Mở rộng cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (AgriBank) huyện Lâm Thao

Lời mở đầu. Việt Nam là một đất nước nông nghiệp với gần 70% dân số sống tại các vùng nông thôn.việc phát triển nông nghiệp là điều quan trọng góp phần xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy kinh tế phát triển toàn diện và bền vững, giảm chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn. Để phát triển nông thôn nhanh chóng và tối ưu thì phát triển kinh tế hộ sản xuất là bước đi đúng đắn. Trong thời gian qua, thành tựu của kinh tế hộ đã chứng tỏ hướng đi đó là đúng và mang lại hiệu quả nhanh chóng thiết t

doc59 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1268 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Mở rộng cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn (AgriBank) huyện Lâm Thao, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hực. Trong thành công đó có sự đóng góp của ngành Ngân hàng đặc biệt là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao là một chi nhánh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, phục vụ chủ yếu trên địa bàn huyện Lâm Thao. Ngân hàng phục vụ chủ yếu cho các hộ nông dân, các tổ chức cá nhân kinh doanh, các yếu tố sản xuất nông nghiệp. Ngân hàng đã đóng góp một phần vào sự phát triển kinh tế của huyện nói chung và của huyện nói riêng. Ngân hàng là nhân tố để giúp các hộ có nguồn vốn làm ăn, có được các mức lãi suất ưu đãi để các hộ sản xuất có thể vay vốn để phát triển. Nhiều hộ đã thu nhập khá hơn sau khi sử dụng nguồn vốn của Ngân hàng. Bên cạnh những thành công đã đạt được Ngân hàng vẫn chưa phát huy tối đa tiềm năng để phục vụ cho đời sống của nhân dân được tốt hơn. Vì vậy em lựa chọn đề tài: “Mở rộng cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao” Nội dung bài viết đựơc chia làm 3 chương: Chương 1: Những vấn đề cơ bản về tín dụng hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao. Chương 2: Thực trạng cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao. Chương 3: Giải pháp mở rộng cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lâm Thao. Chương 1. Những vấn đề cơ bản về tín dụng đối với hộ sản xuất. 1.1. Kinh tế hộ sản xuất. 1.1.1. Khái niệm hộ sản xuất. Hộ sản xuất ra đời và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển của nền văn minh lúa nước. Kinh tế hộ cũng ra đời và phát triển song song với sự phát triển của cả nền kinh tế, nó đóng vai trò quan trọng trong trong phát triển kinh tế hộ gia đình nói riêng và của nền kinh tế nói chung. Có nhiều khái niệm về hộ sản xuất. Theo khái niệm của liên hợp quốc thì hộ là một đơn vị cơ bản của xã hội có liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và hoạt động xã hội khác. Một số điểm cần lưu ý khi phân định hộ - Hộ là một nhóm người cùng huyết thống hay không cùng huyết thống. - Họ có thể sống chung hoặc không sống chung trong cùng một mái nhà - Có chung nguồn thu nhập và ăn chung - Cùng tiến hành sản xuất chung Trong phạm vi đề tài này chỉ đề cập đến hộ nông dân. Hộ nông dân là một hình thức tổ chức sản xuất trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp là chủ yếu bao gồm một hoặc một số nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết thống sông chung trong một mái nhà, chung nguồn thu nhập, tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh chủ yếu phục vụ nhu cầu các thành viên trong hộ. Kinh tế hộ được hiểu là các mối quan hệ kinh tế của hoạt động trong hộ. 1.1.2. Đặc điểm hộ sản xuất. Hộ sản xuẩt là đơn vị kinh tế cá thể mang tính tự cấp tự túc, và phát triển hơn là sản xuất hàng hoã nhỏ, hộ làm kinh tế mới VAC, hàng thủ công mĩ nghệ… Kinh tế hộ mang nặng tính sản xuất truyền thống như sản xuất các sản phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu các thành viên trong hộ là chính. Khi các sản phẩm làm ra không được tiêu dùng hết trong gia đình họ mới mang đi trao đổi. Sản