Luận án Về hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀN VỀ HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC HÀ NỘI, 2021 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN THỊ HOÀN VỀ HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ HIỆN NAY Ngành: CNDVBC & CNDVLS Mã số: 9 22 90 02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. TS Hồ Sĩ Quý HÀ NỘI,

pdf164 trang | Chia sẻ: huong20 | Ngày: 15/01/2022 | Lượt xem: 262 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Luận án Về hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
, 2021 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. Tác giả Nguyễn Thị Hoàn MỤC LỤC MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1 1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu ................................................................. 6 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 6 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu ................................................... 6 5. Đóng góp mới của luận án ............................................................................ 7 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài .......................................................... 8 7. Kết cấu của luận án ....................................................................................... 8 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI .................................................................................................... 9 1.1. Những nghiên cứu lý luận về giá trị, hệ giá trị, hội nhập quốc tế ..... 9 1.2. Những nghiên cứu liên quan đến hệ giá trị con người Việt Nam .... 23 1.3. Những nghiên cứu về định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế .................................................... 28 1.4. Giá trị của các công trình đã tổng quan và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ ....................................................... 34 Chương 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM ...................................................................................... 38 2.1. Giá trị, phân loại giá trị .................................................................... 38 2.2. Hệ giá trị và hệ giá trị con người Việt Nam .................................... 46 Tiểu kết chương 2 .......................................................................................... 59 Chương 3: HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ ...................................................................... 61 3.1. Hội nhập quốc tế của Việt Nam, những tác động và yêu cầu của hội nhập quốc tế với với hệ giá trị con người Việt Nam ........................ 61 3.2. Thực trạng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay .............................................................................. 87 Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 111 Chương 4: MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM XÂY DỰNG HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ ..................................................................................................... 113 4.1. Nhận diện hệ giá trị con người Việt Nam sau hơn 30 năm hội nhập quốc tế .......................................................................................... 113 4.2. Đề xuất một số định hướng giá nhằm xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế ................................ 121 Tiểu kết chương 4 ........................................................................................ 143 KẾT LUẬN .................................................................................................. 144 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN ..................................................... 148 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 150 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, mặc dù vẫn không tránh khỏi còn bị hoài nghi, nhưng đã gần như là một xu thế khách quan mà các quốc gia, dân tộc đều phải tham gia. Quá trình này, khi diễn ra trong các lĩnh vực của đời sống vật chất, đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần của các xã hội, tức là tác động đến đời sống giá trị. Hệ giá trị của phần lớn các cộng đồng tại hầu hết các quốc gia trong những thập niên gần đây, đều đã ít nhiều biến động dưới ảnh hưởng của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế. Với các nước đi sau và đang phát triển năng động như Việt Nam, sự tác động của toàn cầu hoá cùng đồng thời với kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế dường như còn mạnh mẽ hơn, làm cho đời sống giá trị, nhất là hệ giá trị con người đứng trước những sự lựa chọn khắt khe, phức tạp và nan giải hơn nhiều, đặc biệt giữa nội sinh và ngoại sinh, giữa truyền thống và hiện đại. Kể từ khi chủ động hội nhập quốc tế với những chính sách rộng mở và đi vào chiều sâu nhằm xây dựng quan hệ phát triển bền vững với cộng đồng thế giới, Việt Nam đã vượt qua hàng loạt khó khăn, thách thức to lớn và đã đạt được nhiều thành tựu rất quan trọng và toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Mặc dù tốc độ và chất lượng của sự phát triển cũng đặt ra nhiều vấn đề không kém phần gay gắt, song nhìn tổng quát, vị thế, vai trò và uy tín của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới ngày càng được nâng cao. Đất nước đã đứng trước những vận hội đầy triển vọng. Đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam ngày càng được cải thiện và tiến bộ trong so sánh với quá khứ và với bên ngoài. Niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và với chế độ ngày càng được củng cố và phát triển theo chiều hướng tích cực. Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội là sự phát triển con người. Theo Báo cáo của UNDP năm 2020, sự phát triển con người Việt Nam tuy còn có những hạn chế không nhỏ, nhưng cũng đã đạt được những thành tựu rất đáng kể nhờ chủ trương “lấy con người làm trung tâm” và đảm bảo bình đẳng, công 2 bằng và tiến bộ xã hội trong các chiến lược, kế hoạch phát triển. Với chỉ số HDI 0,704 Việt Nam lần đầu tiên đã được xếp trong nhóm nước có chỉ số phát triển của con người cao, xếp thứ 117/189 quốc gia và thuộc nhóm đầu trong số 5 nhóm quốc gia về bình đẳng giới [Xem: 114]. Những thay đổi tích cực đó, trên thực tế, là sự phản ánh sâu sắc bước nhảy mạnh mẽ của Việt Nam chuyển sang một xã hội công nghiệp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với cách mạng công nghiệp 4.0 có hàm lượng tri thức cao, với nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc và với một “xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người”, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết kỷ niệm 131 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh 19/5/2021. Ông viết: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé” vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm... Chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có” [96]. Như vậy, quá trình chuyển đổi và phát triển của đất nước cũng chính là quá trình đấu tranh để giải quyết những mâu thuẫn không khoan nhượng giữa các giá trị. Khẳng định của Tổng Bí thư cho thấy rất rõ khía cạnh giá trị của vấn đề: vì con người, chứ không phải chà đạp lên phẩm giá con người. Vì tiến bộ và công bằng, chứ không phải gia tăng giàu nghèo và bất bình đẳng. Vì một xã hội nhân ái, nhân văn, chứ không phải vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Hệ thống chính trị là của dân, do dân và vì dân, chứ không phải chỉ phục vụ cho một thiểu số giàu có, bóc lột. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, “đó chính là những giá trị đích thực” mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và đang kiên định, kiên trì theo đuổi [96]. 3 Vấn đề là ở chỗ, sự phát triển nhanh, sôi động của đời sống kinh tế - xã hội đã tất yếu làm cho đời sống tinh thần thay đổi theo. Nhưng không phải chỉ theo một chiều tích cực, mà đã thay đổi khá đa chiều, đa dạng và phức tạp. Cái tích cực là phổ biến, là xu thế chủ yếu của sự thay đổi các giá trị. Nhưng cái xấu, cái tiêu cực, cái ác lại cũng chiếm “một bộ phận không nhỏ” và có sức cản trở ghê gớm đối với sự đi lên của xã hội. Theo quan điểm của triết học duy vật lịch sử, một xã hội khi có sự thay đổi về điều kiện sinh hoạt, tức là về tồn tại xã hội, thì ý thức của con người cũng sẽ thay đổi theo “ít nhiều nhanh chóng”. Xã hội nào cũng sẽ có sự biến động về giá trị, khi tồn tại xã hội không còn như trước. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Liệu có cần phải sáng suốt lắm thì mới hiểu những tư tưởng, những quan điểm và những khái niệm của con người, tóm lại là ý thức của con người, đều thay đổi cùng với mọi sự thay đổi xảy ra trong điều kiện sinh hoạt, trong quan hệ xã hội, trong đời sống xã hội của con người hay không?”[59, tr.624]. Bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa cho thấy ý nghĩa quan trọng và tính cấp thiết của vấn đề giá trị: cùng với sự phát triển của đất nước trong điều kiện hội nhập quốc tế, hệ giá trị con người Việt Nam đã có nhiều biến động, thậm chí biến động dữ dội, trong đó có những biến động theo chiều hướng xấu, cần được quan tâm, nghiên cứu sâu sắc để phát hiện những vấn đề và có những quyết sách để giải quyết những vấn đề đó, làm cho sự phát triển đạt tới bền vững hơn. Sự quan tâm đến biến động giá trị có ý nghĩa to lớn ở chỗ, giá trị và hệ giá trị có thể thay đổi khi đời sống vật chất của xã hội đã hoặc đang thay đổi, nhưng không phải mọi sự thay đổi đều nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Triết học Mác cũng dạy con người ta, vấn đề là “cải tạo thế giới” chứ không chỉ “giải thích thế giới”. Một khi các giá trị cũ và mới xung đột với nhau, sẽ có những cái trước đây từng là giá trị nay có thể trở nên lỗi thời, cần phải loại bỏ. Lại có những điều trước kia không được thừa nhận nay đang trở thành giá trị buộc phải chấp nhận, không thể từ chối một cách duy ý chí. Trong những xã hội đang chuyển đổi mạnh mẽ trong điều kiện hội nhập quốc 4 tế như Việt Nam hiện nay, cái tiến bộ đang đan xen với cái lạc hậu, lỗi thời; cái tốt đang cùng tồn tại và đấu tranh với cái xấu, cái ác Do vậy, việc chủ động nhận thức, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị chuẩn của con người, là một chủ trương sáng suốt để việc chuyển đổi giá trị diễn ra một cách tích cực, thúc đẩy sự phát triển đất nước theo chiều tiến bộ. Với tinh thần ấy, từ những năm 90 của thế kỷ XX, ở Việt Nam, những vấn đề lý luận và thực tiễn về giá trị, như giá trị truyền thống và giá trị hiện đại, giá trị văn hóa và giá trị con người, giá trị nội sinh và giá trị ngoại nhập đã được đặt ra một cách chủ động. Nhằm xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc xác định hệ giá trị văn hóa Việt Nam đã được Đảng ta quan tâm và định hướng giải quyết trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII năm 1998. Tại Ðại hội XII của Ðảng năm 2016 Đảng ta xác định “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Ðúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” [22, tr.126]. Và mới đây, năm 2021 Ðại hội XIII của Đảng một lần nữa chỉ ra những nội dung về hệ giá trị cần phải giải quyết cấp bách. Văn kiện viết: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới... Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam đã tồn tại trong lịch sử; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” [23, tr.143]. Sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề giá trị như vừa nói trên, trước hết là nhằm xây dựng một hệ giá trị nhân văn, có tầm nhìn, mở đường cho sự phát triển của đất nước và con người. Nhưng đồng thời sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề giá trị còn vì thực tiễn đời sống xã hội Việt Nam những năm vừa qua đã ít nhiều rơi vào tình trạng xuống cấp về giá trị, khủng hoảng giá trị. Có thể thấy những hiện tượng xã hội tiêu cực, những hành vi suy thoái về đạo đức, xuống cấp về văn hóa, lệch lạc về giá trị, những năm gần đây, 5 đã được phản ánh gần như liên tục trên báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng. Mức độ tha hóa về con người đã đến mức “rúng động” với những vụ đại án tham nhũng. Không ít học giả, các nhà quản lý và các nhà hoạt động xã hội đã lên tiếng báo động về tình trạng này. Từ năm 2018, văn kiện Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã khái quát và chỉ ra rất cụ thể 27 biểu hiện cụ thể của những hiện tượng “suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Phần nhiều trong số 27 biểu hiện đó đều liên quan trực tiếp đến giá trị con người. Tại các kỳ họp lần thứ 8, 9, và 10 của Quốc hội khóa XIV, nhiều hiện tượng có vấn đề trong số đó đã được chính các đại biểu Quốc hội nêu và thảo luận gây sự quan tâm sâu sắc trong đời sống xã hội. Thực chất của những hiện tượng đó chính là sự khủng hoảng về giá trị. Trong giá trị con người, giá trị gia đình, giá trị cộng đồng, giá trị xã hội, giá trị cá nhân hiện tượng “lệch chuẩn” đang khá phổ biến, không chỉ ở trong giới trẻ. Nhiều hiện tượng “bất bình thường” đang lan rộng trở thành nỗi lo âu chung của nhiều tầng lớp xã hội. Việc nhận diện sự biến đổi các giá trị, đánh giá khách quan, khoa học động thái của các giá trị, tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận về những vấn đề liên quan đến giá trị và hệ giá trị con người để có những lý giải và giải pháp phát huy và phát triển hệ giá trị con người Việt Nam, từ những năm gần đây đã trở thành một đòi hỏi quan trọng, cấp thiết, nóng bỏng của cuộc sống. Như vậy, mức độ cấp thiết của vấn đề chẳng những đã được đặt ra, thảo luận và gây nên sự quan tâm chú ý trong các tài liệu lý luận, trong các phương tiện thông tin đại chúng, mà còn được trực tiếp xác nhận, chỉ ra phương hướng nghiên cứu, giải quyết trong các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước. Những điều nói trên chính là căn cứ lý luận và thực tiễn trực tiếp để nghiên cứu sinh lựa chọn đề tài: “Về hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay” để thực hiện luận án này. 6 2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu - Mục tiêu của luận án Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về giá trị và hệ giá trị, luận án nghiên cứu hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đề xuất một số định hướng chủ yếu nhằm xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế. - Nhiệm vụ của luận án Để thực hiện mục tiêu trên, nhiệm vụ của luận án là: + Tổng quan các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án. + Phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận về giá trị và hệ giá trị nhằm hình thành khung lý luận để nghiên cứu luận án. + Nghiên cứu khái quát những giá trị truyền thống tiêu biểu của con người Việt Nam. + Phân tích những tác động và yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với sự biến đổi hệ giá trị con người Việt Nam; nghiên cứu thực trạng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đánh giá những chuyển biến tích cực, những hạn chế và xác định một số vấn đề đặt ra đối với hệ giá trị con người Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế. + Đề xuất một số định hướng nhằm xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu của luận án là hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. - Phạm vi nghiên cứu của luận án là những giá trị truyền thống tiêu biểu của con người Việt Nam và những chuyển biến về giá trị của con người Việt Nam từ sau Đổi mới, đặc biệt từ cuối những năm 1990 đến nay khi Việt Nam hội nhập quốc tế, tham gia sâu vào các định chế quốc tế. 4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4.1. Cơ sở lý luận Cơ sở lý luận trực tiếp của luận án là triết học Mác - Lênin, tư tưởng 7 Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt là những tư tưởng về giá trị truyền thống Việt Nam, về văn hóa và sự phát triển xã hội, về tồn tại xã hội và ý thức xã hội và về con người và đời sống con người Cùng với những cơ sở lý luận cơ bản đó, luận án còn chú ý khai thác chỉ dẫn lý luận của các công trình nghiên cứu trong và ngoài triết học của các tác giả đi trước về văn hóa và con người Việt Nam, về đời sống tinh thần và vật chất của xã hội, về giá trị và hệ giá trị Việt Nam truyền thống và hiện đại. 4.2. Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; kết hợp với các phương pháp: phân tích và tổng hợp, qui nạp và diễn dịch, đối chiếu, so sánh để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài đặt ra. Trong chừng mực có liên quan, luận án có sử dụng các tài liệu lý luận, các báo cáo chuyên môn của các tổ chức Đảng và Nhà nước, các tài liệu cung cấp dữ liệu và số liệu có liên quan đến vấn đề giá trị và hội nhập quốc tế. 5. Đóng góp mới của luận án - Làm sáng tỏ lịch sử giá trị học, khía cạnh triết học và các nội hàm của các khái niệm giá trị, hệ giá trị và hệ giá trị con người Việt Nam. - Trên cơ sở khai thác những tư liệu của các học giả thế hệ đầu tiên đầu thế kỷ XX về đặc điểm của văn hóa và con người Việt Nam, luận án đã phân tích và hệ thống hóa được những giá trị truyền thống tiêu biểu của con người Việt Nam được hình thành và phát triển từ trong lịch sử. - Phân tích được nét đặc thù và tính đa diện của quá trình Việt Nam hội nhập quốc tế, xác định được những yêu cầu cơ bản của hội nhập quốc tế đối với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam giai đoạn hiện nay. - Phân tích và đánh giá được những chuyển biến tích cực của hệ giá trị con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế; xác định được những vấn đề cấp thiết đang đặt ra đối với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay. 8 - Xác định được những giá trị tiêu biểu của con người Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay. - Đề xuất được 4 định hướng lớn nhằm xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện chủ động hội nhập quốc tế. 6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài - Về mặt lý luận, luận án có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy triết học về giá trị và hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. - Về mặt thực tiễn, luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các hoạt động quản lý và xây dựng chính sách có liên quan đến phát triển con người, văn hóa và giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. 7. Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu, kết luận danh mục các công trình đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương, 10 tiết. 9 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1. Những nghiên cứu lý luận về giá trị, hệ giá trị, hội nhập quốc tế 1.1.1. Các công trình liên quan về giá trị, hệ giá trị Đối với các nghiên cứu nước ngoài, ở mỗi một góc độ, quan niệm về giá trị, hệ giá trị được tiếp cận ở nhiều chiều cạnh khác nhau từ tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, giáo dục học... Về cơ bản, những nghiên cứu về vấn đề giá trị, hệ giá trị xuất hiện khá sớm trong lịch sử. Đến đầu thế kỷ 19, chuyên ngành khoa học với tên gọi Giá trị học (Axiology) đã ra đời. Sau đó, những vấn đề này trở thành một trong những hướng nghiên cứu chuyên sâu ở nhiều quốc gia như: Đức, Ba Lan, Mỹ, Nga... Từ khi giá trị học được xem xét như là một khoa học về giá trị ra đời, đã có nhiều học giả nghiên cứu, thảo luận về vấn đề này nhưng nhìn chung, cho đến nay, những tranh luận về các vấn đề lý luận như: quan niệm về giá trị, hệ giá trị, định hướng giá trị.... Bahm A.J trong cuốn “The Science of Values” [104] đã nhấn mạnh điều này khi tác giả cho rằng: “Việc tìm hiểu các giá trị rất phức tạp bởi có nhiều dạng giá trị khác nhau và vô số những nhầm lẫn về giá trị, nhiều cái trong số đó xuất phát từ ý tưởng sai lầm. Việc chọn lọc trong rất nhiều dạng giá trị nhằm tìm ra những dạng cần thiết để hiểu sao cho đúng dường như là một nhiệm vụ vô vọng cho những người mới bắt đầu” [trích theo 92, tr.29]. Theo Joe Bolger - Tư vấn của Cơ quan phát triển quốc tế Canada, trong bài “Capacity Development: Why, What and How” [105] bàn sâu về phát triển năng lực của con người trong bối cảnh hiện nay, trong đó phát triển các giá trị được tác giả coi là yếu tố quan trọng hình thành năng lực con người. Theo tác giả, phát triển năng lực bao gồm nhiều “phương pháp tiếp cận và chiến lược” nhằm cải thiện khả năng ở các mức độ khác nhau, trong đó việc tăng cường sự hiểu biết và mối quan hệ; định hướng các giá trị, thái độ, động cơ và điều kiện để hỗ trợ phát triển bền vững. 10 David Potten trong bài viết “Learning By Doing: The Japanese PHRD Fund and Capacity Development“ [111] tập trung luận bàn về các giá trị cá nhân. Tác giả cho rằng phát triển giá trị cá nhân bao gồm tổ hợp các nhân tố như: Nâng cao kiến thức cho con người, phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế hiện hành; Tăng cường năng lực kỹ thuật, công nghệ; Nâng cao kỹ năng làm việc trong những điều kiện làm việc khác nhau (năng lực làm việc nhóm, năng lực thích ứng) [111, p.p .7-8]. Amartya Sen là một trong số tác giả có nhiều công trình nghiên cứu về con người, giá trị con người, trong đó những nghiên cứu tập trung bàn sâu hơn về vấn đề phát triển con người. Trong cuốn “Development as Freedom” [112], ông cho rằng: Con người càng có năng lực thì càng có cơ hội lựa chọn hơn. Phát triển con người được coi là quá trình mở rộng cơ hội lựa chọn và năng lực cho con người. Vì thế, theo tác giả, khi con người ngày càng phát triển năng lực của mình thì càng làm tăng giá trị của họ trong đời sống cộng đồng. Trong một số công trình nghiên cứu khác như: Equality of what? (1980), Commodities and Capabilities (1985), The Standard of Living (1987) v.v.. Amartya Sen tập trung đi phân tích các khía cạnh khác liên quan đến giá trị con người như: chất lượng cuộc sống, trình độ hiểu biết, năng lực tư duy v.v.. Những đóng góp của Amartya Sen về phát triển con người có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu về con người nói chung và nghiên cứu giá trị con người nói riêng. Thomas Loren Friedman trong nghiên cứu “Chiếc Lexus và cây Ôliu” [25] đã phân tích rõ nét những xung đột giá trị mới và giá trị truyền thống qua hình ảnh chiếc xe Lexus hiện đại và cây Ôliu cổ kính. Trong đó, tác giả đã chỉ rõ những thách thức không nhỏ của các giá trị truyền thống trước những thay đổi của bối cảnh mới và những vấn đề đặt ra về giá trị mới khi thâm nhập, đan xen vào đời sống xã hội. Tác giả đặt vấn đề về một phương án “thỏa thuận” để giải quyết những “xung đột” giữa hai chiều giá trị này trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế hiện nay. Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu khác như: “Capacity development practice note”[113], “Measuring capacity, “Comparative performance 11 measurement in schools” [115] v.v... Có thể thấy, đã có rất nhiều nghiên cứu của các học giả nước ngoài đề cập tới giá trị. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chủ yếu đề cập tới khía cạnh giá trị cá nhân, giá trị truyền thống, giá trị hiện đại, các chỉ số phát triển con người v.v.. . Số công trình có nghiên cứu về hệ giá trị, hệ giá trị con người trong điều kiện hội nhập quốc tế cũng không nhiều, nếu không nói là khá khiêm tốn. Đối với những nghiên cứu trong nước, giá trị và hệ giá trị cũng được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau với nhiều công trình nghiên cứu trên sách, tạp chí, đề tài nghiên cứu, luận văn, luận án... Đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước trong Chương trình nghiên cứu về con người đã đề cập đến giá trị và định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường, đổi mới và mở cửa. Các chương trình cụ thể của đề tài bao gồm: Chương trình thứ nhất, từ năm 1991 đến 1996: “Con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế- xã hội” (KX-07); Chương trình thứ hai từ năm 1996 tới năm 2000: “Phát triển văn hóa, xây dựng con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (KX-04); Chương trình thứ ba từ 2001 đến 2005: “Phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” (KX-05); Chương trình thứ tư từ năm 2006 tới 2010: “Xây dựng con người và phát triển văn hóa Việt trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế” (KX- 03/06-10); Chương trình thứ năm từ năm 2011 đến 2015: “Nghiên cứu khoa học phát triển văn hóa, con người và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực” (KX-03/11-15). Từ những chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước nói trên đã có nhiều công trình được xuất bản thành sách. Chương trình khoa học công nghệ cấp Nhà nước KX-07-04 với chủ đề “Giá trị- định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” [97] là một trong những công trình liên quan trực tiếp tới những vấn đề giá trị, hệ giá trị. Các tác giả trong công trình này khẳng định, giá trị là “một vấn đề cơ bản và rất thời sự” và “luôn mang tính khách quan” tức là sự xuất hiện và tồn tại hay mất đi của giá trị không phụ thuộc vào ý thức con người mà nó phụ thuộc vào 12 sự xuất hiện, tồn tại hay mất đi một nhu cầu nào đó của con người, không phải do ý thức mà do yêu cầu của hoạt động, của thực tiễn trong đó con người sống và hoạt động. Trong nghiên cứu, nhóm các tác giả đưa ra quan niệm về hệ giá trị như sau: “Hệ giá trị hay còn gọi là hệ thống giá trị đó là một tổ hợp giá trị khác nhau được sắp xếp, hệ thống lại theo những nguyên tắc nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệ thống, thực hiện các chức năng đặc thù trong việc đánh giá của con người theo những phương thức vận hành nhất định của giá trị” [97, tr.62]. Nhấn mạnh tính lịch sử, công trình khẳng định hệ giá trị có “chứa đựng các nhân tố của quá khứ, của hiện tại và cả những nhân tố có thể có trong tương lai”. Những nghiên cứu này cũng chỉ rõ, hệ giá trị là tổng hợp các giá trị được sắp xếp theo một nguyên tắc và có ảnh hưởng rất lớn bởi nhân tố lịch sử. Tác giả Phạm Minh Hạc là người có nhiều nghiên cứu về giá trị, hệ giá trị. Trong công trình “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa hiện đại hóa [31]- Khi trình bày một số kết quả trong chương trình nghiên cứu con người và nguồn lực con người tác giả đã phân biệt với các khái niệm giá trị, hệ thống giá trị, thang giá trị, thước đo giá trị và định hướng giá trị. Khái niệm giá trị theo ý kiến tác giả có ba nội dung: “1)Giá trị là sản phẩm vật chất và tinh thần của con người, nhóm người, cộng đồng dân tộc và loài người làm ra. 2) Giá trị là phẩm giá, phẩm chất của con người, nhóm người, cộng đồng, dân tộc và loài người. 3) Giá trị là biểu hiện mối quan hệ của con người dưới góc độ lợi ích, đánh giá đối với tồn tại xung quanh [31, tr.133]. Về khái niệm hệ giá trị, tuy trong công trình này không đề cập rõ nhưng trong một số tác phẩm khác, tiêu biểu là tác phẩm Giá trị học, tác giả Phạm Minh Hạc đưa ra quan điểm “Hệ giá trị là các giá trị của một tập hợp người như dân tộc, thế giới, vùng, gia đình, bản thân” [36, tr.30]. Công trình này có thể xem như bước đi mới ở Việt Nam, gắn bó mật thiết với nhiều khoa học khác như: Đạo đức học, Văn hóa chính trị học, Nghiên cứu con người, Tâm lý học và Giáo dục học... Nội dung cuốn sách không chỉ đơn thuần trình bày một số hiểu biết về Giá trị học mà chủ yếu nhằm mục đích 13 cung cấp cơ sở lý luận về hệ giá trị của người Việt Nam trong thời đại công nghiệp hoá theo hướng hiện đại, mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới. Trong công trình “Tìm hiểu giá trị truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [6] các tác giả đã trình bày khá sâu sắc các vấn đề lý luận như: Giá trị, giá trị truyền thống, giá trị văn hóa truyền thống. Trên cơ sở đó lý luận đó, các tác giả đã luận giải sự biến đổi của giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay. Cùng với mạch nghiên cứu này có công trình “Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa” [7] đã phân tích sự biến đổi của những giá trị truyền thống của Việt Nam trước thách thức của toàn cầu hóa. Công trình nghiên cứu “Một số vấn đề về Triết học- con người- xã hội” [8], tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn là cuốn sách tuyển tập những bài tiêu biểu của tác giả đã đăng trên các tạp chí khoa học có uy tín ở nước ta như tạp chí Triết học, tạp chí Cộng sản, tạp chí Khoa học xã hội... trong đó phần IV: Triết học và công cuộc đổi mới đất nước có một số nội dung liên quan như: giá trị, giá trị truyền thống trong giai đoạn đổi mới đất nước. Luận bàn về giá trị, tác giả đặc biệt chú ý tới mặt xã hội và thực tiễn - lịch sử cụ thể, đến tính nhận thức, noi theo và khả năng thúc đẩy con người nhằm duy trì, bảo vệ hoặc nỗ lực đạt được của giá trị. Không đồng nhất với một số quan điểm thiên hướng đạo đức hóa mọi giá trị nhưng tác giả cũng khẳng định khi nói tới giá trị tức là “muốn khẳng định tức là muốn khẳng định mặt tích cực, mặt chính diện, nghĩa là đã bao hàm quan điểm coi giá trị gắn liền với cái đúng, cái... tiêu phát triển bền vững. 27 Trần Ngọc Thêm trong công trình “Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam” [91], khi áp dụng phương pháp hệ thống- loại hình với thủ pháp “năm định” đã xác định một hệ thống 5 giá trị tiêu biểu của con người Việt Nam bao gồm: (1) Tính cộng đồng (làng xã); (2) Tính ưa hài hòa; (3) Tính trọng âm; (4) Tính tổng hợp; (5) Tính linh hoạt. Trong công trình này, tác giả cũng chỉ ra một số tính cách xấu của người Việt như: Bệnh giả dối, nói không đi đôi với làm, bệnh thành tích, bệnh thiếu ý thức pháp luật... Tác giả trình bày thêm 15 phẩm chất tính cách cần bổ sung về giá trị người Việt như: Ý thức pháp luật, tính trung thực thẳng thắn, bản lĩnh cá nhân, tính khoa học, lòng tự trọng... Có thể nói, đây là công trình tác giả công phu trong việc trình bày các giá trị của con người Việt Nam được tác giả khảo sát thông qua kết quả điều tra khảo sát chi tiết. Kế tiếp công trình này, tác giả Trần Ngọc Thêm tiếp tục luận giải các vấn đề liên quan đến hệ giá trị con người Việt Nam trong nghiên cứu “Hệ giá trị con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” [92]. Liên quan tới vấn đề hệ giá trị con người Việt Nam, tác giả của công trình này đã trình bày những giá trị tổng hợp và một số vấn đề liên quan như: Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc; Lòng nhân ái, thương người; Huyền thoại về tính cần cù. Ông cũng bàn thêm về một số hạn chế của người Việt truyền thống. Bên cạnh đó, tác giả của công trình đã có những phân tích về những yếu tố về không gian, lịch sử và bối cảnh thời đại tác động tới hệ giá trị Việt Nam truyền thống. Tác giả cũng đề xuất 35 giá trị cốt lõi định hướng trong tương lai với hệ giá trị Việt Nam. Trong bài viết “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay” [38] của Lương Đình Hải đề xuất 10 giá trị Việt trong xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Đó là: 1) Tinh thần yêu nước Việt Nam; 2) Tinh thần nhân ái; 3) Anh hùng, dũng cảm; 4) Biết chấp nhận (nhẫn), tiếp thu; 5) Hiếu học; 6) Sáng tạo; 7) Cần cù; 8) Lạc quan; 9) Trọng đạo lý; 10) Ưa ổn định. Tác giả cho rằng các giá trị này có những biến động nhưng chúng không thể biến mất mà đang được tiếp tục củng cố, có những hình thức biểu hiện mới với những mức độ khác nhau. Tác giả bài viết cũng khẳng định 28 tầm quan trọng của hệ giá trị con người Việt Nam trong sự tồn tại và phát triển cộng đồng xã hội, song việc xác định các giá trị nào trong hệ giá trị, tác giả cho rằng công việc đó không hề dễ dàng. Ngoài các công trình kể trên còn một số công trình liên quan tới hệ giá trị của con người Việt Nam như: Công trình “Giá trị- định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” [97] của các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mai Văn Trang; Đề tài KHXH 01-10 của Phan Huy Lê và các tác giả khác nghiên cứu với chủ đề “Chủ nghĩa yêu nước truyền thống và hiện đại”, Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo trong “Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay- vấn đề và giải pháp” [24] của Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo... Các công trình này đã góp phần làm rõ thêm một số giá trị con người Việt Nam truyền thống cũng như chỉ ra một số xu hướng biến đổi các giá trị con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Những công trình nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam xuất hiện khá sớm. Trong giai đoạn Pháp thuộc bao gồm các nghiên cứu về con người Việt Nam của học giả người Việt và một số tác giả người Pháp trong nghiên cứu về Đông Dương. Từ sau năm 1990 trở lại đây, do