Phòng tại nguyên và Môi trường huyện trạng Định (DC)

Phần I: Lời nói đầu. Khái quát về huyện Tràng Định. 1. Điều kiện tự nhiên. Tràng Định là huyện vùng cao, biên giới nằm ở phía bắc của tỉnh Lạng Sơn, cách thành phố Lạng Sơn hơn 70 km theo đường QL 4A lên Cao Bằng. Phía bắc giáp tỉnh Cao Bằng, phía đông - đông bắc giáp Trung Quốc, phía nam và tây nam giáp huyện Văn Lãng và Bình Gia, phía tây giáp huyện Nà Rì, tỉnh Bắc Kạn. Tràng Định có 53 km đường biên giới với Trung Quốc, 2 cặp chợ biên giới Nà Mằn và Canh Va, nhiều đường bộ, đường sông t

doc20 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1833 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Phòng tại nguyên và Môi trường huyện trạng Định (DC), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
hông thương với Trung Quốc - vị trí này tạo thuận lợi cho Tràng Định trong việc giao lưu trao đổi hàng hoá, dịch vụ với Trung Quốc và thúc đẩy phát triển các hoạt động thương mại - du lịch trên địa bàn huyện. Tràng Định có địa hình chia cắt mạnh, nhiều núi xen kẽ các thung lũng ven sông, suối và lân lũng núi đá vôi. Độ cao trung bình 200 - 500 m, độ dốc trung bình 25 - 30 độ. Dạng địa hình núi đất là phổ biến, chiếm trên 42% diện tích; dạng địa hình núi đá chiếm khoảng 10,7%; các dải thung lũng hẹp chiếm 4%. Tràng Định nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình 21,6 độ C, lượng mưa trung bình từ 1.155 - 1.600 mm, độ ẩm không khí bình quân 82 - 84%. Huyện Tràng Định bao gồm 1 thị trấn Thất Khê và 22 xã là:Đại Đồng,Hùng Sơn,Đề Thám,Tri Phương,Chi Lăng,Kháng Chiến,Hùng Việt,Quốc Việt,Quốc Khánh,Đội Cấn,Tân Minh,Trung Thành,Đào Viên,Chí Minh,Cao Minh,Kim Đồng,Tân Tiến,Vĩnh Tiến,Đoàn Kết,Khánh Long,Tân Yên,Bắc Ái. 2. Tài nguyên thiên nhiên. - Tài nguyên đất: đất ở Tràng Định chủ yếu là đất đỏ vàng trên đá sét chiếm trên 42% diện tích đất tự nhiên; đất đỏ vàng trên đá mácma axít (Fa) chiếm trên 28%; đất vàng nhạt trên đá cát (F4) chiếm 3,4%, đất phù sa, đất phù sa sông, suối (Py) chiếm 1,2%; đất dốc tụ (D) chiếm 1,3%; còn lại là đất nâu đỏ trên đá vôi, đất vàng biến đổi do trồng lúa, sông suối, núi đá,... Theo số liệu thống kê đất đai năm 2000, diện tích đất tự nhiên của Tràng Định là 99.523 ha. Trong đó diện tích đất nông nghiệp 5.921,47 ha, chiếm 5,95% tổng diện tích đất tự nhiên; diện tích đất lâm nghiệp 37.780 ha, chiếm 37,96%; diện tích đất chuyên dùng 597,81 ha, chiếm 0,6% tổng diện tích tự nhiên; diện tích đất ở 569,02 ha, chiếm 0,57%; diện tích đất chưa sử dụng 54.655 ha, chiếm 54,92% tổng diện tích đất tự nhiên. - Nguồn nước: Tràng Định là một trong những huyện có nguồn nước ngầm và nước mặt khá phong phú, thuận lợi cho việc phát triển sản xuất và đời sống nhân dân. Tràng Định có 3 sông lớn là Bắc Khê, sông Kỳ Cùng và sông Văn Mịch chảy qua và có hệ thống suối khá dày đặc, với 7suối lớn, 1 mạng lưới khe rạch, có khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt, phục vụ sản xuất, phát triển các công trình thuỷ lợi nhỏ và thuỷ điện nhỏ. Ngoài hệ thống sông, suối, Tràng Định còn có 19 hồ lớn nhỏ với năng lực tưới thiết kế là 1.701,6 ha. - Tài nguyên khoáng sản: tài nguyên