cứu luận án Tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa dân gian. 2. Mục đích nghiên cứu - Luận án hƣớng tới việc nhận diện một cách rõ ràng về vai trò và chức năng của thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng nói chung và ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình nói riêng hiện nay. - Luận án làm r và đề cao vai trò của các thầy Mỡi. Họ không chỉ đáp ứng nhu cầu trong cuộc sống tâm linh của cộng đồng, mà còn là những ngƣời thực hành, lƣu truyền những giá trị văn hóa tín ngƣỡng của cộng đồng ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn. - Luận án làm r việc thực hành nghi lễ Mỡi, nhƣ là một thực hành Shaman giáo mang đậm bản sắc văn hóa của ngƣời Mƣờng. 3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Đối tƣợng nghiên cứu là thực hành nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. Để làm r điều này, luận án đi sâu để nhận diện bản chất, ý nghĩa, chức năng của nghi lễ Mỡi đối với cộng đồng ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn. - Nghiên cứu các thầy Mỡi, những thành viên trong cộng đồng đƣợc thầy Mỡi làm lễ ( n y). Thầy Mỡi là những ngƣời đáp ứng các nhu cầu về tinh thần, tâm linh cho cả cộng đồng ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi không gian: Luận án tập trung nghiên cứu thực trạng tổ chức, các sinh hoạt nghi lễ của thầy Mỡi, không gian điện thờ trong văn hóa tín 7 ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn và tập trung chủ yếu ở một số xã nhƣ: Xã Thƣợng Cốc, xã Văn Nghĩa, xã Mỹ Thành, xã Chí Thiện, xã Miền Đồi, xã Xuất Hóa Phạm vi thời gian: Trong luận án này, nghiên cứu sinh tập trung nghiên cứu nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình chủ yếu là trong thời kỳ hiện nay, tính từ năm 1986 đến nay thời kỳ Đổi mới . 4. Nhiệm vụ nghiên cứu - Tìm hiểu nghi lễ Mỡi nhƣ là một phần trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của cộng đồng, đáp ứng những nhu cầu và ƣớc vọng về một cuộc sống đầy đủ, tƣơi đẹp, có sức khỏe, sung túc, bình an. - Nghiên cứu nghi lễ Mỡi bằng sự thể hiện khả năng của các thầy Mỡi, sự giao tiếp tâm linh giữa thế giới trần gian và thế giới vô hình. Đó là một thể loại nguyên hợp, tích hợp trong nó ngôn từ truyền miệng, bùa chú với hiện vật thiêng mang tính biểu tƣợng và đức tin của ngƣời Mƣờng về thế giới vô hình. - Nghiên cứu số phận của các thầy Mỡi có ăn số phải hành nghề, xem xét họ nhƣ là những ngƣời thầy cúng góp phần đáp ứng nhu cầu tâm linh của cá nhân và cộng đồng. Họ đƣợc coi nhƣ là những ngƣời lƣu giữ n t văn hóa trong tín ngƣỡng và là ngƣời bảo vệ sức khỏe, sự sống của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn. - Phân tích về quy trình của việc thực hành các nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng trong văn hóa tín ngƣỡng và trong bối cảnh cuộc sống của cộng đồng hiện nay. - Tìm hiểu sức sống và sự biến đổi của nghi lễ Mỡi trong bối cảnh cuộc sống hiện nay. 5. Câu hỏi nghiên cứu Với các nhiệm vụ nghiên cứu trên, luận án nhằm trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu sau: 8 - Nghi lễ Mỡi và thầy Mỡi có vị trí nhƣ thế nào trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn hiện nay? - Tại sao trong bối cảnh đƣơng đại, nghi lễ Mỡi vẫn tồn tại và phát triển mạnh mẽ trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn. 6. Cách tiếp cận và phƣơng ph p nghiên cứu 6.1. Cách tiếp cận Nghi lễ Mỡi là một loại hình tín ngƣỡng, hội tụ trong nó những yếu tố văn hóa dân gian phong phú. Do vậy, để tìm hiểu Mỡi, luận án sử dụng các cách tiếp cận liên ngành, bao gồm nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học tôn giáo, tín ngƣỡng. Trƣớc hết, NCS cũng sử dụng các cách tiếp cận văn hóa dân gian, ghi âm các câu chuyện, những sự tích, những huyền thoại, những lời cầu cúng, thần chú liên quan đến hệ thống tín ngƣỡng Mỡi. Với cách tiếp cận này, NCS đã đƣa ra đƣợc bức tranh sinh động về thế giới quan của ngƣời Mƣờng, những tín ngƣỡng, đức tin về hệ thống đa thần, về các mƣờng trời, mƣờng đất, về nguyên nhân của bệnh tật, cái chết. Những hệ thống đức tin này đã hòa quyện trong những hành động nghi lễ tạo nên một loại hình thực hành nghi lễ dân gian mang đậm văn hóa truyền thống của ngƣời Mƣờng. Với cách tiếp cận nhân học tôn giáo, NCS có nhiều thuận lợi. NCS là ngƣời Mƣờng, sinh ra và lớn lên tại vùng đất Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình, đã trực tiếp trải nghiệm và quan sát nhiều nghi lễ từ khi còn nhỏ. NCS có thể dùng thứ ngôn ngữ Mƣờng để giao tiếp với những ngƣời trong cuộc, với các thầy Mỡi ngƣời nắm giữ vai trò nòng cốt trong thực hành nghi lễ và những ngƣời trong cộng đồng ở Lạc Sơn mà nhiều ngƣời trong số họ là ngƣời thân, thành viên của gia đình, dòng họ. Là ngƣời trong cuộc, NCS sống trong nền văn hóa của dân tộc mình, đƣợc trải nghiệm những thực hành nghi lễ Mỡi trong đời sống của cá nhân và gia đình. NCS hiểu rất rõ bản chất, ý nghĩa của Mỡi trong 9 đời sống của chính bản thân, của gia đình, cũng nhƣ của bà con ngƣời Mƣờng. Trong nghiên cứu, là ngƣời trong cuộc thì chƣa đủ, NCS đã thực hiện nhiều đợt điền dã, trực tiếp nói chuyện, phỏng vấn các thầy Mỡi có uy tín ở huyện Lạc Sơn. NCS cũng trực tiếp phỏng vấn những ngƣời thụ hƣởng nghi lễ Mỡi, là những bà con trong cộng đồng, làng xóm để có những thông tin đa chiều về bản chất, về ý nghĩa của Mỡi trong cuộc sống của các cá nhân, gia đình, cộng đồng. Những thông tin của ngƣời trong cuộc góp phần quan trọng cho việc phân tích, lý giải bản chất, sức sống, và ý nghĩa của các nghi lễ Mỡi đối với cộng đồng ngƣời Mƣờng. NCS làm quen và tiếp cận đƣợc với nhiều thầy Mỡi trên địa bàn huyện Lạc Sơn, ngƣời có ăn số, có những kỹ năng và khả năng đặc biệt để có thể thâm nhập vào thế giới tâm linh của Mỡi. Các thầy Mỡi đã nhiệt tình chia sẻ về số phận cuộc đời, về hệ thống tín ngƣỡng của Mỡi, về loại hình nghi lễ Mỡi, về ý nghĩa biểu tƣợng, về các hành động nghi lễ và hiện vật thờ cúng. Với sự giúp đỡ của những thầy Mỡi, NCS tham dự nhiều nghi lễ Mỡi tại điện thờ của họ, và tại gia đình những ngƣời thụ lễ, mà các thầy Mỡi gọi họ là “con mày”. Những câu chuyện của các “con mày” giúp NCS hiểu đƣợc nguyên nhân tại sao họ phải đến gặp các thầy Mỡi để xem bói, phán bệnh để thực hiện nghi lễ cầu cúng, cũng nhƣ công hiệu của việc thực hành nghi lễ trong việc chữa bệnh, cầu an, cầu phúc, tránh rủi ro, trắc trở trong đƣờng đời. Với góc nhìn của ngƣời trong cuộc và từ ngƣời làm lễ, thụ lễ, NCS đôi khi sử dụng chính ngôn ngữ của họ về tín ngƣỡng Mỡi nhƣ “Nổ Mỡi” bắt ra làm Mỡi , “bị hành”, “các Ngài cho ăn lộc”, và một số thuật ngữ tiếng Mƣờng có chú thích tiếng Việt. NCS đã thực hiện ghi chép dân tộc học tỉ mỉ quá trình tổ chức các buổi lễ, đồ thờ cúng, quy trình hành lễ, mục đích của từng loại nghi lễ, bối cảnh diễn ra nghi lễ, hoàn cảnh của ngƣời thụ lễ. Những ghi chép dân tộc học giúp cho luận án có những thông tin chi tiết từ các buổi lễ trong đời sống thƣờng nhật để hiểu r hơn bản chất và nhận diện nghi lễ một cách tƣơng 10 đối xác thực. Những ghi chép dân tộc học là tài liệu quan trọng để có bức tranh thực trạng về việc tổ chức nghi lễ và việc hành lễ, mối quan hệ giữa thầy Mỡi và “con mày” một cách sinh động. 6.2. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện luận án, nghiên cứu sinh đã sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu khác nhau: P ươn p áp quan sát t a dự: NCS đã tham dự nhiều loại nghi lễ Mỡi khác nhau trong đời sống của ngƣời Mƣờng kể từ năm 2014 đến nay. Cụ thể, NCS đã tham dự các nghi lễ nhƣ: Lễ Làm Chay 7 cờ tại xóm Be Ngoài, xã Chí Thiện, huyện Lạc Sơn, lễ mến mả tại xóm Ấm, xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn, lễ cầu con trai tại xóm Anh 1, xã Thƣợng Cốc, huyện Lạc Sơn, lễ cắt dây ma nhà tại xóm Trang, xã Thƣợng Cốc, huyện Lạc Sơn, lễ giải căn tại xóm Ấm, xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn... và nhiều lễ làm mát, buộc dây, gọi vía... tại Điện thờ Mỡi Bùi Thị Minh tại xóm Anh 1, xã Thƣợng cốc, huyện Lạc sơn, tỉnh Hòa Bình Bằng cách tham dự, quan sát, nhìn nhận và đánh giá các hành động, diễn biến, con ngƣời, bối cảnh thực hành nghi lễ, NCS đã có những đánh giá, nhận định bằng trực quan. Điều này giúp cho luận án phản ánh chân thực hơn về nghi lễ và sức sống của nó trong văn hóa Mƣờng. Phỏng vấn sâu: NCS thực hiện nhiều cuộc phỏng vấn về các đối tƣợng khác nhau. Đối tƣợng phỏng vấn tập trung hơn cả là các thầy Mỡi nhằm có những thông tin về cuộc đời, căn số và công việc của họ. NCS cũng phỏng vấn những con mày, ngƣời dân tìm gặp thầy Mỡi để nhờ thầy giúp làm lễ để hiểu lý do họ làm lễ và đức tin, sự trông mong của họ khi làm lễ. Những cuộc phỏng vấn con mày tìm hiểu về nguyên nhân tổ chức nghi lễ Mỡi của các cá nhân gia đình ngƣời Mƣờng. Hơn nữa, thông qua phỏng vấn sâu những ngƣời thực hành và ngƣời thụ lễ, NCS hiểu đƣợc ý nghĩa, hay nói một cách khác “công năng” và sức sống của nghi lễ Mỡi trong đời sống tín ngƣỡng của 11 ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn. Câu chuyện cuộ đời: Khai thác những câu chuyện về cuộc đời riêng tƣ về việc phải ra làm Mỡi của các thầy Mỡi cũng nhƣ mọi câu chuyện về việc phải làm lễ của những ngƣời thụ lễ ( n y đây là một trong những cách tiếp cận hiện đại đƣợc sử dụng trong phân tích một số nhiệm vụ, cùng các nội dung từ quan điểm của ngƣời trong cuộc. Cách khai thác câu chuyện cuộc đời thực sự hữu hiệu và là những cứ liệu đáng tin cậy để bàn luận về ý nghĩa, vai trò, và công năng của nghi lễ Mỡi trong cộng đồng ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn. P ươn p áp tra u, p n t tư ệu th cấp: Luận án chắt lọc thông tin liên quan, kế thừa những quan điểm, đánh giá từ những công trình đã in ấn để bổ sung cho những tƣ liệu thu thập từ địa bàn. Các tƣ liệu này giúp cho luận án có những cơ sở bàn luận về những vấn đề của các học giả đi trƣớc đã làm đƣợc. Trên cơ sở đó kế thừa và phát triển với những số liệu riêng từ nghiên cứu điền dã cùng với những phân tích riêng của mình để có nhiều thông tin đa chiều đồng thời để làm rõ các nhiệm vụ, nội dung của luận án. P ươn p áp p n t tổng hợp: Phân tích tổng hợp các nguồn tƣ liệu khác nhau hƣớng tới đạt đƣợc mục đích mà luận án đƣa ra và đúc kết những nội dung phân tích mang tính khái quát, góp phần trong nghiên cứu học