những tác động của nhân tố thời đại và thực tiễn xây dựng Đất nước, các nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam bước đầu đa dạng hơn, nhiều đề tài có giá trị, trong đó có những đề tài đã đặt ra những vấn đề mới về con người Việt Nam, hệ giá trị con người Việt Nam. Tuy vậy, nhìn lại tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ giá trị con người, về khách quan có thể thấy, các nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam trong điều hiện hội nhập quốc tế hiện nay số lượng còn còn khiêm tốn. 1.3. Những nghiên cứu về định hướng giá trị của con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế Quan niệm hệ giá trị con người Việt Nam thể hiện trong các văn kiện chủ yếu của Đảng cộng sản Việt Nam như: “Văn kiện hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII (1998) của Đảng Cộng sản Việt Nam” [18] 29 về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc nêu rõ: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân – gia đình – làng xã – Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống...” [18, tr.73]. Theo đó, bốn giá trị mà Đảng ta đã xác định là “dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”. Đây là bốn giá trị có ý nghĩa phổ quát, vừa kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, vừa tiếp thu tinh hoa văn hóa thời đại trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI [21], giá trị con người Việt Nam được xác định: Phát triển văn hóa, vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng nền văn hóa, quan trọng nhất là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt, với các phẩm chất là yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo. Nhìn chung, quan điểm hệ giá trị con người Việt Nam trong các văn kiện của Đảng cho thấy mối quan hệ giữa các giá trị văn hóa và các giá trị con người Việt Nam vừa có điểm tương đồng vừa có điểm khác biệt. Ví dụ như: giá trị chung của nền văn hóa là nhân văn thì giá trị cốt lõi của người Việt Nam là lòng yêu thương con người “lá lành đùm lá rách”, trọng đạo lý; giá trị cốt lõi của người Việt là lòng yêu nước; giá trị chung của nền văn hóa là đề cao khoa học thì giá trị của con người Việt Nam là đề cao sáng tạo và năng động. Thời gian gần đây, các vấn đề về xây dựng con người, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong bối cảnh mới ngày càng được quan tâm và đề cập nét hơn trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng. Trong văn kiện Đại hội XIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: “Từng bước vươn lên khắc phục các hạn chế của con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” [23, tr.143]. Có thể khẳng định, sự quan tâm này, 30 như đã nói, đã góp phần quan trọng mở đường cho sự phát triển của việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Bên cạnh các văn kiện, nghị quyết của Đảng cũng như các chủ trương của Nhà nước về định hướng xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay, các nghiên cứu chuyên sâu liên quan tới vấn đề này có thể kể tới như sau: Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang trong Chương trình KHCN cấp nhà nước KX-07: Đề tài KX- 07-04: Giá trị- định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị [97], từ việc khái quát kết quả nghiên cứu thực tiễn về những đặc trưng và xu thế định hướng giá trị của con người Việt Nam các tác giả nêu những nguyên tắc, nội dung và con đường giáo dục giá trị ở nước ta hiện nay. Đó là: Nguyên tắc lựa chọn giá trị yêu cầu cần quán triệt mục đích giáo dục, coi trọng cả những giá trị kế thừa truyền thống lẫn giá trị hiện đại và chú ý tính đặc thù, xem xét giá trị trong tổng thể hài hòa. Tác giả nêu lên các giá trị chung cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ như: Hòa bình, ổn định, an ninh đất nước; Độc lập và thống nhất tổ quốc; Tự do và dân chủ; Lòng nhân đạo, sống có tình nghĩa; Truyền thống hiếu học tôn sư trọng đạo; Giá trị nghề nghiệp; Tình yêu và cuộc sống... Đồng thời, trong công trình trên, các tác giả cũng trình bày con đường thực hiện giá trị như: Gia đình, cá nhân học tập rèn luyện, tác động của môi trường sư phạm; tác động của môi trường văn hóa xã hội. Đây là công trình có một số vấn đề lý luận liên quan tới luận án mà nghiên cứu sinh thực hiện. Công trình “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội” [100] của tác giả Huỳnh Khái Vinh cũng là một nghiên cứu mang tính định hướng đối với chương cuối luận án mà nghiên cứu sinh thực hiện. Trong công trình này, trên cơ sở đề cập tới những vấn đề cơ bản của lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội, mối quan hệ giữa lối sống, đạo đức với phát triển văn hóa và con người; sự tác động của nhân tố chính trị, kinh tế, xã hội tới lối sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội... tác giả đã nêu ra thực trạng, phương hướng, quan điểm và giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội trong 31 thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Từ kinh nghiệm và bài học thực tiễn ở các nước, tác giả trình bày một số nhóm giải pháp xây dựng lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị cho con người Việt Nam bao gồm: Nhóm giải pháp về thể chế; Nhóm giải pháp về xã hội; Ngoài ra tác giả còn đề xuất nhóm giải pháp về giáo dục, nhóm giải pháp đầu tư và hoạt động tổng kết thực tiễn, khái quát nhận thức khoa học để tìm ra mối quan hệ tương tác nội tại giữa lối sống đạo đức với tiến trình của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Tập trung sâu vào luận bàn và đưa ra những phương hướng xây dựng lối sống đạo đức con người Việt Nam, công trình đã giúp luận án các giải pháp bao quát trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội định hướng xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện lịch sử mới. Võ Văn Thắng trong công trình “Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay (từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc” [89] đã phân tích thực trạng và những vấn đề đang đặt ra trong quá trình kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng lối sống ở Việt Nam, tác giả đề ra phương hướng, giải pháp kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay bao gồm: Về phương hướng: Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống gắn với việc phát triển kinh tế- xã hội. Kế thừa và phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống gắn với việc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Về giải pháp: Nâng cao nhận thức về vai trò của các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc đối với việc xây dựng lối sống mới; Tạo lập môi trường xã hội lành mạnh, đấu tranh chống nguy cơ làm xói mòn các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; Tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời phải hiện đại hóa các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; Xây dựng và hoàn thiện các thể chế về hoạt động văn hóa nhằm kế thừa và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; Đẩy mạnh công tác bảo tồn, tôn tạo và khai thác hợp lý các di sản văn hóa truyền thống. 32 Từ góc độ văn hóa, Nguyễn Duy Bắc với công trình “Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” [3] đã trình bày một số giải pháp xây dựng những giá trị văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bao gồm 5 vấn đề cơ bản: 1) Đẩy mạnh giáo dục giá trị văn hóa truyền thống và cách mạng với các nội dung và hình thức phù hợp; 2) Kết hợp việc giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống với việc tiếp thu các giá trị khoa học, tiến bộ, nhân văn, hợp lý của thời đại thông qua giao lưu hợp tác quốc tế; 3) Xây dựng các giá trị văn hóa mới theo tư tưởng, đạo đức và triết lý phát triển của chủ tịch Hồ Chí Minh; 4) Hình thành các giá trị văn hóa mới gắn liền với việc đẩy mạnh và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; 5) Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong công trình “Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam” [93] của Ngô Đức Thịnh đã đưa ra những đề xuất, giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống trong đổi mới và hội nhập. Tác giả đưa ra giải pháp tổng quát: Kiên trì bảo tồn, làm giàu phát huy các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống dân tộc, chủ động và tích cực hội nhập, giao lưu quốc tế, làm cho nền văn hóa Việt Nam ngày càng thể hiện tính dân tộc và tính hiện đại. Bên cạnh đó, tác giả cũng trình bày hệ thống các giải pháp bao gồm: Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức cán bộ và nhân dân về bảo tồn, làm giàu phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và ý thức chủ động trong tiếp thu các giá trị tinh hoa nhân loại; Các giải pháp về pháp luật,chính sách sẽ tạo nên nền tảng pháp lý cho việc bảo tồn, làm giàu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và hội nhập quốc tế; Phát huy giá trị văn hóa truyền thống; Vai trò của người dân, cộng đồng với tư cách là người chủ bảo tồn, làm giàu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và hội nhập quốc tế; Tạo môi trường lành mạnh, thuận lợi cho việc bảo tồn, làm giàu, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống và hội nhập hiện đại... 33 Công trình “Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam” [91] của Trần Ngọc Thêm đã tập hợp nhiều quan điểm về định hướng xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam dưới các góc độ khác nhau. Từ góc nhìn văn hóa, Trần Ngọc Thêm đã khái quát những kinh nghiệm nghiên cứu và xây dựng hệ giá trị của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc... Cũng trong công trình này, Nguyễn Duy Bắc đưa ra 5 định hướng phát huy giá trị đạo đức truyền thống trong xây dựng đạo đức cách mạng hiện nay: 1) Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn và tính cấp thiết của việc giữ gìn và phát huy các giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc trong xây dựng đạo đức cách mạng thời kỳ đổi mới. 2) Đẩy mạnh “Nghiên cứu và giáo dục sâu rộng những đạo lý dân tộc tốt đẹp do cha ông để lại” như quan điểm của Đảng. 3) Đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong Đảng, nhằm xây dựng và hoàn thiện đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên. 4) Kết hợp đức trị và pháp trị trong xây dựng đạo đức cách mạng. 5) Đẩy mạnh phong trào học tập và làm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong công trình “Hệ giá trị con người Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” [92], Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một số”con đường” về hệ giá trị Việt Nam như: Vai trò của hệ thống chính trị và bối cảnh, mục tiêu của hệ giá trị tương lai; Mô hình hệ giá trị định hướng cốt lõi toàn diện đối chiếu với năm mục tiêu, bốn đặc trưng và bảy giá trị; Mô hình hệ giá trị định hướng cốt lõi trọng điểm; Các giá trị xã hội trong mô hình hệ giá trị định hướng cốt lõi trọng điểm. Về phần giải pháp thực hiện con đường xây dựng hệ giá trị trong thời gian tới, Trần Ngọc Thêm đã đưa ra năm nhóm giải pháp: về thể chế, về tổ chức, về giáo dục- tuyên truyền, về phát triển. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những định hướng và giải pháp quan trọng trong việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trước và sau đổi mới. Tuy nhiên, khách quan có thể thấy các công trình nghiên cứu trên phần lớn đưa ra những định hướng và giải pháp thiên về góc độ văn hóa nhằm bảo tồn, xây dựng và phát huy giá trị truyền thống dân tộc, 34 một số công trình có thêm những giải pháp góp phần định hướng giá trị truyền thống của con người Việt Nam trước thách thức của xu thế toàn cầu hóa song những công trình này chưa nhiều. Đặc biệt, còn vắng bóng những công trình nghiên cứu về định hướng giá trị hướng tới phát triển hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay. 1.4. Giá trị của các công trình đã tổng quan và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ Giá trị của các công trình nghiên cứu đã tổng quan trong luận án: Các công trình nghiên cứu nêu trên có những giá trị mà trong quá trình nghiên cứu tác giả luận án có thể tham khảo và kế thừa, cụ thể: Một là, các công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ trên nhiều phương diện khái niệm giá trị, hệ giá trị, hội nhập quốc tế. Trong các công trình này, hầu hết các tác giả đã chỉ rõ vai trò của giá trị, hệ giá trị trong sự phát triển của xã hội nói chung và sự phát triển con người nói riêng. Nhiều nghiên cứu phân tích với những minh họa sinh động, công phu về các đặc tính, phẩm chất, năng lực của con người Việt Nam trong truyền thống và một số những thay đổi trong giai đoạn hiện nay. Hơn nữa, các công trình nghiên cứu nói trên cũng trình bày những cơ hội và thách thức của hội nhập quốc tế từ đó đặt ra những yêu cầu mới của hội nhập quốc tế đối với Việt Nam hiện nay. Những kết quả nghiên cứu đó ít nhiều cung cấp cho tác giả những cơ sở lý luận về giá trị, hệ giá trị, hệ giá trị con người Việt Nam và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Hai là, trên cơ sở những nghiên cứu lý luận về giá trị, hệ giá trị, hệ giá trị con người Việt Nam, các tác giả đã bước đầu trình bày những vấn đề thực trạng trong nghiên cứu hệ giá trị con người Việt Nam. Trong đó các nghiên cứu về thực trạng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế tuy không nhiều song bước đầu đã có một số nghiên cứu đặt ra những vấn đề liên quan, gợi mở nhiều vấn đề cho nghiên cứu sinh thực hiện trong nghiên cứu này. 35 Ba là, các công trình nghiên cứu cũng đã bước đầu làm rõ quan điểm của Đảng, Nhà nước ta đối với việc xây dựng và phát triển con người cũng như những định hướng về hệ giá trị con người Việt Nam. Trong đó có một số quan điểm, Nghị quyết của Đảng đã chỉ ra những yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế. Trên cơ sở đó đề ra một số định hướng đối với phát triển con người, hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay. Đây là những cơ sở giúp nghiên cứu sinh khái quát, tìm ra những định hướng giá trị nhằm xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Những nội dung mà luận án cần tiếp tục nghiên cứu, làm sáng tỏ Bên cạnh những giá trị nhất định về mặt khoa học của các công trình nghiên cứu đã tổng quan nêu trên đối với đề tài luận án, dưới góc độ nghiên cứu của đề tài luận án, có một số vấn đề cần phải tiếp tục làm sáng tỏ thêm từ các nghiên cứu như sau: Một là, hiện nay hầu hết các công trình chưa thống nhất các giá trị cốt lõi, đặc trưng của con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. Hầu hết các nghiên cứu từ xưa tới nay đồng nhất các giá trị con người với các giá trị văn hóa. Điều này có cơ sở, bởi vì “nói đến văn hóa là nói đến con người, không có thứ văn hóa nào không thuộc về con người, không liên hệ gì đến con người” [85, tr.190]. Tuy vậy, việc nêu ra các giá trị đặc trưng, cốt lõi của con người Việt Nam một cách thống nhất hiện nay vẫn cần thiết vì từ các giá trị này chúng ta có những căn cứ về khả năng đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế của con người Việt Nam hiện nay. Từ đó hình thành hệ giá trị con người Việt Nam thống nhất. Hai là, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tuy vậy những nghiên cứu về những giá trị tiêu biểu và một số vấn đề đặt ra trong xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hầu như chưa được bàn tới. Trên thực tế, hiện nay ở Việt Nam cần có thêm 36 những nghiên cứu về vấn đề này bởi lẽ đây là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Ba là, trong các nghiên cứu của tổng quan đã xuất hiện một số giải pháp, định hướng về phát triển con người, về định hướng giá trị cho một số đối tượng cụ thể như: Học sinh, sinh viên, công nhân... Một số các nghiên cứu đưa ra giải pháp, định hướng về vấn đề bảo vệ các giá trị truyền thống trước ảnh hưởng của toàn cầu hóa, quốc tế hóa. Tuy nhiên, nghiên cứu về định hướng giá trị nhằm phát triển hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hầu như chưa được đề cập tới. Có thể khẳng định, các công trình nghiên cứu đã nêu trong tổng quan có giá trị khoa học rất lớn đối với luận án. Đó là những cơ sở lý luận quan trọng gợi mở các vấn đề để tác giả tiếp tục nghiên cứu trong luận án này. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay có rất nhiều vấn đề đặt ra với các quốc gia, trong đó những vấn đề về con người, hệ giá trị con người vẫn luôn là một đề tài hấp dẫn, mới mẻ. Sau hơn 30 năm Đổi mới, con người Việt Nam đã có những bước chuyển biến lớn lao, trong giai đoạn hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, con người Việt Nam đứng trước hàng loạt những vấn đề mới của thực tiễn. Việc nghiên cứu vấn đề xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay để từ đó có những định hướng nhằm phát huy sức mạnh cũng một số hạn chế trong thực trạng xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong bối cảnh mới. Điều này thực sự là cần thiết. Vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu của những người đi trước, tác giả luận án đã chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu. Hướng nghiên cứu của đề tài luận án sẽ tập trung giải quyết một số vấn đề cơ bản sau: Một là, nghiên cứu làm rõ mặt lý luận về giá trị, hệ giá trị, hệ giá trị con người Việt Nam và khái quát những giá trị tiêu biểu của con người Việt Nam truyền thống. 37 Hai là, nghiên cứu làm rõ một số đặc thù của hội nhập quốc tế của Việt Nam, một số tác động và yêu cầu của hội nhập quốc tế đến vấn đề xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam. Ba là, phân tích những chuyển biến hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế và những vấn đề đặt ra. Từ đó, khái quát các giá trị con người Việt Nam phù hợp với thực tiễn hội nhập quốc tế. Bốn là, đề xuất một số định hướng giá trị nhằm phát triển hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay. Nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay để phát huy sức mạnh con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước, hội nhập quốc tế là đòi hỏi cần thiết xuất phát từ thực tiễn hiện nay. Thực hiện đề tài này nghiên cứu sinh mong muốn góp phần vào nhiệm vụ trên. 38 Chương 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỆ GIÁ TRỊ CON NGƯỜI VIỆT NAM 2.1. Giá trị, phân loại giá trị 2.1.1. Giá trị Quan niệm về giá trị ra đời sớm trong lịch sử. Ngay từ thời cổ đại, một số triết gia ở phương Tây cũng như ở phương Đông bước đầu đã có những tranh luận sôi nổi các vấn đề liên quan tới giá trị như: cái thiện- cái ác, cái đẹp- cái xấu, chân lý- sai lầm Trong đó trục ba giá trị Chân-Thiện- Mỹ luôn được coi là giá trị tổng quát nhất. Đến thế kỷ XIX, những nghiên cứu về giá trị tách riêng thành chuyên ngành độc lập với tên gọi là Giá trị học (Axiology). Cùng với đó, thuật ngữ giá trị cũng chính thức được dùng để chỉ một khoa học. Axiology hay là Giá trị học về thực chất là nghiên cứu triết học về bản chất của Giá trị. Và sự xuất hiện của giá trị học trong triết học phương Tây cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ XX được ví coi là sự cố gắng giải quyết các vấn đề phức tạp của triết học - những vấn đề có liên quan đến vấn đề giá trị nói chung. Trong vài chục năm trở lại đây, khái niệm giá trị được sử dụng rộng hơn trong nhiều ngành khoa học, vì thế, hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Trong kinh tế học, phạm trù giá trị được dùng một cách đặc thù, gắn với hàng hóa, giá trị được dùng để chỉ công năng, thuộc tính của vật phẩm khi sản xuất ra và khi đem ra trao đổi. Và giá trị sử dụng trong kinh tế học phản ánh giá cả ở nơi mua bán và giá thành ở nơi sản xuất, thể hiện ý nghĩa của quan hệ tiền- hàng trên phương diện phù hợp với nhu cầu của con người. Trong kinh tế học, khi nói đến giá trị kinh tế của sự vật thông thường có liên quan mật thiết đến ba mặt chính yếu là: sản xuất, tiêu thụ, sở hữu của chủ thể kinh tế. Giá trị kinh tế thể hiện sức mạnh của vật này so với vật khác khi đem ra trao đổi, mua bán. Vì thế khi vật có giá trị hay vật mang giá trị tức là vật có khả năng đáp ứng được 39 những nhu cầu, lợi ích của người tiêu dùng. Tuy vậy, không nhất thiết vật có giá trị bao giờ cũng có giá cả cao hơn trên thị trường. Khi nghiên cứu về về hai thuộc tính của hàng hóa trong nền kinh tế hàng hóa Tư bản chủ nghĩa, C.Mác sử dụng khái niệm giá trị để phân biệt với giá trị sử dụng. Giá trị hàng hóa biểu hiện thông qua giá trị trao đổi. Nó biểu hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa vì trao đổi hàng hóa là so sánh lượng hao phí lao động giữa những người sản xuất hàng hóa. Chất của giá trị là lao động, nên sản phẩm không chứa đựng lao động thì không có giá trị. Sản phẩm chứa đựng nhiều lao động để tạo ra thì có giá trị cao. Nhấn mạnh tới giá trị lao động, Mác cho rằng lao động có một sức sản xuất đặc biệt, hoạt động là một lao động được nhân lên cấp số nhân, hay là trong một khoảng thời gian như nhau, nó tạo ra một giá trị cao hơn so với một lao động giá trị trung bình cùng loại. Tuy không đi sâu nghiên cứu về giá trị và chỉ dùng khái niệm giá trị để phân biệt với giá trị sử dụng trong sản xuất hàng hóa nhưng bước đầu C.Mác cũng đã đặt vấn đề trong kinh tế học về việc xem xét giá trị trong mối tương quan giữa vật thể- hàng hóa (khách quan) với nhu cầu (chủ quan) của con người. Khuynh hướng phổ biến hơn cả là tiếp cận giá trị trong nghiên cứu Giá trị học. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này trên thế giới có ba hình thái cơ bản: Thứ nhất là học thuyết duy tâm - khách quan (Chủ nghĩa Kant mới, M. Scheler và N. Hartmann, chủ nghĩa Thomas mới, Chủ nghĩa trực giác) kiến giải giá trị như là bản chất nhiều mặt nằm ngoài không gian và thời gian. Theo quan niệm của trường phái này thì các giá trị như chân, thiện, mỹ tồn tại trước, sẵn có và độc lập với chủ thể con người đánh giá, thực chất họ đã coi giá trị là đặc tính riêng biệt của chính khách thể nhưng lại phủ nhận tính tích cực của chủ thể trong việc đánh giá các giá trị. Thứ hai là những người ủng hộ học thuyết duy tâm chủ quan về giá trị (Chủ nghĩa thực chứng logic, Chủ nghĩa duy cảm, sự phân tích ngôn ngữ trong đạo đức học, lý thuyết kích động - bóng chuyền) thì lại xem xét giá trị chỉ như là những hiện tượng của ý thức, nhìn nhận ở giá trị sự xuất hiện của các trạng thái tâm lý, các quan hệ 40 chủ quan giữa con người với khách thể được họ đánh giá. Khuynh hướng này xem xét giá trị không phải từ hiện thực khách quan mà từ ý chí, từ đánh giá hay nhận thức của chủ thể. Thứ ba là các học thuyết tự nhiên chủ nghĩa về giá trị (lý thuyết về nhu cầu, đạo đức học tiến hóa, mục đích luận vũ trụ về đạo đức) kiến giải giá trị như là sự biểu hiện của nhu cầu tự nhiên của con người hay là các quy luật của tự nhiên nói chung. Xu hướng này được nhiều nhà triết học nhị nguyên ủng hộ. Nghiên cứu về bản chất của giá trị, các nhà triết học hậu mácxít xem xét giá trị trong tính tổng thể của nó. Trong từ điển Triết học do M.Rôdentan và P.Iudin [86], định nghĩa về giá trị được đưa ra như sau: “Những khẳng định xã hội đặc biệt về những đối tượng của thế giới xung quanh, biểu hiện các ý nghĩa tích cực hay tiêu cực của những đối tượng ấy đối với con người và xã hội (hạnh phúc, lương thiện, cái ác, cái đẹp và cái xấu, thể hiện ra trong các hiện tượng của đời sống xã hội hoặc của thiên nhiên)” [86, tr.463]. Định nghĩa này cho thấy, giá trị được xem xét trong sự thống nhất giữa chủ thể và khách thể thông qua việc đánh giá của chủ thể. Đồng thời cũng cho thấy việc nảy sinh giá trị bắt nguồn từ chính nhu cầu của con người và đến lượt mình, giá trị góp phần vào việc định hướng các hoạt động sống của con người. Ở Việt Nam, trong mấy chục năm trở lại đây, nhiều tác giả đã nghiên cứu giá trị theo quan điểm của giá trị học. Theo Phạm Minh Hạc: “1.Giá trị là sản phẩm tinh thần của con người, nhóm người, cộng đồng dân tộc và loài người làm ra; 2. Giá trị là phẩm giá, phẩm chất của con người, nhóm người, cộng đồng, dân tộc và loài người; 3. Giá trị là biểu hiện mối quan hệ của con người dưới góc độ lợi ích, đánh giá đối với tồn tại xung quanh” [36, tr.13]. Trong định nghĩa này, tác giả đã gắn việc nghiên cứu giá trị với hoạt động tâm lý của con người, đặc biệt là “tính chủ thể”. Tính chủ thể thể hiện ở mục đích của hoạt động bao giờ cũng hướng đến cái mà mình coi là có giá trị. Khi đưa ra định nghĩa về giá trị, tác giả cũng đề cập đến thái độ giá trị bởi lẽ, theo tác giả, giá trị thể hiện sự đánh giá, tìm ra ý nghĩa của sự vật này, sản phẩm kia mà chủ thể quan tâm tới, có ước muốn đạt được một mục đích nào đấy, đồng 41 thời giá trị bộc lộ thái độ hay hệ thống thái độ của từng người đối với thế giới xung quanh. Theo ông, cao hơn thái độ, giá trị còn bộc lộ nhân cách của chủ thể. Tuy không phủ nhận thuộc tính khách quan của giá trị song khi đưa ra định nghĩa về giá trị, tác giả Phạm Minh Hạc thiên về việc nhấn mạnh dấu ấn chủ thể trong việc xem xét đánh giá và tìm ra ý nghĩa của sự vật. Trong công trình “Hệ giá trị Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại và con đường tới tương lai” [92], tác giả Trần Ngọc Thêm quan niệm về giá trị như sau: “Giá trị là tính chất của khách thể, được chủ thể đánh giá là tính tích cực xét trong so sánh với các khách thể khác cùng loại trong một bối cảnh không gian- thời gian cụ thể” [92, tr.39]. Với định nghĩa này, tác giả Trần Ngọc Thêm đã chỉ ra một số vấn đề khi xem xét giá trị: Thứ nhất, giá trị mang tính khách quan, bởi vì nói đến giá trị là không thể bỏ qua những thuộc tính, phẩm chất của bản thân đối tượng đó. Thứ hai, giá trị thể hiện đánh giá, nhận thức, sở thích, thói quen của chủ thể đánh giá nên giá trị mang tính chủ quan. Thứ ba, xem xét giá trị phải đặt trong mối tương quan giữa đối tượng (khách thể) với chủ thể và quan hệ giữa đối tượng đang được xem xét với các đối tượng khác cùng loại. Khi đưa ra định...trong thời gian hiện nay. Tuy nhiên khi xây dựng và ban hành các bộ quy tắc ứng xử cần tính đến khả năng hiện thực để đạt hiệu quả trong thực tiễn. Bởi lẽ những liên quan tới đạo đức, ứng xử, giá trị thường là những vấn đề không đơn giản, đặc biệt khi xây dựng mới thường vấp phải sự xung đột, đấu tranh dữ dội với phong tục, truyền thống vốn đã ăn sâu vào đời sống của người dân hàng ngàn năm nay. Cộng thêm những tác động của các nhân tố và các thế lực chống phá từ bên ngoài có thể gây cản trở trong quá trình thực hiện các quy tắc ứng xử. Do đó khi xây dựng và ban hành các bộ tiêu chí đạo đức, quy tắc ứng xử cần chú ý tới các vấn đề như: Việc lựa chọn các tiêu, quy tắc phải phù hợp với đối tượng, khi áp dụng triển khai cần có thời gian áp dụng thử nghiệm và rút kinh nghiệm, đa dạng hóa các phương pháp thực hiện. Trong quá trình triển khai các tiêu chí, quy tắc lựa chọn cần phải có những giải pháp tuyên truyền, vận động, giáo dục người dân hiểu và thực hiện theo. Khi gặp những khác biệt, xung đột cần có cách giải quyết phù hợp, tránh việc áp đặt, dập khuôn máy móc và chạy theo thành tích trái với mục đích ban hành và xây dựng các bộ tiêu chí và quy tắc ứng xử. Bản thân những cán bộ tham gia triển khai quá trình này cũng đòi hỏi phải là những công dân tốt, có trách nhiệm và có đạo đức. Thực hiện hiệu quả, thành công quá trình này sẽ góp phần xây dựng lối 142 sống mới văn minh rộng rãi trong tầng lớp nhân dân, đồng thời góp phần tích cực trong việc hạn chế, phòng chống sự xuống cấp về giá trị, xuống cấp đạo đức, tha hóa con người hiện nay. Ba là, cần chú trọng công tác nêu gương có hiệu quả trong đời sống xã hội. Trên thực tế, trong những năm qua, các phong trào thi đua yêu nước, phong trào học tập theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh... đã ít nhiều tạo ra những tác động không nhỏ tới nhận thức và hành động của người dân. Song, trong thời gian tới, cần đẩy mạnh các phong trào trên đi vào chiều sâu hơn nữa. Nhấn mạnh về vai trò của phương pháp nêu gương trong đời sống đạo đức xã hội, phó thủ tướng Vũ Đức Đam tại phiên chất vấn Quốc hội vào ngày 9 tháng 11 năm 2020 đã chỉ rõ: Cần nêu gương từ trên xuống dưới, từ trong ra ngoài. Người lớn nêu gương cho người trẻ, người cao hơn nêu gương cho cấp dưới. Đảng viên đi trước “làng nước theo sau”. Nhìn chung, có thể thấy, vấn đề xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị con người đáp ứng được những yêu cầu hội nhập quốc tế ở nước ta còn đứng trước nhiều khó khăn, phức tạp và những thách thức to lớn của bối cảnh thời đại và thực tiễn trong nước. Do đó, những định hướng giá trị trên góp phần vào giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tiễn xây dựng và phát triển hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế. 143 Tiểu kết chương 4 Hiện nay, trước những đòi hỏi ngày càng khắt khe của hội nhập quốc tế, quá trình xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề cần phải giải quyết. Từ những nghiên cứu lý luận về hệ giá trị con người Việt Nam và thực tiễn hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay, có thể đưa ra một số giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hướng tới như: Yêu nước, trách nhiệm cộng đồng, yêu lao động, hiếu học (tôn trọng giáo dục), trọng gia đình, chuộng hòa bình. Các giá trị này một mặt góp phần định hướng giá trị con người Việt Nam đáp ứng các yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước cũng như các yêu cầu của thời đại trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay. Trên thực tế, việc phát triển và hoàn thiện hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế là một vấn đề to lớn và quan trọng đối với sự phát triển của Đất nước hiện nay. Nhằm góp phần vào quá trình này, luận án: Thứ nhất, cần phải chú ý tới vấn đề kế thừa và phát huy giá trị truyền thống; Thứ hai, cần tiếp thu tinh hoa, văn minh nhân loại; Thứ ba, cần hướng tới phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế; Thứ tư, cần đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền kết hợp với thực thi pháp luật. Các định hướng giá trị này đều xuất phát từ thực tiễn phát triển kinh tế- xã hội của đất nước cũng như các yêu cầu đặt ra của hội nhập quốc tế đối với quá trình xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam. 144 KẾT LUẬN Với con người, thế giới xung quanh không chỉ là thế giới của các sự vật, hiện tượng mà còn là thế giới của những giá trị. Giá trị, hệ giá trị được tạo ra trong thế giới tinh thần của con người, nhưng lại nằm ở vị trí trung gian, kết nối giữa con người với thế giới. Tức là giá trị không thuần túy chủ quan, nhưng cũng không tuyệt đối khách quan. Xa hay gần, giá trị đều là sản phẩm dựa trên những tồn tại xã hội, phản ánh sự đa dạng, phong phú, độc đáo của các cộng đồng người, dân tộc, quốc gia. Giá trị, hệ giá trị một mặt thể hiện nhu cầu, khát vọng của con người, nhưng mặt khác lại là mục tiêu, định hướng mà mỗi cá nhân và cộng đồng nhằm tới. Vì vậy, trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc quan tâm đến giá trị con người trong sự biến đổi của hoàn cảnh bao giờ cũng là công việc có tầm vóc và ý nghĩa quan trọng. Trong thực tế, dù tuyên bố hay không tuyên bố, mỗi cộng đồng, dân tộc, quốc gia đều có hệ giá trị của riêng mình. Đó là sản phẩm của sự lựa chọn thường là gian nan từ trong lịch sử. Đến lượt mình, giá trị, hệ giá trị lại là hành lang an toàn đối với hoạt động người, đảm nhận chức năng định hướng vốn có của giá trị. Mặc dù không phải là yếu tố thường xuyên thay đổi, song hệ giá trị cũng không bất biến. Những biến động của giá trị và hệ giá trị, tất nhiên do tồn tại xã hội quy định và khi tác động trở lại tồn tại xã hội, động thái của hệ giá trị bao giờ cũng ảnh hưởng, tác động tạo ra những biến đổi có ý nghĩa trong đời sống con người. Những năm qua, ở Việt Nam, nhờ triển khai, vận dụng đúng đắn những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, chúng ta đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc xây dựng hệ giá trị con người trong điều kiện hội nhập quốc tế. Nhìn khách quan, có thể thấy, các giá trị con người Việt Nam có xu hướng xích lại gần với các chuẩn mực quốc tế. Hiện nay, lối sống lành mạnh, có văn hóa, hội nhập sâu vào xu hướng tiến bộ của thế giới ngày càng phổ biến và chiếm ưu thế trong đời sống xã hội ở nước ta. Dưới sự tác động tích cực của hội nhập quốc tế, các giá trị người Việt truyền thống có cơ 145 hội được đánh thức... Thực tế không thể phủ nhận rằng, trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua, đất nước ta đã thu được nhiều thành tựu trên các mặt phát triển kinh tế, nâng cao uy tín và vị thế của mình trên trường quốc tế, các giá trị con người