Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị hoạt động Xuất khẩu của Công ty XNK với Lào (Vilexim)

Lời mở đầu Chúng ta đều biết rằng, hoạt động xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Đối với Việt Nam, xuất khẩu hàng hoá đang trở thành một vấn đề hết sức cấp thiết cho sự Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, cũng như góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Thông qua hoạt động xuất khẩu Việt Nam có thể tận dụng được các tiềm năng sẵn có để sản xuất ra các loại hàng hoá phục vụ cho việc trao đổi buôn bán với các quốc gia khác để thu ngoại tê. Với

doc69 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1204 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị hoạt động Xuất khẩu của Công ty XNK với Lào (Vilexim), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ngoại tệ thu được tử hoạt động xuất khẩu, chúng ta có thể mua sắm các loại hàng hoá cần thiết từ các nước trên thế giới nhằm phục vụ cho quá trình Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá cũng như thoả mãn các nhu cầu sinh hoạt của nhân dân. Chính vì vậy hoạt động xuất khẩu có vai trò hết sức quan trọng và trong Đại hội Đảng lần thứ VI một lần nữa khẳng định việc sản xuất hàng xuất khẩu là một trong ba chương trình kinh tế quan trọng trong thời kỳ đổi mới của nước ta (ba chương trình đó là: sản xuất lương thực, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất hàng xuất khẩu.). Từ đó đến nay, vấn đề sản xuất hàng xuất khẩu cũng như các hoạt động liên quan đến xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam đang trở thành một vấn đề được nhiều người quan tâm với mục đích tìm ra các biện pháp hữu hiệu nhất để đưa hoạt động xuất khẩu của Việt Nam ngày càng có hiệu quả. Bởi vì, thực tiễn hoạt động xuất khẩu của Việt Nam cho thấy bên cạnh một số thành tựu đạt được chúng ta cũng đang gặp không ít những khó khăn trong hoạt động này. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp làm thế nào để tiêu thụ sản phẩm một cách hiệu quả nhất vì nó liên quan đến sự sống còn của doanh nghiệp kinh doanh quốc tế. Tuy nhiên, đây là công việc hết sức khó khăn trong giai đoạn hiện nay khi mà nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển, những mặt hàng có lợi thế của chúng ta cung đã vượt quá cầu đối với một số mặt hàng đồi hỏi doanh nghiệp phải tìm cho mình các thị trường mới. Khi đã có thị trường mới doanh nghiệp phải lựa chọn cho mình mặt hang kinh doanh có chất lượng đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng cộng voí sự chỉ đạo và quản lý tốt để nắm bắt những diễn biến sôi động của thị trường, xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh hợp lý vừa đem lại hiệu quả cho doanh nghệp lại vưa phù hợp với chính sách chiến lược phát triển chung của đất nước. Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM là một doanh nghiệp ngoại thương nhà nước có chức năng chính là kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp các loại hàng hoá. Qua thời gian thực tập tại Công ty, với sự hiểu biết của mình cùng với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, các cán bộ trong Công ty và thực tiễn hoạt động của Công ty tôi đã đi sâu nghiên cứu đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản trị hoạt động xuất khẩu của Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM”. Với cơ sở số liệu được lấy tại Công ty, phương pháp nghiên cứu là dựa trên cơ sở lý luận kết hợp với thực tế, từ đó rút ra những ý kiến nhận xét và đề xuất các giải pháp. Nội dung chuyên đề thực tập ngoài phần mở đầu và phần kết luận có kết cấu gồm ba chương: Chương I : Cơ sở lý luận chung về quản trị hoật đông xuất khẩu hàng hoá trong doanh nghiệp thương mại Chương II : Phân tích và đánh giá giá Thực trạng hoạt động xuất nhập khẩu ở Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM. Chương III : Một số ý kiếnđề xuất nhằm nâng cao chất lượng quản trị hoạt động xuất khẩu ở Công ty xuất nhập khẩu với Lào - VILEXIM. Vì trình độ và thời gian có hạn nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nhất định. Tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo, của Công ty VILEXIM và bạn đọc. Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các cán bộ khoa Quản tri doanh nghiệp Trường đại học Thương mại , bộ môn Quản trị doanh nghiệp Thương mại. Đặc biệt tôi xin bày tỏ sự biết ơn đến thầy giáo tiến sĩ Trần Hùng, Người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực tập và viết chuyên đề thực tập. Tôi xin cảm ơn toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty VILEXIM vì sự giúp đỡ nhiệt tình trong quá trình tôi thực tập tại Công ty và xin chúc Công ty gặt hái được nhiều thành công. Chương I những lý luận chung về quản trị xuất khẩu hàng hoá trong các doanh nghiệp thương mại I. Xuất khẩu hàng hoá và vai trò của hoạt động xuất khẩu trong các doanh nghiệp. 1. Khái niệm và đặc điểm của xuất khẩu hàng hoá. Từ sự ra đời của hoạt động thương mại quốc tế có thể nói: Thương mại quốc tế là quá trình trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia khác nhau trên thế giớithông qua các quan hệ mua bán quốc tế. Hoạt động thương mại quốc tế là biểu hiện của hình thức quan hệ xã hội ở phạm vi quốc tế và phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế giữa những người sản xuất hàng hoá riêng biệt. Hoạt động xuất khẩu là một mặt quan trọng của hoạt động thương mại quốc tế của một quốc gia với phần còn lại của thế giới. Nó là quá trình bán những hàng hoá của quốc gia đó cho một hay nhiều quốc gia khác trên thế giới nhằm thu ngoại tệ. Như vậy, về bản chất hoạt động xuất khẩu và hoạt động buôn bán trong nước đều là một qú trình trao đổi hàng hoá( bán hàng), đó là quá trình thực hiệ giá trị hàng hoá của người sản xuất hoặc người bán. Tuy nhiên, về hình thức và phạm vi thì hoạt động xuất khẩu có nhiều đặc điểm khác biệt mà các nhà xuất khẩu cần nhận thấy để có sự vận dụng hợp lý, các đặc điểm đó là: Thứ nhất, khách hàng trong hoạt động xuất khẩu là người nước ngoài. Do đó, khi muốn phục vụ họ, nhà xuất khẩu không thể áp dụng các biện pháp giống hoàn toàn như khi chinh phục khách hàng trong nước. Bởi vì, giữa hai loại khách hành này có nhiều điểm khác biệt về ngôn ngữ, lối sống, mức sống, phong tục tập quán và cách thức thoả mãn nhu cầu của khách hàng nước ngoài để đưa ra những hàng hoá phù hợp. Thứ hai, thị trường trong kinh doanh xuất khẩu thường phức tạp và khó tiếp cận hơn thị trường kinh doanh trong nước. Bởi vì thị trường xuất khẩu vượt qua phạm vi biên giới quốc gia nên về mặt địa lý thì nó ở cách xa hơn, phức tạp hơn, có nhiều nhân tố ràng buộc hơn. Thứ ba, hình thức mua bán trong hoạt động xuất khẩu thường là mua bán qua hợp đồng xuất khẩu với khối lượng mua lớn mới có hiệu quả. Thứ tư, các nghiệp vụ liên quan đến hoạt động xuất khẩu như thanh toán vận chuyển, ký kết hợp đồng… đều phức tạp và chứa đựng nhiều rủi ro. Nói tóm lại, hoạt động xuất khẩu là sự mở rộng quan hệ buôn bán trong nước ra nước ngoài, điều này thể hiện sự phức tạp của nó. Hoạt động xuất khẩu có thể có thể đem lại hiệu quả cao hơn hoạt động kinh doanh trong nước nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro hơn. 2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động xuất khẩu hàng hoá của một quốc gia được thực hiện bởi các đơn vị kinh tế của các quốc gia đó mà phần lớn là thông qua doanh nghiệp ngoại thương. Do vây, thực chất của hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các quốc gia là hoạt động xuất khẩu hàng hoá của các doanh nghiệp ... Hoạt động xuất khẩu không chỉ có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân mà còn đối với bản thân các doanh nghiệp tham gia. 2.1. Đối với nền kinh tế quốc dân. Là một nội dung chính của thương mại quốc tế và là hoạt động đầu tiên trong hoạt động thương mại quốc tế, xuất khẩu có vai trò đặc biệt quan trọng trong qúa trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Nó là một trong những nhân tố cơ bản để thúc đẩy sự tăng trưởng và phát triển kinh tế quốc gia: Thứ nhất, xuất khẩu tạo nguồn vốn lớn chủ yếu cho nhập khẩu, phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. ở các nước phát triển, một trong những vật cản chính đối với sự tăng trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực về vốn. Vì vậy, nguồn vốn huy động từ nước ngoài được coi là nguồn vốn chủ yếu của họ trong quá trình phát triển. Nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và quốc tế chỉ tăng lên khi các chủ đầu tư và người cho vay thấy được khả năng xuất khẩu của nước đó, vì đây là nguồn chính để đảm bảo nước này có thể trả nợ được. Thứ hai, thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Dưới tác động của xuất khẩu, cơ cấu sản xuất và tiêu dùng của thế giới đã, đang và sẽ thay đổi mạnh mẽ hoạt động xuất khẩu làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của quốc gia từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Có hai cách nhìn nhận về tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế : Coi thị trường là mục tiêu để tổ chức sản xuất và xuất khẩu. Quan điểm này tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Cụ thể là: + Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành cùng có cơ hội phát triển. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng thị trường sản phẩm, góp phần ổn định sản xuất, tạo ra lợi thế nhờ quy mô. + Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất mở rộng khả năng tiêu dùng của một quốc gia. Hoạt động thương mại quốc tế cho phép một nước có thể tiêu dùng tất cả các mặt hàng với số lượng lớn hơn nhiêù lần so với khả năng sản xuất của quốc gia đó. + Xuất khẩu là phương tiện quan trọng để tạo vốn và thu hút kỹ thuật công nghệ từ các quốc gia phát triển nhằm tạo điều kiện hiện đại hoá nền kinh tế nội địa và tạo năng lực cho sản xuất mới. + Xuất khẩu còn có vai trò thúc đẩy chuyên môn hóa, tăng cường hiệu quả sản xuất của tưng quốc gia. Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì phân công lao động ngày càng sâu sắc. Ngày nay đã có những sản phẩm mà việc chế tạo từng bộ phận được thực hiện ở các quốc gia khác nhau. Để hoàn thiện được những sản phẩm này, người ta phải xuất khẩu linh kiện từ nước này sang nước khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Do đó, từng nước không nhất thiết phải sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá của mình cần, mà thông qua xuất khẩu họ có thể tập trung vào sản xuất một vài loại mà họ có lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy những hàng hoá mà mình cần. Một cách nhìn khác lại cho rằn, chỉ sản xuất những hàng hoá thừa trong tiêu dùng nội địa. Trong trường hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triể, sản xuất về cơ bản chưa đủ tiêu dùng. Nếu chỉ thụ động chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu chỉ bó hẹp trong phạm vi hẹp và tăng trưởng chậm, do đó các ngành sản xuất không có cơ hội phát triển. Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đến giải quyết công ăn việc làm cải thiện đời sống nhân dân. Đối với việc giải quyết công ăn việc làm: xuất khẩu thu hút hàng triệu lao động thông qua sản xuất hàng xuất khẩu, tạo thu nhập ổn định cho người lao động. Mặt khác, xuất khẩu tạo ra nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng hoá đáp ứng nhu cầu hàng ngày phong phú và đa dạng của nhân dân. Thứ tư, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các mối quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại, phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là một hoạt động cơ bản, là hình thức ban đầu của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác như du lịch quốc tê, bảo hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế… phát triển theo. Ngược lại sự phát triển của các ngành này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển. 2.2 Đối với doanh nghiệp . Với bất kỳ một doanh nghiệp nàothì công ác tiêu thụ hàng hoá cũng là một hoạt động cần thiết để nhằm kết thúc chu kỳ kinh doanh. Nhờ hoạt động tiêu thụ hàng hoá mà doanh nghiệp mới thu hồi vốn kinh doanh để tạo nguồn tài chính, bù đắp được chi phí bỏ ra và có lãi để tiếp tục thực hiện và mở rộng hoạt động kinh doanh. Tiêu thụ hàng hoá là hoạt động chủ yếu nhất của doanh nghiệp thương mại. Không có hoạt đông tiêu thụ hàng hoá sẽ không có doanh nghiệp thương mại.Bởi vậy trong doanh nghiệp thương mại các hoạt động như: marketing, hậu cần, tài chính... đều là hoạt động mang tính mang tính hỗ trợ và việc đạt mục tiêu nàyđảm bảo cho hoạt đông tiêu thụ đạt được mục tiêu đề ra. Tiêu thụ hàng hoá là hoạt động tạo ra mối quan hểtực tiếp giư2ã doanh nghiệp thương mại vàkhách hàng của mình trong và ngoài nước. Do đó thông qua hoạt đông này doanh nghiệp có thể tạo lập được uy tín của mình đối với khách hàng trong và ngoài nước từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh, mở rông thị phần, tăng thế lực kinh doanh của doanh nghiệp trên thương trường. Với các nà quản trị trong doanh nghệp thương mại, hoạt động tiêu thụ hàng hoá vừa mang tính chất đúng đắn của các quyết định quả trị như: quyết định về kế hoạch, phương án tiêu thụ, phương thức xuất khẩu, quyết định về vốn, nhân lực...) cho chúng ta thấy được kết quả mang lại từ các quyết định thông qua doanh số thu về. Vì vậy, có thể nói hoạt đông tiêu thụ hàng hoá giống như một tấm gương chiếu dọi mọi hoạt đông kinh doanh của doanh nghiệp, nó phản ảnh đầy đủ những điểm mạnh điểm yếu của doanh nghiệp. 2.3. Một số đặc thù của hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu hàng hoá được coi là hoạt đông tiêu thụ hàng hoá ra thị trường nước ngoài. Việc mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hoá ra thị trường nước ngoài góp phần tăng thu ngoại tệ cho doanh nghiệp. Đông thời cũng tạo cho sự phát triển hạ tầng cơ sở là một mục tiêu quan trong của chính sách thương mại. Như vậy có thể khẳng định rằng xuất khẩu hàng hoá là hoạt động bán hàng của doanh nghiệp vượt ra khỏi biên giới quốc gia thông qua hợp đồng kinh tế đã ký kết giữa các doanh nghiệp kinh doanh quốc tế với nhau hay giữa doanh nghiệp kinh doanh quốc tế rong nước với tổ chức kinh tế chính trị của nước ngoài hoặc giữa các chính phủ với nhau. hoạt động xuất khẩu hàng hoácó những đặc điểm riêng biệt so với hoạt động tiêu thụ trong nước: Chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật như điều ước quóc tế về thương mại quốc tế, luật các quốc gia có các bạn hàng của doanh nghiệp, tập quán thương mại quốc tế... Các phưong thức giao dịch mua bán trên thị rườngquốc tế rất phong phú đó là giao dịch thông thường, giao dịch trung gian, buôn bán đối lưu... Mọi hoạt động xuất khẩu phải thông qua hợp đông ngoại thương bằng các văn bản. Phương thức thanh toán rất đa dạng có thể bằng thanh toán tín dụng chứn từ hay bằng các phương thứcc khác như nhờ thu, séc bảo chi. séc chuyển khoản. Và tiền tệ dùng cho thanh toán thường là các ngoại tệ mạnh như USD, FSF, DEM, GBP,... Điều kiện cơ sở giao hàng có rất nhiều hình thức như: FOB, CIS, CFR, CFA...Ngoài ra, trong kinh doanh quốc tế hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mà quy mô về thị trường rất rộng, thủ tục phức tạp, thời gian thực hiện lâu. Vì vậy có thể xẩy ra nhiều rủi ro đối với hàng hoá xuất khẩu. Để đề phòng rủi ro doanh nghiệp có thể mua bảo hiểmtương ứng. chi phí mua bảo hiểmcó thể do bên bán hoặc bên mua trả tuỳ thuộc vào điều khoản ghi trong hợp đồng. I. Nội dung của QUảN TRị hoạt động xuất khẩu HàNG HOá ở CáC DOANH NGHIệP THƯƠNG MạI 1. Khái niệm quản trị và các chức năng của quản trị khái niệm Tuỳ theo mục đích gnhiên cứuvà tiếp cận mà khái niệm quả trị được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Theo