khoáng sản ở Tràng Định không nhiều, trữ lượng nhỏ. Theo số liệu địa chất, trên địa bàn huyện có vàng sa khoáng ở vùng Bản Trại, Đào Viên; mỏ nước khoáng tự nhiên, được đánh giá đạt tiêu chuẩn vệ sinh có thể khai thác để làm nước giải khát. Ngoài ra trên địa bàn huyện Tràng Định còn có đá vôi, cát, sỏi,...có thể khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng. - Tài nguyên rừng: diện tích đất có rừng của Tràng Định khá lớn, theo số liệu thống kê rừng năm 2000, diện tích rừng là 37.780 ha, chiếm 37,96% tổng diện tích đất tự nhiên. Diện tích rừng tự nhiên 32.422 ha, chiếm 85,8% diện tích đất có rừng, trong đó rừng gỗ là 29.185,2 ha, rừng tre vầu 2.837,7 ha, rừng hỗn giao 44,9 ha. Với vị trí địa lý và tài nguyên đất như vậy huyện Tràng Định có tiềm năng phát triển kinh tế,thương mại dịch vụ,giao thông vận tải,lâm nghiệp khá mạnh và thật vậy hiện nay nhờ sự quan tâm của các cấp lãnh đạo tỉnh nên huyện Tràng Định đang từng ngày có những bước tiến rõ rệt trong phát triển kinh tế. Phần II. Phòng tài nguyên môi trường huyện Tràng Định. I.Khái quát. Phòng tài nguyên môi trường huyện Tràng Định được thành lập năm 1994 với cái tên phòng Quản lý ruộng đất trực thuộc phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn.Đến năm 1997 được tách ra khỏi phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn lấy tên là phòng Địa chính cho đến 01/07/2004 chính thức lấy tên là phòng Tài nguyên và Môi trường cho đến nay. 1.Chức năng. Phòng Tài nguyên và Môi trường là cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về tài nguyên đất, tài nguyên nước, khoáng sản, môi trường,đo đạc bản đồ trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật.Phòng tài nguyên và môi trường chịu sự chỉ đạo,hướng dẫn,kiểm tra của Sở tài nguyên và môi trường về chuyên môn nghiệp vụ. 2. Nhiệm vụ. Phòng tài nguyên và môi trường có 14 nhiệm vụ cụ thể được quy dịnh tại quyết định số 77 ngày 31/01/2005 của UBND huyện Tràng Định và được cụ thể hóa thành quy chế làm việc của phòng,trong đó có nhiệm vụ chủ trì hoặc phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc kiểm tra việc thi hành pháp luật trong việc kiểm tra thanh tra việc thi hành pháp luật trong lĩnh vực TN&MT.Giúp UBND huyện giải quyết các tranh chấp,khiếu nại,tố cáo về TN&MT theo quy định của pháp luật. 3.Về tổ chức bộ máy. Phòng tài nguyên môi trường Tràng Định được bố trí 7 biên chế bao gồm: -01 trưởng phòng: Nông Văn Thoại. -01 phó phòng: Vi Tuấn Lương. -01 cán bộ phụ trách công tác đăng ký đất đai,thu hồi và giao đất: Chu Đức Thuận. -01 cán bộ phụ trách công tác thanh tra,kiểm tra,giải quyết đơn thư tranh chấp đất đai: Hoàng Triệu Sáu. -01 cán bộ phụ trách công tác quy hoạch,kế hoạch sử dụng đất: Lương Trung Thuyền. -01 cán bộ phụ trách lĩnh vực tài nguyên nước và môi trường: Hoàng Thùy Linh. -01 cán bộ kế toán: Nông Thị Huệ. Ngoài các chức năng chính các cán bộ còn hỗ trợ lẫn nhau trong công tác quản lý nhà nước về đất đai làm thành 1 bộ máy hoạt động có hiệu quả. 4.Về điều kiện làm việc. Cả phòng TN&MT,văn phòng đăng ký QSDĐ chỉ được bố trí sử dụng 4 gian phòng làm việc tại tầng I – trụ sở cũ của UBND huyện nên rất chật hẹp.Do vậy,phòng TN&MT chưa bố trí được phòng tiếp dân riêng.Việc tiếp công dân hàng ngày được bố trí tại phòng tiếp dân của UBND huyện.Nếu phòng tiếp dân của UBND huyện bận thì tiếp dân trực tiếp phòng làm việc cuả cán bộ được giao việc giải quyết tranh chấp đất đai. II.Kết quả thực hiện công tác TN&MT trong những năm gần đây. A.Kết quả năm 2007. 