Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ở Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến

Lời mở đầu Sau những năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đang dần chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Cùng với sự thay đổi của nền kinh tế là sự thay đổi về cách nhìn nhận, về hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập mở cửa, tham gia các tổ chức kinh tế trong khu vực và thế giới. Do đó, không ít doanh nghiệp đã tỏ ra lúng túng, nhiều doanh nghiệp sản xuất kinh doanh không có hiệu quả, thậm chí đã dẫn

doc54 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1309 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ở Công ty Kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
đến phá sản. Sở dĩ như vậy vì phần đông các doanh nghiệp chưa thực sự có những tác nghiệp hay chưa chuyên sâu chú trọng trong công tác tiêu thụ sản phẩm trong nền kinh tế diễn ra như hiện nay. Trong cơ chế như vậy, câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp là sản xuất cái gì ? Sản xuất như thế nào ? Sản xuất cho ai ? Chính những câu hỏi này doanh nghiệp phải tự tìm cách trả lời sao cho thật thấu đáo toàn diện, phù hợp với nền kinh tế như hiện nay. Đó là vấn đề cần thiết đối với các doanh nghiệp, với sự xuất hiện của rất nhiều đối thủ cạnh tranh trong cùng sản phẩm thì hơn bao giờ hết vấn đề tiêu thụ sản phẩm càng trở nên khó khăn hơn. Quy luật thị trường là có cung sẽ có cầu và ngược lại cụ thể ở 1 số góc độ nào đó. Tiêu thụ được sản phẩm các doanh nghiệp mới có khả năng thu hồi vốn và chi trả các khoản chi phí trong quá trình cấu tạo nên sản phẩm đến khi tới tay người tiêu dùng. Và mục đích cuối cùng là có và thu được nhiều lợi nhuận. Làm tốt công tác tiêu thụ tức là đã trả lời được câu hỏi sản xuất cho ai ? Công tác này làm càng tốt, càng nhanh thì doanh nghiệp càng có khả năng đẩy mạnh nhanh vòng quay của vốn, tăng thu lợi nhuận, giảm chi phí, phát triển, sản xuất, nâng cao đời sống người lao động, khẳng định vị trí của mình trên thương trường. Vậy làm thế nào để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm ? Đó là cả 1 quá trình nghiên cứu tìm tòi, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động cộng với đôi chút may rủi trong sản xuất kinh doanh .... cộng với sự quản lý sáng suốt, linh hoạt và nhạy bén của các nhà quản lý doanh nghiệp để có được hướng đi đúng đắn nhằm củng cố và phát triển doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác tiêu thụ sản phẩm, mong muốn được đánh giá kiến thức ít ỏi của bản thân, trong quá trình thực tập tại công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến, tôi đã cố gắng tìm hiểu nghiên cứu hoạt động tiêu thụ của công ty thông qua chuyên đề "Một số biện pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ở công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến". Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nghiệp vụ hoạt động tiêu thụ của Doanh Nghiệp. Cụ thể là hoạt động tiêu thụ ở Công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến. Trong chuyên đề này, tôi đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp từ lý luận đến thực tiễn, kết hợp phương pháp duy vật Biện Chứng để xem xét các nghiệp vụ tiêu thụ tại Công ty. Nội dung của chuyên đề được trình bày ở 3 chương : Chương I : Tiêu thụ sản phẩm và vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp (Công ty Việt Tiến). Chương II : Thực trạng tiêu thụ sản phẩm ở Công ty. Chương III : Một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh hoạt động tiêu thụ ở Cty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến. Qua đây em xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến cô giáo Trần Thị Hoàng Hà đã tận tình hướng dẫn cùng với sự giúp đỡ của ban lãnh đạo công ty đặc biệt là Bác Nguyễn Văn Bình Trưởng phòng Tổ Chức công ty để em có thể hoàn thành chuyên đề này. Chương I tiêu thụ sản phẩm và vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp I. Khái niệm, vai trò của tiêu thụ sản phẩm đối với doanh nghiệp. 1. Định nghĩa : hĐã có rất nhiều quan niệm khác nhau về tiêu thụ hàng hoá, tuỳ theo phạm vi và đối tượng nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu đưa ra những khái niệm khác nhau. Nhưng tổng kết lại thì tiêu thụ sẩn phẩm có thể tiếp cận trên các giác độ : - Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là 1 hành vi. - Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là 1 khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. - Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là 1 quá trình. h Việc lựa chọn cách tiếp cận tiêu thụ sản phẩm có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ cách thức tổ chức kinh doanh của Doanh Nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là 1 hành vi tương ứng với hành động thực hiện khi người bán đối mặt trực diện với người mua : thoả thuận, thương lượng, kí kết hợp đồng và thực hiện các thao tác trao đổi hàng tiền giữa người mua và người bán. Trường hợp này có thể hiểu tiêu thụ sản phẩm theo nghĩa hẹp, nghĩa là sự chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá (H - T). Trong trường hợp này, tiêu thụ đồng nghĩa với bán hàng hay hiểu là người bán trực tiếp đưa hàng cho người mua và người mua thanh toán cho người bán. Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là một khâu có nội dung rộng hơn bán hàng. Trong trường hợp nào bán hàng chỉ là một tác nghiệp cụ thể của một tiêu thụ sản phẩm các nội dung tiêu thụ sản phẩm trải rộng từ : Nghiên cứu thị trường, xây dựng kế hoạch sản xuất - mua hàng, chuẩn bị hàng hoá và đ/k bán hàng rồi kết thúc ở bán hàng. Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh , là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh Nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng, là yêu cầu nối trung gian một bên là sản xuất phân phối và một bên là tiêu dùng. Tiêu thụ sản phẩm với tư cách là một quá trình thực chất là mở rộng nội dung của tiêu thụ sản phẩm. Sản xuất kinh doanh là một quá trình phức tạp bao gồm nhiều khâu, nhiều bộ phận có quan hệ biện chứng bổ sung tích cực cho nhau và ảnh hưởng đến nhau cũng như ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng của toàn bộ quá trình tiêu thụ là lợi nhuận. Từng khâu, từng bộ phận, từng yếu tố có vai trò khác nhau và điều có tác động tích cực mạnh, tiêu cực đến kết quả cục bộ cũng như kết quả chung. Khi giải quyết tốt từng khâu, từng bộ phận, từng yếu tố không có nghĩa là một kết quả chung tốt mà nó còn có sự tác động ảnh hưởng của những yếu tố không thể kiểm soát được mà mỗi Doanh Nghiệp chỉ có thể giải quyết bằng cách có những phương án sau tiêu thụ hay chính là các biện pháp chỉnh sửa bổ sung để có kết quả chung tốt nhất cho quá trình tiếp theo. Do vậy chúng ta cần sắp xếp, đặt đúng vị trí và liên kết toàn bộ các khâu, các bộ phận trong hệ thống kinh doanh, thống nhất giải quyết các khâu, các bộ phận, các yếu tố phải đặt trong mục tiêu chung của cả hệ thống. Từ đó có cái nhìn khái quát nhưng cụ thể nhất. Tiêu thụ sản phẩm phải được liên kết chặt chẽ, hữu cơ với các khâu, các bộ phận các yếu tố của kinh doanh đã được thực hiện trước đó. Tiêu thụ sản phẩm có thể nói không chỉ xuất hiện cuối quá trình sản xuất, kinh doanh mà được bắt đầu ngay từ khi có ý tưởng kinh doanh, đây là vấn đề cốt lõi để trả lời câu hỏi sản xuất cho ai ? Phải đặt mục tiêu chiến lược, xây dựng kế hoạch cho đến khi bán sản phẩm. Tiêu thụ sản phẩm được xem xét ở góc độ này được hiểu là 1 quá trình làm. Đã là quá trình thì có nhiều bước hay giai đoạn cụ thể phải có bước khởi đầu và bước kết thúc quá trình và không thể có mở đầu mà không có kết thúc hay ngược lại. Khi nghiên cứu về tiêu thụ theo nghĩa rộng cho rằng tiêu thụ sản phẩm là quá trình kinh tế bao gồm nhiều khâu, nhiều giai đoạn liên quan đến nhiều nghiệp vụ quan trọng ở Doanh Nghiệp. Các nghiệp vụ kỹ thuật sản xuất gồm : Tiếp nhận, bao gói, phân loại, lên nhãn hiệu, ghép : Các nghiệp vụ về tổ chức quản lý bao gồm : Nghiên cứu thị trường, công tác kế hoạch, hoạch định, quảng cáo, hạch toán ... 