một cách chung nhất quản trị được hiểu là tổng hợp các hoạt động khác nhau được thực hiện nhằm mục đích đạt được mục tiêu đã xác định thông qua sự nỗ lực phấn đáu thực hiện của người khác. Chức năng quản trị Quản trị có bốn chức năng đó là: hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát * Hoạch định: Là việc ra quyết định cho các hoạt động cho tương lai. Nó bao gồm các hoạt động sau: Xác định mục tiêu của doanh nghiệp. Xác định chính sách, các chương trình và các thủ tục cần thiết nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Xác định các giai đoạn mà doanh nghiệp phải trải qua trong quá trình tiến tới mục tiêu. Xác định các phương tiện cần thiết và cần phải có để đối tương quản trị đạt được mục tiêu. Như vậy, hoạc định được hiểu là một quá trình hành đọng trong hiện tại nhưng hướng tới tương lai. * Tổ chức: Là việc xác định mô hình, phân công lao động, giao nhiệm vụ cho mỗi thành viên trong nội bộ đối tượng quản trị. Nó bao gồm cả việc phân công và giao nhiệm vụ cho mỗi cấp, mỗi thành viên trong doanh nghiệp để họ thực hiện nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất * Lãnh đạo: Là toàn bộ những hoạt động được thực hiện nhằm làm cho đối tượng quản trị vận động và thực hiện mục tiêu đã xác định, tạo ra bầu sinh khi trong công việc, trong tổ chức. Yếu tố tạo ra sinh khí được quan tâm là vì nó tồn tại lâu dài, bên lâu là nguồn gốc tạo nên sức mạnh giúp doanh nghiệp tồn tại. Lãnh đạo bao gồm các nội dung sau: Huấn luyện. Các hoạt động duy trì kỷ luật. Gây ảnh hưởng hứng thú. Gây bầu không khí tin cậy và đoàn kết Tìm ra các biệnu pháp kích thích người lao đông làm việc với hiệu suất lao động cao. * Kiểm soát: Là việc kiểm tra giám sát quá trình vận hành đi đến mục tiêu.Kiểm soát bao gồm việc thiết lập các tiêu chuẩn đo lường lượng hoá với các tiêu chuẩn đã đạt được so sánh kết quả đó với các tiêu chuẩn đã đề ra và tiến hành các hoạt động điều chỉnh cần thiết trong trường hợp có sự sai lẹch giữa kết quả đạt được với tiêu chuẩn. Bất kỳ một nhà quản trị nào cũng cần phải thực hiện đầy đủ bốn chức năng trên. Giữa các chức năng đó có sự phân biệt tương đối nhưng lại có mối liên hệ qua lại bổ sung, liên hệ và qui định lẫn nhau. Trên thực tế, chúng được thực hiện đồng thời đan xen quyện chặt với nhau và trở thành công việc thường xuyên hàng ngày của nhà quản trị. Để thực hiện đầy đủ bốn chức năng này đòi hỏi nhà quản trị phải có tài năng, khả năng lãnh đạo và cái tài gây hứng thú cho người khác sẵn sàng làm công tác của mình. Nhiệm vụ của nhà quản trị là phối hợp mục tiêu của các công sự dưới quyền và các bộ phận trong tổ chức doanh nghiệp với các mục tiêu chung của doanh nghiệp 2. Nội dung của quản trị xuất khẩu hàng hoá: Quản trị tiêu thụ hàng hoá nói chung và quản trị hoạt động xuất khẩu hàng hoá nói riêng trong doanh nghiệp có thể hiểu là hoạt động quản trị của những người thuộc lực lưỡng bán hàng hay những người hỗ trợ trực tiếp cho lực lượng bán hàng cho doanh nghiệp. Quản trị xuất khẩu nhằm mục đích làm thế nào để tiêu thụ hàng hóa ở thị trường nước ngoài một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Từ đó doanh nghiệp thu hồi được vốn kinh doanh để tái đầu tư cho hoạt động kinh doanh ở qui mô cao hơn với việc sử dụng vốn có hiệu quả. Trong doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, quản trị hoạt động xuất khẩu là một vấn đề quan trọng nhất của công tác quản trị kinh doanh. Để quản trị xuất khẩu đạt kết quả tốt các nhà quản trị phải tiến hành công việc sau: 2.1. Nghiên cứu thị trường xuất khẩu Vấn đề nghiên cứu thị trường là một việc làm cần thiết đầu tiên đến với bất kỳ một công ty nào muốn tham gia vào thị trường thế giới. Việc nghiên cứu thị trường tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà kinh doanh nhận ra được quy luật vận động của từng loại hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, hàng cung ứng giá cả thị trường. Qua đó giúp các nhà kinh doanh giải quyết được những vấn đề thực tiễn kinh doanh như yêu cầu của thị trường, khả năng tiêu thụ, khả năng cạnh tranh trên thị trường. Nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trường so sánh, phân tích những thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu hướng vận động của thị trường. Những kết luận này sẽ giúp cho nhà quản lý đưa ra được những nhận định đúng đắn để lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch marketing. Nội dung chính của nghiên cứu thị trường là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trường. Việc nghiên cứu thị trường được thực hiện theo hai bước là nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trường. - Nghiên cứu khái quát thị trường cung cấp những thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trường, các yếu tố ảnh hưởng đến thị trường như môi trường kinh doanh, các yếu tố ảnh hưởng thị trường như môi trường kinh doanh, môi trường chính trị, luật pháp, khoa học công nghệ, môi trường văn hoá xã hội, môi trường sinh thái … - Nghiên cứu chi tiết thị trường cho biết những chi tiết thông tin về tập quán mua hàng, những thói quen và những ảnh hưởng đến hành vi mua hàng của người tiêu dùng. Nghiên cứu thị trường được tiến hành theo hai phương pháp chính: phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp nghiên cứu tại hiện trường. Phương pháp nghiên cứu tại bàn là phương pháp nghiên cứu bằng cách thu thập thông tin từ các nguồn tài liệu đã được xuất bản công khai và xử lý thông tin đó. Phương pháp nghiên cứu tại hiện trường là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trực tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập được. Thông thường nghiên cứu tại hiện trường bao gồm các công việc sau: - Phân tích tình hình cung: trước hết cần nắm sơ tình hình cung, đó là toàn bộ khối lượng hàng hoá đã, đang và có khả năng bán ra trên thị trường. Cần xem xét giá cả trung bình, sự phân bố hàng hoá và tình hình sản phẩm của công ty đang ở giai đoạn nào trên thị trường, xem xét tính cạnh tranh của mặt hàng đó. - Phân tích tình hình cung cầu: Từ những thông tinh về hàng hoá đang bán trên thị trường cần xác định xem những sản phẩm nào có thể thương mại hoá được. Vì vậy cần xác định: + Người tiêu dùng là ai, tuổi, giới tính, nghề nghiệp. + Lý do mua hàng của khách hàng. + Nhịp điệu mua hàng của khách hàng + Ai đó có khả năng trở thành người tiêu dùng hàng hoá của công ty +Sản phẩm của công ty liệu có kéo dài được chu kỳ sống hay không. -Phân tích những điều kiện của thị trường : Phải phân tích cẩn thận tất cả nhưng điều kiện mà việc thương mại hoá sản phẩm của công ty có thể gặp như về cơ chế quản lý, về tài chính, kỹ thuật, về con người và tâm lý… - Lựa chọn đối tác buôn bán: Để lựa chọn các đối tác buôn bán có hiệu quả nên tìm hiểu các nội dung sau: + Quan điểm kinh doanh của đối tác + Lĩnh vực kinh doanh của đối tác. + Khả năng về vốn và cơ sở vật chất của họ + Uy tín và mối quan hệ trong kinh doanh của họ + Những người chịu trách nhiệm trong kinh doanh và phạm vi trách nhiệm của họ đối với công ty. 2.2.Lập phương án kinh doanh: Trên cơ sở những kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trường, đơn vị kinh doanh phải lập phương án kinh doanh cho mình. Phương án này là kế hoạch hoạt động của đơn vị nhằm đạt được những mục tiêu xác định trong kinh doanh. Việc xác định phương án kinh doanh bao gồm: - Đánh giá tình hình thị trường và thương nhân, phác hoạ bức tranh tổng quát về hoạt động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn. - Lựa chọn mặt hàng, thời cơ điều kiện và phương thức kinh doanh. Sự lựa chọn này phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan. - Đề ra mục tiêu cụ thể như sẽ bán được bao nhiêu hàng, giá bán là bao nhiêu, thâm nhập vào thị trường nào. - Đề ra biện pháp và công cụ thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu: Những biện pháp này bao gồm đầu tư vào sản xuất, cải tiến mẫu mã bao bì hàng hoá, ký hợp đồng kinh tế, tham gia hội chợ quốc tế, tổ chức quảng cáo, mở rộng mạng lưới đại lý, lập chi nhánh ở nước ngoài… - Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh tế thông qua các chỉ tiêu cơ bản như: + Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ + Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi + Chỉ tiêu thời gian thu hồi vốn + Điểm hoà vôn 2.3. Lựa chọn hình thức xuất khẩu Thông thường người ta sử dụng các hình thức xuất khẩu sau: * Xuất khẩu trực tiếp: Là phương thức xuất khẩu trong đó người mua và người bán có quan hệ trực tiếp với nhau để bàn bạc, thoả thuận về hàng hoá, giá cả và các điều kiện giao dịch khách. Người xuất khẩu trên cơ sở nghiên cứu kỹ thị trường nước ngoài để tính toán đầy đủ chi phí đảm bảo kinh doanh xuất khẩu có lãi, đúng phương hướng chính sachpháp luật của quốc gia và quốc tế. *Xuất khẩu uỷ thác: Là hoạt động xuất khẩuhình thành giữa một doanh nghiệp có nhu cầu xuất khẩu mộyt số loại hàng hoá nhưng không có quyền tham gia quan hệ xuất khẩu trực tiếp đã uỷ thác cho một doanh nghiệp khác có chức năng giao dịch thương mại quốc tế tiến hành xuất khẩu hàng hóa tiến hành theo yêu cầu của mình. Bên nhận uỷ thác phải tiến hành đàm phán cho bên nhận uỷ thác và được hưởng một phần thù lao gọi là phí uỷ thác. Đặc điểm của hoạt động xuất khẩu này là doanh nghiệp xuất khẩu (nhận uỷ thác) không phải bỏ vốn,không phải xin hạn nghạch (nếu có) , không phải nghiên cứu thị trường tiêu thụ hàng hoá mà chỉ đứng ra thay mặt bên uỷ tháckhiếu nại đòi bồi thường khi có tổn thất về hàng hoá. *Buôn bán đối lưu: Là phương thức trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, thanh toán trong trường hợp này không phảo bằng tiền mà bằng hàng hoá, người bán đông thời là người mua. Lượng hàng hoá có giá trị tương đương. Hoạt động này rất có lợi bởi cùng một hợp đồng có thể tiến hành cùng một lúc hoạt động xuất khảu và nhập khẩu. Do đó doanh ngiêp có thể thu lợi từ cả hai hoạt động này. Hàng hoá xuất và nhập thường tương đương nhau về giá trị, tính quý hiếm, bạn hàng và người mua là một. *Tái xuất: Đây là hoạt động nhập vào trong nước nhưng không phải tiêu thụ tại thị trương nội địa mà để tái xuất sang quốc gia thứ ba nhằm thu được chênh lệch giá. Những hàng nhập này không được qua chế biến ở nước tái xuất. Đặc điểm của hoạt động này là luôn luôn thu hút ba nước: nước xuất khẩu, nước tái xuất và nước nhập khẩu. Doanh nghiệp tái xuất phí thanh toán chi phí, ghép nối được bạn hàng nhập khẩu và bạn hàng xuất khẩu đảm bảo có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí đã bỏ ra để tiến hành hoạt động tái xuất. Có trường hợp hàng hoá không chuyển về nước tái xuất mà chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu nhưng tiền trả luôn cho người tái xuất thu từ nước nhập khẩu trả cho nước xuất khẩu. *Gia công quốc tế : Là phương thức sản xuất hàng hoá xuất khẩu trong đó người đặt gia công nước ngoàicung cấp máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu hàng và định mức cho trước. Người nhân gia công ở trong nước tổ chức quá trính sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách hàng. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để thu tiền gia công. *Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá: Sở giao dịch hàng hoá là một thị trương đặc biệt, tại sđó thông qua người môi giới do sở giao dịch chỉ định người mua người bán và các loại hàng hoá có khối lượng lớn, có tính chất đồng loại, có phẩm chất có thể thay thế cho nhau... Như vậy,có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau nhưng tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể khác nhau mà các doanh nghiệp lựa chọn hình thức nào cho phù hợp và có lợi nhất. Ngoài hình thức xuất khẩu độc lập doanh nghiệp có thể liên doanh với các doanh nghiệp khác cùng thực hiện một hợp đồng xuất khẩu nhằm khắc phục tình trạng thiếu vốn, san sẻ bớt rủi ro cùng phối hợp khả năng giao dịch và đề ra các biện pháp tối ưu tiêu thụ được hàng hoá và có được lợi nhuận tối đa. 2.4. Ký kết hợp đồng xuất khẩu: Hợp đồng xuất khẩu là loại hợp đồng mua bán đặc biệt, trong đó người bán có nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu một loại hàng hoá nhất định với một khối lượng cụ thể cho người mua, còn người bán có nghĩa vụ trả cho người bán một khoản tiền tương đương với giá trị lô hàng bằng một phương thức thanh toán quốc tế nào đó. Về thực chất, hợp đồng xuất khẩu là những thoả thuận về các điều kiện mua bán hàng hoá như tên hàng, khối lượng hàng, chất lượng, giá cả, điều kiện giao nhận, điều kiện thanh toán… giữa doanh nghiệp ngoại thương và các khách hàng cụ thể. Những thoả thuận này được thể hiện thành các hình thức văn bản hợp đồng nhất định. Về mặt pháp lý, hợp đồng xuất khẩu là căn cứ pháp luật ràng buộc các bên thực hiện các nghĩa vụ của mình cũng như được hưởng các quyền lợi nhất định. Chính vì vậy, khi ký kết hợp đồng xuất khẩu, doanh nghiệp phải xem xét lại các khoản thỏa thuận trước khi kí kết hợp đồng. Doanh nghiệp có thể ký kết hợp đồng xuất khẩu với khách hàng nước ngoài theo các bước sau: - Hai bên ký vào một văn bản hợp đồng mua bán. - Doanh nghiệp xác nhận là người mua đã đồng ý các điều kiện của thư chào hàng. - Doanh nghiệp xác nhận đơn đặt hàng của khách hàng. 2.5. Tổ chức và điều khiển hoạt động tiêu thụ hàng hoá: Sau khi đã xây dựng được các chính sách chiến lược tiêu thụ hàng hoá và lựa chọn được phương án tiêu thụ hàng hoá thì các nhà quản trị phải tiến hành tổ chức và điều khiển hoạt đông tiêu thụ hàng hoá để hàng hoá đươcj tiêu thụ một cách có hiệu quả. Tổ chức và điều hành hoạt động tiêu thụ hàng hoálà việc phân chía các công doạn, công việc, phân bố lao động vao các vị trí để thực hiện từng công đoạn của từng phương thức bán hàng cũng như các dịch vụ trước và sau bán hàng. Đối với hoạt động tiêu thụ hàng hoá của doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu được thực hiện theo sơ đồ sau: Sơ đồ : Trình tự thực hiện hợp đồng xuất khẩu. Ký hợp đồng XK Kiểm tra L/C Xin giấy phép XK Chuẩn bị hàng hoá Giao hàng lên tàu Làm thủ tục hải quan Kiểm nghiệm hàng hoá Thuê tàu Giải quyết khiếu nại (nếu có). Mua bảo hiểm Làm thủ tục thanh toán ở mỗi công đoạn trênnhà quản trị xuất khẩu phải phân công các công đoạn tiêu thụ hàng hoá với nhiệm vụ cụ thể và phù hợp với nhân viên thừa hành. Mỗi giai đoạn là một quá trình bao gồm nhiều công việc khác nhau, đòi hỏi nhân viên thừa hành phải có chuyên môn nghiệp vụ và những kĩ năng nhất định để hoàn thành nó. Đông thời với việc giao nhiệm vụ các nhà quản trị cần phải trao cho họ những quyền hạn nhất định để họ có thể tự giải quyết công việc một cách có hệ thống và có những quyết định khác pục sự cố kịp thời khi sự cố xấy ra trong quá trình thực hiện công việc. Cùng với công tác tổ chức phân công nhiệm vụ cho nhân viên thừa hành nhà quản trị phải có những biện pháp điều khiển phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận cũng như mỗi thành viểntong lực lưỡng tiêu thụ hàng hoá đều hướng vaò mục tiêu đã định trước, cố găqngs hết khả năng của mình, nỗ lực hoàn thành tốt công việc được giao với kết quả cao nhất từ đó thúc đẩy hiệu quả tiêu thụ chung của doanh nghiệp tăng lên. Muốn vậy ngoài việc tổ chức lao động khao học, các nhà quản trị phải cần phải có biện pháp quản lý chặt chẽ cùng với sự quan tâm thoã đáng tới nhu cầu và lợi ích của các nhân viên. Cần chú trọng tới các biện pháp khuyến khích vật chất, với cơ chế thưởng phạt nghiêm minh, chủ động gắn lợi ích của người lao động với chính công việc của họ để người lao động có sự quan tâm và có trách nhiệm hưiưn với công việc của mình. Song với công tác tổ chức nhân sự , các nhà quản trị cũng cần quan tâm tới công tác tổ chức tài chính