thuật về tín ngƣỡng, nghi lễ và văn hóa của ngƣời Mƣờng. Luận án sử dụng phƣơng pháp diễn giải những số liệu thu thập từ những cuộc phỏng vấn sâu các đối tƣợng là thầy Mỡi, ngƣời thụ hƣởng nghi lễ là n y để làm r hơn những ý nghĩa biểu tƣợng, bản chất, chức năng của nghi lễ theo cách ngƣời trong cuộc hiểu, đặc biệt ý nghĩa biểu tƣợng của các hành động nghi lễ và hiện vật nghi lễ. 7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận án 7.1. Ý nghĩa khoa học - Nghiên cứu về nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình góp một phần nhỏ vào trong hệ 12 thống lý luận về hiện tƣợng Shaman giáo. - Luận án cung cấp một cách hiểu r hơn về hệ thống nghi lễ Shaman giáo, mang tính ma thuật với mục đích chữa bệnh tâm linh, cầu an, cầu những điều tốt đẹp trong đời sống thƣờng nhật. Thông qua một trƣờng hợp nghiên cứu cụ thể là Mỡi, luận án góp phần vào bức tranh chung trong khoa học nghiên cứu về các hiện tƣợng tín ngƣỡng bản địa, thể hiện sự đa dạng về văn hóa tín ngƣỡng của các cộng đồng ở Việt Nam và trên thế giới. 7.2. Ý nghĩa thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của luận án góp phần nhận diện r hơn về vai trò của nghi lễ Mỡi trong xây dựng đời sống văn hóa cơ sở tại địa bàn. - Kết quả của luận án cung cấp những quan điểm khoa học về chức năng, ý nghĩa, vai trò của nghi lễ Mỡi và thầy Mỡi, có thể ứng dụng trong việc hoạch định chính sách, các chiến lƣợc phát triển, bảo tồn di sản văn hóa tín ngƣỡng nhằm đáp ứng nhu cầu về sinh hoạt tâm linh của cộng đồng bản địa trong xã hội đƣơng đại. - Luận án hoàn thiện là một tài liệu tham khảo trong giảng dạy và nghiên cứu về văn hóa tín ngƣỡng ngƣời Mƣờng và cho ngành nghiên cứu văn hóa dân gian, nhân học tôn giáo, tín ngƣỡng. 8. Bố cục luận án Ngoài phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (5 trang), Tài liệu tham khảo (8 trang) và Phụ lục (20 trang), luận án đƣợc trình bày trong 4 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận (48 trang) Chƣơng 2: Văn hóa của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn 16 trang Chƣơng 3: Thầy Mỡi và việc thực hành nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn 39 trang Chƣơng 4: Nghi lễ Mỡi trong đời sống văn hóa tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn 43 trang . 13 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1.1. Nghiên cứu về người Mường và văn hóa tín ngưỡng của người Mường - Nghiên c u về n ườ ường Về ngƣời Mƣờng và văn hóa Mƣờng, có nhiều công trình nghiên cứu mang tính tổng hợp về lịch sử, con ngƣời, văn hóa. Một trong những công trình tiêu biểu phải kể đến là cuốn Địa chí Hòa Bình (2005) [14]; do tỉnh Hòa Bình xuất bản đã đề cập khá toàn diện các khía cạnh trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế của các dân tộc sinh sống tại địa bàn tỉnh Hòa ình. Công trình cũng đã đề cập đến những n t cơ bản trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng và các nghi lễ đƣợc thực hành trong đời sống, nhƣ: Nghi lễ hôn nhân, sinh đẻ, tang ma. Công trình Văn óa n ười ường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình (2009) [7], do Hoàng Hữu Bình làm chủ biên đã miêu tả khá đầy đủ và sinh động các khía cạnh đời sống của ngƣời Mƣờng ở huyện Kim ôi về kinh tế, văn hóa, tri thức địa phƣơng, thực hành nghi lễ. ườ ườn v văn óa ổ truyền ườn - Sơn n [11 . Đây là tập hợp các công trình nghiên cứu của nhiều học giả nhằm giới thiệu vốn văn hóa cổ truyền, tập tục sinh đẻ, cƣới xin, tang ma, nghệ thuật của ngƣời Mƣờng Bi. Trong ườ ường ở Việt Nam (1999) [29 , tác giả ùi Tuyết Mai, Vũ Đức Tân đã mang đến một bức tranh sinh động về cuộc sống, văn hóa, lịch sử của ngƣời Mƣờng qua hơn 100 bức ảnh đƣợc chọn lọc, sắp xếp một cách lôgíc. Tác giả đã cung cấp cho bạn đọc hình dung đƣợc những đặc trƣng cơ bản về lối sống, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa của ngƣời Mƣờng. Gần đây, tác giả Nguyễn Ngọc Thanh trong bài viết “Dân tộc Mƣờng” trong cuốn Các dân tộc Việt Nam 2017 cũng đã bổ sung, cập nhật 14 và đƣa ra bức tranh tƣơng đối đầy đủ về nguồn gốc, địa bàn cƣ trú và tập tục, văn hóa của ngƣời Mƣờng [38]. Một trong những tác giả viết nhiều về ngƣời Mƣờng và văn hóa Mƣờng là Bùi Huy Vọng. Công trình L n ường ở Hòa Bình (2014) [58] của tác giả Bùi Huy Vọng bàn về một số vấn đề văn hóa và cả các nghi lễ thờ tự chung của làng. Trong công trình Văn óa d n an ường: Một góc nhìn (2015) [61], Bùi Huy Vọng đã đề cập đến các nghi lễ trong đời sống của ngƣời Mƣờng nhƣ nghi lễ kéo si, tục cắt chốn rau, nghi thức cắt cầu lân, tạ ơn mƣời hai bà Mụ, lễ hội cầu mùa, lễ hội dân gian Mƣờng. Đáng lƣu ý là trong công trình này, nghi lễ Mỡi đƣợc tác giả giới thiệu sơ lƣợc nhƣ là một thực hành quan trọng trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. - Nghiên c u về t n n ư ng, nghi l của n ườ ường Có nhiều công trình miêu tả, nghiên cứu về tín ngƣỡng, một nghi lễ nào đó trong hệ thống nghi lễ vòng đời của ngƣời Mƣờng nhƣ lễ sinh đẻ, lễ cƣới, lễ mừng thọ, nghi lễ tang ma. Một số công trình phải kể đến nhƣ: Tập tụ s n đẻ của n ười Mường, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, (2005) [16] của Nguyễn Thị Song Hà; Bùi Huy Vọng là một tác giả có nhiều công trình về ngƣời Mƣờng, nhƣ “L kéo si trong truyền thốn ường” 2007 [56]. Những công trình của ông là tài liệu thứ cấp quan trọng cho luận án tham khảo về tập quán, về khái niệm nghi lễ Mỡi. Nhìn chung các công trình này là những mô tả dân tộc học quan trọng về các nghi lễ nói chung và nghi lễ vòng đời nói riêng, góp phần không nhỏ cho các nghiên cứu sau này về thông tin, số liệu để so sánh, đối chiếu. Trong thập niên gần đây, các công trình nghiên cứu về nghi lễ của ngƣời Mƣờng khá phong phú và đa dạng. Có thể kể đến nghiên cứu của Nguyễn Thị Song Hà (2011) với công trình Nghi l trong chu kỳ đờ n ười của n ườ ường ở Hòa Bình [17]. Công trình này không chỉ cung cấp cho ngƣời đọc những tƣ liệu dân tộc học đơn thuần về nghi lễ chu kỳ đời ngƣời 15 mà còn minh chứng cho lý thuyết chuyển đổi của Anorld Van Gennep. Trong nghiên cứu này, tác giả tƣơng đối thành công trong việc nghiên cứu sự chuyển đổi vị trí của cá nhân ngƣời tiến hành nghi lễ. Hôn nhân có ý nghĩa đặc biệt với ngƣời đàn ông, giúp cho anh ta trở thành “Đức cả”. Với ngƣời phụ nữ, hôn nhân đánh dấu sự trƣởng thành của ngƣời phụ nữ, khẳng định họ có khả năng quán xuyến các công việc cho gia đình, sinh con để duy trì nòi giống. Một trong những đóng góp vào nghiên cứu tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng phải kể đến công trình của tác giả Nguyễn Hữu Thức: T n n ư n d n an ườn tỉn a n (2001) [49 . Đây là một bài viết mang tính tổng hợp về hệ thống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng bao gồm: Tín ngƣỡng thờ Quốc Mẫu Vua à, Tín ngƣỡng Thờ thần núi - Đức Thánh Tản Viên; Tín ngƣỡng thờ Thổ công; Tín ngƣỡng thờ thần nông nghiệp, Tín ngƣỡng thờ tổ tiên; Tín ngƣỡng thờ thần Chàng Vàng; Tín ngƣỡng thờ Thành hoàng; Tín ngƣỡng thờ Táo quân vua ếp ; Tín ngƣỡng thờ vua Khú; Tín ngƣỡng thờ Nạ mụ; Tín ngƣỡng thờ Phật; tín ngƣỡng thờ Thần tự nhiên; Tín ngƣỡng thờ bà Chúa Thác. Tác giả cho rằng những thực hành tín ngƣỡng dân gian “góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc Mƣờng và là thành tố kết dính với truyền thống văn hóa Mƣờng để văn hóa Mƣờng “hòa nhập” nhƣng không bị “hòa tan” trong giao lƣu” [49, tr.321-369]. Bùi Huy Vọng là ngƣời đã dành nhiều công sức, tâm huyết nghiên cứu, sƣu tầm thực hành các nghi lễ trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. Trong những năm gần đây, ông liên tiếp xuất bản các công trình nhƣ: Tục cúng sao giải hạn của n ườ ường ở Hòa Bình (2014) [59]; Những biểu tượn đặc trưn tr n văn óa d n an ủa n ườ ường (2016) [63]; Đền ăn v á nghi l t n n ư ng dân gian (2015) [60]; Quan niệm và ng xử v i vía trong đời sống của n ườ ường (2016) [64], Phong tụ ay, tập Tụ ay ảy ờ ủa n ườ ườn P n d ủ tế (2011) [57]. Các công 16 trình sƣu tầm của Bùi Huy Vọng đã khảo tả và cung cấp thông tin khá chi tiết về sinh hoạt tín ngƣỡng và nghi lễ của ngƣời Mƣờng nhƣ: Nghi lễ chu kỳ đời ngƣời, nghi lễ mùa vụ, nghi lễ thờ cúng cộng đồng, các hình thức thờ tự trong gia đình và cá nhân. Đồng thời ông cũng đề cập khá chi tiết đối tƣợng ngƣời thực hành nghi lễ, ngƣời thụ lễ, cách thức tiến hành, lễ vật cũng nhƣ niềm tin của ngƣời Mƣờng trong việc thực hành nghi lễ tín ngƣỡng. - Nghiên c u về ường Mo Mƣờng là một loại hình văn hóa, tín ngƣỡng dân gian của dân tộc Mƣờng đã thu hút nhiều nhà nghiên cứu. Tác giả Từ Chi (bút danh Trần Từ) là một trong những nhà nghiên cứu có nhiều công trình nổi tiếng viết về ngƣời Mƣờng. Trong các công trình ườ ường ở Hòa Bình (1996) [54], ông đã đề cập đến thực hành nghi lễ, chủ yếu là vấn đề tang ma, với mục đích thông qua đó để tìm hiểu về thế giới quan của ngƣời Mƣờng. Nghiên cứu của ông cung cấp những kiến thức nền tảng để hiểu về nguồn gốc của những thực hành nghi lễ trong đời sống của ngƣời Mƣờng. Nghiên cứu về Mo Mƣờng và các thực hành nghi lễ trong tang ma phải kể đến các tác giả; Đinh Văn Ân sƣu tầm và biên soạn Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nư c [4], là một trong những áng Mo không thể thiếu trong nghi lễ. Còn công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Kim Phúc (2004), Nghi l Mo trong đời sống tinh th n của n ườ ường [33] tập trung vào nghi lễ Mo trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng, hệ thống tín ngƣỡng, vị trí và vai trò của thầy Mo trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng Bi. Theo tác giả, Mo đƣợc diễn xƣớng trong 23 nghi lễ đƣợc thực hiện bằng Mo. Một điểm mới trong cách tiếp cận ở công trình này là tác giả bƣớc đầu quan tâm đến cuộc sống của những ngƣời thực hành, quá trình học nghề và hành nghề của họ. Hai tác giả Vƣơng Anh và Hoàng Anh Nhân đã dày công sƣu tầm những phần Mo kể chuyện của ngƣời Mƣờng vùng Thanh Hóa. Năm 2010, 17 Hoàng Anh Nhân, v a a ủa n ườ ườn [30 . Năm 1976, nhà nghiên cứu ùi Thiện, Thƣơng Diễm và Quách Giao sƣu tầm, biên dịch và biên soạn Đẻ đất đẻ nư T ơ d n an d n tộ ường [41 . Đây cũng là tác phẩm sử thi đầu tiên đƣợc sƣu tầm và công bố ở miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, các tác giả mới tập trung vào việc sƣu tầm và biên dịch phần Mo kể chuyện, chủ yếu là sử thi Đẻ đất Đẻ nƣớc. Nghiên cứu về Mo Mƣờng mới đây phải kể đến tác giả Kiều Trung Sơn trong Nghệ thuật di n xư n ường (2016) [35]; tác giả đã đem đến cho ngƣời đọc một công trình nghiên cứu về diễn xƣớng Mo một cách bài bản và khoa học. Tác giả đã phân tích diễn xƣớng Mo trong hệ thống lý thuyết về diễn xƣớng, trong môi trƣờng diễn xƣớng cụ thể là các đám tang. Công trình của Kiều Trung Sơn đã mang lại những tƣ liệu khoa học có ý nghĩa trong việc nghiên cứu về tín ngƣỡng này. 1.1.2. Nghiên cứu nghi lễ Mỡi . .2. . á ôn tr n tr n nư c về M i Nghiên c u so sánh về , Trượn ượng), M i: Bùi Thiện là ngƣời dành nhiều thời gian, công sức và tâm huyết để sƣu tầm, biên soạn diễn xƣớng Mo, Trƣợng, Mỡi với công trình Di n xư ng Mo - Trượng - M i (2005) [42]. Tác giả bàn về vũ trụ quan của ngƣời Mƣờng, quan niệm về cõi sống, về cõi chết và nhận diện khái quát về tín ngƣỡng Mo - Mỡi - Trƣợng (còn gọi là Clƣợng), về trang phục, đồ nghề hành lễ của ông Mo. Phần lớn cuốn sách tập trung vào việc công bố các sƣu tầm và ghi lại các lời khấn của thầy Mo, Trƣợng, Mỡi bằng tiếng Mƣờng, sau đó dịch ra tiếng Việt và đƣợc biên soạn một cách có hệ thống. Cuốn sách giúp cho NCS hiểu r hơn về bản chất, sự khác nhau của các thầy Mo, Trƣợng, Mỡi, và quan điểm nhân sinh quan của ngƣời Mƣờng. 