Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty cổ phần XNK và hợp tác đầu tư VILEXIM

LỜI MỞ ĐẦU I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Công ty Cổ phần xuất nhập và hợp tác đầu tư (VILEXIM) là một công ty đa ngành, đa chức năng với lịch sử lâu dài hơn 40 năm. Công ty kinh doanh trong nhiều lĩnh vực nhưng xuất khẩu là hoạt động kinh doanh chính của công ty, đây là hoạt động đem lại nhiều doanh thu và lợi nhuận nhất cho công ty. Đối với công ty xuất nhập khẩu nói chung và VILEXIM nói riêng thì thị trường xuất khẩu có vai trò rất quan trọng, nó không những quyết định mục tiêu của doanh nghiệp mà

doc91 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1274 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty cổ phần XNK và hợp tác đầu tư VILEXIM, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
còn phản ánh tình hình kinh doanh của doanh nghiệp, điều tiết hướng dẫn việc sản xuất kinh doanh các mặt hàng xuất khẩu. Do đó việc thâm nhập và phát triển thị trường xuất khẩu là điều kiện tiên quyết dẫn đến thành công của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và đững vững trên thị trường, đặc biệt là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Tuy nhiên trong thời gian vừa qua, thị trường xuất khẩu của công ty VILEXIM vẫn còn nhỏ bé. Công ty chưa thực sự chú trọng đến việc phát triển thị trường cả về chiều rộng cũng như chiều sâu, chưa tạo được vị thế vững chắc trên thương trường, tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn bấp bênh, phụ thuộc nhiều vào thị trường và khách hàng, chưa tìm kiếm được những thị trường mới có triển vọng cho hoạt động xuất nhập khẩu, phần lớn các khách hàng của công ty chủ yếu vẫn là những khách hàng truyền thống, đã có quan hệ làm ăn lâu dài đối với công ty. Công ty vẫn chưa tận dụng triệt để những lợi thế sẵn có của mình trong lĩnh vực buôn bán quốc tế, còn phụ thuộc nhiều vào các nhà cung cấp. Mặc dù hoạt động xuất khẩu của công ty tăng trưởng mạnh và liên tục song mức độ tăng trưởng của từng năm cao - thấp khá chênh lệch. Phần lớn hàng xuất khẩu là hàng thô và sơ chế, chất lượng hàng xuất khẩu chưa cao nên khả năng cạnh tranh kém, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường mới hầu như không đáng kể. Xuất phát từ thực tế đó của công ty, tôi nhận thấy việc phát triển thị trường xuất khẩu của công ty là hết sức quan trọng, do vậy tôi đã chọn đề tài “ Một số giải pháp đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM” cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. II. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Đề tài nghiên cứu làm rõ các câu hỏi sau: Câu hỏi tổng quát: Làm thế nào để đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty VILEXIM trong giai đoạn 2010 - 2015? Để trả lời được cho câu hỏi này đòi hỏi chúng ta cần trả lời được ba câu hỏi cụ thể: - Tại sao phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty? - Thực trạng phát triển thị trường xuất khẩu của Công ty trong thời gian qua như thế nào? - Công ty cần có những giải pháp nào để đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu trong giai đoạn tới? Giải quyết được ba câu hỏi này chúng ta sẽ đáp ứng được mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Đồng thời ba câu hỏi nay cũng tương ứng với ba chương trong nội dung của đề tài. III. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu của công ty VILEXIM 3.2 Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: thị trường xuất khẩu của công ty VILEXIM bao gồm cả thị trường truyền thống và những thị trường mới, thị trường tiềm năng nước ngoài mà công ty có thể thâm nhập và mở rộng. - Về thời gian: nghiên cứu hoạt động xuất khẩu của công ty VILEXIM, tập trung chủ yếu vào giai đoạn gần đây nhất, cụ thể từ năm 2006 tới nay và cả trong những năm tiếp theo. IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp thống kê, tổng hợp: tổng kết hệ thống các số liệu liên quan đến thị trường xuất khẩu của công ty, các mặt hàng xuất khẩu thành một chuỗi theo thời gian để phân tích, đánh giá cụ thể. Phương pháp phân tích: phân tích được vai trò của thị trường xuất khẩu hàng hóa đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu nói chung và VILEXIM nói riêng để từ đó thấy được mối quan hệ giữa phát triển thị trường xuất khẩu với việc sử dụng các biện pháp nhằm phát triển thị trường xuất khẩu. Đồng thời sử dụng phương pháp phân tích chính sách, thông qua những chủ trương chính sách đã được áp dụng trong kinh tế để phân tích tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu của công ty. Phương pháp so sánh: để đối chiếu, so sánh kim ngạch cũng như thị trường xuất khẩu hàng hóa của VILEXIM trong các năm khác nhau. V. KẾT QUẢ DỰ KIẾN ĐẠT ĐƯỢC Thứ nhất, góp phần hệ thống hóa những lý luận chung liên quan đến xuất khẩu và phát triển thị trường xuất khẩu từ đó làm rõ được sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá ở Công ty VILEXIM. Thứ hai, dựa trên tình hình hoạt động kinh doanh và xu hướng thương mại phân tích thực trạng công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá của công ty VILEXIM từ năm 2006 đến nay. Thứ ba, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM. VI. KẾT CẤU CỦA CHUYÊN ĐÈ Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu chuyên đề gồm có ba phần: Chương I: Sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa ở công ty VILEXIM Chương II: Thực trạng công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa của công ty VILEXIM từ năm 2006 đến nay Chương III: Một số giải pháp chủ yếu để phát triển thị trường xuất khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM. CHƯƠNG I SỰ CẦN THIẾT PHẢI ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA Ở CÔNG TY VILEXIM I. Một số vấn đề cơ bản về phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa 1. Thị trường xuất khẩu hàng hoá 1.1. Khái niệm thị trường xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho người nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương thức thanh toán. Trong xuất khẩu luồng tiền tệ dịch chuyển từ nước nhập khẩu sang nước xuất khẩu và có một luồng hàng hoá dịch chuyển theo hướng ngược lại từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu. Xuất khẩu là sự mở rộng của hoạt động buôn bán trong nước, là một bộ phận của thương mại quốc tế. Khi nói đến thị trường là ta hình dung ra đó là nơi xảy ra các hoạt động kinh doanh. Thị trường chính là một phạm trù của kinh tế hàng hoá ra đời. Thuật ngữ thị trường được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế định nghĩa. Song cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm nào mang tính khái quát thống nhất và trọn vẹn. Vì trong mỗi thời kì phát triển, trên mỗi khía cạnh, lĩnh vực thị trường lại được định nghĩa một cách khác nhau. Theo trường phái Cổ điển thì: Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá. Theo định nghĩa này thì thị trường gần như một cái chợ có đầy đủ không gian và thời gian, dung lượng cụ thể, xong nó chỉ phù hợp với thời kì sản xuất chưa phát triển, các hình thức mua bán trao đổi còn đơn giản. Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển tới trình độ cao, các hình thức mua bán trao đổi trở lên phức tạp, đa dạng, phong phú thì khái niệm này không còn phù hợp nữa. Theo khái niệm hiện đại (P.A SAMUELSON ) thì Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hoá nào đó tác động qua lại với nhau để xác định giá cả và số lượng hàng hoá. Như vậy thị trường là tổng thể các quan hệ về lưu thông hàng hoá, lưu thông tiền tệ, các giao dịch mua bán và các dịch vụ. Khái niệm này đã lột tả được bản chất của thị trường trong thời kỳ phát triển này, song khái niệm này mới chỉ đứng trên khía cạnh của nhà phân tích kinh tế nói về thị trường, nó chưa giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu của mình. Theo MC CARTHY: Thị trường có thể hiểu là một nhóm khách hàng tiềm năng với những nhu cầu giống nhau và những người bán đưa ra sản phẩm khác nhau với cách thức khác nhau để thoả mãn nhu cầu đó. Khái niệm này không những nói lên được bản chất của thị trường mà còn giúp cho doanh nghiệp xác định được mục tiêu, phương hướng kinh doanh của mình: Đó là hướng tới khách hàng, mục tiêu tìm mọi cách thoả mãn nhu cầu của khách hàng để đạt được lợi nhuận tối đa. Trên cơ sở khái niệm MC Carthy ta có thể đưa ra khái niệm về thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Thị trường xuất khẩu được định nghĩa là tập hợp những khách hàng nước ngoài tiềm năng của doanh nghiệp tức là những khách hàng nước ngoài đang mua hoặc sẽ mua sản phẩm của doanh nghiệp ấy. Qua khái niệm này doanh nghiệp không chỉ xác định được mục tiêu của mình là hướng tới khách hàng với nhu cầu đặc trưng của họ mà còn xác định rõ nhu cầu, cơ cấu nhu cầu đó mang đặc tính cơ bản của thị trường quốc tế, bị chi phối bởi tập quán văn hoá, ngôn ngữ lối sống, điều kiện tự nhiên của các nước đó. Để có thể hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu hàng hóa ta nghiên cứu các đặc điểm của nó. Thị trường xuất khẩu hàng hóa có các đặc điểm sau: - Thị trường xuất khẩu hàng hoá được phân biệt với thị trường trong nước ở tập khách hàng tiềm năng - khách hàng tiềm năng nước ngoài cũng có quan điểm thị hiếu, hành vi tiêu dùng rất khác nhau. - Thị trường xuất khẩu hàng hoá thường có rất nhiều nhà cung ứng bao gồm cả người cung ứng nội địa và các công ty đa quốc gia, các nhà xuất khẩu… vì vậy tính chất cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu là rất lớn. - Giá cả hàng hoá trên thị trường xuất khẩu thường được hình thành theo mức giá quốc tế chung, ít có nhà xuất khẩu nào có thể điều khiển được mức giá thị trường trừ khi đó là nhà xuất khẩu lớn. Giá cả hàng hoá xuất khẩu thường bao gồm một phần không nhỏ chi phí vận chuyển, bảo quản đặc biệt đối với những hàng hoá có quãng đường vận chuyển xa. Giá cả trên thị trường xuất khẩu thường biến động hơn so với thị trường nội địa xuất. - Thị trường xuất khẩu thường chịu tác động của nhiều nhân tố như kinh tế, chính trị, pháp luật, văn hoá… Do vậy mức độ rủi ro trên thị trường quốc tế là rất lớn. 1.2. Phân loại thị trường xuất khẩu hàng hoá Một doanh nghiệp xuất nhập khẩu muốn thành công trong kinh doanh trước hết phải hiểu cặn kẽ về thị trường của mình. Để hiểu rõ về thị trường và có thể chiếm lĩnh được thì cần phải phân loại chúng. Có rất nhiều cách phân loại thị trường, tuỳ mục đích kinh doanh khác nhau mà ta có các cách phân loại khác nhau. Một số căn cứ phân loại thị trường xuất khẩu thường được sử dụng. 1.2.1. Căn cứ theo khả năng tiêu thụ - Thị trường thực tế: Là thị trường thực tại doanh nghiệp đang tồn tại và chiếm lĩnh (còn gọi là thị trường hiện tại). - Thị trường tiềm năng: Là thị trường doanh nghiệp chuẩn bị và có khả năng chiếm lĩnh trong thời gian tới (còn gọi là thị trường tương lai). Cách phân chia này giúp cho doanh nghiệp đưa ra được các chiến lược về thị trường một cách đúng đắn về việc mở rộng thị trường hay xâm nhập thị trường 1.2.2.. Căn cứ theo tỉ trọng hàng hoá - Thị trường chính: là thị trường mà số lượng hàng hoá bán ra chiếm đại đa số so với tổng khối lượng hàng hoá được đưa ra tiêu thụ của Công ty. - Thị trường phụ: Là thị trường có khối lượng hàng hoá bán ra rất thấp so với tổng khối lượng tiêu thụ. Thị trường này có tính chất bổ sung, giới thiệu và quảng cáo sản phẩm cho Công ty. Cách phân chia này giúp cho doanh nghiệp đưa ra cách phân phối sản phẩm hàng hoá một cách hợp lý, có phương cách xúc tiến khuyếch trương sản phẩm phù hợp với từng thị trường. 