cho phù hợp với từng giai đoạn để sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách trong doanh nghiệp tránh lãng phí vốn kinh doanh. Như vậy, công tác tổ chức và diều khiển hoạt động tiêu thụ đòi hỏi các nhà quản trị phải có phương pháp khoa học cùng với sự tác động tích cực tới hoạt động của mỗi bộ phận. 2.6. Kiểm soát đánh giá hoạt động tiêu thụ: Mục tiêu của hoạt động kiểm soát tiêu hàng xuất khẩu là giúp các nhà quản trị thấy được thực trạng của hoạt động tiêu thụ hàng hóa xuất khẩucũng như các kết quả của việc thực hiện các phương án chiến lược tiêu thụ hàng hoá đã đề ra, phát hiện ra những sai._. lệch trong trong quá trình thực hiện phương án tiêu thụ. Đồng thời phải có nhữngphương án điều chỉnh thích hợp nhằm đảm bảo kết quả hoạt động phù hợp với mục tiêu của công tác tiêu thụ hàng hoá xuất khẩu. Với cá doanh nghiệp kinh doanh xuất – nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ công việc nay được thực hiểntong suốt quá trình thực hiện hợp đồng xuất khẩu để có những tác động điều chỉnh kịp thời những sai lệch không phù hợp với nội dung của từng hợp đồng hoặc không phù hợp với mục tiêu của từng giai đoạn. Đến giai bđoạn cuối của kiểm soát, đánh giá toàn bộ các công đoạn của quá trình xuất khẩu. Điều này không điều chỉnh được việc thực hiện hợp đồng mà điều chỉnh vào việc thực hiện hợp đông mới. Để việc kiểm tra, kiểm soát hoạt động tiêu thụ đạt kết quả cao trước hết các nhà quản trị cần xác định các tiêu chuẩn về hoạt động tiêu thụ bao gồm các chỉ tiêu định lượng như: kim nghạch xuất khẩu, doanh số tiêu thụ hàng xuất khẩu, mức lợi nhuận hàng xuất khẩu, tốc độ chu chuyển hàng hoá, tổng mức chi phí cho hoạt động bán hàng và các chỉ tiêu định tính như mức độ an toàn trong kinh doanh, trình độ văn minh, uy tín, thế lực của doanh nghiệp trên thương trường. trên cơ sở đó so sánh kết quả đạt được với các tiêu chuẩn đề ra tìm ra các sai lệch và tiến hành điêu chỉnh theo hướng dẫn đã chọn. Thông thường người ta dùng các chỉ tiêu tài chính để dánh giá kết quả thực iện như: so sánh lợi nhuận với doanh số để tính tỉ suất lợi nhuận, so sánh lợi nhuận với chi phí để tính tỉ suất chi phí và hiệu quả sử dụng vốn. Việc kiểm soát, đánh giáhoạt động xuất khẩu không được áp dụng một cách cứng nhắc mà phải phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp và bối cảnh của thị trường trong và ngoài nước. Chương II Phân tích và đánh giá thực trạng hoạtđộng xuất khẩu hàng hoá tại công ty vilexim I- Giới thiệu khái quát về công ty VILEXIM: - Tên Việt Nam: Công ty xuất nhập khẩu với Lào. - Tên giao dịch quốc tế: Viet Nam National Import – Export Corporation with Laos. - Tên viết tắt: VILEXIM. - Trụ sở chính của công ty tại: P4A - Đường Giải Phóng – Nội. - Chi nhánh của Công ty tại TP Hồ Chí Minh 6/59 Bis Đường Cao Thắng. - Văn phòng đại diện tại Vietianl – CHDCND Lào 1. Qúa trình hình thành và phát triển: Công ty xuất nhập khẩu với Lào trước đây thuộc tổng công ty xuất nhập khẩu biên giới được thành lập căn cứ vào quyết định số: 82/ VNT – TCCB ngày 24/2/1987 của Bộ ngoại thương nay là Bộ Thương mại. Công ty được Bộ Thương mại giao nhiệm vụ tiến hành hoạt động kinh doanh XNK với nước CHDCND Lào. Từ năm 1993 đến nay theo xu thế của thị trường và sự đổi mới của đất nước. Công ty không chỉ thực hiện thực hiện kinh doanh XNK với CHDC Lào mà mở rộng hoạt động kinh doanh với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới như: Đài Loan, Trung Quốc, Nhật Bản và nhiều tổ chức kinh tế khác. Công ty hoạt động kinh doanh XNK để đẩy mạnh phát triển quan hệ thương mại và các hoạt động khác có liên quan. Cũng trong thời gian này Công chính thức mang tên là Công ty xuất nhập khẩu với Lào, là một doanh nghiệp nhà nước hoạt động với tư cách pháp nhân và chịu sự quản lý trực tiếp của nhà nước thông qua bộ Thương mại. 2. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của công ty: - Chức năng: Là một đơn vị kinh tế Nhà nước, thực hiện chế độ hạch toán kinh tế độc lập với mục đích là thông qua kinh doanh nội địa và xuất nhập khẩu để góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển, tạo thu nhập cho công ty, tăng thu ngoại tệ cho Nhà nước và thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước. Như vậy chức năng chính của công ty VILEXIM là kinh doanh trong nước và tham gia hoạt động xuất nhập khẩu tổng hợp các loại hàng hoá nhằm phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trên cơ sở kết hợp lợi ích của xã hội, của công ty và toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty. - Nhiệm vụ: + Tổ chức nghiên cứu tốt thị trường trong và ngoài nước, nắm vững nhu cầu thị hiếu trên thị trường để hoạch định các kế hoạch kinh doanh, các chiến lược marketing đúng đắn đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của công ty được chủ động tránh rủi ro và mang lại hiệu quả tối ưu. + Tự tạo nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh và dịch vụ của công ty. Quản lý, khai thác sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó, đảm bảo đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh, bù đắp các chi phí, cân đối giữa xuất và nhập, làm tròn nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước; phấn đấu thực hiện chỉ tiêu kế hoạch xuất nhập khẩu ngày càng cao. + Tuân thủ các chính sách chế độ quản lý kinh tế , quản lý xuất nhập khẩu và giao dịch đối ngoại. + Thực hiện tốt các chính sách cán bộ, chế độ quản lý tài sản, tài chính, lao động, tiền lương, tiền thưởng …. do công ty quản lý, làm tốt công tác phân phối lao động, đảm bảo công bằng xã hội, đào tạo bồi dưỡng để nâng cao trình độ văn hoá, nghiệp vụ tay nghề cho cán bộ công nhân viên trong công ty. + Thức hiện các cam kết trong hợp đồng mua bán ngoại thương và các hợp đồng có liên quan tới hoạt động xuất khẩu của công ty. + Nghiên cứu nắm vững môi trường luật kinh tế, văn hoá, xã hội để phục vụ cho việc đề ra các quyết định kinh doanh, ký kết hợp đồng kinh tế, tham gia đàm phán ký kết trực tiếp hoặc thông qua đơn chào hàng, đặt hàng. + Nghiên cứu thực hiện các biện pháp để nâng cao chất lượng, gia tăng khối lượng hàng xuất khẩu, mở rộng thị trường quốc tế nhằm góp phần thu hút ngoại tệ, phát triển xuất nhập khẩu. + Xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc uỷ thác cho các đơn vị khác hoặc nhờ đơn vị khác uỷ thác xuất nhập khẩu. + Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước + Không ngừng bảo đảm và phát triển vốn + Quản lý sử dụng tốt ngoại tệ + Làm tốt công tác bảo hộ lao động và an toàn lao động, trật tự xã hội, bảo vệ môi trường, bảo vệ tài sảm xã hội chủ nghĩa, bảo đảm an ninh, làm tròn nghĩa vụ quốc phòng. - Quyền hạn của công ty: + Được vay vốn tiền Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân hàng Việt Nam hay nhân hàng nước ngoài, được huy động vốn nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh của công ty. Công ty đảm bảo tự trang trải nợ vay, thực hiện các quy định về quản lý ngoại tệ của nhà nước. + Được ký kết hợp đồng với các đơn vị sản xuất kinh doanh thuộc các thành phân kinh tế, kể cả các đơn vị khoa học kỹ thuật trong việc kinh doanh, hợp tác đầu tư, uỷ thác và nhận uy thác xuất nhập khẩu trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện và các bên cùng có lợi. + Được đàm phán, ký kết và thực hiện hợp đồng xuất nhập khẩu với nước ngoài, được quyền ký kết và thực hiện các phương án hợp tác đầu tư với bên nước ngoài theo các quy định của Nhà nước và luật pháp Quốc tế. + Được mở rộng cửa hàng buôn bán các sản phẩm do mình kinh doanh theo quy định của nhà nước. + Được dự hội chợ, triển lãm, giới thiệu các sản phẩm của công ty trong nước và ngoài nước, mời bên nước ngoài vào hoặc cử cán bộ ra nước ngoài đàm phán, ký kết hợp đồng, khảo sát thị trường, trao đổi nghiên cứu kỹ thuật. + Được đặt các đại diện, chi nhánh của công ty ở