Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội

Lời mở đầu Nằm trong khu vực Châu á- Thái Bình Dương, một khu vực kinh tế vào loại phát triển năng động nhất Thế giới, Việt Nam đang ở trong quá trình giao lưu và hội nhập với các nền kinh tế trong khu vực cũng như trên thế giới. Sự hội nhập này một mặt thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển nhưng mặt khác lại buộc các doanh nghiệp nước ta, nhất là các doanh nghiệp thương mại phải cọ sát trực tiếp với thị trường trong nước và quốc tế. Vấn đề quan trọng và cấp bách hiện nay đối với các doanh n

doc67 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1115 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ghiệp là vốn. Vốn thực sự là một yếu tố không thể thiếu được để tiến hành kinh doanh. Chỉ khi có nó người ta mới có thể tiến hành các hoạt động đầu tư, khởi đầu và duy trì các hoạt động kinh doanh. Đối với mỗi doanh nghiệp, vốn không phải là vô hạn mà nó luôn trong tình trạng khan hiếm. Quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là yếu tố có tính chất quyết định tới mức độ tăng trưởng hay suy thoái của một doanh nghiệp. Công tác quản lý và sử dụng vốn có liên quan chặt chẽ tới mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp đã có những phương thức và biện pháp khác nhau nhằm huy động, sử dụng vốn một cách năng động sao cho có hiệu quả nhất. Tuy nhiên, cũng có không ít các doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn. Các doanh nghiệp này chẳng những không huy động và phát triển được vốn mà còn lâm vào tình trạng mất vốn do quản lý và sử dụng vốn không chặt chẽ, kém hiệu quả. Trong bối cảnh đó, Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội đã có nhiều cố gắng tìm được hướng khai thác huy động vốn vào phát triển mở rộng sản xuất kinh doanh và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đặt ra cần tiếp tục giải quyết nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của đồng vốn sử dụng. Do nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết đó, sau một quá trình học tập tại trường và thời gian thực tập, Em đã chọn đề tài “Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội“ làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của mình. Nội dung đề tài gồm 3 phần: Chương I: Cơ sở lý luận chung về hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp . Chương II: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội. Chương III Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội. Mặc dù cũng đã có nhiều cố gắng và mong muốn giải quyết triệt để các vấn đề thuộc đề tài nghiên cưú, song do khả năng và thời gian còn nhiều hạn chế nên cũng không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và những người quan tâm để đề tài này được tốt hơn. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Lê Đức Lữ đã tận tình hướng dẫn cùng các Bác, cô, chú trong Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội đã tạo điều kiện giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Chương i: CƠ Sở lý luận về HIệU QUả sử dụng vốn LƯU ĐộNG trong CáC doanh nghiệp Từ sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương chuyển đổi nền kinh tế Nhà nước từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý vĩ mô của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa. Trong điều kiện đó, xác lập cơ chế quản lý tài chính để thích hợp với hoạt động kinh doanh doanh nghiệp trong thời kỳ mới mang một ý nghĩa rất quan trọng. Chuyển sang nền kinh tế thị trường, tất yếu có nhiều loại hình sở hữu khác nhau cùng tồn tại và doanh nghiệp cũng sẽ mang đặc trưng và vai trò hoàn toàn khác với trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung. Sự khác biệt này có thể thấy trong quan điểm mới về việc thực hiện quyền tự chủ sản xuất kinh doanh, quyền sở hữu tài sản trong sự thay đổi về chính sách kinh tế của Chính phủ như phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, chính sách mở cửa nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.. . Những thay đổi này có mối liên quan mật thiết với sự thay đổi trong cách thức quản lý vốn đang diễn ra hiện nay. Các doanh nghiệp chính là những đơn vị trực tiếp tác động nhằm sử dụng và khai thác mọi tiềm năng để sản xuất kinh doanh các sản phẩm hàng hoá đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, tích luỹ cho nền kinh tế. Chính vì thế việc quản lý và sử dụng có hiệu quả vốn không những đem lại lợi ích cho bản thân doanh nghiệp mà còn là nhân tố quan trọng đóng góp cho sự ổn định phát triển đi lên của toàn xã hội. 1.1 Vốn lưu động đối với hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. 1.1.1Khái niệm vốn lưu động: Qúa trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thể hiện sự khác biệt đáng kể về quy trình công nghệ và tính chất sản xuất kinh doanh. Sự khác biệt đó phần lớn là do đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng doanh nghiệp. Cho dù có sự khác biệt đi đến đâu thì có thể khái quát quá trình này theo hai yếu tố là : Đầu vào và đầu ra. Một đầu vào là một hàng hoá hay dịch vụ mà các doanh nghiệp sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của họ. Các đầu vào được kết hợp với nhau để sản xuất ra hàng loạt các hàng hoá và dịch vụ. Do đó, để có các đầu ra có chất lượng phải tổ chức tốt các đầu vào. Đầu vào được thể hiện nhiều bằng các yếu tố nhưng tựu trung lại chúng nằm trong hai yếu tố cơ bản: Sức lao động và tư liệu lao động. Toàn bộ giá trị các yếu tố đầu vào bao gồm toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo cho sản xuất kinh doanh gọi là vốn. Như vậy có thể hiểu vốn kinh doanh của một doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp đang phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn là giá trị đem lại giá trị thặng dư. Sự bảo toàn và tăng trưởng vốn là nguyên lý, là điều kiện đảm bảo cho sự phát triển của doanh nghiệp. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường luôn chứa đựng trong nó những rủi ro bất ngờ nên những vấn đề về vốn luôn được quan tâm hàng đầu. Tuỳ theo các tiêu thức phân chia khác nhau mà vốn kinh doanh bao gồm các bộ phận khác nhau. Căn cứ vào tốc độ chu chuyển và hình thức vận động của vốn trong doanh nghiệp vốn được chia thành vốn cố định và vốn lưu động: +Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của giá trị các tài sản cố định của doanh nghiệp. +Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động trong doanh nghiệp. Nói cách khác vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp có thời gian sử dụng thu hồi luân chuyển trong vòng một năm hay một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn lưu động là điều kiện vật chất không thể thiếu được trong quá trình tái sản xuất. Trong cùng một lúc, vốn lưu động được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới những hình thái khác nhau. Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ vốn đầu tư vào các hình thức khác nhau đó. Mức tồn tại hợp lý và đồng bộ của vốn lưu động giúp quá trình luân chuyển được thuận lợi. Nếu doanh nghiệp không đủ vốn thì quá trình luân chuyển các hình thái vốn lưu động gặp khó khăn cản trở và có thể gây gián đoạn sản xuất kinh doanh. Phần lớn các bộ phận của vốn lưu động tham gia toàn bộ và một lần vào chu kỳ sản xuất. Vì vậy, nếu quy mô sản xuất không thay đổi thì người ta chỉ phải ứng ra một lần cho toàn bộ nhu cầu và khi hết chu kỳ sản xuất kinh doanh doanh nhiệp bán các sản phẩm và thu được tiền. Trong số tiền thu về bán sản phẩm chứa đựng toàn bộ số vốn lưu động ứng ra ban đầu, số tiền đó lại được sử dụng ngay cho quá trình sản xuất tiếp theo. Cứ như thế, vốn lưu động luân chuyển không ngừng và giá trị của nó được bảo toàn. ở các doanh nghiệp khác nhau, sự vận động của vốn lưu động cũng khác nhau. Đối với các doanh nghiệp thương mại vốn lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ số vốn kinh doanh và có tốc độ chu chuyển nhanh hơn vốn cố định. Vốn lưu động trong doanh nghiệp thương mại là một bộ phận của vốn kinh doanh được dùng để đầu tư mua sắm tài sản lưu động và hàng hoá nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời. Trong đó phần lớn số vốn lưu động của doanh nghiệp được dùng để mua hàng hoá vì chính hàng hoá là đối tượng kinh doanh của doanh nghiệp thương mại. Hàng hoá mua về dự trữ tại doanh nghiệp trong một khoảng thời gian sẽ bán ra hoặc hàng hoá mua về được tiêu thụ ngay. Do đó, tốc độ hay thời gian vận động của một đơn vị hàng hoá là nhanh, sự vận động của hàng hoá gắn liền với sự vận động của vốn lưu động nói chung. 