Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế & tiến bộ xã hội. Thực trạng & Giải pháp giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam

Đề tài: PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI .THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ NÀY Ở VIỆT NAM ĐẶT VẤN ĐỀ Có thể nói,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ xã hội là mục tiêu “kép” của sự phát triển kinh tế mà nhiều quốc gia trên thế giới mong muốn đạt tới.Nhưng trên thực tế, đây là bài toán khó mà không phải n ước nào cũng có thể đưa ra lời giải thoả đáng. Chính vì vậy trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng các chuyên gia kinh tế bên

doc12 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1453 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế & tiến bộ xã hội. Thực trạng & Giải pháp giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
cạnh việc tìm ra một hướng đi đúng đắn để phát triển kinh tế nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Chính phủ còn quan tâm tới vấn đề tiến bộ xã hội bởi tăng trưởng kinh tế là điều kiện thực hiện tiến bộ xã hội và ngược lại tiến bộ xã hội thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Không có tăng trưởng kinh tế thì không có tiến bộ xã hội. Tuy nhiên để hoạch định đường lối phát triển đúng đắn cần phải biết kết hợp những nguyên lý cơ bản của sự phát triển kinh tế với những vấn đề được đặt ra trong thực tiễn của đất nước. Quán triệt đường lối trên đảng và Nhà nước đã đưa ra một kế hoạch đó là kết hợp ngay từ đầu và trong từng bước phát triển tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Đó là đặc trưng định hướng XHCN ở Việt Nam. Từ những lý do trên em lựa chọn viết đề tài:m ối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội.Thực trạng và giải pháp giải quyết mối quan hệ này ở Việt Nam. Trong quá trình nghiên cưú đề tài em tin chắc rằng không tránh khỏi những thiếu sót,em rất mong được thầy hướng dẫn và giúp đỡ.Em xin chân thành cảm ỏn! TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI. MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ TIẾN BỘ XÃ HỘI. 1.Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội Trước hết tăng trưởng kinh tế được quan niệm là sự tăng thêm (hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Đó là kết quả của tất các hoạt động sã hội và dịch vụ của nền kinh tế tạo ra. Tăng trưởng kinh tế được xem xét trên hai mặt biểu hiện: Đó là mức tăng tuyệt đối hay mức tăng % hàng năm, của bình quân trong một gia đoạn, hay nói một cách khác sự tăng trưởng của nền kinh tế được biểu hiện ở sự tăng thêm sản lượng hàng năm do nề kinh tế tạo ra. Tăng trưởng kinh tế được do bằng các đại lượng như:Tổng sản phẩm quốc dân (GND) tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập quốc dân xã hội (NI) và thu nhập quốc dân được sử dụng (NdI). Không phải ngẫu nhiên theo sự phát triển của các hình thái kinh tế xã hội mà mỗi quốc gia trong từng thời kỳ nhất định đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế mà nó tăng trưởng kinh tế còn có nguồn gốc sau xa của nó. Sự tăng trưởng kinh tế hiển nhiên được tạo ra là từ quá trình sản xuất. Trong quá trình sản xuất là quá trình các nguồn lực (nguồn các đầu vào) được kết hợp theo các cách thức nhất định nhằm tạo ra các sản phẩm có ích (sản lượng-đầu ra) theo nhu cầu xã hội bên phạm vi nền kinh tế, sản lượng (đầu ra) đó là tổng sản lượng quốc gia (GNP hay GDP). Như