Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến & Phân tích vận dụng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế

A . Đặt vấn đề Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế, sự tuỳ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng gia tăng, các nước trên thế giới đều rất coi trọng khả năng độc lập tự chủ về kinh tế nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng của quốc gia, dân tộc mình, trong cuộc đấu tranh kinh tế gay gắt và để xác lập một vị thế nhất định trên trường quốc tế. Nhận thức được tính tất yếu khách quan, Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ XIII đã xác định nhiệm vụ: “ Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ động th

doc28 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1420 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến & Phân tích vận dụng giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
am gia các tổ chức quốc tế và khu vực, củng cố và nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế ”. Ngày 18 tháng 1 năm 1996, Bộ chính trị ra nghị quyết vế kinh tế đối ngoại nhằm chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ quan trọng này. Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ IX khẳng định chủ trương: “ Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc,bảo vệ môi trường” Trong bối cảnh hiện nay, đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là hoàn toàn đúng đắn và chính xác. Hai mặt có mối quan hệ biện chứng với nhau, nhằm phát triển nền kinh tế nước ta ngày càng vững mạnh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở đó , em làm bài luận: “Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến và phân tích vận dụng mối liên hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay.’’ Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Anh đã giúp đỡ và chỉ dẫn em hoàn thành bài tiểu luận này . B. Nội dung Chương I : Phép biện chứng về mối liện hệ phổ biến 1 . Phép biện chứng duy vật Lịch sử Tiết học đã cho ta thấy những quan niệm biện chứng , những yếu tố của phép biện chứng xuất hiện rất sớm , ngay từ thời cổ đại . TrảI qua một chặng đường lịch sử dàI hơn 2000 năm , phép biện chứng đã bổ sung những hình thức mới và nội dung mới . Từ khi ra đời cho đến nay phép biện chứng có 3 hình tháI cơ bản : phép biện chứng chất phác ( thơ ngây ), phép biện chứng duy tâm và phép biện chứng duy vật Phép biệnh chứng duy vật : phép biện chứng cổ đại Hy Lạp là hình thức đIển hình của các phép biện chứng chất phác . Thời kỳ này, khoa học chưa phát triển nên các nhà khoa học dựa trên những quan sát có tính chất trực quan cảm tính để phác họa bức tranh về thế giới . Do tính chất nên phép biện chứng duy vật chất phác ít có giá trị khoa học mà giá trị chủ yếu của nó là có ý nghĩa vô thần, chống lại quan niệm tôn giáo . Phép biện chứng chất phác bị phép biện chứng siêu hình sau này phủ định . Phép biện chứng duy tâm : tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là phép biện chứng duy tâm khách quan của Hegen, một đại biểu xuất sắc của nền triết học cổ đIển Đức thế kỷ XIX . Thời kỳ này , khoa học đã đạt đựơc những thành tựu to lớn trong nhiều lĩnh vực khác nhau và đó là cơ sở để đI tới những kháI quát mới về nội dung phép biện chứng . Hêghen là người đầu tiên có công xây dựng phép biện chứng tương đối hoàn chỉnh với hệ thống các kháI niệm , phạm trù và những quy luật cơ bản . Do thế giới là duy tâm nên ông cho rằng “ ý niệm tuyệt đối “ là cáI có trước thế giới , giới tự nhiên và xã hội chỉ là các biểu hiện bên ngoàI các “ ý niệm tương đối “ . Sai lầm có tính nguyên tấc của ông là khi cho rằng biện chứng của sự vật . Do đó phép biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sưh vật . Do đó phép biện chứng của Hêghen là phép biện chứng duy tâm khách quan , biện chứng của ý niệm, thần bí và thiếu triệt để, thiếu khoa học . Phép biện chứng duy vật : Mac và Ănggen đã sáng lập ra chủ nghĩa duy vật biện chứng và sau đó được Lênin pháp triển đã toạ cho phép biện chứng một hình thức sỡ hữu mới về chất . Đó là phép biện chứng duy vật .Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng . Cho nên nó đã khắc phục được nhũng hạn chế của 2 hình thức phép biện chứng trước đây và thực sự trở thành khoa học . Đối tượng của phép biện chứng duy vật là thế giới vật chất vô cùng vô tận cho nên nội dung của nó rất phong phú . Trong đó , nguyên lí về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển có ý nghĩa kháI quát nhất và là 2 nguyên lí cơ bản của phép biện chứng duy vật . Tù đó Ăngghen định nghĩa :” phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và phát triển của tự nhiên , của xã hội loàI người và của tư duy “ 2 . Nội dung biện chứng về mối liên hệ phổ biến 2.1 : KháI niệm về mối liên hệ phổ biến Trong quá trình phát triển của lịch sử tư tưởng triết học , các trường pháI triết học khi tìm hiểu bản chất của thế giới không chỉ xem xét mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, con người có nhận thức được thế giới hay không , mà còn phảI trả lời nhiểu câu hỏi như : thế giới là bất động , đứng yên hay là không ngừng vận động và phát triển ? Các sự việc hiện tượng của thế giới ở trạng tháI cô lập tách rời nhau hay là có sự liên hệ có tác động qua lại và chuyển hoá lẫn nhau ? Theo lịch sử triết học có 2 quan đIểm , cách xem xét tráI ngược nhau khi giảI đáp những câu hỏi trên là : phép biện chứng và phép siêu hình Phép siêu hình : Phương pháp siêu hình coi mọi sự vạt hiện tượng của thế giới đều tồn tại cô lập và tách rời nhau . Chúng luôn ở trạng tháI tĩnh tại , đứng im , không vận động và giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc quy định, không chuyển hoá và không phát triển. Nếu giữa các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau thì đó chỉ là liên hệ có tính chất ngẫu nhiên , hời hợt bên ngoàI . Ví dụ như xã hội loàI người chỉ là tổng số đơn giản của những cá nhân đơn lẻ … Quan niệm này tồn tại trong hoàn cảnh trình độ khoa học tự nhiên còn bị hạn chế và dẫn đến những sai lầm về thế giới quan triết học . Đồng thời nó tạo nên ranh giới giả tạo giữa các sự việc hiện tượng, đối lập một cách siêu hình giữa các ngành khoa học . Vì vậy phương pháp siêu hình không có khẳ năng phát hiện ra cáI chung , càI bản chất , quy luật của sự vận động và phát triển của sự việc hiện tượng. Phép biện chứng : phép biện chứng cho rằng mọi sự vật hiện tượng của thế giới cũng như hình ảnh tinh thần của chúng có quan hệ qua lại với nhau, không ngừng vận động và phát triển . Và trên cơ sở kế thừa giá trị về tư tưởng biện chứngtrong kho tàng lí luận của nhân loại kết hợp với những thành tựu khoa học tự nhiên mới nhất của thế kỷ XIX, phép biện chứng duy vật đã phát hiện ra nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của các sự vật hiện tượng , và coi là đặc trung cơ bản của phép biện chứng duy vật KháI niệm mối liên hệ phổ biến nói rằng, tất cả cac sự vật hiện tượng của thế giới không cáI nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhất, trong đó các sự vật tồn tại bằng cách tác động nhau , ràng buộc nhau và quy định lẫn nhau . ĐIều này bởi vì vật chất biểu hiện sự tồn tại của chúng thông qua vận động có nghĩa liên hệ . Angghen viết : “ tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được là một hệ thống, một tập hợp gồm các vật thể khăng khít vói nhau “ Mối liên hệ này không những diễn ra ở mọi sự vật hiện tượng trong tự nhiên , xã hội , tư duy mà còn diễn ra giữa các yếu tố, các quá trình, các mặt của sự vật , hiện tượng. 2.2 : Bản chất của mối liên hệ phổ biến Mối liên hệ phổ biến là khách quan và phổ biến . Nó chỉ là cáI vốn có của các sụ vật hiện tượng, bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới qua các quá trình tự nhiên , xã hội và tư duy . Bất kỳ sự vật hiện tượng nào cũng chứa đựng những mối liên hệ và không có giới hạn của những mối liên hệ đó . Chủ nghĩa duy tâm và tôn giáo cũng đề cập đến” lên hệ “ và “ thống nhất “ của các quá trình trong thế giới nhưng cơ sở của sự thống nhất và liên hệ đó lại là tư tưởng con người, là ý niệm tuyệt đối , là ý chí thượng đế …. Quan niệm này hoàn toàn tráI ngược với quan niệm của phép biện chứng duy vật . Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ . Khi nghiên cứu hiện thực khách quan cần phảI xem xét nó trên tất cả các mặt , các mối liên hệ có thể có cho nên để tránh bỏ sót chúng ta có thể phân chia thành nhiều loại . Việc phân chia này tuỳ theo tính chất đơn giản hay phức tạp, phạm vi hẹp hay rộng, vai trò trực tiếp hay gián tiếp…và có thể kháI quát thành nhiều mối liên hệ như : cáI chung và cáI riêng , bên trong và bên ngoàI , chủ yếu và thứ yếu , bản chất và hiện tượng , tự do và tất yếu , tất nhiên và ngẫu nhiên … sự phân loại này chỉ có ý nghĩa tương đối và mỗi loại chỉ là 1 hình thức , 1 bộ phận , 1 mắt xích của mối liên hệ phổ biến nói chung . Nhưng sự phân loại lại rất cần thiết vì vị trí của từng mối liên hệ trong việc quy định sự vận động và phát triển của sự vật hiện tượng không hoàn toàn như nhau . 2.3 : ý nghĩa của phương pháp luận Nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến rất có ý nghĩa trong hoạt động nhận thức và thực tiễn . Mọi sự việc hiện tượng trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến đa dạng và nhiều vẻ cho nên muốn nhận thức được và tác động vào chúng thì chúng ta phảI có quan đIúm toàn diện . Quan đIểm toàn diện đòi hỏi chúng ta nếu nhận thức đúng sự vật, hiện tượng thì phảI nhận thức mọi mối liên hệ vốn có của chúng hay đặt chúng vào mối quan hệ với các sự vật hiện tượng khác, phảI xem xét tất cả các mặt , yếu tố và cả các khâu trung gian , gián tiếp . NgoàI ra , chúng ta phảI còn biết phân loại các mối liên hệ phổ biến vì quan đIúm toàn diện không có nghĩa là xem xét tràn lan mà phảI xác định được vị trí của từng mối liên hệ , từng mặt , từng yếu tố trong tổng thể quần chúng . Và qua đó ta mới nắm được bản chất của sự vật hoặc hiện tượng . Đồng thời quan đIúm toàn diện chống lại cách nhìn phiến diện, chống chủ nghĩa triết trung , chống nguỵ biện . Chương II : Mối liên hệ giữa vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế 1 . Lý luận chung về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế 1.1. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế hiệu quả 1.1.1. Quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ tạo cơ sở cho hội nhập kinh tế hiệu quả. Trong những năm vừa qua, quán triệt chủ trương chủ động hội nhập kinh tế quốc tế mà Đại hội Đảng lần thứ IX đã đề ra, chúng ta đã có những nỗ lực vượt để thúc đẩy các quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới. Việt Nam đã và đang tham gia ngày càng nhiều vào các tổ chức khu vực và quốc tế, gia nhập ASEAN. tham gia khối AFTA, khai thông quan hệ với IMF và wB trở thành thành viên chính thức của diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á- Thái Bình Dương ( APEC ), đồng thời ký kết hiệp thương mại với Hoa Kỳ, Việt Nam đang đàm phán để trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới(WTO). Hiện nay vị thế của Việt Nam đang được nâng lên trên trường quốc tế. Phát triển các mối quan hệ này sẽ dẫn đến một kết quả là các hàng rào thuế quan và phi thuế quan phải giảm thiểu theo các nguyên tắc của tổ chức trên, các công ty nước ngoài được phép vào Việt Nam hoạt động một cách bình đẳng với các công ty Việt Nam và ngược lại các công ty Việt Nam cũng được phép hoạt động bình đẳng tại các nước đối tác. Trong điều kiện đó việc xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện chủ động hội nhập kinh tế nên được hiểu như thế nào là thích hợp? Khái niệm nền kinh tế độc tự chủ đã không ít lần được nhắc tới, tuy nhiên quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ trong thời gian trước đây và hiện naycó những nét khác nhau. Nếu như trước đây nền kinh tế độc lập tự chủ làm cho nguời ta liên tưởng tới vệc tự lực cánh sinh hoặc biệt lập, khép kín ít giao lưu và kém hiệu quả thì ngày nay khái niệm này được hiểu một cách mềm dẻo và linh hoạt theo, độc lập tự chủ có tính tương đối. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ được đặt trong mối quan hệ biện chứng với việc đa phương hoá đa dạng hoá quan hệ quốc tế, mở cửa giao lưu với các nền kinh tế là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, hợp tác bình đẳng và cùng có lợi. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế không bị lệ thuộc không bị phụ thuộc vào nước khác vào người khác hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối chính sách phát triển, không bị bất cứ ai dùng các điều kiện kinh tế tài chính thương mại viện trợ để áp đặt khống chế làm tổn hại chủ quyền quốc gia và lợi ích cơ bản của dân tộc. Nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế trước những biến động của thị trường, trước sự khủng hoảng kinh tế tái chính ở bên ngoài, nó vẫn có khả năng cơ bản duy trì sự ổn định và phát triển; trước sự bao vây cô lập và chống phá của các thế lực thù địch, nó vẫn có khả năng đứng vững, không bị sụp đổ không bị rối loạn. 1.1.2.Sự cần thiết khách quan xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trong đIều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay Từ thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm các nước trên thế giới chúng ta ý thức sâu sắc rằng đối một quốc gia dù lớn hay nhỏ độc lập tự chủ về kinh tế luôn là nền tảng vật chất cơ bản để giữ vững độc lập tự chủ về chính trị và tăng cường độc lập tự chủ của quốc gia. Không thể có độc lập tự chủ về chính trị trong khi bị lệ thuộc về kinh tế.Tuy nhiên, trong bối cảnh của thế giới hiện nay khi toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra như một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nước tham gia, trong đó, nước ta không phải là ngoại lệ, mà quá trình đó đang bị các nước tư bản phát triển và các tập đoàn siêu quốc gia chi phối, thì vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ với những nội dung mới càng được đặt ra một cách nghiêm túc và bức xúc. Có ý kiến cho rằng, trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế mở của hội nhập mà lại đặt vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ là thiếu nhạy bén không thức thời. Mặc dù, lý lẽ đó có phần nào có lý nhưng việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đặt ra vào thời điểm này cũng thực sự bắt nguồn từ chính quá trình toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Thực tiễn cho thấy nếu không có một nền kinh tế độc lập tự chủ sẽ không những không thể có sự độc lập về chính trị, không thể bảo đảm lợi ích cơ bản của dân tộc mà bản thân việc hội nhập kinh tế quốc tế cũng khoong thu được kết quả như mong muốn. Hơn thế nữa, nước ta phát triểnkinh tế để đi lên CNXH, bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, các lực lượng chống đối CNXH thường xuyên tìm cách ngăn cản và chống phá sự nghiệp xây dựng chế ddộ XHCN ở nước ta. Nếu không xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ thì dễ bị lệ thuộc bị các thế lực xấu, thù địch lợi dụng vấn đề kinh tế để lôi kéo hoặc khống chế ép buộc chúng ta thay đổi chế độ chính trị, đi lệch quỹ đạo của CNXH. Nói cách khác, chúng ta có xây dựng được một nền kinh tế độc lập tự chủ thì mới tạo dựng được cơ sở kinh tế, cơ sở vật chất kỹ thuật của chế độ chính trị độc lập tự chủ. Sự cần thiết xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ cùng với việc đẩy mạnh quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế xuất phát từ một số luận cứ sau: Một là, tất cả các nước khi tham gia vào quá trình toàn cầu hoá đều xuất phát từ mục tiêu bên trong, phục vụ cho yêu cầu, nhiệm vụ trong nước. Toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho các nền kinh tế phụ thuộc nhau, đan xen vào nhau, đó là điều không thể phủ nhận. Tuy nhiên,trong sự ràng buộc về lợi ích đó không có sự ràng buộc thuần tuý, vô điều kiện, mà phải biết chia sẻ lợi ích thu được một cách hợp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên đối tác kinh doanh có lợi để thu được hiệu quả một cách cao nhất. Hội nhập kinh tế quốc tế vừa tạo ra sự hợp tác phụ thuộc lẫn nhau nhưng đồng thời cũng tạo nên sự cạnh trạnh khốc liệt giữa các nền kinh tế. Sự cạnh tranh đó gay gắt đến mức có khi tạo ra nguy cơ gây mất ổn định về kinh tế và chính trị, thậm chí có thể chuyển thành xung đột. Chính vì lẽ đó, các nước nhận thấy không thể ngồi yên chờ đội thụ động chịu sự tác động của hội nhập kinh tế quốc tế mà phải đưa ra các chính sách phát triển nhằm nâng cao năng lực nội sinh, vừa tham gia kinh tế toàn cầu, vừa toan tính để có thể chiếm giữ vị trí, lợi thế để tự bảo vệ nền kinh tế của mình, khuếch trương ưu thế và những giá trị của mình đến mức cao nhất để từ đó chi phối nền kinh tế cacs nước khác và nền kinh tế thế giới. Như vậy đủ thấy là mỗi nước sẽ không thể thực hiện được những mục đích đã định ra nếu không có một nền kinh tế của chính mình và đủ mạnh. Hai là, xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ vì sự phát triển vững chắc và bảo đảm tính an toàn cho mỗi nền kinh tế. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay ẩn chứa rất nhiều những yếu tố bất ổn khó lường mà mức độ cũng như khả năng phòng tránh khắc phục tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ phát triển của các nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế bên cạnh những tác động tích cực của nó cũng đặt ra nhiều vấn đề buộc người ta càng ngày càng phải cảnh giác, càng có nhiều băn khoăn hơn đối với quá trình này. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế càng phát triển thì nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ kinh tế càng cao, biên giới kinh tế của các quốc gia sẽ ngày càng giảm, do hàng rào thuế quan và phi thuế quan sẽ bị bãi bỏ dần, một nền kinh tế toàn cầu sẽ xuất hiện, các quan hệ kinh tế tuỳ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia sẽ phát triển, các thể chế kinh tế toàn cầu sẽ hình thành. Điều đó có nghĩa là các nền kinh tế trở nên dễ biến động, bất ổn định hơn trước. Trong điều kiện đó, một nền kinh tế muốn không lệ thuộc vào bên ngoài, muốn tự đảm bảo lấy các nhu cầu thiết yếu chắc chắn sẽ không có chỗ đứng chân. Một nền kinh tế phát triển hiệu quả sẽ phải là một nền kinh tế gồm những nghành có lợi thế cạnh tranh cao, và đương nhiên là phải tuỳ thuộc vào thị trường thế giới. Độc lập tự chủ trong mô hình kinh tế theo hướng hội nhập quốc tế chấp nhận sự tuỳ thuộc lẫn nhau trên cơ sở cùng có lợi trong quan hệ giữa các quốc gia. Sự tuỳ thuộc lẫn nhau này diễn ra trên hầu hết các lĩnh vực từ hoạch định chính sách phát triển, thể chế kinh tế vĩ mô, đến cả sự hình thành các nghành kinh tế các công ty. Ta hãy lấy liên minh Châu Âu làm ví dụ. Liên minh Châu Âu hiện đã có đồng tiền chung, cac quốc gia thành viên phải đảm bảo duy trì một mức thâm hụt ngân sách và lạm phát chung, hàng rào thuế quan và phi thuế quan đã hoàn toàn được bãi bỏ, các công ty được tự do kinh doanh trong tất cả các nước thành viên, vốn và lao động được tự do lưu chuyển trong khối v.v…Trên thực tế các quốc gia thành viên EU đã có các chính sách chung về tiền tệ, thương mại và đầu tư… các nghành kinh tế, các công ty của các quốc gia này đã có sự phân công, liên kết chặt chẽ với nhau. Trong mô hình kinh tế này các quốc gia vẫn có quyền tự chủ, đồng ý tham gia hay không đồng ý tham gia, và khi đã tham gia vẫn còn có quyền tự chủ lựa chọn các nghanh kinh tế có lợi thế nhất cho mình, các hình thức kinh doanh các tổ chức kinh doanh thích hợp v.v…, nhưng tất cả đều phải tuân thủ các cam kết chung. Trong mô hình kinh tế trên, các quốc gia không dại gì xây dựng ra một cơ cấu kinh tế hoàn chỉnh, và ngay một nghành hoàn chỉnh cũng không có. Ta có thể lấy nghành sản xuất ô tô làm ví dụ: Không một quốc gia Châu Âu nào kể cẩ cộng hoà Liên bang Đức có thể sản xuất 100% các linh kiện của ô tô, vì làm như vậy là dại dột, không có hiệu quả. Các quốc gia ô tô chỉ sản xuất khoảng 