1.1.2.Vai trò tác dụng của vốn lưu động trong doanh nghiệp . Vốn là tiền đề vật chất không thể thiếu được cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Số lượng vốn thể hiện quy mô sản xuất kinh doanh và thế lực của doanh nghiệp trên thị trường. Theo cách nhìn về tốc độ chu chuyển vốn, vốn được chia thành hai bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động. Muốn khai thác năng lực hoạt động của các tài sản cố định thuộc vốn cố định, doanh nghiệp cần có một lượng vốn lưu động để thực hiện sản xuất kinh doanh, chỉ thông qua những hoạt động đó mới mới tạo ra lợi nhuận, tạo cơ sở tồn tại và phát triển cho doanh nghiệp. Vốn lưu động được sử dụng để dự trữ vật tư hàng hoá, thanh toán các khoản chi phí phải trả liên quan đến kỳ hạch toán, đầu tư ngắn hạn.. ..Như vậy, vốn lưu động chính là công cụ phản ánh sự vận động của vật tư hàng hoá đồng thời là công cụ để kiểm tra quá trình mua sắm, dự trữ và tiêu thụ vật tư hàng hoá trong từng thời kỳ, thời điểm của doanh nghiệp. Vốn lưu động được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển nên đã tổ chức tốt được quá trình đưa hàng hoá từ lĩnh vực sản xuất tới lĩnh vực tiêu dùng, giải quyết các mâu thuẫn vốn có giữa sản xuất và tiêu dùng. Sử dụng vốn lưu động hợp lý có ý nghĩa quan trọng với tất cả các doanh nghiệp, nó cho phép khai thác tối đa năng lực làm việc của các tài sản lưu đọng, góp phần làm giảm tỷ suất chi phí kinh doanh, tăng lợi nhuận, giúp doanh nghiệp bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh. 1.1.3.Kết cấu vốn lưu động: 1.1.3.1 Vốn hàng hoá dự trữ, công cụ dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu: Vốn dự trữ hàng hoá là toàn bộ số vốn mà doanh nghiệp đầu tư cho dự trữ hàng hoá trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số vốn lưu động. - Hàng hoá dự trữ gồm: +Hàng mua đang đi đường: Đây là số hàng đã thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nhưng đang trong quá trình vận chuyển hoặc hàng đã về doanh nghiệp nhưng chưa làm thủ tục nhập kho. +Hàng hoá tồn kho: Đây là số hàng của doanh nghiệp trong các cửa hàng hay trong các kho bãI hàng chuẩn bị bán ra. +Hàng chuyển bán: Là số hàng mà doanh nghiệp gửi đi cho người mua theo các hợp đồng kinh tế đã ký kết nhưng người mua chưa nhận được hàng cũng như chưa chấp nhận thanh toán. +Hàng gửi đại lý: Là số hàng mà doanh nghiệp gửi đến cho người bán đại lý bán hộ. Khi hàng hoá được bán ra doanh nghiệp phải trích một phần lợi tức hay còn gọi là hoa hồng cho đơn vị làm đại lý theo một tỷ lệ nhất định. Đặc điểm kinh doanh thương mại là phải đáp ứng mọi nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cho khách hàng trong khi đó việc nhập hàng không phải thường xuyên liên tục nên dự trữ hàng hoá là cần thiết. Hơn thế nữa, dự trữ hàng hoá còn tạo ra các cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, dự trữ hàng hoá luôn chứa đựng những rủi ro do hàng hoá ứ đọng, lạc hậu so với nhu cầu của thị trường. Như vậy, có thể nói việc tồn đọng một lượng vốn lớn trong dự trữ hàng hoá là tất yếu song phải quản lý số vốn này sao cho hợp lý nhất. Dự trữ hàng hoá vừa phải đảm bảo về số lượng chất lượng kết cấu chủng loại vừa phải tăng nhanh tốc độ chu chuyển góp phần tiết kiệm chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Vốn công cụ dụng cụ: Vốn công cụ dụng cụ là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các loại công cụ dụng cụ lao động có trong doanh nghiệp. Công cụ dụng cụ là những tư liệu lao động không đủ tiêu chuẩn về gía trị và thời gian sử dụng theo quy định của tài sản cố định. Theo quy định hiện nay, những tư liệu lao động sau đây không phân biệt tiêu chuẩn giá trị và thời gian sử dụng được coi là công cụ dụng cụ: +Các lán trại tạm thời, công cụ trong XDCB, dụng cụ gá lắp chuyên dùng cho sản xuất. +Các loại bao bì dùng để đựng vật liệu hàng hoá trong quá trình thu mua bảo quản và tiêu thụ hàng hoá. +Các loại bao bì bán kèm theo hàng hoá có tính tiền riêng nhưng trong quá trình bảo quản hàng hoá vận chuyển trên đường và dự trữ trong kho có tính hao mòn để trừ dần vào giá trị của bao bì. +Những đồ nghề bằng thuỷ tinh sành sứ. +Quần áo giầy dép chuyên dùng để làm việc. Công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp được chia thành hai loại như sau: -Công cụ dụng cụ phân bổ một lần: Đây là những công cụ dụng cụ có giá trị nhỏ, số lượng không nhiều có tính chất thay thế bổ sung. Những công cụ dụng cụ này có thể tham gia nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nhưng vì có giá trị nhỏ nên toàn bộ giá trị của chúng được tính vào chi phí kinh doanh trong kỳ. - Công cụ dụng cụ phân bổ hai hay nhiều lần: Đây là những công cụ dụng cụ có giá trị lớn hoặc xuất dùng hàng loạt với mục đích thay thế trang bị mới nó có tác dụng phục vụ trong nhiều kỳ. Những công cụ dụng cụ này khi xuất dùng được coi như một khoản chi phí trả trước phân bổ một phần vào chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ và tiếp tục phân bổ vào các kỳ kinh doanh tiếp theo. Thông thường những bao bì vật liệu đóng gói có giá trị tương đối nhỏ so với giá trị hàng hoá mà chúng chứa đựng thì tính chung vào giá trị hàng hoá và giá trị của chúng thường phân bổ một lần khi xuất dùng. Ngược lại, với những bao bì vật đóng gói có giá trị lớn thì giá trị của chúng được tính riêng khỏi giá trị hàng hoá và giá trị này được phân bổ nhiều lần. Vốn nguyên nhiên vật liệu: Là biểu hiện bằng tiền của những đối tượng lao động mua ngoài hoặc tự chế biến dùng cho mục đích sản xuất chế biến của doanh nghiệp. Nguyên nhiên vật liệu trong doanh nghiệp gồm có: +Nguyên liệu, vật liệu chính. +Vật liệu phụ. +Nhiên liệu. +Phụ tùng thay thế. +Vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản. 1.1.3.2 Vốn bằng tiền: Vốn bằng tiền của doanh nghiệp là tài sản tồn tại trực tiếp dưới hình thái giá trị bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng hay các tổ chức taì chính khác và tiền đang chuyển (tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc kim loại quý.. ..) Trong đó: -Tiền mặt tại quỹ là toàn bộ số tiền mà doanh nghiệp để tại quỹ để phục vụ cho nhu cầu chi trả bằng tiền phát sinh hàng ngày. Trong đó, phần lớn số tiền này là tiền thu từ bán hàng mà doanh nghiệp chưa kịp nộp vào ngân hàng hoặc chưa dùng để chi cho hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, những khoản phải trả nhưng chưa đến hạn trả, các khoản quỹ chưa cần dùng tới ..cũng được coi như tiền mặt tại quỹ và doanh nghiệp có thể huy động vào sản xuất kinh doanh nếu đảm bảo được các hoạt động này không ảnh hưởng tới kế hoạch chi trả trong kỳ. -Tiền gửi ngân hàng là lượng tiền doanh nghiệp gửi vào ngân hàng trên các tài khoản tiền gửi của doanh nghiệp nhờ Ngân hàng giữ hộ, thanh toán cho các nhà cung cấp khi họ cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp còn được hưởng một mức lãi suất theo quy định. -Tiền đang chuyển là khoản tiền của doanh nghiệp đã nộp vào ngân hàng, kho bạc hoặc chuyển qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng hay người được hưởng nhưng chưa nhận được giấy báo có (ngân hàng ).Theo quy định tiền đang chuyển gồm tiền Việt Nam và ngoại tệ trong các trường hợp sau: *Thu tiền mặt, séc, ngân phiếu nộp thẳng vào ngân hàng. *Chuyển tiền qua bưu điện để chuyển cho ngân hàng hoặc đối tượng khác. *Thu tiền hàng, nộp thuế ngay cho kho bạo Nhà nước Trong kinh doanh,vốn bằng tiền vừa được sử dụng để thanh toán các khoản nợ, để mua sắm vật tư hàng hoá, vừa là kết quả của việc mua bán hay thu hồi công nợ nên các doanh nghiệp cần xác định số vốn bằng tiền hợp lí để tạo thuận lợi cho qúa trình sản xuất kinh doanh. Mức dự trữ vốn bằng tiền trực tiếp phụ thuộc vào mức dự trữ hàng hoá. Trong doanh nghiệp hàng hoá và tiền tệ tạo thành hai dòng luân chuyển: dòng hàng hoá và dòng tiền tệ vận động theo hai chiều ngược nhau. Khi mua hàng, dòng tiền tệ đi ra khỏi doanh nghiệp đồng thời dòng hàng hoá đi vào và khi bán hàng hoá thì ngược lại. Thực tế, khi thu tiền về doanh nghiệp không dùng số tiền đó mua ngay một lượng hàng hoá tương ứng với số hàng vừa mới bán ra mà phải sau một khoảng thời gian nhất định doanh nghiệp mới mua vào một lượng hàng hoá dự trữ. Như vậy, doanh nghiệp phải dự trữ một khoản tiền nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Ngoài mức dự trữ tiền còn phụ thuộc quy mô lượng hàng hoá luân chuyển, tức quy mô kinh doanh của doanh nghiệp.Quy mô kinh doanh càng lớn thì mức dự trữ càng lớn. Trong thực tế vốn bằng tiền còn để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày của doanh nghiệp. Dự trữ tiền mà vượt quá nhu cầu tiêu dùng thì sẽ gây hiện tượng ứ đọng vốn. Số tiền thừa này nên được đưa vào kinh doanh hoặc gửi vào ngân hàng sẽ có hiệu quả hơn. Tuy nhiên, nếu dự trữ tiền quá ít sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp trong chi tiêu, đầu tư mua sắm hàng hoá, hạn chế mức lưu chyển hàng hoá. 1.1.3.3 Vốn thuộc các khoản phải thu: Vốn thuộc các khoản phải thu là biểu hiện bằng tiền của những sản phẩm hàng hoá dịch vụ mà doanh nghiệp đã cung cấp cho khách hàng và khách hàng đã chấp nhận trả nhưng chưa thu được tiền về. Số lượng các khoản phải thu tăng hay giảm chịu tác động lớn của chính sách mua hàng mà doanh nghiệp đã đề ra. Trên thực tế, để giữ được khách hàng, doanh nghiệp phải bán chịu hàng hoặc cung cấp các dịch vụ cho khách hàng trước khi họ thanh toán. Và để có nguồn hàng đảm bảo, doanh nghiệp phải ứng trước những khoản tiền cho chủ hàng. Như vậy, để tăng doanh thu bán hàng, doanh nghiệp phải mở rộng tín dụng thanh toán với bán hàng. Nhưng mở rộng tín dụng thanh toán cũng có nghĩa là doanh nghiệp phải chấp nhận sự gia tăng của các khoản phải thu, nên tuỳ vào hoàn cảnh cụ thể mà doanh nghiệp có nên sử dụng cách thức này hay không. Ngoài ra, trong thanh toán giữa các đơn vị nội bộ cũng thường nảy sinh các khoản chi hộ, trả hộ và được gọi là phải thu, phải trả nội bộ. Phải thu nội bộ cũng trở thành một bộ phận trong vốn lưu động thuộc các khoản phải thu. Trong sự cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, quy mô vốn có tính chất quyết định tới sự sống còn của doanh nghiệp. Do đó, việc chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp thường xuyên diễn ra. Chiếm dụng vốn đem lại lợi thế trong kinh doanh cho doanh nghiệp đi chiếm dụng nhưng lại gây khó khăn cho đơn vị bị chiếm dụng. Vì vậy doanh nghiệp cũng cần phải lập khoản dự phòng nợ phải thu khó đòi để bảo toàn được vốn. Dự phòng nợ phải thu khó đòi là khoản doanh nghiệp trích lập dự phòng cho số nợ có khả năng không thể đòi được để đề phòng tổn thất về các khoản nợ khó đòi có thể xảy ra. Khi các khoản nợ phải thu mà doanh nghiệp không đòi được doanh nghiệp sẽ lấy số dự phòng này bù đắp tránh được biến động không tốt tới doanh nghiệp. Khoản dự phòng này cũng nằm trong bộ phận của vốn lưu động của doanh nghiệp. 