1. Công tác đo đạc lập hồ sơ địa chính khu đất do tổ chức đang quản lý sử dụng . Trong năm 2007, Phòng TN&MT đã hợp đồng với Văn phòng đăng ký QSDĐ (thuộc Sở TN&MT tỉnh Lạng Sơn) đo đạc, lập hồ sơ địa chính các khu đất, tạo điều kiện cho việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các tổ chức đang sử dụng đất trên địa bàn huyện Tràng Định. Kết quả đã hoàn thành khâu đo đạc, lập bản đồ khu đất được 66 khu đất của tổ chức đang quản lý, sử dụng, chủ yếu là Trụ sở cơ quan, UBND các xã, Trường học, Trạm y tế xã, Nhà văn hóa xã. Hiện nay phòng TN&MT huyện Tràng Định đang phối hợp với phòng văn đang ký QSDĐ của Sở TN&MT tiến hành rà soát lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh cấp giấy CNQSDĐ cho các khu đất của tổ chức nêu trên trong năm 2008. 2. Công tác thu hồi, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất. a. Thu hồi đất. Đã hoàn thành công tác thu hồi đất đối với 28 hộ gia đình để xây dựng các công trình công cộng, trong đó thu hồi 3.041,4m2 đất nông nghiệp; 715, 6 m2 đất ở nông thôn của 27 hộ gia đình để xây dựng đường giao thông tại các xã Đề Thám và Hùng Sơn. Đã thu hồi 35 000m2 đất lâm nghiệp của hộ Lương Thị Dung tại thôn Thâm Ho xã Quốc Khánh để xây dựng bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt Chợ Long Thịnh, xã Quốc Khánh. b. Giao đất. Đã ra quyết định giao đất có thu tiền sử dụng đất cho 03 hộ gia đình, cá nhân với tổng diện tích 208,85m2 đất ở đô thị tại thị trấn Thất Khê. c. Chuyển mục đích sử dụng đất. Trong năm đã hoàn thành việc thẩm định trình UBND huyện ra quyết định đối với 13 hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở nông thôn với tổng diện tích là 875,5m2 cấp 13 giấy chứng nhận. 3. Công tác thẩm định hồ sơ chuyển nhượng đất đai. Đã hoàn thành thẩm định 168 hợp đồng chuyển nhượng đất đai các loại, cấp 180 giấy CNQSDĐ cho bên nhận chuyển nhượng với tổng diện tích chuyển nhượng là: 119502,7m2. Trong đó: - Chuyển nhượng đất ở đô thị 25 trường hợp, diện tích 1946,2m2, - Chuyển nhượng đất ở nông thôn 17 trường hợp, diện tích 1875,3m2, - Chuyển nhượng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm 123 trường hợp, diện tích 69680,2m2, - Chuyển nhượng đất lâm nghiệp (rừng sản xuất) 3 trường hợp, diện tích 46.00m2. 4. Công tác cấp mới giấy CNQSDĐ. Trong năm đã tiếp nhận 166 hồ sơ xin cấp giấy CNQSDĐ các loại. Đã thẩm định cấp được 136 hồ sơ và cấp 136 giấy CNQSDĐ cho cá nhân, hộ gia đình trong đó: (diện tích cấp giấy: 74.680,2m2, số thửa 314 thửa). - Đất trồng cây hàng năm 54 giấy, 231 thửa, diện tích 63.917,3m2; - Đất ở nông thôn: 21 giấy, 21 thửa, diện tích 3.159,4m2; - Đất ở đô thị: 61 giấy, 62 thửa, diện tích 7.603,5m2. 