Phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ nên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Lời mở đầu: Trong lịch sử phát triển kinh tế của xã hội loài người, Lực lượng sản xuất luôn đóng một vai trò vô cùng quan trọng nó quyết định trực tiếp đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Nhận thức sâu sắc điều này nên trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta đặc biệt quan tâm phát triển Lực lượng sản xuất. Bằng cách vận dụn phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất chúng ta đã xây dựng được một Lực lượng sản xuất tương đối tân tiến mà cụ thể đã xây dựng được gia

doc11 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1113 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ nên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học- kỹ thuật và công nghệ mới, trí thức hoá, là nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các thành phần khác, đủ sức đưa sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đến thành công. Là một sinh viên được đào tạo trong một trường kinh tế cùng với ước muốn mai nay ra trường có thể đem những kiến thức mình học hỏi được để làm giàu cho bản thân, làm giàu cho gia đình và xã hội nên khi được giao đề án:" Phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ nên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam", em đã rất hào hứng và say mê thực hiện. Để hoàn thành đề án này em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy Đoàn quang thọ - giảng viên giúp đỡ em thực hiện đề án, thư viện trường đai học kinh tế quốc dân- nơi cung cấp những tài liệu cần thiết cho đề án của em. Đề án của em gồm 2 phần: Chương I: Lý luận chung về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chương II: Vận dụng phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Chương I: lý luận chung về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam 1. Khái niệm Lực lượng sản xuất: Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ giữa con người với tự nhiên trong quá trình sản xuất. Lực lượng sản xuất thể hiện năng lực thực tiễn của con người trong quá trình sản xuất ra của cả vật chất. Lực lượng sản xuất bao gồm người lao động với kỹ năng lao động của họ và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động. Trong quá trình sản xuất, sức lao động của con người và tư liệu sản xuất, trước hết là công cụ lao động kết hợp với nhau tạo thành Lực lượng sản xuất. 2.vai trò và sự tác động qua lại của các yếu tố cấu thành Lực lượng sản xuất Từ khái niệm trên ta thấy được vai trò hết sức to lớn của Lực lượng sản xuất. Bởi vì, các bộ phân hợp thành Lực lượng sản xuất quyết định trực tiếp đến sự phát triển của mỗi quốc gia .Đó là sức lao động và tư liệu sản xuất. Trong yếu tố sức lao động thì công nhân, người lao động đóng một vai trò hết sức quan trọng. Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động đẻ sản xuất ra của cải vật chất. Cùng với quá trình lao động sản xuất sức mạnh và kỹ năng của con người ngày càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con ngườikhông ngừng phát triển, hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao. Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chính yếu. Cùng với người lao động, công cụ lao động cũng là một yếu tố cơ bản của Lực lượng sản xuất, đóng vai trò quyết định trong tư liệu sản xuất. Công cụ lao động do con người sáng tạo ra, là " sức mạnh của tri thức đã được vật thể hoá", nó "nhân" sức mạnh của con người trong quá trình lao động sản xuất. Công cụ lao động là yếu tố động nhất của Lực lượng sản xuất. cùng với quá trình tích luỹ kinh nghiệm, với những phát minh và sáng chế kỹ thuật, công cụ lao động không ngừng cải tiến và hoàn thiện. Chính sự cải tiến và hoàn thiện không ngừng công cụ lao động đã làm biến đổi toàn bộ tư liệu sản xuất. Xét đến cùng, đó là nguyên nhân sâu xa của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế trong lịch sử. 3.vai trò của Quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng đối với sự phát triển của Lực lượng sản xuất Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của Lực lượng sản xuất. trong đó, yếu tố quan trọng nhất là Quan hệ sản xuất. Quan hệ sản xuất quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến tổ chức và ứng dụng khoa học và công nghệ, v.v.và do đó tác động đến sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngược lại Quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu, hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất sẽ kìm hãm sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Từ những phân tích trên giúp ta hiểu được sự tác động của Quan hệ sản xuất tới Lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, Quan hệ sản xuất mới chỉ là một bộ phận của cơ sở hạ tầng. Nếu có một cơ sở hạ tầng tốt sẽ hình thành nên toàn bộ những quan hệ sản xuất tốt từ đó thúc đẩy sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Ngược lại nếu cơ sở hạ tầng thấp kém sẽ dẫn dến sự thấp kém của Quan hệ sản xuất từ dó kìm hãm Lực lượng sản xuất phát triển. Cũng như vậy nếu kiến trúc thượng tầng bao gồm toàn bộ các quan điểm chính trị, pháp quyền, triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, v.v. cùng với những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội, v.v. được hình thành trên cơ sở hạ tầng nhất định tiên tiến sẽ là động lực mạnh mẽ thúc đảy Lực lượng sản xuất phát triển. Thực tế đã chứng minh điều này. Từ trước đại hội Đảng lần VI do chưa nhận thức đúng về mối quan hệ biện chứng giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất chúng ta đã ra sức vận động gần như cưỡng bức nông dân đi vào hợp tác xã, mở rộng phát triển quy mô nông trường quốc doanh, các xí nghiệp lớn mà không tính đến trình độ của Lực lượng sản xuất đang còn thời kỳ qúa thấp kém. Chúng ta tạo ra những quy mô lớn và ngộ nhận đã có " Quan hệ sản xuất XHCN" và còn nói rằng mỗi bước cải tạo Quan hệ sản xuất cũ xây dựng Quan hệ sản xuất đều thúc dẩy sự ra đời và lớn mạnh củ Lực lượng sản xuất mới, Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa có khả năng"vượt trước" "Mở đường" cho sự phát triển của Lực lượng sản xuất. thực tế nhiều năm qua đã chứng minh quan điểm đó là sai lầm. Sai lầm chủ yếu ở chỗ chúng ta chúng ta duy trì Quan hệ sản xuất lạc hậu so với sự phát triển của Lực lượng sản xuất. Có những mặt của Quan hệ sản xuất bị đảy lên quá cao, qua cao một cách giả tạo làm cho nó tách rời với trình độ thấp kém của Lực lượng sản xuất. Tuy nhiên, tại đại hội Đảng lần VI với nhận định:" Lực lượng sản xuất bị kìm hãm không chỉ trong trường hợp Quan hệ sản xuất lạc hậu, mà cả khi Quan hệ sản xuất phát triển không đồng bộ có những yếu tố đi quá xa so với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất". Đảng ta đã từng bước tạo lập được một Lực lượng sản xuất tiên tiến. Nước ta một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên CNXH trong điều kiện tiền vốn ít, khả năng khoa học còn hạn chế và còn nhiều yếu tố khác quy định thì chưa thể đổi mới ngay Lực lượng sản xuất cũ bằng một Lực lượng sản xuất tiên tiến. Do đó những yếu tố của Lực lượng sản xuất cũ vẫn phải được duy trì và khai thác. Trong hoàn cảnh hiện nay Lực lượng sản xuất bổ sung quan trọng là Lực lượng sản xuất chuyển tiếp, cần phải sàng lọc trong Lực lượng sản xuất truyền thống những yếu tố nào có giá trị để bổ xung cho việc xây dựng Lực lượng sản xuất hiện đại cần phải kết hợp các yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại, đảm bảo tính phủ định có kế thừa, tiếp thu có chọn lọc cho phép tạo nên sự phát triển ổn định, bình thường của Lực lượng sản xuất, tránh được sự "gãy gục" trong tiến trình phát triển đó. Những tiến bộ to lớn cả cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật ngày nay cho phép nước ta có thể tranh thủ vận dụng trực tiếp những thành tựu khoa học- kỹ thuật, nhập khẩu tư liệu sản xuất hiện đại, chuyển giao công nghệ qua liên kết kinh tế với nước ngoài. Từ đó chúng ta có thể tạo nên sự kết hợp những tiến bộ về Lực lượng sản xuất do đó tiếp thu có chọn lọc từ bên ngoài với những cơ sở vật chất và Lực lượng sản xuất vốn có trong nước, để đẩy nhanh và rút ngắn thời hạn phát triển lịch sử tự nhiên của Lực lượng sản xuất, vươn lên kịp trình độ của thế giới. Con người tham gia vào quá trình sản xuất vừa với tư cách là sức lao động, vừa với tư cách là con người có ý thức chủ thể của nhưng quan hệ kinh tế. Trình độ văn hoá, trình độ kỹ thuật chuyên môn, ý thức và thái độ của người lao động đối với sản xuất và sản phẩm là những yếu tố quan trọng để sử dụng và khai thác kỹ thuật và tư liệu sản xuất vốn có, để sáng tạo trong quá trình sản xuất. Angghen đã nhấn mạnh" Muốn nâng cao sản xuất nông nghiệp và công nghiệp đến mức độ cao, mà chỉ có phương tiện cơ giới và hoá học thì chưa đủ. Còn cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người, sử dụng những phương tiện đó nữa" nghĩa là phải có sự phối hợp phát triển hài hoà các nhân tố khách quan của Lực lượng sản xuất hiện đại. Để tạo điều kiện cho con người chủ động, nhận thức và giải quyết những mâu thuẫn giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất, điều chỉnh và hoàn thiện Quan hệ sản xuất để thông qua đó phát triển Lực lượng sản xuất, đồng thời muốn tạo ra những động lực tích cực kích thích năng lực sáng tạo của người lao động thì đòi hỏi phải có một cơ chế quản lý phù hợp- cơ chế quản lý theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Muốn giải phóng và phát huy triệt để nhân tố con người trong sản xuất, trước hết phải có chiến lược về con người nhằm tạo ra những biến đổi tích cực về cơ cấu và chất lượng công nhân. Việc cải cách giáo dục,bồi dưỡng chuyên môn, kỹ thuật và năng lực quản lý, việc ban hành và thực hiên các chính sách xã hội, xây dựng môi trường xã hội có bầu không khí dân chủ phù hợp với yêu cầu của cuộc sống hiện đại và hướng tiến lên của xã hội, là những phương tiện đa dạng trong thống nhất để đi đến chỗ phát triển Lực lượng sản xuất. chương II: vận dụng phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội cúng ta phải giải quyết hàng loạt nhiệm vụ quan trọng. Trong đó việc phát triển Lực lượng sản xuất mà cụ thể là xây dựng giai cấp công nhân tiên tiến là nhiệm vụ trọng tâm, bởi vì chỉ với một giai cấp công nhân trưởng thành về chính trị, có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cao, có trình độ làm chủ khoa học- kỹ thuật và công nghệ mới, trí thức hoá mới có thể là nòng cốt để liên minh với nông dân, trí thức, tập hợp và đoàn kết các thành phần khác, phấn đấu đưa sự nghiệp công nghiệp hoá,hiện đại hoá đến thành công. Để có nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu công nghiệp hoá,hiện đại hoá phải coi việc đầu tư cho giáo dục, đào tạo là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, giáo dục và đào tạo phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu. Phải đào tạo ra một cơ cấu nhân lực đồng bộ bao gồm các lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, cán bộ nghiên cứu và triển khai công nghệ, cán bộ quản lý, cán bộ trong các nghành kinh doanh, công nhân kỹ thuật… Viêc xây dựng nguồn nhân lực cho công nghiệp hoá,hiện đại hoá phải tiến hành với tốc độ quy mô thích hợp, đáp ứng yêu cầu của mỗi thời kỳ trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá. Đi đôi với viêc đào tạo bồi dưỡng, phải bố trí và sử dụng tốt nguồn nhân lực đã được đào tạo, phát huy đầy đủ khả năng, sở trường và nhiệt tình lao động sáng tạo của họ để tao ra năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cao, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong sự phát triển của Lực lượng sản xuất , khoa học đóng vai trò ngày càng to lớn. Sự phát triển của khoa học gắn liền với sản xuất và là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển. Ngày