1.1.3.4.Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn: Vốn đầu tư tài chính ngắn hạn là biểu hiện bằng tiền của các tài sản doanh nghiệp đầu tư vào các tổ chức kinh tế khác với mục đích thu lợi nhuận trong khoảng thời gian ngắn thông thường là dưới một năm. Việc đầu tư có thể là việc bỏ vốn mua chứng khoán có giá hoặc là góp vốn liên doanh bằng tiền mặt hoặc hiện vật. Khi doanh nghiệp có một số vốn nào đó không sử dụng hết hoặc sử dụng không có hiệu quả bằng khả năng đầu tư tài chính ngắn hạn đem lại, doanh nghiệp sẽ tận dụng tối đa số vốn còn nhàn rỗi vào đầu tư tài chính nhằm tăng lợi nhuận. Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ đầu tư tài chính, doanh nghiệp phải xem xét một cách thoả đáng các rủi ro bất trắc có thể xảy ra và lập dự phòng nếu thấy cần thiết. Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn được lập nhằm ghi nhận trước các khoản tổn thất có thể phát sinh do những nguyên nhân khách quan. Việc lập dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn cần thiết đảm bảo cho các hoạt động đầu tư được diễn ra bình thường ở các kỳ kinh doanh tiếp theo. 1.1.3.5.Vốn thuộc các khoản tạm ứng: Khoản tạm ứng là một khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt. Người nhận tạm ứng phải là cán bộ công nhân viên tại doanh nghiệp. Khi thực hiện xong công việc được giao, doanh nghiệp và người nhận tạm ứng phải tiến hành thanh toán các khoản tạm ứng đã thực hiện. 1.3.6.Chi phí trả trước: Là khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có liên quan đến hoạt động kinh doanh của nhiều kỳ nên chưa thể tính hết được vào chi phí trong kỳ mà phải tính cho hai hay nhiều kỳ tiếp theo. Chi phí trả trước gồm: +Chi phí về thuê nhà kho, văn phòng.. phục vụ cho kinh doanh nhiều kỳ. +Chi phí phải trả về thuê dịch vụ hoặc lao vụ cho hoạt động kinh doanh. +Chi phí mua các loại bảo hiểm, lệ phí mua và được trả một lần trong năm. +Chi phí cho công cụ dụng cụ thuộc tài sản lưu động xuất dùng một lần với giá trị lớn và bản thân nó tham gia từ hai kỳ kinh doanh trở lên. +Gía trị bao bì luân chuyển, đồ dùng cho thuê. +Chi phí kinh doanh thực tế đã phát sinh trong kỳ đối với hoạt động có chu kỳ kinh doanh dài nhưng trong kỳ không có hay ít doanh thu. 1.1.3.7.Khoản thế chấp, ký cược: *Tài sản thế chấp: là số tài sản mà khi vay vốn doanh nghiệp mang tài sản của mình giao cho người cho vay cầm giữ trong thời gian vay vốn. Tài sản thế chấp có thể là vàng bạc kim khí đá quý, chứng khoán có giá hoặc các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản. Những tài sản mang thế chấp doanh nghiệp không có quyền sử dụng trong thời gian thế chấp nhưng vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp không có khả năng trả nợ thì người cho vay có quyền phát mại tài sản thế chấp để bù đắp lại số tiền đã cho vay. *Ký cược: là số tiền doanh nghiệp dùng vào đặt cược khi thực hiện thuê mượn tài sản theo yêu cầu của người cho thuê nhằm mục đích nâng cao trách nhiệm của người đi thuê và phải hoàn trả lại tài sản khi hết thời hạn cho thuê. Tiền đặt cược do bên có tài sản cho thuê quy định, có thể bằng hoặc hơn giá trị của tài sản cho thuê. *Ký quỹ: là số tiền được gửi trước để làm tin, để đảm bảo độ tin cậy giữa hai bên trong quan hệ làm đại lý hay đấu thầu..Tiền ký quỹ thông thường do bên bán hàng yêu cầu bên mua hàng hoặc nhận làm đại lý phải ký quỹ trưóc khi nhận hàng. Tiền ký quỹ sẽ ràng buộc người mua phải mua số hàng đã đăng ký hoặc trúng thầu đồng thời cũng ràng buộc người có hàng phải ràng buộc phải giành hàng theo yêu cầu của người đã ký quỹ. Đối với những người làm đại lý thì việc ký quỹ đảm bảo cho người có hàng yên tâm hơn khi giao hàng cho người làm đại lý. Cũng có trường hợp tiền ký quỹ do người mua hàng yêu cầu để đảm bảo việc cung cấp hàng hoá hay dịch vụ được thường xuyên liên tục và chính xác. Tiền ký quỹ ngoài tiền mặt ra có thể là vàng bạc đá quý, chứng từ có giá khác. 1.1.3.8.Vốn lưu động khác: Là bộ phận của vốn lưu động biểu hiện bằng tiền giá trị cuả các khoản chi sự nghiệp, chi phí chờ kết chuyển.. Thông thường vốn lưu động trong doanh nghiệp được chia thành các loại trên và ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu về vốn lưu động cũng khác nhau. Việc xem xét kết cấu vốn lưu động sẽ cho ta biết được tình hình phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn trong các giai đoạn luân chuyển từ đó xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động cho từng doanh nghiệp để tìm biện pháp tối ưu nâng cao hiệu quả của đồng vốn trong từng điều kiện cụ thể. Khi thực tế đòi hỏi phải phải thay đổi phương hướng sản xuất kinh doanh thì kết cấu vốn lưu động trong những thời kỳ khác nhau có thể thấy được những biến đổi về mặt chất lượng quản lý vốn lưu dôngj tại mỗi doanh nghiệp. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng tới kết cấu vốn lưu động, ta có thể quy thành ba loại sau: - Những nhân tố về mặt sản xuất: Các doanh nghiệp có quy mô tính chất trình độ, chu kỳ sản xuất khác nhau trình độ phức tạp của sản phẩm và những yêu cầu về nguyên vật liệu sản xuất khác nhau sẽ có sự khác nhau về tỷ trọng vốn bỏ vào khâu dự trữ và khâu sản xuất. - Những nhân tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm hàng hoá: Các doanh nghiệp hàng năm phải sử dụng nhiều loại vật tư khác nhau của các loại hàng khác nhau. Khoảng cách giữa doanh nghiệp và chủ hàng, kỳ hạn bán hàng, chủng loại số lượng và giá cả..có thể gây ra những thay đổi trong kết cấu vốn lưu động.. - Những nhân tố về mặt thanh toán: Doanh nghiệp sử dụng phương thức thanh toán hợp lý giải quyết thanh toán kịp thời thì tỷ trọng vốn bằng tiền bị ứ đọng sẽ ít đi và kết cấu vốn lưu động sẽ thay đổi. Ngoài các nhân tố nêu trên, kết cấu vốn lưu động còn tuỳ thuộc vào tính thời vụ trong kinh doanh nhất là ở những đơn vị kinh doanh có tính chất thời vụ. Tìm hiểu thành phần cũng như nghiên cứu kết cấu, nội dung vốn lưu động là rất cần thiết đối với việc sử dụng chính xác và có hiệu quả số vốn đó trong mỗi doanh nghiệp. 1.1.4.Nguồn hình thành vốn lưu động trong doanh nghiệp. Trong công tác quản lý tài chính của doanh nghiệp, các nhà quản lý phải bao quát được các nguồn hình thành vốn lưu động, thấy rõ được nội dung tính chất của các nguồn vốn lưu động có thể huy động để từ đó cân nhắc lựa chọn khai thác các nguồn vốn sao cho có hiệu quả nhất. Dưới góc độ quyền sở hữu vốn lưu động được huy động từ hai nguồn: Nguồn vốn chủ sở hữu và nguồn vốn huy động. Ta sẽ xem xét từng nguồn hình thành vốn lưu động theo cách phân loại trên: 1.1.4.1.Nguồn vốn chủ sở hữu. Nguồn vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp bỏ ra và một phần đươc hình thành từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp mà nguồn vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau. Với doanh nghiệp Nhà nước, nguồn vốn chủ sở hữu là của Nhà nước, nguồn vốn này được hình thành là do ngân sách Nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước, được hình thành từ tích luỹ ngân sách dùng chi cho phát triển kinh tế. Trong thời bao cấp, các doanh nghiệp Nhà nước xu hướng trông chờ ỷ lại, hoạt động chủ yếu dựa vào nguồn vay này nên tính năng động trong kinh doanh, khả năng sáng tạo trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn rất bị hạn chế. Trong cơ chế thị trường, Nhà nước chú trọng tới việc đổi mới cơ chế tài chính trong khu vực kinh tế quốc doanh, xu hướng chung là tiến tới cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước. Vì vậy nguồn vốn này sẽ giảm dần về số lượng và tỷ trọng. Với doanh nghiệp liên doanh, nguồn vốn chủ sở hữu là do các thành viên tham gia liên doanh đóng góp. Các thành viên tham gia liên doanh có thể là các tổ chức hay cá nhân. Đối với công ty cổ phần, chủ sở hữu là các cổ đông. Đối với các doanh nghiệp tư nhân chủ sở hữu là các cá nhân hoặc hộ gia đình. Nguồn vốn chủ sở hữu bao gồm ba bộ phận: +Nguồn vốn do các chủ đầu tư đóng góp để thành lập hay mở rộng doanh nghiệp. Để thành lập doanh nghiệp, các chủ sở hữu phải đóng góp một lượng vốn nhất định nó không được thấp hơn số vốn pháp định do Nhà nước quy định cho từng loại hình doanh nghiệp kinh doanh. Nếu bắt đầu công việc kinh doanh, doanh nghiệp có tỷ trọng vốn này trong tổng số vốn lớn sẽ được bạn hàng bỏ vốn cho vay hoặc góp vốn đầu tư. Tuy nhiên, cơ cấu vốn do các chủ đầu tư đóng góp không nên quá lớn bởi vì họ có thể sẽ phải chịu rủi ro nếu công việc kinh doanh thất bại. Do vậy, doanh nghiệp cần chủ động trong việc bổ sung từ các nguồn tài trợ khác. Nguồn vốn được bổ sung từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo quyết định của các chủ sở hữu hay của Hội đồng quản trị. Sau một kỳ kinh doanh, doanh nghiệp sẽ xác định được kết quả kinh doanh của kỳ đó. Một phần lợi nhuận ròng sau thuế được phân chia cho các đối tượng có liên quan. Với doanh nghiệp nhà nước phải thực hiện nghĩa vụ với ngân sách nhà nước về khoản vốn mà mình đã sử dụng, với các công ty liên doanh là chia lợi nhuận cho các bên tham gia liên doanh..Một phần khác được bổ sung vào vốn kinh doanh mà chủ yếu là vốn lưu động. Đây cũnglà một bộ phận của vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, phần vốn tự bổ sung cũng được xác định ở mức vừa phải để tranh thủ các khoản nợ, tăng mức doanh lợi vốn và san sẻ rủi ro trong kinh doanh. Nguồn vốn từ các khoản chênh lệch đánh giá lại tài sản, chênh lệch tỷ giá chưa xử lý và các quỹ được hình thành trong hoạt động kinh doanh. Khi có sự biến động lớn về gía cả của tài sản trong doanh nghiệp doanh nghiệp được phép đánh giá lại tài sản theo giá mới. Nếu giá mới cao hơn giá cũ thì có nghĩa là vốn của doanh nghiệp tăng lên theo giá mới của tài sản. Với doanh nghiệp có dự trữ ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ cũng ảnh hưởng tới vốn chủ sở hữu. Nếu tại thời điểm cuối kỳ tỷ giá ngoại tệ tăng so với thời điểm ghi nhận thì vốn kinh doanh tăng và ngược lại thì vốn doanh nghiệp giảm. Sau một kỳ quyết toán, thu nhập của doanh nghiệp mới được thực sự phân chia cho các đối tượng có liên quan. Trong kỳ quyết toán, vốn lưu động có thể luân chuyển được số vòng nào đó, do vậy thu lợi nhuận cũng được nhiều lần nhưng chưa phân phối, doanh nghiệp được phép tận dụng khoản chênh lệch giữa khoản thu nhập và chi phí để sử dụng như một bộ phận vốn lưu động cho các kỳ tiếp theo trong năm quyết toán. Và như vậy nó cũng được xem như một nguồn hình thành vốn lưu động. 1.1.4.2.Nguồn vốn huy động. Trong điều kiện hiện nay, ở mỗi doanh nghiệp nguồn vốn chủ sở hữu đầu tư vào vốn lưu động chỉ một lượng nhất định nào đó cho nên nó chưa đáp ứng đủ cho nhu cầu về vốn kinh doanh. Vì vậy, doanh nhiệp phải đi vay vốn và nguồn vốn vay trở thành một nguồn vốn quan trọng. Nguồn vốn huy động thực chất là các nguồn vốn vay từ các đối tượng trong và ngoài doanh nghiệp. +Huy động vốn trong doanh nghiệp: Doanh nghiệp có thể sử dụng các khoản phải nộp phải trả nhưng chưa đến kỳ phải nộp, phải trả để bù đắp cho sự thiếu hụt tức thời của vốn lưu động. +Huy động từ bên ngoài doanh nghiệp: Nguồn vốn huy động từ bên ngoài doanh nghiệp là nguồn vốn quan trọng mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động. Thông thường, vốn huy động từ bên ngoài theo các nguồn sau: -Nguồn vốn vay ngắn hạn: nguồn này được tạo ra từ việc vay mượn các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp trong khoảng thời gian ngắn, thường là dưới một năm. Nguồn vốn này gồm có: *Vay từ các ngân hàng, các tổ chức tài chính tín dụng: Doanh nghiệp có thể vay vốn từ ngân hàng và các tổ chức tài chính để bù đắp cho vốn bị thiếu. Để vay được vốn từ các đối tượng này phải có những điều kiện nhất định và phải trả lãi. Vì vậy doanh nghiệp cần có sự tính toán kỹ trước khi sử dụng nguồn vốn này. *Vay giữa các doanh nghiệp: Đây thực chất là việc chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể nhận tiền trước của khách hàng hoặc mua hàng chậm trả của các doanh nghiệp khác. Bằng những khoản trên, doanh nghiệp có thể sử dụn._.g chúng cho những nhu cầu tức thời về vốn của mình. *Vay từ thị trường vốn: Vay từ thị trường vốn chủ yếu là hoạt động phát hành trái phiếu ngắn hạn nhằm thu hút số tiền nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư để đáp ứng cho yêu cầu về vốn. Tuy nhiên, việc phát hành trái phiếu phải tuân theo những quy định của tài chính và pháp luật và không phải doanh nghiệp nào cũng có thể phát hành trái phiếu được. -Nguồn vốn liên doanh liên kết ngắn hạn. Ngoài hai nguồn vốn chủ yếu trên, vốn lưu động có thể huy động từ một số nguồn khác nữa. Việc chia vốn lưu động ra thành các loại vốn nói trên nhằm tạo khả năng doanh nghiệp xem xét và quyết định huy động nguồn vốn nào là tối ưu nhất, doanh nghiệp phải cân nhắc lựa chọn các nguồn vốn để phải trả một khoản chi phí ít nhất nhưng vẫn đáp ứng được nhu cầu vốn kinh doanh của mình. Các doanh nghiệp cần dự kiến nhu cầu đầu tư trong các kế hoạch dài hạn để có thể chủ động trong việc huy động vốn. Mặc dù Nhà nước có chủ trương cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước nhưng hiện nay việc huy động vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu và trái phiếu chưa nhiều. Ngoài việc đảm bảo vốn, việc tổ chức sử dụng vốn một cách có hiệu quả được coi là điều kiện phát triển của mỗi doanh nghiệp. Trong điều kiện kinh tế thị trường, yêu cầu rất khắt khe; sản xuất kinh doanh không phải bất cứ giá nào, không phải bán những cái mình có mà phải bán cái mà thị trường cần. Các doanh nghiệp phải sử dụng các biện pháp tăng nhanh vòng quay của vốn để tạo khả năng sinh lời cao. 1.2.Hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, doanh nghiệp có thể huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau. Các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động rất đa dạng với nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên việc huy động vốn phải tuỳ thuộc vào nhu cầu sản xuất kinh doanh, khả năng huy động vốn còn phụ thuộc vào nhu cầu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Để kinh doanh có hiệu quả thì doanh nghiệp phải sử dụng đồng bộ, hợp lý các yếu tố trong kinh doanh trong đó có vốn lưu động. Trong các doanh nghiệp thương mại vốn lưu động là rất cần thiết và hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề luôn được các doanh nghiệp quan tâm. 1.2.1.1.Khái niệm về hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Các doanh nghiệp dùng vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh và việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn này sẽ mang lại kết quả tốt cho doanh nghiệp. Vì lợi ích kinh tế đòi hỏi các doanh nghiệp bắt buộc phải sử dụng có hiệu quả vốn lưu động, do vậy hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp để đánh giá công tác sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế hiện nay ở nước ta cho thấy năng suất lao động còn thấp, đồng vốn lại bị hạn chế nên vấn đề đặt ra là phải quan tâm tới hiệu quả sử dụng vốn, tận dụng được tốt số vốn hiện có để thoả mãn ở mức độ cao nhất cho sản xuất kinh doanh. Dự trữ tài sản lưu động là nhu cầu thông thường đối với các doanh nghiệp song dự trữ như thế nào để vừa đảm bảo được nhu cầu sản xuất kinh doanh lại vừa không gây tình trạng ứ đọng vốn. Đây là điều hết sức quan trọng nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay. Chính vì vậy mà ta cần nghiên cứu về hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp thể hiện mối quan hệ giữa kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh với vốn lưu động đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ kinh doanh. Hiệu quả Kết quả sử dụng = vốn lưu động Vốn lưu động sử dụng bình quân Trong đó: +Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh được thể hiện bằng doanh thu hay lợi nhuận trong kỳ. +Vốn lưu động sử dụng bình quân là số vốn lưu động được tính bình quân trong toàn bộ kỳ kinh doanh. Đây là số vốn lưu động mà doanh nghiệp sử dụng để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ đó. Với mục tiêu là xem xét tốc độ chu chuyển vốn lưu động hay còn gọi là thời gian của một kỳ chu chuyển thì kết quả được tính bằng mức doanh thu theo giá vốn còn với mục tiêu để đánh giá mức sinh lợi của đồng vốn bỏ ra thì kết quả đó là mức lợi nhuận đạt được. Trên thực tế, khi tính toán chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn lưu động để so sánh ở những khoảng thời gian khác nhau cần phải lưu ý tới tình hình biến động về giá cả, tình hình thị trường.. Việc đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động là cần thiết bởi hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một trong những chỉ tiêu tổng hợp dùng để đánh giá chất lượng công tác sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu phức tạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình sản xuất kinh doanh như lao động, tư liệu lao động..nên có thể nói rằng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp chỉ thực sự có hiệu quả khi doanh nghiệp biết sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả. Hiện nay, khi nền kinh tế đất nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, các đơn vị kinh tế được tự chủ về mọi mặt thì vấn đề hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh sẽ thấy được chất lượng quản lý kinh doanh để từ đó vạch ra các khả năng để nâng cao hơn hiệu quả tăng lợi nhuận. Vì thế cần xem xét đánh giá hiệu quả sử dụng vốn dưới nhiều góc độ thông qua hệ thống chỉ tiêu cụ thể. 1.2.1.2.Phân biệt hiệu quả và kết quả. Hiệu quả theo cách hiểu chung nhất là chỉ tiêu chất lượng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Nếu chi phí bỏ ra ít hơn số thu vào thì có hiệu quả và ngược lại chi phí cao hơn kết quả đạt được thì là không có hiệu quả. Điều kiện hiện nay đòi hỏi các doanh nghiệp vừa phải thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước vừa phải đảm bảo kinh doanh lấy thu bù chi và có lãi. Chỉ có kinh doanh có hiệu quả doanh nghiệp mới có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế nhiêù thành phần, cạnh tranh gay gắt và quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng. Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó, thể hiện trên hai mặt: Kinh tế và xã hội, nó được coi là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng những nguồn lực sẵn có của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt được những lợi ích về mặt kinh tế. Tiêu chuẩn của hiệu quả kinh tế là tối đa hoá lợi nhuận thu được và tối thiểu hoá chi phí bỏ ra để có kết quả đó. Hiệu quả xã hội được phản ánh bằng sự đóng góp của doanh nghiệp trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân, thoả mãn nhu cầu tiêu dùng các loại hàng hoá và dịch vụ, nâng cao trình độ văn minh văn hoá của toàn xã hội. Trên thực tế, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội thông thường là thống nhất với nhau. Khi doanh nghiệp có lợi nhuận và đứng vững trên thương trường thì có nghĩa là doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả đồng thời chính những kết quả đó đã phục vụ cho nhu cầu xã hội. Như vậy, doanh nghiệp đã tạo ra hiệu quả xã hội. Tuy nhiên, cũng có thể vì để đáp ứng nhu cầu xã hội để đạt được hiệu quả xã hội mà doanh nghiệp không đạt được hiệu quả kinh tế nảy sinh ra mâu thuẫn giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Để dung hoà được vấn đề này cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển. Như vậy, hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ là hai mặt của một vấn đề trong đó hiệu quả kinh tế là yếu tố có tính chất quyết định . Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa kết quả đạt được về kinh tế và chi phí bỏ ra để thu được kết quả đó. Ta có thể khái quát công thức như sau: Kết quả Hiệu quả = Chi phí Trong đó: - Kết quả thường được đo lường bằng các chỉ tiêu như doanh thu, lợi nhuận trong kỳ. - Chi phí thường được coi là số lượng vốn đầu tư sử dụng để thu được kết quả đó. Với cách xác định này, người ta có thể đánh giá được chất lượng hoạt động của doanh nghiệp đồng thời nó còn cho phép so sánh hiệu quả giữa các năm và giữa các doanh nghiệp với nhau. Tuy nhiên, điều này đòi hỏi phải có sự nhất quán trong trong việc xác định các chỉ tiêu kinh tế đã nêu. 1.2.2 Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp. Trong doanh nghiệp, để thấy được khả năng quản lý và sử dụng vốn người ta thường xuyên tiến hành đánh giá thông qua một số chỉ tiêu. Bằng cách này, người quản lý có thể thấy được sự biến đổi từ đó xác định được các nhân tố ảnh hưởng để tìm biện pháp điều chỉnh kịp thời nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tuỳ theo mục đích của việc xem xét mà người ta sẽ sử dụng những chỉ tiêu thích hợp. Dưới đây là một số chỉ tiêu cơ bản để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động. 1.2.2.1.Hệ số vốn lưu động : Hệ số vốn lưu động thể hiện mối quan hệ giữa doanh thu đạt được trong kỳ với số vốn lưu động bình quân đầu tư vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Hệ số phục vụ vốn lưu động được xác định qua công thức sau: Hệ số Doanh thu đạt được trong kỳ vốn = lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ Trong đó: Theo quy định hiện hành ( Thông tư 76 TC/TCVN ngày 15/11/1996 ) thì doanh thu đạt được trong kỳ ( Doanh thu thuần) là phần doanh thu sau khi đã trừ đi các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá, hàng bán bị trả lại và thuế phải nộp ở khâu tiêu thụ). Vốn lưu động bình quân trong kỳ được tính theo công thức số bình quân và số liệu tính là số vốn lưu động tại các thời điểm nhất định. Hệ số phục vụ vốn lưu động cho biết một đồng vốn sử dụng trong kinh doanh sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu, hệ số này càng lớn chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại. Do doanh thu thể hiện giá trị của lượng hàng hoá dịch vụ của doanh nghiệp đã được xác định là tiêu thụ trong kỳ đồng thời doanh thu phản ánh được quy mô kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy, hệ số phục vụ vốn lưu động cho ta cái nhìn tổng quát về doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh thu chứa đựng cả phần giá vốn hàng hoá và phần chi phí kinh doanh để tiêu thụ hàng hoá nên nó chưa phản ánh hết kết quả từ hoạt động sản xuất kinh doanh. Do vậy, hệ số phục vụ vốn lưu động chưa thể là căn cứ đầy đủ để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, ta cần nghiên cứu các chỉ tiêu tiếp theo. 1.2.2.2.Hệ số sinh lợi. Hệ số sinh lợi thể hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận trong kỳ với vốn lưu động bình quân trong kỳ cuả doanh nghiệp. Hệ số sinh lợi của vốn lưu động được xác định qua công thức: Hệ số Lợi tức thuần sinh lợi = vốn lưu động Vốn lưu động bình quân Trong đó: Lợi tức thuần được xác định theo công thức: Lợi tức Doanh Gía vốn Chi phí = - - thuần thu thuần hàng bán kinh doanh Hệ số sinh lợi vốn lưu động cho ta biết được một đồng vốn lưu động doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh sẽ đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận, tức là khả năng sinh lợi vốn lưu động. Hệ số này càng cao càng chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại. Hệ số sinh lợi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn lưu động khá đầy đủ và chính xác hơn hệ số phục vụ bởi hệ số phục vụ căn cứ theo doanh thu còn hệ số sinh lợi căn cứ theo lợi nhuận, Trong khi đó, doanh thu chỉ nói lên quy mô kinh doanh nhưng không nói lên được thực chất về mặt kinh tế của kết quả đầu ra từ hoạt động kinh doanh, còn lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng bao hàm cả việc thực hiện doanh thu nhưng có doanh thu chưa chắc đã có lợi nhuận. 1.2.2.3.Hệ số bảo toàn vốn lưu động. Bảo toàn vốn có nghĩa là sau một khoảng thời gian hoạt động, vốn của doanh nghiệp không bị thiếu hụt, mất mát. Thực chất là là đảm bảo cho số vốn cuối kỳ của doanh nghiệp đủ để mua một một lượng hàng hoá tương đương với lúc đầu tư ban đầu ngay cả khi giá cả tăng lên. Bảo toàn vốn lưu động thể hiện ở khả năng mua sắm các loại tài sản của doanh nghiệp và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Hệ số bảo toàn vốn lưu động của doanh nghiệp được xác định qua công thức sau: Hệ số Vốn lưu động hiện có cuối kỳ bảo toàn = vốn lưu động Vốn lưu động phải bảo toàn đến cuối kỳ Trong đó: Vốn lưu động hiện có đến cuối kỳ là số vốn lưu động ở thời điểm cuối kỳ trên sổ kế toán sau khi đã điều chỉnh chênh lệch giá tài sản lưu động theo thời giá. Vốn lưu động phải bảo toàn đến cuối kỳ được xác định theo công thức sau: Vốn lưu động Vốn lưu động Hệ số điều Vốn lưu Vốn lưu phải bảo toàn = phải bảo toàn x chỉnh giá trị + động tăng - động giảm đến cuối kỳ lúc đầu kỳ TSCĐ trong kỳ trong kỳ. Nếu hệ số bảo toàn vốn lưu động từ 1 trở lên tức là doanh nghiệp đã bảo toàn và phát triển được vốn và ngược lại khi hệ số này nhỏ hơn 1 thì tức là doanh nghiệp đã không bảo toàn được vốn. Trong kinh doanh, việc giảm sút vốn lưu động sẽ làm thu hẹp quy mô kinh doanh gây ra cho doanh nghiệp những khó khăn nhất định. Bởi vậy, bảo toàn vốn lưu động vẫn không đánh giá được mức độ hiệu quả của việc sử dụng vốn lưu động mà chỉ đánh giá được ở mức độ tổng quát về hiệu quả của vốn lưu động mà thôi. 1.2.2.4.Hệ số thanh toán nhanh. Hệ số thanh toán nhanh thể hiện mối quan hệ giữa vốn bằng tiền và giá trị các tài sản lưu động nhanh chóng chuyển thành tiền với tổng số nợ ngắn hạn. Hệ số này được xác định bằng công thức sau: Hệ số Vốn bằng tiền + Gía trị TSLĐ có thể chuyển thành tiền thanh toán = nhanh Tổng số nợ ngắn hạn Trong đó: -Vốn bằng tiền là tổng số vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển. -Gía trị các tài sản lưu động có thể chuyển đổi thành tiền nhanh chóng là giá trị của các tài sản thuộc khoản đầu tư ngắn hạn và khoản phải thu. Tuy nhiên trong trường hợp nào đó thì khoản phải thu cũng phải mất một khoảng thời gian nào đó mới thu được nên người ta có thể tính khoản đầu tư ngắn hạn mà thôi. Hệ số thanh toán nhanh cho biết khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp, tức là khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp đối với những khoản nợ ngắn hạn. Hệ số thanh toán nhanh còn cho biết tình hình tài chính của doanh nghiệp. Nếu tình hình tài chính tốt tức là doanh nghiệp có thể đáp ứng được nhu cầu thanh toán ngay đối vơí những khoản nợ ngắn hạn. Trường hợp này tức là hệ số sẽ lớn hơn hay bằng 1. ĐIều này cho phép doanh nghiệp chủ động về vốn, nắm bắt được các cơ hội kinh doanh đảm bảo cho quá trình kinh doanh được thuận lợi. Trường hợp ngược lại tức là hệ số này nhỏ hơn 1 thì tình hình tài chính của doanh nghiệp gặp khó khăn trong thanh toán, doanh nghiệp mất đi tính chủ động trong kinh doanh và có thể mất đi những cơ hội kinh doanh. Và khi hệ số này càng tiến dần đến 0 có nghiã là doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản. Tuy nhiên, nếu hệ số này quá lớn thì cũng không được tốt bởi khi hệ số này quá lớn cũng có nghĩa doanh nghiẹep đang giữ quá nhiều tiền sẽ gây hiện tượng ứ đọng vốn và hiệu quả sử dụng đồng vốn sẽ không cao. 1.2.2.5.Tốc độ lưu chuyển vốn lưu động. Tốc độ lưu chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu biểu hiện trình độ, khả năng sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Tốc độ lưu chuyển vốn lưu động được thể hiện qua hai chỉ tiêu là: Số vòng chu chuyển vốn lưu động và số ngày lưu chuyển vốn lưu động. Số vòng chu Doanh thu trong kỳ( theo giá vốn) chuyển vốn = lưu động Vốn lưu động bình quân trong kỳ Số ngày Vốn lưu động bình quân trong kỳ chu chuyển = vốn lưu động Doanh thu theo giá vốn BQ 1 ngày Trong đó: -Số vòng chu chuyển vốn lưu động cho biết trong kỳ kinh doanh vốn lưu động quay được bao nhiêu vòng. -Số ngày chu chuyển vốn lưu động cho biết số ngày cần thiết để vốn lưu động hoàn thành một lần chu chuyển. Trong một kỳ kinh doanh, số vòng chu chuyển càng cao hay số ngày chu chuyển vốn lưu động càng ít thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động càng cao và ngược lại khi số vòng chu chuyển thấp và số ngày chu chuyển vốn lưu động nhiều thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động không cao hay nói cách khác là chưa có hiệu quả. 1.2.2.6.Hệ số vòng quay các khoản phải thu. Hệ số vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp. Hệ số này được xác định: Vòng quay Doanh thu thuần các khoản = phải thu Số dư bình quân các khoản phải thu. Trong đó: Doanh Doanh thu Thuế Các khoản thu = bán - doanh - phải thuần hàng thu thu Vòng quay các khoản phải thu càng cao càng thể hiện