5. Cấp đổi cấp lại giấy CNQSDĐ. Trong năm đã cấp đổi, cấp lại được 12 giấy CNQSDĐ, gồm 93 thửa, diện tích 41.558,3m2 trong đó. - Đất trồng cây hàng năm: 11 giấy, 92 thửa, 41.346 m2; - Đất ở nông thôn: 01 giấy, 1 thửa, diện tích 212,3m2; 6. Thẩm định hồ sơ tăng cho quyền sử dụng đất, chỉnh lý biến động đất đai. Đã tiếp nhận và thẩm định 85 hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất các loại, với diện tích tặng cho là: 109.974,1m2. Trong đó. - Tặng cho đất ở nông thôn 717,7m2; - Tặng cho đất ở đô thị 2.095,9m2; - Đất lâm nghiệp 38.000m2; 7. Công tác kiểm tra tình hình quản lý, sử dụng tài nguyên, khoáng sản và vệ sinh môi trường. Trong năm đã phối hợp với các ngành chức năng huyện và Sở TN&MT tiến hành kiểm tra tình hình sử dụng đất đai tại cửa hàng Lương thực Thất Khê. Đã lập hồ sơ đề nghị UBND tỉnh thu hồi 672,6m2 đất mà công ty lương thực Cao Lạng đang thuê tại cửa hàng lương thực Thất Khê, giao cho chi cục thuế Tràng Định để xây dựng trụ sở mới. Đã phối hợp với các ngành và Sở TN&MT tiến hành kiểm tra tình hình thực hiện công tác bảo vệ môi trường tại Nhà máy giấy Bản Trại. Qua kiểm tra cho thấy nhà máy đã mời trung tâm y tế dự phòng Lạng Sơn đến lấy mẫu xác định mức độ ô nhiễm về khí thải, tiếng ồn. Kết quả các mẫu cho thấy trong khí thải lượng khí độc hại nằm trong giới hạn cho phép. Tuy nhiên về hệ thống xử lý nước thải của Nhà máy chưa đạt tiêu chuẩn môi trường, cụ thể Nhà máy chưa hoàn thiện khâu xử lý nước thải, vẫn xả thẳng nước thải ra sông Kỳ cùng làm ảnh hưởng đến nguồn nước phía hạ lưu. Đoàn kiểm tra đã lập biên bản kiểm tra và yêu cầu nhà máy khẩn trương lập kế hoạch đầu tư hoàn chỉnh khâu xử lý nước thải để đảm bảo tiêu chuẩn môi trường. Trong tháng 10, Phòng Tài nguyên đã tham gia phối hợp với đoàn kiểm tra của Sở TN&MT tiến hành kiểm tra tình hình khai thác cát sỏi, sa khoáng trên sông Kỳ cùng thuộc địa bàn 6 xã huyện Tràng Định. Qua kiểm tra, đoàn kiểm tra đã phát hiện, lập biên bản vi phạm hành chính đối với các chủ xuồng khai thác cát sỏi, sa khoáng do không có bản cam kết bảo vệ môi trường; không có giấy phép khai thác. Đoàn kiểm tra đã báo cáo UBND tỉnh, giao cho UBND huyện tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đối với các chủ khai thác về hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường. UBND huyện đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 57 chủ xuồng có vi phạm với hành vi không có bản cam kết bảo vệ môi trường. Với mức phạt 5.000.000đ/01 chủ, đồng thời đình chỉ mọi hoạt động khai thác trái phép đối với 57 chủ xuồng nêu trên từ ngày 01/11/2007. 8. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên, môi trường. Trong tháng 8 năm 2007, Phòng Tài nguyên và Môi trường đã tham mưu cho UBND huyện mở hội nghị phổ biến pháp luật liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường. Cụ thể đã mở hội nghị triển khai Luật bảo vệ môi trường đến các đối tượng là cán bộ chủ chốt các xã, thị trấn và cán bộ địa chính xã, lãnh đạo các phòng, ban, đoàn thể, đơn vị lực lượng vũ trang trên địa bàn huyện. Đã xây dựng và triển khai chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 41/NQ-TW của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh CNH - HĐH đất nước trên địa