18 Một công trình khá đồ sộ của Bùi Thiện Di n xư ng nghi l : Di sản văn óa đặc sắc của dân tộ ường (2015) [43] giới thiệu khối lƣợng lớn các bài diễn xƣớng liên quan đến nghi lễ vòng đời và các nghi lễ tín ngƣỡng khác. Ông đã lý giải cho sự ra đời của các diễn xƣớng này xuất phát từ quan niệm về vũ trụ luận, về tín ngƣỡng “vạn vật hữu linh”. Đối với ngƣời Mƣờng, cái chết chỉ là về phần thể xác vậ...n hệ của nghi lễ tới việc phản ánh hệ thống tín ngƣỡng của tộc ngƣời, vai trò và chức năng của những ngƣời hành lễ nhƣ các thầy cúng, các thầy Shaman, ông đồng bà đồng. Các công trình nƣớc ngoài đề cập đến nghi lễ nhƣ một quá trình thực hành trong bối cảnh cụ thể của ngƣời làm lễ, ngƣời thụ lễ và gắn với các yếu tố văn hóa, tín ngƣỡng của tộc ngƣời. Qua đó, các công trình đã đƣa ra những vấn đề mang tính lý thuyết về việc nghiên cứu nghi lễ nhƣ một quá trình có sự tƣơng tác của tất cả các thành tố tham gia vào nghi lễ từ ngành văn hóa dân gian và nghiên cứu nghi lễ từ quan điểm những ngƣời trong cuộc và trong thực hành từ quan điểm học thuật của ngành nhân học tôn giáo, tín ngƣỡng. Nhiều công trình đề cập đến tính công năng của nghi lễ và vai trò của chúng đối với tinh thần và sức khỏe của ngƣời làm lễ và thụ lễ. Luận án kế thừa những quan điểm học thuật về chức năng của các thầy cúng, thầy Shaman và công năng của nghi lễ trong những công trình này để làm khung phân tích và ứng dụng nhằm làm rõ vai trò các thầy Mỡi, nhƣ là những Shaman và tính công năng của các nghi lễ đáp ứng phần nào nhu cầu trong đời sống tâm linh mong cầu những điều tốt đẹp cho bản thân, gia đình và sức khỏe. Các thầy cúng, Shaman có khả năng giao tiếp với thế giới vô hình, đi 34 tìm vía lạc lối nhập về thể xác con ngƣời lấy lại sức khỏe, để con ngƣời đƣợc bình yên. Trên nền tảng những cơ sở học thuật này, luận án sẽ làm rõ vai trò, chức năng của thầy Mỡi, cũng nhƣ vị trí nghi lễ đối với cộng đồng, công năng của nghi lễ, đồng thời lý giải về sự hồi sinh, phát triển của nghi lễ Mỡi trong văn hóa tín ngƣỡng ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn hiện nay. 1.2. Cơ sở lý luận 1.2.1. Một số khái niệm cơ bản 1.2.1.1. Văn óa t n n ư ng Văn hóa nói chung là sản phẩm của loài ngƣời, là yếu tố làm cho con ngƣời khác với thế giới tự nhiên. Văn hóa đƣợc tạo ra, duy trì, phát triển bởi mỗi cá nhân, cộng đồng, trong sự tác động qua lại giữa con ngƣời với con ngƣời, con ngƣời với xã hội, con ngƣời với tự nhiên cùng thế giới muôn loài nói chung. Văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống, bao gồm tất cả, từ những yếu tố truyền thống đến những sản phẩm công nghệ hiện đại, trong nó đều có yếu tố con ngƣời, tức là yếu tố văn hóa. Hay nói một cách khác, nhƣ theo Từ đ ển t ến V ệt do Nguyễn Nhƣ Ý chủ biên 1998 , “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong lịch sử”. Tựu chung lại, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, tích lũy qua quá trình lao động và chịu sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên xã hội [66 . Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con ngƣời trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa. Nơi nào có con ngƣời nơi đó có văn hóa. Theo UNESCO, văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia. Tất cả những giá trị vật thể và phi vật thể của tộc ngƣời có những điểm tƣơng đồng và dị biệt với các nền văn hóa khác. Khái niệm về tín ngƣỡng đƣợc nhận diện theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Từ đ ển Hán - V ệt của học giả Đào Duy Anh, tín ngƣỡng là “lòng 35 ngƣỡng mộ mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1 . Tín ngƣỡng nghĩa là: “Tin tƣởng vào một tôn giáo, và tự do tín ngƣỡng” [37 . Có thể coi, tín ngƣỡng chính là niềm tin, đức tin của con ngƣời. Bàn về tín ngƣỡng, tôn giáo, trong công trình Lý uận về tôn á v t n n tôn á ở V ệt a , Đặng Nghiêm Vạn đƣa ra khái niệm tín ngƣỡng nhƣ là đức tin tôn giáo. Điều đáng lƣu ý là ở đây, tác giả không hoàn toàn tách tín ngƣỡng rời khỏi tôn giáo: “Nếu hiểu tín ngƣỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo f, v , t n ĩa ẹp, r yan r us ) thì tín ngƣỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo” [55, tr.88]. Ngô Đức Thịnh phân biệt giữa tôn giáo và tín ngƣỡng, cho rằng tôn giáo có hệ thống giáo lý, còn tín ngƣỡng chƣa có và mang tính tự phát [44]. Về điều này cũng đã đƣợc Nguyễn Quốc Tuấn nêu ra trong một bài viết gần đây về khái niệm tín ngƣỡng (2013). Theo Nguyễn Quốc Tuấn, “cái mà chúng ta gọi là “tín ngƣỡng dân gian” thực chất là đời sống tâm linh đƣợc tạo thành trong dòng chảy miên viễn của mỗi tộc ngƣời và sự ảnh hƣởng qua lại giữa chúng với nhau” [53, tr.10]. Tập hợp khái niệm về văn hóa tín ngƣỡng, văn hóa tín ngƣỡng là cụm từ chỉ hệ thống tín ngƣỡng của một tộc ngƣời đặt trong nền văn hóa của chính tộc ngƣời đó. Trong những thập kỷ qua, nghiên cứu tín ngƣỡng đã đƣợc đặt trong tổng thể văn hóa của tộc ngƣời, đƣợc nghiên cứu từ góc độ liên ngành, dân tộc học, văn hóa dân gian và nhân học văn hóa, không đơn thuần chỉ là tín ngƣỡng đứng riêng lẻ. Nói một cách khác, tín ngƣỡng đƣợc nghiên cứu trong một nền văn hóa, còn gọi là văn hóa tín ngƣỡng. Mỗi nền văn hóa đều có những đặc điểm riêng, hệ thống tín ngƣỡng, thực hành tín ngƣỡng phụ thuộc vào bối cảnh văn hóa, xã hội, chính trị và chính cộng đồng chủ nhân. Tín ngƣỡng đƣợc phản chiếu trong các thực hành, thể hiện các vấn đề về quan niệm, nhận thức, cuộc sống của cộng đồng, tức là các yếu tố văn hóa mà cá 36 nhân và cộng đồng đó đang sinh sống và thực hành. Ngô Đức Thịnh đã có một đánh giá, gắn tín ngƣỡng vào trong hệ thống văn hóa. Ông cho rằng “Tất cả những niềm tin, thực hành và tình cảm tôn giáo tín ngƣỡng trên đều sản sinh và tồn tại trong một môi trƣờng tự nhiên, xã hội và văn hóa mà con ngƣời đang sống, theo cách suy nghĩ và cảm nhận của nền văn hóa đang chi phối họ” [44, tr.14]. Nhƣ vậy tín ngƣỡng không tồn tại một mình, mà tích hợp trong nó các yếu tố văn hóa truyền thống và hiện đại khác, trong thực tiễn và các ứng xử thực tế cuộc sống văn hóa của cộng đồng. Tác giả Ngô Đức Thịnh nhấn mạnh rằng tín ngƣỡng đƣợc xem nhƣ là hình thức văn hoá của cộng đồng trong quá trình hình thành và phát triển, mỗi tín ngƣỡng “sản sinh, tích hợp trong nó những hiện tƣợng, những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật” [44, tr.28]. 1.2.1.2. Nghi l t n n ư ng Nghi lễ là một hoạt động diễn xƣớng trong văn hóa dân gian, một thực hành xã hội, tôn giáo, tín ngƣỡng dân gian đƣợc lặp đi lặp lại, bao gồm một chuỗi các hành động, nghi thức. Những biểu tƣợng và giá trị văn hóa tộc ngƣời đƣợc sử dụng, thể hiện đức tin, niềm mong muốn sự hy vọng. Mặc dù những biểu tƣợng và ý nghĩa của nghi lễ rất quan trọng đối với ngƣời tham gia đƣợc gợi lên, nhƣng cũng không nên suy luận cho những giá trị, chức năng của nghi lễ đối với những ngƣời tham gia vào nghi lễ. Chính trong các thực hành nghi lễ, con ngƣời cả ngƣời hành lễ đến ngƣời tham gia thể hiện cuộc sống tôn giáo, tín ngƣỡng của mình. Nhƣ vậy, đối với những ngƣời tham dự, các buổi nghi lễ tôn giáo, tín ngƣỡng còn là những thể hiện, vật chất hóa, hiện thực hoá đức tin tôn giáo, tín ngƣỡng. Đó không chỉ là khuôn mẫu của những điều mà họ tin vào, mà còn là khuôn mẫu thể hiện niềm tin vào tôn giáo, tín ngƣỡng. Trong những khuôn mẫu mềm dẻo của những nghi lễ con ngƣời có những đức tin nhƣ là họ có thể thể hiện chúng bằng thực hành nghi 37 lễ [27, tr.144 . Đây là lĩnh vực thực hành trong cuộc sống, không phải là các giáo điều, văn bản, hệ thống giáo lý. Có nhiều định nghĩa về nghi lễ, phụ thuộc vào các cách tiếp cận. Victor Turner cho rằng nghi lễ là “ứng xử chính thức theo quy định đối với những dịp mà không phải đƣợc diễn ra đối với hoạt động hàng ngày mang tính công nghệ, có tham chiếu đến niềm tin vào lực lƣợng hay sức mạnh huyền bí. Biểu tƣợng là đơn vị nhỏ nhất của nghi lễ” [78, tr.19 . Stanley Tambiah cho rằng nghi lễ là: Một hệ thống đƣợc kiến tạo một cách văn hóa của những giao tiếp biểu tƣợng, nó đƣợc tạo nên bởi một chuỗi mang tính khuôn mẫu, trật tự của lời nói và hành động, thƣờng đƣợc thể hiện bằng đa phƣơng tiện, mà nội dung và việc tổ chức, sắp đặt của chúng đƣợc khắc họa trong những cấp độ khác nhau bằng hình thức (hay lễ nghi), sự dập khuôn (hay cứng nhắc), sự cô đọng (hay hợp nhất), sự dƣ thừa (hay nhắc đi nhắc lại) [73, tr.119]. Theo Pháp lện T n n ư n , Tôn á (2004) [32] “Hoạt động tín ngƣỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tƣởng niệm và tôn vinh những ngƣời có công với nƣớc, với cộng đồng; thờ cúng thần, thánh, biểu tƣợng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngƣỡng dân gian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội”. Còn Luật T n n ư ng, Tôn giáo (2016) [28] định nghĩa: T n n ư ng là niềm tin của con ngƣời đƣợc thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng. Hoạt độn t n n ư ng là hoạt động thờ cúng tổ tiên, các biểu tƣợng linh thiêng; tƣởng niệm và tôn vinh ngƣời có công với đất nƣớc, với cộng đồng; các lễ nghi dân gian tiêu biểu cho những giá trị lịch sử, văn hóa, đạo đức xã hội. 38 Trong công trình này, NCS cho rằng nghi lễ tín ngƣỡng là một thực hành tín ngƣỡng dân gian, do các thầy cúng/Shaman thực hiện, đƣợc lặp đi lặp lại phụ thuộc vào mục đích mong muốn đạt đƣợc của những ngƣời đƣợc làm lễ ( n y) với những hành động mang tính biểu tƣợng. Nghi lễ có thể coi là một biểu hiện của văn hóa tín ngƣỡng, phản ánh những đức tin, quan điểm nhân sinh quan của cộng đồng, đƣợc những ngƣời thầy cúng thực hiện, để đáp ứng những điều mong muốn và những ƣớc vọng thƣờng nhật của con ngƣời. 