doanh nghiệp thu hồi nhanh các khoản nợ. Khi đó doanh nghiệp không phải đầu tư vào các khoản phải thu,vốn bị chiếm dụng của doanh nghiệp giảm. Tuy nhiên nếu hệ số này quá cao đồng nghĩa với phương thức tín dụng trong thanh toán của doanh nghiệp bị hạn chế, ảnh hưởng không tốt tới quá trình tiêu thụ làm giảm doanh thu. Trên đây là một số chỉ tiêu chủ yếu để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Ngoài ra, người ta còn tuỳ theo điều kiện cụ thể của doanh nghiệp và cũng tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà có thể sử dụng một vàI chỉ tiêu khác nữa. 1.2.3.Sự cần thiết nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề cấp bách đặt ra đối với các doanh nghiệp vì các lý do sau: Từ khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường các doanh nghiệp Nhà nước ( thành phần chủ đạo trong thời bao cấp) không được cấp vốn như trước. Nhà nước giao vốn cho các doanh nghiệp và các doanh nghiệp được giao quyền tự chủ về tài chính đồng thời phải có trách nhiệm bảo toàn và phát triển vốn. Trong khi đó, quá trình kinh doanh lại diễn biến hết sức phức tạp đòi hỏi các doanh nghiệp phải có nghệ thuật sử dụng vốn và điều hoà được việc sử dụng vốn ở từng giai đoạn và phải có biện pháp bảo toàn được vốn và sử dụng một cách có hiệu quả. Có vốn để kinh doanh nhưng chính kinh doanh đòi hỏi phải có nguồn bù đắp. Nếu như trước kia doanh nghiệp Nhà nước trông chờ vào ngân sách Nhà nước thì nay họ phải tìm kiếm những nguồn khác để bù đắp để kinh doanh được liên tục. Mặt khác, kinh doanh trong cơ chế thị trường cho phép mọi thành phần kinh tế tham gia. ĐIều này tạo ra môi trường thuận lợi cho việc tạo lập vốn phát huy đầy đủ tính chủ động sáng tạo trong việc tổ chức quản lý vốn dẫn đến việc các thành phần kinh tế cạnh tranh lẫn nhau. Vấn đề đặt ra với các doanh nghiệp là phải có biện pháp thu hút vốn, lựa chọn nguồn vốn và mức huy động từng nguồn vốn trên cơ sở tính toán và phân tích hiệu quả thì rút ngắn được thời gian chu chuyển vốn tiết kiệm đưọc một lượng vốn nhất định, giá thành sản phẩm giảm và như vậy bước đầu doanh nghiệp đã có lợi thế trong cạnh tranh. Vì vậy, để doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong nền kinh tế thị trường thì việc sử dụng vốn có hiêụ quả và không ngừng nâng cao hiệu quả dụng vốn lưu động là điều thực sự cần thiết và đã trở thành một yêu cầu bắt buộc. 1.2.4.Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Để tìm ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp, vấn đề dặt ra là phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn. Có thể coi các nhân tố sau là những nhân tố chủ yếu táo động đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp: +Cơ sở vật chất kỹ thuật: Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp là những yếu tố như hệ thống kho tàng, máy móc trang thiết bị phục vụ kinh doanh, mặt bằng kinh doanh cũng ngư khả năng tài chính của doanh nghiệp. Đây là những yếu tố căn bản tác động mạnh mẽ tới quy mô kinh doanh cũng như tới hiệu quả kinh doanh. Khi cơ sở vật chất kỹ thuật được đầu tư đúng mức, trang thiết bị tốt sẽ đẩy nhanh quá trình tiêu thụ hàng hoá, tăng lợi nhuận và có nghĩa là tăng hiệu quả sử dụng vốn. Ngược lại, khi cơ sở vật chất thỉếu thốn sẽ làm giảm hiệu quả sử dụng vốn, giảm hiệu quả kinh doanh. +Trình độ tổ chức quản lý và sử dụng vốn: Quản lý và sử dụng vốn chặt chẽ, sử dụng đúng mục đích, thực hiện tiết kiệm chi phí là điều kiện để tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Ngược lại, khi quản lý vốn lỏng lẻo, sử dụng lãng phí vốn sẽ là nguyên nhân làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Trình độ tổ chức sử dụng vốn lưu động còn thể hiện ở chỗ tổ chức nguồn hàng và dự trữ hàng hoá hợp lý. Tổ chức nguồn hàng tốt, đảm bảo về số lượng chủng loại đồng thời mức dự trữ hàng hoá hợp lý sẽ rút ngắn thời gian tồn kho của hàng hoá và làm hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng lên. Sử dụng tốt vốn lưu động cũng bao hàm cả việc đưa ra những khuyến khích về vật chất với người lao động nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công việc, lòng nhiệt tình, tính sáng tạo, điều này cũng hết sức quan trọng trong việc góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Các nhân tố trên đây là những nhân tố mang tính chủ quan, doanh nghiệp có thể tự khắc phục được nhưng đối với những nhân tố khách quan sau đây doanh nghiệp không thể mình giải quyết được mà chỉ có thể lưu ý để tránh được chúng hay giảm bớt phần nào. -Chính sách của Nhà nước: Nhà nước có chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua các chính sách, pháp luật. Chính sách của Nhà nước cũng có ảnh hưởng tới công việc kinh doanh của doanh nghiệp hay nói khác đi là nó có tác động đến hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Chính sách quản lý thị trường hợp lý sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp kinh doanh và các doanh nghiệp sẽ có điều kiện tốt hơn trong kinh doanh. Chẳng hạn, chính sách lãi suất vay của Ngân hàng Nhà nước sẽ khuyến khích hoặc hạn chế doanh nghiệp vay vốn để kinh doanh. Ngoài ra, chính sách thuế cũng một mặt là nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với Nhà nước, mặt khác nó cũng tạo môi trường kinh doanh bình đẳng không phân biệt thành phần kinh tế. -Yếu tố về sản xuất và tiêu dùng: Chu kỳ sản xuất kinh doanh, tính thời vụ của sản xuất và tiêu dùng cũng có ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển vốn lưu động. Những hàng hoá có chu kỳ sản xuất dài sẽ làm giảm tốc độ chu chuyển hàng hoá. Ví dụ như loại hàng sản xuất quanh năm nhưng tiêu dùng chỉ có tính thời vụ hay những loại hàng sản xuất có tính thời vụ nhưng tiêu dùng quanh năm. Để đảm bảo cho việc bán hàng đều đặn thì việc dự trữ phải tăng cả về quy mô và thời gian làm tốc độ chu chuyển vốn lưu động chậm lại. Ngoài ra, sự phân bố giữa nơi bán hàng và nới tiêu thụ cũng ảnh hưởng tới tốc độ chu chuyển. Nếu phân bổ này tạo điều kiện rút ngắn thời gian lưu thông hàng hoá, tăng hiệu quả sử dụng vốn. -Sức mua hàng hoá: Sức mua hàng hoá trên thị trường ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Khi sức mua giảm xuống, hàng hoá tiêu thụ sẽ bị chậm lại gây ứ đọng vốn. Ngược lại, khi sức mua tăng tốc độ lưu chuyển nhanh làm tăng được vòng quay của vốn dẫn tới việc tăng hiệu quả sử dụng vốn. Những nhân tố thuộc về chủ quan của doanh nghiệp cũng như nhân tố khách quan có tác động nhất định tới hiệu quả sử dụng vốn nhưng những nhân tố này đều không thể lượng hoá được, chúng chỉ tác động tới những chỉ tiêu có thể lượng hoá đó là: +Doanh thu: nếu doanh thu càng cao trên cùng một số vốn lưu động được doanh nghiệp đầu tư vào kinh doanh thì hiệu quả sử dụng vốn lưu động tăng. Tuy nhiên, việc tăng mức lưu chuyển hàng hoá có thể kéo theo chi phí đầu tư vào kinh doanh cũng tăng. Nếu tốc độ tăng của doanh thu nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu tư thì vẫn đảm bảo được kinh doanh là có lãi và có hiệu quả. +Chi phí đầu tư cho hoạt động kinh doanh: ở cùng một mức doanh thu, chi phí đầu tư cho hoạt động kinh doanh thấp sẽ làm tăng lợi nhuận thu được, việc tiết kiệm chi phí kinh doanh cũng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, công tác quản lý các khoản chi phí đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Nói tóm lại, doanh thu và chi phí là hai yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Việc tăng doanh thu và giảm chi phí là điều cần được quan tâm và thực hiện để nâng cao hiệu quả và chất lượng trong kinh doanh. CHƯƠNG II: THựC TRạNG HIệU QUả Sử DụNG VốN LƯu ĐộNG tại công ty Cổ phần đầu tư CÔNG TRìNH Hà Nội. 2.1.Khái quát về công ty 2.1.1.Sơ lược quá trình hình thành và phát triển Được thành lập trên cơ sở sát nhập hai đơn vị yếu kém nhất lúc bấy giờ là Xí nghiệp 418 thuộc liên hiệp Đường Sắt Việt Nam và Xí nghiệp cung ứng vật liệu xây dựng vào ngày 29/9/1992. Công ty Vật liệu Xây dựng đổi thành Công ty xây dựng công trình Hà Nội thuộc Liên Hiệp Đường Sắt Việt Nam. Công ty được thành lập theo quyết định số 606 QĐ/TCCĐ - LĐ ngày 5/4/1993 của Bộ giao thông vận tải. Khi mới bắt đầu thành lập, công ty có nhiệm vụ sản xuất tà vẹt bê tông cho ngành và kinh doanh vật liệu xây dựng. Năm 1994, được sự quan tâm của nhà nước cũng như của Liên hiệp Đường Sắt Việt Nam nay là Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, Công ty được bổ sung thêm nhiệm vụ: xây dựng các công trình giao thông, công trình dân dụng quy mô vừa và nhỏ. Đến năm 2006 công ty đẫ chuyển đổi cổ phần hóa theo quyết định số 596 của Bộ giao thông vận tải ngày 10/2/2006 đổi tên thành công ty cổ phần đầu tư công trình Hà nội. Đến nay, ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là sản xuất các cấu kiện bê tông, sản xuất và kinh doanh vật liệu xây dựng, xây dựng và cải tạo, nâng cấp các công trình giao thông, công trình dân dụng quy mô vừa và nhỏ. Tuy nhiên trong những năm gần đây, do sự phát triển không ngừng của hoạt động xây dựng và lắp đặt, để nâng cao đời sống cho cán bộ công nhân viên Công ty, ngoài việc sản xuất một số ít các sản phẩm tà vẹt bê tông cốt thép phục vụ cho ngành, ban lãnh đạo công ty quyết định chuyển hướng hoạt động, tham gia vào thị trường xây dựng sôi động, đem lại hướng làm ăn mới có lợi nhuận cao cho Công ty. Suốt hơn 10 năm qua cùng với công cuộc đổi mới mạnh mẽ, liên tục và toàn diện với những thành tựu to lớn của ngành Đường sắt, Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội cũng đã vượt lên từ một đơn vị yếu kém trở thành một đơn vị vững mạnh không ngừng trưởng thành về