1.2.3. Căn cứ vào lượng người mua bán tham gia thị trường - Thị trường độc quyền: Là thị trường xuất khẩu mà ở đó chỉ có duy nhất một hãng sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu tham gia xuất khẩu sản phẩm của mình sang thị trường đó nên sản phẩm hàng hoá là duy nhất. Từ đó họ có thể kiểm soát được giá bán, số lượng sản phẩm tiêu thụ và nắm chắc được quy luật cung cầu. - Thị trường cạnh tranh hoàn hảo: Là thị trường xuất khẩu mà ở đó có nhiều hãng sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu tham gia xuất khẩu các sản phẩm hàng hoá của mình sang thị trường đó. Trong những hãng sản xuất này không có hãng nào có đủ ưu thế và quy mô để cung ứng một sản phẩm đủ sức chi phối giá cả trên thị trường. - Thị trường độc quyền cạnh tranh: Là thị trường mà ở đó vừa có trạng thái độc quyền, vừa có trạng thái cạnh tranh. Trong trường hợp này bất kỳ một hãng sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu nào cũng có thể là độc quyền hoặc là cạnh tranh trong cùng một loại sản phẩm nhưng về mặt chất lượng và số lượng có khác chút ít. 1.2.4. Căn cứ vào mức độ hạn chế xuất khẩu - Thị trường có hạn ngạch: là thị trường bị giới hạn về số lượng, chất lượng hàng hoá xuất khẩu. - Thị trường không có hạn ngạch: là thị trường không bị giới hạn về số lượng, chất lượng hàng hoá xuất khẩu. 1.2.5. Căn cứ vào nguồn gốc xuất khẩu - Thị trường xuất khẩu trực tiếp: là thị trường mà ở đó các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp tham gia xuất khẩu vào thị trường không phải qua các khâu trung gian. Ở thị trường này các doanh nghiệp tự nghiên cứu thị trường, tìm kiếm khách hàng, thoả thuận giao dịch, ký kết hợp đồng rồi tự khai thác nguồn hàng, sản xuất, giá cả, chế biến…. và thực hiện hợp đồng. Doanh nghiệp chịu trách nhiệm đảm bảo hợp đồng bằng tài sản của mình. Hiện nay xu hướng xuất nhập khẩu trực tiếp đang ngày càng được mở rộng. - Thị trường xuất khẩu gián tiếp: là thị trường mà tại đó các doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải thông qua khâu trung gian xuất nhập khẩu. Các doanh nghiệp này vì lý do chủ quan không thể tham gia xuất nhập khẩu trực tiếp, do vậy phải uỷ quyền cho doanh nghiệp trung gian thường là những doanh nghiệp kinh doanh hàng xuất nhập khẩu làm dịch vụ xuất khẩu hàng hoá cho mình và phải trả một khoản thù lao gọi là phí uỷ thác. 2. Nội dung phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mà ở đó các cách thức và biện pháp của doanh nghiệp đưa ra nhằm hướng tới thị trường và khách hàng nước ngoài. Các cách thức và biện pháp đó nhằm mục đích mở rộng quy mô thị trường, tăng thêm lợi nhuận và nâng cao uy tín của doanh nghiệp ở thị trường nước ngoài. 2.1. Các hình thức phát triển thị trường xuất khẩu 2.1.1. Hình thức phát triển thị trường theo chiều rộng Phát triển thị trường theo chiều rộng là hình thức doanh nghiệp cố gắng mở rộng thị trường theo phạm vi địa lý, tăng quy mô sản xuất và kinh doanh, mở rộng chủng loại sản phẩm xuất khẩu, tăng số lượng khách hàng, hay nói cách khác đây là hình thức phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm về mặt lượng. Phương thức này được doanh nghiệp sử dụng trong các trường hợp: + Thị trường sản phẩm hiện tại của doanh nghiệp đang có xu hướng bão hoà + Doanh nghiệp không có khả năng cạnh tranh được trên thị trường hiện tại + Doanh nghiệp có đủ điều kiện năng lực để mở rộng thêm thị trường mới để tăng doanh thu lợi nhuận hoặc không có khả năng tăng thêm thị phần của mình trên thị trường đang kinh doanh. Phát triển thị trường xuất khẩu hàng hóa theo chiều rộng là một hướng đi đúng đắn để doanh nghiệp tăng thêm thị phần sản phẩm của mình trên thị trường quốc tế góp phần nâng cao doanh thu, lợi nhuận doanh nghiệp. Phát triển thị trường theo chiều rộng có thể hiểu theo ba cách: b Theo tiêu thức địa lý: Phát triển thị trường theo chiều rộng chính là tăng cường sự hiện diện của doanh nghiệp tại địa bàn mới bằng các sản phẩm hiện tại tức là doanh nghiệp mang sản phẩm sang tiêu thụ tại các vùng mới để thu hút thêm khách hàng, tăng doanh số bán sản phẩm. Tuy nhiên để đảm bảo thành công cho công tác phát triển thị trường lúc này, doanh nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường, xác định điều kiện thị trường, đặc điểm khách hàng và nhu cầu khách hàng tại địa bàn mới để đưa ra các chiến lược tiếp cận thị trường phù hợp. b Theo tiêu thức sản phẩm: Phát triển thị trường theo chiều rộng tức là doanh nghiệp đem bán những sản phẩm mới vào thị trường hiện tại (thực chất là phát triển sản phẩm) doanh nghiệp. Luôn đưa ra những sản phẩm mới có tính năng phù hợp với người tiêu dùng hơn, khiến họ có mong muốn tiếp tục tiêu dùng sản phẩm của doanh nghiệp. Thường áp dụng chính sách đa dạng hoá sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. b Theo tiêu thức khách hàng: Phát triển thị trường theo chiều rộng tức là doanh nghiệp kích thích, khuyến khích các nhóm khách hàng mới tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp, có thể là khách hàng của đối thủ cạnh tranh, có thể là khách hàng không tiêu dùng tuyệt đối (khách hàng tiềm năng của doanh nghiệp). Muốn thực hiện được điều đó doanh nghiệp cần hiểu được rõ nhu cầu của khách hàng, điểm mạnh điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có những hoạt động hợp lý trong việc giành khách hàng của thị trường. 2.1.2. Phát triển thị trường theo chiều sâu Phát triển thị trường theo chiều sâu chính là sự nâng cao chất lượng hiệu quả của thị trường. Chất lượng hiệu quả của thị trường có thể được đánh giá qua một số chỉ tiêu như uy tín của sản phẩm và doanh nghiệp, chỉ tiêu tăng doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận, sự thoả mãn, sự trung thành của khách hàng với sản phẩm xuất khẩu. Hướng phát triển này thường chịu ảnh hưởng bởi sự cạnh tranh, rào cản về sức mua, địa lý... do vậy doanh nghiệp phải nghiên cứu kỹ về thị trường, qui mô, cơ cấu mặt hàng và sự cạnh tranh, tiềm lực của doanh nghiệp để đảm bảo cho sự thành công của hoạt động phát triển thị trường. Phát triển thị trường theo chiều sâu thường được doanh nghiệp sử dụng khi: + Thị trường hiện tại lớn và ổn định có xu hướng điều kiện môi trường tốt cho sản phẩm của doanh nghiệp. + Doanh nghiệp có khả năng và điều kiện cạnh tranh tại thị trường này. + Sản phẩm doanh nghiệp có uy tín trên thị trường và đang được ưa chuộng. Phát triển thị trường theo chiều sâu cũng được hiểu theo ba cách: - Theo tiêu thức địa lý: Phát triển thị trường theo chiều sâu tức là doanh nghiệp cố gắng bán thêm hàng hoá vào địa bàn vốn là thị trường của doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng các công cụ marketting, chiêu dụ khách hàng, đánh bật đối thủ cạnh tranh và có thể tiến tới độc chiếm thị trường. - Theo tiêu thức khách hàng: Phát triển thị trường theo chiều sâu là việc doanh nghiệp nỗ lực bán thêm sản phẩm của mình vào nhóm khách hàng của doanh nghiệp. Bằng cách phục vụ của mình, doanh nghiệp biến nhóm khách hàng đó trở thành khách hàng trung thành của mình. - Theo tiêu thức sản phẩm: phát triển thị trường có nghĩa là doanh nghiệp tăng cường bán một loại sản phẩm với mức cao nhất có thể trên thị trường doanh nghiệp. Để làm tốt công việc này doanh nghiệp phải xác định được ngành hàng, lĩnh vực mà mình có lợi thế nhất để đầu tư mạnh cho sản xuất kinh doanh vào ngành đó, tạo được thế độc quyền cho mình. 2.1.3. Kết hợp phát triển thị trường theo cả chiều rộng và chiều sâu Khi doanh nghiệp đã có vị trí vững chắc trên thị trường và có điều kiện tiềm năng về vốn, cơ sở vật chất và năng lực quản lý có thể phát triển theo hướng kết hợp phát triển thị trường theo cả chiều rộng và chiều sâu để mở rộng quy mô kinh doanh với hiệu quả cao. 2.2. Quy trình phát triển thị trường xuất khẩu 2.2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu Nghiên cứu thị trường xuất khẩu là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, từ chiến lược đã xác định doanh nghiệp tiến hành lập và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường. Bất kỳ một doanh nghiệp thương mại đều phải tiến hành nghiên cứu thị trường, Nghiên cứu thị trường là cần thiết, đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp bắt đầu kinh doanh vì thị trường không phải là bất biến mà thị trường luôn biến động, đầy biến đổi và thay đổi không ngừng. Do đó nghiên cứu thị trường là việc làm thường xuyên của doanh nghiệp. Mục đích công tác này là nghiên cứu xác định khả năng bán một loại mặt hàng hoặc nhóm mặt hàng nào đó trên địa bàn quốc tế, trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung ứng để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Để tạo thuận lợi cho hoạt động phát triển thị trường thì hoạt động trên cần được doanh nghiệp thực hiện cẩn thận, chính xác, mang tính thống nhất và đồng bộ. Trước khi thực hiện phát triển thị trường xuất khẩu ở một khu vực nhất định thì công tác nghiên cứu thị trường cần phải được triển khai đầu tiên và luôn đi trước một bước. Thực hiện bước này tốt sẽ giúp doanh nghiệp thuận lợi trong việc lựa chọn thị trường, mặt hàng, số lượng xuất khẩu cho phù hợp với từng thị trường Đối với một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu thì công tác nghiên cứu thị trường càng có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp được thể hiện dưới các góc độ: - Tổ chức nghiên cứu thị trường trên nhiều thị trường khác nhau: thực hiện được bước này ta sẽ biết được thị trường nào có triển vọng nhất để từ đó lựa chọn thị trường có tiềm năng, đẩy mạnh hoạt động phát triển xuất khẩu tại thị trường đó. - Nghiên cứu dung lượng thị trường xuất khẩu: Tiến hành nghiên cứu tổng cung, tổng cầu hiện tại về các sản phẩm hàng hóa tại từng thị trường nhằm xác định xem dung lượng thị trường lớn hay nhỏ, để đề ra phương án tiếp theo. - Nghiên cứu hàng hóa cả về định tính và định lượng để câu trả lời có nên xuất khẩu hay không, có đạt hiệu quả hay không. - Nghiên cứu giá cả các mặt hàng trên thị trường xuất khẩu: phải tìm được chênh lệch giá (trên thị trường bán) và giá mua. Có thể ước tính chi phí vận chuyển và nộp thuế để xác định thị trường mua hàng và quyết định khối lượng hàng cần đặt, hàng cần thu mua. Nghiên cứu chính sách của Chính phủ về các loại hàng được phép xuất khẩu, hạn ngạch của từng mặt hàng xuất khẩu ở các thị trường, nghiên cứu các chính sách về thuế, các loại cước vận tải, lãi suất tiền vay để xác định giá cả thị trường. Căn cứ vào mục tiêu kinh doanh, chính sách giá cả của doanh nghiệp để xác định giá mua, giá bán cho phù hợp. - Nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh: nghiên cứu số lượng, thế mạnh của từng đối thủ, số lượng đối thủ càng đông thì mức độ cạnh tranh càng gay gắt. Đồng thời cũng phải tiến hành nghiên cứu số lượng, giá cả mẫu mã các mặt hàng mà đối thủ cạnh tranh đang xuất khẩu tại các thị trường nghiên cứu. - Nghiên cứu các yếu tố khác như chính trị, pháp luật, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo… 2.2.2. Xác định hình thức phát triển thị trường xuất khẩu Như đã nêu ở phần trên, một doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có thể lựa chọn hình thức phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều rộng, phát triển thị trường xuất khẩu theo chiều sâu hoặc kết hợp cả hai hình thức. 2.2.3. Xác định các chiến lược và kế hoạch phát triển thị trường xuất khẩu - Xây dựng chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu: bao gồm + Xác định mục tiêu phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp + Phân tích các yếu tố của thị trường xuất khẩu (văn hoá – kinh tế - xã hội – phong tục - tập quán) + Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của doanh nghiệp + Xây dựng chiến lược phát triển thị trường tổng quát. - Xây dựng kế hoạch phát triển thị trường: Các kế hoạch phát triển thị trường phải được tiến hành xây dựng thường xuyên, cụ thể và phù hợp với chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của doanh nghiệp. Kế hoạch xây dựng bao gồm kế hoạch về vốn đầu tư kinh doanh vào thị trường, kế hoạch lưu chuyển hàng hóa, kế hoạch marketing… 