bàn huyện Tràng Định. Trong tháng 9 đã mở hội nghị kết hợp triển khai thực hiện nghị định 84 của Chính phủ về quy định bổ sung về cấp giấy CNQSDĐ, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và triển khai thực hiện Nghị định 13/NĐ-CP ngày 24/1/2006 của Chính phủ về xác định giá trị quyền sử dụng đất để tính vào giá trị tài sản của tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất. Trong tháng 10 đã thông báo cho tất cả các cán bộ địa chính 23 xã, thị trấn tham gia lớp tập huấn nghiệp vụ chuyên môn do Sở TN&MT chủ trì tại trường chính trị Hoàng Văn Thụ Lạng Sơn, 100% cán bộ địa chính xã, thị trấn đã có mặt dự hội nghị tập huấn với tinh thần nghiêm túc, đã lĩnh hội được nhiều kiến thức bổ ích thiết thực phục vụ trong công tác hàng ngày. Đã hoàn thành công tác lập hồ sơ khảo sát, dự toán thiết kế, giải phóng mặt bằng và đang thi công xây dựng bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt chợ Long Thịnh - xã Quốc Khánh phấn đấu thi công xong, nghiệm thu trong tháng 1/2008. Đã mở hội nghị triển khai thực hiện dự án thành lập bản đồ địa chính, lập hồ sơ cấp giấy CNQSD đất Lâm nghiệp trên địa bàn huyện theo kế hoạch số 751 ngày 06/11/2007 của Sở TN&MT; đã thành lập Ban chỉ đạo và tổ công tác giao đất Lâm nghiệp, xây dựng kế hoạch thực hiện tại 22 xã có rừng trên địa bàn huyện. 9. Công tác giải quyết đơn thư tranh chấp đất đai. Tiếp công dân trong năm 2007 là 58 lượt người. Số đơn thư đăng ký quản lý tại phòng là 15 đơn Trong đó đơn tồn từ 2006 chuyển sang là 03 đơn. + Đơn phát sinh trong năm 2007 là 12 đơn. Trong đó đơn thuộc thẩm quyền của UBND huyện là 8 đơn. Đơn không thuộc quyền là 7 đơn. Kết quả giải quyết trong năm 2007. - Đơn không thuộc thẩm quyền đã hướng dẫn, trả lời: 7 đơn - Đơn thuộc thẩm quyền đã tham mưu UBND huyện ra quyết định giải quyết: 5 đơn. - Đơn thuộc thẩm quyền, đang thụ lý, chuyển sang 2008 tiếp tục giải quyết: 3 đơn gồm: + Vụ bà Trần Thị Hiền tranh chấp đất lâm nghiệp với Đặng Thị Nguyên (cùng thôn Kéo Quang xã Chi Lăng). + Vụ Hoàng Thị Sào tranh chấp đất ở nông thôn với Hứa Thị Lặng (cùng thôn Lũng Phầy xã Chí Minh). + Vụ Đoàn Văn Thơ tranh chấp đất trồng cây hàng năm khác với bà Đoàn Thị Ninh (cùng trú tại bản Nhàn, xã Hùng Việt), UBND xã đã hòa giải và có kết luận nhưng hai bên không nhất trí. Hiện nay Phòng TN & MT đang thụ lý, trình Uỷ ban nhân dân huyện ra Quyết định giải quyết trong tháng 12/2007 (giải quyết lần 2). 10.Kiến nghị. 1. Thực trạng hiện nay trên địa bàn huyện Tràng Định vẫn còn tồn tại trên 50 chủ xuồng khai thác cát sỏi và sa khoáng dọc sông kỳ cùng. Qua đợt kiểm tra cuối năm 2007, các chủ này mới chỉ bị xử lý phạt vi phạm hành chính và đình chỉ hoạt động từ 01/11/2007. Tuy vậy, trên thực tế các chủ này vẫn đang còn lén lút hoạt động, một số vẫn công khai hoạt động. Để có hướng xử lý triệt để, tích cực, tạo thuận lợi cho công tác quản lý tài nguyên, khoáng sản trên địa bàn đi vào nề nếp, Phòng TN & MT Tràng Định kiến nghị với Sở TN & MT tỉnh cho phép các cá nhân chủ xuồng trên được thành lập doanh nghiệp tư nhân, hoặc hợp tác xã sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng và được cấp có thẩm quyền cấp phép kinh doanh, khai thác để tạo công ăn việc làm thu hồi vốn để trả nợ ngân hàng và từng bước chuyển đổi nghề nghiệp. 