1.2.1.3. Nghi l Shaman giáo và th y Shaman Shaman giáo (Shamanism) là hệ thống tín ngƣỡng bản địa tồn tại ở nhiều nền văn hoá, trong đó ngƣời đứng đầu hệ thống này là các thầy Shaman. Thuật ngữ Shaman có nguồn gốc từ tiếng Evenk của bộ lạc Tungus, một bộ lạc nuôi tuần lộc ở Siberia. Từ Shaman biến thiên của từ Shamana trong tiếng Pali (tiếng sancrít là śramana , và đƣợc phần lớn các nhà phƣơng Đông học chấp nhận [80, tr.495]. Từ trƣớc thế kỷ XIX, các nhà du lịch, những ngƣời truyền giáo và những nhà thám hiểm đã miêu tả các nghi lễ Shaman mang tính huyền bí, và những thầy Shaman có khả năng xuất hồn và nhập thần. Đến đầu thế kỷ XIX, thuật ngữ “Shaman giáo” đƣợc sử dụng rộng rãi để chỉ những hình thức xuất hồn, nhập thần ở những vùng khác nhau trên thế giới nhƣ Thái ình Dƣơng, ở châu Phi, Bắc, Đông và Nam Á, Úc, và một số vùng ở châu Mỹ và ở Siberia [68, tr.504-507]. Ở Việt Nam, chúng ta có thể quan sát hiện tƣợng xuất hồn và nhập thần nhƣ các nghi lễ Shaman giáo trên thế giới nhƣ nghi lễ Then, Pựt, Tào của ngƣời Tày, M i của ngƣời Mƣờng, lễ Yao của ngƣời Bru, Một của ngƣời Thái, lập tịch, tết nhảy lửa của ngƣời Dao, lễ nhập hồn của ngƣời Chăm và đặc biệt là nghi lễ Lên đồng trong tín ngƣỡng thờ Mẫu Tam phủ, Tứ phủ của ngƣời Việt. 39 Những ngƣời thực hành các nghi lễ Shaman giáo thƣờng bị thôi thúc hành nghề, làm các nghi lễ với một mục đích nhất định trong đó họ trở thành thân xác cho các vị thần thánh nhập. Họ đóng vai trò làm ngƣời trung gian giữa thế giới trần gian và thế giới thần thánh, giữa ngƣời sống và ngƣời chết, giữa loài vật và xã hội loài ngƣời. Đƣợc phú cho khả năng đặc biệt và đƣợc sự hỗ trợ của các thần linh, thầy Shaman có nhiều vai trò trong xã hội và trong các nghi lễ tín ngƣỡng tôn giáo. Họ có vai trò nhƣ là những thầy pháp trong những buổi tế lễ, hiến sinh, chữa bệnh tâm linh. Họ có thể làm thầy bói, lý giải các giấc mơ, làm các nghi lễ cầu phúc, cầu tài, cầu lộc, các nghi lễ vòng đời và nhiều hình thức nghi lễ bản địa khác. Họ có vai trò bảo vệ cá nhân và cộng đồng tránh những rủi ro, bị làm hại bùa chú, xua đuổi tà ma, quỷ ám). Trong hệ thống tín ngƣỡng của tộc ngƣời, các thầy Shaman có khả năng vƣợt qua đƣợc ranh giới về mặt thời gian và không gian của thế giới trần tục và chu du vào thế giới vô hình để liên lạc với thần thánh, hay tìm các vía bỏ đi ví dụ Mỡi của ngƣời Mƣờng, Then của ngƣời Tày, Nùng, Thái . Đôi khi, thầy Shaman còn phục vụ cộng đồng trong những thời điểm có sự chuyển đổi lớn nhƣ khi thay đổi mùa, khi có sự hỗn loạn vì chiến tranh, khi có nạn đói hoặc nạn dịch [20]. Nói một cách khác, thầy Shaman là những ngƣời có “ ăn số”, có phần khác với những tín đồ theo những tôn giáo chính thống khác. Một bộ phận các thầy Shaman nhập đạo, hành nghề mang tính tự phát, không làm chủ đƣợc mình, do “tiếng gọi của thần thánh”. Những thầy Shaman thuộc loại này, sau một thời gian hành nghề tích lũy đƣợc nhiều kinh nghiệm, lĩnh hội đƣợc một số quyền năng, thƣờng trở thành thầy (thầy đồng, thầy cúng, thầy pháp). Những đệ tử có căn số nhẹ hơn, họ nhập đạo với hy vọng mọi việc trong đời sẽ thuận buồm xuôi gió. Những bậc thầy trong thực hành nghi lễ thƣờng là những ngƣời có căn cơ số đầy, đƣợc thế lực vô hình uỷ nhiệm chọn lựa, thì họ 40 có một sự thôi thúc mạnh mẽ nhập đạo, thực hành nghi lễ, nếu không họ sẽ ốm đau và có thể bị tâm thần. 1.2.1.4. Nghi l M i của n ườ ường Mỡi là một loại hình nghi lễ mang tính Shaman giáo của ngƣời Mƣờng, có chức năng chủ yếu chữa bệnh, giải hạn, cầu yên. Về khái niệm và định nghĩa Mỡi có nhiều quan điểm khác nhau. Về tên gọi Mỡi, cả tác giả Bạch Mỹ Trinh (2015) [51] và Bùi Huy Vọng (2016) [62 đều cho rằng Mỡi là danh từ riêng chỉ một loại hình hoạt động cầu cúng chữa bệnh, trấn an, trừ tà ma của ngƣời Mƣờng. Mỡi còn có tên gọi trong tiếng Mƣờng cổ là Mợi, có nghĩa chỉ hành động hay lời nói ngọt ngào để an ủi, để thuyết phục, mời gọi. Mỡi cũng đƣợc Bùi Quang Thắng đƣa vào trong ươn tr n ảo tồn và phát huy các giá trị văn óa p vật thể (1999) [40], với đề tài: “Mỡi Mƣờng làng Lửa xã Tân Lập - Thanh Sơn - tỉnh Phú Thọ”. Mặc dù công trình không dành trang viết nghiên cứu về tín ngƣỡng Mỡi, mà chủ yếu sƣu tầm các bài khấn Mỡi, múa Mỡi nhƣng tác giả đã khái quát cho ngƣời đọc thấy đƣợc những vấn đề cơ bản trong tín ngƣỡng Mỡi của ngƣời Mƣờng nhƣ: Tên gọi, bản chất, cách phân loại và những sinh hoạt diễn xƣớng Mỡi trong đời sống. Theo tác giả: “Mỡi, tiếng Mƣờng gọi là Mơi - có nghĩa là mời, mời Tổ tiên quỷ thần về giúp vui, dự vui với con cháu, dân làng và mời bà con, anh em, bè bạn láng giềng, bản xa mƣờng gần cùng dự. Thực chất, Mỡi là một hình thái ma thuật cổ xƣa của ngƣời Mƣờng”. Tuy nhiên, tác giả lại cho rằng thầy Mo là ngƣời thực hành các nghi lễ Mỡi “Mỡi là một cuộc lễ, trong đó thầy Mỡi (thầy Mo đóng vai trò trung gian giữa linh hồn của các bậc Tổ sƣ Mỡi và ngƣời thƣờng, đối tƣợng chính là đệ tử Mỡi và con cháu trong gia đình của các Tổ sƣ” [40, tr.2]. Một số tác giả khác nhƣ Nguyễn Hữu Thức [48] và Bạch Mỹ Trinh [52 đều coi Mỡi nhƣ là một hình thức Shaman giáo. Nguyễn Hữu Thức cho 41 rằng “Mỡi là nghi thức cầu cúng chữa bệnh cho ngƣời ốm do phụ nữ Mƣờng đảm nhận. Thầy Mỡi cũng là đƣợc cha truyền con nối” [48, tr.20]. Tác giả phân tích về số phận để trở thành Mỡi thƣờng là họ phải qua thời gian bị hành, bị ốm, và có thể bị điên. Khi trở thành thầy Mỡi, họ có vai trò quan trọng trong cộng đồng, tổ chức nghi lễ nhằm “giải tỏa tâm lý sợ hãi về thân phận nhỏ b của con ngƣời Mƣờng trong một thế giới mông lung, huyền bí và khôn lƣờng” [48, tr.19-22]. Còn tác giả Bạch Mỹ Trinh cho rằng “Mỡi là hiện tƣợng văn hóa trong đời sống của ngƣời Mƣờng, biểu hiện tính diễn xƣớng, tính Shaman rất rõ. Các hoạt động của Mỡi truyền tải ƣớc muốn của ngƣời Mƣờng về một cuộc sống tốt đẹp hơn, con ngƣời luôn đƣợc sống khỏe mạnh, sống lâu, mùa màng tƣơi tốt vật nuôi phát triển” [51, tr.13]. Trong luận án này, NCS cho rằng nghi lễ Mỡi là một loại hình thực hành dân gian, vừa thể hiện tính Shaman (nhập thần và thoát hồn), là cầu nối trung gian nhập vai các vị thần linh để thực hiện các nghi lễ cầu cúng trừ tà, nhằm mục đích chữa bệnh, giải tỏa tinh thần và trị liệu cho ngƣời ốm, trấn an cho những ngƣời gặp hoàn cảnh khó khăn. Có thể nói, Mỡi là một loại hình nghi lễ Shaman khá tiêu biểu tồn tại có nhiều tộc ngƣời ở Việt Nam và trên thế giới nhƣ nghi lễ Then của ngƣời Tày, Nùng, Phi Một của ngƣời Thái, Pao của ngƣời Tây Nguyên, Vijou của ngƣời Raglai, Rija Nƣgar của ngƣời Chăm. Ngƣời Mƣờng cho rằng trong thế giới tự nhiên tồn tại các thế lực vô hình, có chính, có tà. Phe chính là các vị phúc thần, phe tà là lực lƣợng tà thần, ma quỷ. Mỡi dựa vào phúc thần để xua đuổi ma quỷ, cầu mong cho cuộc sống con ngƣời luôn yên lành, tốt đẹp. Ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn coi Mỡi chính là hiện thân của sự yên lành, điểm tựa tinh thần để con ngƣời vững tin hơn vào chính mình để phấn đấu trong lao động, sản xuất, trong việc sinh con đẻ cái và xây dựng gia đình ấm no hạnh phúc. 42 Để nhận diện nghi lễ Mỡi, nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng rất phong phú và đa dạng nhƣng xoay quanh về vấn đề nghi lễ của các thầy Mỡi chính là cúng chữa bệnh, giải hạn, cầu an, .v.v. cho dân làng. Mỗi khi trong gia đình ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình nếu có gặp những hoàn cảnh gì, nhƣ thế nào họ đều tìm đến thầy Mỡi để xem bói, đoán xem có chuyện gì xảy ra với cá nhân và gia đình, sau đó thầy Mỡi tổ chức nghi lễ cúng để chữa bệnh, giải hạn. Từ những việc nhỏ nhƣ con trâu, con bò, con lợn, con gà bị thất lạc, cho đến ngƣời già trẻ em bị ốm, gia đình bất an, lục đục họ đều cần đến sự trợ giúp của thầy Mỡi. Theo từng vấn đề mà cá nhân, gia đình gặp phải rồi thầy Mỡi chỉ cho cách để sửa soạn mâm cỗ phù hợp. Mỡi làm nghi lễ rất đơn giản, có thể thầy cúng luôn tại điện và cho nƣớc mát, dây buộc rồi đem về nhà khi sử dụng làm theo hƣớng dẫn của thầy Mỡi. Có những trƣờng hợp ngƣời bị bệnh nặng nhƣ “p ả a” ma nhập , ốm đau k o dài, những bệnh nhƣ vậy thì thầy Mỡi phải đến tận nhà, ra tận ồ ả làm nghi lễ cúng. Thực hành nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng quan trọng là thầy Mỡi phải đoán đƣợc bệnh, sau đó bày cách cho làm mâm cỗ cúng, để cho ngƣời trở lại khỏe mạnh, cho mọi việc tốt đẹp. Việc tổ chức nghi lễ cầu cúng cho “ n y” của thầy Mỡi đơn giản hơn nhiều so với những nghi lễ Lên đồng của ngƣời Kinh phải nhập đồng với tiền lễ, vàng mã tốn kém. 1.2.2. Cơ sở lý luận - Quan đ ểm ma thuật đồng cảm (sympathetic magic) Nghiên cứu của ngành văn hóa dân gian về tín ngƣỡng chủ yếu tập trung vào việc mô tả, hệ thống hóa những tín ngƣỡng, nghi lễ, trong đó một bộ phận đáng quan tâm và liên quan đến luận án là việc thu thập thông tin về hệ thống chữa bệnh dân gian, những phép thần chú, bùa ngải, cúng tế, các bài tụng của thầy cúng, thầy Shaman. Việc quan sát nghi lễ, ghi âm các bài khấn, lời cầu cúng truyền miệng và mô tả chi tiết về việc thể hiện, những hành động 43 nghi lễ của thầy cúng, thầy Shaman trong nghi lễ mang tính ma thuật là những nền tảng để nhà nghiên cứu phân tích, lý giải tính biểu tƣợng cũng nhƣ tính công năng của nghi lễ. Bên cạnh đó, sự đa dạng về bối cảnh nghi lễ, hệ thống tín ngƣỡng, mục đích của nghi lễ, các hiện vật nghi lễ, đồ thờ cúng đƣợc nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian quan tâm nhằm làm rõ sự đa dạng của nghi lễ. Nghiên cứu nghi lễ dân gian của ngành văn hóa dân gian bị ảnh hƣởng nhiều cách tiếp cận và lý giải từ ngƣời trong cuộc của ngành nhân học văn hóa. Về vấn đề nghi lễ mang tính ma thuật, trong đó có nghi lễ Shaman và có những n t tƣơng đồng nhƣ là hiện tƣợng Mỡi đƣợc