vậy việc sử dụng các nguồn đầu vào có quan hệ nhân quả với các nguồng đầu ra và như vậy vấn đề đặt ra ở đây là phải sử dụng các nguồn đầu vào một cách hợp lý và có hiệu quả thì sẻ mang lại kết quả cao ở các luồng đầu ra được biểu diễn = hàm số: Y=F(xi). Xuất phát từ thực tế ở các nước đang phát triển , cung chưa đáp ứng được cầu, việc gia tăng sản lượng phải bắt nguồn từ sự gia tăng của đầu vào của các yếu tố sản xuất theo quan hệ hiệu số giữa sản lượng với vốn, lao động, đất đai và nguyên liệu, kỹ thuật và công nghệ. Trong đó, vốn là một bộ phận tài sản quốc gia được trực tiếp sử dụng vào quá trình sản xuất hiện tại cùng với các yếu tố sản xuất khác để tạo ra sản phẩm hàng hoá (đầu ra). Bao gồm máy móc, thiết bị, phương tiện, vận tải... Nếu tăng số vốn sẽ làm tăng sản lượng đối với trường hợp năng suất lao động không đổi. Còn nếu khi số lao động không đổi, tăng vốn bình quân đầu người lao động cũng sẽ làm gia tăng sản lượng. Bên cạnh vốn lao động cũng là một yếu tố sản xuất, được tính bằng tiền, lực lượng lao động này không đơn thuần chỉ là số lượng mà còn cả chất lượng người lao động mà trong đó chất lượng của người lao động có ý nghĩa quyết định to lớn trong việc gia tăng sản lượng. Ngoài việc chăm lo đến nguồn vốn và sản lượng lao động người ta còn chú ý đến một yếu tố sản xuất quan trọng nữa đó là đất đai. Do diện tích đất không thay đổi nên người ta phải nâng cao hiệu quả sử dụng đất đai bằng đầu tư thêm lao động và vốn trên 1 đơn vị diện tích làm tăng thêm sản phẩm. Ngoài ra các tài nguyên khác cũng là đầu vào trong sản xuất. Nói đến các nguồn đầu vào không thể không nói đến nông nghiệp thành tựu kỹ thuật và công nghệ mới bởi những yếu tố này đóng vai trò cực kỳ quan trọng mà tiêu biểu là các nước Nics, các nước này đã có một tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao và đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể do biết vận dụng hiệu quả các thành tự trên. Đặc biệt vấn đề đầu tư trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ cùng với việc nâng cao trình độ tay nghề, trình độ văn hoá của người lao động cũgn đưa lại năng suất lao động cao hơn và sự tăng trưởng cao hơn. Đổi mới công nghệ sẽ thúc đẩy việc hình thành vốn đến tăng thu nhập đầu người dẫn đến mở rộng quy mô thị trường và ngược lại mở rộng quy mô thị trường sẽ thúc đẩy việc đổi mới công nghệ đây chính là một chuỗi phát triển liên tục, không có chỗ dừng. Qua những phân tích trên ta thấy vốn và công nghệ đóng vai trò chủ chốt của tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên xét trên phạm vi vĩ mô phải do quy mô thị trường tác động và nó còn phụ thuộc vào bối cảnh kinh tế - xã hội quốc gia - thể chế hay nói cách khác đó là các nhân tố phi kinh tế. Các nhân tố này có đặc điểm chung là: + Không thể lượng hoá được các ảnh hưởng của nó, do vậy không tiến hành tính toán, đối chiếu cụ thể được. + Các nhân tố này có phạm vi ảnh hưởng rộng và phức tạp trong xã hội, không thể đánh giá một cách tách biệt rõ rệt dược và không có ranh giới rõ ràng. Các nhân tố này bao gồm: Cơ cấu dân tộc.