Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền Kinh tế thị trường

lời nói đầu Năm 1975, giải phóng miền Nam, hai miền Nam Bắc thống nhất, cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới, nhiệm vụ lớn nhất đặt ra trước mắt là phải khắc phục được hậu quả nặng nề của chiến tranh để lại và cải tạo nền kinh tế miền Nam cho phù hợp với mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp từ nhiều năm nay không được tạo động lực phát triển, làm suy yếu nền kinh tế, hạn chế việc sử dụng và cải tạo các thành phần kinh tế, kìm hãm sản x

doc23 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1362 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền Kinh tế thị trường, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uất làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông và phát sinh ra nhiều hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Cơ chế đó quản lý nền kinh tế bằng mệnh lệnh hành chính là chủ yếu không phù hợp với nguyên tắc dân chủ. Các cơ quan quản lý hành chính – kinh tế can thiệp sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các đơn vị cơ sở, nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất đối với các quyết định của mình, dẫn đến các đơn vị kinh tế cơ sở vừa không có quyền tự chủ vừa không bị ràng buộc trách nhiệm với kết quả sản xuất, kinh doanh. Cơ chế đó chưa chú ý đến quan hệ hàng hoá - tiền tệ và hiệu quả kinh tế, dẫn tới cách quản lý và kế hoạch hoá thông qua chế độ cấp phát và giao nộp theo quan hệ hiện vật là chủ yếu, hạch toán kinh tế là hình thức, không ràng buộc trách nhiệm và lợi ích vật chất với hiệu quả sử dụng vốn, tài sản, vật tư, lao động, tách rời việc trả công lao động với số lượng và chất lượng lao động. Thêm vào đó là bộ máy quản lý Nhà nước cồng kềnh với những cản bộ quản lý kém năng động, không thạo kinh doanh, với phong cách quản lý quan liêu cửa quyền. Cơ chế cũ gắn liền với tư duy kinh tế dựa trên những quan niệm giản đơn về chủ nghĩa xã hội, mang nặng tính chất chủ quan duy ý chí. Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong những nội dung cơ bản của quá trình đổi mới quản lý kinh tế ở nước ta, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, trong đó cơ chế thị trường và quản lý Nhà nước là hai yếu tố cơ bản, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Đảng chủ trương tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ, toàn diện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước hết xác lập đồng bộ các yếu tố thị trường: thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường vốn... Hoàn chỉnh đồng bộ và toàn diện hệ thống với các công cụ quản lý kinh tế thị trường: pháp luật về kinh tế, kế hoạch hoá, các chính sách tài chính tiền tệ, nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế. Do vậy, việc nghiên cứu : ”Quan điểm toàn diện trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường” là hết sức quan trọng và cấp bách. Trong thời gian qua, nhờ có đường lối mới đúng đắn và sáng tạo của Đảng và nỗ lực phấn đấu của toàn dân, chúng ta đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn và rất quan trọng: đã thoát khỏi khủng hoảng, đạt tốc độ phát triển nhanh, đời sống nhân dân được cải thiện đáng kế, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng an ninh quốc gia được giữ vững. Từ một nền kinh tế hiện vật, kế hoạch hoá tập trung, quan liêu bao cấp, chúng ta đã từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, dựa trên qui luật giá trị và tín hiệu cung cầu của thị trường, có sự quản lý của Nhà nước thông qua sử dụng các công cụ điều tiết vĩ mô và vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế. Từ nền kinh tế đơn thành phần, chúng ta chuyển sang nền kinh tế đa thành phần với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, chỉ quan hệ với một số nước, chúng ta đã tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, bình thường hoá quan hệ với các tổ chức tài chính quốc tế, đa dạng hoá, đa phương hoá, phát triển quan hệ kinh tế với hầu khắp các nước. Và nhất là hiện nay trong lúc toàn Đảng, toàn dân ta đang tích cực tham gia góp ý xây dựng Chiến lược 10 năm phát triển kinh tế xã hội 2001 – 2010 và Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001 – 2005 thì việc nghiên cứu quan điểm toàn diện lại càng trở nên quan