từng bước được cải thiện rõ rệt. Quá trình hội nhập quốc tế đã mang lại nhiều cơ hội để chúng ta tiếp thu một cách chọn lọc các giá trị cả quá khứ lẫn hiện tại của nhân loại nhằm bổ sung vào bảng giá trị của dân tộc những giá trị phù hợp phục vụ cho công cuộc phát triển đất nước nói chung và đối với sự phát triển của từng con người nói riêng. Tuy nhiên, trước những biến chuyển vô cùng nhanh chóng và mạnh mẽ của điều kiện hội nhập quốc tế, trên phương diện hệ giá trị con người, chúng ta cũng không tránh khỏi những hạn chế, bất cập nhất định. Hiện nay, xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế đang đứng trước một số vấn đề đặt ra như: Xu hướng coi nhẹ các giá trị truyền thống, sự lệch chuẩn giá trị diễn ra khá phổ biến; hiện tượng xuống cấp về đạo đức, tha hóa con người; xuất hiện lối sống thiếu lành mạnh... đến mức đáng lo ngại. Thực chất của những hiện tượng đó chính là sự khủng hoảng về giá trị. Xuất hiện những biến đổi về hệ giá trị con người Việt Nam hiện nay có nhiều nguyên nhân: từ mặt trái của kinh tế thị trường, từ hội nhập quốc tế và có thể đó có thể đó là cái giá phải trả, là một phí tổn cho sự phát triển. Và trong thực tế, ý thức, hành vi, quan hệ đạo đức cá nhân và xã hội của người Việt Nam hiện nay vừa là nguyên nhân, tác động trực tiếp đến sự biến đổi của hệ giá trị, vừa là kết quả biểu hiện của sự định hướng lệch lạc đối với con người trước bối cảnh mới. Nghiên cứu về hệ giá trị con người Việt Nam cho thấy, những giá trị tốt đẹp của người Việt được lưu truyền từ truyền thống có thể khái quát đó là tinh thần yêu nước mãnh liệt nối tiếp nhau giữa các thế hệ. Đó là lòng nhân ái, khoan dung thể hiện giá trị nhân văn xuyên suốt từ trong lịch sử đến tận ngày nay. Đó là tinh thần đoàn kết, cần cù yêu lao động, chịu đựng gian khổ với khát vọng xây dựng và phát triển đất nước giàu mạnh, hùng cường. 146 Đó là tinh thần hiếu học, khát khao đạt tới những giới hạn mới về trí tuệ Các giá trị này đứng hàng đầu trong bảng giá trị người Việt truyền thống, phản ánh đậm nét đặc thù của tồn tại xã hội trong lịch sử Việt Nam. Sự hiện diện của các giá trị này góp phần định hướng những hoạt động của con người Việt Nam trước đây cũng như hiện nay. Dưới tác động mạnh mẽ của xu thế hội nhập quốc tế, các giá trị con người Việt đang diễn ra quá trình chuyển đổi tương đối mạnh và rõ. Yêu cầu khách quan đặt ra đối với vấn đề hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế là phải kết hợp đồng thời quá trình kế thừa những giá trị cốt lõi, tiêu điểm của người Việt truyền thống với việc bổ sung thêm các giá trị mới để phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu của tác giả đi trước và các quan điểm chỉ dẫn của Đảng về vấn đề hệ giá trị con người Việt Nam, chúng tôi cho rằng những giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế bao gồm các giá trị tiêu biểu như sau: Yêu nước, trách nhiệm cộng đồng, yêu lao động, hiếu học (tôn trọng giáo dục), trọng gia đình, chuộng hòa bình. Các giá trị này được đề xuất dựa trên tồn tại xã hội của Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế và các yêu cầu của xu thế hội nhập đối với quá trình xây dựng hệ giá trị con người hiện nay. Từ những chuyển biến tích cực và một số vấn đề đặt ra về phương diện hệ giá trị con người Việt Nam, để xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay và đáp ứng các yêu cầu của thời đại đặt ra cần phải quán triệt một số định hướng cơ bản như sau: Thứ nhất, định hướng giá trị nhằm kế thừa và phát huy giá trị truyền thống; Thứ hai, định hướng giá trị nhằm tiếp thu tinh hoa, văn minh nhân loại; Thứ ba, định hướng giá trị nhằm hướng tới phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của hội nhập quốc tế; Thứ tư, định hướng giá trị nhằm đẩy mạnh giáo dục tuyên truyền kết hợp với thực thi pháp luật. Các định hướng này phải được tiến hành thực hiện đồng bộ mới mang lại hiệu quả thiết thực. Tuy vậy, cũng cần nhận thức rất rõ rằng, các định hướng giá trị 147 trên chỉ thực sự thâm nhập vào đời sống xã hội Việt Nam một cách hiệu quả khi có sự phối hợp các chủ trương, biện pháp, các chính sách cũng như các chủ thể thực hiện, trong đó có vai trò đặc biệt của quá trình ý thức và tự ý thức tích cực của mỗi cá nhân, trách nhiệm của các cơ quan, đoàn thể, Nhà nước. 148 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Trần Văn Phòng, Nguyễn Thị Hoàn (2015), “Quan điểm của Đảng về con người trong thời kỳ đổi mới”, Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc gia kỷ niệm 85 năm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, NXB Lý luận Chính trị, tr.531- 538. 2. Trần Văn Phòng, Nguyễn Thị Hoàn (2015), “Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người với tư cách là đối tượng phục vụ của chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới”, Tạp chí Giáo dục lý luận, số 228 (tháng 4/2015), tr38-42. 3. Nguyễn Thị Hoàn (2016), “Tình hình nghiên cứu hệ giá trị con người Việt Nam”, Tạp chí Thông tin- Viện Hàn lâm KHVN, số 407 (tháng 11 năm 2016), tr.10- 16. 4. Nguyễn Thị Hoàn (2016), “Chính sách xã hội vì quyền con người- Quan điểm xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới”, in trong sách Nghiên cứu và giảng dạy- NXB Đại học Huế, tr323-332. 5. Nguyễn Thị Hoàn (2017), “Một số tác động cơ bản của hội nhập quốc tế đến xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo Khoa học thường niên Đại học Thủy Lợi, NXB Xây Dựng (tháng 11 năm 2017), tr.263-265. 6. Nguyễn Thị Hoàn (2018), “Ảnh hưởng tích cực của hội nhập quốc tế đến xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam”, Tạp chí Lao động và Công đoàn, số 637 (Xuân Mậu Tuất), tr.89-90. 7. Nguyễn Thị Hoàn (2018): “Nhận diện những biểu hiện lệch chuẩn giá trị trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”, Kỷ yếu hội thảo Khoa học thường niên Đại học Thủy Lợi, NXB Xây Dựng, tr270-272. 149 8. Nguyễn Thị Hoàn (2019): “Vấn đề xác định hệ giá trị con người Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay”, Kỷ yếu Hội thảo quốc gia, NXB Lao động- Xã hội, tr.232-238. 9. Nguyễn Thị Hoàn, (tham gia đề tài cấp Bộ), (2019): “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Yêu cầu và giải pháp”. Số đăng ký: 2019-62-1080/KQNC- Viện nghiên cứu Con người. 10. Nguyễn Thị Hoàn, (2019), “Một số nét đặc thù hội nhập quốc tế của Việt Nam và yêu cầu của hội nhập quốc tế đối với việc xây dựng hệ giá trị con người Việt Nam”, Kỷ yếu hội thảo cán bộ trẻ và sau đại học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.280-300. 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO * Tài liệu tiếng Việt 1. Đào Duy Anh (1998), Việt Nam văn hoá sử cương, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp, Đồng Tháp. 2. Hoàng Chí Bảo (2010), Văn hóa và con người Việt Nam trong đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 3. Nguyễn Duy Bắc (2008), Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Nxb Từ điển Bách khoa và Viện Văn hóa. 4. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội - Tổng cục thống kê (2017), Bản tin Cập nhật thị trường lao động Việt Nam, (12), quý 4 năm 2016. 5. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998), “Vấn đề khai thác các giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển”, Tạp chí Triết học, (2). 6. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sỹ Quý (2001) (đồng chủ biên), Tìm hiểu giá trị truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 7. Nguyễn Trọng Chuẩn, Nguyễn Văn Huyên (chủ biên) (2002), Giá trị truyền thống trước thách thức của toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 8. Nguyễn Trọng Chuẩn (2002), Một số vấn đề về Triết học- con người- xã hội, Nxb Khoa học xã hội Hà Nội. 9. Nguyễn Trọng Chuẩn (2005), “Để phát triển con người một cách bền vững”, Tạp chí Triết học, (1), tr.5-9. 10. Phạm Như Cương (chủ biên, 1978), Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb. KHXH, Hà Nội. 11. Tô Xuân Dân (2006), Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến tư duy và đời sống kinh tế- xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 151 12. Phan Đại Doãn (2001), Làng xã Việt Nam- Một số vấn đề kinh tế- văn hóa- xã hội, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 13. Đinh Xuân Dũng (2016), Văn hóa và con người Việt Nam hiện nay. Mấy suy nghĩ từ thực tiễn, Nxb Thông tin và truyền thông. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 17. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII. – H.: Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 20. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 21. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2014), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9 BCH Trung ương Đảng khóa XI (số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014) về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. 22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 23. Ðảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII. Tập I. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. Hà Nội. 24. Lê Quý Đức, Hoàng Chí Bảo (2007), Văn hóa đạo đức ở nước ta hiện nay- Vấn đề và giải pháp, Nxb Văn hóa- Thông tin và Viện Văn hóa, Hà Nội. 152 25. Friedman, Thomas Loren (2005), Chiếc Lexus và cây Ôliu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 26. Frolov I.T. (2002), Trở lại với con người, tạp chí Nghiên cứu con người, (1). 27. Lê Trường Giang, Ngô Văn Nam và Đặng Thìn Hùng (2014), “Một số yêu cầu đối với nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Asean 2015”, Bản tin Khoa học lao động và xã hội, (41), tr.26-34. 28. Vũ Minh Giang (1996), Nội dung của truyền thống Việt Nam, in trong: Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang: Các giá trị truyền thống con người Việt Nam hiện nay, Nxb Hà Nội, tập 2. 29. Trần Văn Giàu (1980), Giá trị truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 30. Nguyễn Ngọc Hà (chủ biên) (2011), Đặc điểm tư duy và lối sống của con người Việt Nam hiện nay: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 31. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 32. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 33. Phạm Minh Hạc (2006), “Tiềm năng - năng lực - nhân tài”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, (6), tr.57-72. 34. Phạm Minh Hạc (chủ biên) (2007), Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp Neo Pi-R cải biên. – H.: Nxb Khoa học Xã hội. 35. Phạm Minh Hạc, Thái Duy Tuyên (2011), Định hướng giá trị con người Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 36. Phạm Minh Hạc (2012), Giá trị học- H: Nxb Dân trí. 153 37. Lương Đình Hải (2009), “Những tiêu chí cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay”- Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội, (10), (11). 