2. Vai trò của tiêu thụ đối với sự tồn tại và phát triển của Doanh Nghiệp. Tiêu thụ sản phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh doanh, là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh Nghiệp. Trong sản xuất kinh doanh đặc biệt là khâu tiêu thụ hàng hóa thì Doanh Nghiệp xây dựng con đường nào đến với khách hàng đến với chúng ta bằng con đường ấy. Như vậy Doanh Nghiệp thường xuyên phải trông cậy hai bên con đường ấy để phủ mát để hứng bụi, tức là ngoài con đường ấy phải có sự đảm bảo chắc chắn về phương thức về tinh thần của con đường. Tiêu thụ sản phẩm thực hiện được mục đích của sản xuất hàng hoá là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến tiêu dùng. Nó là khâu lưu thông hàng hóa, là cầu nói trung gian giữa một bên là sản xuất và phân phối một bên là tiêu dùng. ở các Doanh Nghiệp, tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của Doanh Nghiệp. Khi sản phẩm của doanh nghiệp được tiêu thụ tức là nó đã được người tiêu thụ chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó. Nếu trong Doanh nghiệp thương mại thì tiêu thụ được sản phẩm để tái hoạt động kinh doanh của mình mở rộng vốn thì doanh nghiệp sản xuất bên cạnh tiêu thụ còn vấn đề nâng cao chất lượng vì chất lượng là vô hạn. Chất lượng tốt là gắn lợi ích người tiêu dùng và khả năng thanh toán của họ. Như vậy, doanh nghiệp mới có thể tiếp tục đầu tư không ngừng phát triển. Sức tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp thể hiện ở mức bán, là uy tín của doanh nghiệp , chất lượng sản phẩm, sự thích ứng với nhu cầu của người tiêu dùng và sự hoàn thiện các hoạt động dịch vụ. Nói cách khác, tiêu thụ sản phẩm phản ánh đầy đủ những điểm mạnh điểm yếu của Doanh nghiệp . Hoạt động tiêu thụ sản phẩm gắn nhà sản xuất với người tiêu dùng. Nó giúp cho các nhà sản xuất hiểu thêm về kết quả sản xuất của mình và nhu cầu khách hàng từ đó có được những chiến lược, mục tiêu cụ thể thành công hơn. Về phương diện xã hội thì tiêu thụ sản phẩm có vai trò trong việc cân đối giữa cung và cầu, sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là sản xuất đang diễn ra một cách bình thường, tránh được mất cân bằng giữa ổn định xã hội đồng thời giúp các đơn vị xác định được phương hướng và bước đi của kế hoạch cho giai đoạn tiếp theo. Và bên cạnh đó không ngừng nâng cao cuộc sống người lao động tăng thu nhập cho xã hội. 3. Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm. 3.1. Yếu tố thuộc về bên trong Doanh nghiệp. a. Đặc điểm về nghành nghề kinh doanh của Doanh nghiệp Ta có thể thấy rõ đặc điểm sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng lớn đến công tác tiêu thụ sản phẩm. Trong nghành công nghiệp, lĩnh vực sản xuất kinh doanh rất đa dạng, dựa trên trình độ kĩ thuật cao, việc sản xuất ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và thời vụ cho nên việc tiêu thụ sản phẩm được diễn ra thường xuyên và liên tục. Trong nghành nông nghiệp thì sản xuất theo thời vụ cho nên tiêu thụ tập trung chủ yếu vào mùa thu hoạch sản phẩm. Khác với hai nghành nghề trên, ngành xây dựng cơ bản đặc trưng là sản xuất đơn chiếc theo đơn đặt hàng, thời gian thi công kéo dài nên việc tiêu thụ sản phẩm cũng chỉ là những sản phẩm có thể phụ thuộc vào từng công trình cụ thể. b. Đặc điểm về tổ chức lao động trong Doanh nghiệp . Việc sắp xếp lao động trong Doanh nghiệp một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá. Bố trí và sắp người lao động phù hợp với trình độ chuyên môn, năng lực, tính yêu ngành nghề của họ sẽ tạo điều kiện để họ có thể phát huy hết năng lực của mình, cống hiến cho Doanh nghiệp . G,iống như một cỗ máy phức tạp nếu người chủ Doanh nghiệp biết, hiểu cơ thể của máy đó để từ đó khởi động chỉ huy sao cho phù hợp với sức của nó thì sẽ đem lại năng suất tuyệt đối, tạo ra một không khí hay người ta còn gọi cái đó là tinh thần Doanh nghiệp . c. Đặc điểm về sản phẩm. Khi nói về đặc điểm của hàng hoá thì người ta thường đề cập đến: - Chất lượng sản phẩm : Việc sản xuất sản phẩm hàng hoá phải gắn liền với việc đảm bảo và nâng cao chất lượng sản phẩm. Chất lượng sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng thúc đẩy hay kìm hãm công tác tiêu thụ sản phẩm. Trong kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm cũng là một vũ khí cạnh tranh sắc bén có thể dễ dàng đè bẹp các đối thủ và ngược lại nó cũng như con dao hai lưỡi. Chất lượng sản phẩm được nâng cao không ngừng có ảnh hưởng tới giá bán của sản phẩm mà điều quan trọng khác là thay đổi thị hiếu của khách hàng, làm cho khách hàng quen dùng chỉ một sản phẩm duy nhất của Doanh nghiệp . Sản phẩm được sản xuất ra có thể phân loại thành những sản phẩm cấp khác nhau : Loại rẻ tiền, đắt tiền hay loại I, II và giá bán của mỗi loại cũng khác nhau. Sản phẩm có cấp cao gía cao. Vì vậy chính chất lượng là gía trị được tạo thêm. Công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt Tiến không ngừng nâng cao chất lượng theo thị hiếu của người tiêu dùng theo nhịp độ của cuộc sống ở từng vùng thị trường, từng phong tục tập quán để đưa ra thị trường những sản phẩm phù hợp VD : Nếu ở các thị trường có mức thu nhập cao họ thường ăn mì đắt tiền tức là mì úp thì chất lượng sợi mì phải phù hợp với t0 thích hợp để trong một thời gian nhất định họ sẽ sử dụng được mà không làm thay đổi hương vị. Còn ngược lại ở vùng thị trường có mức thu nhập thấp, mấy năm gần đây nhu cầu người nông dân còn dùng mì làm canh trong bữa ăn hàng ngày. Do vậy, mì thường được đun sôi do vậy t0 độ rất cao và thường khua mì nên chất lượng đối với thị hiếu như này thì sợi mì phải dai, ròn và hương vị phù hợp cay ngọt. - Giá cả sản phẩm : Gía cả sản phẩm tác động rất lớn đến quá trình tiêu thụ sản phẩm về nguyên tắc giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá và giá cả xoay quanh giá trị hàng hoá. Với cơ chế thị trường hiện nay, giá cả được hình thành tự phát trên thị trường theo sự thoả thuận giữa người mua và người bán do đó doanh nghiệp có thể sử dụng hoàn toàn giá cả như một công cụ sắc bén để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Nếu Doanh nghiệp đưa ra một mức giá phù hợp với chất lượng sản phẩm, được đông đảo người tiêu dùng chấp nhận họ sẽ dễ dàng tiêu thụ sản phẩm của mình. Ngược lại nếu định giá quá cao người tiêu dùng không chấp nhận thì Doanh nghiệp chỉ có thể ngồi nhìn sản phẩm chất đống trong kho của mình. Mặt khác, nếu Doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt làm cho giá thành sản phẩm thấp Doanh Nghiệp có thể bán hàng với gía thấp hơn mặt bằng giá cả các sản phẩm cùng loại trên thị trường. Đây là một lợi thế cạnh tranh giúp cho Doanh Nghiệp có thể thu hút được cả khách hàng của các đối thủ cạnh tranh, từ đó dẫn đến sự thành công của doanh nghiệp trên thị trường. - Kết cấu sản phẩm. Mỗi một mặt hàng có thể có mức lãi lỗ khác nhau. Do đó trong thực tế nếu tăng tỉ trọng tiêu thụ mặt hàng có mức lãi cao, giảm tỉ trọng mặt hàng có mức lãi thấp hoặc thậm chí lỗ thì mặc dù tổng sản lượng tiêu thụ không đổi nhưng số lợi nhuận tiêu thụ sẽ tăng và ngược lại, ảnh hưởng của nhân tố này có thể mang tính chất chủ quan. Nói chung, việc thay đổi cơ cấu mặt hàng tiêu thụ thường do sự biến động của nhu cầu tiêu dùng, tức là do sự biến động của thị trường. Trong trường hợp này Doanh Nghiệp phải điều chỉnh cho phù hợp với sự biến động đó để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng đa dạng, thường xuyên biến động. Trong điều kiện sản xuất kinh doanh hiện nay, để nâng cao hiệu quả kinh tế các Doanh nghiệp phải đưa ra thị trường nhiều loại sản phẩm khác nhau. - Chu kỳ sống của sản phẩm. Không một loại sản phẩm nào có thể tồn