trọng và cấp thiết . Phần I Những lý luận về quan điểm toàn diện I. Cơ sở lý luận: Quan điểm toàn diện được xuất phát từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng đó là: - Các sự vật, hiện tượng không tồn tại cô lập mà thống nhất với nhau trong đó các sự vật hiện tượng tồn tại bằng cách tác động lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau. - Không chỉ trong tự nhiên mà cả trong lĩnh vực đời sống xã hội và tinh thần, mọi sự vật - hiện tượng tồn tại bằng cách tác động qua lại lẫn nhau. - Sự liên hệ đó chỉ là tính khách quan và là tính phổ biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Trong thế giới khách quan có vô vàn mối liên hệ, chúng rất đa dạng và giữ vai trò vị trí khác nhau trong sự tồn tại, vận động và phát triển sự vật hiện tượng: - Có mối liên hệ bên trong (sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa các mặt các yếu tố, các bộ phận ở bên trong sự vật hiện tượng), lại có mối liên hệ bên ngoài, nói chung mối liên hệ này không có ý nghĩa quyết định, hơn nữa nó thường thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với các sự vận động và phát triển của sự vật. Tuy nhiên, nó cũng là mối liên hệ hết sức quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Vì vậy, không có một sự kiện nào tồn tại trong trạng thái cô lập tách rời những sự kiện khác. Chẳng hạn, qua cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại vừa tạo ra thời cơ, nhưng cũng vừa tạo ra những thách thức to lớn đối với tất cả các nước chậm phát triển. Nước ta có tranh thủ được thời cơ do cuộc cách mạng đó tạo ra hay không, trước hết và chủ yếu phụ thuộc vào năng lực của Đảng, của Nhà nước và của nhân dân ta. Xong chúng ta cũng khó xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, nếu không hội nhập quốc tế, không tận dụng được những thành quả của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mà thế giới đạt được. Nói cách khác, mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định. - Có mối liên hệ chung trong toàn bộ thế giới, cũng có mối liên hệ riêng trong từng lĩnh vực cụ thể. - Có mối liên hệ trực tiếp giữa hai hay nhiều sự vật hiện tượng, lại có những mối liên hệ gián tiếp (sự vật, hiện tượng liên hệ tác động qua lại lẫn nhau thông qua một hay nhiều khâu trung gian). Từ nhận thức trên, trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có các yếu tố thị trường, các công cụ quản lý nền kinh tế. Quan điểm toàn diện ở đây thể hiện ở chỗ muốn xây dựng nền kinh tế thị trường phải xây dựng các yếu tố thị trường mang tính đồng bộ, tính toàn diện, phải xây dựng các công cụ đồng thời cùng hoạt động chứ không thể xây dựng riêng rẽ, như vậy sẽ rất khó có tác dụng trong việc xây dựng nền kinh tế. Các thị trường hàng hoá, dịch vụ cụ thể (thị trường vốn, thị trường lao động...) mà ngay bản thân nền kinh tế cũng vậy, nó không tồn tại trong trạng thái cô lập, mà trong mối quan hệ quy định lẫn nhau giữa các lĩnh vực kinh tế - chính trị - ngoại giao, kinh tế - chính trị, đạo đức - pháp quyền, kinh tế - chính trị - khoa học - nghệ thuật... II. Yêu cầu của quan điểm toàn diện: Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng về sự vật chúng ta phải xem xét nó trên hai khía cạnh: thứ nhất là trong mối quan hệ giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính khác của chính sự vật đó; thứ hai là trong mối quan hệ giữa các sự vật đó với sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). V.I Lênin viết: “Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và “quan hệ gián tiếp” của sự vật đó ”. Quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức được sự vật, chúng ta cần xem xét nó trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ, không trọn vẹn. Như vậy, quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó. Quan điểm toàn diện không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật hiện tượng, nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản nhất, chủ yếu nhất và quan trọng nhất của sự vật hay hiện tượng đó. III. ý nghĩa phương pháp luận của quan điểm toàn diện: Để cải tạo một sự vật, hiện tượng, để hoàn thành nhiệm vụ đặt ra trong hoạt động thực tiễn, đòi hỏi một hệ thống các biện pháp nhất định. Nếu thiếu tính toàn diện trong các chủ trương biện pháp thì sẽ không đạt được hiệu quả như mong muốn. Song