2. Đề nghị Sở TN & MT bố trí tăng nguồn kinh phí sự nghiệp bảo vệ môi trường cho huyện Tràng Định để hỗ trợ chi chi hoạt động của bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt chợ Long Thịnh, xã Quốc Khánh. B.Kết quả năm 2008. 1. Công tác cấp giấy CNQSDĐ. Trong năm đã cấp mới được 274 giấy CNQSDĐ, gồm 474 thửa, diện tích 189.911,4m2 trong đó: - Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: 154 giấy, 353 thửa; 167.619,8m2. - Đất nuôi trồng thủy sản: 01 giấy; 01 thửa: 2.647,9m2 - Đất ở nông thôn: 37 giấy, 37 thửa, 7.400,9 m2 - Đất ở đô thị: 82 giấy, 83 thửa, 12.242,8m2 2. Cấp đổi, cấp lại giấy CNQSDĐ. Đã cấp đổi, cấp lại được: 16 giấy, 124 thửa, diện tích 141.53,2m2 trong đó. - Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: 12 giấy, 117 thửa: 41.230,2m2. - Đất lâm nghiệp 01 giấy; 04 thửa; 99.500m2 - Đất ở nông thôn 03 giấy; 03 thửa; 806,0m2 3. Thẩm định hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đã hoàn thành công tác thẩm định 141 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; diện tích 241.265,9m2 trong đó: - Chuyển nhượng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: 101 hợp đồng; 78.352,4m2. - Đất ở đô thị; 13 hợp đồng, diện tích 761,1m2 - Chuyển đất ở nông thôn: 24 hợp đồng: 3.152,4m2 - Đất lâm nghiệp: 03 hợp đồng; diện tích: 159.000m2 4. Thẩm định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất. Trong năm đã thẩm định hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được 89 hợp đồng, với diện tích tặng cho 326.874,3m2 trong đó: - Đất nông nghiệp trồng cây hàng năm: 71 hợp đồng; diện tích 92.802,4m2. - Đất ở đô thị: 10 hợp đồng diện tích: 1.056,4m2. - Đất ở nông thôn: 05 hợp đồng; diện tích: 515,5m2. - Đất lâm nghiệp rừng sản xuất: 03 hợp đồng; diện tích: 232.500m2 5. Thu hồi, giao đất chuyển mục đích sử dụng đất. a. Thu hồi đất. Trong năm 2008, thu hồi, giao đất 540.279,8m2đất các loại để xây dựng các công trình công cộng sau: - Công trình cải tạo, nâng cấp Trung tâm y tế huyện Tràng Định: 3.173,3m2. - Bãi rác trung tâm huyện tại thôn Khuổi Chả, xã Trung Thành: 472.897,5m2. - Công trình đầu mối Thủy điện Bắc Khê I: 64.209m2. b. Chuyển mục đích sử dụng đất. Đã tham mưu cho UBND huyện cho phép chuyển mục đích từ đất nông nghiệp (trồng cây hàng năm) sang đất ở tại nông thôn là 14 trường hợp, với diện tích là: 932 m2. 6. Công tác thống kê đất đai năm 2007. Trong tháng 2 năm 2008 Phòng TN&MT đã chủ động triển khai công tác thống kê đất đai năm 2007 cho các xã, thị trấn. Đến ngày 29/2/2008 các xã đã hoàn thành công tác thống kê đất đai năm 2007. Đến ngày 06/3/2008 cấp huyện đã hoàn thành công tác thống kê đất đai năm 2007. 