tại mãi mãi nếu như nó không có sự cải tiến theo xu hướng phát triển của thời đại. Sở dĩ như vậy vì sản phẩm có chu kỳ sống, chu kỳ sống của sản phẩm được chia ra làm 4 giai đoạn : + Giai đoạn xuất hiện. + Giai đoạn phát triển. + Giai đoạn bão hoà. + Giai đoạn suy thoái. Mỗi một giai đoạn tồn tại và phát triển lâu hay chậm đều phụ thuộc vào sản phẩm cụ thể về những đặc tính, tính chất khác nhau. d. Công tác tổ chức bán hàng của Doanh nghiệp. - Xét về hình thức bán hàng : Có nhiều hình thức bán hàng như bán buôn, bán lẻ, đại lý, bán tại kho, cửa hàng. Một Doanh Nghiệp nếu áp dụng tổng hợp các hình thức bán hàng ngày tất nhiên sẽ tiêu thụ được nhiều hơn so với một Doanh nghiệp khác chỉ áp dụng đơn thuần một hình thức bán hàng nào đó. Tuy nhiên các Doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương thức tiêu thụ hợp lý để mang lại lợi nhuận tối đa. Ngoài ra để mở rộng chiếm lĩnh thị trường các Doanh Nghiệp còn tổ chức một mạng lưới các đại lý phân phối sản phẩm. Với công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến thì công tác tổ chức bán hàng theo hình thức đại lý công ty làm việc trực tiếp với các đại lý ở các Tỉnh và quy định mức giá và chỉ làm việc trực tiếp với các đại lý cấp 1. - Xét về mặt tổ chức thanh toán. Việc áp dụng nhiều phương thức thanh toán khác nhau như thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán bằng chuyển khoán, thanh toán hàng đổi hàng, thanh toán ngay hay chậm ..... khách hàng sẽ cảm thấy thoải mái và có thể lựa chọn cho mình một phương thức thanh toán thuận lợi nhất. Do đó có thể thu hút được đông đảo khách hàng đến với Doanh nghiệp . Công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến áp dụng hình thức thanh toán theo phương thức trả chậm cuối tháng còn 40% giá trị hàng. e. Tiền lực vô hình, vị trí, cơ sở vật chất kỹ thuật của Doanh nghiệp. hTiền lực vô hình tạo nên sức mạnh tổng hợp của Doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua khả năng "bán hàng". Sức mạnh thể hiện ở khả năng ảnh hưởng và tác động đến sự lựa chọn, chấp nhận và quyết định mua của khách hàng. Vô hình bởi người ta không thể lượng hoá một cách trực tiếp mà phải "đo" qua tham số trung gian. Có nhiều nội dung khác nhau có thể sử dụng xác định tiềm lực vô hình : + Hình ảnh và uy tín của Doanh nghiệp trên thương trường. + Mức độ ảnh hưởng nổi tiếng của nhãn hiệu hàng hoá. + Uy tín và mối quan hệ xã hội của lãnh đạo Doanh nghiệp. Vị trí địa lý có thể xem ở khía cạnh rộng. Khi phân tích môi trường kinh doanh của Doanh nghiệp , có thể đưa vào sức mạnh vô hình của Doanh nghiệp. Trong trường hợp này muốn nhấn mạnh sức mạnh thật sự quan tâm khi đánh giá một địa điểm cụ thể. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp . Cơ sở vật chất kỹ thuật phá nguồn tài sản cố định của Doanh nghiệp. Có thể huy động vào sản xuất kinh doanh. f. Tiềm lực tài chính. Là yếu tố tổng hợp nhất phản ánh sức mạnh của Doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn mà Doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh, khả năng phân phối có hiệu quả nguồn vốn, khả năng quản lý có hiệu quả các nguồn vốn trong kinh doanh thể hiện qua một số chỉ tiêu : + Vốn chủ sơ hữu (vốn tự có) : Là khối lượng tiền của chủ sở hữu hoặc các cổ đông tham gia góp vốn vào Doanh nghiệp. Là yếu tố chủ chốt quyết định đến quy mô của Doanh nghiệp và quy mô cơ hội có thể khai thác. + Vốn huy động : Vốn vay trái phiếu Doanh nghiệp . Phá khả năng khai thác các nguồn đầu tư trong nền kinh tế vào hoạt động kinh doanh của Doanh nghiệp . Khả năng huy động vào các Doanh nghiệp là khác nhau. + Tỷ lệ tái đầu tư về lợi nhuận : Chỉ tiêu được tính theo % từ nguồn lợi nhuận thu được dành cho bổ sung nguồn vốn tự có. + Khả năng trả nợ dài hạn và ngắn hạn : Bao gồm khả năng trả lãi cho nợ dài hạn và khả năng trả vốn trong nợ dài hạn (liên quan đến cơ cấu vốn dài hạn), .... 3.2. Các yếu tố thuộc về bên ngoài. a. Điều kiện tự nhiên : Điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng đến công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp . Điều kiện về địa lý, khí hậu luôn tác động đến công tác tiêu thụ. Doanh nghiệp được đặt ở vị trí thuận lợi, gần đường giao thông, gần các trung tâm kinh tế lớn sẽ tạo điều kiện tốt cho công tác tiêu thụ. Khí hậu cũng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, đặc biệt là đối với các sản phẩm như nông sản, nó gây khó khăn hoặc thuận lợi cho công tác tiêu thụ, những yếu tố cơ bản của điều kiện tự nhiên bao gồm : - Vị trí địa lý : Địa điểm có ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh trong hoạt động thương mại của Doanh nghiệp: + Khoảng cách (không gian) : Khi có liên hệ với các nhóm khách hàng mà Doanh nghiệp có khả năng trinh phục. Liên quan đến sự thuận lợi trong vận chuyển và chi phí vận chuyển, khả năng cạnh tranh nhờ lợi thế về mức chi phí vận chuyển thấp. + Khoảng cách (không gian) : Với các nguồn cung cấp hàng hóa, lao động, nguyên liệu cho Doanh nghiệp , cái này liên quan đến các chi phí đầu vào và giá thành. + Địa điểm thuận lợi cho việc giao dịch mua bán của khách hàng : Nơi tập trung dân cư trung tâm mua bán, trung tâm sản xuất công nghiệp và nông nghiệp ...liên quan đến sự chú ý của khách hàng đặc biệt trong bán lẻ, ... - Khí hậu, thời tiết tính chất mùa vụ : ảnh hưởng đến mức độ tiêu dùng của người dân và ảnh hưởng đến các chu kỳ sản xuất, tiêu dùng trong khu vực, đến các nhu cầu về các loại sản phẩm được tiêu dùng của khách hàng. Các yêu cầu về sự phù hợp của sản phẩm, vấn đề dự trữ bảo quản hàng hoá, tính đa dạng theo hướng chuyên môn hóa hoặc đây chính là lợi thế so sánh trong buôn bán. - Các vấn đề về sinh thái ôi nhiểm môi trường : Liên quan đến môi trường đến mối quan tâm của con người về môi trường và những hiện tượng bất thường của khí hậu thời tiết ảnh hưởng trực tiếp đến yêu cầu phát triển bền vững. Mối liên hệ giữa tính tự nhiên của môi trường và hoạt động kinh doanh của con người. Sự củng cố hay phá hoại điều kiện tự nhiên bao quanh con người, sự nhận thức và quan điểm bảo vệ tự nhiên và xu hướng thay đổi các điều kiện tự nhiên vừa có khả năng thu hẹp - mở rộng cơ hội kinh doanh của Doanh nghiệp xoay quanh yêu cầu bảo vệ môi trường tự nhiên. b. Môi trường kinh tế, chính trị, pháp luật, công nghệ. - Môi trường kinh tế : Khi một nền kinh tế tăng trưởng và phát triển với tốc độ cao làm cho thu nhập cuả các tầng lớp dân cư tăng lên dẫn đến nhu cầu có khả năng thanh toán của người dân cũng tăng lên. Đây chính là cơ hội thuận lợi cho các Doanh Nghiệp đẩy mạnh công tác tiêu thụ. Các yếu tố cơ bản của môi trường kinh tế tác động cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm : + Tiềm năng của nền kinh tế : Là yếu tố tổng quát phản ánh các nguồn lực có thể huy động và chất lượng của nó. Tài nguyên con người vị trí địa lý và nhiều yếu tố khác liên quan đến các định hướng và tính bền vững của cơ hội chiến lược của Doanh nghiệp. + Các thay đổi về cấu trúc, cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân : Tác động đến sự thay đổi vị trí, vai trò và xu hướng phát triển của các ngành kinh tế của nền kinh tế quốc dân kéo theo sự thay đổi chiều hướng phát triển của Doanh Nghiệp. + Tốc độ tăng trưởng kinh tế : Xu hướng phát triển chung của nền kinh tế hoặc từng ngành liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến sự phát triển hay suy vong của từng Doanh Nghiệp. + Lạm phát và khả năng điều khiển lạm phát : ảnh hưởng đến hiệu quả thực, thu nhập tích luỹ, kích thích hoặc kìm hãm, xu hướng đầu tư, xu hướng tiêu dùng của nhân dân từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu thụ sản phẩm. + Hoạt động ngoại thương, xu hướng mở đóng của nền kinh tế : Tác động mạnh đến các cơ hội phát triển của Doanh Nghiệp, các điều kiện cạnh tranh, khả năng sử dụng ưu thế Quốc gia và thế giới về công nghệ, nguồn vốn, nhân công, thị