James Frazer phân tích khá tỉ mỉ trong cuốn Cành vàng (The Golden Bough) [70 đƣợc xuất bản lần đầu tiên năm 1890 đến nay đã đƣợc tái bản nhiều lần và đƣợc dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới, có cả bản tiếng dịch Việt. Ông cho rằng thực hành tín ngƣỡng là “ma thuật đồng cảm” sympathetic magic , trong đó: 1 ma thuật vi lƣợng đồng cân (homeopathic magic), là ma thuật hoạt động thông qua hành động tƣơng đồng gián tiếp, sự giống nhau sản sinh ra sự giống nhau; (2) Ma thuật lây nhiễm (contagious magic), là ma thuật hoạt động thông qua hành động tiếp xúc trực tiếp có ảnh hƣởng đến kết quả mong muốn. Ví dụ, một bùa mê tình yêu có thể dùng các chất vi lƣợng đồng cân (thảo dƣợc, đá, ván bùa có ý nghĩa tƣợng trƣng có tác dụng làm tăng thêm tình yêu, và nhƣ các chất hoạt động qua sự lây nhiễm (một món tóc hoặc một vật dụng mà ngƣời bị bỏ bùa đi qua hoặc sờ phải). Trong nghi lễ Mỡi, những kiến thức mang tính thiêng, ma thuật tạo thành một hệ thống bao gồm tín ngƣỡng và hoạt động tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng mà các thầy Mỡi thực hành. Các đồ thờ cúng và kỹ thuật nghi lễ khác nhau đƣợc sử dụng nhƣ là phƣơng pháp có công năng chữa bệnh mang tính ma thuật có thể coi nhƣ các dạng thực của ma thuật đồng cảm [71]. Trong khi 44 thực hiện/diễn xƣớng nghi lễ, việc chữa trị bệnh cũng có thể đƣợc thực hiện bằng cách chuyển bệnh sang một đồ vật hoặc động vật hoặc cây cối bằng cách chạm vào đối tƣợng. Bên cạnh đó, việc chữa trị còn có thể đƣợc tiến hành bằng cách chuyển bệnh vào cơ thể của một ngƣời khác bằng cách tạo ra một hình nộm (sự chuyển bệnh biểu trƣng bằng tóc và các mảnh ghép của móng tay (truyền bệnh bằng đƣờng lan truyền . Trong tín ngƣỡng ngƣời Mƣờng, việc bị bệnh là do vía bỏ đi lang thang. Các thầy Mỡi thoát hồn vào thế giới vô hình để thu vía về cái áo của ngƣời bị ốm. Cái áo là vật trung gian để truyền tải, dẫn lối cho vía hòa nhập vào cơ thể. Sự đồng cảm, lây nhiễm này có tác dụng mang tính biểu tƣợng và nhƣ là chìa khóa để kết nối con ngƣời với thế giới vô hình. Những phép thuật đồng cảm, lây nhiễm này phải đƣợc thực hiện trong một buổi diễn xƣớng nghi lễ theo quy trình, thủ tục mà các thầy Mỡi đã đƣợc học, tôi luyện trong một quá trình dài và lĩnh hội đƣợc những kiến thức nhất định để hành lễ. - Quan đ ểm về t ự n , d n xư ng dân gian Trong văn hóa dân gian, khái niệm thực hành, diễn xƣớng mà trong thuật ngữ chuyên ngành văn hóa dân gian quốc tế là “perform”, “performance” tạm dịch là thực hành, làm, tổ chức, thực hiện, tiến hành...) là một thuật ngữ không dịch ra các thứ tiếng khác, hàm ý là thực hiện một hành động. Ví dụ, thầy cúng làm nghi lễ; dân làng tổ chức lễ hội; vở diễn tiến hành theo 3 bƣớc, v.v. Trong tiếng Anh, các động từ “làm”, “tổ chức”, “tiến hành”, .v.v. đều có thể dùng động từ “perform” [20 . Đây là một khuynh hƣớng nghiên cứu trong văn hóa dân gian, nhìn nhận và tìm hiểu việc thực hành các loại hình đƣợc diễn ra trong những bối cảnh cụ thể. Việc thực hành này là một hình thức thể hiện sử dụng những kỹ thuật, nghệ thuật theo quy ƣớc để thực hiện hành động (kể, hát, diễn, múa, diễn tấu âm nhạc... cho ngƣời khác thƣởng thức [5, tr.744-745]. 45 Về cơ bản, việc thực hành một nghi lễ tín ngƣỡng dân gian với mục đích đáp ứng nguyện vọng của những ngƣời thụ lễ nhƣ chữa bệnh, giải hạn đƣợc thực hiện bởi tài năng và quyền năng của các thầy cúng đối với khách hàng, ngƣời thụ lễ. Năng lực của thầy cúng nằm ở chỗ kiến thức và khả năng thể hiện (cầu cúng, khấn, chú) theo những cách thích hợp với từng trƣờng hợp, từng cá nhân và yêu cầu của họ. Một nghi lễ bao hàm, về mặt ngƣời thực hiện, khả năng phán truyền tìm ra nguyên nhân ốm đau, bệnh tật, những trắc trở trong tình duyên, quan hệ gia đình, xã hội. Từ góc độ ngƣời thụ lễ, con mày, họ cảm nhận về nghi lễ, những hành động biểu đạt của các thầy cúng, về khả năng, năng lực và quyền năng của họ. Sau đó, những công năng, công hiệu của nghi lễ có thể đƣợc hiện thực hóa, thì quyền năng của các thầy cúng càng đƣợc nâng cao. Nhƣ vậy, đứng từ góc độ nghi lễ, việc thực hiện nghi lễ có một vai trò đặc biệt, là một hình thức để phục vụ những ngƣời thụ lễ. Đức tin, hành động biểu tƣợng và tất cả những yếu tố khác tham gia vào cả quá trình làm lễ đƣợc thực hiện, cũng là để duy trì sức sống của nghi lễ, đồng nghĩa với việc bảo tồn và phát huy giá trị của văn hóa. Áp dụng quan niệm thực hành, hay diễn xƣớng dân gian, hay tổ chức một buổi nghi lễ Mỡi, để lý giải những hành động, công việc của thầy Mỡi đƣợc thực hiện trong bối cảnh về không gian, thời gian, rộng hơn về văn hóa, xã hội. Các hành động trong việc tổ chức, thực hiện một nghi lễ của thầy Mỡi đƣợc quan sát, lý giải trong bối cảnh cuộc sống của ngƣời dân Mƣờng. Luận án lý giải các tri thức, hành vi có thể quan sát đƣợc trong một nghi lễ cụ thể nhƣ chữa bệnh, trừ tà, cầu yên, giải hạn và đặc biệt, việc thể hiện bằng hành động nghi lễ nhƣ thầy Mỡi đọc các bài cúng, thực hiện các hành động mang tính biểu trƣng nhƣ phán bệnh, cho nƣớc mát, đọc thần chú. Trong một nghi lễ, thầy Mỡi đọc khấn, cầu không chỉ bằng lời, mà còn bằng điệu bộ, mang tính biểu tƣợng, thể hiện những động tác giao tiếp với thần linh với thế giới tự 46 nhiên và gọi vía về với cơ thể. Những hành động nghi lễ mang tính biểu tƣợng này mang tính công năng khi nó đƣợc thực hiện trong bối cảnh của cuộc sống tâm linh ngƣời Mƣờng và đặt trong hệ thống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng. - Lý thuyết ch năn Khi đề cập đến nghiên cứu tôn giáo, tín ngƣỡng, các học giả thƣờng bàn luận đến công trình của những học giả gần nhƣ đầu tiên tìm tòi về lĩnh vực này là Eward Taylor. Trong công trình Văn óa n uy n t uỷ, E. . Tylor đã phân tích sâu về tín ngƣỡng, nghi lễ nguyên thủy và sự tiến triển của nó trong lịch sử [79]. Thông qua nghi lễ, những ngƣời đang sống ở c i trần cầu cúng thần linh ở thế giới vô hình với những khát vọng tốt đẹp cho cuộc sống thƣờng nhật. Đây cũng là chức năng cơ bản của nghi lễ mà nó luôn có những hình thức khác nhau để đáp ứng nhu cầu tâm linh của con ngƣời. Xét về khía cạnh xã hội và văn hóa, thì tác giả Emile Durkheim cho rằng nghiên cứu tín ngƣỡng cần quan tâm đến bối cảnh xã hội, tập trung vào sự cần thiết và điều mong muốn của một cá nhân. Chẳng hạn, ngƣời nông dân muốn có mƣa, ngƣời đàn ông trẻ muốn có vợ, ngƣời phụ nữ cần chữa bệnh, thì cộng đồng sẽ có những nghi lễ phù hợp để đáp ứng lòng mong mỏi của con ngƣời. Nghi lễ tín ngƣỡng đƣợc thực hiện vì mục đích tốt đẹp cho cộng đồng, hƣớng tới mục đích cuối cùng rất thực tế. Về điều này, hai tác giả Schultz và Lavenda cho rằng mục đích của nghi lễ là đáp ứng nhu cầu nào đó của con ngƣời bằng hành động mang tính biểu tƣợng. Nghi lễ thể hiện những niềm tin của ngƣời về điều gì đó mang tính tâm linh, thể hiện mối quan hệ giữa con ngƣời và thế giới thần linh [34, tr.223]. Một trong những quan điểm khá thuyết phục trong phân tích về chức năng của tín ngƣỡng, nghi lễ là những tuyên bố của Bronislaw Malinowski [73]. Malinowski sống và trực tiếp quan sát cuộc sống, thực hành ma thuật 47 của ngƣời dân trên đảo Trobriands vào những năm 1920. Sau đó, ông phát triển một khía cạnh mới về nhu cầu nội tại của cộng đồng về các nghi lễ mang tính ma thuật. Malinowski coi nghi lễ ở trên đảo Trobriand Islands không chỉ là sự hiểu lầm nguyên thuỷ về thế giới tự nhiên, mà là kỹ thuật nguyên thuỷ của ngƣời dân trên nghi lễ là cách đề cập đến sự cần thiết về tâm lý và không chắc chắn liên quan đến làm vƣờn trên đảo san hô và đi biển. Ông miêu tả những ngƣời dân ở Trobiand nhƣ là những ngƣời “duy lý”, họ biết sự khác nhau giữa tín ngƣỡng vào thế giới vô hình và công việc khó khăn của họ. Nhận định này trong cuốn sách của ông giống nhƣ các thực hành của ngƣời Việt và các dân tộc khác ở Việt Nam. Ngƣời dân vẫn đi chữa bệnh ở bệnh viện, họ vẫn sử dụng khoa học hiện tại trong nghề nông và tận dụng mọi yếu tố để phát triển thƣơng mại, nhƣng họ vẫn làm các nghi lễ chữa bệnh, nhập trạch, về nhà mới, văn phòng mới. Trong cuộc sống, có biết bao nhiêu điều bất trắc xảy ra, việc quan tâm đến các nghi lễ mang tính ma thuật có phần nào đó an ủi cho những điều bất cập xảy ra và mong muốn những điều tốt đẹp hơn. Trong nhiều trƣờng hợp, các nghi lễ mang tính ma thuật bị thay thế. Tambiah cho rằng những làng của ngƣời da đỏ sử dụng thuốc trừ sâu, ngƣời dân không còn tổ chức nghi lễ để đuổi sâu bọ nữa. Trong làng của ngƣời Hàn Quốc, ngƣời dân nói về một năm hạn hán khi nghi lễ Shaman cầu mƣa đã có mƣa ở giữa mùa hè, những khi tôi hỏi họ là họ còn làm lễ cầu mƣa khi gặp hạn nữa không, thì họ trả lời là bây giờ họ đã có máy bơm và vì thế không cần thầy Shaman làm lễ cầu mƣa nữa. Điều này cũng phù hợp với quan điểm của Tambiah về thực hành khoa học và kỹ thuật xoá bỏ sự cần thiết và nhu cầu tổ chức các nghi lễ. Thuốc trừ sâu đã làm mất đi nghi lễ đuổi sâu bọ, máy bơm bỏ sự cần thiết tổ chức lễ cầu mƣa [78 . 