mọi mặt. Công trình do đơn vị thi công trải dài từ Bắc vào Nam, cả trong ngành và ngoài ngành , ở công trình nào đơn vị cũng đẩm bảo năng xuất chất lượng, tiến độ hiệu quả được các chủ đầu tư đánh giá cao . Điều đoa khẳng định việc chuyển đổi sang mô hình cổ phần hóa ở đây là hoàn toàn đúng đắn. Bí quyết thành công ở công ty là luôn phát huy tính chủ động đi trước đón đầu xu thế phát triển, chủ động huy động các nguồn vốn, duy trì hệ thống quản lý chất lượng ISO nhanh chóng làm chủ khoa học công nghệ mới chăm lo tốt đời sống việc làm cho người lao động. Thành công ở công ty là việc thực hiện thắng lợi mục tiêu đã đề ra tại Đại hội Đảng bộ công ty lần thứ VI nhiệm kỳ 2006 – 2010 Tiếp tục thực hiện phương châm phá thế độc canh đa dạng hóa sản phẩm tăng cường đầu tư áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ mới, thực hiện cổ phần hóa thành công phát huy vai trò đơn vị dẫn đầu của Tổng công ty đường sắt Việt nam . Công ty luôn duy trì được đoàn kết nội bộ ổn định sản lượng và doanh thu luôn được tăng trưởng, đời sống việc làm của người lao động được đảm bảo và ngày càng được cao. Mức độ tăng trưởng luôn đạt và vượt so với kế hoạch, việc làm và thu nhập của cán bộ công nhân trong Công ty cao, ổn định, sức cạnh tranh của Công ty ngày càng lớn đủ sức đấu thầu thi công các công trình trong cũng như ngoài ngành đường sắt. Ghi nhận sự trưởng thành vượt bậc ấy Công ty đã được Chủ Tịch Nước Trao Tặng Huân Chương Lao Động Hạng 3. Năm 2008 được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì. Gám đốc hằng năm đều được suy tôn Giám đốc giỏi, doanh nhân tiêu biểu doanh nhân văn hóa. Năm 2009 công ty đã vinh dự được nhận Cờ Thi đua xuất sắc của Thủ tướng Chính phủ. Chủ trương đổi mới của Công ty là đa dạng hoá ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm không ngừng mở rộng thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm tạo ra nhiều công ăn việc là, nâng cao đời sống cho người lao động. Từ sản xuất đơn thuần mặt hàng tà vẹt các loại cung cấp cho các tỉnh phía Bắc, thì đến nay Công ty đã thi công được nhiều công trình xây dựng lớn như cầu đường bộ, xây dựng dân dụng,... ở khắp các địa phương trong cả nước. Công ty là đơn vị đầu tiên trong ngành Đường sắt đầu tư dây chuyền công nghệ sản xuất tà vẹt bê tông dự ứng đạt tiêu chuẩn châu Âu. Tà vẹt bê tông dự ứng lực do công ty sản xuất đảm bảo nâng cấp 10 km đường sắt thống nhất khu gian Nông Sơn Trà Kiệu theo dự án của Nhật bản. Hiện công ty đang tiếp tục cung cấp tà vẹt bê tông dự ứng lực do dự án xây dựng tuyến đường sắt Yên viên – Phả lại - Hạ long – Cái lân. Thực hiện mục tiêu đổi mới an toàn và phát triển bền vững công ty thực hiện đa dạng hóa ngành nghề nâng cao chất lượng sản phẩm đẩy nhanh tiến độ hạ giá thành sản phẩm , áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001 – 2000. Do nắm bắt được nhu cầu thị trường, không ngừng đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân viên, đầu tư máy móc thiết bị , Công ty không những luôn hoàn thành nhiệm vụ nhà nước giao mà còn mở rộng thị trường hoạt động, tạo niềm tin cho các bạn hàng, nâng cao đời sống công nhân viên, góp phần không nhỏ trong sự phát triển chung của ngành, của đất nước. Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, thực hiện hạch toán kinh tế độc lập có tài khoản tại Ngân hàng, có con dấu riêng. Trụ sở Công ty đóng tại Thịnh Liệt - Hoàng Mai - Hà Nội. 2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ - Chức năng: Công ty sản xuất kinh doanh mặt hàng vật liệu xây dựng, tổng nhận thầu và nhận thầu thi công xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp và công trình giao thông theo chương trình dự án thầu xây dựng và theo hợp đồng kinh tế nhằm phục vụ có hiệu quả các công trình thi công theo đúng kỹ thuật và đúng thời gian tiến độ của các công trình: Thi công trực tiêp các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông , cho thuê máy móc , nhà xưởng, bến bãi phục vụ xây dựng. Lập các dự án đầu tư xây dựng Tổ chức sản xuất, gia công hoặc liên doanh liên kết với các đơn vị kinh tế trong và ngoài nước để sản xuất các sản phẩm về xây dựng. Thực hiện hạch toán kinh tế để đảm bảo tạo ra lợi nhuận. - Nhiệm vụ: Ký hợp đồng nhận thầu thi công thiết kế với chủ đầu tư khi đấu thầu các công trình Lập kế hoạch các dự án dự thầu về xây dựng dân dụng và dịch vụ tư vấn thiết kế theo các hợp đồng trong tiến độ thi công đảm bảo hiệu quả về thời gian và chất lượng cao nhằm đáp ứng đầy đủ điều kiện của khách hàng. Thu mua nguyên vật liệu phục vụ các dự án thầu xây dựng. Tổ chức chỉ đạo các xí nghiệp đội xây dựng thực hiện tốt các kế hoạch được giao Thực hiện đúng quy trình về kỹ thuật xây dựng đảm bảo chất lượng công trình, thực hiện đúng các quy đị._. vậy, mà nó có ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn. Khi thực hiện công việc kinh doanh, doanh nghiệp cần xác định rõ phương thức thanh toán, thời gian và địa điểm thanh toán vì nếu tổ chức tốt công tác thanh toán sẽ giúp doanh nghiệp thu hồi được nhanh vốn và tăng được vòng quay của vốn. Để có được điều đó, doanh nghiệp phải có được những chính sách hợp lý và rõ ràng nhằm thúc đẩy thanh toán như: phương thức thanh toán, hình thức thanh toán thuận lợi cho khách.. Năm là tổ chức công tác phân phối hợp lý, đáp ứng được yêu cầu hạch toán kinh tế đảm bảo được cho quá trình tái sản xuất. Công tác phân phối kết quả phải đảm bảo bù đắp được chi phí, bảo toàn và phát triển được nguồn vốn. Nếu không đảm bảo được yêu cầu này có thể dẫn tới thâm hụt vốn và gây thu hẹp quy mô kinh doanh làm cho các chu kỳ sau không thể phát huy được. Ngoài ra, doanh nghiệp phải thực hiện tốt công tác hạch toán kế toán và phân tích các hoạt động kinh tế. Tổ chức công tác hạch toán hợp lý giúp cho doanh nghiệp hạch toán chính xác chi phí và thu nhập từ đó biết được chính xác thực trạng của doanh nghiệp và đưa ra những quyết định đúng đắn, có hiệu quả. Sau mỗi kỳ kinh doanh, doanh nghiệp cần tiến hành phân tích hoạt động kinh tế để thấy được những mặt được và những thiêú xót để từ đó có những biện pháp hợp lý nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả kinh doanh nói chung và hiệu quả kinh doanh vốn lưu động nói riêng. Trên cơ sở nghiên cứu hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà nội ta thấy tầm quan trọng của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với hiệu quả tổng thể của Công ty (mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận). Để có thể nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà nội thì yêu cầu tiên quyết đó là phải đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch hoá vốn lưu động. Kế hoạch hoá vốn lưu động Hàng năm, công ty đều xây dựng kế hoạch vốn lưu động tương đối rõ ràng song vấn đề ở chỗ thiếu sự giải trình chi tiết trong nhiều khoản mục do vậy làm giảm tính thực tiễn của bản kế hoạch. Bước đầu tiên trong kế hoạch vốn lưu động là phải xác định nhu cầu vốn lưu động cho năm tiếp theo. Xác định nhu cầu vốn lưu động Trong kế hoạch của Công ty, nhu cầu vốn lưu động được xác định như sau: Công ty tính toán các chỉ giá trị sản xuất kinh doanh, doanh thu dự kiến. Những chỉ tiêu này được lập căn cứ vào bản kế hoạch sản xuất, những hợp đồng đã ký kết cho năm tới. Như vậy, các xác định những chỉ tiêu này là tương đối chính xác và hợp lý. Công ty dự kiến vòng quay vốn lưu động trong năm tới trên cơ sở hoạt động của các năm trước và triển vọng phát triển của Công ty. Để đảm bảo tính chính xác trong xác định nhu cầu vốn lưu động, Công ty nên phân công việc tính nhu cầu vốn lưu động cho từng xí nghiệp và tổng hợp lại từng xí nghiệp để xác định nhu cầu vốn lưu động cho toàn bộ Công ty. Phương pháp được sử dụng để tính nhu cầu vốn lưu động ở các xí nghiệp là phương pháp trực tiếp. Nội dung của phương pháp này là dựa vào cách phân loại vốn lưu động theo công dụng, đồng thời căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến từng khâu của quá trình sản xuất: Dự trữ vật tư sản xuất, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để tính nhu cầu vốn cho từng khâu sau đó tổng hợp sẽ được nhu cầu toàn bộ vốn lưu động trong kỳ. Xác định nhu cầu vốn lưu động cho dự trữ vật tư sản xuất Vốn lưu động trong khâu dự trữ vật tư bao gồm toàn bộ giá trị của các nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…Vì vậy để tính toán chính xác, tiết kiệm nhu cầu vốn cần phải tính toán riêng cho từng loại nguyên vật liệu chính (dùng nhiều và dùng thường xuyên), còn các nguyên vật liệu phụ (dùng ít, không thường xuyên, giá rẻ) có thể tính theo nhóm sau đó tổng hợp. Việc tính toán định mức hao phí nguyên vật liệu, mức tiêu dùng bình quân một ngày của nguyên vật liệu chính được thực hiện bởi phòng kỹ thuật, phòng vật tư. Thông qua đánh giá năng lực xây lắp của Công ty và những yêu cầu về kỹ thuật của từng công trình, phòng kỹ thuật, phòng vật tư sẽ đánh giá, ước lượng định mức tiêu hao nguyên vật liệu từ đó tính toán mức tiêu dùng bình quân một ngày của nguyên vật liệu. Số ngày dự trữ hợp lý cho loại nguyên vật liệu chính là số ngày kể từ khi doanh nghiệp bỏ tiền ra mua cho đến khi đưa vật liệu vào sản xuất. Số ngày dự trữ hợp lý bao gồm: Số ngày đi trên đường. Số ngày thu mua cách nhau (khoảng cách giữa 2 lần mua vật liệu). Số ngày kiểm nhận nhập kho vật tư. Số ngày gia công chế biến, chuẩn bị vật tư để đưa vào sản xuất. Số ngày dự trữ bảo hiểm đề phòng sự bất trắc xảy ra do những nguyên nhân khách quan không lường trước được. Số ngày dự trữ hợp lý cho nguyên vật liệu phụ thuộc rất lớn vào điều kiện xây lắp đối với từng