trường. + Hệ thống thuế, mức độ hoàn thiện và thực thi các c/s thuế : Liên quan trực tiếp đến sự công bằng trong cạnh tranh hay lợi thế so sánh của Doanh Nghiệp trong một môi trường chung. + Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế hạ tầng : Các điều kiện phục vụ của sản xuất kinh doanh một mặt tạo cơ sở cho kinh doanh thuận lợi khi khai thác các cơ sở hạ tầng sẵn có của nền kinh tế hoặc cung cấp các sản phẩm để phát triển cơ sở hạ tầng. - Môi trường chính trị : Một Quốc gia ổn định về chính trị đường lối chính trị mở rộng là điều kiện thuận lợi cho các Doanh Nghiệp yên tâm trong công tác sản xuất kinh doanh và mở rộng quan hệ buôn bán trao đổi với các đối tác nước ngoài, mở rộng thị trường xuất khẩu, từ đó tăng cường công lựa chọn thị trường xuất khẩu. Các yếu tố chủ yếu bao gồm : + Quan điểm, mục tiêu định hướng phát triển xã hội của Đảng câm quyền. + Chương trình kế hoạch, triển khai thực hiện quan điểm, mục tiêu của chính phủ và khả năng điều hành của chính phủ. + Thái độ và phản ứng của tổ chức XH, của các nhà phê bình xã hội. + Thái độ phản ứng của người tiêu dùng. - Môi trường pháp luật : Những quy định về thuế, về mặt hàng cấm xuất khẩu, nhập khẩu, công tác chống lậu hàng giả bao bì giả nguyên liệu kém phẩm chất có tác động lớn đế công tác tiêu thụ sản phẩm của Doanh Nghiệp. Các yếu tố cơ bản của hệ thống pháp luật: + Những quy định về biểu thuế, và phương pháp tính thuế. + Quy định về cạnh tranh, quảng cáo và tiếp thị sản phẩm. - Môi trường công nghệ : Một Doanh Nghiẹp có dây chuyền sản xuât hiện đại sẽ tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao, phù hợp với nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng thì tiêu thụ sản phẩm được dễ dàng. Ngược lại, một Doanh Nghiệp có công nghệ cũ kỹ, lạc hậu thì sản phẩm làm ra có chất lượng không cao ít được người tiêu dùng chấp nhận, gây ra khó khăn cho công tác tiêu thụ. c. Môi trường văn hoá xã hội. Phong tục, tập quán, thị hiếu lối sống, thói quen tiêu dùng có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu thị trường và do đó ảnh hưởng đến khả năng cung ứng sản phẩm của Doanh Nghiệp. Các thị trường luôn bao gồm con người thực với số tiền mà họ có khả năng thanh toán trong việc thoả mãn các nhu cầu của họ. Các tiêu thức thường được nghiên cứu khi phân tích sự ảnh hưởng của môi trường văn hoá – xã hội ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh nghiệp: - Dân số. - Xu hướng vận động dân số : (sinh tử - lớp tuổi - giới tính) - Hộ gia đình và xu hướng vận động. - Sự chuyển dịch dân cư. - Nghề nghiệp tầng lớp xã hội. - Dân tộc nền văn hoá. d. Các đối thủ cạnh tranh : Trong cơ chế thị trường thì cạnh tranh là một quy luật tất yếu để tồn tại và phát triển, các Doanh nghiệp phải đương đầu với cạnh tranh khi môi trường cạnh tranh khốc liệt, các đối thủ cạnh tranh nhiều, thì bắt buộc các Doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng về mọi mặt để có thể tiêu thụ đươc sản phẩm. Đó là ưu thế trong cạnh tranh. Nhưng mặt khác, một số Doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, nhiều thủ đoạn gây tổn thất cho khác hàng, cho Doanh nghiệp cùng ngành. Đó là mặt trái của cạnh tranh. Nhưng cạnh tranh là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường với nguyên tắc ai hoàn thiện hơn thoả mãn nhu cầu tốt hơn thì người đó sẽ thắng. II. Nội dung của công tác tiêu thụ. 1. Nghiên cứu thị trường. Mục tiêu chủ yếu của việc nghiên cứu thị trường là xác định khả năng tiêu thụ hay bán sản phẩm hoặc một nhóm sản phẩm nào đó của Doanh nghiệp. Do đó trong kinh doanh cần mô tả thị trường một cách cụ thể từ góc độ kinh doanh của Doanh nghiệp. Trường hợp này dẫn đến yêu cầu hiểu biết về thị trường của Doanh nghiệp . Có thể có nhiều cách thức và góc độ khác nhau để mô tả và phân loại thị trường, nhưng thông thường mô tả thị trường của Doanh nghiệp theo tiêu thức tổng quát, thị trường của Doanh nghiệp gồm thị trường đầu ra và thị trường đầu vào. Để có thể nghiên cứu thị trường thì trước hết chúng ta phải hiểu thị trường là gì vậy, có 3 góc độ để có thể xem xét. - Thị trường là tổng hoà các mối quan hệ mua bán. - Thị trường là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu. - Thị trường là nơi trao đổi hàng hoá. Trình tự của công tác nghiên cứu thị trường được thực hiện qua 3 bước : Thu nhập thông tin, xử lý thông tin, ra quyết định. Trong giai đoạn thu nhập thông tin, Doanh nghiệp có thể có nhiều cách thức để có thể nhận được những thông tin mà mình mong muốn. Các cách thu nhập thông tin có thể thông qua bảng hỏi, sách báo, tạp chí chuyên ngành. Qua đó bộ phận có chức năng xử lý và phân tích thông tin từ đó tham mưa cho lãnh đạo ra quyết định về sản xuất và kinh doanh . Nội dung của công tác nghiên cứu thị trường bao gồm : - Nghiên cứu khái quát thị trường : Thực chất là nghiên cứu vĩ mô. Đó là n/c tổng cung và tổng cầu hàng hóa, giá cả thị trường hàng hoá chính sách của chính phủ về loại hàng hóa đó. - Nghiên cứu chi tiết thị trường : Thực chất là nghiến cứu đối tượng mua, bán loại hàng hóa mà Doanh nghiệp kinh doanh. Cơ cấu thị trường hàng và chính sách mua bán của các Doanh nghiệp có nguồn hàng lớn hơn mình. Nghiên cứu chi tiết thị trường phải trả lời được câu hỏi : Ai mua hàng ? Mua bao nhiêu ? Cơ cấu của loại hàng ? ... Phương pháp nghiên cứu thị trường của Doanh nghiệp : Doanh nghiệp có thể sử dụng 2 phương pháp nghiên cứ thị trường sau : - Phương pháp nhiên cứu tại bàn : Người ta còn gọi phương pháp này là phương pháp nghiên cứu văn phòng. Đây là phương pháp nghiên cứu thu thập thông tin qua các tài liệu sách báo, tạp chí bản tin, thông tin thị trường và một số tài liệu khác liên quan đến thị trường sản phẩm của Doanh nghiệp mình nghiên cứu tại bàn có thể thu thập số liệu trong hoặc ngoài Doanh nghiệp. Phương pháp này cho phép ta nhìn được khái quát thị trường mặt hàng cần nghiên cứu. ưu điểm của phương pháp này để làm, có thể nhanh ít tốn thời gian, chi phí. Nhưng đòi hỏi người nghiên cứu phải có trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, khả năng phán đoán xử lý tốt. Tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm là dựa vào các tài liệu đã được xuất bản nên nó đã trở nên lạc hậu so với thực tế do đó hạn chế hiệu quả của phương pháp mang lại. - Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường : Đây là phương pháo nghiên cứu trực tiếp của người nghiên cứu xuống tận hiện trường để nghiên cứu. Người nghiên cứu thông qua việc trực tiếp quan sát, thu thập thông tin và số liệu ở đơn vị tiêu dùng lợi ở khách hàng hoặc các đơn vị tiêu thụ trọng điểm bằng cách điều tra chọn mẫu, trọng điểm điển hình hay phỏng vấn gửi phiếu điểu tra ... Cũng có thể thông qua việc tiếp xúc với khách hàng ở quầy hàng, ở kho của bản thân Doanh nghiệp. Nghiên cứu tại hiện trường có thể thu thập được những thông tin chính xác, kịp thời so với thực tế. Tuy nhiên tốn kém về chi phí và người n/c phải vững vàng về chuyên môn, có cái nhìn thức tế thấu đáo. Doanh Nghiệp có thể sử dụng kết hợp cả 2 phương pháp này vì chúng bổ xung cho nhau khắc phục những điểm yếu và phát huy những điểm mạnh của nhau. Qua việc nghiên cứu thị trường giúp Doanh nghiệp có thể dự báo thị trường việc dự báo thị trường là cần thiết và rất quan trọng. Nó giúp Doanh nghiệp chủ động và có những kế hoạch sản xuất kinh doanh kịp thời đem lại lợi nhuận tối đa. 2. Xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Kế hoạch hoá tiêu thụ sản phẩm là nhiệm vụ quan trọng của Doanh Nghiệp. Nói đến kế hoạch hoá là nói đến cả quá trình từ khâu lập kế hoạch đến khâu tổ chức thực hiện kế hoạch. Cơ sở để đảm bảo khả năng thành công của tiêu thụ thì trước hết công tác tiêu thụ phải được kết hợp hoá công tác tiêu thụ sản phẩm hoạt động có kế hoạch sẽ chủ động phục vụ tốt cho sản xuất và lưu thông hàng hóa, tránh được tình trạng bị động. Một kế hoạch