30%- 40% linh kiện, những sản phẩm có lợi thế nhất, còn lại họ phải nhập khẩu của các quốc gia khác. Ba là, trong khi tham gia cuộc chơi chung toàn cầu hoá kinh tế, nước nào cũng muốn thu được nhiều lợi nhuận và nắm được công cụ quan trọng là công nghệ hiện đại. Một trong những yếu tố mang tính quyết định giúp cho việc giành giữ ngôi thứ và vị trí trong nền kinh tế toàn cầu là công nghệ hiện đại. Vì lẽ đó xuất hiện tình trạng phụ thuộc, yếu thế do thiếu công nghệ hiện đại của riêng mình. Để thực hiện sự chuyển giao công nghệ, một mặt các nước nhận công nghệ phải đạt đến một trình độ nhất định mới tiếp thu được công nghệ hiện đại. Để khắc phục đến mức thấp nhất tình trạng bị rơi vào thế lệ thuộc, tất cả các nền kinh tế bằng mọi cách đều phải nỗ lực nâng cao nguồn nội lực của mình, nâng sức mạnh kinh tế trong nước, chống lại sự can thiệp quá sâu từ bên ngoài, giữ cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định. Bốn là, bản thân nguyên lý của cuộc chơi toàn cầu hoá cũng phải có sự thay đổi do sự phát triển về bề rộng và chiều sâu của quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Những lý thuyết kinh tế thường được xuất hiện trong những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của kinh tế mỗi nước hoặc mỗi chế độ xã hội. Khi điều kiện hoàn cảnh kinh tế có sự biến chuyển khác đi thì các lý thuyết kinh tế hoặc phải thay đổi hoặc không được tuân theo. Trong khi tuân thủ những quy tắc ứng xử toàn cầu mỗi nước cũng có những chủ thuyết kinh tế của riêng mình và điều đó là cơ sở cho việc xây dựng một nền kinh tế riêng độc lập tự chủ và việc hội nhập vào nền kinh tế thế giới tuỳ thuộc vào trình độ phát triển và mức độ chuẩn bị của nền kinh tế trong nước. Trong bối cảnh quốc tế phức tạp và đầy mâu thuẫn trên đây, đối với đất nước ta việc xây dựng một nền kinh tế dộc lập tự chủ càng trở nên cấp thiết hơn bởi đó là điều kiện quyết định để giữ vững được định hướng phát triển mà chúng ta đã lựa chọn. Chỉ có xây dựng được nền kinh tế độc lập tự chủ chúng ta mới có cơ sở và điều kiện để chủ động nhập kinh tế quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước nhằm thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. 1.1.3. Đặc trung của nền kinh tế độc lập tự chủ trong đIều kiện hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Trước hết, và quan trọng nhất và phải đảm bảo lợi ích phát triển của quốc gia ở mức cao nhất có thể được.Có thể có một nền kinh tế không lệ thuộc gì vào bên ngoài, tự bảo đảm được các nhu cầu chủ yếu, và do vậy cũng ít chịu các tác động của các biến động ở bên ngoài. Các mối quan hệ của một nước với các nước khác phải được đánh giá trên tiêu chuẩn có đảm bảo được lợi ích phát triển của đất nước hay không. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế tiến triển như hiệnh nay, mọi nền kinh tế ngày càng tuỳ thuộc nhiều hơn vào bên ngoài. Nền kinh tế nước ta trong thời kỳ đổi mới đã ngày càng tuỳ thuộc hơn vào bên ngoài, kim ngạch xuất khẩu năm 1999 của nước ta đã chiếm trên 90% GDP, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã chiếm khoảng 28%tổng đầu tư xã hội, nước ta đã được xếp hàng đầu trong các nước đang phát triển. Thứ hai, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải được cải thiện và tăng dần. sức cạnh tranh này được thể hiện ở các mặt : thể chế chính trị, kinh tế, xã hội phải đủ mạnh, tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, chi phí thấp, rủi ro thấp, khả năng sinh lợi lớn; cơ cấu kinh tế gồm nhữnh nghành có khả năng cạnh tranh cao, có khả năng tự điều chỉnh, tự rút lui khỏi nhưngc nghành kém khả năng cạnh tranh; cơ cấu doanh nghiệp cũng phải bao gồm những doanh nghiệp có sức mạnh công nghệ và trí lực, đủ sức cạnh tranh trên thương trường trong nước và quốc tế; nguồn nhân lực trong nước phải được đào tạo tốt và phát triển, sử dụng có hiệu quả. Thứ ba, có khả năng ứng phó có hiệu quả với những chấn động chính trị, kinh tế, xã hội bên ngoài. Một cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hay khu vực nổ ra đương nhiên sẽ tác động đến mọi nền kinh tế tham gia với các mức độ khác nhau, một nền kinh tế ít tham gia hội nhập có thể sẽ chịu tác động ít hơn. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở nền tảng là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể cùng với sự phát huy cao nhất toàn bộ tiềm năng của các thành phần kinh tế khác, chúng ta phải tập trung củng cố, phát triển đổi mới kinh tế Nhà nước để nền kinh tế Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể làm nền tảng, việc đó là hoàn toàn đúng đắn. Củng cố bằng được kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể thì mới liên kết được các thành phần kinh tế khác, hoàn thành được các nhiệm vụ chủ yếu, xử trí kịp thời các tình huống phức tạp, tăng cường sức cạnh tranh có hiệu quả. Không quan tâm củng cố kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể là không giữ vững được độc lập chư quyền quốc gia về kinh tế. 1.2. Đảm bảo 1 số yếu tố cần thiết cho sự pháp triển hiệu quả và bền vững cũng như tự chủ kinh tế trong bất cứ hoàn cảnh nào An ninh lương thục quốc gia : Nước ta có dân số đông và gần 80% dân cư ỏ nông thôn nên thuận lợi trong vấn đề bảo đảm an ninh lương thực cả về số lượng , chất lượng và cơ cấu góp phần giữ vững ổn định kinh tế xã hội và tạo tiền đề đảy mạnh công nghiệp hoá , hiện đại hoá . Cần có quy hoạch cụ thể về sử dụng đất nông nghiệp và có chính sách khuyến khích về giá , đảm bảo lợi ích cho nông dân . Đồng thời, an ninh lương thực là phảI làm tốt việc đIều chuyển lương thực giữa các vùng và có dự trữ quốc gia An toàn năng lượng : Ngày nay , cùng với sự phát triển của thế giới năng lượng luôn giữ vị trí đặc biệt và không thể thiếu được . Nước ta có tiềm năng tương đối khá về dầu khí , thuỷ đIện than … có đIều kiện phát triển phục vụ nhu cầu trong nước và tạo được nguồn xuất khẩu quan trọng . Một số vấn đề quan trọng là chúng ta phảI xây dựng một cơ cấu hợp lí và từng bước đIện ký hoá nông thôn . Kết cấu hạ tầng cần được bảo đảm : Kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất cơ bản của nền kinh tế , xã hội . Để tạo tiền đề cho sự phát triển , thoát khỏi sự đói nghèo và kém phát triển và tiến tới công nghiệp hoá , hiện đại hoá đất nước yêu cầu đảm bảo kết cấu hạ tầng hết sức quan trọng . Do đó , ta phảI khẩn trương xây dựng kết cấu hạ tầng có hiệu quả, vượt qua những khó khăn trước mắt . Phát triển một số nghành và cơ sở công nghiệp có vai trò nền tảng : Về lâu dàI, sức mạnh kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào công nghiệp . Phát triển công nghiệp vẫn là nhiệm vụ trọng tâm của công nghiệp hóa , hiện đại hoá. Sức mạnh kinh tế , khả năng tự chủ về kinh tế phụ thuộc vào sức mạnh cạnh tranh trên thị trường cho nền phát triển công nghiệp phảI ưu tiên cho những ngành và sản phẩm có thể tạo ra sức cạnh tranh dựa trên thé mạnh, lợi thế của những sản phẩm , doanh nghiệp và quốc gia Việt Nam . An toàn môI trường : Ngày nay , cùng với sự phát triển về kinh té thì vấn đề thị trường ngày càng được quan tâm trước những thách thức to lớn về sự suy thoáI, phá huỷ môI trường trên phạm vi toàn cầu . Nếu xẩy ra thảm họa về môI trường thì trước hết ảnh hưởng đến sức mạnh kinh tế và cuộc sống của nhân dân , đồng thời nếu có sự trợ giúp thì không loại trừ có những đIều kiện đối với ta . 1.3.Hội nhập kinh tế quốc tế và việc gia nhập của Việt Nam 1.3.1.KháI niệm Những năm gần đây xuất hiện thuật ngữ “ hội nhập kinh tế quốc tế ”. Hội nhập kinh tế quốc tế là gì ? Trên thế giới có rất nhiều khái niệm, như :hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình tự do hoá thương mại và đầu tư ; hội nhập kinh tế quốc tế là từng bước tự do hoá các hoạt động kinh tế và tham gia vào phân công lao động quốc tế ; hội nhập kinh tế quốc tế là sự nỗ lực chủ động gắn kết nền kinh tế quốc gia với kinh tế khu vực và kinh tế thế giới thông qua việc tiến hành các biện pháp tự do hoá, mở của và tham gia các định chế quốc