toàn diện đồng bộ, không phải cái gì cũng đặt ra một cách đều tràn lan, mà đòi hỏi trong mỗi một thời kỳ, mỗi một giai đoạn phải có những chủ trương, những biện pháp mang tính trọng tâm, trọng điểm, phải xác định được những khâu then chốt tập trung giải quyết để làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp khác một cách đồng bộ. Trong thế giới khách quan mọi sự vật, hiện tượng đều có rất nhiều mối liên hệ. Vì vậy cần phải xem xét một mặt hoặc một vài mặt mà đã vội kết luận ngay vấn đề, như vậy sẽ không chính xác. Các quan hệ lợi ích thường thấy lợi ích trước mắt mà không thấy được cái lợi ích lâu dài. Chống lại chủ nghĩa triết chung và thuật nguỵ biện (Chủ nghĩa triết chung nhân danh toàn diện để kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật. Thuật nguỵ biện thì lại lập luận chủ quan, lấy thứ yếu thay cho chủ yếu, lấy cái không cơ bản thay cho cái cơ bản... nhằm xuyên tạc biện chứng của sự vật). Phần II Vận dụng lý luận vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn cũng đòi hỏi chúng ta phải kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dàn đều” và “chính sách có trọng điểm” (V.I Lênin). I. Khái niệm nền kinh tế thị trường, ưu điểm và nhược điểm. 1. Khái niệm: Kinh tế thị trường thể hiện trình độ cao của kinh tế hàng hoá, quan hệ hàng hoá, tiền tệ trở nên phổ biến. Trong lịch sử nhân loại đã diễn ra các hình thức kinh tế khác nhau như: kinh tế tự nhiên, kinh tế tự cung tự cấp, kinh tế thị trường... Kinh tế thị trường là hình thức kinh tế văn minh, đó là nền kinh tế vận động, phát triển gắn liền với hệ thống đồng bộ các thị trường hàng hoá, dịch vụ, thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường tài nguyên. Kinh tế thị trường đầy đủ gắn liền với một hệ thống luật lệ thể chế, hệ thống các đạo luật, các quy phạm là xương sống của nền kinh tế. Về thực chất là những khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho nền kinh tế năng động có trật tự. 2. Mặt tích cực và hạn chế của nền kinh tế thị trường trong đời sống xã hội ở nước ta: Nền kinh tế thị trường khác hẳn với nền kinh tế tập trung, quan liêu bao cấp trước kia bởi sự cạnh tranh, dưới góc độ quan điểm toàn diện một mặt nền kinh tế thị trường làm cho cạnh tranh thúc đẩy khoa học phát triển, tiếp thu được các công nghệ và bí quyết mới nhưng mặt khác cạnh tranh cũng làm cho hàng loạt các xí nghiệp, doanh nghiệp bị phá sản. a. Về mặt tích cực: Khi kinh tế thị trường tạo ra được những cong người năng động, quyết đoán, có được kinh nghiệm sau những lần cạnh tranh thắng lợi hay thất bại của mình nhằm: + Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội. + Đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lực lượng sản xuất. + Đẩy nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất. + Kích thích nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế, hàng hoá dịch vụ dồi dào và luôn luôn được cải tiến. + Tính năng động và tự điều chỉnh của nền kinh tế. b. Về mặt tiêu cực: + Phân hoá giàu nghèo quá xa nhau dẫn đến không công bằng và mâu thuẫn xã hội. Thị trường càng phát triển phân hoá càng lớn và đến lượt nó lại là nguyên nhân tiềm tàng cản trở sự phát triển do tình trạng bất công và dẫn đến tình thế ổn định. + Sự phát triển mù quáng của các doanh nghiệp riêng lẻ tất yếu dẫn đến khủng hoảng chu kỳ, triệt tiêu lẫn nhau và thất nghiệp. + Động cơ săn đuổi lợi nhuận tối đa luôn luôn gắn liền với những thủ đoạn không lành mạnh: đầu cơ, buôn lậu và lối sống duy vật chất xem thường truyền thống và các đạo đức của xã hội. + Độc quyền của những doanh nghiệp lớn và nước lớn trong việc khống chế mức lưu thông và giá cả, đầu cơ nâng cao giá hoặc bán phá giá. + Giá cả hình thành tự do trên thị trường tự nó không phải bao giờ cũng phản ánh đúng giá trị của nó. Cùng với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì cạnh tranh cũng xuất hiện. Tuy thời gian xuất hiện và phát triển của nó chưa nhiều song những vấn đề mà cạnh tranh đặt ra lại không nhỏ. Cạnh tranh có xu hướng thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, điều chỉnh các nguồn lực phát triển của đất nước. Mặt khác, cũng như mặt trái của cơ chế thị trường, mặt trái của cạnh tranh là những thủ đoạn không lành mạnh. 3. Mục đích của nền kinh tế thị trường: Phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, sử