hoá tiêu thụ sản phẩm đối với nhà hoạt động sản xuất kinh doanh cũng giống như bản đồ thành phố đối với một người chưa quen đường vậy. ưu điểm lớn của kế hoạch hóa tiêu thụ sản phẩm là nó ép các nhà Doanh nghiệp phải trả lời những câu hỏi ta sẽ đi đâu và bằng cách nào đến được đó. Tiến hành kế hoạch hoá hoạt động tiêu thụ bao gồm các bước sau : a. Nghiên cứu mục tiêu, nhiệm vụ của Doanh nghiệp. Giữa mục tiêu phát triển của Doanh nghiệp (mục tiêu tổng quát) với mục tiêu tiêu thụ sản phẩm có quan hệ biện chứng với nhau.._. Mục tiêu tổng quát của Doanh nghiệp vừa là mục tiêu định hướng vừa là mục tiêu xuất phát điểm cho việc triển khai các mục tiêu tiêu thụ cụ thể. Mục tiêu của Doanh nghiệp cần phải được phản ánh và cụ thể hoá thông qua mục tiêu tiêu thụ sản phẩm. Bởi thế từ mối quan hệ này, khi xây dựng kế hoạch tiêu thụ sản phẩm cần phải nắm vững mục tiêu phát triển của Doanh nghiệp và các nhiệm vụ đặt ra để thực hiện mục tiêu đó. b. Phân tích môi trường kinh doanh và tiềm lực của Doanh Nghiệp. Xuất phát từ mục tiêu phát triển của Doanh nghiệp để xác định được đúng mục tiêu thì Doanh nghiệp cần phải xem xét một cách toàn diện các yếu tố khách quan và chủ quan. Nó có khả năng tác động mạnh đến tiêu thụ trong kỳ kế hoạch. Để xác định mục tiêu và lập kế hoạch tiêu thụ cần phân tích các yếu tố của môi trường kinh doanh và tiềm lực của Doanh nghiệp dưới các góc độ cụ thể và điều kiện cụ thể của tiêu thụ. Các thông tin và kết luận về môi trường kinh doanh và tiềm lực của Doanh nghiệp đã thu thập và xử lý trong qúa trình xác định mục tiêu và kế hoạch phát triển Doanh Nghiệp có thể được tiếp tục phân tích để lập kế hoạch tiêu thụ. Trong bước này, Doanh nghiệp cần phải dự báo được năng lực thị trường, doanh số của ngành hàng, năng lực tiêu thụ của Doanh nghiệp, dự báo tiêu thụ của Doanh nghiệp. c. Xác định mục tiêu và lập kế hoạch tiêu thụ. Trong hoạt động tiêu thụ sản phẩm có rất nhiều mục tiêu cần được xác định và thực hiện. Các mục tiêu này hình thành nên hệ thống mục tiêu tiêu thụ của Doanh nghiệp. Các mục tiêu tiêu thụ sản phẩm được hình thành ở cấp quản trị các bộ phận của Doanh nghiệp. Việc xây dựng các mục tiêu đó đã trở thành hệ thống mục tiêu của Doanh nghiệp bao gồm : Mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể ở các khu vực, mục tiêu chinh phục khách và mục tiêu mở rộng mạng lưới tiêu thụ. Để đạt được các mục tiêu trên thì Doanh nghiệp cần phải có kế hoạch thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Các kế hoạch tiêu thụ có thể được cộng ra và tính toán theo các tiêu thức khác nhau, theo cấp quản lý, theo sản phẩm, theo khu vực địa lý, theo nhóm khách hàng, theo thời gian và có thể theo một số chỉ tiêu đặc trưng của từng DN. d. Tổ chức thực hiện kế hoạch. Đây là một khâu quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh nhằm triển khai các kế hoạch đã được đặt ra vào thực tiễn. Quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm điễn ra theo quá trình sau : Chiêu mộ và tuyển chọn các phần tử của lực lượng tiêu thụ sản phẩm (d1). Huấn luyện các đại diện tiêu thụ (d2). Chỉ đạo các đại diện tiêu thụ (d3). Động viên các đại diện tiêu thụ (d4). Đánh giá các đại diện tiêu thụ (d5). e. Đánh giá, phân tích kết quả tiêu thụ. - Đối tượng để đánh giá. Phân tích, đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm được thực hiện ỏ nhiều mức độ khác nhau : - Phân tích đánh giá công tác tiêu thụ tổng quát. - Phân tích đánh giá công tác tiêu thụ từng bộ phận. - Phân tích đánh giá công tác tiêu thụ phần tử trong hệ thống tiêu thụ. Nội dung đánh giá : Theo một số nội dung + Phân tích, đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm theo mục tiêu giữa kế hoạch và thực hiện. + Phân tích, đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm theo số lượng. + Phân tích, đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm theo chất lượng hành vi ứng xử mối quan hệ với khách hàng chữ tín, kết quả phát triển kế hoạch phát triển thị trường. + Phân tích, đánh giá công tác tiêu thụ sản phẩm theo khu vực địa lý. 3. Xây dựng hệ thống yểm trợ tiêu thụ. a. Chính sách giá. Hệ thống giá của Doanh nghiệp là tập hợp có tính khoa học, các mức giá được lựa chọn và tính toán nhằm phục vụ các mục tiêu, đối tượng và điều kiện ứng dụng khau nhau của quá trình sản xuất kinh doanh và bán hàng. Để đạt được các mục tiêu Doanh nghiệp cần đưa ra các quy định về chính sách giá cả doanh nghiệp . Các chính sách giá cho phép doanh nghiệp có thể đánh giá và quản lý giá có hiệu quả trong kinh doanh. Các chính sách giá chủ yếu thường được áp dụng gồm : chính sách về sự linh hoạt của giá, theo chu kỳ sống sản phẩm chi phí vận chuyển, chính sách giảm giá và chiết giá. b. Quảng cáo và xúc tiến bán hàng. Xúc tiến là một trong 4 tham số của marketing hỗn hợp. Xúc tiến có nguồn gốc từ tiếng Anh - Promtion, có rất nhiều quan niệm khách nhau về xúc tiến. Trong "Marketting căn bản" của Philip Kotler thì xúc tiến là hoạt động thông tin marketing tới khách hàng tiềm năng. Trong kinh doanh thông tin marketing là trao truyền, đưa đến, chuyển giao những thông điệp cần thiết về Doanh Nghiệp, về sản phẩm của Doanh nghiệp, về phương thức phục vụ, về những lợi ích mà khác hàng sẽ thu được khi mua sản phẩm của Doanh nghiệp cũng như thông tin cần thiêt từ phía khách hàng. Qua đó Doanh nghiệp tìm ra cách tốt nhất nhu của khách hàng. Theo các nhà lý luận của các nước tư bản thì xúc tiến là hình thức quan hệ xã hội giữa người bán và người mua, là một lĩnh vực hoạt động định hướng vào việc chào hàng một cách năng động và có hiệu quả nhất. Trong cuốn Marketing Thương mại của PTS. Nguyễn Bách Khoa xúc tiến thương mại là một lĩnh vực hoạt động Marketing đặc biệt và có chủ đích được định hướng vào việc chào hàng chiêu khách và xác lập một quan hệ thuận lợi nhất của Công ty và bạn hàng của nó với tập khách hàng tiềm năng, trọng điểm nhằm phối hợp triển khai năng động chiến lược và chương trình Marketing - mix đã chọn của Công ty. c. Phương thức và hình thức tiêu thụ sản phẩm. Về mặt lý thuyết cũng như thực tế có nhiều phương thức tiêu thụ sản phẩm. Do vậy vấn đề đặt ra là các Doanh nghiệp phải đưa ra phương thức tiêu thụ hợp lý. Thông thường tiêu thụ sản phẩm được thực hiện qua các kênh phân phối sau đây. - Kênh phân phối ngắn. - Kênh phân phối dài. - Kênh phân phối hỗn hợp. 4. Thiêt lập và tổ chức bộ máy tiêu thụ Việc tiếp cận vấn đề tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp trên giác độ là một khâu của quá trình sản xuất kinh doanh thì Doanh Nghiệp phải tổ chức ra một bộ phận chuyên trách đảm nhiệm việc tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp. Nhiệm vụ và chức năng của bộ máy quản trị tiêu thụ sản phẩm ở doanh nghiệp sản xuất. * Nhiệm vụ. - Nghiên cứu nhu cầu của khách hàng về mặt hàng và chất lượng sản phẩm sản xuất. - Lựa chọn các phương pháp giao hàng tối ưu nhằm giảm các chi phí cần chuyển hàng hóa và đẩy mạnh nhanh quá trình vận chuyển hàng hoá khách. - Đáp ứng một cách kịp thời việc cung ứng các sản phẩm cho khách hàng theo đúng số lượng chất lượng và mặt hàng quy định trong đơn hàng và hợp đồng. - Giải quyết các vấn đề có tính chất nghiệp vụ về thay đổi sản phẩm sản xuất theo yêu cầu của khách hàng trong trường hợp bất khả kháng thì cần phải thông báo cho khách hàng. * Chức năng. - Xây dựng kế hoạch tiêu thụ hàng tháng quý để triển khai việc thực hiện kế hoạch chung toàn công ty. - Lập và đặt hàng cho bộ phận điều độ Doanh nghiệp về các phương tiện vận chuyển hàng cho khách. - Nắm số lượng mặt hàng nhập kho thành phẩm của Doanh nghiệp. 5. Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm. Tổ chức thực hiện kế hoạch tiêu thụ sản phẩm là việc triển khai các kế hoạch đã đặt ra vào thực tiễn. Nội dung của tổ chức thực hiện gồm : Tuyển chọn và chiêu mộ các lực lượng tiêu thụ trung gian, huấn luyện các đại diện tiêu thụ trung gian, chỉ đạo các đại diện tiêu thụ trung gian, động viên các đại diện tiêu thụ, đánh giá hiệu quả hoạt động của các đại lý. 6. Đánh giá tình hình tiêu thụ. Sau các kỳ tổ chức kế hoạch để thực hiện việc tiêu thụ của Công ty đề ra Doanh nghiệp bao giờ cũng đánh giá về hoạt động sản xuất kinh doanh của mình những mặt làm được, và chưa làm được. Việc tiêu thụ cũng vậy. Đánh giá kết quả tiêu thụ là rất quan trọng nó rút ra được những bài học kinh nghiệm cho quá trình sau, từ đó Doanh Nghiêp dần hoàn thiện và đưa ra những phản ánh tiêu thụ thích hợp nhất. Đánh giá kết quả tiêu thụ làm rõ nguyên nhân thành công hay thất bại của Doanh nghiệp. Cơ sở để đánh giá là so sánh kết quả đạt được so với những chỉ tiêu mà kế hoạch đã đặt ra. Cũng công tác này thì Doanh nghiệp ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả tiêu thụ sản phẩm của Doanh nghiệp. III. Sự cần thiết đẩy mạnh tiêu thụ hàng hoá trong các Doanh Nghiệp. Tiêu thụ hàng hoá tức là thực hiện giá trị của hàng hoá thay đổi hình thái từ hàng sang tiền trên cơ sở thoã mãn nhu cầu người tiêu dùng về mặt giá trị sử dụng nhờ đó mà người sản xuất hay Doanh nghiệp đạt được các mục tiêu của mình. Tiêu thụ hàng hoá là khâu cuối cùng của chu kỳ kinh doanh trong bất kỳ một Doanh nghiệp nào, và đặc biệt là Doanh nghiệp Thương mại là khâu nghiệp vụ cơ bản nhằm tạo ra những kết quả cụ thể để giúp Doanh nghiệp đạt được các mục tiêu như doanh số, thị phần và lợi nhuận. Nó không chỉ là hoạt động nhằm thực hiện chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp, uy tín của Doanh nghiệp có được hay mất đi chủ yếu là do hoạt động tiêu thụ nó như tấm gương phản chiếu tính đúng đắn của các loại kế hoạch, chính kết quả bán hàng, là kết quả của một nỗ lực mang tính chất tổng hợp. Nếu xét tổng thể thì tiêu thụ hàng hoá là một toa tầu của một con tầu. Nếu toa tầu này có sự cố xảy ra nó sẽ làm ngừng trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của một Doanh nghiệp. Nếu tiêu thụ hàng hóa hoạt động với hiệu suất cao liên tục thì doanh số bán hàng sẽ liên tục tăng. Từ đó có thể bù đắp các chi phí trong quá trình hoat động sản xuất kinh doanh, từ thuế nộp ngâng sách trả lương công nhân và hàng loạt các chi phí khác. Như vậy, muốn toa tầu được hoạt động có hiệu quả thì không những phải đổi mới cơ cấu hoạt động cũng như quy mô từ đó sẽ đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh của bất kỳ một Doanh nghiệp nào. lúc này khi tiêu thụ được quan tâm sẽ giúp Doanh nghiệp thu hồi vốn nhà đầu tư vào sản xuất kịp thời cung ứng cho thị trường một cách hiệu quả nhất. Bất cứ một Doanh nghiệp hay tổ chức nhà hoạt động trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh nếu không tiêu thụ hàng hóa được thì cũng như cây non mới lớn bị nghẹn dễ cây già bị chết khô. Như vậy ta xem xét rộng ra thì hơn lúc nào hết hoạt động tiêu thụ là sự cần thiết khách quan để giúp cho một cơ thể sống tốt hơn để sinh trưởng, trưởng thành trong môi trường mà có sự tác động đan xen, loại bỏ nhau : Để Doanh nghiệp có thể bắt đầu công việc kinh doanh hay kết thúc một khâu trong kinh doanh. Như Doanh nghiệp muốn tồn tại thì phải đẩy mạnh công tác tiêu thụ mà muốn đẩy mạnh công tác tiêu thụ thì phải đổi mới sản phẩm. Sản phẩm phải đi trước các đối thủ từ đó công tác tiêu thụ mới thực sự hiệu quả giúp Doanh nghiệp mở rộng quy mô giúp cho người lao động ổn định thu nhập giúp cho xã hội phát triển. Chương II Thực trạng hoạt động tiêu thụ hàng hóa của công ty kinh doanh và chế biến lương thực Việt tiến I. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của công ty. 1. Lịch sử hình thành, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty. a. Công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực là một Doanh nghiệp ngoài quốc doanh chuyên sản xuất mì ăn liền phục vụ nhu cầu của mọi tầng lớp nhân dân. Công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến được thành lập ngày 23/06/1992 theo điều lệ công ty TNHH được thông qua tháng 06 năm 1992 bởi hai anh em ruột là Ông Nguyễn Ngọc Tiến và ông Nguyễn Hữu Lộc có số vốn pháp định là 600.000.000 đồng. Công ty hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh mì ăn liền cung ứng cho thị trường miền Bắc nguồn huy động trong gia đình đạt 1,6 tỉ đồng. Thiết bị sản xuất được thiết kế và sáng tạo trong nước thông qua quan hệ gia đình tại TP.HCM theo mẫu thiết kế của Nhật Bản. Công ty là Doanh nghiệp đầu tiên ở miền Bắc sản xuất mì ăn liền trên dây truyền công nghiệp. Tỷ lệ góp vốn trên danh nghĩa là 70/30. ông Nguyễn Ngọc Tiến là Giám đốc, ông Nguyễn Hữu Lộc là phó giám đốc phụ trách vật tư và bán hàng. Công ty có trụ sở chính tại Đầm Trà Lá, phường Vĩnh Tuy, Quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội. Cơ sở sản xuất đặt tại Trâu Quỳ, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội. Tên giao dịch : Viết tắt : Viêt tiên Co LTD. Quy trình công nghệ sản xuất mì ăn liền được sản xuất thei dây truyền liên tục, khép kín từ khâu trộn bột tạo nguyên liệu, qua các công đoạn cán cất, hấp, định hình, tẩm hương liệu, chiên dầu, thổi nguội, thêm gói gia vị và (nêm, satế) cho đến khi đóng gói, cho ra thành phẩm đóng thùng carton chuẩn bị xuất xưởng. Bên cạnh đó có bộ phận phụ trợ cấp nước, cấp hơi, phụ trợ cho dây truyền. Công suất một dây truyền trong một ca sản xuất hiện naylà 3000kg tương đương với 37.000 gói mì 80 gram. Do là nhà sản xuất mì lớn nhất miền Bắc, gia đình có truyền thống làm nghề sản xuất mì ăn liền, công ty có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất và kinh doanh. Công ty Việt Tiến đã đi đầu trong việc phát triển thị trường nông thôn và miền núi phía Bắc , nơi mà sự hiện diện của các đối thủ cạnh tranh là các doanh nhiệp lớn phía Nam còn chưa đủ mạnh vì doanh thu và cơ cấu sản xuất chưa đủ lớn. Tuy nhiên hiện nay công ty đã và đang thiết lập thị trường ở một số Tỉnh Thành miền Trung để khẳng định vị thế cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất. Hiện nay công ty đã xây dựng được một hệ thống đại lý rộng khắp gồm hơn 120 đại lý tư nhân tại hầu hết khắp các Tỉnh Thành phía Bắc. Sản phẩm của công ty là các thương hiệu FAMILY, MARKET, FAMICO được đăng ký bảo hộ độc quyền nhãn hiệu hàng hóa tại cục sở hữu công nghiệp. Nhưng sản phẩm này đã được thị trường chấp nhận, ngày càng có uy tín và phát triển, kích thích được tiêu dùng của khách hàng tự mua thử thành khách hàng quen và thành truyền thống của công ty. b. Chức năng, nhiệm của công ty. Công ty Kinh doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến chuyên sản xuất kinh doanh lương thực thực phẩm : mì ăn liền, phở ăn liền, bột canh vì thế công ty phải xây dựng được kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình và đề phương hướng để thực hiện kế hoạch đó. Đảm bảo, bảo toàn và tăng trưởng vốn trong suốt qúa trình hoạt động sản xuất qua hình thức tín dụng ngắn hạn sao cho có hiệu quả và phù hợp với quy định của pháp luật. Thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước qua hình thức nộp thuế: thuế GTGT, thuế thu nhập Doanh nghiệp các loại phí và lệ phí. Thường xuyên đổi mới nâng cấp tài sản cố định nhằm ngày càng hoàn thiện về kỹ thuật, nâng cao chất lượng của sản phẩm để đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của thị trường. Thực hiện phân phối theo lao động, chăm lo đời sống cho người lao động, nâng cao đời sống tinh thần và trình độ chuyên môn cho cán bộ công nhân viên. Như vậy, chức năng và nhiệm vụ chủ yếu của công ty Kinh Doanh và chế biến Lương Thực Việt Tiến là thực hiện tốt các nghĩa vụ đối với nhà nước đồng thời không ngừng mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh doanh. Bên cạnh đó, công ty cũng luôn nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trình độ chuyên môn cho người lao động. c. Cơ cấu tổ chức của công ty. Công ty kinh doanh và CBLT Việt Tiến