48 Trong nhiều ví dụ, kỹ thuật hiện đại cũng không loại bỏ, hay thay thế đƣợc tất cả những điều rủi ro, là nguyên nhân tạo nên sự cần thiết phải có nghi lễ, ma thuật. Trong thời kỳ đƣơng đại, bên cạnh một số thực hành nghi lễ ma thuật bị mai một vì chúng không còn có ý nghĩa trong cuộc sống nữa, thì nhiều nghi lễ thực hành vẫn tồn tại nhƣ nghi lễ Mỡi, lễ cúng sao giải hạn, làm chay, gọi vía, lễ kéo si ... - ôn năn ủa nghi l Mối quan tâm của ngành nghiên cứu văn hóa dân gian đối với nghi lễ tín ngƣỡng mang tính thiêng, phép thần chú tồn tại từ lâu trong lịch sử của ngành nghiên cứu. Những câu thơ cổ, những bài khấn mật, những động tác mật chú có những mối liên hệ với văn hóa, biểu tƣợng, những tƣơng tác với thánh thần. Việc sử dụng ma thuật lời nói trong phép thần chú đƣợc các thầy cúng sử dụng trong nghi lễ tạo ra những diễn xƣớng trong trạng thái xuất thần. Các thầy cúng vừa hát, vừa ngâm nga, vừa đánh nhạc cụ, vừa xóc nhạc - tất cả mang ý nghĩa biểu tƣợng thể hiện những thế giới tự nhiên mà nó có tác động đến thế giới trần thế nơi con ngƣời đang sống. Nội dung, sự trình diễn và thể loại của các bài cúng, mang tính thiêng, có ảnh hƣởng sâu sắc đến tính công năng của nghi lễ [71]. Tác giả Victor Turner nhấn mạnh vai trò của những hành động thực hành (performance) nghi lễ với những lời nói, hành động mang tính chất biểu tƣợng thể hiện hệ thống tín ngƣỡng, văn hóa, các mối quan hệ xã hội. Tác giả Turner đã nhìn nghi lễ nhƣ quá trình vƣợt qua nó để chuyển tải những ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc. Theo ông, “Niềm tin và sự thực hành nghi lễ phản ánh và chỉ rõ ra các yếu tố kinh tế, chính trị, các mối quan hệ xã hội, hơn nữa nó ngày càng đƣợc xem là những chìa khóa quan trọng để hiểu co...lịch sử tộc ngƣời, về quan niệm và niềm tin của ngƣời Mƣờng, về cách tính lịch cổ của ngƣời Mƣờng. Thầy Mỡi thực tế là những ngƣời thực hành các cuộc nghi lễ để cầu an, giải hạn, chữa trị bệnh tật, gọi vía... giúp cho đời sống tinh thần của cộng đồng ngƣời Mƣờng luôn hƣớng tới những điều tốt lành. Các thầy Mỡi 156 chính là những ngƣời am hiểu và lƣu giữ những kinh nghiệm và tri thức dân gian về chữa bệnh về lao động sản xuất về cuộc sống trong sinh hoạt cộng đồng của ngƣời Mƣờng. Luận án đi sâu tìm hiểu vấn đề này nhằm đóng góp một phần nhỏ trong nghiên cứu về nghi lễ Shaman giáo về chức năng, công năng và lý giải sức sống của nghi lễ mang tính ma thuật này trong xã hội đƣơng đại. Điều này cũng lý giải tại sao, trong sự phát triển của công nghệ, khoa học, ngành y phát triển vậy mà các nghi lễ mang tính ma thuật nhƣ thực hành nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình vẫn đang đƣợc tồn tại và có sức sống mãnh liệt, lâu bền trong xã hội đƣơng đại. 157 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ IÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. ùi Văn Hộ 2017 , “Vật cúng trong nghi lễ Mỡi của ngƣời Mƣờng ở Lạc Sơn, Hòa ình”, Tạp Văn óa ệ thuật, số 399, tr.25-27. 2. ùi Văn Hộ 2017 , “Chức năng của nghi lễ Mỡi trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Mƣờng Trƣờng hợp nghiên cứu ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình , Tạp Văn óa ọc, số 4 (32), tr. 47-55. 158 TÀI IỆU THAM HẢO A. Tài liệu tiếng Việt 1. Đào Duy Anh 1996 , Từ đ ển Hán - Việt, Tái bản, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 2. Phan Quốc Anh (2006), Nghi l v n đời của n ườ ă A r ở NinhThuận, Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội. 3. Toan Ánh 1992 , Tìm hiểu phong tục Việt Nam, nếp ũ, tết, hội hè, Nxb, TPHCM. 4. Đinh Văn Ân 2001 , Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nư c, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Đinh Văn Ân 2005 , Mo kể chuyện đẻ đất đẻ nư c, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội). 5. Bauman Richard (1984), Verbal Art as Performance (Nghệ thuật ngôn từ truyền miện n ư ột hình th c di n xư ng), IL:Wave Land Press, Inc. Bài dịch in trong sách Folklore thế gi i một số công trình nghiên c u ơ ản, do Ngô Đức Thịnh và Frank Prochan tuyển chọn, Nxb Khoa học Xã hội, 2005, tr.744 - 803. 6. Diệp Trung Bình (2005), Phong tục và nghi l chu kỳ đờ n ười của n ười Sán Dìu ở Việt Nam, Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Thái Nguyên. 7. Hoàng Hữu Bình (2009), Văn óa n ườ ường huyện Kim Bôi tỉnh Hòa Bình, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 8. Trần Văn ổn (2002), Phong tục và nghi l của n ườ ơ ở Nam Bộ, Nxb Quốc gia, Hà Nội. 9. Nguyễn Phƣơng Châm 2009 , Biến đổ văn óa ở các làng quê hiện nay, Nxb Văn hóa - Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội. 10. Nguyễn Từ Chi (2003), Góp ph n nghiên c u văn óa v tộ n ười, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 159 11. Nguyễn Từ Chi, ùi Văn Sơ, ùi Văn Nhịn (1998), ườ ường v văn hoá cổ truyền ường Bi - Sơn n , Ủy ban Nhân dân huyện Tân Lạc Sở Văn hoá TT Hà Sơn ình. 12. Chiến ược phát triển văn óa đến nă 2020, Quyết định số 581/QĐ-TTg, ngày 6/5/2009 của Thủ tƣớng Chính phủ. 13. Lê Hải Đăng 2001 , Các nghi l a đ n ủa n ườ T y ường ở con Cuông, Nghệ An, Luận án Tiến sĩ Nhân học, Hà Nội. 14. Địa chí Hòa Bình (2005), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 15. Tạ Đức (2013), Nguồn gố n ười Việt - n ườ ường, Nxb Tri thức, Hà Nội. 16. Nguyễn Thị Song Hà 2005 ,“Tập tục sinh đẻ của ngƣời Mƣờng, huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa ình”, Tạp chí Dân tộc học, số 1, tr.25. 17. Nguyễn Thị Song Hà (2011), Nghi l trong chu kỳ đờ n ười của n ười ường ở Hòa Bình, Luận án tiến sĩ Nhân học, Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội. 18. Nguyễn Thị Hằng (2014), Những biến đổ văn óa v t n ố kết cộng đồng dân tộ ường hiện nay (nghiên c u trường hợp dân tộc ường tỉnh hòa bình), Luận án Tiến sĩ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội 19. Nguyễn Kim Hiền 2004 ,“Lên đồng ở Việt Nam - một sinh hoạt văn hóa tâm linh mang tính trị liệu”, in trong sách Đạo Mẫu và các hình th c Shaman trong các tộ n ười ở Việt Nam và châu Á, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 20. Nguyễn Thị Hiền 1999 ,“The then performer of the Dai as folk singger and Shaman Ngƣời diễn xƣớng Then-nghệ nhân hát dân ca và thầy Shaman), Tai Culture:International journal, Review on Tai Cultural Studies, No.2, pp34-44. 160 21. Nguyễn Thị Hiền (2010), Bệnh âm: Chuẩn đoán và chữa bệnh trong nghi lễ Lên đồng của ngƣời Việt, In trong sách Hiện đạ v động thái của truyền thống ở Việt Nam: Những cách tiếp cận nhân học, Quyển 2, Lƣơng Văn Hy cùng cộng sự, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, TP.HCM. 22. Nguyễn Thị Hiền 2014 , “Văn hóa dân gian và phƣơng pháp tiếp cận diễn xƣớng” Tạp Văn óa ọc, số 4 (14), tr.96-99. 23. Nguyễn Thị Hiền 2016 , The Religion of Four Palaces: d u s p and T rapy n V t u tur T P ủ L n đồn v trị ệu tr n văn óa n ườ V ệt), Nxb Thế giới, Hà Nội. 24. Trƣơng Sỹ Hùng 2007 , “Mo - Trƣợng - Mỡi trong đời sống tâm linh Mƣờng” Tạp chí Dân tộc và Thờ đại, số 110, tr.2-3,5. 25. Diêu Chu Huy (1996), Vu thuật th n bí (Nghiên c u và phê phán thuật lên đồng, thuật c u hồn nhập xác), GS. Lê Huy Tiêu, GS. Đỗ Đức Sâm, Dƣơng Thu Ái dịch, Nxb Văn hoá-Thông tin,Hà Nội. 26. Jeanne Cuisinier (1995), L s ườn - ườ ườn địa ý n n văn v xã hội học, Bản dịch, Nxb Lao động, Hà Nội. 27. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên , V Văn Cận, Phạm Minh Thái (2004), L hội trong cộn đồng các dân tộc Việt Nam, NX Văn hóa-Thông tin Hà Nội. 28. Luật tín ngƣỡng Tôn giáo năm 2016. 29. Bùi Tuyết Mai, Vũ Đức Tân (1999), ườ ường ở Việt Nam, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 30. Hoàng Anh Nhân (2010), Nghi l vía chùa của n ườ ường, Nxb Dân Trí, Hà Nội. 31. ùi Văn Nợi (2015), M ường, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 32. Pháp lệnh tín ngƣỡng Tôn giáo năm 2004. 161 33. Bùi Thị Kim Phúc (2004), Nghi l tr n đời sống tinh th n của n ười ường, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 34. Schultz E.A.Robert,H.Lavenda (2001), n ọ ột quan đ ể về t n trạn n n s n , tài liệu dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 35. Kiều Trung Sơn 2016 , Nghệ thuật di n xư n ường, Nxb Thế giới, Hà Nội. 36. Lý Hành Sơn 2001 , Các nghi l chủ yếu tr n đờ n ười của nhómDao Tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn, Luận án Tiến sĩ Lịch sử. 37. Văn Tân chủ biên) (1991), Từ đ ển Tiếng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 38. Nguyễn Ngọc Thanh 2017 , “Dân tộc Mƣờng” Các dân tộc Việt Nam, Tập 1, Nxb Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội. 39. ùi Văn Thành 2005 , Thế gi i biểu tượng th n thoại trong mo ường, Luận văn Thạc sĩ khoa học Ngữ văn, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội. 40. Bùi Quang Thắng 1999 ,“Mỡi Mƣờng làng Lửa (xã Tân Lập - Thanh Sơn, Phú Thọ ”, trong ươn tr n ảo tồn và phát huy các giá trị văn óa p vật thể, Thƣ viện Viện Văn hóa Nghệ thuật Quốc gia Việt Nam. 41. Bùi Thiện, Thƣơng Diễm, Quách Giao sƣu tầm) (1976), Đẻ đất đẻ nư c: T ơ d n an d n tộ ường, Nxb Văn học, Hà Nội. 42. Bùi Thiện (2005), Di n Xư ng Mo - Trượng - M i, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 43. Bùi Thiện (2015), Di n xư ng nghi l : Di sản văn óa đặc sắc của dân tộc ường, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 44. Ngô Đức Thịnh (Chủ biên) (2001), T n n ư n v văn óa t n n ư ng ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 162 45. Ngô Đức Thịnh (2004), Văn óa v n v p n v n văn óa ở Việt Nam, tái bản có bổ sung, Nxb Trẻ, Tp HCM. 46. Ngô Đức Thịnh (2015), L n đồng: Hành trình của th n linh và thân phận, tái bản, Nxb Thế giới, Hà Nội. 47. Vũ Hồng Thuật (2008), Đời sống tâm linh của chiếc ván in bùa trấn trạch, trong sự biến đổi của tôn á t n n ư ng ở Việt Nam hiện nay, Lê Hồng Lý, Nguyễn Thị Phƣơng Châm tuyển chọn, Nxb Thế giới, Hà Nội. 48. Nguyễn Hữu Thức 2001 , “Trƣợng và Mỡi trong đời sống tâm linh của ngƣời Mƣờng”, Tạp Văn óa ệ t uật, số (205), tr.19-22. 49. Nguyễn Hữu Thức 2001 , “Tín ngƣỡng dân gian ngƣời Mƣờng tỉnh Hòa ình”, trong T n n ư ng dân gian Việt Nam, Lê Nhƣ Hoa chủ biên , Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.321-369. 50. Tôcarép. X. A. (1994), Những hình th tôn á sơ k a , Lê Thế Thép dịch, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 51. Bạch Mỹ Trinh 2015 , “Mỡi trong đời sống tinh thần ngƣời Mƣờng Hòa ình”, Tạp Văn hóa Nghệ Thuật, số 373, tr.27. 52. Bạch Mỹ Trinh, chủ biên (2017). Mỡi và vai trò của Mỡi trong đời sống tinh thần của ngƣời Mƣờng ở Hòa Bình. Nxb Mỹ thuật Hà Nội. 53. Nguyễn Quốc Tuấn 2013 , “Nhận thức lại các khái niệm “tín ngƣỡng” và “tôn giáo” từ góc độ nghiên cứu tôn giáo”, Tạp chí Nghiên c u Tôn giáo, số 8,(122). 54. Trần Từ (1996), ườ ường ở Hòa Bình, Nxb Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Hà Nội. 55. Đặng Nghiêm Vạn (2005), Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội. 163 56. Bùi Huy Vọng 2007 , “Lễ K o si trong truyền thống Mƣờng”, Tạp chí Dân tộc và Thờ đại, số 101, tr.15. 57. Bùi Huy Vọng (2011), Phong tục làm chay, Tập 1: Tục làm chay bảy cờ của n ườ ường: Ph n do M i làm chủ tế, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 58. Bùi Huy Vọng (2014), L n ường ở Hòa Bình, NxbVăn hóa, Thông tin, Hà Nội. 59. Bùi Huy Vọng (2014), Tục cúng sao giải hạn của n ườ ường ở Hòa Bình, Nxb Thời Đại, Hà Nội. 60. Bùi Huy Vọng (2015), Đền ăn v á n t n n ư ng dân gian, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 61. Bùi Huy Vọng (2015), Văn óa d n an ường; một góc nhìn, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. 