2.2.4. Tổ chức nghiệp vụ phát triển thị trường xuất khẩu Hoạt động này bao gồm + Tổ chức nghiên cứu các đặc trưng của thị trường xuất khẩu. + Điều chỉnh các biện pháp phát triển thị trường + Đánh giá hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu. 2.3. Các phương thức thâm nhập để phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá Sau khi đã lựa chọn được thị trường mục tiêu của mình và xây dựng được chiến lược, doanh nghiệp cần lựa chọn phương thức tốt nhất để thâm nhập vào các thị trường đó. Các phương thức doanh nghiệp có thể sử dụng là: 2.3.1. Hình thức thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu Thâm nhập thị trường xuất khẩu có thể tiến hành thông qua ba hình thức sau: Thứ nhất, hình thức xuất khẩu trực tiếp. Đây là một hình thức kinh doanh mà trong đó người mua và người bán tiến hành trao đổi trực tiếp với nhau, có thể thông qua các phương tiện giao tiếp hiện đại như điện thoại, thư tín, fax, e-mail (thư điện tử)…để thoả thuận với nhau về các điều khoản của hợp đồng. Thông qua xuất khẩu trực tiếp, các doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận cao hơn do giảm được các chi phí trung gian, việc xuất khẩu diễn ra nhanh chóng và mang lại hiệu quả cao hơn. Hơn thế các doanh nghiệp còn có thể khắc phục được những thiếu sót và có điều kiện để chủ động thâm nhập vào thị trường thế giới. Tuy nhiên, để tham gia hình thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, kỹ năng giao tiếp tốt, được đào tạo một cách bài bản, nắm vững và tinh thông những nghiệp vụ về thị trường ngoại thương, tâm huyết với nghề, có kinh nghiệm và phẩm chất tốt. Thứ hai, hình thức xuất khẩu uỷ thác. Đây là hoạt động xuất khẩu diễn ra giữa một doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu một loại hàng hoá nào đó nhưng không có điều kiện tham gia quan hệ xuất khẩu trực tiếp, do đó họ phải tiến hành hoạt động uỷ thác cho một tổ chức trung gian có khả năng tham gia xuất khẩu trực tiếp hàng hoá đó để tiến hành giao dịch mua bán với bên tham gia nhập khẩu. Tổ chức trung gian nhận uỷ thác sẽ tiến hành xuất khẩu hàng hoá với danh nghĩa của mình nhưng moị chi phí đều do bên uỷ thác thanh toán và họ còn nhận được một khoản tiền gọi là phí uỷ thác. Xuất khẩu hàng hoá thông qua hình thức này các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu không phải tổ chức một bộ máy phục vụ cho công tác xuất khẩu nên giảm được chi phí, đồng thời cũng giúp doanh nghiệp giảm được những rủi ro lớn trong kinh doanh xuất nhập khẩu. Hình thức xuất khẩu này rất phù hợp với những doanh nghiệp đang gia nhập thị trường mới hay đang tung ra những sản phẩm mới có tính chất thử nghiệm. Bên cạnh đó hình thức xuất khẩu này cũng có một số bất lợi như: làm cho danh nghiệp bị mất quan hệ trực tiếp với thị trường, bị phụ thuộc vào trung gian, bị tách rời với thị trường nên hệ thống thông tin phản hồi từ khách hàng và thị trường thường không chính xác và kịp thời, ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu còn bị mất một khoản phí uỷ thác. Thứ ba, hình thức tái xuất khẩu (tạm nhập, tái xuất). Theo hình thức này, các hàng hoá xuất khẩu không được sản xuất ở trong nước mà do các doanh nghiệp nhập khẩu vào nước mình rồi lại đem xuất khẩu sang nước khác để hưởng chênh lệch giá. Tham gia hình thức xuất khẩu này sẽ giúp các doanh nghiệp vẫn đáp ứng được các đơn hàng xuất khẩu mà không phải thay đổi công nghệ sản xuất nên tiết kiệm được chi phí. Tuy nhiên để tham gia hình thức xuất khẩu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải vô cùng nhạy bén và nắm vững các kiến thức về thị trường. 2.3.2. Hình thức thâm nhập qua hợp đồng Đây là hình thức thâm nhập thị trường nước ngoài có nhiều ưu điểm. Trước những rào cản thương mại của các quốc gia trên thế giới, các doanh nghiệp gặp phải rất nhiều khó khăn trong hoạt động mở rộng, phát triển thị trường của mình. Việc sử dụng hình thức thâm nhập thông qua hợp đồng giúp doanh nghiệp vượt qua được những rào cản đó. Hơn nữa có những thứ hàng hoá không thể mua bán thông thường được vì đó là những hàng hoá vô hình như: bí quyết công nghệ, nhãn hiệu, kinh nghiệm quản lý… khiến doanh nghiệp không thể sử dụng hình thức thâm nhập thị trường thông qua xuất khẩu được. Do đó các nhà kinh doanh đã lựa chọn hình thức thâm nhập thông qua hợp đồng. Hình thức thâm nhập qua hợp đồng có các loại sau: hợp đồng sử dụng giấy phép, hợp đồng kinh tiêu, hợp đồng quản lý, dự án chìa khoá trao tay. 2.3.3. Hình thức thâm nhập thông qua đầu tư Đây là hình thức thâm nhập đòi hỏi DN phải trực tiếp đầu tư vào xây dựng nhà máy hoặc cung cấp thiết bị tại một nước và tiếp tục tham gia vào quá trình vận hành chúng. Thâm nhập thông qua hình thức này đòi hỏi mức độ cam kết của doanh nghiệp phải cao hơn. Ba hình thức phổ biến nhất của thâm nhập thông qua đầu tư là chi nhánh sở hữu toàn bộ, liên doanh và liên minh chiến lược. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá Hoạt động phát triển thị trường là một trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hoạt động này chịu tác động của cả yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài, yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan. Để thực hiện hoạt động phát triển thị trường được hiệu quả tất yếu doanh nghiệp phải xem xét đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đó. 3.1. Các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp 3.1.1. Chính trị pháp luật Đối với mỗi nước khác nhau thì chế độ chính trị, luật pháp, và tình trạng kinh tế là khác nhau, yêú tố này ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xuất nhập khẩu, ảnh hưởng cả đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp. Đầu vào đó là môi trường trong nước. Các yếu tố này ảnh hưởng đến hình thức kinh doanh, sản phẩm kinh doanh (chính phủ cho phép hay không cho phép xuất khẩu), nguồn hàng và các yếu tố thuộc nguồn lực kinh doanh của doanh nghiệp. Ở thị trường xuất khẩu thì các yếu tố này ảnh hưởng đến điều kiện tiêu thụ hàng hoá, chi phối đến chi phí tiêu thụ hàng. Chẳng hạn như mức thuế nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu... đối với các mặt hàng nhập khẩu vào trong nước. Bên cạnh đó tình hình ổn định kinh tế chính trị cũng góp phần lớn vào hoạt động phát triển thị trường của doanh nghiệp nó đảm bảo sự an toàn cho doanh nghiệp và ảnh hưởng đến sức mua của khách hàng. Môi trường chính trị ổn định tạo điều kiện cho doanh nghiệp kinh doanh được thuận lợi, tạo tiền đề cho sự đầu tư sản xuất có hiệu quả để phục vụ mục tiêu xuất khẩu của doanh nghiệp. Môi trường pháp luật với khung pháp luật tốt, chặt chẽ tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh xuất khẩu của doanh nghiệp được bảo đảm, tránh được những rủi ro do lỗ hổng pháp luật. Bên cạnh đó những chính sách vừa mới ra đời được điều chỉnh cho phù hợp với sự phát triển kinh tế thị trường cũng là nhân tố giúp cho hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu được thuận lợi khi tham gia vào các thị trường xuất khẩu quốc tế. Ngoài ra, chính sách xuất khẩu của nhà nước cũng có sự tác động mạnh mẽ tới hoạt động của doanh nghiệp xuất khẩu trong nước. Các mặt hàng được khuyến khích, hỗ trợ xuất khẩu sẽ có được những lợi thế hơn khi xuất khẩu. Tóm lại cho dù ở môi trường nào nơi xuất khẩu, nơi nhập khẩu, yếu tố này cũng ảnh hưởng quyết định lớn đến hoạt động phát triển thị trường nói chung và kinh doanh nói riêng của doanh nghiệp 3.1.2. Tỷ giá hối đoái và tỷ suất ngoại tệ Nhân tố này quyết định đến các mặt hàng, bạn hàng, phương án kinh doanh và quan hệ kinh doanh đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Sự biến đổi của nhân tố này sẽ gây ra biến động lớn trong tỷ trọng giữa xuất khẩu và nhập khẩu, chẳng hạn như tiền nội tệ giảm giá tương đối so với đồng ngoại tệ thì sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu. Hiện nay tương quan giữa cung và cầu về ngoại tệ ở trong nước biến động rất phức tạp vì còn một phần ngoại tệ không nhỏ vận động ngoài các trung tâm mua bán của Nhà nước. Vì vậy đi đôi với việc mở rộng thị trường ngoại._. hối trong nước, phải chú trọng các yếu tố khuyến khích xuất khẩu khi ấn định tỷ giá. Đây là những quyết định có tính chủ quan nhưng rất cần thiết vì nếu không đẩy mạnh được xuất khẩu để tạo nguồn ngoại tệ tự có thì chúng ta sẽ không đủ ngoại tệ để cân bằng cán cân thanh toán quốc tế. 3.1.3. Hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc Việc thực hiện xuất khẩu gắn liền với công việc vận chuyển và hệ thống thông tin liên lạc. Nhờ có thông tin liên lạc mà các thoả thuận có thể tiến hành nhanh chóng, kịp thời. Thực tế cho thấy rằng ảnh hưởng của hệ thống thông tin đã đơn giản hoá công việc của hoạt động xuất khẩu rất nhiều, giảm đi hàng loạt các chi phí, nâng cao tính kịp thời nhanh gọn. Việc hiện đại hoá các phương tiện vận chuyển, bốc dỡ, bảo quản góp phần đem quá trình hoạt động xuất khẩu được nhanh chóng và an toàn đồng thời cũng giảm được chi phí. 3.1.4. Hệ thống tài chính ngân hàng Hệ thống tài chính ngân hàng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu nói riêng và thương mại quốc tế nói chung. Nó giúp cho việc quản lý, cung cấp vốn, đảm trách việc thanh toán một cách thuận tiện, nhanh chóng, chính xác và an toàn cho doanh nghiệp. Điều này rất quan trọng đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu. Hiện nay hệ thống tài chính ngân hàng đã phát triển hết sức lớn mạnh, can thiệp đến tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế, làm cho hoạt động xuất khẩu diễn ra hết sức thuận lợi. 3.1.5. Đối thủ cạnh tranh Đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp có mặt hàng giống mặt hàng của doanh nghiệp hoặc mặt hàng có thể thay thế lẫn nhau. Đối thủ cạnh tranh là một rào cản lớn để doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường, là một yếu tố tác động thường xuyên và trong suốt thời kỳ hoạt động thị trường của doanh nghiệp. Khi nghiên cứu về đối thủ cạnh tranh doanh nghiệp cần xem xét các vấn đề sau: + Năng lực của đối thủ cạnh tranh (tài chính, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực…) + Cơ cấu, đặc điểm, mẫu mã hàng hoá của đối thủ cạnh tranh. + Chiến lược và chính sách kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. + Điểm mạnh và điểm yếu của đối thủ cạnh tranh Trên cơ sở đó Công ty sẽ đưa ra các chiến lược và kế hoạch phát triển thị trường phù hợp với từng giai đoạn và khả năng của Công ty. 3.2. Các yếu tố bên trong doanh nghiệp Nếu biết cách kết hợp giữa các yếu tố bên ngoài và các yếu tố bên trong doanh nghiệp một cách hài hoà sẽ có thể dễ dàng đưa ra được một chiến lược kế hoạch kinh doanh hợp lý cho mỗi doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh. Các yếu tố bên trong đóng vai trò chủ chốt trong việc lập và thực hiện hoạt động phát triển thị trường. Các yếu tố cơ bản đó là: 3.2.1. Tiềm lực về tài chính Tiềm lực tài chính đó là một yếu tố tổng hợp phản ánh sức mạnh của doanh nghiệp thông qua khối lượng vốn mà doanh nghiệp có thể huy động vào kinh doanh. Tiềm lực tài chính càng lớn càng giúp cho hoạt động kinh doanh thuận lợi và chống đỡ được những rủi ro biến động của thị trường. Tiềm lực tài chính là một yếu tố đảm bảo sự cạnh tranh thành công, nó chính là một lợi thế của doanh nghiệp. Muốn có được tiềm lực tài chính vững mạnh doanh nghiệp phải biết tích luỹ thường xuyên như nâng cao doanh số bán, vay vốn của các tổ chức, liên doanh liên kết... 3.2.2. Tiềm lực về nhân sự và cơ sở hạ tầng Muốn thực hiện được hoạt động phát triển thị trường tất yếu phải có đội ngũ lao động đủ theo yêu cầu (cả về số lượng và chất lượng) và một cơ sở vật chất đảm bảo hiệu suất và công suất công việc. Đội ngũ lao động phải được đào tạo thường xuyên về năng lực trình độ chuyên môn nghiệp vụ, về các mặt quản lý và các chức năng công việc... Cơ sở vật chất cũng phải thường xuyên được cải tổ và xây mới. 3.2.3. Các yếu tố vô hình Các yếu tố vô hình là một điều kiện rất thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận và chiếm lĩnh thị trường. Nó là giấy thông hành cho hàng hoá doanh nghiệp đến với khách hàng. Tiềm lực vô hình là hình ảnh uy tín của doanh nghiệp trên thương trường, mức độ nổi tiếng của sản phẩm nhãn hiệu hàng hoá, uy tín của doanh nghiệp trong quan hệ xã hội... Tất cả các tiềm lực đó đều ảnh hưởng trực tiếp đến quan hệ kinh tế với các đối tác nước ngoài của doanh nghiệp trên thị trường. 