7. Công tác kiểm kê đất đang quản lý sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất theo chỉ thị 31/2007/CT- TTg ngày 14/12/2007. Đến hết tháng 9 năm 2008 huyện Tràng Định đã hoàn thành công tác kiểm kê quỹ đất của các tổ chức đang quản lý sử dụng trên địa bàn toàn huyện. Trong đó: - Tổng số tổ chức được kiểm kê là 108 tổ chức; - Tổng số khu đất được đo đạc, kiểm kê: 266 khu đất; - Tổng diện tích kiểm kê: 679.980,6m2, trong đó: + Cơ quan hành chính Nhà nước: 12 tổ chức với 18 khu đất, diện tích: 32.799,8m2; + Tổ chức chính trị 01 tổ chức; 02 khu đất; diện tích: 10.229,5m2; + Tổ chức sự nghiệp công 56 tổ chức, 131 khu đất, diện tích 347.039,64 m2 + Tổ chức kinh tế 16 tổ chức, 24 khu đất, diện tích: 82.003,31m2; + Uỷ ban nhân dân xã 23 tổ chức, 91 khu đất, diện tích 207.907,81m2. 8. Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính, giao đất lâm nghiệp. Đã phối hợp cùng đơn vị thi công thực hiện rà soát, đo đạc lập bản đồ địa chính đất lâm nghiệp, lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp hoàn thành khâu ngoại nghiệp được 22 xã/22 xã có rừng trên địa bàn huyện Tràng Định. Trong đó: Có 15 xã đã kiểm tra nội nghiệp xong gồm: Xã Chí Minh, Chi Lăng, Đội Cấn, Vĩnh Tiến, Cao Minh, Đoàn Kết, Tân Yên, Tri Phương, Quốc Khánh, Kháng Chiến, Quốc Việt, Đào Viên, Tân Minh, Trung Thành, Khánh Long. Các xã trên đang công khai hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại UBND xã. Còn 7 xã đang hoàn thành nội nghiệp gồm: Xã Đại Đồng, Hùng Việt, Hùng Sơn, Bắc ái, Đề Thám, Kim Đồng, Tân Tiến, phấn đấu đến hết tháng 12 xong hoàn toàn khâu nội nghiệp các xã còn lại. 9. Công tác quản lý nhà nước về môi trường. Trong năm, đã phối hợp với các ngành chức năng huyện tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện. Uỷ ban nhân dân đã thành lập đoàn kiểm tra và tổ công tác tiến hành kiểm tra tình hình bảo vệ môi trường, xử lý chất thải tại Nhà máy giấy Bản Trại; kiểm tra Trạm cấp nước sinh hoạt Thất Khê, kiểm tra tình hình và tiến độ thi công các bãi chôn lấp rác thải sinh hoạt tại xã Quốc Khánh và bãi rác trung tâm huyện tại xã Trung Thành. Qua kiểm tra, đoàn kiến nghị với nhà máy giấy Bản Trại cần khẩn trương thi công dây chuyền xử lý chất thải tại nhà máy giấy đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường. Kiến nghị với nhà máy giấy phải thực hiện đúng các cam kết về bảo vệ môi trường và ký quỹ môi trường theo đúng quy định hiện hành. Kiến nghị trạm cấp nước sinh hoạt thị trấn Thất Khê lập bản cam kết bảo vệ môi trường trong tháng 8 năm 2008. 10. Công tác quản lý Nhà nước về tài nguyên khoáng sản. Trong năm, Phòng TN&MT đã tham mưu cho UBND huyện thành lập đoàn kiểm tra liên ngành tiến hành kiểm tra tình hình khai thác khoáng sản trên địa bàn huyện. Trọng tâm chủ yếu kiểm tra tại các đơn vị doanh nghiệp, có đăng ký hoạt động khoáng sản trên địa bàn gồm Doanh nghiệp tư nhân Ngọc Dụ, Công ty cổ phần Cửu Long; Công ty cổ phần khoáng sản JMC. Qua kiểm tra, các doanh nghiệp trên đã có đầy đủ giấy phép khai thác khoáng sản và bản cam kết bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, các đơn vị trên chưa có dự án cải tạo, phục hồi môi trường; chưa ký quỹ môi trường theo quy định của pháp luật. Đoàn kiểm tra đã kiến nghị các doanh nghiệp phải khẩn trương thực hiện lập dự án cải tạo phục hồi môi trường và ký quỹ môi trường tại UBND tỉnh theo quy định. 11. Công tác giải quyết đơn thư tranh chấp đất đai. - Tiếp công dân trong năm là 71 lượt