dụng cơ chế thị trường, áp dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý của kinh tế thị trường để kích thích sản xuất, phát huy tinh thần năng động, sáng tạo của người lao động, giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, lãnh đạo, quản lý nền kinh tế để phát triển đúng hướng. Đặc điểm kinh tế thị trường ở nước ta: - Có nhiều thành phần kinh tế, có nhiều hình thức sở hữu nhưng sở hữu công cộng là nền tảng. - Có sự quản lý của Nhà nước, Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa, Nhà nước thật sự của dân do dân và vì dân, quản lý kinh tế theo nguyên tắc kết hợp thị trường và kế hoạch, phát huy mặt tích cực, hạn chế khắc phục mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích Nhà nước, của nhân dân lao động. - Thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp trí tuệ vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội, tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng ngay trong từng bước phát triển. II. Thực trạng và quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta: 1. Giai đoạn trước năm 1986: Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp lại chịu ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh lâu dài. Trong những năm qua nhân dân ta đã không ngừng phấn đấu vượt qua bao khó khăn thử thách. Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn vết thương chiến tranh khôi phục lại nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản xuất mới, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát triển sự nghiệp văn hoá giáo dục, y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn còn trong tình trạng kém phát triển, sản xuất nhỏ là phổ biến và nặng tính tự cấp tự túc. Trình độ trang bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như kết cấu hạ tầng kinh tế, văn hóa - xã hội lạc hậu, năng suất lao động xã hội thấp. Cơ cấu kinh tế vẫn mang đặc trưng của một nước có nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, mất cân đối về nhiều mặt, công nghệ kỹ thuật chưa cao, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc vào nhiều các nước bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung bao cấp để lại nhiều hậu quả tiêu cực, nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp. Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều năm với đặc trưng: sản xuất chậm và không ổn định, lạm phát ngày càng gia tăng, tài nguyên thiết bị lao động và tài năng mới được sử dụng thấp, đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo, tham nhũng, chưa tận dụng hết được nguồn nhân lực lao động trong nhân dân... Trên thực tế nền kinh tế nước ta, từ nghị quyết Hội nghị lần thứ VI BCH Trung Ương khoá IV (năm 1979), các quan hệ hàng hoá - tiền tệ đã được chấp nhận nhưng mới chỉ ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ, qua tư tưởng kinh tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến, kiêng kỵ quan hệ hàng hoá và cơ chế thị trường, coi nó là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mô hình dập khuôn giáo điều, chủ quan duy ý chí (các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiên về phát triển công nghiệp nặng qui mô lớn, vội xoá bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể nặng về hình thức, phủ nhận nền kinh tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh, kém hiệu lực). Những sai lầm đó đã kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều động lực phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng Lênin trong chính sách kinh tế mới xem như bước lùi tạm thời. 2. Giai đoạn từ năm 1986 đến năm 1990: Trước tình hình đó, tháng 12 - 1986 Đại hội VI đã nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận những sai lầm, thiếu sót chủ quan trong lãnh đạo và điều hành, chủ yếu là duy ý chí, nóng vội chủ quan, đốt cháy giai đoạn, muốn tiến hành nhanh, tiến lên CNXH. Không thể có công cuộc đổi mới nếu xa dời tư tưởng cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, Đảng quyết định thực hiện đường lối đổi mới toàn diện mang tính chiến lược, mở ra thời kỳ mới phát triển nền kinh tế đất nước. Đổi mới tư duy lý luận, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý được khẳng định là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp để xây dựng một cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế. Đại