38. Lương Đình Hải (2015), “Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu con người, (1). 39. Hội đồng lý luận trung ương (2021), Những điểm mới trong các văn kiện Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật. 40. Mai Lan Hương (2012), Vai trò của nhà nước đối với hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 41. Nguyễn Đắc Hưng (2009), Việt Nam- Văn hóa và con người, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 42. Nguyễn Đắc Hưng (2017), Văn hóa làng và nhân cách con người Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 43. Nguyễn Văn Huyên (1990), “Mấy suy nghĩ về hướng tiếp cận con người trong chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí Triết học, (1). 44. Nguyễn Văn Huyên (2001), “Mấy vấn đề đặt ra đối với việc nghiên cứu con người ở Việt Nam”, Tạp chí Triết học, (5). 45. Nguyễn Văn Huyên (2003), Văn minh Việt Nam, NXB Hội nhà Văn, Hà Nội. 46. Nguyễn Văn Huyên (2004), “Phẩm chất, năng lực người lãnh đạo theo yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Lý luận Chính trị, (8), tr.23-26. 47. Lê Thu Huyền, Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2015), “Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam nhằm đáp ứng tốt hơn với yêu cầu của thị trường lao động khi hội nhập AEC”, Bản tin Khoa học lao động và xã hội, (44), tr.24-30. 48. Đoàn Văn Khái (1995), “Nguồn lực con người - yếu tố quyết định sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Tạp chí Triết học, (4), tr.20-23. 154 49. Nguyễn Thế Kiệt (2008), “Xây dựng và phát triển con người, nâng cao chất lượng nguồn lực con người đã trở thành nhân tố quyết định sức mạnh của công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Triết học, (6). 50. Vũ Khiêu (chủ biên) (1974), Đạo đức mới. – H.: Nxb Khoa học xã hội 51. Đinh Xuân Lâm, Dương Lan Hải (1998), Nghiên cứu Việt Nam một số vấn đề lịch sử kinh tế-xã hội- văn hóa, Nxb Thế giới. 52. Hoàng Thúc Lân (2014), Phát triển năng lực tư duy biện chứng cho sinh viên Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 53. Loan Lê (2016), “Chương trình Sáng tạo Việt” giới thiệu 100 sáng chế trong 2 năm”, tại trang [cập nhật ngày 20/05/2016]. 54. V.I.Lênin (2006), Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 55. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 38, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 56. V.I.Lênin (2005), Toàn tập, tập 42, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva. 57. Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 58. C.Mác và Ph.Ăngghen (1995), Toàn tập, t. 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 59. C.Mác và Ph.Ăng-ghen (1995). Toàn tập, t.4. Nxb Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. tr. 624. 60. C.Mác và Ph.Ăngghen (2000), Toàn tập, t. 20. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 61. C.Mác, Ph. Ăngghen (2004), Toàn tập, t.26 (Phần 2), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 62. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 4, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 63. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 155 64. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 6, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 65. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 66. Hồ Chí Minh (2011), Toàn tập, tập 15, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội 67. Đỗ Hoài Nam, Võ Đại Lược (Chủ biên) (2005), Một số vấn đề phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay, NxbThế giới, Hà Nội. 68. Phạm Xuân Nam (2008), Triết lý phát triển ở Việt Nam – mấy vấn đề cốt yếu (in lần thứ 3). – Nxb Khoa học Xã hội. 69. Ngân hàng Thế giới (2013), Phát triển kỹ năng: Xây dựng lực lượng lao động cho một nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam, Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2014. 70. Nguyễn Bá Ngọc, Đặng Đỗ Quyên (2015), “Chất lượng lao động trình độ cao ở Việt Nam: những hạn chế cơ bản”, Bản tin Khoa học lao động và xã hội - Viện Khoa học Lao động và Xã hội, (42), tr.8-15. 71. Hoàng Thị Kim Oanh (2016), Vai trò của nhà nước Việt Nam trong chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội. 72. Hoàng Phê (chủ biên) (2007), Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng. 73. Nguyễn Hồng Phong (1963), Tìm hiểu tính cách dân tộc, Nxb Khoa học, Hà Nội. 74. Phùng Hữu Phú, Lâm Bá Nam (1994), Con người Việt Nam hiện tại trong mối quan hệ với các giá trị và phản giá trị truyền thống. – In trong: Phan Huy Lê, Vũ Minh Giang (chủ biên) (1994): Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay. – H.: Đề tài KX07-02, Chương trình KHCN cấp nhà nước KX07, tr. 245-288. 156 75. Trương Văn Phúc (2005),“Về việc tạo ra bước chuyển mạnh mẽ trong xây dựng nền đạo đức mới ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Triết học, (11). 76. Vũ Văn Phúc, Nguyễn Duy Hùng (2012), Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 77. Vũ Văn Phúc, Phạm Minh Chính (2015), Hội nhập kinh tế quốc tế: 30 năm nhìn lại, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 78. Nguyễn Kim Phượng (2014), Nhà nước với việc phát huy nội lực và ngoại lực trong hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, Luận án Tiến sĩ triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 79. Nguyễn Duy Quý (2004), Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay- Vấn đề và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 80. Hồ Sĩ Quý (2005), Về giá trị và giá trị châu Á, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật. 81. Hồ Sĩ Quý (2006), Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu và phát triển văn hóa, con người và nguồn nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế (Báo cáo tổng hợp đề tài KH-CN cấp Nhà nước KX.05.01). – H.: Chương trình KH-CN cấp Nhà nước KX.05. 82. Hồ Sĩ Quý (Chủ biên) (2007), Con người và phát triển con người (Giáo trình dùng cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành triết học), Nxb Giáo dục, Hà Nội. 83. Hồ Sĩ Quý (2015), “Mấy vấn đề về hệ giá trị Việt Nam”, tạp chí KH&CN Việt Nam. Số 1(5). tr. 42. 84. Hồ Sĩ Quý (2019), “Thực trạng phát triển con người ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu con người”, (4), tr. 34-47. 85. Mai Thị Quý (2009), Toàn cầu hóa và vấn đề kế thừa một số giá trị truyền thống của dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 157 86. M.Rôdentan và P.Iuđin (1955), Từ điển triết học, Nxb Ngoại văn, Matxcova. Bản dịch và in lần thứ 3 (1978), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 87. Đặng Văn Thái (2009), Tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 88. Trần Phúc Thăng (2010), Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc phát huy nguồn lực con người thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, Đề tài cơ sở, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội. 89. Võ Văn Thắng (2006), Xây dựng lối sống ở Việt Nam hiện nay (từ góc độ văn hóa truyền thống dân tộc), Nxb VHTT và Viện Văn hóa, Hà Nội 90. Trần Ngọc Thêm (2006), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh. 91. Trần Ngọc Thêm (2015), Một số vấn đề về giá trị và hệ giá trị Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 92. Trần Ngọc Thêm (2016), Hệ giá trị con người Việt Nam hiện tại và con đường tới tương lai, Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. 93. Ngô Đức Thịnh (2010), Những giá trị văn hóa truyền thống Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật Hà Nội. 94. Toàn cầu hóa và tác động đối với sự hội nhập của Việt Nam (2004), Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Thế giới. 95. Tổng cục Thống kê (2016), Báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2014, 2015, quý 1 năm 2016, Hà Nội. 96. Nguyễn Phú Trọng (2021). Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. https://nhandan.vn/tin-tuc-su-kien/mot-so-van-de-ly-luan-va-thuc-tien- ve-chu-nghia-xa-hoi-va-con-duong-di-len-chu-nghia-xa-hoi-o-viet-nam- 646305/ 158 97. Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Thạc, Mạc Văn Trang, Chương trình khoa học cấp nhà nước KX-07 đề tài KX- 07-04 (1995), Giá trị- định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị. 98. UNDP (2011), Báo cáo phát triển con người năm 2011, công bố vào ngày 9 tháng 11 năm 2011 tại Copenhagen (Đan Mạch). 99. Hoàng Vinh (2006), Những vấn đề văn hóa trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội. 100. Huỳnh Khái Vinh (chủ biên) (2001), Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội (2001), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. 101. Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (2013), "Thông tin chuyên đề: Vai trò của giáo dục và đào tạo trong xây dựng nguồn nhân lực và đảm bảo công bằng xã hội", Trung tâm thông tin tư liệu, (4), tr.18. 102. Việt Nam hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa: Vấn đề và giải pháp (2010), Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.. 103. Vũ Thiện Vương (2001), Triết học Mác - Lênin về con người và xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội. *Tài liệu nước ngoài 104. Bahm A.J.1993: The Science of Values- Amsterdam: Atlanta, GA, 134p. 105. Bolger J. (2000), Capacity Development: Why, What and How, CIDA, Policy Branch, Vol. 1, No. 1, May 2000, pp.2.\ 106. Ценности. Философский энциклопедический словарь. Изд (1989), Советская Энциклопедия. Москва. 107. Committee of Experts on Public Administration- United Nations (2006), “Definition of basic concepts and terminologies in governance and public administration”, Economic and Social Council, New York, 27-31 March 2006, pp.7-8. 159 108. Lusthaus C., Adrien M., Perstinger M. (1999), Capacity development: definitions, issues and implications for planning, monitoring and evaluation, Universalia Occasional Paper No 35, pp.5. 109. Morgan P. (1998), Capacity and capacity development - some strategies, Policy branch, CIDA, October, 1998. 110. Otoo S., Agapitova N. and Behrens J. (2009), The Capacity Development Results Framework. A strategic and results-oriented approach to learning for capacity development, World bank institute, June 2009. 111. Potten D., (2008), “Learning By Doing: The Japanese PHRD Fund and Capacity Development“, Capacity Development Resource Center - The World Bank, June 2008, Issue No. 27, 112. Sen A., (1999), Development as Freedom, Oxford University Press, Oxford. 113. United nations development programme - Capacity development (2010), Measuring capacity, [Published on 22 Jul 2010]. 114. UNDP (2020), Human Development Report. 115. Weinert, F.E. (2001), Comparative performance measurement in schools, Weinheim and Basejl: Beltz Verlag, pp.12.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfluan_an_ve_he_gia_tri_con_nguoi_viet_nam_trong_dieu_kien_hoi.pdf
  • pdfTrichyeu_NguyenThiHoan.pdf