phẩm làm ra không vì mục đích trao đổi, sản phẩm mang trao đổi chiếm tỉ trọng nỏ trong tổng số sản phẩm làm ra. Khi kinh tế hộ phát triển ở mức độ cao hơn, có sản xuất hàng hoá nhỏ tức lààng hoá nhỏ thể hiện ở qui mô sản xuất và khối lượng sản phẩm bán ra chỉ chiếm khoảng dưới 35% khối lượng sản phẩm hàng hoá nông sản trên thị trường. Công cụ sản xuất dùng trong hộ chủ yếu là công cụ thủ công, công nghệ khoa học kỹ thuật chưa được ứng dụng nhiều tuy nhiên ngày nay thì khác, sự thay đổi khoa học kỹ thuật là con đường mới cho phát triển kinh tế hộ. Các hộ nông dân chưa thực sự tiếpa cân được khoa học kỹ thuật hiện đại. Họ sản xuát theo phương thức cũ đã có từ hàng ngàn năm để lại, sủ dụng công cụ thủ công có từ lâu đời. Vì vậy năng suất lao động thấp, cần nhiều lao động để sản xuất. Từ khi đổi mới, Đảng và nhà nước ta tạo điều kiện cho người nông dân được tiếp cận khoa học hiện đại đổi mới tư duy lúa nước của người nông dân cho nên khoa học công nghệ đã được áp dụng rộng rãi trong nông thôn ngày nay. Thay đổi phương thức sản xuất thủ công sang phương thức hiện đại,sử dụng máy móc công nghiệp, giảm số lượng lao động của ngành nông nghiệp để chuyển sang nghành khác. năng suất lao động cũng được nâng cao, mang lại hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho người nông dân. Các hộ sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp là chủ yếu. Sản xuất trong hộ với mục đích phục vụ nhu cầu tieu dùng của các thành viên trong hộ là chính nên sản xuất kinh doanh của hộ chưa khai thác hết yếu tố sản xuất như đất đai, giống cây trồng vật nuôi… Trong năm 2007 nước ta có khoảng 14 triệu hộ nông dân thì có khoảng 12 triệu hộ nông dân làm nông nghiệp điều này chứng tỏ hộ sản xuất trong nghành nông nghiệp là chính. Người lao động mang tư tưởng sản xuất cũ nên sản xuất hàng hoá chưa được chú trọng, các yếu tố lao động, đất đai tài nguyên thiên nhiên cưa được khai thác hết tiềm năng. trong điều kiện sản xuất hàng hoá, các hộ có điều kiện khai thác các yếu tố đó tốt hơn, chuyên môn hoá người lao động chỉ chú trọng vào sản xuất loại một sản phẩm nên họ có kinh nghiệm hơn, có thời gian khai thác tìm ra cách làm có hiệu quả cao hơn. Đất đai sử dụng cho cây tròng vật nuôi phù hợp nhất, tận dụng tiềm năng và tăng mùa vụ trên cùng diện tích đất đựơc sử dụng. Công cụ lao động đựoc khai thác với công suất cao, giảm thời gian chiết khấu, giảm chi phí đầu vào, nâng cao hiệu quả kinh tế. Rủi ro thường gặp là sản xuất kinh doanh phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Đối tượng sản xuất của họ chủ yếu là các cây chồng vật nuôi. các loại cây trồng vật nuôi phái sinh, phát triển theo quy luật sinh học. Do là cơ thể sống nên chúng nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh. Mọi sự thay đổi về điều kiện tời tiết khí hậu đều tác động trực tiếp đến sự phát triển của cây trồng, vật nuôi, đến kết quả thu hoạch sản phẩm cuối cùng. Do vậy sản xuất của người nông dân sẽ gặp rất nhiều khó khăn và họ phải phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên. Hộ sản xuất sủ dụng chủ yếu là lao động tự có trong gia đình. Một số hộ sản xuất hàng hoá có thể thuê thêm lao động nhưng với số lượng ít. Giải quyết công ăn việc làm cho lao động trong gia đình. Các nghành nghề của hộ thường đa sạng như nông lâm ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thậm chí bao gồm cả các lĩnh vực công nghiệp may mặc và xây dung cơ bản. Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của ngành nông nghiêp sản xuất mang tính thời vụ cao, phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. tính thời vụ biểu hiện ở tính lãng phí nguồn lao đông, lãng phí vốn. để giải quyết vấn đề đó thì việc kết hợp nông nghiệp với các nghành nghề phụ là một biện pháp mang lại tính hiệu quả cao nhất. Trong những ngày nông nhàn, người lao động có thể tham gia sản xuất các nghành nghề phụ khác để tận dụng lao động, tạo công ăn việc làm và thu nhập. Vì vậy ngoài sản xuất nông nghiệp hộ còn có thể sản xuất trong những nghành khác. Khả năng cạnh tranh trên thị trường kém. Hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, tự hạch toán, kinh doanh ở quy mô nhở. Song hầu hết các hộ không có kiến thức thị trường, không có sự bảo hộ, hàng hoá lên kết với nhau, không tạo ra được chỗ đứng trên thị trường nên việc cạnh tranh trên thị trường là rất khó khăn. Nguồn vốn dùng trong sản xuất chủ yếu là nguồn vốn tự có hoặc vay mương người thân với qui mô nhỏ. Đặc điểm nền kinh tế của chúng ta đi lên từ nông nghiệp lúa nước lạc hậu, thu nhập của nông dân còn rất thấp. Do vậy nguồn vốn tự có của các hộ nhỏ, không đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ. Nhưng hiện nay vẫn còn tất ít hộ được tiếp xúc bới nguồn vốn của ngân hàng. Đây là nguồn vốn có chi phí rẻ, nhanh chóng và dễ tiếp cận. Cần làm thay đổi quan điểm của người nông dân ngại tiếp xúc với ngân hàng vì họ không muốn nợ nần, rườm rà, để người thiếu vốn có vốn để sản xuất. Từ các đặc điểm trên cho thấy khả năng khai thác tiềm năng kinh tế hộ là rất lớn. Góp phần phát triển không nhũng cho kinh tế hộ mà còn là động lực phát triển kinh tế cho những nghành có liên quan. Nhưng thực tế cho thấy tự kinh tế hộ không thể tự mình phát triển mà cần có sự giúp đỡ của các cơ quan ban nghành đoàn thể, trong đó có ngân hàng. ngân hàng là người cung ứng vốn nhưng đồng thời cũng cần kết hợp với các quan chức năng kác để giúp người dân thay đổi cách nghĩ cách làm, áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh để mỗi đồng vốn bỏ ra cho hiệu quả cao. 1.1.3. Vai trò hộ sản xuất với sự phát triển kinh tế. Nước ta là một nước nông nghiệp với trên 70% dân số sống ở vùng nông thôn. Nông nghiệp phát triển là điều kiện, là có sở nền tảng để cả nên kinh tế phát triển. Kinh tế hộ ở Việt Nam là thành phần chính, giữ vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế nông nghiệp. Nên vai trò của kinh tế hộ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước đóng vai trò quan trọng. Thứ nhất: Sản xuất sản phẩm nông sản đáp ứng nhu cầu cho toàn xã hội, đặc biệt với những nước có nền kinh tế đang trong thời kỳ quá độ đứng trứơc ngưỡng cửa đổi mới. ở nước ta do đặc điểm là một nước nông nghiệp nên dân số tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn là chính, thu nhập của họ chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Sự phát triển của nền nông nghiệp gắn lion với cuộc sống của họ. Họ là những người sản xuất nông sản cho cả xã hội điều đó giúp cho sự ổn định về thực phẩm là nền tảng để phát triển kinh tế ổn định, tạo tâm lý tốt cho người dân, giảm căng thẳng về nạn thất nghiệp, tệ nạn xã hôi, lạm phát. Hai là: Kinh tế hộ đã góp phần quan trọng trong khai thác nguồn lực tại chỗ như lao động, đất đai, tài nguyên… ở mức độ phát triển thấp các yếu tố sản xuấ không được khai thác hết tiềm năng, do không biết cách sử dụng. Khi phát triển cao hơn trở thành sản xuất hàng hoá thì các yếu tố sản xuất được khai thấc có hiệu quả, mang lại lợi ích kinh tế. Kinh tế hộ càng phát triển mang lại thu nhập và tích tụ vốn để tái sản xuát mở rộng, kéo theo việc khai thác các nguồn lực có hiệu quả hơn. Ba là: kinh tế hộ là một đơn vị kinh tế tự chủ, hộ từng bước thích ứng với kinh tế thị trường, áp dụng khoa học kĩ thuất vào đời sống. Hộ sản xuất tự hạch toán thu chi, tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi trong hoạt động sản xuất. Do vậy hộ được coi là một đơn vị kinh tế tự chủ. Trong thòi kỳ đổi mới, giống như các thành phần kinh tế khác, hộ cũng từng bước thay đổi để thích nghi với kinh tế thị trường: chuyển từ sản xuất từ sản xuất tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa, chuyển từ sản xuất cái mình có sang sản xuát sản phẩm theo nhu cầu thị trường để nâng cao tính cạnh tranh và tạo đầu ra cho sản phẩm sản xuất. đồng