tổ chức bộ máy quản lý theo hình thức tập trung do Giám đốc trực tiếp quản lý và điều hành các công việc trong công ty. Mọi kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kế hoạch tài chính đều phải do Giám đốc quyết định. Thông qua phòng kế toán hành chính duy trì việc phát triển quan hệ với các đại lý. Kiểm tra và giám sát các hoạt động của toàn công ty. Phân tích phương hướng và chiến lược cho công ty. Sơ đồ tổ chức của công ty Giám đốc Phó Giám đốc KD và Vật tư Phó Giám đốc Phòng kế toán hành chính Phòng kinh doanh vật tư Phòng kỹ thuật Tiếp thị, PT SP mới Tiếp liệu Bán hàng Xưởng s.xuất A Xưởng s.xuất B Đây là cơ cấu tổ chức mà người lãnh đạo Doang Nghiệp được sự giúp sức của những người lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện quyết định. Người lãnh đạo Doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động và toàn quyền quyết định trong phạm vi Doanh Nghiệp. Đối với mọi vị trí có các chức năng nhiệm vụ cụ thể sau : - Giám đốc công ty là người đại diện cho công ty là người có trách nhiệm và quyền lực cao nhất trong công ty. Chế độ quản lý của công ty là chế độ một thủ trưởng. Đây là công ty có quy mô sản xuất phù hợp với loại hình sản xuất vừa và nhỏ. Do vậy quản lý hơn 130 cán bộ công nhân viên, người lao động, do đó công việc khá nhiều. - Phó giám đốc phụ trách kinh doanh và vật tư quan hệ trực tiếp với các nhà cung ứng nguyên vật liệu, đảm bảo nguyên vật liệu cho sản xuất, quản lý đội ngũ nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp liệu, tiếp thị phát triển sản phẩm mới thông qua phòng kinh doanh vật tư. - Phó giám đốc phụ trách kỹ thuật sản xuất quản lý xưởng sản xuất, tổ chức thực hiện kế hoạch, đảm bảo chất lượng sản phẩm, cung cấp đủ hàng hóa cho phòng kinh doanh. Bảo dưỡng sửa chữa thiết bị thông qua quản đốc các phân xưởng sản xuất. - Phòng kế toán hành chính - kế toán trưởng là người chịu trách nhiệm chung về công tác kế toán, phân công và giám sát đôn đốc việc thực hiện các nghiệp vụ kế toán của các nhân viên trong phòng. Hàng tháng lập quyết toán báo cáo tình hình hoạt động của công ty với Ban Giám đốc, xử lý các công việc trong phòng. Chịu giao dịch với ngân hàng lập kế hoạch đảm bảo tài chính và những phát sinh về hành chính của công ty. 2. Đặc điểm hoạt động của công ty. a. Đặc điểm vể sản phẩm. Thành phần chủ yếu của Mỳ bao gồm bột và một số hương liệu dầu gia vị tuỳ theo từng sản phẩm mà có những tỷ lệ nhất định. Định mức tiêu thụ đối với sản phẩm này phụ thuộc rất nhiều vào phong tục tập quán, lối sống, thu nhập kinh tế, lãnh thổ và mùa vụ. Nếu ở đoạn thị trường này có thể mì thùng giữ tỉ trọng tiêu thụ cao nhưng ở đoạn thị trường khác thì khác và nó phụ thuộc địa hình vận chuyển, khẩu vị từng vùng. Người miền Trung thì rất thích ăn cay vậy sản phẩm đưa vào đây phải có một số cải tiến về hương liệu gia vị. Hiện nay, công nghệ sản xuất mì ăn liền có thể nói rất phổ biến dễ tiếp nhận, do vậy thị trường mì hiện nay rất phong phú cả về số lượng và chất lượng cũng được cải tiến sợi mì đã được nâng cao về chất lượng thẩm mỹ phù hợp với nhịp độ của cuộc sống. Xã hội càng phát triển thì đòi hỏi sợi mì không những có chất lượng cao mà còn có tính thẩm mỹ, tính thưởng thức đối với người tiêu dùng. Từ cuối 2002, công ty cho ra đời bột canh và cháo đây là 2 loại sản phẩm đang được thị trường người tiêu dùng chấp nhận. Bảng 1 : Một số sản phẩm của công ty 2002 Tên sản phẩm Công suất sản xuất Tỉ trọng Mì thùng 390 tấn/tháng 35% Mì Kg (cân) 210 tân / tháng 65% Cháo, bột canh Tổng 600 tấn / tháng 1000 Thực tế thì đến thánh T7 năm 2001 công ty đã cho ra đời thêm cháo, bột canh để bù đắp chi phí cố định, gánh thêm một phần chi phí. Do đó nếu tính riêng xưởng phụ gia gia vị sản xuất cháo, bột canh thì công suất TB khoảng 20 tấn / một tháng do đó sản phẩm này chiếm tỉ lệ rất nhỏ không đáng kể và thậm chí khi hoạch toán hầu như không có lãi. Như vậy công ty cho ra đời sản phẩm mới và về bao bì kiểu cách màu sắc luôn được cải tiến nhưng thực tế thì chưa có hiệu quả cao như mong muốn mà chỉ cầm chừng bù đắp được đến đâu hay đến đó. Tuy nhiên 2 lại sản phẩm chủ lực là mỳ Thùng, Mỳ kg thì không ngừng nâng cao đặc biệt về chất lượng và số lượng không ngừng gia tăng nếu tháng 7 năm 2001 chỉ đạt 480 đến 500 tấn thì tháng 2 là 600 tấn và tỉ trọng giữa 2 loại này cũng được nâng lên. b. Đặc điểm về khách hàng: Thực tế cho thấy phong tục tập quán, lối sống, thói quen tiêu dùng, thu nhập kinh tế, dân tộc, tôn giáo, địa lý có ảnh hưởng sâu sắc đến nhu cầu thị trường. Thị trường tiêu thụ của công ty có ở 2 miền Bắc - Trung thị trường niềm Nam đã có rất nhiều đối thủ và sản phẩm vào đến tay người tiêu dùng không đủ bù đắp chi phí. Đối với mỗi người dân sống trên mỗi miền thì thị hiếu về tiêu dùng là khác nhau mang tính đặc trưng của miền đó và thể hiện mức thu nhập, sự phát triển kinh tế vùng. * Đặc điểm người tiêu dùng miền Bắc. Đối với loại sản phẩm này kích thích thoả mãn sinh yếu của con người. Do vậy về mặt tâm lý người tiêu dùng miền Bắc khi mua mì thông thường quan tâm đến mẫu mã bao bì tính biểu lộ trên bao bì nhiều hơn là khối lượng của sản phẩm. Những năm trở lại đây đã có một tập khách hàng rất lớn, sản phẩm mì ăn liền, cháo gà đã trở thành nét sinh hoạt đặc trưng mang tính công nghiệp theo sự phát triển của cuộc sống. Nhu cầu về mì là nhu cầu về thưởng thức và ở một số thị trường nông thôn là nhu cầu cải thiện chứ nó không phải là nhu cầu cấp bách. Nó đi lên cùng với sự cải thiện đi lên trong sinh hoạt cũng như công việc hàng ngày. Do vậy người miền Bắc thường thích các loại mì mà nó thể hiện được ngay trên bao bì thương hiệu của sản phẩm và họ thích có sự đổi mới trong tiêu dùng. Do vậy chính điều này, công ty phải có c/s phân phối hàng, đóng gói thùng sao cho có thể đối phó được những thay đổi của nhu cầu. Sản phẩm chủ lực ở đây là mì thùng, mì 30 gói, 50 gói, 100 gói. 30 gói là loại sản phẩm có cơ cấu phù hợp với thị hiếu với mức độ tiêu thụ. Khác hàng đã chấp nhận chúng, loại thùng 30 gói vì khi sử dụng nó mang tính rủi 10 ít dễ thay đổi phù hợp về cơ cấu số đâu người trên một gia đình và họ có thể thay đổi sản phẩm trên thị trường hơn. Do đó khi xem xét khía cạnh hàng để từ đó có giải pháp cho chiến lược tiêu thụ của công ty là rất quan trọng, rất cần thiết. * Đặc điểm người tiêu dùng miền Trung. Do đây là thị trường mà có thể nói chi phí chung tăng hơn với các loại thị trường khác. Do vậy nghiên cứu thói quen tiêu dung ở đây phải nắm bắt được đặc điểm mang tính đặc trưng của họ. Khách hàng ở thị trường này họ có một thói quen đặc trưng thích ăn cay, có gia vị đậm. Sản phẩm và cơ cấu của thị trường này cũng có sự thay đổi rõ rệt họ tiêu dùng với khối lượng lớn đặc biệt vào lúc giáp hạt mất mùa và được mùa thị chủng loại mà cao ấy cũng tăng và mất mùa thì mì kg tăng lên và không phải là ăn thường bữa mà họ có thể dùng làm canh đối với mì kg. Có thể nói đây là đặc điểm lối sống hay sự cải thiện trong việc sử dụng tiêu dùng đã xuất hiện ở mọi thị trường chứ không phải ở rmiền Trung. Những người sử dụng theo cách này thường rơi vào những thị trường mà ở đó người tiêu dùng có mức thu nhập trung bình thấp. Do đó công ty phải cải tiến sợi mì đảm bảo cho chất lượng của người tiêu dùng sợi mì phải dai, săn mà thơm không vữa khi họ sử dụng. c. Đặc điểm về thị trường. - Nguồn cung ứng. Hàng năm công ty sản xuất và kinh doanh một lượng lớn mỳ do vậy nhu cầu về nguyên liệu như bột, tinh dầu ... là rất lớn. Trong khi đó thì thị trường trong nước như bột, dầu nguyên liệu khác như gạo làm cháo, gia vị thường xuyên biến động về gía cả phương thức thanh toán, phương tiện vận chuyển cũng thay đổi theo từng lô hàng nhà cung ứng. Đặc biệt giá nguyên liệu bột những năm gần đây biến động mạnh theo quý thậm chí hàng tháng. Để tạo sự ổn định về nguyên liệu cho sản xuất công ty đã chủ động kí kết các