Đó là những người khác nhau cùng sống tạo nên một cộng đồng quốc gia. Vì vậy những điều kiện sống khác nhau tạo ra sự khác nhau về trình độ tiến bộ văn minh, mức sống vật chất vị trí địa lý-chính trị-xã hội. Sự phát triển tổng thể kinh tế có thể có lợi hoặc bất lợi cho một dân tộc bất kỳ. Vì thế phải lấy tính chuẩn bình đẳng cùng có lợi cho toàn bộ các dân tộc nhưng bảo tồn được bản sắc riêng và truyền thống tốt đẹp của mổi dân tộc. Điều này tạo lên điều kiện thuận lợi cho tăng trưởng và phát triển. +cơ cấu tôn giáo: Vấn đề tôn giáo đi lièn với vấn đề dân tộc, mỗi tộc người đều theo một tôn giáo. Trong một quốc gia có thể có nhiều tôn giáo. Các dân tộc ít người, ít tiếp xúc với thế giới hiện địa thường tôn thờ các thần linh tuỳ theo quan niệm. Còn lại các tôn giáo được nhiều người theo đó là thiên chúa giáo, Cơ đốc giáo. Tin lành (đều chung một gốc Chúa trời). Hồi giáo, ấn giáo, Phật giáo, Mỗi tôn giáo còn chia ra nhiều phái giáo. Ngoài ra còn nhiều đạo giáo riêng mà chỉ một số tộc người tôn thờ. Mỗi đạo giáo có những quan niệm, triết lý tư tưởng riêng, ăn sâu vào cuộc sống của dân tộc từ lâu đời, tạo ra những ý thức tâm lý - xã hội riêng của dân tộc. Những ý thức tông giáo thường là cố hữu, ít thay đổi theo sự biến đổi của sự phát triển kinh tế xã hội. Những thiên kiến của tôn giáo nói chung có ảnh hưởng tới sự tiến bộ xã hội tuỳ theo mức độ, song có thể có sự hoà hợp, nếu có chính sách đúng đắn của chính phủ. - Đặc điểm văn hoá - xã hội : đây là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng nhiều tới quá trình phát triển của đất nước. Nói tới văn hoá dân tộc là một khái niệm rất rộng, bao trùm nhiều mặt từ các trí thức phổ thông, đến các tích luỹ tinh hoa của văn minh nhân loại về khoa học, nghệ thuật, văn học, lối sống và cách ứng xử trong quan hệ giao tiếp, những tập tục tốt đẹp ... đã xây dựng được mà mọi người thừa nhận từ lâu đời. Trình độ văn hoá cao đồng nghĩa với trình độ văn minh cao và sự phát triển cao của mỗi quốc gia. Nói chung trình độ văn hoá của mỗi dân tộc là một nhân tố cơ bản để tạo ra các yếu tố về chất lượng của lao động, của kỹ thuật và công nghệ, của trình độ quản lý kinh tế xã hội. Xét trên khía cạnh kinh tế hiện đại thì nó là nhân tố cơ bản của mọi nhân tố dẫn đến con đường phát triển. Vì thế trình độ văn hoá cao là một mục tiêu phấn đấu của sự phát triển. Có sự khác biệt về quan niệm trong mỗi khía cạnh của nội dung văn hoá giữa các dân tộc, song điều đó không có trở ngại cho sự giao lưu kinh tế giữa các quốc gia và thường tìm được sự hoà hợp. Để phát triển lâu dài và ổn định , đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hoá được coi là những đầu tư cần thiết nhất và đi trước một bước so với đầu tư sản xuất. - Các thể chế chính trị - kinh tế - xã hội: ngày nay người ta ngày càng thừa nhận vai trò của thể chế chính trị - xã hội như là một nhân tố trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế, góp phần quyết định. Thể chế biểu hiện như một lực lượng đại diện cho ý chí của một cộng đồng , nhằm điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế , chính trị, xã hội theo lợi ích của cộng đồng đặt ra. Thể chế được thể hiện thông qua các mục tiêu phát triển dự kiến, các nguyên tắc tổ chức quản lý kinh tế - xã hội, các luật pháp, các chế độ và chính sách, các công cụ và bộ máy tổ chức thực hiện. Một thể chế chính trị - xã hội ổn định và mềm dẻo sẽ tạo điều kiện để đổi mới liên tục cơ câú và công nghệ sản xuất phù hợp vơí những điều kiện thực tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng và phát triển nhanh chóng. Ngược lại một thể chế không phù hợp, sẽ gây ra những cản trở, mất ổn định, thậm chí đi đến chỗ phá vỡ những quan hệ cơ bản làm cho nền kinh tế đi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng hoặc gây ra