người. - Đơn đang quản lý trong năm là 18 đơn, trong đó: + Đơn tồn từ năm 2007 chuyển sang: 03 đơn; + Đơn phát sinh trong năm 15 đơn; trong đó: + Đơn thuộc thẩm quyền: 13 đơn + Đơn không thuộc thẩm quyền: 05 đơn. Kết quả giải quyết: - Đơn thuộc thẩm quyền đã tham mưu giải quyết là 08 đơn (đã có quyết định của UBND huyện). - Đơn không thuộc thẩm quyền, đã trả lời, hướng dẫn công dân được 05 đơn. - Kết quả giải quyết đơn thư đạt 86%. - Đơn thuộc thẩm quyền đang xác minh chuyển sang 2009: 05 đơn; 12. Công tác xây dựng giá đất năm 2009. Trong tháng 11 đã phối hợp với Phòng Tài chính và các ngành liên quan tiến hành điều tra, khảo sát xây dựng xong phương án giá đất năm 2009, thông qua Thường trực Hội đồng nhân dân huyện, trình UBND huyện xem xét, báo cáo Hội đồng thẩm định tỉnh phê duyệt. III.Phương hướng nhiệm vụ năm 2009. 1. Chủ động triển khai công tác thống kê đất đai năm 2008 theo quy định, hoàn toàn trong tháng 2 năm 2009. 2. Đôn đốc, phối hợp với đơn vị tư vấn, UBND các xã hoàn thành công tác giao đất, thành lập bản đồ địa chính, hồ sơ cấp giấy chứng nhận QSDĐ lâm nghiệp trên địa bàn huyện. 3. Chủ động phối hợp với các ngành chức năng huyện thực hiện tốt công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình, dự án đầu tư mới trên địa bàn huyện. 4. Chủ trì phối hợp UBND xã Trung Thành lập thủ tục hồ sơ giao đất ở (có thu tiền sử dụng đất) đối với cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu sử dụng đất ở thuộc điểm dân cư Đông Pinh, xã Trung Thành (đã được UBND huyện phê duyệt quy hoạch sử dụng đất). 5. Phối hợp với các ngành chức năng huyện lập phương án đấu giá quyền sử dụng đất tại khu đất: HTX Bình Minh, khu tòa án cũ, khu đất Bách hóa Tổng hợp cũ thuộc địa bàn Thị trấn Thất Khê. 6. Chủ động phối hợp với Phòng chức năng Sở Tài nguyên và Môi trường, các ngành chức năng huyện thực hiện công tác kiểm tra tình hình quản lý sử dụng đất, bảo vệ môi trường, các hoạt động về khai thác, sử dụng khoáng sản, tài nguyên nước trên địa bàn huyện. Kết luận Trong quá trình thực tập tôi đã học hỏi được nhiều điều từ những cán bộ của phòng TN&MT huyện Tràng Định họ làm việc 1 cách khoa học phân bổ công việc hợp lý để giải quyết những công việc,tranh chấp…theo đúng quy định của pháp luật.Tuy nhiên trong công tác quản lý không thể tránh khỏi những sai sót,vì thế phòng TN&MT huyện Tràng Định đang ngày dần hoàn thiện công tác quản lý 1 cách chặt chẽ hoàn thiện,khoa học hơn nữa.Trải qua quá trình thực tập ở đó tôi đã nhận ra còn 1 số vấn đề đáng được quan tâm hơn nữa để giải quyết được triệt để những khó khăn đã và đang gặp phải cụ thể là các vấn đề như về công tác cấp giấy CNQSDĐ hay công tác giải quyết tranh chấp khiếu nại về đất đai còn thể hiện nhiều yếu kém của cán bộ quản lý.Vì thế trên cơ sở đấy tôi lựa chọn đề tài về giải quyết tranh chấp khiếu nại về đất đai.Xin cảm ơn thầy giáo Nguyễn Thắng Trung đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình để cho tôi có thể nhận biết được những vấn đề trong công tác quản lý và tìm ra được đề tài lựa chọn của mình. Hà Nội ngày 06/02/2009. Mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc5679.doc