62. Bùi Huy Vọng (2016), M tr n đời sống của n ườ ường ở Lạ Sơn, Hòa Bình, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội. 63. Bùi Huy Vọng (2016), Những biểu tượn đặ trưn tr n văn óa d n an ường, Nxb Mỹ Thuật, Hà Nội. 64. Bùi Huy Vọng (2016), Quan niệm và ng xử v v n v a tr n đời sống của n ườ ường, Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội. 65. Lê Trung Vũ chủ biên) (2007), Nghi l v n đờ n ười, Nxb Trẻ, Tp HCM. 66. Nguyễn Nhƣ Ý, 1998 , Từ đ ển t ến V ệt, Nxb Văn Hóa, Thông tin, Hà Nội. 67. Nguyễn Thị Yên 2007 , T n T y, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội. B. Tài liệu nƣớc ngoài 68. Atkinson Jane Monnig 1992 , “Shamanism Today” Saman giáo ngày nay), Annual Review of Anthopology, 21, pp.307-330. 164 69. Eliade Mircea (1964), Shamanism: Archaic Techniques of Ecstasy (Shaman giáo: Kỹ thuật xuất nhập th n cổ sơ), Bollingen Series LXXVI. Pantheon Books. 70. Frazer James (1890), Golden Bough (Cành vàng), Penguin UK. 71. Gell Alfred (1998), Art and Agency: An Anthropological Theory (Nghệ thuật và ma lực: Một lý thuyết nhân học), Oxford: Clarendon Press. 72. Grigoreva Nina 2017 , “Tín ngƣỡng dân gian của ngƣời Mƣờng liên quan đến tín ngƣỡng Thờ Mẫu của ngƣời Việt”. In trong Kỷ Yếu Hội thảo “Nghiên c u nghi l trong thời kỳ đươn đạ Trường hợp nghiên c u T n n ư ng thờ Mẫu”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 73. Malinowski ronislaw 1954 , “Magic, science and religion” trong Magic, science and religion and other essays” “Ma thuật, khoa học và tôn giáo” trong sách Ma thuật, hoa học và tôn giáo và những bài viết khác), Garden city, N.Y.: Doubleday anchor, tr. 17 - 92, Bản dịch tiếng Việt in trong sách Nhân học tôn giáo, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, Tạp chí xƣa & nay, Nxb Đà Nẵng, 2006. 74. Rouget Gilbert (1980), La musique et la trans Esqu ss d’ un t general des relations de la musique et de la possession (Âm nhạc và trạng thái xuất nhập th n: Phác thảo một lý thuyết chung về mối quan hệ giữa âm nhạ v n đồng), publishing Editions Gallimard, Chicago: Universtity of Chicago Press. 75. Rouget Gilbert (1985), Music and Trance: A Theory of the Relations between Music and Possession (Âm nhạc và nhập đồng: Lý thuyết về mối quan hệ giữa âm nhạc và lên đồng), Brunhilde Biebuyck dịch sang tiếng Anh. Chicago: University of Chicago Press. 76. Shirokogorov S.M (1935), Psychomental Complex of the Tungus (Ph c hợp tâm th n của n ười Tungus), London: Kegan Paul. 165 77. Tambiah Stanley J (1990), Magic, Science, and the Scope of Rationality (Ma thuật, khoa học và phạm vi của duy lý), Cambridge: Cambridge University Press. 78. Turner Victor (1969), The Ritual Process: Structure and Anti Structure (Quá trình nghi l : Cấu trúc và phản cấu trúc), Chicago, IL: Aldine. 79. Tylor E. B (1871), Primitive Culture: Researches into the development of Mythology, Philosophy, R n, Lan ua , Art and ust Văn hóa nguyên thủy: Nghiên c u sự phát triển của th n thoại học, triết học, tôn giáo, ngôn ngữ, nghệ thuật và phong tục), London: J. Muray. 80. Walsh Roger N (1990), The Spirit of Shamanism (Th n linh của saman giáo), Los Angeles: Jegemy P. Tarcher, Inc. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ VĂN H ÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH VIỆN VĂN HÓA NGHỆ THUẬT QUỐC GIA VIỆT NAM NGHI LỄ MỠI CỦA NGƢỜI MƢỜNG (NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP NGƢỜI MƢỜNG Ở HUYỆN LẠC SƠN, TỈNH HÒA BÌNH) PHỤ LỤC UẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA DÂN GIAN Hà Nội -2018 167 MỤC ỤC Phụ lục 1: ản đồ hành chính huyện Lạc Sơn và tỉnh Hòa ình................. 168 Phụ lục 2: Danh sách những ngƣời cung cấp thông tin cho luận án.169 Phụ lục 3: Hình ảnh Mỡi đang thực hiện nghi lễ......170 Phụ lục 4: an thờ “Nổ” và Chúa Sơn lâm...........172 Phụ lục 5: Lễ vật dâng cúng trong nghi lễ L ay v ả ăn........174 Phụ lục 6: Một số hình ảnh ùa chú trong túi khót của thầy Mỡi........175 Phụ lục 7: Lời khấn của thầy Mỡi trong một số nghi lễ....177 168 Phụ lục 1: Bản đồ hành chính tỉnh Hòa Bình Ảnh 1: Bản đồ hành chính tỉnh Hòa Bình. Ảnh lấy trên Google Ảnh 2 ản đồ hành chính huyện Lạc Sơn. nh chụp trên bản đồ hành chính (Sở Tài nguyên Môi trƣờngtỉnh Hòa ình). 169 Phụ ục 2: DANH SÁCH NHỮNG NGƢỜI CUNG CẤP THÔNG TIN CHO UẬN ÁN 1. ùi Văn Chiển: Xóm Ấm, Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa ình 2. ùi Thị Ton: Xóm Ấm, Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa ình 3. ùi Thị Nê: Xóm Ấm, Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa ình 4. ùi Thị Minh: Xóm Anh 1, Thƣợng Cốc, Lạc Sơn, Hòa ình 5. ùi Văn Minh: Xóm Mận, Văn Sơn, Lạc Sơn Hòa ình 6. ùi Thị Yến: Xóm Vó Cỏ, Mỹ Thành, Lạc Sơn, Hòa ình 7. ùi Thị Nình: Xóm ắp, Xuất Hóa, Lạc Sơn, Hòa ình 8. ùi Văn Thiện: Thị trấn Vụ ản, Lạc Sơn, Hòa ình 9. ùi Văn Nhinh: Xóm e ngoài, Trí Thiện, Lạc Sơn, Hòa ình 10. ùi Thị Chinh: Xóm e ngoài, Trí Thiện, Lạc Sơn, Hòa ình 11. ùi Thị Hoan: Xóm Ấm, Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa ình 12. ùi Thị Còn: Xã Tân Mỹ, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình 13. ùi Thị Nỵ: Xóm Phang, xã Cuối Hạ, Kim ôi, Hòa ình 14. ùi Thị Sình: Xóm Tre, xã Miền Đồi, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình 15. ùi Văn Hình: Xóm Mo, xã Kim Sơn, huyện Kim ôi, tỉnh Hòa ình 16. ùi Văn Tình: Xóm Đảng, xã Trí Thiện, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa ình 17. ùi Thị Hành: Xóm ai Lòng, xã Định Cƣ, Lạc Sơn, Hòa ình 18. ùi Văn Phúc: Xóm Anh 1, xã Thƣợng Cốc, huyện Lạc Sơn, tỉnh H 19. ùi Huy Vọng: Xóm Chum, Hƣơng Nhƣợng, Lạc Sơn, Hòa ình 20. ùi Văn Vẳm: Xóm ui, xã Nhân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, Hòa ình 21. ùi Văn Hôn: Xóm Ấm, Văn Nghĩa, Lạc Sơn, Hòa ình 170 Phụ ục 3: Hình ảnh Mỡi đang thực hiện nghi ễ Ảnh 1: Mỡi Minh đang ngồi trên “Trườn ” làm lễ cho con mày. nh chụp: NCS, Tháng12/2016, (tại xã Thƣợng Cốc, Lạc Sơn . Ảnh 2: Bà Mỡi Hoan đang thực hiện nghi lễ Giả ăn. nh chụp: NCS, tháng 12 năm 2016, tại xã Văn Nghĩa, Lạc Sơn . 171 Ảnh 3: Mỡi Minh đang thỉnh các vị Vua Cha Ngọc Hoàng xuống để làm lễ. nh chụp: NCS, tháng 12 năm 2016, tại xã Thƣợng Cốc, Lạc Sơn . Ảnh 4: à Mỡi Hoan đang đọc thần chú, làm lễ Giả ăn cho con mày nh chụp: NCS, tháng 12/ 2016, tại xã Kim Truy, Kim ôi, Hòa ình . 172 Phụ ục 4: Ban thờ Nổ , Ch a Sơn â và Ban thờ c c vị Th nh Thần Ảnh 5: Ban thờ Nổ của bà Mỡi Minh. nh chụp: NCS, tháng 02/2016, (tại xã Thƣợng Cốc, Lạc Sơn . Ảnh 6: Ban thờ Chúa Sơn Lâm nhà à Mỡi, ùi Thị Hoan nh NCS, tháng 02/2016, tại xã Văn Nghĩa, Lạc Sơn . 173 Ảnh 7: an thờ Thánh Thần, các vị Vua quan và trườn phản ngồi của bà Mỡi Hoan. nh chụp: NCS 01/2016, tại xã Văn Nghĩa, Lạc Sơn . 174 Phụ lục 5: ễ vật dâng cúng trong nghi lễ m cha v iải căn Ảnh 8: Mâm thờ Quan Lang Tất rác các Quan trong mƣờng) và gia tiên nh chụp: NCS, tháng 12/ 2016, tại xã Chí Thiện, Lạc Sơn . 175 Phụ ục 6: Một số hình ảnh Bùa ch trong t i khót của thầy Mỡi Ảnh 9: Đồ vật bùa chú trong túi Khót của thầy Mỡi ùi Thị Minh. nh chụp: NCS, tháng 02/2016, tại xã Thƣợng Cốc, Lạc Sơn . Ảnh 1 Đồng cảo dùng để xin âm dƣơng của thầy Mỡi Minh, ảnh chụp: NCS, tháng 2/2016, tại xã Thƣợng Cốc, Lạc Sơn . 176 Ảnh 11 Chầm t trong túi khót của thầy Mỡi. nh chụp NCS tháng 06/2016, tại xã Văn Sơn, Lạc Sơn, Hòa ình . Ảnh 12: Xƣơng đùi gà thầy Mỡi dùng để “Rò” xem bói cho con mày. nh chụp NCS, tháng 06/2016, tại xã Văn Sơn, Lạc Sơn, Hòa ình . 177 Phụ lục 7: ỜI HẤN TRONG MỘT SỐ NGHI Ễ MỠI Ghi â và dịch ời: NCS 1. ời c ng của à Mỡi Bùi Thị Minh trong nghi ễ cầu an, giải hạn cho gia đình Bùi Thị hật, tại ó Trang, Thƣợng Cốc, huyện ạc Sơn ngày 13.1.2 17. Da ơ v Vua ạy a d ơ ơ a ơ Ma ngay nay lạy Vua a ơ ơ a n ay nay n ơ a ơ a n ay nay n ay ươ a Vua a ay nay n ơi ông Thánh Ca ay nay n ơ a T an n ơ ơ a v a ơ ... n ơ a p t Tổ n ơ a P ật tiên n ơ ô n đ n, ơ n t n n ơ ua ươn a ơ .. Lay T n đ t, T ô ôn , n n ưa x n u v n a ua ươn ... n ay P t a ưn n ưn a Cho hêt thay clong clua, clong ổ, n n a, u Văn Đại ...cho bô cho , n un, an ăn n ở khoe.. Câu cho nuôi ca thôôch ca, chiêm cui thôôch cui Con lay Cha! Con lay phât ba clêêng thiên, con lạy T ô ôn ưn á Dịch lời: Da hơi vi iii Vua lạy Cha dậy ơ ơ Cha hỡi Mà hôm nay lạy Vua Cha hơi Mà hôm nay con mời Cha hỡi Mà hôm nay con lạy mƣời hai Vua Cha 178 Hôm nay con mời ông Thánh Cả Hôm nay con mời bà Thánh Hiền ơ ơ a Vì Cha hơi ... Con mời Cha Phật Tổ Con mời Cha Phật Tiên Con mời Bố trên đền, con mời Mẹ trên Thiên Con mời Chùa Hƣơng Cha hỡi.. Lạy Thần đất, Thổ Công, con có ngựa xanh biếu về cho bà Chúa Mƣờng ... Con lạy Phật bà chứng minh, chứng giám Cho hết thảy trong gia đình, họ mạc, cho ùi Văn Đại ...cho bố, cho mẹ, cho anh, cho em ăn đƣợc lành, ở đƣợc khỏe... Cầu cho nuôi gà, gà tốt, nuôi lơn, lợn khỏe Con lạy Cha! Con lạy Phật bà trên Thiên, con lạy Thổ công chứng giám! 2. ời c ng chữa ệnh cho con m , (tại điện nhà thầy Mỡi Bùi Thị Minh), ngày 13.1.2 17 Da ơ v Vua ạy a d ơ ơ a ơ Ma ngay nay lạy Vua a ơ ơ a n ay nay n ơ a ơ a n ay nay n ay ươ a Vua a ay nay n ơ ôn T án a Ngay nay n ơ a T an n ơ ơ a v a ơ ... n ơ t pua ut, pua T n, pua n pua a n a ơ n ơ a p t Tổ n ơ a P ật tiên n ơ ô n đ n, ơ n t n Con moi ông Kem ay nay n ơ t y k a n ơ t y n n a ơ ! ... 179 Dịch lời: Da hơi vi iii Vua lạy Cha dậy ơ ơ Cha hỡi Mà hôm nay lạy Vua Cha hơi Mà hôm nay con mời Cha hỡi Mà hôm nay con lạy mƣời hai Vua Cha Hôm nay con mời ông Thánh Cả Hôm nay con mời bà Thánh Hiền ơ ơ a Vì Cha hơi ... Con mời hết Vua Bút, Vua Thiên, Vua Biên Vua Cha Ngọc Hoàng Cha hỡi... Con mời Cha Phật Tổ Con mời Cha Phật Tiên Con mời Bố trên đền, con mời Mẹ trên Thiên Con mời ông Kem Ngày hôm nay con mời thầy già, con mời thần non Cha hơi! ... Con mời từ dãy đền trăng đến dãy núi đá vàng Cha hỡi ... . 3. ời c ng trong nghi ễ cầu con trai cho vợ chồng anh, chị: Bùi Văn Nhinh, Bùi Thị Chinh, ngày 12/1/2017 (tại điện à Mỡi Bùi Thị Minh Da ơ v Vua ạy a d ơ ơ a ơ Ma ngay nay lạy Vua a ơ ơ a n ay nay n ơ a ơ a n ay nay n ay ươ a Vua a ay nay n ơ ôn T án a ay nay n ơ a T an n ơ ơ a v a ơ ... n ơ t pua ut, pua T n, pua n pua a a ơ Con moi ông Kem ay nay n ơ t y k a Con mơ t y n n a ơ ! ... 