xung đột chính trị , xã hội. Một thể chế phù hợp với sự phát triển hiện đại phải thể chế ở các mặt: + Phải có tính năng động, nhạy cảm và mềm dẻo, luôn thích nghi được với những biến động phức tạp do tình hình thế giới và trong nước xảy ra khó lường trước. + Phải đảm bảo được sự ổn định của đất nước, khắc phục được những mâu thuẫn và xung đột có thể xảy ra trong quá trình phát triển. + Phải tạo cho nền kinh tế mở một sự hoạt động có hiệu quả, nhằm tranh thủ được vốn đầu tư và công nghệ tiên tiến của thế giới, là cơ sở của sự tăng tốc trong quá trình phát triển. + Tạo được một đội ngũ đông đảo những người có năng lực quản lý , có trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến đủ sức lựa chọn và áp dụng thành công các kỹ thuật và công nghệ tiên tiến vào sản xuất trong nước, cũng như đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. + Tạo được một sự kích thích mạnh mẽ mọi tiềm lực vật chất trong nước hướng vào đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu. Dù quan trọng đến đâu thể chế cũng chỉ tạo điều kiện thúc đẩy sự tăng trưởng , tức là tạo ra những thuận lợi để hướng các hoạt động theo hướng có lợi và hạn chế các mặt bất lơị. Sẽ là sai lầm nếu dùng thể chế làm thay cho tất cả và tạo ra tất cả theo ý muốn. 2.Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến obọ xã hội có mối quan hệ nhân quả mật thiết với nhau. Bởi một xã hội chỉ thật sự tiến bộ khi có sự tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Có thể nói tăng trưởng kinh tế là tiêu chuẩn để đánh giá về tiến bộ của một xã hội ở thời kỳ này so với thời kỳ khác. Trước tiên tăng trưởng kinh tế là điều kiện thực hiện tiến bộ xã hội. Thực vậy một xã hội được coi là tiến bộ nếu các chỉ số xã hội của phát triển và các chỉ số về cơ cấu kinh tế có biến động theo chiều hướng tích cực hơn so với các thời kỳ trước. Một xã hội tiến bộ là một xã hội mà ở đó con người được sống 1 cuộc sống đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần, một xã hội có nền kinh tế phát triển. Sự tăng lên của tuổi thọ bình quân trong dân số ở 1 thời kỳ chính là tình trạng sức khoẻ của người dân. Nó bao hàm sự văn minh trong đời sống của mức sinh hoạt vật chất và tinh thần được nâng cao. Một xã hội tiến bộ còn thông qua mức tăng dân số hàng năm. Mức tăng dân số hàng năm là một chỉ số gắn liền với chỉ số tăng thu nhập bình quân đầu người. Các nước có mức tăng dân số cao thường đi đôi với đói nghèo. Đánh giá một xã hội có đạt được sự tiến bộ hay không? người ta thường xem xét về mức cung ứng các loại nhu cầu tối thiểu nhất với mọi người về lương thực và thực phẩm hàng ngày, hay nói cách khác đó là số calo bình quân đầu người 1 ngày. Ngoài ra một xã hội tiến bộ còn là một xã hội có tỷ lệ người có học cao trong tổng số dân. Đây là chỉ số quan trọng để đánh giá trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước. Bởi chỉ có những nước, những xã hội tiến bộ có sự tăng trưởng kinh tế cao thì người dân mới có đủ điều kiện tham gia học tập. Còn đối với những nước nghèo đều ăn còn chưa đủ thì lấy đâu ra những điều kiện, cơ sở vật chất cho học hành. Chỉ có tăng trưởng kinh tế mới tạo ra được một nền kinh tế vững mạnh, đảm bảo cho người dân có được cuộc sống ấm no hạnh phúc. Một đất nước có nền kinh tế mạnh chính phủ sẽ có điều kiện quan tâm và đầu tư cho các lĩnh vực như văn hoá, y tế, giáo dục... Mà suy cho cùng việc đầu tư cho con người sẽ là một sự đầu tư có chiều