thời, các hộ thay đổi lối sản xuất theo các qui trình công nghệ hiện đại, áp dụng máy móc, nuôi trồng cây con có năng suất cao phẩm chất tốt. Qua đó thể hiện sự tiến bộ của người dân trong nhận thức, sơm thích nghi với điều kiện mới. Bốn là: kinh tế hộ là thành phần chủ yếu ở nông thôn góp phần xây dung hệ thống kết cấu hạ tầng ở nông thôn theo mô hình nhà nước và nhân dân cùng làm. Trong các thành phần kinh tế ở nông thôn có kính tế trang trại, kinh tế hộ, kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước, song kinh tế hộ đóng vai trò chủ đạo. kinh tế hộ thu hút số lượng lao động lớn nhất ở nông thôn và sản xuất ra sản lượng lương thực lớn nhất trong nghành nông nghiệp, nên nó là thành phần kinh tế chủ yếu ở nông thôn. nền kinh tế ở nước ta còn đang trên đường phát triển, ngân sách nhà nước hạn hẹp, việc đầu tư cho hệ thống hạ tầng ở nông thôn trông chờ vào ngân sách nhà nước rất khó khăn. Sự chung sức nhà nước và nhân dân góp phần đâỷ mạnh việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng,vừa phục vụ cho nhu cầu của nhân dân tại địa phương, vừa thúc đẩy sự phát triển chung của toàn xã hội. Giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Để có thể thực hiện điều đó yêu cầu hộ nông dân phải có tiềm năng kinh tế, để có thể cùng nhà nước đống góp xây dung các công trình hạ tầng. Kinh tế hộ phát triển là điều kiện cần để hộ có khả năng tham gia đóng góp xây dựng cho công trình đó. Năm là: kinh tế hộ là nơi cung cấp nguyên liệu cho các ngành sản xuát, đồng thời cũng là nơi tiêu thụ sản phẩm rộng lớn cho toàn bộ nền kinh tế. Kinh tế hộ là nơi cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến, cung cấp lao động dư thừa cho các ngành kinh tế quốc dân. trong tương lai, công nghiệp chế biến được phát triển tới trình độ cao hơn, nâng giá trị hàng hoá bán ra. Cơ cấu kinh tế sẽ dần chuyển dịch, công nghiệp và thương mại được xác định là ngành kinh tế đóng góp chủ yếu trong GDP, nguồn lao động dư thừa trong nông nghiệp sẽ được chuyển sang ngành công nghiệp và dịch vụ. thị trường nông thôn là nơi cung cấp nguyên liệu, lao động chính cho ngành sản xuất. Với số lượng dân số chiếm tỷ lệ cao, nông thôn là thị trường tiềm năng cho những nhà sản xuất. Sáu là: Thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá, tích tụ vốn. Đất nước ta là một nước đi lên từ nền nông nghiệp lúa nước hiện nay chúng ta xuất khẩu rất nhiều gạo, xuất khẩu cà phê, hạt điều, hạt tiêu… đều đứng ở vị trí cao đó là những con số đáng khâm phục. Song với tiềm năng của chúng ta còn có thể xuất khẩu với khối lượng lớn và giá trị cao hơn. Để làm được điều đó cả hai ngành công nghiệp và nông nghiệp cùng phải bắt tay để tạo ra sản phẩm vừa có chất lượng cao vừa có năng suất cao, hạn chế xuất khẩu nguyên liệu thô, chú trọng chế biến thành phẩm để thu được lợi nhuận cao hơn. Như vậy vai trò kinh tế hộ ở nước ta có vai trò quan trọng, nó vừa tạo sự phát triển bền vững cho ngành nông nghiệp, đồng thời góp phần tích tụ vốn. Phát triển kinh tế hộ là điều kiện không thể thiếu trong tình hình đất nước ta đã ra nhập WTO. 1.2. Mở rộng tín dụng ngân hàng đối với hộ sản xuất. 1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng. Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các Ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm cả các công ty kinh doanh chứng khoán, công ty môi giớ chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của Ngân hàng. Ngược lại, Ngân hàng đang đối phó với các đối thủ cạnh tranh( các tổ chức tài chính phi Ngân hàng) bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác. Xem xét Ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà Ngân hàng cung cấp. Ngân hàng là các tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm, dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế. Xem xét tín dụng trên chức năng của ngân hàng thì tín dụng được hiểu là một giao dịch về tài sản giữa ngân hàng và khách hàng, trong đó ngân hàng giao tài sản cho khách hàng trong khoảng thời gian xác định, khách hàng có nghĩa vụ hoàn trả cho ngân hàng cả gốc và lãi khi đến hạn thanh toán vô điều kiện. 1.2.2. Phân loại tín dụng. Có nhiều cách phân loại tín dụng khác nhau tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lỹ của ngân hàng. Cụ thể là một số cách phân loại sau. Cách thứ nhất: phân loại theo thời hạn tín dụng. Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Theo thời gian, tín dụng đựơc phân thành: Tín dụng ngắn hạn: từ 12 tháng trở xuống. Tín dụng trung hạn: từ trên 1 năm đến 5 năm. Tín dụng dài hạn: từ trên 5 năm. Tài sản lưu động thường có vòng quay trên 1 vòng trong một năm. Do vạy, ngân hàng cấp tín dụng ngắn hạn vời thời hạn 1 năm trở xuống. Các tài sẳn cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi trang thiết bị chóng hao mòn có yêu cầu tài trợ từ trên 1 đến 5 năm. Công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường máy móc thiết bị có giá trị lớn thường có thời gian sử dụng lâu có yêu cầu tài trợ trên 5 năm có thể lên tới 10 hoặc 30 năm. Thời hạn thường được xác định cụ thể và ghi trong hợp đồng tín dụng. Thời hạn tín dụng có thể được tín từ lúc đồng vốn đầu tiên được cho vay đến khi thu hồi cả gốc và lãi về. Thời hạn tín dụng cũng có thể là khi kết thúc dự án ngân hàng sẽ xem xét quan hệ tín dụng và cũng có thể gia hạn hoặc chấm dứt quan hệ tín dụng. Có khoản cho vay không xác định được trước thời hạn như cho vay luân chuyển. Khách hàng thoả thuận với ngân hàng về việc ngân hàng được quyền trích tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán để thu nợ khi tài khoản có tiền. Việc xác định trước khi thời hạn thu nợ trong trường hợp này có thể gây khó khăn cho khách hàng trog việc tiêu thụ sản phẩm. Thời gian chiết khấu thương phiếu là thời hạn còn lại của thương phiếu. Thời hạn bảo lãnh, được thoả thuận ghi trong hợp đồng bảo lãnh. Nếu là cho thuê, thời gian được tính từ lúc ngân hàng giao tài sản cho khách hàng đến lúc khách hàng hoàn đủ tiền. Thứ hai: phân loại tín dụng theo hình thức gồm: chiết khấu, cho vay bảo lãnh và cho thuê. Thứ ba: phân loại theo tài sản đảm bảo. Tài sản đảm bảo cáckhoản tín dụng cho phép ngân hàng có được nguồn thu nợ thư hai bằng cách bán các tài sản đó khi nguồn thu nợ thứ nhất( từ quá trình sản xuất kinh doanh) không có hoặc không có đủ. Tín dụng có thể đựơc phân chia thành tín dụng có đảm bảo bằng uy tín của chính khách hàng, có đảm bảo bằng thế chấp, cầm cố tài sản. Cam kết đảm bảo là cam kết của người nhận tín dụng về việc dùng tài sản mà mình đang đang sử dụng, hoặc khả năng trả nợ của người thứ ba cho ngân hàng. Tín dụng không cần tài sản đảm bảo có thể được cấp cho các khách hàng có uy tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nần dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay. Các khoản cho vay theo chỉ thị của chính phủ mà chính phủ yêu cầu không cần tài sản đảm bảo. các khoản cho vây đối với các tổ chức tài chính lớn, các công ty lớn, hoặc những khoản cho vay trong thời gian ngắn mà ngân hàng có khả năng giám sát việc bán hàng ….cũng có thể không cần tài sản đảm bảo. Tín dụng dựa trên cam kết đảm bảo yêu cầu ngân hàng và khách hàng phải kí hợp đồng đảm bảo. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được thực trạng của tài sản đảm bảo(quyền sở hữu, giá trị, tính thị trương, khả năng bán, khả năng tài chính của người thư ba…) có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc khả năng bảo quản tài sản đảm bảo. Phân loại tín dụng theo rủi ro. Ngân hàng tiến hành nghiên cứu các mức độ, các căn cứ để chia loại rủi ro. Một số Ngân hàng lớn chia tới 10 thang bậc rủi ro theo các dấu hiệu của rủi ro từ thấp đến cao cho các khoản mục tài sản, bao gồm cả nội và ngoại bảng cho vay, bảo lãnh, đánh giá lại tính an toàn của các khoản tín dụng, trích lập dự phòng tổn thất kịp thời. Tín dụng lành mạnh: các khoản tín dụng có khả năn thu hồi cao: Tín dụng có vấn đề cần xem xét: các khoản tín dụng có dấu hiệu không lành mạnh như khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chính. Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: Các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn ngắn và khách hàng đã có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản đảm bảo có giá trị lớn… Nợ quá hạn khó đòi: Nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ì… Phân loại khác. Theo nghành kinh tế Theo đối tượng tín dụng( tài sản lưư động, tài sản cố định) Theo mục đích (sản xuất, tiêu dùng…) Các cách phân loại này cho thấy tính đa dạng hoặc chuyên môn hoá trong cấp tín dụng của ngân hàng. với xu hướng đa dạng, các Ngân hàng sẽ mở rộng phạm vi tài trợ song vẫn có thể duy trì những lĩnh vực mà Ngân hàng có lợi thế. ví dụ Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, bên cạnh việc đa dạng hoá các nghành tài trợ vãn tập trung tài trợ cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi gắn liền với hững lĩnh vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng phù hợp. 1.2.3. Các chỉ tiêu chí phản ảnh chất lượng mở rộng cho vay đối với hộ sản xuất. Thu nhập từ hoạt động cho vay Thu nhập từ hoạt động cho vay = *100%. Thu nhập từ hoạt động cho vay của Ngân hàng phản ánh hiệu qủa chất lượng cho vay của Ngân hàng với khách hàng, dựa vảo doanh thu từ lãi và chi phí mà Ngân hàng phải bỏ ra trên số tiền mà Ngân hàng phải bỏ ra để kinh doanh trong một thời gian xác định thường tính là một quí hoặc một năm. Tỉ lệ nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phản ánh sự an toàn của Ngân hàng. Thông thường chỉ tiêu nợ quá hạn của ngân hàng không được vượt quá 5% trên tổng dư nợ. Nếu tỉ lệ nợ quá hạn lớn hơn 5%, ngân hàng có khả năng đổ vỡ. Tỷ lệ nợ quá hạn = * 100%. Hiện nay chỉ tiêu nợ quá hạn của các ngân hàng thương mại Việt Nam thường cao hơn 5%. Trong quyết định 127 của ngân hàng nhà nước đã đề ra cách tính nợ quá hạn mới, nhằm tiếp cận với cách tính theo tiêu chuẩn quốc tế và hiện đại hoá ngân hàng theo chuẩn quốc tế. Tỉ lệ nợ quá hạn hộ sản xuất = *100% Chỉ tiêu này phản ánh tỉ lệ nợ quá hạn cho vay hộ sản xuất trong tổng dư nợ quá hạn của ngân hàng. nếu tỉ lệ này thấp chứng tỏ dư nợ hộ sản xuất không ảnh hưởng nhiều tới chất lượng tín dụng của ngân hàng. Để nâng cao chất lượng tín dụng cần phải nâng cao chất lượng tín dụng của ngân hàng. để nâng cao chất lượng tín dụng cần phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất. Tỉ lệ hộ có quan hệ vay vốn với Ngân hàng. Tỷ lệ có quan hệ vay vốn NH = *100%. Tỉ lệ này phản ánh tỉ lệ số hộ đã tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng. Đồng thời phản ánh số hộ vẫn chưa tiếp cận được với nguồn vốn của ngân hàng. Từ đó thấy được sự quan tâm của các hộ tới Ngân hàng và ảnh hưởng của Ngân hàng tới đời sống của dân cư trong khu vực. 1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới mở rộng cho vay hộ sản xuất. 1.3.1. Nhân tố thuộc về môi trường pháp lý. Thứ nhất: Chính phủ thực hiện chính sách giảm bao cấp và can thiệp trực tiếp. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ Ngân hàng được thúc đẩy bởi sự giảm bớt bao cấp và can thiệp trực tiếp của chính phủ trong thời kỳ bao cấp. Nhà nước bao cấp cho các Ngân hàng và doanh nghiệp. Đồng thời với chính sách này là qui định của Nhà nước về đối tượng cho vay, lãi suất, ngành nghề…Mỗi doanh nghiệp chỉ được quan hệ với một Ngân hàng trên địa bàn, lãi nộp ngân sách, lỗ ngân sách bù… Xu hướng giảm và dần xoá bỏ hoàn toàn bao cấp của Nhà nước đối với các doanh nghiệp và Ngân hàng đã tạo quyền chủ động cho các Ngân hàng. các hoạt động của ngân hàng chính sách được phân biệt với các hoạt động của Ngân hàng thương mại, từng bước, nợ xấu được bù đắp bằng quĩ dự phòng tổn thất, các Ngân hàng được mở rộng nhiều