3.2.4. Sản phẩm và kênh phân phối Sản phẩm là một hệ thống các yếu tố thoả mãn đồng bộ nhu cầu của khách hàng bao gồm mẫu mã, chất lượng, công dụng, giá cả của sản phẩm... Mỗi loại hàng hoá có tính chất và đặc điểm riêng, do vậy chỉ phù hợp với yêu cầu của một số khách hàng nhất định. Nếu hàng hoá càng thích ứng với khách hàng thì uy tín của doanh nghiệp và độ tin cậy của sản phẩm đôí với khách hàng càng cao, dễ chiếm lĩnh thị trường. Và ngược lại thì sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong viêc chiếm lĩnh được thị trường. Ví dụ như các sản phẩm điện tử của Nhật uy tín, chất lượng do vậy rất dễ xâm nhập và chiếm lĩnh thị trường quốc tế. II. Sự cần thiết phải đẩy mạnh phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá ở Công ty VILEXIM 1. Vai trò của phát triển thị trường xuất khẩu đối với nền kinh tế quốc dân Ngày nay, hoạt động phát triển thị trường xuất khẩu không chỉ bó hẹp trong phạm vi kinh doanh xuất khẩu của từng doanh nghiệp mà nó đã trở thành hoạt động chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đối với Việt Nam, xét dưới góc độ nền kinh tế thì hoạt động phát triển thị trường có vai trò sống còn cho sự phát triển nhanh chóng và bền vững. Vai trò của phát triển thị trường được thể hiện dưới các góc độ: Thứ nhất, Việt Nam là quốc gia phát triển kinh tế theo chiến lược tăng trưởng nhờ xuất khẩu. Xuất khẩu đóng vai trò sống còn đối với nền kinh tế đất nước. Xuất khẩu sẽ tạo nguồn thu nhập, tích luỹ cho Nhà nước một nguồn vốn ngoại tệ lớn cho việc nhập khẩu thiết bị sản xuất hiện đại, nguyên phụ liệu…để phát triển sản xuất phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước. Xuất khẩu được xem là một yếu tố để thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế vì nó cho phép mở rộng quy mô sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nước, gây phản ứng dây truyền kéo theo một loạt các ngành khác có liên quan phát triển theo. Thứ hai, xuất khẩu sẽ giải quyết được vấn đề công ăn việc làm, nâng cao mức sống của người dân, đưa quốc gia thoát khỏi sự đói nghèo và lạc hậu. Vì vậy, để hoạt động xuất khẩu diễn ra thuận lợi và tăng trưởng nhanh chóng thì hoạt động phát triển thị trường cần phải đi trước một bước. Thứ ba, phát triển thị trường xuất khẩu tốt giúp cho mối quan hệ thương mại giữa nền kinh tế trong nước và nền kinh tế khác trên thế giới đựơc liên kết chặt chẽ, tạo ra mối quan hệ thương mại đa dạng góp phần cho hoạt động xuất khẩu diễn ra thuận lợi và không bị gián đoạn. 2. Vai trò của phát triển thị trường xuất khẩu đối với doanh nghiệp xuất khẩu Đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu thì thị trường có vai trò quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp, nó không những giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần tăng doanh thu, ổn định và tối đa hoá lợi nhuận trong kinh doanh mà còn giúp doanh nghiệp có vốn để tái đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, tìm kiếm được các nguồn lực và các lợi thế từ nước ngoài, tận dụng tối đa năng lực sản xuất. Thị trường vừa là mục tiêu vừa là đối tượng phục vụ của doanh nghiệp. Tất cá các hoạt động của doanh nghiệp đều hướng vào thị trường xuất khẩu. Bắt đầu từ tổ chức bộ máy, đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, chất lượng dịch vụ đến các hoạt động Marketing đều nhằm mục đích đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường. Do vậy việc phát triển thị trường xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng, nó được thể hiện qua các điểm: Thứ nhất là tăng doanh số bán hàng Dù kinh doanh trên bất cứ thị trường nào thì mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp đều là gia tăng được số lượng hàng hoá bán ra và thu được về nhiều lợi nhuận nhất. Phát triển thị trường xuất khẩu sẽ giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội kinh doanh, mở rộng lĩnh vực sản xuất kinh doanh hiện tại của mình. Do số lượng khách hàng trên thị trường quốc tế là rất lớn nên doanh số bán hàng mà doanh nghiệp có thể đạt tới là rất cao. Mặt khác, các doanh nghiệp mở rộng thị trường xuất khẩu của mình là để ổn định nguồn thu nhập, bổ sung doanh số bán hàng quốc tế vào doanh số bán hàng trong nước. Thứ hai là giảm bớt, chia sẻ rủi ro Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau nhằm thực hiện chiến lược đa dạng hoá thị trường, tránh các rủi ro có thể xảy ra nếu chỉ xuất khẩu sang một số ít thị trường. Thứ ba là tiếp thu được kinh nghiệm quốc tế Thông qua phát triển thị trường xuất khẩu các doanh nghiệp có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn, khoa học công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến góp phần nâng cao năng suất lao động cũng như khả năng vươn rộng hơn nữa của doanh nghiệp ra thị trường quốc tế. Thứ tư là tận dụng công suất sản xuất dư thừa Các DN nhiều khi sản xuất sản phẩm nhiều hơn mức thị trường yêu cầu dẫn đến dư thừa năng lực sản xuất. Do đó các doanh nghiệp sẽ tìm cách để tiêu thụ số sản phẩm vượt mức ấy bằng cách mở rộng, phát triển thị trường xuất khẩu của mình. Việc mở rộng ấy còn giúp doanh nghiệp gia tăng thị phần, thu về lợi nhuận lớn hơn cũng như kéo dài được vòng đời của sản phẩm. Đây được coi là một phương tiện hữu hiệu để doanh nghiệp giảm bớt khả năng sản xuất dư thừa trong thị trường nội địa. Thứ năm là tiếp cận các nguồn lực nước ngoài Các doanh nghiệp thúc đẩy việc phát triển thị trường xuất khẩu còn nhằm tiếp cận với những nguồn lực mà trong nước không có sẵn hoặc đắt đỏ, tự tìm cho mình một nguồn cung ứng đầu vào ổn định và ít gặp rủi ro. Nhu cầu về đầu vào là nhu cầu thiết yếu đối với mọi doanh nghiệp. 3. Vai trò của phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá đối với công ty VILEXIM Phát triển thị trường xuất khẩu là yêu cầu tất yếu khách quan đối với bất cứ một doanh nghiệp nào trong giai đoạn hiện nay. Hoạt động mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm mục đích gia tăng doanh số, lợi nhuận trên mỗi thương vụ. Khi lợi nhuận cao, doanh nghiệp có thể dùng bổ sung vào các quỹ, tăng tiềm lực cho doanh nghiệp, để trả lương cho công nhân, góp phần tăng thu ngoại tệ, nâng cao kim ngạch xuất khẩu cho đất nước… Đặt trong tình hình kinh doanh của riêng VILEXIM thì việc phát triển thị trường xuất khẩu còn mang những ý nghĩa riêng. - Phát triển thị trường xuất khẩu của VILEXIM đảm bảo giúp công ty hoàn thành các chỉ tiêu, kế hoạch do bộ Công thương đề ra. Trong giai đoạn 2006 – 2009 vừa qua, với sự cố gắng và nỗ lực không ngừng năm nào công ty cũng hoàn thành và vượt mức kế hoạch. Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt 20.482.057 USD vượt kế hoạch của Bộ đề ra là 16%, năm 2007 đạt 24.404.270 USD tăng 19% so với 2006 và vượt kế hoạch 21%. Năm 2008, mặc dù chịu ảnh hưởng chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu nhưng công ty vẫn không ngừng cố gắng, tìm kiếm thị trường xuất khẩu và đã thực hiện xuất khẩu sang thêm các nước Canada, Anh, Đức với tổng giá trị đơn hàng là 287.369 USD, đồng thời vẫn duy trì được các đơn hàng tại thị trường xuất khẩu cũ. Điều này đã giúp công ty vượt qua thời kỳ khó khăn nhất và hoàn thành kế hoạch đặt ra với kim ngạch xuất khẩu đạt 24.981.309 USD tăng nhẹ so với 2007 và vượt kế hoạch 7,5%. - Phát triển thị trường xuất khẩu giúp VILEXIM tăng doanh thu, mở rộng quy mô kinh doanh, từ đó giảm thiểu chi phí, tối đa hóa lợi nhuận. Trong năm 2007, VILEXIM không những đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang thêm một vài nước Châu Âu như Anh, Đức, Italy mà giá trị xuất khẩu tại các thị trường hiện tại của công ty cũng tăng mạnh khiến tổng giá trị xuất khẩu của công ty đạt 24.404.270 USD tăng 19% so với 2006, doanh thu thuần bán hàng và cung cấp hàng hoá dịch vụ đạt 1.432.525 triệu đồng tăng 44,69%. Doanh thu tăng đã tạo điều kiện cho công ty đảm bảo đủ nguồn vốn để mở rộng quy mô kinh doanh, thuận lợi trong việc tìm nguồn hàng cũng như đơn hàng. Quy mô kinh doanh mở rộng tất yếu giúp công ty giảm thiểu đến mức tối đa các loại chi phí như chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp trên mỗi đơn vị sản phẩm từ đó tối đa hoá lợi nhuận. Trong năm này, lợi nhuận công ty đạt 11,5 tỷ đồng tăng 59,83% so với 2006. - Phát triển thị trường xuất khẩu giúp VILEXIM giảm thiểu rủi ro khi một số thị trường của công ty có những biến động lớn về kinh tế, chính trị. Chẳng hạn khi tỷ giá hối đoái tăng, hàng hóa nhập khẩu trở nên đắt hơn so với hàng hóa nội địa, do vậy các thị trường sẽ nhập khẩu ít hơn làm giảm kim ngạch xuất khẩu của công ty hoặc công ty mất đi một vài thị trường. Thị trường của công ty có phát triển thì mới có thể đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu đặt ra và đứng vững trước những khó khăn đó. Năm 2008 là một năm đầy khó khăn và thách thức không chỉ với công ty mà còn đối với hầu hết các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Mặc dù trong năm này, công ty có mất đi vài thị trường như Trung Quốc, Đài Loan, Pakistan, Bangladesh, Arap saudi do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế nhưng nhờ có chiến lược phát triển thị trường xuất khẩu của mình, công ty vẫn giữ được các đơn hàng lớn, xuất khẩu sang một vài thị trường mới và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch do bộ Công thương đặt ra. - Phát triển thị trường xuất khẩu giúp công ty mở rộng mối quan hệ thương mại, học hỏi kinh nghiệm từ các bạn hàng, từ đó hoàn thiện quy trình nghiệp vụ xuất khẩu, đảm bảo hoạt động xuất khẩu đạt hiệu quả cao với chi phí thấp nhất. Cho đến nay, công ty đã có quan hệ thương mại với hơn 40 quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Mỗi quốc gia có những đặc điểm về kinh tế, văn hoá, thể chế chính trị cũng như yêu cầu về sản phẩm, chất lượng hàng hoá là khác nhau. Do đó việc thực hiện xuất khẩu hàng hoá sang các quốc gia không tránh khỏi có sự khác biệt. Việc xuất khẩu này giúp công ty dần dần hoàn thiện và lựa chọn quy trình xuất khẩu với chi phí và thời gian thấp nhất đem lại hiệu quả kinh tế cao. - Phát triển thị trường xuất khẩu giúp công ty tạo cho mình được một vị thế vững chắc trên các thị trường, đặc biệt là các thị trường truyền thống. Như vậy, Chương I đã giúp ta hiểu một cách khái quát những lý luận về phát triển thị trường xuất khẩu, nội dung, các nhân tố ảnh hưởng cũng như sự cần thiết phải phát triển thị trường xuất khẩu đối với VILEXIM. Để thấy được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và công tác phát triển thị trường xuất khẩu của công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đẩu tư VILEXIM, từ đó có thể đưa ra những giải pháp và đề xuất phù hợp, ta sẽ tìm hiểu trong chương II của chuyên đề: Thực trạng công tác phát triển thị trường xuất khẩu hàng hoá của công ty VILEXIM từ năm 2006 đến nay. CHƯƠNG II THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU HÀNG HOÁ CỦA CÔNG TY VILEXIM TỪ NĂM 2006 ĐẾN NAY I. Giới thiệu tổng quan về công ty VILEXIM 1. Khái quát chung về công ty VILEXIM 1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty - Tên đầy đủ: Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư Vilexim - Tên giao dịch: Vilexim import-export and co-operation investment joint stock company - Tên viết tắt: VILEXIM - Trụ sở chính: 170 đường Giải phóng- Phương Liệt- Thanh Xuân- Hà Nội - Điện thoại: 84.4.38691496 – 386942164 - Fax: 84.4.38694168 - Email: Vilexim@fpt.vn – Vilexim@hn.vnn.vn - Website: Vilexim.com.vn - Giám đốc: Nguyễn Trường Sơn - Số lượng nhân viên: 135 - Loại hình doanh nghiệp: Công ty cổ phần - Lĩnh vực kinh doanh: Xuất nhập khẩu hàng hoá, xuất khẩu lao động, đầu tư liên doanh liên kết trong và ngoài nước. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư (VILEXIM) là một doanh nghiệp trực thuộc Bộ Công thương với 51% số cổ phần. Công ty có lịch sử hình thành và phát triển hơn 40 năm và luôn song hành cùng với những thăng trầm của nền kinh tế đất nước. Tiền thân của Công ty là Tổng công ty xuất nhập khẩu Biên giới (Frontarimex) được thành lập 2/1967. Trong 9 năm đầu hoạt động (từ 1967-1976) Công ty được giao nhiệm vụ tiếp nhận các loại hàng hoá viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa, vận chuyển quá cảnh một số hàng hoá đó cho hai nước Lào và Campuchia. Tháng 7/1976 sau khi hòa bình lập lại công ty đổi thành Tổng công ty xuất nhập khẩu Việt Nam sang là Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Campuchia. Công ty tiếp tục thực hiện nhận hàng viện trợ đồng thời xuất khẩu hàng hóa trực tiếp với Lào và Campuchia. Công ty cũng thực hiện các hoạt động xuất nhập khẩu theo chỉ tiêu kế hoạch do Nhà nước và Bộ Công thương đặt ra. Sau khi nước ta chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường thì Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Campuchia tách ra thành Công ty xuất nhập khẩu với Lào và Công ty xuất nhập khẩu với Campuchia (VIKAMEX), có tư cách pháp nhân trực thuộc Bộ Thương mại theo Quyết định số 82/VNT-TCCB ngày 24/2/1987 của Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công thương). Năm 2002 công ty được đổi tên thành Công ty xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư (VILEXIM ) nhằm bắt kịp với cơ chế thị trường và sự đổi mới của đất nước. Trong khoảng thời gian này, để có thể thích ứng và phát triển vươn lên đòi hỏi công ty phải có những thay đổi trong chiến lược xuất nhập khẩu, kinh doanh và thị trường. Do vậy với sự cho phép và điều chỉnh của Bộ Thương mại công ty không chỉ thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu với Lào mà còn tiến hành kinh doanh xuất nhập khẩu với tất cả các nước trên thế giới và cả thị trường trong nước góp phần vào sự phát triển nói chung của nền kinh tế nước ta. Đầu năm 2005, công ty đổi tên thành Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư Vilexim. Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư (VILEXIM) có tên giao dịch quốc tế là: Vilexim import-export and co-operation investment joint stock company chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu. Công ty có hệ thống hạch toán độc lập, hoàn toàn tự chủ về mặt tài chính, có đầy đủ tư cách pháp nhân, có tài khoản tiền Việt và tài khoản ngoại tệ tại các ngân hàng, có con dấu riêng của công ty để thực hiện việc giao dịch. Trong suốt quá trình hoạt động kể từ khi thành lập đến nay, công ty luôn không ngừng nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nắm bắt các cơ hội song hành cùng các giai đoạn phát triển thăng trầm của nền kinh tế đất nước. Hiện nay công ty đã và đang từng bước vươn lên ổn định, phát triển và đạt được một số thành tựu đáng kể góp phần vào công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước . 1.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Công ty 1.2.1. Chức năng của công ty Công ty trực tiếp xuất nhập khẩu theo giấy phép của Bộ Công thương với CHDCND Lào và các nước trên thế giới góp phần thúc đẩy phát triển sự hợp tác, quan hệ với các quốc gia trên thế giới đồng thời đáp ứng nhu cầu hội nhập của nền kinh tế đất nước vào thị trường thế giới. Công ty nhận ủy thác xuất nhập khẩu và làm các loại dịch vụ thuộc lĩnh vực phạm vi kinh doanh của công ty theo yêu cầu của khách hàng, kinh doanh chuyển khẩu thuộc phạm vi kinh doanh của công ty. Sản xuất và gia công các mặt hàng để phục vụ cho xuất khẩu. Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau ở trong nước và nước ngoài. Thực hiện xuất khẩu lao động nhằm tăng thu nhập cho người lao động đồng thời làm tăng nguồn thu ngoại tệ đối với nhà nước, tổ chức đào tạo lao động để xuất khẩu. Góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ của đất nước 1.2.2. Nhiệm vụ của công ty Công ty có nhiệm vụ đẩy mạnh và phát triển quan hệ thương mại, hợp tác đầu tư và các hoạt động khác có liên quan đến kinh tế đối ngoại với các tổ chức kinh tế Việt Nam và nước ngoài thông qua hoạt động xuất nhập khẩu. Đặc biệt là với Lào, Công ty hoạt động theo pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam và những quy định riêng trong toàn công ty. Xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch kinh doanh của Công ty theo quy chế hiện hành để thực hiện mục đích và nội dung hoạt động của công ty. Tuân thủ các chính sách, chế độ, pháp luật của Nhà nước và quản lý kinh tế tài chính, quản lý xuất nhập khẩu và trong giao dịch đối ngoại thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết hợp đồng kinh tế mà công ty đã ký. Trực tiếp xuất nhập khẩu hàng hóa giữa nước ta với Lào và một số nước nhập khẩu những sản phẩm do Công ty sản xuất ra hoặc do Công ty liên doanh sản xuất; nhập khẩu nguyên vật liệu phục vụ cho việc sản xuất kinh doanh của Công ty. Nhận ủy thác xuất nhập khẩu và nhận làm các dịch vụ thuộc phạm vi kinh doanh của Công ty theo yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Sản xuất gia công các mặt hàng xuất khẩu. Thực hiện quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh doanh của Công ty như lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật… Nghiên cứu và thực hiện có hiệu quả các biện pháp nâng cao chất lượng hàng hóa, nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng thị trường tiêu thụ. 1.2.3. Quyền hạn của công ty Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM thứ nhất là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thứ hai là có tài sản riêng, thứ ba tự chịu trách nhiệm độc lập về hoạt động kinh doanh bằng tài sản của mình, thứ tư khi tham gia vào các quan hệ kinh tế với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn trước các cơ quan tài phán. Do vậy được quyền chủ động giao dịch, đàm phán ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán ngoại thương và các văn bản hợp tác liên doanh liên kết với khách hàng, đối tác trong và ngoài nước. Được vay vốn (kể cả ngoại tệ) ở trong và ngoài nước, được thực hiện liên doanh hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc các thành phần kinh tế ở trong nước và ngoài nước phù hợp với quy chế của pháp luật hiện hành của nhà nước. Công ty được tham gia tổ chức hội chợ triển lãm quảng cáo hàng hóa, tham gia các hội nghị, hội thảo, chuyên đề liên quan đến hoạt động của Công ty ở trong và ngoài nước. Được cử các cán bộ của Công ty đi công tác ở nước ngoài hoặc mời bên nước ngoài vào Việt Nam để giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng và các vấn đề thuộc lĩnh vực kinh doanh của Công ty... Tổ chức doanh nghiệp theo hình thức có tự chủ pháp nhân thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập, có tài khoản tại ngân hàng, có con dấu riêng theo quy định của Nhà nước. Sổ sách kế toán và việc phân phối lợi nhuận của Công ty được thực hiện theo quy chế hiện hành của Nhà nước. 1.3. Cơ cấu tổ chức và các phòng ban trực thuộc Công ty 1.3.1. Cơ cấu tổ chức Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của công ty VILEXIM Hội đồng quản trị Các đơn vị trực thuộc Khối quản lý Khối nghiệp vụ Phòng tổ chức hành chính Phòng kế hoạch tổng hợp Phòng kế toán tài chính Phòng kinh doanh Phòng đầu tư xuất nhập khẩu Phòng dịch vụ xuất khẩu Chi nhánh tại TP HCM Chi nhánh Hưng Yên Chi nhánh tại Hải phòng TTXK lao động tại 139 Lò Đúc Cty sản xuất thép tại Lào Liên doanh sản xuất bánh kẹo và thực phẩm tại Gana Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính 1.3.2. Các phòng ban trực thuộc công ty Các phòng ban trực thuộc công ty bao gồm có 3 phòng quản lý, 5 phòng khối nghiệp vụ và các đơn vị trực thuộc. Ba phòng khối quản lý là phòng tổ chức hành chính, phòng kế toán tài chính, phòng kế hoạch tổng hợp d Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho giám đốc về tổ chức bộ máy quản lý công ty trong từng thời kỳ một cách có hiệu quả, đánh giá chất lượng cán bộ, chỉ đạo xây dựng và xét duyệt định mức lao động, tiền lương cho các thành viên trong công ty. Tổ chức quản lý và thực hiện các công tác hành chính, quản trị nhằm phục vụ và duy trì các hoạt động cần thiết cho hoạt động kinh doanh. Thực hiện chế độ chính sách đối với nhân viên, tổ chức công tác hành chính văn thư lưu trữ, thuê, tuyển lao động... d Phòng kế toán tài chính: Có nhiệm vụ làm các công tác theo dõi nghiệp vụ liên quan đến công tác hạch toán kế toán, làm công tác kiểm tra, kiểm soát việc thực hiện các chế độ quản lý kinh tế, lập báo cáo quyết toán phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh theo định kỳ. Chịu trách nhiệm toàn bộ về hoạt động tài chính của công ty trong đó kế toán trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo nhân viên trong phòng kế toán hạch toán theo đúng chế độ mà nhà nước quy định. d Phòng kế hoạch tổng hợp: Có nhiệm vụ lập ra kế hoạch kinh doanh chung cho toàn công ty và phân bổ kế hoạch kinh doanh cho từng phòng kinh doanh cụ thể và báo cáo lên ban lãnh đạo tình hình hoạt động kinh doanh của công ty từng tháng, quý, đồng thời đưa ra các biện pháp tháo gỡ những khó khăn trong công ty... Khối nghiệp vụ bao gồm các phòng nghiệp vụ xuất - nhập I, II, III, IV, phòng kinh doanh dịch vụ xuất khẩu, và phòng đầu tư xuất nhập khẩu: được phép kinh doanh xuất nhập khẩu với tất cả các quốc gia trên thế giới, bên cạnh đó còn được phép kinh doanh trên cả thị trường trong nước, khi tìm được khách hàng các phòng này phải lập các phương án kinh doanh trình lên giám đốc, giám đốc sẽ xét duyệt và đứng ra làm đại diện để ký kết hợp đồng với khách hàng, còn các nghiệp vụ cụ thể và giao dịch do các phòng trên tiến hành. d Chi nhánh và văn phòng đại diện: Hoạt động theo phương thức khoán, trưởng chi nhánh, văn phòng đại diện có quyền quyết định và quản lý mọi hoạt động kinh doanh của chi nhánh đồng thời chịu trách nhiệm trước giám đốc, pháp luật, tập thể cán bộ công nhân viên chức của chi nhánh và đại diện. d Liên doanh sản xuất thép: sản xuất thép xây dựng bắt đầu đi vào hoạt động từ 1/2001 tại Lào. d Liên doanh sản xuất bánh kẹo và thực phẩm tại Gana 1.4. Nguồn lực của công ty 1.4.1. Khả năng tài chính Đối với mỗi doanh nghiệp thì để tiến hành sản xuất kinh doanh yếu tố đầu tiên cần phải có là vốn. Tùy thuộc vào khả năng tài chính mà các chủ thể kinh doanh tự chọn cho mình một đối tượng sản xuất, kinh doanh. Nguồn vốn cũng là yếu tố có ảnh hưởng rất quan trọng đến việc doanh nghiệp lựa chọn và áp dụng loại công nghệ nào, quy mô sản xuất là bao nhiêu. Nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng để sản xuất kinh doanh có thể do nhà nước cấp hoặc doanh nghiệp có thể huy động thông qua việc vay các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước, phát hành cổ phiếu trái phiếu (các công ty cổ phần), huy động vốn trong nội bộ công ty. Công ty VILEXIM là một đơn vị kinh tế ra đời trong quá trình thực hiện chuyển đổi nền kinh tế Với số vốn ban đầu hơn 4516 triệu VND, sau khi tiến hành cổ phần hoá (năm 2004) số vốn của công ty đã lên xấp xỉ 18 tỷ VND và hiện nay số vốn của công ty đã lên tới xấp xỉ 40 tỷ VNĐ. Do đặc điểm lĩnh vực kinh doanh của công ty không lấy trọng tâm là sản xuất mà chủ yếu thực hiện hoạt động xuất nhập khẩu nên trong cơ cấu vốn của công ty chủ yếu là vốn lưu động với tỷ trọng lớn. 1.4.2. Nguồn nhân