hợp đồng cung cấp dài hạn với một số nhà cung ứng trên cơ sở có sự tham gia về giá phương tiện vận chuyển. Trong mỗi thời kỳ để nhà cung ứng và công ty có các kế hoạch dài hạn đảm bảo theo đuổi mục tiêu sản xuất kinh doanh của mỗi bên. Ngoài ra công ty đã nghiên cứu và sử dụng nguyên liệu thay thế để giảm bớt chi phí sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng trong sản xuất kinh doanh và cho người tiêu dùng. Thông thường nguyên liệu bột được cung cấp từ cảng thâu phòng. Đây là một điểm thuận lợi về giao thông nhưng không tránh được các rủi ro về phương thức xuất nhập khẩu mà thị trường tạo ra. Nếu công ty thanh toán trong thời gian theo quy định của nhà cung ứng thì sẽ được giảm giá được hưởng các điều khoản có lợi cho công ty hay nói cách khác thì hình thức trước trả chậm thì ảnh hưởng đến năng lực sản xuất kinh doanh của công ty. - Thị trường tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm của Việt Tiến có mặt ở 2 vùng thị trường Bắc - Trung và thị trường trọng điểm của công ty là các Tỉnh dọc quốc lộ 1A nhưng thị trường miền Bắc chiếm tỉ trọng lớn hơn. Công ty không có thị trường miền Nam bởi vì thứ nhất là do doanh thu không bù đắp chi phí, thứ 2 thì trường miền Nam có rất nhiều đối thủ mạnh có chất lượng uy tín lâu năm, do đó sản phẩm của công ty sẽ yêu thế trong thị trường người tiêu dùng. Nguyên nhân chủ yếu là do khoảng cách vận chuyển chi phí lớn việc tiếp cận thị trường khó khăn về thị hiếu, tập quán tiêu dung đòi hỏi phải các bộ phận chuyên môn đủ lớn để làm công việc này. Ngoài ra công ty chia làm 5 vùng thị trường. Vùng 1 : Đồng Văn, Phủ Lý, Nam Định, Hải Hậu, Ninh Bình, Thanh Hoá, nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Huế. Vùng 2 : Xua Mai, Hoà Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Sơn Tây. Vùng 3 : Mê Linh, Phúc Yên, Việt Trì Phú Thọ, Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Hà Giang. Vùng 4 : Đông Anh, Sóc Sơn, Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Thất khê, Bắc Sơn. Vùng 5 : Bắc Ninh, Bắc Giang, Lạng Sơn, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Chí Linh Sao đỏ, Uông Bí, Quảng Ninh, Móng Cái. Khu vực nội ngoại thành Hà Nội. + Khu vực nội thành : tất cả các Quận Huyện. + Khu vực ngoại thành (bán kính 20Km). Như vậy có thể nói công ty đã phân vùng như trên là một phương án khá cụ thể để từ đó nghiên cứu theo dõi sự biến động lên kế hoạch chi tiết cho từng vùng giảm được chi phí vận chuyển. Hơn nữa qua sự phân vùng thị trường tiêu thụ ta thấy rõ thị trường miền Bắc chiếm khoảng 80% đến 85% về thị trường tiêu thụ mà thị trường khu vực nội ngoại thành chiếm tỉ trọng không đáng kể. Do đó vấn đề tiết kiệm chi phí vận chuyển cải tiến nâng cấp cần hơn bao giờ hết. d. Đối thủ cạnh tranh. Hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì cạnh tranh là quy luật tất yếu để tồn tại và phát triển Doanh nghiệp không thể né tránh. Cạnh tranh mà phải đương đầu với cạnh tranh để giành chiến thắng chiếm được thị phần của hàng cùng sản xuất kinh doanh một sản phẩm. Hiện nay nếu nói về đối thủ trong khu vực thì Cty kinh doanh và CBLT Việt Tiến phải đương đầu với rất nhiều các công ty nổi tiếng mà tiềm lực của họ cũng rất mạnh như ViFor Accook - Hảo Hảo, Micoem, MiLiKet. Bên cạnh đó công ty phải đương đầu với các nghề sản xuất mì gạo truyền thống. Do vậy công ty chịu sức ép cạnh tranh rất lớn và các sản phẩm của các hàng sản xuất. Thị trường trọng điểm của công ty là thị trường miền Bắc mà chủ yếu là các Tỉnh chạy dọc Quốc lộ 1A, Quốc lộ 5 mà đối thủ cạnh tranh ở thị trường này lại rất nhiều, mạnh về chất lượng giá cả, bao bì và mẫu mã. Ngoài ra ngay trên địa bàn Huyện Gia Lâm, công ty phải cạnh tranh với đối thủ có thương hiệu sản phẩm là mì MiCoEm, Hảo Hảo (Hưng Yên). Tuy thương hiệu của công ty là Family, Maiket, Famico đã có từ lâu đời nhưng thực tế thì thương hiệu không bị ảnh hưởng mạnh như các đối thủ khác. Họ dùng chiến thuật áp đảo để chiếm lĩnh được cảm tình về thương hiệu trong tiềm thức của người tiêu dùng. Thị trường miền Trung thì các đối thủ cạnh tranh của công ty phải nói là ít thế nhưng các sản phẩm của công ty là đối thủ của Việt Tiến thì rất đông, phong phú. Vì thế thị trường miền Trung và các Tỉnh vùng cao là thị trường mà công ty chiếm được thị phần với tỉ trọng khá khả quan, có những đại lý cấp 1 rất uy tín. Ngoài việc kinh doanh, công ty còn nâng cao quá trình đưa thương hiệu của sản phẩm vào trong thói quen người tiêu dùng. II. Tình hình và kết quả sản xuất kinh doanh của công ty. 1. Tình hình sản xuất của công ty. Chúng ta có thể xem xét tình hình sản xuất của công ty kinh doanh và CBLT Việt Tiến qua bảng số liệu sau: Tên sản phẩm Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Tồn đầu kỳ SX trong kỳ Tồn đầu kỳ SX trong kỳ Tồn đầu kỳ SX trong kỳ Mì kg (cân) 6 1450 5 1850 6 2430,5 Mì thùng 5 4350 5 4330 6 4516,5 Cháo, bột canh 0 0 1 20 2 30 Tổng 12 5.800 11 6.200 14 6.950 Qua bảng số liệu 8 cho chúng ta thấy tổng số lượng 2 loại mì và bột canh, cháo được SX năm sau cao hơn năm trước để đạt được điều này là do sự nỗ lực cố gắng toàn công ty, tận dụng triệt để công suất máy, là sự phối hợp giữa các phong ban và ban Giám đốc phòng kế hoạch. Cụ thể tổng sản lượng năm 2000 là 5.800 tấn, năm 2001 là 6.200 tấn, năm 2002 là 6.950 tấn ta thấy tình hình sản xuất của công ty là rất ổn định bền vững và phát triển. Đi sâu vào từng loại ta thấy hầu hết các loại mì có sản lượng đến năm sau cao hơn năm trước, năm ......trong đó thì tốc độ tăng của mì kg hay mì rẻ tiền vẫn cao. Tuy nhiên tỉ trọng của mì thùng, mì gói chiếm 70%. Điều này là rất phù hợp bởi thu nhập người tiêu dùng ngày càng được cải thiện. Do vậy cơ cầu sản xuất hàng của công ty phải thay đổi theo xu hướng sản xuất mì thùng gói nhiều hơn. Nếu tốc độ tăng của mì thùng năm 2000 từ 4350 đến năm 2002 là 1450 đến 243,5 tấn. Tuy nhiên ở đây ta có thể thấy tăng sản phẩm chủ lực của công ty là mì thùng phù hợp với những người tiêu dùng có mức thu nhập trung bình và cao từng vùng thị trường. Sản phẩm mì thùng chiếm tỉ trọng trong sản xuất cũng như tiêu thụ đạt vào khoảng 65 đến 75% trong tổng số lượng sản xuất cũng như tiêu thụ. Qua đây ta thấy sẩn phẩm chủ lực của công ty vẫn là mì thùng. Nó chiếm tỷ lệ từ 65% đến 75%. Cũng qua bảng trên ta thấy sản lượng tồn kho của các năm là khá lớn ổn định chiếm một tỷ lệ khá nhỏ. ở kho chứa của công ty, khối lượng tồn đầu kỳ chỉ tính là hàng đi đường và hàng năm trong kho của công ty chứ không tính khối lượng hàng năm ở các đại lý. Vì trong một góc độ lưu chuyển, nếu hàng ở các đại lý thì số lượng này phải tính vào hàng hoá đã bán chịu. Ta thấy năm 2001 tồn kho ít nhất năm 2002 tồn kho là 14 tấn điều này cho thấy công tác tiêu thụ sản phẩm của công ty chưa tốt. Nếu xét tổng lượng tồn kho qua 3 năm thì mì kg (cân) là 17 tấn còn mì thùng là 16 tấn. Qua việc phân tích trên ta thấy rằng, công ty chưa chú trọng hay đầu tư đến mì thùng và đa dạng sản phẩm. 2. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Bảng 2 : Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Stt Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 Năm 2001 Năm 2002 Giá trị ∑ sản lượng Tỉ đồng 15,2 15,4 18,1 Doanh thu Tỉ đồng 17,5 18,2 21,6 Nộp ngân sách Tỉ đồng 1,5 1,8 2,3 Lợi nhuận Tỉ đồng 0,8 1,0 1,2 Sản phẩm tiêu thụ Tấn 5.801 6.197 6.949 Tồn cuối kỳ Tấn 11 14 15 Lao động Người 140 147 154 Thu nhập bình quân 1000/ 1người/1 tháng 500 550 710 Nhìn vào bảng số liệu 2 ta thấy rằng các chỉ tiêu như giá trị tổng sản lượng, doanh thu, nộp ngân sách, lợi nhuận, sản phẩm sản xuất, sản phẩm tiêu thụ, lao động thu nhập bình quân đều tăng mạnh nhất năm. Trong đó chỉ tiêu tăng mạnh nhất và đều nhất hàng năm là 0,2 tỉ đồng là chỉ tiêu lợ nhuận, điều này cho thấy hiệu quả rất cao tro._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc29658.doc
Tài liệu liên quan