180 n n án a ô a , n n án a a ơ ... Dâl ma thu lệ ơ èn k n k ẹ , ơ n n vó n ọoch... Con lạy ô đất mệ ường Con lạy quan Lan đất rác... ay nay ó ơ èn k n k ẹ ơ n n vó n ọoch, xếp lại mộôch cói, gói lại mộôch món, mộô n a ơ ... Con có thiền âm thiền dươn , n ó ó u, t u ại mộôch cói, gói lại mộôch món, mộô n a ơ ... n x n ơn ết thay các Ngài, các Th n, các Kem, bố đất mệ ườn a ơ Đ t ọoch khụ Clắng, theo rặng khụ vèng... Đ t dọoch mâl Clắng, theo dặn v n , t đ n x n a ơ Dịch lời: Da hơi vi iii Vua lạy Cha dậy ơ ơ Cha hỡi Mà hôm nay lạy Vua Cha hơi Mà hôm nay con mời Cha hỡi Mà hôm nay con lạy mƣời hai Vua Cha Hôm nay con mời ông Thánh Cả Hôm nay con mời bà Thánh Hiền ơ ơ a Vì Cha hơi ... Con mời hết Vua Bút, Vua Thiên, Vua Biên Vua Cha Cha hỡi... Con mời ông Kem Ngày hôm nay con mời thầy già, con mời thần non Cha hơi! ... Con mời từ dãy đền trăng đến dãy núi đá vàng Cha hỡi ... Con mời Thánh Phật Con mời ông to Phật Hoàng Con mời ông chữ Nho, con mời ông chữ Nhật ... Hôm nay con mời ba Nổ ba nƣờng, ba giƣờng ba chiếu ... Để chèo đò sang sông 181 Đi theo cơn mây đám gió ƣớc chân vè với giƣờng vàng, chiếu bạc ... Hôm nay là ngày rằm tháng chạp Cha hơi Tập trung về đền Mang theo bảy mƣơi nhăm lính già, ba mƣơi bảy lính non Vác súng trên vai, cài súng trên lƣng Xuống theo cái rặng mây trắng, xuống theo cái rặng mây vàng Xuống đến mƣờng Láo, Thƣợng Cốc, về với xóm Anh 1, thƣợng Cốc, Lạc sơn... Hôm nay con xin lạy bố đất, mẹ mƣờng Mà lạy ở nhà miếu, mà lạy ở nhà thờ Cha hỡi ... Mà xuống, mà về nhà học trò Mà ăn cơm lành, mà ăn cơm ngọt ... Bây giờ đôi trồng rồng vợ nhà cô Bùi Thị Chinh ở xóm Coi, ở xã Hƣơng Nhƣợng, ở huyện Lạc Sơn Đôi chồng rồng vợ nhà nó nuôi con chƣa có đôi em, chƣa giống anh, giống em Cho nhà cô Bùi Thị Chinh xin con đẻ cái, đã có ngƣời nhấc cối xay, có ngƣời dày cối giã Bây giờ nhà nó còn thiếu ngƣời cầm bừa, còn thiếu ngƣời cầm cày ... Con lạy bố đất, mẹ mƣờng Con có tiền âm, con có tiền dƣơng, con có tiền vàng tiền bạc Cha hỡi Con có lá trầu, con có quả cau Con có con gà trống, gà mái ... Con có cơm lành, canh ngọt, có cơm ngon, muối ngọt Con có bình rƣợu cần, rƣợu Mƣờng Cha hơi Con có bình rƣợu ngƣời Kinh Cha hỡi Con có rƣợu xả ba mùi ... Cha hỡi dậy mà rót rƣợu ... 182 Dậy mà ăn cơm lành, mà ăn cơm ngọt Cha hơi... Con mời các Ngài, các quan, các Thần dậy mà cầm đũa Ăn cho no, uống cho say... Để về với ông bà nhà ùi Văn Nhinh, ùi Thị Chinh ở xóm Coi, ở xã Hƣơng Nhƣợng, ở huyện Lạc Sơn Nó xinh con chỉ có một bề, chỉ có con gái Cha hơi Hôm nay để xin cho ùi Văn Nhinh, ùi Thị Chinh có ngƣời nhấc cối xay, dày cối giã Nó còn thiếu ngƣời cầm bừa, còn thiếu ngƣời đƣa cày... Ngƣời ta nói, một thằng rể bằng sáu thằng giặc con hỡi ... Cho nên hôm nay để xin cho ùi Văn Nhinh đƣợc làm bố mà bế, Bùi Thị Chinh đƣợc làm mẹ mà ôm Cha hỡi ... Để xin cho con có con trai nối dõi... Bây giờ con mới có một bề, một mái con nhé! Con có ngƣời nhấc cối xay, con có ngƣời dày cối giã Bây giờ con còn thiếu ngƣời cầm bừa, còn thiếu ngƣời đƣa cày con hãy ... Xin cho nó có con trai nối dõi ... Con xem cho r , ngó cho tƣờng, thấy nên mẹ cáy chớ bế con hỡi ... Bây giờ con chƣa có con trai nối dõi sau này con hãy ... Xin cho nó có con trai để nó chăm cửa ngó nhà, chăm cha ngó bố con hỡi ... Ngƣời ta nói con gái là con ngƣời ta, con trai là con nhà mình Nhinh hỡi, Chinh Hà con phải nghe cho rõ, con phải ngó cho tƣờng ôm mà bế lấy con hãy ... Hôm nay con có cơm lành, canh sạch, cơm ngon, muối ngọt Hôm nay con có cây vàng, gói bạc Cha hỡi ... Hôm nay, năm sáp hết, tết sắp đến 183 Cho ùi Văn Nhinh, ùi Thị Chinh ở xóm Coi, ở xã Hƣơng Nhƣợng, ở huyện Lạc Sơn ............................................................................................... Đêm ba mƣơi tết đƣợc vái Tiên Tổ, Gia tiên ... để năm mới đinh dậu may mắn Dậy dậy Cha hỡi, tay phải cầm đũa, tay trái rót rƣợu... Mà dùng cơm lành, canh sạch, cơm ngon, muối ngọt... Ăn vào cho no, uống vào cho say cho xƣa... Cho hết bàn cơm đẹp, cơm lành, cơm ngon, muối ngọt... Ăn vào cho no, cho nê, uống vào cho say cho xƣa Dậy mà rót rƣợu tay phải, nắm cơm tay trái Cha hỡi Dậy mà ăn cho hết cơm trắng, ăn cho sạch cơm xôi Cha hãy ... Từ nay con có Mụ đỡ, Mụ nuôi con hỡi Từ nay mà lên, từ trên mà xuống Bùi Thị Chinh có con trai mà ôm, ùi Văn Nhinh có con trai mà bồng, mà bế ... Để Mụ điểm mặt, để Mụ đặt tên ùi Văn Nhinh, ùi Thị Chinh ra nhận lấy con, ôm láy cái ... Hôm nay con có cơm lành canh sạch, cơm ngon, muối ngọt ... Hôm nay con có cây vàng, gói bạc, con có dây xà tích ... Dạy mà tay phải cầm phải cầm đũa, tay trái rót rƣợu Cha hỡi ... Ăn vào cho no, uống vào cho say Cha hỡi ... Con ùi Văn Nhinh, con ùi Thị Chinh ngả bàn tay trắng, ngả bàn tay trong để xin con trai nối dõi... ùi Văn Nhinh nó đƣợc làm bố mà bế, con Bùi Thị Chinh nó đƣợc làm mẹ mà ôm Dậy dậy mà thu lấy cơm lành, canh sạch, cơm ngon muối ngọt ... Con lạy bố đất mẹ mƣờng Con lạy quan Lang đất nƣớc 184 Hôm nay con có cơm lành, canh sạch, cơm ngon muối ngọt, xếp lại một cói, gói lại một món, một bên Cha hỡi ... Con có tiền âm, tiền dƣơng, con có lá trầu, quả cau, thu lại một cói gói lại một bên Cha hỡi ... Con xin dâng hết thảy các Ngài, các Thần, các Kem, Bố mẹ đất mƣờng Cha hỡi Đi theo ngọn núi đá trắng, đi theo rặng núi đá vành ... Đi theo luồng mây trắng, đi theo rặng mây vàng, đi theo đàng mây xanh Cha hỡi. 4. Bà Mỡi Bùi Thị Minh làm lễ cầu an giải hạn, chữa ệnh tại nhà cho ông Bùi Văn Coi, (Bùi Văn Thiên) ở ó Đảng, xã Chí Thiện, huyện Lạc Sơn, ngày 12.1.2 17. Da ơ v Vua ạy a d ơ ơ a ơ Ma ngay nay lạy Vua a ơ ơ a n ay nay n ơ a ơ a n ay nay n ay ươ a Vua a ay nay n ơ ôn T án a ay nay n ơ a T an n ơ ơ a v a ơ ... n ơ t pua ut, pua T n, pua n pua a n a ơ C n ơ a p t Tổ n ơ a P ật tiên n ơ ô n đ n, ơ n t n Con moi ông Kem .. Dịch lời: Da hơi vi iii Vua lạy Cha dậy ơ ơ Cha hỡi Mà hôm nay lạy Vua Cha hơi Mà hôm nay con mời Cha hỡi Mà hôm nay con lạy mƣời hai Vua Cha 185 Hôm nay con mời ông Thánh Cả Hôm nay con mời bà Thánh Hiền ơ ơ a Vì Cha hơi ... Con mời hết Vua Bút, Vua Thiên, Vua Biên Vua Cha Ngọc Hoàng Cha hỡi... Con mời Cha Phật Tổ Con mời Cha Phật Tiên Con mời Bố trên đền, con mời Mẹ trên Thiên Con mời ông Kem 5. ời khấn của à Mỡi Bùi Thị Hoan, trong nghi ễ giải căn cho anh: Bùi VănThức ngày 27/11/2016) Dậy vậy hơi ơ ờ Ngài Thành Hoàng Dậy vậy hỡi ơ ờ lệnh Tầu Dậy vậy hỡi ơ ờ Vua Lào Tam Tạng ơ ớ ơ Dậy dậy ơ ớ Kem cả a á à Kem con, quyền binh, lính tƣớng Dậy vậy hơi ơ ờ quan ông Hoàng Mƣời ơ ờ Dậy vậy hơi ơ ờ quan ông Hoàng bảy ngài à ... Dậy dậy hơi ơ ờ lệnh Chúa ba đền bốn phủ ngài hay Dậy vậy hơi ơ ờ từ nổ từ nƣơng, từ “Trƣờng” từ chiếu Dậy vậy hơi ơ ờ Cha non chiếm cháu dậy hơi ơ ớ ờ Dậy vậy hơi ơ ờ Cha cố đền núi Trắng... Dậy vậy hơi ơ ờ Cha cố đền núi Vành ngài hơi hỡi Dậy vậy hơi ơ ờ Thiên Thƣ đáo Thánh , Chúa Mƣờng, Chúa Mán ngài hơi Dậy vậy hơi ơ ờ Chúa Bà Thác Bờ Dậy vậy hơi ơ ờ Chúa Đá ngƣời Mƣờng, quan ông đất Mƣờng Dậy vậy hơi ơ ờ Cô bé, cô Cậu ớ à ở Thành làng Dậy vậy hơi ơ ờ ba chùa đền Bông Cao Phong... 186 Dậy vậy hơi ơ ờ đền chùa Đầm Đa Lạc Thủy Dậy vậy hơi ơ ờ ba mƣơi sáu lệnh mệnh ở núi Thánh Cả Ba Vì Dậy vậy hơi ơ ờ đền Cô Cậu Mẫu Bắc Lệ, Bắc Giang Dậy dậy hơi ơ ờ ba mƣơi sáu bóng lệnh ông, lệnh bà, lệnh Cha đức bố ở đồng đền tòa Tam Thanh ngài hơi Dậy dậy hơi ơ ờ ngài tam tòa Thánh cô Dậy dậy hơi ơ ờ tam tòa Thánh Mẫu trên đền Dậy dậy hơi ơ ờ quan nhất Dậy dậy hơi ơ ờ quan nhì, quan tam, quan tứ, nam dinh tƣớng cả sơn lâm Dậy vậy hơi ơ ờ lệnh bà cô ông mãnh ngài hay Dậy dậy hơi ơ ờ các cụ gia tiên ở trên hƣơng Trƣờng thờ, ở trong đất đống trong mƣờng. Có ông chú là ùi Văn Chung .... Con kêu đến gia tiên, đến Nổ đến nƣơng, đến Trƣờng đến chiếu. Con kêu đến Ông Hoàng Mƣời về đến để nuôi con chiếm cháu, nuôi rau chiếm chắt con hãy để cứu dân độ thế, chín chủ xóm mƣờng tam phƣơng tứ phía để đón xin lộc, để xem nó nấu cái bệnh trên trần nó rồ rồ điên điên, về để chứng tâm lòng thả, chứng tả lòng thành. Để ngày hôm nay là ngày tốt tháng lành Ngài hơi, là ngày 28 tháng 10 âm lịch, năm 2016. Ở tại phủ, tại nƣơng, tại Trƣờng tại chiếu, kiệu điện quan Mƣời, thiếp đổ quan ông là Bùi Thị Hoan 48 tuổi Dậy dậy hơi ơ ờ để theo bóng hƣơng theo khói hƣơng về Trƣờng Khụ réng chiếu rộng, chiếu hoa Ngài hay Để chứng tỏ lòng râm, chứng tâm lòng thành bàn cơm cá lốc, thủ lợn, thịt gà cả lòng cả mề Cho con cho cái mƣờng trần gian, con ny là ùi Văn Thức ở xóm Yên, xã Kim Truy ........................................................................... 187 Đôi ún rồng vàng, đôi con rồng cái nhà ngƣời ru răm sắm lễ để dâng lên trƣờng lên chiếu, kêu điện quan Mƣời Để lấy quyền đức Cha trên ghế, lấy ph p Đức Mẹ ngai uốn thiếp quan ông, ngày này để cho con là ùi Văn Thức, 29 tuổi Xa mô thiêng liêng thiêng kháng, để tâu để nhắc các cụ, Nổ nƣơng Trƣờng chiếu, ông quan Mƣời, ông Đá gia tiên, tiền tổ, bà cô ông mãnh, thần linh long mạch, quan lang đất nƣớc, chúa Mƣờng... để về tại điện hƣởng thụ thủ lợn, con gà, cá nƣớng, trầu cau, hoa quả, tiền âm, tiền dƣơng, rƣợu ngon, cơm lành canh ngọt, rƣợu cần ...trình Chúa Cha quan ông Hoàng Mƣời, lệnh cô, lệnh cậu, lệnh mẫu trên thiên, về với đất mƣờng có hoa có quả, có tiền âm, tiền dƣơng ... Mời mời các bóng cùng lệnh, mời các mệnh cùng căn ngài hơi, có cơm chay cái oản, có cơm chay rau đắng, canh ngọt, rƣợu thơm... về đến điện để tu lại Trƣờng chiếu cùng nhau bàn việc cho con là ùi Văn Thức...con đi rồng con rồng cái, con đi ru răm sắm sửa lừa liệu, ngày này tốt lắm là ngày 28 tháng 10 năm 2016 ngài hơi. Cho con ùi Văn Thức nó đi tắm nƣớc thơm lá xả để thả cái căn cái mệnh để lại ở đền Lệ Giang Hôm nay gia đình sắm sửa lễ vật, mời các ngài các quan về để chứng giám, về để chơi ban phúc ban lộc cho con cho cái, hôm nay ngày này bóng con, bóng cái vía con tên là Thức căn chƣa lâu tâu sáng chƣa đƣợc Hôm nay, đôi ông rồng vợ, con cái sắm sửa thủ lợn, con gà ... tại đất tại mƣờng, tại Nổ tại nƣơng, tại Trƣờng tại chiếu, tại điện quan Mƣời. Để con xin sắm hình nhân thế mạng, để thế mệnh cho ùi Văn Thức. ...........................................................................................................

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_nghi_le_moi_cua_nguoi_muong_nghien_cuu_truong_hop_ng.pdf
  • pdfthong tin ket luan moi tieng Anh (1).pdf
  • pdfthong tin tom tat ket luan moi tieng Viet.pdf
  • pdftom tat luan an (3).pdf
  • pdftrich yeu luan an 1.pdf
  • pdfTrich yeu tieng Anh (1).pdf
Tài liệu liên quan