lực Nhân lực luôn là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành bại của một tổ chức. Nhận thức được điều đó nên ngay từ khâu đầu tiên, khâu tuyển chọn lao động, công ty đã xây dựng một quy trình tuyển dụng nghiêm túc bố trí lao động phù hợp với chuyên môn, nghiệp vụ, có đủ năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Trong những năm gần đây, công ty đang tiến hành tinh giản, trẻ hoá lực lượng lao động nhằm phát huy hết năng lực của nhân viên, tạo nên sự sáng tạo, năng động, nhiệt huyết trong kinh doanh. Chính việc tinh giản lao động như vậy khiến công ty giảm được một khoản chi phí, đồng thời có một đội ngũ cán bộ ưu tú, có năng lực. Hiện nay tổng số lao động của công ty là 135 người trong đó có 86% cán bộ công nhân có trình độ đại học, 8.8% có trình độ cao đẳng, còn lại là các lao động khác. Tuy nhiên, với số lượng lao động như vậy là quá ít, nó không đáp ứng đủ nguồn lực cho công ty trong việc phát triển thị trường xuất khẩu, khiến thị trường của công ty nhỏ bé, số lượng các mặt hàng xuất nhập khẩu còn hạn chế. Tổng hợp tình hình lao động của công ty được thể hiện trong bảng số 8 Bảng số 2.1:Tổng hợp tình hình lao động của công ty giai đoạn 2006 – 2009 Đơn vị tính: người Năm Tổng số Giới tính Trình độ Nam Nữ Đại học và trên đại học Cao đẳng Lao động khác 2006 128 87 41 99 20 9 2007 126 83 43 101 19 6 2008 122 80 42 106 13 3 2009 135 89 46 116 12 3 Nguồn: Phòng Tổ chức hành chính 1.4.3. Cơ sở vật chất, kỹ thuật Công ty VILEXIM có trụ sở chính tại 170 Giải phóng và có 3 chi nhánh đặt tại Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh và Hưng Yên cùng với một số đơn vị trực thuộc khác như: Trung tâm hợp tác lao động quốc tế Vilexim, Công ty sản xuất thép tại Lào, Liên doanh sản xuất bánh kẹo và thực phẩm tại Ghana. Tất cả các trụ sở, chi nhánh, văn phòng đại diện đều được trang bị khá đầy đủ các thiết bị như: máy photocopy, máy Fax, máy in, mỗi nhân viên trong công ty được trang bị hệ thống máy tính đầy đủ có nối mạng nội bộ và mạng Internet. Với hệ thống thông tin luôn được cập nhập liên tục và kịp thời, các cán bộ công nhân viên có thể nhanh chóng nắm bắt sự thay đổi của thị trường, từ đó đưa ra những quyết định phù hợp với tình hình biến động trong và ngoài nước. Công ty có 2 kho hàng lớn ở Cổ Loa và Pháp Vân với diện tích khoảng 2500m2, ngoài ra còn có các kho chứa hàng ở Phú Thành, Vạn Lợi, Hoàng Quốc Việt, Minh Khai, Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Công ty có một dây chuyền lắp ráp xe máy loại tiêu chuẩn và một cơ sở tại Lò Đúc với gần 20 văn phòng cho thuê. Ngoài những lợi thế kể trên, công ty còn có lợi thế mà hiếm có công ty có được, đó là yếu tố vốn. Công ty có nhiều lợi thế trong việc vay vốn bởi công ty có tiền thân là doanh nghiệp nhà nước, hoạt động lâu năm có uy tín nên công ty có thế vay vốn theo phương pháp tín chấp. 2. Khái quát về hoạt động kinh doanh của công ty từ năm 2006 đến nay 2.1. Các lĩnh vực kinh doanh của công ty VILEXIM là một công ty đa ngành, đa chức năng với các lĩnh vực kinh doanh chủ yếu là: - Xuất nhập khẩu trực tiếp các mặt hàng: nông sản (sắn lát, gạo tấm, gạo nếp, tiêu đen, tiêu trắng, quế), hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, máy móc và phụ tùng… - Nhận xuất khẩu uỷ thác và làm các loại dịch vụ thuộc lĩnh vực phạm vi kinh doanh của công ty theo yêu cầu của khách hàng - Sản xuất và gia công các mặt hàng để phục vụ cho xuất khẩu. - Liên doanh, liên kết, hợp tác sản xuất với các tổ chức kinh tế thuộc mọi thành phần kinh tế khác nhau ở trong nước và nước ngoài. - Thực hiện xuất khẩu lao động. 2.2. Các thị trường chính của công ty 2.2.1. Đánh giá tổng quan về thị trường xuất khẩu của công ty Trong những năm qua tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động cả về kinh tế và chính trị, đặ._. thị trường của công ty. Để nâng cao chất lượng sản phẩm tạo ưu thế cạnh tranh, Công ty cần làm tốt khâu cung ứng nguyên liệu đầu vào, thiết lập và xây dựng mối quan hệ bền chặt với hợp tác xã và các hộ nông dân để tiến hành các hoạt động thu mua được dễ dàng thuận tiện. Bên cạnh đó phải kể đến trình độ tổ chức quản trị và tổ chức sản xuất là nhân tố tác động trực tiếp đến chất lượng sản phẩm, cần tăng cường áp dụng một cách triệt để hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 Để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hoá sang thị trường Châu Á, Công ty cần phải có phương thức và kênh bán hàng phù hợp thông qua chi nhánh của mình tại các nước này. Ngoài ra Công ty cũng nên tăng cường số lượng các mặt hàng xuất khẩu nhằm đa dạng hoá mặt hàng, hạn chế rủi ro. Thuỷ sản, đặc biệt là tôm là mặt hàng rất có tiềm năng tại thị trường này. Trước thời kỳ khủng hoảng xuất khẩu tôm sang thị trường Trung quốc tăng 200%, Singapo tăng 121%. Khi khủng hoảng sảy ra, dưới tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, giá trị xuất khẩu thuỷ sản ở các thị trường đều giảm. Nhưng sang 2010 với hi vọng vào sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu và vào thị trường mới, các thị trường có nền kinh tế đang nổi, giá trị xuất khẩu thuỷ sản sẽ tăng trưởng mạnh. 2.2. Đối với thị trường Châu Âu Đây là một thị trường phát triển ở trình độ cao, nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp và hàng thủ công mỹ nghệ là rất lớn, hầu hết các nước nhập khẩu sản phẩm này. Tuy nhiên VILEXIM vẫn chưa thâm nhập sâu và mở rộng được nhóm thị trường này do chưa đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng và mẫu mã. Do vậy, trước hết công ty cần phải đổi mới thiết bị, công nghệ tạo điều kiện cho hàng hoá xuất khẩu đạt tiêu chuẩn quốc tế, vượt qua các rào cản kỹ thuật của thị trường châu Âu, Công ty có thể lựa chọn hướng đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, nhập khẩu công nghệ mới từ chính các nước Châu Âu và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm của những quốc gia này. Có như vậy, công ty mới thâm nhập được vào thị trường này. Tiếp đó công ty nên lựa chọn chiến lược phát triển thị trường theo chiều sâu, tập trung xuất khẩu những mặt hàng có hiệu quả. Trong điều kiện hiện nay công ty nên tập trung đầu tư có hiệu quả vào một số ngành xuất khẩu như hàng nông sản và thủ công mỹ nghệ - hai chủng loại mặt hàng thị trường này có nhu cầu cao và cũng là thế mạnh của Việt Nam Hiện nay, hàng hoá xuất khẩu của công ty vào nhóm thị trường này phải qua các trung gian chiếm một tỷ trọng lớn. Nguyên nhân chủ yếu là do công ty chưa có kinh nghiệm xuất khẩu sang thị trường này và do chưa tiếp cận được hệ thống phân phối được hình thành lâu đời và chặt chẽ tại các nước Châu Âu. Do vậy để tăng cường khả năng tiếp cận thị trường, VILEXIM cần lựa chọn hướng tiếp cận thông qua hệ thống các nhà phân phối lớn đã được hình thành trên thị trường này, hoặc từng bước xây dựng hệ thống phân phối trực tiếp của các doanh nghiệp Việt Nam. 2.3. Đối với thị trường châu Phi Châu Phi đang là một thị trường rất tiềm năng đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt nam. Trong thời gian vừa qua cùng với chính sách thúc đẩy quan hệ thương mại của Việt Nam với các nước Châu Phi và sự năng động của các doanh nghiệp trong việc khai thác các thị trường mới, kim ngạch buôn bán Việt Nam - Châu Phi đã có bước tăng trưởng nhanh, các bạn hàng và các đối tác của Việt Nam ngày càng được mở rộng, năm 2001 Việt Nam đã có quan hệ buôn bán với 44 nước Châu Phi và đến năm 2007 con số này đã là 53 nước. Như vậy, hiện nay Việt Nam đã có trao đổi thương mại với hầu hết các nước Châu Phi. Đây là một cơ hội rất lớn cho VILEXIM mở rộng thị trường xuất khẩu ở khu vực này. Các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này là hàng dệt may, giày dép, hạt tiêu, cao su, ngoài ra còn có thêm các sản phẩm điện-điện tử, cơ khí, đồ nhựa, sản phẩm gỗ, xe máy và linh kiện, phụ tùng xe máy, thuốc lá điếu, hàng rau quả, bột gia vị, bột ngọt, đồ chơi trẻ em, mỳ ăn liền, sữa và sản phẩm sữa, xe đạp… Đây đều là những mặt hàng mà VILEXIM đang xuất khẩu sang thị trường hiện tại. Tuy nhiên, các mặt hàng xuất khẩu của VILEXIM sang thị trường châu Phi chưa đa dạng, chủ yếu là các loại thiết bị và phụ tùng như vỏ máy cày, máy trợ thính, xe máy và phụ tùng xe máy, các mặt hàng tiêu dùng như bột giặt, bánh kẹo và thị trường xuất khẩu chỉ là vài quốc gia. Đồng thời hiện nay Công ty đang chịu sự cạnh tranh quyết liệt từ phía các nước trong khu vực như Thái Lan, Malayxia, Ấn Độ và nhất là Trung Quốc. Một số thăm dò của các doanh nghiệp cho thấy hàng Trung Quốc nhiều khi rẻ hơn ta từ 1,5 - 2 lần, rất phù hợp với sức mua của người tiêu dùng bình dân ở Châu Phi. Do vậy để có thể cạnh tranh được với các đối thủ cạnh tranh, mở rộng thị trường xuất khẩu ở khu vực này, VILEXIM cần phải thực hiện chiến lược phát triển thị trường theo chiều rộng, tăng cường tìm hiểu, đẩy mạnh xuất khẩu vào các thị trường tiềm năng lớn như: Xu- đăng, Xê-nê-gan, Mô-dăm-bích, Libi, Ăng-gô-la, Ni-giê-ri-a, E-thi-ô-pi-a, Bê-nanh, Ma-đa-gát-xca……, tăng cường chủng loại mẫu mã, bao bì sản phẩm, chú trọng trong công tác thu mua bảo quản nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, có khả năng cạnh tranh với các đối thủ. Công ty cũng cần chú xuất khẩu các loại gạo chất lượng cao sang khu vực này như gạo Jasmine, bởi đây thị trường này có nhu cầu tiêu dùng lớn, nhưng lại thích các loại gạo tốt, thận trọng trong quá trình mua gạo (như chất lượng tốt, giá cả cạnh tranh, bao bì đẹp). 3. Đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, nâng cao uy tín của công ty Có thể nói chất lượng và kiểu dáng của sản phẩm đóng vai trò quan trọng đến quyết định mua hàng của khách hàng. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng và phức tạp của các khách hàng trên thế giới, công ty VILEXIM cần tiếp tục nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa sản phẩm và chú trọng đến việc cải tiến sản phẩm để tăng khả năng cạnh tranh và sức sống của công ty trên thị trường thế giới. Bất kỳ một sản phẩm nào đều có chu kỳ sống của nó, nếu công ty không đẩy mạnh việc cải tiến sản phẩm thì sản phẩm sau một thời gian sẽ không tiêu thụ được nữa trên thị trường nước ngoài. Mẫu mã đó, kiểu dáng đó không có sự đổi mới sẽ gây nhàm chán cho các khách hàng. Và họ chuyển sang mua sắm những sản phẩm của các nhà cung ứng khác. Việc đa dạng hoá sản phẩm xuất khẩu không chỉ giúp công ty tăng giá trị xuất khẩu và khả năng cạnh tranh trên thị trường nước ngoài mà còn giúp công ty giảm thiểu được rủi ro khi việc tiêu thụ một số sản phẩm ở một số thị trường gặp khó khăn. Do đó sẽ tăng được tính ổn định trong sản xuất và kinh doanh của công ty. Thương hiệu chính là yếu tố đem lại niềm tin cho khách hàng, đối tác mỗi khi tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ của Công ty. Qua thương hiệu, khách hàng không chỉ biết tới những sản phẩm mà công ty cung cấp mà còn có thể biết về công ty. Chính vì vậy, việc xây dựng thương hiệu với một doanh nghiệp là tất yếu trong quá trình phát triển. Chúng ta có thể thấy được những giá trị mà thương hiệu mang lại cho doanh nghiệp. Đó không chỉ là giá trị phi vật chất mà ngược lại với nhiều công ty thương hiệu cũng có giá trị vật chất không nhỏ. Với những cái lợi mà thương hiệu có thể mang lại như trên, Công ty VILEXIM cần có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu thành một thương hiệu mạnh đặc biệt trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu. Đây cũng chính là khởi nguồn để doanh nghiệp tiến ra thị trường thế giới, mở rộng thị trường xuất khẩu của mình. Tuy vậy, để xây dựng nên một thương hiệu mạnh không phải là dễ. Công ty bên cạnh việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh của mình tới tất cả người tiêu dùng, đối tác trên toàn thế giới cũng cần có chiến lược tạo niềm tin cho khách hàng bằng cách luôn đảm bảo chất lượng, luôn tạo cho khách hàng những điều kiện thuận lợi nhất khi làm ăn với công ty. Qua đó công ty không chỉ tạo nên những mối quan hệ chặt chẽ với đối tác cũ mà còn có thể tìm được những bạn hàng mới trong quá trình phát triển của mình. Có như vậy, công ty mới có thể xây dựng nên một thương hiệu mạnh, đủ sức cạnh tranh với những đấu thủ lớn cũng tham gia lĩnh vực xuất nhập khẩu. Và mỗi khi nói tới lĩnh vực xuất nhập khẩu người ta sẽ nghĩ tới ngay VILEXIM. 