trong nước và ngoài nước theo quy định của Nhà nước Việt Nam và của các nước sở tại. Được thu thập và cung cấp các thông tin về kinh tế và thị trường thế giới. ban GIáM ĐốC Phòng kế toán tài vụ Phòng tổ chức hành chính Phòng kế hoạch tổng hợp Phòng XNK I Phòng XNK II Phòng XNK III Phòng XNK IV Phòng XNK V Các chi nhánh và văn phòng đại diên 3. Tổ chức bộ máy quản lý: Hình 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy hoạt động của công ty VILEXIM. Ban giám đốc là bộ phận đứng đầu Công ty bao gồm: giám đốc, phó giám đốc và các trưởng phòng. Trong đó ban giám đốc đứng đầu là giám đốc do Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ Thương mại bổ nhiệm trực tiếp điều hành Công ty theo chế độ một thủ trưởng có toàn quyền quyết định mọi hoạt động của công ty sao cho có hiệu quả và là người chịu trách nhiệm cao nhất và toàn diện trước Bộ trưởng Bộ Thương mại và tập thể của Công ty về quá trình quyết định công việc của mình. Giúp việc cho giám đốc là hai phó giám đốc. Các phó giám đốc do giám đốc đề nghị và được Bộ trưởng bộ Thương mại bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm. Phó giám đốc Công ty được phân công phụ trách một số lĩnh vực như một số mặt hàng hay thị trường mà công ty kinh doanh và chịu trách nhiệm trước giám đốc Công ty những lĩnh vực mà mình đảm nhiệm. Trong các phó giám đốc có phó giám đốc thứ nhất có quyền thay mặt giám đốc điều hành Công ty khi giám đốc đi vắng. Dưới phó giám đốc là các phòng ban chức năng các chi nhánh và văn phòng đại diện. Cụ thể: - Phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ: + Tham mưu cho giám đốc về tổ chức bộ máy quản lý của Công ty có hiệu quả. Trong từng thời kỳ, đánh giá chất lượng cán bộ, chỉ đạo xây dựng và xét duyệt mức lao động tiền lương cho các thành viên. + Tổ chức quản lý và thực hiện các công tác quản lý hành chính nhằm phục vụ và duy trì các hoạt động cần thiết cho công việc kinh doanh của Công ty. + Thực hiện chế độ chính sách đối với nhân viên và tổ chức công tác hành chính văn thư lưu trữ nhằm phục vụ cho công tác quản trị của Công ty. - Phòng kế toán tài vụ có nhiệm vụ sau: Theo dõi các nghiệp vụ liên quan đến công tác hạch toán kế toán của Công ty. Làm công tác kiểm tra kiểm soát việc thực hiện chế độ quản lý kinh tế, lập báo cáo quyết toán phản ảnh hoạt động kinh doanh của Công ty theo định kỳ. Chịu trách nhiệm trước giám đốc về toàn bộ về hoạt động tài chính của công ty. Trong đó kế toán trưởng có nhiệm vụ chỉ đạo nhân viên trong phòng kế toán hạch toán theo đúng thới gian và chế độ nhà nước qui định. - Phòng kế hoạch tổng hợp có nhiệm vụ: Lập kế hoạch kinh doanh chung cho toàn công ty và đem cho giám đốc Công ty trình duyệt và phân bố kế hoạch kinh doanh cho từng phòng kinh doanh cụ thể và báo cáo lên ban lãnh đạo của Công ty tình hình thực hiện kế hoạch theo từng tháng, quí và năm. Đồng thời đưa ra các biện pháp tháo gỡ khó khăn trong công ty và trình lên giám đốc... - Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu I có nhiệm vụ sau: Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh xuất nhập khẩu chủ yếu với thị trường Lào và có thể thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu với một số thị trường khác. - Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu III có nhệm vụ sau: Chuyên kinh doanh xuất nhập khẩu với thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, phòng có thể nhận uỷ thác xuất nhập khẩu một số mặt hàng do khách hàng yêu cầu. - Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu II, IV, V là các phòng kinh doanh đa nghành co nhiệm vụ: Tự tìm khách hàng và thị trường cho mình. Khi đã tìm được thị trường và khách hàng cho mình thì các phòng này phải lập phương án kinh doanh và trình lên giám đốc. Giám đốc sẽ duyệt và đứng ra làm đại diện ký hợp đồng với khách hàng và giao cho phòng thực hiện các nghiệp vụ cụ thể. Đồng thời, giám đốc sẽ ký quyết định phân bổ vốn kinh doanh cho từng phòng theo từng hợp đồng. - Chi nhánh và văn phòng đại diện: hoạt động theo phương thức khoán. Trưởng chi nhánh và văn phòng đại diện có quyền quyết định, quản lý mọi hoạt động kinh doanh của mình. Đồng thời chịu trach nhiệm trước giám đốc, pháp luật và tập thể công nhân viên của mình. 4. Đặc điểm hoạt động kinh doanh: 4.1. Các lĩnh vực kinh doanh của Công ty: Hoạt động kinh doanh chủ yếu của công ty là hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá và tư liệu sản xuất. Đối với thị trường trong nước, Công ty trực tiếp thu mua hàng từ các cá nhân và tổ chức để xuất khẩu và tìm thị trường để tiêu thụ các hàng hoá đã nhập về. Đối với thị trường nước ngoài, Công ty nhập khẩu hàng hoá từ các tổ chức kinh doanh quốc tế nước ngoài. Đồng thời, xuất hàng cho các tổ chức này. - Về xuất khẩu, Công ty thực hiện xuất khẩu hàng hoá với thị trường Lào và một số thị trường khác trong khu vực và trên thế giới. Hàng hoá xuất khẩu là những mặt hàng do Công ty trực tiếp sản xuất hoặc liên doanh sản xuất hay thu mua từ các cá nhân và tổ chức kinh tế khác trong nước. Đồng thời nhận sự uỷ thác xuất khẩu và làm các dịch vụ thuộc phạm vi tư nhân cho các khách hàng trong nước và ngoài nước. - Về xuất khẩu, Công ty trực tiếp thực hiện nhập khẩucác mặt hàng mà thị trương trong nước có nhu cầu theo hạn nghạch của Bộ Thương mại cấp. Nhận sự uỷ thác nhập khẩu của khách hàng trong và ngoài nước. Đông thời, làm nhiệm vụ của nhà nước giao như nhập khẩu các mặt hàng do Lào trả nợ theo hình thức nhập khẩu. 4.2. Nhân sự: Tổng số cán bộ công nhân viên của Công ty là 80 người.Trong đó được phân bố như sau: - Phòng giám đốc: 1 người - Phòng phó giám đốc kinh doanh: 1 người - Phòng phó giám đốc chi nhánh: 1 người - Phòng tổ chức hành chính: 10 người - Phòng kế hoạch tổng hợp: 4 người - Phòng kế toán tài vụ: 10 người - Phòng xuất nhập khẩu I: 5 người - Phòng xuất nhập khẩu II: 5 người - Phòng xuất nhập khẩu III: 5 người - Phòng xuất nhập khẩu IV: 5 người - Phòng xuất nhập khẩu V: 5 người Từ năm 1999 tới nay nhân sự của công ty vẫn ổn định không có sự thay đổi nào đáng kể. Các cán bộ công nhân viên trong công ty đều có năng lực và đều được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Trong số cán bộ công nhân viên của Công ty có 70 % đã được đào tạo đại học và 30% là cao đẳng và trung cấp. Tỷ lệ nữ giới chiếm 60% và tỷ lệ nam giới chiếm 40%. Trong thời gian gần đây, do sự cạnh tranh trên thị trường gia tăng, luật pháp có sự thay đổi đáng kể. Trước tình hình đó Công ty đã khuyến khích và tạo điều kiện cho nhân viên bổ sung trình độ chuyên môn nghiệp vụ dẫn đến tỷ lệ dào tạo qua đại học trong năm 2000 tăng 5% so với năm 1999 và đạt 70% ty lệ này giữ nguyên đến năm 2001. 