hội đã được xác định những mục tiêu cụ thể về kinh tế - xã hội như “Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Củng cố thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm cả khu vực quốc doanh và khu vực tập thể một cách toàn diện, cả về chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối, làm cho thành phần kinh tế này giữ vai trò chi phối trong nền kinh tế quốc dân, thể hiện tính ưu việt về năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, thu nhập của người lao động và tích luỹ cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá”. Nền kinh tế nước ta đang từ cơ chế quản lý tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước thì những sự thay đổi trong quan điểm kinh tế, cơ cấu kinh tế và cơ chế kinh tế kéo theo sự thay đổi trong quan niệm về vai trò, vị trí và chức năng của các hiện tượng chính trị, ngoại giao, đạo đức, pháp quyền, khoa học và nghệ thuật... Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy rõ việc phải sử dụng đầy đủ và đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ trong kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân là một tất yếu khách quan, phải vận dụng tổng hợp hệ thống các qui luật đang tác động nền kinh tế ví dụ như quy luật giá trị, quy luật cung cầu... Kế hoạch hoá phải luôn luôn gắn liền với việc sử dụng đúng đắn các đòn bẩy kinh tế. Để xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải sắp xếp lại nền kinh tế quốc dân theo một cơ cấu hợp lý. Trong đó các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất có qui mô và trình độ kỹ thuật khác nhau phải được bố trí cân đối, liên kết với nhau, phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển ổn định. Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Đại hội VI chưa thể đi ngay vào cuộc sống, còn có lực cản, nền kinh tế tiếp tục gặp khó khăn trong mấy năm đầu. Nhưng từ năm 1989, các biện pháp đổi mới (như áp dụng chính sách suất dương, xoá bỏ chế độ tem phiếu, loại bỏ một số khoản chi bao cấp ngân sách Nhà nước, mở rộng quan hệ thị trường...) đã thực sự đi vào cuộc sống và tạo chuyển biến rõ rệt làm cho nền kinh tế có nhiều khởi sắc. Ví dụ như: trong giai đoạn 1986- 1990 đầu tư toàn xã hội trung bình là 12,5%GDP, tăng trưởng kinh tế trung bình là 3,9%, kim nghạch xuất khẩu bình quân đạt 1,3 tỷ USD/năm, kim ngạch nhập khẩu trung bình là 2,3 tỷ USD/năm. Về lạm phát thì năm 1986 là 77,4% đến năm 1990 giảm xuống còn 67,1% (Nguồn Tổng cục thống kê). 3. Giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000: Do mới có một số biện pháp được áp dụng vào cuối kỳ kế hoạch 1986 - 1990 nên kết quả của thời kỳ này còn hạn chế. Song cái được của thời kỳ 1986 -1990 là chúng ta đã thực hiện chuyển đổi cơ chế mạnh mẽ, đến giai đoạn 1991 -1995 sự chuyển đổi đó đã phát huy tác dụng và tạo nên thời phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Đại hội Đảng VII (6/1991) với những quyết sách quan trọng như: - Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế quản lý thị trường có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới cả về bề rộng và chiều sâu, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm. - Tiếp tục kim chế và đẩy lùi lạm phát, giữ vững và phát triển sản xuất, bắt đầu có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế. - ổn định và từng bước cải thiện đời sống của nhân dân (về vật chất và tinh thần) tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động, giảm nhịp độ tăng dân số.... Những quyết sách ấy được đưa ra trong thời điểm “ngàn cân treo sợi tóc”, trong bối cảnh quốc tế không thuận lợi, nguồn lực cho phát triển bị thiếu hụt.... dường như đã tiếp thêm sức mạnh cho quá trình chuyển đổi nền kinh tế để góp phần đưa đất nước ta khỏi khủng hoảng. Trong 5 năm đầu (1991 - 1995), tuy nền kinh tế vẫn đứng trước nhiều khó khăn, thách thức nhưng với việc triển khai mạnh mẽ đường lối đổi mới toàn diện của Đảng, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân, đã tạo ra nhiều động lực phát triển mới, hầu hết các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm 1991 -1995 được hoàn thành vượt mức và toàn diện, mà các kế hoạch 5 năm trước đó chưa bao giờ thực hiện được. Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 8,2% (trong khi đó mục tiêu ta đạt ra là 5- 6%), trong đó nông nghiệp tăng 4,5%; công nghiệp và xây dựng tăng 13,6% và dịch vụ tăng 8,8%, lạm phát kìm chế ổn định ở mức thấp (bình quân 23,4%/năm) (Theo nguồn Bộ kế hoạch và đầu tư), đầu tư xã hội tăng nhanh, thị trường xuất nhập khẩu mở rộng.... Như vậy, kết quả đổi mới đạt được trong giai đoạn này đã chứng minh cho đường lối phát triển kinh tế nhiều thành phần, theo hướng “mở” được đề ra từ Đại hội VI là đúng đắn. Nó cũng chứng tỏ bài học kiên trì con đường vững vàng, xoá bỏ tập trung hoá cao độ, giải phóng mọi nguồn lực, giải toả tư tưởng kỳ thị khu vực tư nhân đi liền với khẳng định quyền sở hữu tư nhân, hoàn thiện luật pháp, cơ chế, chính sách một cách đồng bộ và nhất quán... đã là những nhân tố quan trọng góp phần đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng. Kết thúc thời kỳ kế hoạch 1991 - 1995, Đại hội VII đã kết luận: “ Đất nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”. Giai đoạn 1996 -2000 được xác định là bước quan trọng của thời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển của kế hoạch 5 năm 1996 - 2000 đã được xây dựng với mức phấn đấu rất cao, cả về tốc độ phát triển, chất lượng và hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế. Việc chuyển từ giai đoạn lấy ổn định kinh tế xã hội làm trọng tâm sang giai đoạn lấy phát triển làm trọng tâm, đặt ra yêu cầu rất cao, rất toàn diện theo chiều sâu cải cách kinh tế, đặc biệt là phải nhanh chóng hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý với cơ chế quản lý đủ sức vận hành thông suốt, hướng nền kinh tế đi vào phát triển và ổn định. Tuy nhiên, các tiền đề cần thiết cho sự phát triển cao như chất lượng nguồn, trình độ và năng lực khoa học, công nghệ, điều kiện kết cấu hạ tầng, khả năng tài chính quốc gia, cơ chế thị trường đồng bộ có sự quản lý của Nhà nước.... chưa chuẩn bị đầy đủ và còn quá thấp so với yêu cầu. Mặt khác, tác động của khủng hoảng khu vực và những thiên tai khắc nghiệt đã làm tăng thêm khó khăn của nền kinh tế. Vì vậy, hầu hết các chỉ tiêu đặt ra tại Đại hội VIII đều không đạt được (mục tiêu tốc độ GDP trung bình 9,0 - 10,0%/năm chỉ đạt 6,55%/năm; mục tiêu tốc độ kim ngạch xuất khẩu 28%/năm nhưng chỉ đạt 21%/năm...) (Nguồn: Văn kiện Đại hội Đảng VIII). Mặc dù có nhiều khó khăn thách thức gay gắt, bị thiệt hại lớn do thiên tai lũ lụt liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng, nhưng nhìn chung việc thực hiện chiến lược 1991 - 2000 đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng như: sau mấy năm đầu thực hiện chiến lược, tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng gấp đôi, tích luỹ nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể đến năm 2000 đạt 25%GDP, tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7,5%/năm (Nguồn: Bộ kế hoạch đầu tư). Từ tình trạng khan hiếm, sản xuất không đáp ứng được nhu cầu thiết yếu, nay đã đảm bảo lương thực thực phẩm, nhiều loại tiêu dùng, có dự trữ... Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, các thành phần kinh tế phát triển khá nhanh. Từ chỗ bị bao vây cấm vận, nước ta đã chủ động tranh thủ thời cơ từng bước hội nhập có hiệu quả với kinh tế thế giới, thu hút đáng kể đầu tư trực tiếp và nguồn tài trợ chính thức của nước ngoài. Mặt khác, trình độ dân trí, chất lượng nguồn nhân lực và tính năng động trong xã hội được nâng lên; đời sống của các tầng lớp nhân dân được cải thiện. 4. Đổi mới tư duy lý luận trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta: Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện từ đổi mới kinh tế là trọng tâm, đến đổi mới chính trị - văn hoá - xã hội, từ đổi mới tư duy, nhận thức, tư tưởng đến hoạt động thực tiễn của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Vấn đề có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp đổi mới là Đảng phải đổi mới trên cả ba lĩnh vực: đổi mới tư duy; đổi mới tổ chức và cán bộ, đổi mới phong cách làm việc. Đổi mới tư duy là đổi mới phương pháp tư duy, khắc phục lối tư duy kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan, siêu hình; là phải đấu tranh loại bỏ những quan điểm sai trái, khắc phục những quan điểm lạc hậu về chủ nghĩa xã hội, về công nghiệp hoá, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế... Đổi mới tư duy nhằm quán triệt phương pháp tư duy biện chứng duy vật, hình thành những