dịch vụ Ngân hàng, quyết định đối tượng cho vay, lãi suất và các điều kiện cho vay, mức phi…các doanh nghiệp được quyền giao dịhc với nhiều Ngân hàng. Giảm và xoá bao cấp của Nhà nước đối với ngân hàng đã tạo sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình Ngân hàng, buộc các Ngân hàng phải thực sự kinh doanh trên cơ sở phục vụ khách hàng. Thứ hai: Môi trường pháp lí là chuẩn mực để mọi người tuân theo. Một môi trường pháp lí thuận lợi có tác động tích cực tới sự phát triển của kinh tế xã hội, ngược lại, một môi trường pháp lý không ổn định, không đồng bộ là lực cản lớn cho xã hội, mang lại công bằng cho tất cả các tổ chức cá nhân, tạo niền tin vào chính quyền điều hành. Ngân hàng khi hoạt động đều phải tuân thủ theo pháp luật của nhà nước. Hoạt động mở rộng cho vay cũng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ môi trường pháp lí, mặc dù các quy định này nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động cho vay như hạn chế cho vay các ngành nghề, hạn chế số tiền vay của khách hàng…ngoài ra những chính sách phát triển về môi trường nông nghiệp nông thôn khác có ảnh hưởng gián tiếp tới hoạt động cho vay của Ngân hàng. vì vậy, môi trường pháp lý là nhân tố ảnh hưởng toái việc mở rộng cho vay. 1.3.3. Môi trường kinh tế. Môi trường kinh tế là nơi cung cấp các nguyên liệu đầu vào cho sản xuất đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm làm ra cho nông dân. Nếu không có nguyên liệu đầu vào thì không thể sản xuất, không bán được sản phẩm làm ra hoặc bán với giá rẻ thì người nông dân không tiếp tục sản xuất. Để sản xuất phát triển cần có thị trường ổn định. Hoạt động mở rộng cho vay hộ sản xuất phụ thuộc mong muốn phát triển sản xuất của hộ. Nếu hộ không sản xuất, không có nhu cầu về vốn thì Ngân hàng cũng không thể cho vay. Hộ mong muốn phát triển mở rộng sản xuất là điều kiện để Ngân hàng mở rộng cho vay. Vậy môi trường kinh tế ảnh hưởng trực tiếp tới mở rộng tín dụng của Ngân hàng. 1.3.4. các nhân tố tác động tới Ngân hàng. 1.3.4.1. Chính phủ thực hiện chính sách giảm bao cấp và can thiệp trực tiếp. Cạnh tranh và quá trình mở rộng dịch vụ ngân hàng được thúc đẩy bởi sự giảm bớt bao cấp và can thiệp trực tiếp của chính phủ trong thời kỳ bao cấp. Nhà nước bao cấp cho các Ngân hàng và doanh nghiệp. Đồng thời với chính sách này là qui định của Nhà nước về đối tượng cho vay, lãi suất, ngành nghề… mỗi doanh nghiệp chỉ được quan hệ với một Ngân hàng trên địa bàn, lãi nộp ngân sách, lỗ ngân sách bù… Xu hướng giảm và dần xoá bở hoàn toàn bao cấp của Nhà nước đối với các doanh nghiệp và Ngân hàng. Các hoạt động của Ngân hàng chính sách đựơc phân biệt với các Ngân hàng. Các hoạt động của ngân hàng chính sách được phân biệt với các hoạt động của ngân hàng thương mại. từng bước, nợ xấu được bù đắp bằng quĩ dự phòng tổn thất. Các Ngân hàng được mở rộng nhiều dịch vụ ngân hàng, quyết định đối tượng cho vay, lãi suất và các điều kiện cho vay, mức phí… các doanh nghiệp được quyền giao dịch với nhiều Ngân hàng. Giảm và xoá bao cấp của Nhà nước đối với Ngân hàng đã tạo sân chơi bình đẳng cho mọi loại hình ngân hàng, buộc các ngân hàng phải thực sự kinh doanh trên cơ sở phục vụ khách hàng. 1.3.4.2. Sự phát triển của nhu cầu dịch vụ tài chính. Sự phát triển của các tổ chức tài chính, sự thay đổi công nghệ, đòi hỏi cao hơn của khách hàng đã dẫn đến gia tăng các loại hình dịch vụ Ngân hàng. Các Ngân hàng đang mở rộng danh mục dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Quá trình này làm tăng những nguồn thu mới cho Ngân hàng đồng thời cũng gia tăng chi phí của Ngân hàng và dẫn đến rủi ro phá sản cao hơn. Như vậy đa dạng hoá các dịch vụ đòi hỏi Ngân hàng phải nâng cao trình độ của nhân viên Ngân hàng( chi phí đào tạo), thiết lập các phòng chức năng thích ứng cho dịch vụ mới. 1.3.4.3. Xu hướng đa dạng hoá trong môi trường hội nhập kinh tế quốc tế. Thời kỳ bao cấp được