sâu và tạo ra được một lực lượng sản xuất mới trong tương lai có đầy đủ trình độ về tay nghề và văn hoá để xây dựng nền kinh tế vững mạnh hơn. Từ những chỉ tiêu đánh giá một xã hội tiến bộ ta thấy rằng chỉ có tăng trưởng kinh tế mới làm cho xã hội tiến bộ. b) Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội không chỉ có mối quan hệ 1 chiều mà tiến bộ xã hội cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Một xã hội tiến bộ như đã phân tích ở trên là một xã hội mà ở đó người dân được hưởng một cuộc sống đầy đủ cả về vật chất tinh thần, được sống trong một xã hội có công bằng dân chủ, có một nền kinh tế phát triển vững mạnh. Sống trong một môi trường xã hội như vậy người dân sẽ có điều kiện chăm lo đến sức khoẻ , đến trí lực của họ, mỗi gia đình ý thức được rằng để lao động sản xuất họ không phải chỉ cần thể lực mà hơn hết họ phải có một trí lực tốt. Vì vậy việc đầu tư cho giáo dục sẽ rất đáng kể. Không chỉ nhà nước quan tâm đến giáo dục mà ngay cả bản thân mỗi người dân đều ý thức được tầm quan trọng của học vấn. Chính yếu tố này sẽ tạo ra được những người lao động có trình độ cao trong những lĩnh vực mà họ chính là những nhân tố ảnh hưởng lớn và quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế của xã hội. c)Trong quá trình đi từ hình thái kinh tế xã hội này đến hình thái kinh tế - xã hội khác của xã hội loài người đã có không dưới 2 kiểu kết hợp tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Một trong những kiểu đó là tập trung tăng trưởng kinh tế trước, sau đó mới quan tâm đến tiến bộ xã hội. Với quan điểm này ta nhấn mạnh vào tăng trưởng kinh tế và cho rằng tăng thu nhập là quan trọng nhất, nó như đầu tàu kéo theo việc giải quyết vấn đề cơ cấu kinh tế -xã hội. Những nước theo quan điểm này đã đạt được tốc độ tăng trưởng cao. Tuy nhiên không phải không có những hạn chế. Sự tăng trưởng quá nhanh vì những lợi ích cục bộ trước mắt đã đưa đến sự khai thác bừa bãi tài nguyên môi trường không chỉ trong phạm vi quốc gia mà còn trên toàn thế giới. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến thế hệ sau này của chính những quốc gia đó. Cùng với sự tăng trưởng kinh tế là sự xuất hiện những bất bình đẳng về kinh tế-chính trị, gây ra những mâu thuẫn và xung đột gay gắt. Giữa công nghiệp do công nghiệp phát triển nên nông nghiệp không còn đất đai canh tác, đất bị thoái hoá, môi trường, bị huỷ hoại. mâu thuẫn giữa chủ và thợ, thất nghiệp tràn lan. Mâu thuẫn giữa các dân tộc, sắc tộc về lợi ích kinh tế xã hội. Bên cạnh đó việc phát triẻn kinh tế nếu không đi đôi với tiến bộ xã hội còn làm huỷ hoại và mất đi một số giá trị truyền thống tốt đẹp như các giá trị đạothuần phong nữ tục .. . Đồng thời việc làm giàu bằng bất cứ thủ đoạn nào cũng sẽ gia tăng. Bên cạnh đó tăng trưởng kinh tế nhanh chóng còn dẫn đến những hậu quả khó lường trước, đời sống kinh tế xã hội đảo lộn và bất ổn định THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ NÀY Ở VIỆT NAM. Từ sự phân tích trên sự lựa chọn theo quan điểm trên một mặt đem lại những vấn đề tích cực nhưng mặt khác nó cũng đem lại những hạn chế và ảnh hưởng không tốt đến xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà Nước ta đã chọn lựa cho mình một con đường phát triển hợp lý đó là kết hợp ngay từ đầu và trog từng bước phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Đây là quan điểm vừa nhấn mạnh về số lượng, vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển. Theo quan điểm này tuy tốc độ tăng trưởng có hạn nhưng các vấn đề xã hội khác được quan tâm giải quyết. Đảng và Nhà Nước ta không chỉ quan tâm đến các chỉ số như chỉ số cơ cấu đầu nghành trong tổng sản phẩm quốc nội, các chỉ số về hoạt động ngoại thương,m chỉ số về mức tiết kiệm đầu tư.. .