4.3. Vốn kinh doanh: Vốn kinh doanh của Công ty được hình thành từ hai nguồn là ngân sách nhà nước đây là nguồn chủ yếu ban đầu mà Công ty phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển trong quá trình sử dụng và nguồn vốn do Công ty tự bổ sung. Hiện nay, tổng vốn điều lệ của Công ty là 10.303.433.424 VNĐ. Vốn kinh doanh của công ty được phân thành vốn cố định và vốn lưu động. Trong đó: - Vốn cố định là sự biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định vô hình( là một loại vốn rất khó xác định) và tài sản cố định hữu hình gồm: + Chi phí thành lập, xây dựng, tăng vốn, nghiên cứu và phát triển + Lợi thế thương mại và uy tín danh tiếng của công ty. + Đất đai. + Nhà kho, nhà văn phòng. + Các phương tiện vận tải, bốc xếp, bảo quản và quảng cáo hàng hoá... + Các khoản ứng trước để mua tài sản cố định. + Qũi khấu hao cơ bản và khấu hao sửa chưa tài sản cố định. Cho tới hiện nay vốn cố định của công ty đạt 4.093.825.810 VNĐ. - Vốn lưu động là sự biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động bao gồm: + Vốn bằng tiền bao gồm: tiền mặt tại quĩ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. + Hàng tồn kho gồm: Hàng tồn kho, hàng đang đi đường hàng gửi đi bán và dự phòng giảm giá hàng tồn kho. + Các khoản ứng trước và trả trước. + Các khoản phải thu. + Các khoản chi sự nghiệp. Cho tới hiện nay, vốn lưu động của Công ty 6.209.607.614 VNĐ. Bảng1: Vốn kinh doanh trong các năm gần đây Đơn vị: đồng Chỉ tiêu Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Số tiền Tỷ trọng Tổng số vốn 9.717.182.746 100 10.303.433.424 100 10.303.433.424 100 Vốn cố định 3.959.708.207 40,75 4.093.825.810 39,7 4.093.825.810 39,7 Vốnlưu động 5.757.474.539 59,25 6.209.607.614 60,3 6.209.607.614 60,3 Bảng2: So sánh vốn các năm qua Đơn vị: đồng Chỉ tiêu Năm 2001 so sánh với năm 2000 Năm 2000 so sánh với năm 1999 Số tiền Tỷ lệ Tỷ trọng Số tiền Tỷ lệ Tỷ trọng Tổng số vốn - - - 586.250.678 Vốn cố định - - - 134.117.603 3,39% -1,05% Vốn lưu động - - - 452.133.075 7,85% 1,05% Bảng3: Số vòng chu chuyển vốn trong các năm qua. Đơn vị: đồng Chỉ tiêu Năm1999 Năm 2000 Năm 2001 Số vòng chu chuyển 25,5 26 24 Trong những năm gần đây hàng năm nguồn vốn của Công ty được bổ sung thêm nhằm ổn định hoạt động kinh doanh. Năm 2000 nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty tăng lên trước tình hình đó Công ty đã huy động vốn bổ sung từ ngân sách nhà nước và quĩ phát triển kinh doanh của mình. Sang năm 2001 nhu cầu vốn kinh doanh của Công ty vẫn ổn định nên vốn kinh doanh không có sự bổ sung thêm. Trong cơ cấu vốn kinh doanh thì vốn lưu động chiếm phần lớn hơn đây là sự phân bổ nguồn vốn hợp đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại. Tạo điều kiện cho nghiệp vụ xuất nhập khẩu được thực hiện có hiệu quả hơn. Những năm qua, tốc độ chu chuyển vốn lưu động của Công ty luôn được duy trì ổn định ở mức cao hiệu quả nguồn vốn được khai thác triệt để hơn. 4.4. Tình hình tài chính tại thời điểm đến hết ngày 31/12/2001: Hoạt động chủ yếu của Công ty là xuất nhập khẩu hàng hoá cho nên các nguồn vốn của Công ty đều giành cho đầu tư cho hoat động kinh doanh là chủ yếu. Còn đầu tư cho hoạt động tài chính rất ít. Tuy nhiên, theo xu thế của thị trường và để tăng nguồn lực kinh doanh và tìm kiếm thêm lợi nhuận Công ty đã bắt đầu có các hoạt động đầu tư tài chính. Chẳng hạn mua bán và phát hành trái phiếu. Mua bán cổ phiếu trên thị trường tài chính. Đồng thời, góp vốn tham gia liên doanh liên kết. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh Công ty phải có sự thu hút vốn từ bên ngoài. Trong những thương vụ lớn việc thiếu vốn lưu động để thanh toán vẫn xẩy ra. Vì vậy, Công ty phải thu hút vốn từ bên ngoài mà chủ yếu là vay ngắn hạn của ngân hàng để thực hiện thương vụ. Thường thì vốn vay của ngân hàng được chu chuyển nhanh để chi phí tiền vay được giảm tối đa. 4.5. Sản phẩm: Sản phẩn kinh doanh của Công ty có thể do Công ty sản xuất hoặc liên doanh liên kết sản xuất hàng xuất khẩu với bạn hàng hoặc gom hàng xuất khẩu từ các cá nhân và tổ chức kinh tế khác. Đồng thời, nhập các mặt hàng mà trong nước có nhu cầu. - Những mặt hàng xuất khẩu của Công ty là những mặt hàng vốn là lợi thế của Việt Nam và chủ yếu là do Công ty thu gom gồm: + Hàng nông sản: gạo, lạc, ngô, vừng, ... + Hàng lâm sản: chè, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, gỗ thông, hoa hồi... + Hàng thủ công mỹ nghệ: đồ gốm, sứ, sơn mài,... + Trục chà lúa + Dược liệu: sa nhân, các cây thuốc dân tộc,... + Hàng hoá khác. - Những mặt hàng xuất khẩu của Công ty là những mặ hàng trong nước chưa sản xuất được hay sản xuất chưa đáp ứng nhu cầu tiêu dùng gồm: + Kim loại đen và kim loại màu các lại: dây cáp nhôm, đồng,ống nước... + Đồ điện tử điện lạnh: máy điều hòa, tủ lạnh... + Máy móc, ôtô, xe máy... + Hoá chất, chất dẻo,... + Hàng hoá khác. 4.6. Thị trường: - Công ty VILEXIM có quan hệ ngoại giao với nhiều quốc gia trên thế giới. Trong đó, Công ty có quan hệ kinh doanh với 23 quốc gia. Chủ yếu là các quốc gia Đông nam á, Châu âu và Nhật Bản. Thị trường xuất khẩu chủ yếu của Công ty là Châu âu, Nhật Bản, Singapore, Đài Loan, Trung Quốcvà Lào. Ngoài ra, công ty còn xuất khẩu sang thị trường mỹ và Châu phi. Đối với thị trường nội địa thì Công ty nhập khẩu các mặt hàng mà Công ty đã có đơn đặt hàng cụ thể chứ không trực tiếp thực hiện phân phối hoặc giao cho đại lý phân phối. Thường thì Công ty nhập về những mặt hàng mà trong nước đang có nhu cầu. Bảng 4:Tình hình tỷ trọng xuất khẩu của Công ty VILEXIM tại các thị trường Thị trường Năm 1999 2000 2001 Nhật 40 35 39 Singapore 27 30 28 Lào 6 5 6 Hồng Công 4 5 5 Đài Loan 5 7 6 Inđônêxia 6 6 5 Châu âu 10 8 9 Thị trường khác 2 4 2 Tổng cộng 100 100 100 4.7. Nguồn cung ứng và đối thủ cạnh tranh: 4.7.1. Nguồn cung ứng: Là một Công ty thương mại chuyên về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và tư liệu phục vụ cho sản xuất Công ty cần phải có nhà cung ứng hàng hoá xuất khẩu và có nguồn nhập khẩu. Đồng thời, sẽ có các tổ chức kinh tế trong nước và ngoài nước cạnh tranh trong việc thu mua hàng xuất khẩu và xuất khẩu cũng như nhập khẩu hàng hoá để tiêu thụ tại thị trường trong nước. - Về nguồn cung ứng: + Đối với hàng xuất khẩu Công ty thường gom hàng trực tiếp từ các cá nhân, tổ chức sản xuất( các doanh nghiệp sản xuất và hợp tác xã) hay gián tiếp qua các tổ chức thương mại trong nước. Hiện nay Công ty đang có chủ trương liên kết bao tiêu các sản phẩm đầu ra của các nhà sản xuất các mặt hàng xuất khẩu bằng các hợp đồng dài hạn. + Đối với hàng nhập khẩu do chưa có các chi nhánh tại các thị trường cho nên khi nhập khẩu công ty phải qua trung gian thương mại là các tổ chức kinh doanh quốc tế trong nước có chi nhánh tại các thị trường mà công ty cần nhập khẩu và có sự thuận lợi hơn trong việc nhập khẩu hoặc là các tổ chức kinh doanh quốc tế của nước ngoài. Nguồn hàng xuất khẩu là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động xuất khẩu của Công ty. Vì vậy, việc tổ chức thu mua tạo nguồn là một vấn đề hết sức quan trọng. Hiện nay, Công ty tổ chức thu mua hàng xuất khẩu từ các địa phương, các cơ sở sản xuất nằm rải rác trên cả nước. Việc mở rộng được thị trường thu mua của Công ty trong thời gian qua là kết quả đáng mừng và nó sẽ giúp cho công tác thu mua tạo nguồn hàng đạt kết quả cao nếu Công ty biết khai thác một cách triệt để. Địa bàn thu mua tạo nguồn hàng của Công ty phân bố theo các chi nhánh trực thuộc: -Tại khu vực phía Bắc: Do Công ty trực tiếp chỉ đạo -Tại khu vực phía nam: Do chi nhánh TP HCM tổ chức. Việc tổ chức thu mua tạo nguồn của Công ty được phản ánh qua sơ đồ sau: Nhà buôn nhỏ địa phương Hộ gia đình sản xuất Các chi nhánh của Công ty Các cơ sở sản xuất chế biến Công ty Hình 3: Sơ đồ mô hình tổ chức thu mua, tạo nguồn hàng của Công ty VILEXIM Hàng hoá từ các hộ gia đình sản xuất có thể được thu gom qua các nhà buôn nhỏ địa phương, các chi nhánh của Công ty rồi về Công ty hoặc có thể đưa trực tiếp về kho hàng của Công ty. Hàng hoá từ các cơ sở sản xuất chế biến cũng có thể được đưa trực tiếp về kho hàng của Công ty không qua khâu trung gian. Có thể nói việc thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu của Công ty được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: a.Thu mua tạo nguồn theo hợp đồng: Đây là hình thức thu mua chủ yếu của Công ty, nó chiếm gần 80% giá trị hàng mua. Công ty dựa trên yêu cầu của các đơn hàng từ phía khách hàng nước ngoài để đưa ra các điều kiện phù hợp với hợp đồng thu mua về chất lượng, số lượng, mẫu mẵ, giá cả, phương thức thanh toán, thời hạn giao hàng. Sau khi cả hai bên Công ty và người cung ứng đã thoả thuận xong thì tiến hành ký kết hợp đồng. Thông thường, Công ty sẽ trả tiền cho người bán sau khi đã nhận hàng hoá theo các điều khoán đã ghi trong hợp đồng. Trong những trường hợp ký kết các hợp đồng lớn với các cơ sở sản xuất cung ứng đáng tin cậy đã có quan hệ truyền thống với Công ty thì Công ty ứng trước một phần tiền cho họ và