đánh dấu bằng các Ngân hàng chuyên doanh. Thời kỳ đổi mới cơ chế, dưới ảnh hưởng của công nghệ và toàn cầu hoá, Ngân hàng cần phải đa dạng các loại dịch vụ và mở rộng hoạt động bằng cách vươn tơi các thị trường mới trong và ngoài nước. Đa dạng hoá và mở rộng thị trường là điều kiện để hạn chế rủi ro và cung cấp cho khách hàng về hình ảnh một Ngân hàng toàn diện. Các Ngân hàng chuyên doanh của Việt Nam từng bước chuyển sag mô hình đa năng, cung cấp tất cả các dịch vụ của Ngân hàng. Ví dụ các ngân hàng để muốn mở rộng dịch vụ thanh toán quốc tế trước đây chỉ có Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam. Mở rộng cho vay xây dựng cơ bản, cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn… nhiều ngân hàng thành lập các công ty con như công ty bảo hiểm, chứng khoán, cho thuê… nhiều Ngân hàng liên doanh với các Ngân hàng nước ngoài hoặc phát triển các chi nhánh tại các vùng của đất nước và quốc tế, hoặc phát triển mạng lưới Ngân hàng đại lí. Nhiều ngân hàng mua lại ngân hàng khác. Xu hướng ngày đang biến Ngân hàng trở thành tổ chức tài chính đa năng. 1.3.4.4. Sự gia tăng cạnh tranh trên thị trường tài chính. Sự cạnh tranh trong lĩnh vực tài chính đang ngày càng trở nên quyết liệt khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng dịch vụ. Các Ngân hàng các quĩ đầu tư, các quỹ hưu trí danh mục dịch vụ. Các Ngân hàng, các hiệp hội tiết kiệm và thị trường dịch vụ. áp lực cạnh tranh đóng vai trò quan trong như lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai. Cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng cung cấp các tiện ích ngày càng tốt hơn cho khách hàng. Công chúng có một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết kiệm của mình. Nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển. Lãi suất cho vay và điều kiện cho vay cũng thông thoáng hơn. như vậy cạnh tranh buộc các Ngân hàng thương mại phải áp dụng công nghệ mới thay đổi tư duy về tuyển dụng nhân sự, mức lương, quảng cáo và đặc biệt chú ý tới chất lượng các dịch vụ. 1.3.4.5. Yêu cầu tăng vốn. Vốn của ngân hàng là điều kiện ban đầu để thành lập Ngân hàng. Vốn là nguồn tài trợ chính cho xây dựng trụ sở Ngân hàng mua sắm thiết bị. Vốn ngân hàng có chức năng quan trọng là chống đỡ rủi ro cho những người gửi tiền. Do vậy, vốn tối thiểu luôn được các cơ quan chức năng kiểm soát Ngân hàng quan tâm. Rất nhiều các chỉ tiêu hoạt động của Ngân hàng bị ràng buộc với vốn như mức huy động tối đa, mức cho vây tối đa cho một khách hàng. Rất nhiều Ngân hàng được thành lập vào cuối những năm 80 và đầu năm 90. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ chế tại Việt Nam, do thị trường tài chính chưa phát triển, dân chúng chưa quen cới cổ phần, và hơn nữa thu nhập của đại bộ phận nhân dân còn thấp, điều này hạn chế các Ngân hàng Việt Nam tiếp cận với các khách hang có nhu cầu vay lớn. Vốn thấp cũng gây gánh nặng tài chính cho ngân hàng cũng như cho quốc gia khi các ngân hàng bị phá sản. mặt khác vốn thấp cũng hạn chế các Ngân hàng mở rộng các dịch vụ và qui mô huy động. 1.3.4.6. Cách mạng trong công nghệ Ngân hàng. Lao động thủ công của các ngân hàng Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đang ngày càng được thay thế dần bằng các hệ thống máy. Các hoạt động huy động, chi trả tiền gửi cho khách đang được thực hiện trên Ngân hàng mở rộng dịch vụ Ngân hàng qua mạng, ngân hàng qua điện thoại. Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ máy tính trên các công nhân viên ngân hàng gần như cao nhất Việt Nam. Kinh doanh ngoại hối quốc tế đang đòi hỏi Ngân hàng phải nối mạng với các trung tâm tiền tệ quốc tế. Công nghệ hiện đại cho phép Ngân hàng vươn xa hơn ngoài trụ sở Ngân hàng. Liên kết với nhau cùng sử dụng mạng công nghệ điều này tạo cơ hội cho các Ngân hàng cạnh tranh, sát nhập, chi phí lẫn n._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc24872.doc
Tài liệu liên quan