quan điểm mới về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung và phát triển những thành tựu lý luận mà Đảng đã đạt được. Từ Đại hội VI đến nay đã gần15 năm, đã qua Đại hội VII, hội nghị đại biểu giữa nhiệm kỳ đại hội VIII, đường lối đổi mới đã được cụ thể hoá và phát triển, đem lại những thành tựu to lớn và rất quan trọng trong sự nghiệp đổi mới của Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một, vẫn khẳng định mục tiêu chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam. Nhưng trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã xuất hiện bệnh chủ quan duy ý chí. Đại hội VII Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: “Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã có nhiều cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng đường lối, xây dựng mục tiêu và phương án xã hội chủ nghĩa. Nhưng Đảng đã phạm sai lầm chủ quan duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan: nóng vội trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, xoá bỏ ngay nền kinh tế nhiều thành phần, có lúc đẩy quá mức việc xây dựng công nghiệp nặng, duy trì quá lâu cơ chế quản lý kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, có nhiều chủ trương sai trong việc cải cách giá cả, tiền tệ, tiêng lương, công tác tư tưởng và tổ chức cán bộ phạm nhiều khuyết điểm nghiêm trọng. Quán triệt nguyên tắc khách quan, khắc phục bệnh chủ quan duy ý chí là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân ta, nhiệm vụ này chỉ được thực hiện nếu chúng ta kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học. ” Bản thân sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội là một nhiệm vụ mới mẻ, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy cao độ vai trò của nhân tố chủ quan, của tính năng động chủ quan. Những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, những biến động nhiều mặt của đất nước ta trong quá trình đổi mới toàn diện xã hội càng đòi hỏi chúng ta phải kiên trì, giữ vững lòng tin, quyết tâm khắc phục khó khăn đồng thời phải tỉnh táo, thông minh, nhạy bén để thích ứng kịp thời với tình hình thực tế biến đổi từng ngày, từng giờ. Để phát huy tính năng động chủ quan phải kết hợp chặt chẽ giữa nhiệt tình cách mạng và tri thức khoa học. - Trong việc hoạch định các chương trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước phải dự báo được xu hướng vận động của nền kinh tế trong tương lai, đồng thời dự báo trước được xu hướng vận động của các sự kiện, các lĩnh vực có liên quan. - Mỗi lĩnh vực của thế giới và của đời sống xã hội có những quy luật vận động đặc thù. Ngoài những quy luật đó, phải nhận thức được các quy luật của triết học như quy luật mâu thuẫn biện chứng về nguyên nhân của sự vận động, phát triển, quy luật phủ định của phủ định về xu hướng của vận động và phát triển. - Mối liên hệ giữa sự vận động, phát triển là hai mặt của quá trình tồn tại của sự vật, sự vật liên hệ tác động qua lại lẫn nhau gây nên vận động, ngược lại vận động tạo ra liên hệ. Yêu cầu toà diện chỉ đạt được khi tính đến sự phát triển. Và ngược lại chỉ có thể dự báo được xu hướng phát triển khi xem xét một cách toàn diện. Đảng ta đã yêu cầu toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nắm vững các định hướng lớn: - Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. - Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ đổi mới kinh tế ở nước ta. - Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. - Phát triển văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc kết hợp với tinh hoa văn hoá nhân loại. Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta sở dĩ giữ vững được vai trò lãnh đạo và lãnh đạo thành công trong sự nghiệp đổi mới cũng trước hết nhờ Đảng ta không xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không xa rời mục tiêu xã hội chủ nghĩa, không mất đi bản chất của giai cấp công nhân. Thành công và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới trên đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng ta đã và đang chứng minh sức sống và làm sáng tỏ bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Sự kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong quá trình đổi mới đất nước càng làm n._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docT0050.doc
Tài liệu liên quan