4. Đẩy mạnh hoạt động xúc tiến thương mại Vấn đề đầu tiên cần đề cập đến là nhận thức của công ty về quảng cáo. Công ty tiến hành quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng còn rất hạn chế. Công ty mới chỉ thực hiện quảng cáo sản phẩm thông qua một số hội chợ triển lãm. Công ty có xây dựng trang Web cho riêng mình nhưng trang Web còn sơ sài thiếu thông tin và kém hấp dẫn đối với khách hàng. Như vậy, công ty cần phải có một nhận thức đúng về quảng cáo, cần biết được rằng nên tiến hành quảng cáo ở đâu, lúc nào và như thế nào là đạt hiệu quả nhất. Do đó công ty cần phải thực hiện: - Chủ động trong việc tiếp thị sản phẩm: cần phải phân công lại bộ phận tiếp thị, tạo điều kiện chuyên môn hoá theo thị trường và nhóm sản phẩm. Tiếp thị phải phân loại, phân đoạn thị trường, căn cứ vào khả năng nguồn lực mà xác định xem nên ưu tiên ở đâu, tránh những mảng quá phân tán, nhiều rủi ro. Công ty cần chủ động hơn trong việc tiếp thị với các nhà thầu trong các hợp đồng thương mại quốc tế. Các nhân viên đảm nhận công việc tiếp thị phải có chuyên môn trong việc lập hồ sơ chào giá, giao hàng, và chứng từ liên quan đến quyết toán hợp đồng ở những thị trường mình đảm nhận. - Tiến hành thực hiện quảng cáo: quảng cáo riêng biệt cho từng loại sản phẩm cụ thể. Thông điệp quảng cáo phải rõ ràng, dễ hiểu, cụ thể, chỉ rõ được những lợi thế vượt trội của chúng so với các sản phẩm cạnh tranh, chỉ ra được tính năng riêng biệt của sản phẩm mà các sản phẩm cùng loại trên thị trường không có được như chất lượng, mẫu mã, giá cả, công nghệ, cảm nhận thương hiệu. Công ty cũng cần phân tích mục tiêu quảng cáo của mình là hướng đến đối tượng khách hàng nào. Do mỗi thị trường có những nét văn hoá, phong tục tập quán khác nhau nên cần phải lựa chọn cách thức thực hiện cũng như thông điệp quảng cáo cho phù hợp. Việc tính toán chi phí cũng phải xem xét ở mức độ hiệu quả, nên đầu tư bao nhiêu là hợp lý mà vẫn đảm bảo lợi nhuận. - Ngoài việc tiến hành quảng cáo, công ty cần tham gia các hội thảo giới thiệu sản phẩm với các tổ chức xúc tiến hàng Việt Nam chất lượng cao giới thiệu sản phẩm của mình. Viết thư điện tử mời gọi ký kết hợp đồng. 5. Lựa chọn phương thức xuất khẩu phù hợp với từng nhóm thị trường Việc lựa chọn phương thức xuất khẩu phù hợp với từng nhóm thị trường rất quan trọng. Mỗi phương thức xuất khẩu đều có những ưu nhược điểm riêng, nếu biết sử dụng phù hợp với từng nhóm thị trường trên cơ sơ những lợi thế sẵn có của mình, Công ty có thể dễ dàng thâm nhập sâu hơn vào thị trường xuất khẩu, phát huy hết khả năng của mình và thu được kết quả tốt hơn Hiện nay, VILEXIM đã sử dụng nhiều phương thức xuất khẩu như xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu uỷ thác và hình thức thâm nhập thông qua đầu tư. Công ty đã tiến hành đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất thép tại Lào và liên doanh sản xuất bánh kẹo tại Gana. Để có thể thâm nhập sâu hơn và mở rộng thị trường xuất khẩu, VILEXIM cần phải: - Đối với thị trường Châu Á, công ty nên tiến hành xuất khẩu trực tiếp không nên thực hiện xuất khẩu thông qua bất kỳ trung gian nào nhằm giảm thiểu tối đa chi phí, tăng lợi nhuận và có điều kiện thâm nhập sâu hơn vào các thị trường. - Đối với các thị trường mới, các thị trường Công ty đang có ý định thâm nhập thì trước hết công ty nên tiến hành xuất khẩu uỷ thác thông qua các trung gian nhằm hạn chế rủi ro khi tung ra các sản phẩm mới. Khi đã có đủ kinh nghiệm và am hiểu đầy đủ về thị trường xuất khẩu, Công ty có thể thực hiện xuất khẩu trực tiếp. - Công ty cũng nên sử dụng thêm các hình thức thâm nhập thị trường xuất khẩu khác như hình thức thâm nhập thông qua hợp đồng bao gồm hợp đồng sử dụng giấy phép, hợp đồng kinh tiêu, hợp đồng quản lý, dự án chìa khoá trao tay. Khi sử dụng hình thức này, Công ty có thể vượt qua các rào cản thương mại của các quốc gia trên thế giới. Công ty cần tăng cường hơn nữa việc phát triển thị trường xuất khẩu thông qua hội chợ. Bởi đây là một phương thức mang lại rất nhiều lợi ích cho công ty, nó không những xuất khẩu được sản phẩm mà còn quảng cáo giới thiệu sản phẩm tới các doanh nhân nước ngoài. Để có thể sử dụng phương thức này, công ty cần phải có những biện pháp huy động vốn từ bên ngoài để có đủ kinh phí mở những hội chợ giới thiệu sản phẩm mang tầm quốc tế. 6. Xây dựng mạng lưới trung gian của công ty ở nước ngoài Một công ty có thể thực hiện phân phối sản phẩm qua một hay nhiều trung gian để đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Việc lựa chọn nhà trung gian và số lượng nhà trung gian sẽ tuỳ thuộc vào khả năng của từng công ty. Có được một mạng lưới trung gian tốt sẽ giúp nhiều doanh nghiệp giảm bớt được chi phí và thời gian cho quá trình phân phối sản phẩm. Hiện nay công ty VILEXIM còn chưa có được một hệ thống mạng lưới trung gian của mình trên các thị trường nước ngoài, trung gian phân phối còn lẻ tẻ, rời rạc và hoạt động chưa thực sự có hiệu quả. Do đó công ty cần xây dựng và phát triển mạng lưới trung gian của mình ở nước ngoài như các chi nhánh, các đại lý ở một số quốc gia và khu vực. Cụ thể bước đầu thiết lập văn phòng đại diện rồi tiến tới thiết lập hệ thống đại lý. Đồng thời đẩy mạnh hoạt động quảng cáo, giới thiệu sản phẩm. Bởi vì khi thiết lập được hệ thống đại lý trên thị trường nước ngoài thì công ty sẽ có triển vọng lớn hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm của mình, mức độ tiêu thụ sẽ ổn định và chắc chắn hơn. Công ty cũng cần tiếp tục khai trương và mở rộng nhiều kênh tiêu thụ sản phẩm mới, công ty có thể mua, thu gom các mặt hàng khác trong nước để xuất khẩu nhằm mở rộng thị trường xuất khẩu của mình về lượng, từ đó đẩy mạnh việc mở rộng thị trường xuất khẩu về chất. 7. Tạo ra sự khác biệt hóa trong sản phẩm xuất khẩu Trong thời gian qua, VILEXIM đã thực hiện đa dạng hóa mặt hàng xuất khẩu với hơn 80 chủng loại và mẫu mã nhưng vẫn chưa tạo ra được những sản phẩm khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh trong nước nên khả năng cạnh tranh cũng như thâm nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu của công ty chưa được cao. Các sản phẩm của công ty tương đồng với sản phẩm của các đối thủ trong khi chất lượng có thể là không bằng. Do vậy, VILEXIM cần không ngừng cải tiến và hoàn thiện sản phẩm hiện có, đầu tư cho hoạt động nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, các sản phẩm có sự khác biệt về mẫu mã, kiểu dáng cũng như tính năng sử dụng rồi đưa dần các sản phẩm đó vào thị trường xuất khẩu của mình. 8. Chú trọng công tác đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ Tạo ra một đội ngũ cán bộ nhân viên có chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực phẩm chất tốt không phải chỉ là công việc trước mắt mà là một chiến lược lâu dài. Đối với VILEXIM, là một công ty hoạt động trong lĩnh vực xuất nhập khẩu nên có một đội ngũ cán bộ, nhân viên am hiểu sâu sắc cũng như có các kĩ năng trong việc sử dụng các nghiệp vụ xuất nhập khẩu, khả năng giao tiếp với đối tác nước ngoài tốt là rất cần thiết. Cũng bởi trình độ ngoại ngữ của cán bộ nhân viên của công ty, đặc biệt ở phòng xuất nhập khẩu còn hạn chế nên nhiều khi mặc dù đã tiến hành nghiên cứu tìm kiếm thị trường nhưng công ty vẫn không thể ký kết hợp đồng. Do vậy, để đáp ứng được nguồn lao động chất lượng cao cho tương lai, đảm bảo được các yêu cầu, ban lãnh đạo cũng như các đơn vị thành viên cần: - Chú trọng đào tạo theo hướng chuyên môn. Cần xác định lĩnh vực chuyên môn của từng bộ phận để có hướng đào tạo hiệu quả. Đối với cán bộ lãnh đạo, cán bộ hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực thị trường, kinh doanh xuất nhập khẩu công ty cần lựa chọn kỹ trong khâu tuyển dụng, có kỹ năng chuyên môn, khả năng nhạy cảm với thị trường, phản ứng linh hoạt với những thay đổi thị trường, tốc độ phân tích nhanh và chính xác để từ đó tìm kiếm được nhiều cơ hội kinh doanh cho công ty, khả năng kiểm soát và thúc đẩy phát triển thị trường. Đối với các nhân viên hành chính cần tập trung vào công tác huấn luyện tác phong nhanh nhẹn, xử lý tình nhanh tình huống, thông tin thông suốt và tinh thần làm việc hết mình. - Tăng cường hợp tác đào tạo với các trường đại học có đào tạo về kỹ thuật nghiệp vụ ngoại thương, xuất nhập khẩu như đại học Kinh tế quốc dân, Đại học thương mại, đại học ngoại thương… để đào tạo một đội ngũ cán bộ kinh doanh giỏi nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Đồng thời tổ chức cho họ được đi đào tạo ở nước ngoài để tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm về hoạt động ngoại thương của các nước trên thế giới. Trong việc trẻ hoá đội ngũ cán bộ quản lý cần có sự kết hợp hợp lý giữa các lớp cán bộ để đảm bảo cho công ty có được một đội ngũ cán bộ vừa năng động sáng tạo, vừa giàu kinh nghiệm. - Thường xuyên tổ chức đào tạo lại cho các cán bộ công nhân viên của Công ty để họ nâng cao trình độ năng lực của mình và đồng thời cập nhật kịp thời khoa học kỹ thuật hiện đại để ứng dụng vào trong sản xuất. Trên cơ sở đó làm tăng hiệu quả quản lý. - Đặc biệt chú trọng trong công tác đào tạo ngoại ngữ cho cán bộ, nhân viên, đặc biệt là những người đảm nhận công việc đàm phán, ký kết hợp đồng với đối tác. Thường xuyên có những đợt cử cán bộ đi tu nghiệp tại nước ngoài, tạo cho họ môi trường thuận lợi để sử dụng nhuần nhuyễn ngoại ngữ trong giao tiếp cũng như trong văn bản. Hàng quý có những đợt kiểm tra và có sự đào thải những cán bộ nhân viên không đạt yêu cầu. - Tổ chức tuyển dụng nhân viên được đào tạo chuyên sâu về ngoại ngữ từ các trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Hà Nội. Đối với những nhân viên này, công ty nên mở những lớp, những khóa học đào tạo nghiệp vụ xuất nhập khẩu cơ bản để họ có những hiểu biết về lĩnh vực hoạt động của mình. - Đa dạng hoá kỹ năng của người lao động để đảm bảo cho họ có khả năng thích ứng nhanh với các khâu trong quy trình xuất nhập khẩu. - Hàng năm Công ty cần có những đợt khảo sát và kiểm tra trình độ tay nghề cũng như năng lực chuyên môn đội ngũ cán bộ công nhân viên trong công ty để từ đó loại bỏ những thành phần thiếu tích cực và không đáp ứng được điều kiện, đòi hỏi của công việc, đào tạo và bồi dưỡng những gì còn thiếu. Chỉnh sửa theo đúng kế hoạch đầu tư cho nguồn nhân sự, khắc phục những khuyết điểm mắc phải. Sau mỗi lần kiểm tra, công ty sẽ có một đội ngũ nhân viên có đầy đủ trình độ kỹ năng tay nghề và tinh thần trách nhiệm cao góp phần thúc đẩy quá trình phát triển lâu dài của công ty. Đồng thời với việc kiểm tra khảo sát, công ty cũng nên thường xuyên mở các cuộc thi nghiệp vụ cho cán bộ công nhân viên trong toàn công ty để họ có thể được học những kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh thực tiễn của nhau. Mặt khác nó giúp cho Công ty có thể phát hiện ra những nhân tài trong nội bộ công ty, từ đó có những kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng kịp thời và cụ thể đối với từng lao động. - Luôn tạo ra không khí, môi trường làm việc thân thiện trong công ty, tạo cơ hội thăng tiến cho các thành viên trong công ty. Có như vậy, họ mới có thể lao động hăng say, đóng góp hết mình cho sự phát triển cũng như thành công của công ty trong tương lai. III. Một số kiến nghị đối với nhà nước về phát triển thị trường xuất khẩu cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu 1. Hoàn thiện, đổi mới và xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách Một hệ thống pháp luật hoàn thiện và đồng bộ mới tạo điều kiện thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu. Khi Nhà nước có các chính sách khuyến khích doanh nghiệp như loại bỏ, miễn giảm thuế, các chính sách tài chính, tín dụng, chính sách về tỷ giá, ngoại tệ hợp lý thì doanh nghiệp mới có thể đảm bảo về lợi nhuận, yên tâm tiến hành các hoạt động xuất khẩu. Do vậy, để có thể khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu và phát triển thị trường xuất khẩu thì Nhà nước cần rà soát lại hệ thống luật để điều chỉnh các quy định không còn phù hợp hoặc chưa rõ ràng, trước hết là luật thương mại. Trong luật Thương mại cần mở rộng phạm vi điều chỉnh cho phù hợp với quy định của WTO cũng như cần quy định chặt chẽ hơn và cụ thể hơn về mọi hoạt động thương mại và liên quan đến hoạt động thương mại cho phù hợp với xu thế mở cửa thị trường, xu thế hội nhập để khuyến khích sản xuất và xuất khẩu. Ngoài ra nhà nước cần thực hiện một số chính sách như: 1.1. Nhà nước nên có chính sách tỷ giá hối đoái phù hợp. Tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái là hai nhân tố quan trọng để thực hiện chiến lược hướng ngoại, đẩy mạnh xuất khẩu. Nó ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả của các doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh xuất nhập khẩu. Nếu tỷ giá cố định, chỉ số giá trong nước tăng lên hiều hơn so với chỉ số giá cả nước ngoài thì tỷ giá hối đoái thực tế tăng lên và ngược lại. Nếu tỷ giá hối đoái thực tế cao thì hàng nhập khẩu trở nên rẻ hơn hàng nội địa. Hàng hoá trở nên kém sinh lợi do ngoại tệ thu được phải bán với tỷ giá thấp. Nếu các nhà xuất khẩu tăng xuất khẩu để bù đắp chi phí thì sẽ gặp khó khăn trong việc chiếm lĩnh thị trường. Tỷ giá thực tế tăng khuyến khích xuất khẩu, làm giảm nhập khẩu. Do vậy, vấn đề quan trọng là nhà nước phải có kịp thời có các biện pháp để giảm lạm phát, ổn định giá trị đồng nội tệ, có tỷ giá hối đoái chính thức hợp lý phù hợp với mục tiêu chung trong chiến lược phát triển trong trung hạn và ngắn hạn nhà nước nên thực hiện chính sách tỷ giá cao để khuyến khích xuất khẩu. 1.2. Nhà nước cần hoàn thiện các biện pháp tài chính, tín dụng hệ thống ngân hàng, thanh toán. 1.2.1. Hệ thống ngân hàng thanh toán. Hệ thông ngân hàng thanh toán sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho cả hai phía Việt Nam và bạn hàng nước ngoài giao dịch và thanh toán một cách nhanh chóng, thuận lợi. Do vậy, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, Nhà nước cần mở rộng nhiều hình thức thanh toán ở nhiều địa điểm khác nhau. Cần có chính sách hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp, các nhà sản xuất hàng xuất khẩu. Mở rộng quỹ hỗ trợ để trợ cấp cho các doanh nghiệp các nhà xuất khẩu khi cần thiết. 1.2.2. Biện pháp tài chính tín dụng Nhà nước thực hiện cấp tín dụng xuất khẩu: - Cấp tín dụng cho doanh nghiệp xuất khẩu trong nước. Vốn bỏ ra cho một hợp đồng xuất khẩu từ khâu tìm hiểu thị trường tới khi hoàn thành giao dịch thường là rất lớn. Người xuất khẩu phải có vốn trước và sau khi giao hàng để thực hiện hợp đồng vì vậy việc cấp tín dụng đẩy mạnh xuất khẩu và giảm giá thành xuất khẩu vì nếu có vốn Công ty mới có thể thực hiện việc bán chịu. Việc cấp tín dụng xuất khẩu bao gồm hai loại là tín dụng trước khi giao hàng và tín dụng sau khi giao hàng.Thực hiện được điều này ngoài việc thúc đẩy xuất khẩu còn nâng cao hiệu quả xuất khẩu, canh tranh với các đối thủ nước ngoài. - Trực tiếp cho nước ngoài vay tiền với lãi suất ưu đãi để họ sử dụng số tiền đó mua hàng của ta. - Nhà nước đẩy mạnh thực hiện trợ cấp xuất khẩu. Mục đích là giúp cho Công ty tăng thu nhập, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu. 1.3. Biện pháp về thể chế, tổ chức. Nhà nước tạo điều kiện cho xuất khẩu bằng biện pháp thâm nhập thị trường và tạo điều kiện cho việc tiêu thụ hàng hoá ở nước ngoài thông qua việc: - Công nhận, hoặc thừa nhận, tham gia ký kết công ước chung quốc tế về thương mại. - Lập các viện nghiên cứu cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời chính xác cho cá doanh nghiệp nói chung và Công ty nói riêng. - Đào tạo cán bộ chuyên gia giúp Công ty. - Nhà nước đứng ra ký kết các hiệp định thương mại, hiệp định hợp tác kỹ thuật, vay nợ viện trợ... trên cơ sở đó thúc đẩy xuất khẩu. 1.3. Hoàn thiện cơ chế chính sách xuất nhập khẩu. Trong quá trình đổi mới kinh tế, cơ chế chính sách xuất khẩu nhà nước luôn chú trọng đề ra các biện pháp khuyến khích mạnh mẽ việc sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu, mở rộng quyền kinh doanh xuất khẩu của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế... Tuy cơ chế mới làm cho thủ tục xuất khẩu đã thuận tiện đơn giản hơn nhưng vẫn còn thủ tục phiền hà, cơ chế chưa thực sự thông thoáng, cần sớm hoàn thiện để thực sự khuyến khích xuất khẩu. Như nhận xét của các chuyên gia thì biểu thuế xuất khẩu của Việt Nam vừa quá đơn giản, vừa quá phức tạp và không đồng bộ, thuế suất đối với một số mặt hàng còn quá cao làm tăng buôn lậu và giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh, các hạn chế định lượng công khai hay ngầm là trở ngại chính trong khuyến khích xuất khẩu. Do vậy, hệ thống thuế xuất khẩu cần hoàn thiện một số vấn đề để thực sự trở thành công cụ quản lý có hiệu quả, áp dụng thuế suất ưu đãi với hàng xuất khẩu, miễn giảm thuế đối với nguyên nhiên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng xuất khẩu, cho nhà xuất khẩu được hưởng giá ưu đãi đối với các yéu tố đầu vào của sản xuất. Đồng thời các ưu đãi thuế cũng phải rõ ràng tránh tình trạng tạo đặc quyền cho cơ quan thuế gây khó khăn cho doanh nghiệp. Ngoài ra, đối với Bộ công thương, Bộ cần có các danh mục thương mại hàng trong năm trong đó bao gồm tên các đại lý, các nhà giao hàng, các nhà nhập khẩu và các đơn vị bán hàng xử lý loại hàng cụ thể trong một nước cụ thể. Đồng thời Bộ cũng cần có một bộ phận Dịch vụ đại lý- phân phối hàng để giúp doanh nghiệp xuất khẩu có được đại lý hoặc nhà giao nhận hàng ở nước ngoài. Công việc nên hoàn tất trong tháng. 2. Hỗ trợ cho các doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh . Về việc phân bổ hạn ngạch vào các thị trường hạn ngạch: Chính phủ cần tiến hành phân bổ trực tiếp cho các doanh nghiệp mà không nên phân bổ qua các khâu trung gian để tiết kiệm thời gian và chi phí cho các doanh nghiệp tham gia xuất khẩu. Chính Phủ cần nhanh chóng đưa ra các giải pháp để khắc phục những bất cập trong việc phân giao hạn ngạch để tạo sự công bằng và hợp lý trong phân bổ hạn ngạch nhằm tận dụng tối đa khả năng sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp dệt may KẾT LUẬN Trong thời gian thực tập tại Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM, sau thời gian tìm hiểu thực tế, tìm hiểu môi trường kinh doanh cũng như thực trạng phát triển thị trường và công tác phát triển thị trường của Công ty, tôi nhận thấy rằng đối với một công ty tham gia hoạt động xuất nhập khẩu như VILEXIM thì thị trường xuất khẩu như một mảnh đất giúp doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Nếu có các biện pháp và phương hướng kinh doanh hiệu quả thì Công ty sẽ thành công. VILEXIM đã áp dụng một số biện pháp nhằm phát triển thị trường của mình như: Biện pháp về nghiên cứu thị trường xuất khẩu, các hoạt động xúc tiến phát triển thị trường, các chiến lược và hình thức thâm nhập thị trường, các biện pháp đối với nguồn hàng xuất khẩu, các biện pháp đối với thị trường truyền thống và đối với thị trường mới, các biện pháp về đào tạo nguồn nhân lực…Với những biện pháp trên Công ty đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Song vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần giải quyết, công ty cần có phương hướng và các giải pháp cụ thể để phát triển hị trường xuất khẩu của công ty. Có như vậy giá trị kinh doanh xuất khẩu và lợi nhuận của công ty mới được nâng cao. Ttrong chuyên đề này, tôi có đưa ra một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển thị trường xuất khẩu của công ty với hy vọng những kiến thức ở trường sẽ góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao hiệu quả kinh doanh xuất nhập khẩu của Công ty, giúp công ty có thể tồn tại, phát triển và đứng vững trên thị trường cạnh tranh quyết liệt. Kết thúc bài viết này tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới giảng viên Th.s Nguyễn Thị Hoa, các thầy cô trong khoa Kế hoạch & Phát triển, các anh chị trong phòng kế hoạch tổng hợp và phòng tổ chức hành chính Công ty Cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM đã giúp đỡ và đóng góp ý kiến cùng những thông tin cần thiết giúp em hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Do trình độ có hạn cộng với sự hạn chế về thời gian nên bài viết của em không tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự giúp đỡ của thầy cô, các anh chị và các bạn. Em xin trân thành cảm ơn! Hà Nội, ngày 09 tháng 05 năm 2010 Sinh viên thực hiện Đỗ Thị Ngần . DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Kinh tế ngoại thương - Đại học Ngoại Thương 2. Marketing xuất nhập khẩu. Chủ biên Đỗ Hữu Vinh, NXB Tài Chính - 2006 3. Kinh tế quốc tế - NXB Đại học Kinh tế quốc dân 2008 4. Thương mại quốc tế và phát triển thị trường xuất khẩu, Chủ biên Nguyễn Duy Bột, Nhà xuất bản Thống Kê, Hà Nội – 2003 5. Tổ chức nghiệp vụ kinh doanh thương mại quốc tế. Chủ biên PTS.Trần Chí Thành, Nxb Thống kê – 1994 6. Giáo trình Chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại - Đồng chủ biên PGS.TS Nguyễn Minh Đường &PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc 7. Cẩm nang thị trường xuất khẩu – Nhà xuất bản LĐXH Hà Nội 2003 8. Quản trị thương mại doanh nghiệp – Nhà xuất bản LĐXH 2005. Đồng chủ biên PGS.TS Nguyễn Minh Đường &PGS.TS Nguyễn Thừa Lộc 9. Giáo trình Marketing thương mại – Nhà xuất bản ĐHKTQD 2007. Chủ biên PGS.TS Nguyễn Xuân Quang 10. Báo cáo tổng kết của Công ty cổ phần xuất nhập khẩu và hợp tác đầu tư VILEXIM các năm 2006, 2007, 2008, 20009 11. Niên giám thống kê 12. Thời báo kinh tế 13. Tạp chí kinh tế và phát triển 14. Tạp chí Kinh tế Việt Nam MỤC LỤC DANH MỤC BẢNG, BIỂU, SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1: Cơ cấu tổ chức của công ty VILEXIM 27 Bảng số 2.1:Tổng hợp tình hình lao động của công ty giai đoạn 2006 – 2009 30 Bảng số 2.2: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Công ty năm 2006 - 2009 32 Biểu đồ 2.1: Cơ cấu xuất nhập khẩu của Công ty năm 2006 - 2009 32 Bảng số 2.3 :Kim ngạch xuất khẩu các nhóm thị trường của VILEXIM 34 Biểu số 2.2: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của VILEXIM giai đoạn 2006 - nay 34 Bảng số 2.4: Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường châu Á của Công ty năm 2006 - 2009 37 Bảng số 2.5: Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Châu Á 38 Bảng số 2.6: Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Châu Phi của VILEXIM 40 Bảng số 2.7: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Châu Phi 41 Bảng số 2.8: Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường châu Âu của công ty VILEXIM 42 Bảng số 2.9: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của thị trường châu Âu 43 Bảng số 2.10: Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường khác 44 Bảng số 2.11: Kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty VILEXIM giai đoạn 2006 – 2009 47 Bảng số 2.12: Tổng kim ngạch XNK, doanh thu và lợi nhuận 49 Bảng số 2.13: Kinh phí cho hoạt động nghiên cứu thị trường của Công ty VILEXIM 52 Biểu số 2.3: Kinh phí cho hoạt động nghiên cứu thị trường 52 Bảng số 2.14: Cơ cấu phương thức xuất khẩu chủ yếu của Công ty 54 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc31265.doc
Tài liệu liên quan