nay, khoa học đã phát triển đến mức trở thành nguyên nhân trực tiếp của nhiều biến đổi to lớn trong sản xuất, trong đời sống và trở thành" lực lượng sản xuất trực tiếp". Những phát minh khoa học trở thành điểm xuất phát ra đời những ngành sản xuất mới , những máy móc thiết bị mới, công nghệ mới, nguyên vật liệu mới, năng lượng mới. Sự thâm nhập ngày càng sâu của khoa học vào sản xuất , trở thành một yếu tố không thể thiếu được của sản xuất đã làm cho Lực lượng sản xuất có bước phát triển nhảy vọt tạo thành cuộc cánh mạng khoa học công nghệ hiện đại. Yếu tố trí lực trong sức lao động đặc trưng cho lao động hiên đại không còn là kinh nghiệm và thói quen của họ và là tri thức khoa học. Có thể nói: khoa học và công nghệ hiện đại là đặc trưng cho Lực lượng sản xuất hiện đại. Là một nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nền kinh tế kém phát triển nên tiềm lực khoa học và công nghệ của nước ta còn yếu. Cho nên, trong giai đoạn trước mắt việc phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta phải tập chung chủ yếu vào các hướng sau: + Vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để xây dựng cơ sở khoa học cho việc hoạch định và triển khai đường lối, chủ trương công nghiệp hoá,hiện đại hoá của Đảng và nhà nước ta đạt hiêu quả cao với tốc độ nhanh +Đẩy mạnh công tác nghiên cứu để đánh giá chính xác tài nguyên quốc gia, nắm bắt những công nghệ cao cùng những thành tựu mới của khoa học và công nghệ … để từ đó đề xuất một chiến lược đúng đắn cho việc ứng dụng vào các nghành kinh tế- xã hội một cách nhanh chóng và khai thác, sử dụng hợp lý, bảo vệ tốt tài nguyên quốc gia +Chú trọng đúng mức nghiên cứu cơ bản về khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên để làm chỗ dựa lâu dài cho nghiên cứu ứng dụng triển khai và tiếp cận các thành tựu mới về khoa học và công nghệ. +Mở rộng hợp tác khoa học- công nghệ với các nước và các tổ chức quốc tế nhằm tiếp cận, kế thừa những thành tựu khoa học- công nghệ của thế giới; tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế. + Xây dựng tiềm lực nhằm phát triển một nền khoa học tiên tiến, bao gồm đẩy mạnh các hình thức đào tạo và sử dụng cán bộ khoa học, chú trọng đào tạo lớp chuyên gia đầu đàn, tăng cường cơ sở vật chất- kỹ thuật cho các nghành khoa học và công nghệ. Muốn làm những điều trên cần phải xây dựng và thực hiện tốt cơ chế và chính sách đồng bộ cho việc phát triển khoa học và công nghệ (khuyến khích bằng lợi ích vật chất và tinh thần, thị trường, quyền sở hữu trí tuệ, ưu đãi nhân tài…). Để khoa học và công nghệ trở thành động lực của sự phát triển thì trước hết phải tạo ra động lực cho sự phát triển của chính bản thân khoa học công nghệ. Xây dựng Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất, trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. Tránh tư tưởng dùng Quan hệ sản xuất tiên tiến để ép Lực lượng sản xuất phát triển theo. Luôn coi Lực lượng sản xuất là nhân tố quyết định trực tiếp đến nền kinh tế của một quốc gia, còn thể chế chính trị (đóng vai trò Quan hệ sản xuất ) chỉ có tác dụng thúc đẩy hoặc kìm hãm. Nếu chế độ chính trị ưu việt, phù hợp sẽ thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế, ngược lại nó kìm hãm, tạo ra mâu thuẫn trong lòng xã hội gây ra mâu thuẫn buộc xã hội chuyển lên giai đoạn mới cao hơn. Qua quá trình lãnh đạo Đất Nước đi lên CNXH, Đảng ta đã rút ra những kinh nghiệm bổ ích và xác định rằng: một trong những nguyên nhân làm cho sản xuất chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn là:" Không nắm vững Quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất".Từ đó Đảng rút ra cốt lõi để đẩy mạnh việc vân dụng quy luật bằng cách nêu vấn đề:gắn liền cách mạng Quan hệ sản xuất với cách mạng khoa học- kỹ thuật, chú trọng lại việc tổ chức nền sản xuất xã hội để xác định những hình thức và bước đi thích hợp. Đảng nhận thức rằng: sự phù hợp giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất không bao giờ tuyệt đối, không có mâu thuẫn, không thay đổi, sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với Lực lượng sản xuất không bao giờ là sự phù hợp chung mà bao giờ cũng tồn tại dưới những hình thức cụ thể, thích ứng với những đặc điểm nhất định với trình độ nào đó của Lực lượng sản xuất.Trong thời kỳ đi lên của XHCN, nền kinh tế không còn là nền kinh tế tư bản, nhưng chưa hoàn toàn là nền kinh tế XHCN. Bởi vậy, công cuộc cải tạo XHCN phải chú ý đến đặc điểm của sự tồn tại khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần. Trong cải tạo của nền Quan hệ sản xuất cũ và xây dựng Quan hệ sản xuất mới, Đai hội VI đã nhấn mạnh là phải giải quyết đồng bộ ba mặt, xây dựng chế độ sở hữu, chế độ quản lý và chế độ phân phối, không chỉ nhấn mạnh viêc xây dựng chế độ sở hữu mà bỏ qua viêc xây dựng hai chế độ kia. Không nên quá đề cao chế độ công hữu, coi đó là cái duy nhất để xây dựng Quan hệ sản xuất mới. Thực tế chỉ rõ, nếu chế độ quản lý và phân phối không được xác lập theo nhưng nguyên tắc của CNXH và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất nhằm củng cố chế độ công hữu về tư liệu sản xuất mà còn cản trở Lực lượng sản xuất phát triển. Trong công cuộc đổi mới Đất Nước phải tuân thủ quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất hiện có, để xác định bước đi và những hình thức thích hợp. Quy luật đó luôn được coi là tư tưởng chỉ đạo công cuộc cải tạo Quan hệ sản xuất cũ xây dựng Quan hệ sản xuất mới trên những điều kiện phát triển của Lực lượng sản xuất. Đai hội VI chỉ rõ:" Đảm bảo sự phù hợp giữa Lực lượng sản xuất và Quan hệ sản xuất, luôn luôn kết hợp chặt chẽ tạo Quan hệ sản xuất với tổ chức và phát triển sản xuất", không nên nóng vội duy ý chí trong việc xác định trật tự bước đi, cũng như việc lựa chọn các hình thức kinh tế, cần phải tạo nền sản xuất nhỏ, cá thể để đưa nền sản xuất từng bước tiến lên sản xuất lớn. Trên cơ sở sản xuất nhỏ xây dựng những hình thức của Quan hệ sản xuất phù hợp, từng bước và đồng bộ. Rà soát lại quá trình cải tạo XHCN trong thời gian qua, Đảng ta đã đưa ra nhận định:"Theo quy luật về sự phù hợp giữa Quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất , quá trình cải tạo XHCN phải có bước đi và hình thức thích hợp", "phải coi trọng những hình thức kinh tế trung gian, quá độ từ thấp lên cao, từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn, trong mỗi bước đi của quá trình cải tạo XHCN phải đẩy mạnh việc xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật tạo ra Lực lượng sản xuất mới trên cơ sở đó tiếp tục đưa Quan hệ sản xuất lên hình thức và quy mô thích hợp để thúc đẩy Lực lượng sản xuất phát triển". *Kết luận: Từ sự nghiên cứu phép biện chứng về sự phát triển của Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam chung ta nhận thấy: Lực lượng sản xuất giữ vai trò quyết định, ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Yêu cầu phát triển Lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ là một yêu cầu bức thiết nó đòi hỏi phải được giải quyết cả về mặt lý luận và thực tiễn.Trong quá trình phát triển Lực lượng sản xuất phải đặc biệt quan tâm quan tâm đến quy luật về sự phù hợp của sự phù hợp của Quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của Lực lượng sản xuất. Thực tế nhiều năm qua do làm khá tốt điều này nên Việt Nam đã thu được những kết quả đáng mừng. Sản xuất phát triển, người lao động hăng hái tham gia sản xuất và phát huy tính sáng tạo.Nền kinh tế luôn đạt mức tăng trưởng cao trong khoảng 5 năm trở lại đây GDP luôn trên 7%. Những thành công thu được là to lớn nhưng để nhanh chóng hoàn thành thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội không cho phép chúng ta được bằng lòng với hiện tại mà phải luôn nỗ lực, cố gắng phấn đấu hết mình. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0342.doc
Tài liệu liên quan