tế…Các cách tiếp cận trên đều đề cập đến vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế là mở rộng các mối quan hệ kinh tế của quốc gia với thế giới bên ngoài, chưa đề cập đến bản chất hội nhập kinh tế quốc tế. Trên thực tế, hội nhập kinh tế quốc tế là hoạt động kinh tế có tính chất toàn cầu mà ai cũng đều được tham gia, sự hội nhập kinh tế đem lại lợi ích và cả thiệt hại cho bất kỳ ai. Vì vậy các quốc gia chỉ tham gia hội nhập kinh tế một khi có được lợi ích, lợi ích ở đây xét cả về mặt kinh tế, chính trị, xã hội. Về thực chất, hội nhập kinh tế quốc tế là một quốc gia tham gia ngày càng sâu vào quá trình phân công lao động và trao đổi quốc tế, làm gia tăng các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế chỉ được thực hiện đối với các nền kinh tế mở cửa. Hội nhập kinh tế quốc tế, một quốc gia phải tham gia vào các tổ chức kinh tế quốc tế, các liên kết kinh tế khu vực và thế giới. Trong các tổ chức này, các nước thoả thuận và đưa ra các cam kêt ràng buộc về mở cửa thị trường và dành cho nhau những điều kiện ưu đãi trong quan hệ kinh tế thương mại nhầm phát triển các mối quan hệ kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là việc các nước tìm kiếm một số những điều kiện nào đó mà họ có thể thoả thuận thống nhất được với nhau tạo ra sự công bằng trong quan hệ hợp tác kinh tế nhằm khai thác một cách có hiệu quả các khả năng của mỗi nước phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế của các quốc gia. Mục tiêu của hội nhập là tạo thêm nguồn lực tạo thêm sức mạnh tổng hợp để đẩy nhanh quá trình CNH – HĐH theo định hướng XHCN thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng dân chủ văn minh. Nội dung của hội nhập là phải tìm cách tham gia một cách đầy đủ trong các tổ chức kinh tế trong khu vực và thế giới đặc biệt là các tổ chức thương mại thế giới (WTO), một sân chơi bị ràng buộc bởi các bộ luật gồm 22.000 trang. Đây là một nội dung rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi các nhà sản xuất trước hết là các doanh nghiệp phải có sự nghiên cứu chuẩn bị một cách kỹ lưỡng, khẩn trương và nghiêm túc. Về hình thức hội nhập kinh tế quốc tế là đa phương và song phương không nên hiểu hội nhập là gia nhập các tổ chức kinh tế quốc tế mà quan trọng hơn là thiết lập các quan hê thương mại đầu tư khoa học kỹ thuật với từng nước. 1.3.2. Hội nhập kinh tế quốc tế – Một tất yếu khách quan trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay Ngay từ những năm cuối của thế kỷ XX, sự phát triển của nền kinh tế thế giới đã chịu sự tác động sâu sắc của một loạt những xu thế mới. Đó là xu thế phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, quốc tế hoá và toàn cầu hoá đời sồng kinh tế thế giới và xu thế chuyển từ đối đầu sang đối thoại giúp cho lực lượng sản xuất được quốc tế hoá cao độ. ngày nay, xu thế hoà bình, hợp tác và phát triển đã ngày càng trở thành xu thế lớn phản ánh đòi hỏi, bức xúc của các quốc gia, các dân tộc vì sự phát triển kinh tế giữa các nước. Thế giới đang xây dựng nền kinh tế với những chính sách hợp tác, hội nhập quốc tế sâu rộng. Khi toàn cầu hoá về kinh tế đang trở thành một xu hướng khách quan thì yêu cầu về hội nhập kinh tế quốc tế càng trở nên cấp bách. Thực tế cho thấy, dù muốn hay không thì cuối cùng các quốc gia trên thế giới đều phải đi đến hội nhập vào nền kinh tế quốc tế. Sự hội nhập đó càng sớm bao nhiêu thì càng tạo điều kiện cho nền kinh tế quốc gia đó có những bước tiến đáng kể, thể hiện sự chủ động sáp nhập nền kinh tế của mình vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Nhưng ngược lại nếu sự hội nhập đó là quá muộn sẽ đẩy quốc gia đó vào thế bị động trong hội nhập, các giải pháp và chính sách đưa ra để hội nhập đều mang tính chất chống đỡ, do đó hiệu quả của các chính sách đưa ra sẽ không cao; khiến cho hội nhập kinh tế quốc tế không những không phát huy được những tác động tích cực mà còn g._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0192.doc
Tài liệu liên quan