thường giữ lại trên 20% giá trị hợp đồng và sẽ thanh toán khi kết hợp đồng. b.Thu mua tạo nguồn không theo hợp đồng: Hình thức này được Công ty áp dụng đối với việc mua bán thu gom hàng trôi nổi trên thị trường, hàng hoá của các hộ gia đình với khối lượng nhỏ, phân tán nó có tác dụng bổ sung cho các nguồn hàng khác chưa đủ về số lượng. Tuy nhiên hình thức này có nhược điểm là chất lượng hàng mua không đồng đều và thường ở mức thấp. Ngoài ra, Công ty cũng áp dụng các hình thức thu mua tạo nguồn hàng khác nhưng với không lượng nhỏ, không thường xuyên, chỉ chiếm một tỷ lệ khoảng 2,5% trong tổng số giá trị thu mua của Công ty chẳng hạn như hình thức thu mua tạo nguồn theo đơn đặt hàng kết hợp với ký kết hợp đồng, theo phương thức hàng đổi hàng. Việc xuất khẩu nhiều mặt hàng tiểu ngạch này có ảnh hưởng đến công tác thu mua, tuy đáp ứng kịp thời nhu cầu thị trường nhưng khó khăn cho việc hoạch địn kế hoạch thu mua. Vì mỗi mặt hàng có một đặc tính hàng hoá riêng nên việc tổ chức thu mua phải có nghiệp vụ phù hợp. Trong cơ chế thị trường hiện nay, các hình thức thu mua tạo nguồn hàng cho xuất khẩu rất phong phú và đa dạng. Tuy theo từng trường hợp cung cầu cụ thể mà Công ty có thể áp dụng các hình thức và biện pháp khác nhau sao cho đạt hiệu quả cao nhất. - Đối thủ cạnh tranh của Công ty gồm những nhà kinh doanh xuất nhập khẩu những mặt hàng mà công ty đang kinh doanh. Trong đó, có các tổng công ty hay các doanh nghiệp lớn chuyên kinh doanh một mặt hàng xuất khẩu mà những mặt hàng này cũng là mặt hàng xuất khẩu của Công ty. Tương tự đối với hàng nhập khẩu Công ty cũng chịu sức ép lớn từ phía các nhà chuyên về nhập khẩu các mặt hàng mà hiện Công ty đang nhập khẩu. Những tổ chức này do chuyên về một mặt hàng cho nên khả năng thu hút khách hàng cũng như sự hiêu biết về sản phẩm và thị trường rất nhanh nhạy. 4.8. Tình hình thực hiện kinh doanh trong thời gian gần đây: Bảng 5: Tình hình thực hiện xuất nhập khẩu trong các năm qua Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 Tổng kim nghạch USD 24.578.719 25.295.227 25.092.866 Kim nghạch XK USD 12.330.405 11.889.070 11.818.925 Kim nghạch NK USD 12.248.314 13.406.667 13.273.941 Bảng 6: So sánh thực hiện xuất nhập khẩu các năm qua Chỉ tiêu Đơn vị tính Thực hiện năm 2001 so với năm 2000 Thực hiện năm 2000 so với năm 1999 Số tiền Tỷ lệ% Số tiền tỷ lệ Tổng kim nghạch USĐ (202.361) 99,20 716.508 102,9 Kim ngạch XK USD (70.145) 99,41 (441.335) 96,42 Kim nghạch NK USD (132.726) 99,01 1.158.353 109,46 Nhìn vào bảng tình hình thực hiện kinh doanh xuất nhập khẩu của những năm gần đây cho thấy kim nghạch xuất nhập khẩu tăng trong năm 2000 và giảm sút trong năm 2001điều này cho thấy kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Công ty cũng bị ảnh hưởng đáng kể và có dấu hiệu giảm sút trong thời gian gần đây. Cụ thể: -Năm 1999: Kim nghạch xuất nhập khẩu đạt 24.578.719 USD Kim nghạch xuất khẩu đạt 12.330.405 USD Kim nghạch nhập khẩu đạt 12.248.314 USD Doanh số đạt 260 tỷ đồng Lợi nhuận đạt 450 triệu đồng Nộp ngân sách 29 tỷ đồng Thu nhập bình quân đầu người hàng tháng đạt 800000 đồng - Năm 2000: Kim nghạch xuất nhập khẩu đạt 25.295.227 USD so với năm 1999 tăng 2,9% tương ứng với 716.508 USD. Sự tăng lên của kim nghạch xuất nhập khẩu trong năm 2000 do ảnh hưởng của của kim nghạch nhập khẩu tăng lên đáng kể bởi nhu cầu về các mặt hàng nhập khẩu tăng mạnh và sự giảm xuống của kim nghạch xuất khẩu nhưng so với kim nghạch nhập khẩu tốc độ giảm chậm hơn nhờ vậy tổng kim nghạch xuất nhập khẩu vẫn tăng lên. Kim nghạch xuất khẩu đạt 11.889.070 USD so với năm 1999 giảm 3,58% tương ứng với 441.335 USD. Kim nghạch xuất khẩu giảm do mức độ cạnh tranh tăng lên để giữ vững được kế hoạch về khối lượng hàng xuất khẩu Công ty đã phải giảm giá bán làm cho kim nghạch xuất khẩu giảm. Kim ngạch nhập khẩu đạt 13.406.667 USD so với năm 1999 tăng 9,46% tương ứng với 1.158.353 USD. Ngược lại với kim nghạch xuất khẩu do nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng này tăng lên làm cho kim nghạch nhập khẩu tăng mạnh. - Năm 2001: Kim nghạch xuất nhập khẩu đạt 25.092.866 so với năm 2000 giảm 0,8% tương ứng với 202.361 USD. Như vậy, việc giảm giảm kim nghạch xuất nhập khẩu không đáng kể và do tác động của: Kim nghạch xuất khẩu đạt 11.818.925 USD so với năm 2000 giảm 0,59% tương ứng với 70.145 USD. Kim nghạch xuất khẩu trong năm 2001 giảm do khối lượng hàng xuất khẩu giảm Kim nghạch nhập khẩu đạt 13.273.941 USD so với năm 2000 giảm 0,99% tương ứng với132.726 USD. Saukhi nhu cầu hàng nhập khẩu tăng mạnh ở năm 2000 thì sang năm 2001 lại ổn định chính vì vậy kim nghạch nhập khẩu không những không tăng mà còn bị giảm một ít. Bảng 7: Kết quả thực hiện kinh doanh của Công ty trong các năm qua Đơn vị: đồng Chỉ tiêu Mã số năm 1999 năm 2000 năm 2001 1. Tổng doanh thu 01 252.320.464.980 272.254.467.615 274.315.854.961 2. Tổng các khoản giảm trừ 03 30.954.235 51.940.432 6.054.786 3. Doanh thu thuần 10 252.289.510.745 272.302.527.183 274.309.800.175 4.Giá vốn hàng bán 11 236.075.869.534 255.091.470.279 259.295.031.153 5.Lãi gộp 20 16.213.641.211 17.211.056.904 15.014.769.022 6. Chi phí bán hàng 21 12.506.312.215 13.162.639.602 12.625.180.511 7. Chi phí quản lý 22 1.732.560.475 1.710.160.874 1.278.031.678 8.Lợi nhuận thuần từ HĐKD 30 1.974.768.521 2.338.256.428 1.111.556.833 9. Thu từ hoạt động tài chính 31 397.810.728 160.993.695 258.604.000 10. Chi phí HĐTC 32 1.956.258.360 2.005.428.017 1.623.718.150 11. Lợi nhuận từ HĐTC 40 (1.558.447.632) (1.844.434.322) (1.365.177.150) 12. Các khoản thu bất thường 41 358.467.485 112.312.914 713.574.731 13. Chi phí bất thường 42 112.035.264 0 281.243.773 14.Lợi nhuận bất thường 50 246.432.221 112.312.914 432.330.958 15.Tổng lợi nhuận trước thuế 60 662.753.110 606.135.020 178.710.641 16. Thuế thu nhập phải nộp 70 212.080.995 193.963.206 57.187.405 17. Lợi nhuận sau thuế 80 450.672.115 412.171.814 121.523.236 Nhìn chung, trong các năm qua doanh thu đều tăng và các năm đều đạt được một khoản lợi nhuận nhất đinh. Để có sự nhận xét kĩ hơn kĩ hơn cần phải có sự phân tích so sánh thực hiện kinh doanh trong các năm qua. Đặc biệt trong những năm gần đây. Bảng 8: So sánh kết quả hoạt động kinh doanh các năm qua Đơn vị: đồng Chỉ tiêu Mã số năm 2000 tăng giảm so với năm 1999 năm 2001 tăng giảm so với năm 2000 Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) 1. Tổng doanh thu 01 19.934.002.635 7,90 2.061.387.346 0,76 2. Tổng các khoản giảm trừ 03 20.986.197 67,80 (45.885.646) 88,34 3. Doanh thu thuần 10 20.013.016.438 7,93 2.007.272.992 0,74 4.Giá vốn hàng bán 11 19.015.600.745 8,10 4.203.560.874 1,65 5.Lãi gộp 20 997.415.693 6,15 (2.196.287.882) (12,76) 6. Chi phí bán hàng 21 656.327.387 5,25 (537.459.091) (4,08) 7. Chi phí quản lý 22 (22.399.601) (1,01) (432.129.196) (25,27) 8.Lợi nhuận thuần từ HĐKD 30 363.487.907 18,41 (1.226.699.595) (52,46) 9. Thu từ hoạt động tài chính 31 (236.817.033) (59,53) 97.610.305 60,63 10. Chi phí HĐTC 32 (49.169.657) (2,51) (381.709.867) (19,03) 11. Lợi nhuận từ HĐTC 40 (285.986.690) (18,35) 479.257.172 25,98 12. Các khoản thu bất thường 41 (246.154.571) (68,57) 601.261.817 535,34 13. Chi phí bất thường 42 (112.035.264) (100,0) 281.243.773 14.Lợi nhuận bất thường 50 (134.119.307) (54,42) 320.018.044 284,93 15.Tổng lợi nhuận trước thuế 60 (56.618.090) (8,54) (427.424.379) (70,52) 16. Thuế thu nhập phải nộp 70 (18.117.789) (8,54) (136.775.801) (70,52) 17. Lợi nhuận sau thuế 80 (38.500.301) (8,54) (290.648.478) (70,52) -Năm 2000 so sánh với năm 1999 Tổng lợi nhuận trước thuế năm 2000 so với năm 1999 giảm 8,54% tương ứng với 56.618.090 đồng ảnh hưởng của các nhân tố sau: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh tăng 18,41% tương ứng với 363.487.907 đồng. Tron._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0367.doc