để tăng trưởng kinh tế một mặt phát huy hết các tiềm lực bên trong vốn có của mình, Đảng và Nhà Nước còn chủ động mở cửa giao lưu với nước ngoài đặc biệt là các nước trong khu vực Đông Nam á và ASEAN. Việc mở cửa giao lưu như vậy sẽ giúp ta học nhiều kinh nghiệm trong các lĩnh vực kinh tế của các nước bạn. Tuy nhiên sự mở cửa này cũng không phải là không đem lại những hạn chế mà nói như một câu ngạn ngữ Trung Quốc là: “Mở cửa thì ruồi muỗi cũng bay vào”Bên cạnh việc tiếp thu những mặt tích cực Đảng và nhà nước ta luôn coi trọng các vấn đề tiến bộ xã hội. Luôn đảm bảo công bằng, tự do, dân chủ cho công dân. Tìm mọi cách khắc phục những tiêu cực do nền kinh tế mở cửa đem lại như chính phủ đã tiến hành chương trình cải cáchtoàn diện hệ thống kinh tế vào đầu năm 1989. Trước đó trong suốt thập niên 80 chính phủ đã tiến hành thử nghiệm các biện pháp khác nhau. Năm 1989, chính phủ đã đưa biện pháp: cải cách gía cả toàn diện, chống lại siêu lạm phát giảm 35% và với sự nỗ lực của mình Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng mừng.. .Bên cạnh lĩnh vực kinh tế chính phủ còn quan tâm đến văn hoá, Đảng và nhà nước chủ trương xây dựng một nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc . Luôn chăm lo đến giáo dục, y tế .. . chăm lo tới việc cải thiện đời sống cho nhân dân Có thể kết hợp ngay từ đầu và trong từng bước phát triển kinh tế với tiến bộ xã hội ở Việt Nam là hoàn toàn đứng đắn và đó là con đường toàn đảng toàn dân ta lựa chọn. ở Việt Nam quan điểm này đã được thực hiện qua các hoạt động như chương trình phát triển kinh tế, văn hoá miền núi, xoá đói giảm nghèo..như ta biết Việt Nam còn là một nước nghèo, phần lớn dân số làm nghề nông và có mức thu nhập đầu người thấp sấp xỉ 200USD/năm. Đặc biệt là các tỉnh miền núi nơi mà bà con vẫn còn làm nông nghiệp bằng các công cụ thủ công, lạc hậu “Con trâu đi trước cái cầy theo sau”. Thấy được thực tiễn trên đẳng đã đưa ra chương trình phát triển kinh tế, văn hoá miến núi, xoá đói giảm nghèo.. bằng cách cho nông dân vay vốn làm chăn nuôi, mua phương liệu, máy móc kỹ thuật giúp cho việc làm nông thuận lợi và dễ dàng hơn. KẾT LUẬN Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bọ xã hội có mối quan hệ nhân quả mật thiết với nhau. Bởi một xã hội chỉ thật sự tiến bộ khi có sự tăng trưởng kinh tế và ngược lại. Có thể nói tăng trưởng kinh tế là tiêu chuẩn để đánh giá về tiến bộ của một xã hội ở thời kỳ này so với thời kỳ khác. Không có tăng trưởng kinh tế thì không có tiến bộ xã hội. Giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội không chỉ có mối quan hệ 1 chiều mà tiến bộ xã hội cũng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. . Vì vậy Đảng và Nhà Nước ta đã chọn lựa cho mình một con đường phát triển hợp lý đó là kết hợp ngay từ đầu và trog từng bước phát triển, tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội. Đây là quan điểm vừa nhấn mạnh về số lượng, vừa chú ý về chất lượng của sự phát triển. Theo quan điểm này tuy tốc độ tăng trưởng có hạn nhưng các vấn đề xã hội khác được quan tâm giải quyết. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docU0128.doc