công trình: địa điểm mua nguyên vật liệu; điều kiện giao thông, vận chuyển; điều kiện thời tiết, khí hậu… Đối với các nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, công cụ dụng cụ, phụ tùng thay thế nếu sử dụng nhiều và thường xuyên thì có thể áp dụng cách tính nhu cầu vốn lưu động dự trữ như đối với vật liệu chính. Đối với các nguyên, nhiên vật liệu phụ, phụ tùng thay thế…sử dụng không thường xuyên, giá rẻ thì có thể phân theo nhóm để tính toán Việc xác định tổng mức luân chuyển của nhóm nguyên, nhiên vật liệu phụ căn cứ vào việc ước tính khối lượng công trình cần thực hiện và mức tiêu hao của nhóm nguyên, nhiên vật liệu này. Phòng kỹ thuật, Phòng vật tư có thể căn cứ vào mức tiêu hao của kỳ trước trên cơ sở so sánh với khối lượng công trình đã thực hiện ở kỳ báo cáo với khối lượng công trình ước thực hiện trong kỳ kế hoạch. Tỷ lệ T% so với tổng mức luân chuyển vốn của nhóm nguyên, nhiên vật liệu đó phản ánh tỷ lệ dự trữ cho nhu cầu vốn đáp ứng bộ phận này. Tỷ lệ T% được tính toán dựa vào kinh nghiệm sản xuất, mức tiêu hao, tình hình cung ứng…của từng công trình cụ thể. - Xác định nhu cầu vốn lưu động cho khâu sản xuất Vốn lưu động cho khâu sản xuất gồm có: Vốn cho sản phẩm đang chế tạo (sản phẩm dở dang) và vốn cho chi phí chờ phân bổ. Mức chi phí sản xuất bình quân một ngày kỳ kế hoạch được tính bằng cách lấy tổng mức chi phí xây lắp trong kỳ chia cho số ngày trong kỳ. Hệ số công trình xây dựng dở dang là tỷ lệ phần trăm giữa giá thành bình quân của công trình đang xây dựng với giá thành xây dựng hoàn chỉnh công trình dự kiến. Xác định nhu cầu vốn lưu động cho chi phí trả trước Sau khi tính được nhu cầu vốn chi sản phẩm đang chế tạo và chi phí trả trước, tổng hợp lại sẽ được nhu cầu vốn lưu động khâu sản xuất. Xác định nhu cầu vốn lưu động khâu lưu thông Do đặc thù hoạt động xây lắp, sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ ngay, không có thời gian dự trữ, xuất vận mà vốn lưu động chỉ cần bù đắp cho độ trễ trong thanh toán. Như vậy qua mô hình rõ ràng ta thấy, để tính toán nhu cầu vốn lưu động, Công ty cần có sự phân công cụ thể nhiệm vụ tính nhu cầu vốn lưu động cho từng xí nghiệp, từng công trình lớn để đảm bảo độ chính xác trong kết quả, phù hợp với nhu cầu thực tiễn của mỗi xí nghiệp. - Tìm kiếm và lựa chọn các nguồn tài trợ cho vốn lưu động Bằng việc so sánh nhu cầu vốn lưu động bình quân cho kỳ kế hoạch với nguồn vốn lưu động hiện có, Công ty xác định được lượng vốn lưu đông thừa hoặc thiếu. Trong trường hợp số vốn lưu động thừa so với nhu cầu, doanh nghiệp cần có biện pháp tích cực để tránh tình trạng vốn bị ứ đọng, chiếm dụng. Thực tế của Công ty cho thấy lượng vốn lưu động luôn thiếu so với nhu cầu và được Công ty tài trợ từ nguồn vay Ngân hàng. Vấn đề ở đây là nguồn tài trợ cho lượng vốn lưu động thiếu hụt là quá ít, Công ty ít có sự lựa chọn chủ động và linh hoạt. Để giải quyết thực trạng này, Công ty nên trình ban giam đốc công ty đề án phát triển tín dụng ngắn hạn giữa các đơn vị thành viên thuộc công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội nhằm tận dụng sự lệch nhau về nhu cầu vốn lưu động giữa các đơn vị, tạo điều kiện cho các đơn vị thành viên này tìm kiếm được các nguồn vốn rẻ cũng như là không để xảy ra tình trạng ứ đọng vốn lưu động từ đó góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của mỗi thành viên. Công ty cần chủ động nghiên cứu hướng phát hành trái phiếu nhằm thu hút vốn dài hạn trên thị trường chứng khoán . Một nguồn vốn rất quan trọng mà Công ty cần tận dụng tối đa là các khoản tín dụng thương mại do các doanh nghiệp khác cấp cho và khoản tiền ứng trước của khách hàng cho các công trình có giá trị lớn. Đây là những nguồn có tỷ trọng tương đối lớn trong tổng nguồn vốn và có rất ưu điểm nổi bật là chi phí rẻ, tính ổn định cao. Theo dõi và có những đánh giá, điều chỉnh thường xuyên trong quá trình thực hiện Trong thực tế sản xuất của Công ty nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh, việc sử dụng vốn giữa các thời kỳ trong năm thường khác nhau. Do đó, việc đảm bảo đáp ứng nhu cầu vốn lưu động cho sản xuất kinh doanh theo thời gian trong năm là vấn đề rất quan trọng. Để đảm bảo vốn lưu động theo thời gian trong năm Công ty cần phải có sự theo dõi chặt chẽ việc thực hiện kế hoạch vốn lưu động, hàng tháng, quý xác định chính xác nhu cầu vốn từ đó có biện pháp điều chính kịp thời tránh tình trạng chủ quan, bị động. Do đặc tính linh động và chuyển hoá phức tạp của vốn lưu động, Công ty phải lập các báo cáo hàng tháng về tình hình sử dụng vốn lưu động để kịp thời nắm bắt tình hình và kiểm soát chặt chẽ chu trình luân chuyển của vốn lưu động tránh ứ đọng, thất thoát, lãng phí vốn lưu động đảm bảo hiệu quả sử dụng cao. - Thành lập bộ phận chuyên trách về định mức - đơn giá Để đảm bảo hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh Công ty cần xây dựng bộ phận chuyên trách về định mức kinh tế – kỹ thuật có tính hiệu quả và cạnh tranh cao. Định mức kinh tế – kỹ thuật phải đáp ứng những yêu cầu như sau: Xây dựng định mức kinh tế – kỹ thuật nội bộ của Công ty phải dựa trên cơ sở năng lực và trình độ thực tế của Công ty. Phải tham khảo các thông tin về định mức của các đơn vị trong cùng ngành nghề, lĩnh vực hoạt động để đảm bảo tính cạnh tranh. Đối với các định mức của Công ty cao hơn định mức tiêu chuẩn của Tổng công ty, của các đối thủ cạnh tranh thì bộ phận phụ trách định mức - đơn giá cần kết hợp với các phòng ban chức năng, các cơ sở sản xuất, các cán bộ quản lý tìm mọi biện pháp khắc phục và hiệu chỉnh lại. Định mức kinh tế – kỹ thuật của Công ty cần được đánh giá và xem xét qua mỗi năm nhằm đảm bảo tính thực tiễn và phù hợp với sự biến động của thị trường. Khi đã ban hành được định mức kinh tế – kỹ thuật khoa học, mang tính cạnh tranh cao Công ty nên thực hiện cơ chế khoán chi phí sản xuất đến từng tổ, đội nhằm tạo ra sự đơn giản trong quản lý và phát huy tính chủ động sáng tạo của từng bộ phận sản xuất. Sử dụng các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn Thị trường tài chính là một bộ phận không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường hiện đại. Tiến tới một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập với mục tiêu hiệu quả được đặt lên hàng đầu Công ty không thể không nghiên cứu và sử dụng các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn trong điều kiện một thị trường tài chính phát triển cao. Khi sử dụng các công cụ đầu tư tài chính ngắn hạn (nắm giữ các chứng khoán ngắn hạn có tính thanh khoản cao) Công ty có thể nhanh chóng huy động tiền mặt với chi phí thấp khi có nhu cầu thanh toán. Mặt khác, khi dư thừa tiền tạm thời, Công ty có thể nắm giữ những chứng khoán thanh khoản để hưởng lãi suất và cũng có thể cả cơ hội tăng giá của những chứng khoán đó. Tuy nhiên để có thể tham gia vào thị trường tài chính, thị trường tiền tệ nhằm điều tiết nguồn vốn lưu động (cụ thể là phần ngân quỹ) cần đòi hỏi phải có trình độ nhất định về lĩnh vực này. Đó là một thị trường đầy tiềm năng, hứa hẹn song cũng chứa đựng nhiều rủi ro do đó Công ty cần định hướng chiến lược nghiên cứu về lĩnh vực này, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể và có cơ chế tuyển dụng nhằm thu hút nguồn lao động mới được trang bị đầy đủ những kiến thức đó. - Sử dụng chính sách tín dụng thương mại linh hoạt Khoản phải thu của khách hàng’ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn lưu động của Công ty, điều này phản ánh tầm quan trọng của chính sách tín dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Công ty cần xây dựng bảng phân tích năng lực tín dụng của những khách hàng mà mình thường xuyên giao dịch hoặc những khách hàng tương lai sẽ giao dịch. Trên cơ sở đó đánh giá, phân loại xếp hạng tín dụng cho từng nhóm khách hàng để kiểm soát hạn mức tín dụng thương mại trong phạm vi hợp lý và nhanh chóng thu hồi khi cần thiết, đến hạn. Đối với từng khoản tín dụng được đề nghị cần được tính toán chặt chẽ giá cả để đảm bảo giá trị nhận được tương xứng với tình trạng vốn bị ứ đọng đồng thời cũng phù hợp với năng lực, nhu cầu của khách hàng. Công ty cần tìm những biện pháp hữu hiệu, kiên quyết để thu hồi những khoản tín dụng đã đến hạn và quá hạn tránh tình trạng bị chiếm dụng vốn quá lớn . Với chính sách tín dụng thương mại hợp lý, linh hoạt và chặt chẽ sẽ giúp cho Công ty gia tăng số lượng các công trình xây lắp, giá trị sản phẩm được tiêu thụ đồng thời thu hồi vốn nhanh, nâng cao tốc độ luân chuyển vốn ở khâu lưu thông. Điều này góp phần đảm bảo nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty. áp dụng các biện pháp quản lý TSLĐ khoa học Do đặc thù của ngành xây dựng là đặc điểm sản xuất gắn liền với điều kiện tự nhiên nơi sản xuất do đó việc thống nhất quản lý tài sản lưu động là một nhiệm vụ tương đối phức tạp. Do vậy, với kinh nghiệm hoạt động lâu năm trong lĩnh vực này, Công ty hoàn toàn có thể nghiên cứu các mô hình khoa học quản lý tài sản lưu động, lựa chọn mô hình phù hợp để áp dụng thống nhất trong toàn Công ty bên cạnh đó có những hệ số điều chỉnh cho phù hợp với từng địa phương theo đánh giá kinh nghiệm của Công ty. Sau khi đã lựu chọn được mô hình phù hợp, Công ty phổ biến và giao cho các xí nghiệp thực hiện và hàng tháng, quý có những báo cáo thống nhất lên cơ quan Công ty phục vụ cho công tác tổng hợp và theo dõi tổng thể trong toàn Công ty. Việc áp dụng những mô hình tương đồng sẽ tạo nên sự minh bạch trong quản lý tài sản lưu động trong toàn Công ty, đảm bảo hợp lý, hiệu quả trong việc sử dụng các tài sản lưu động tránh lãng phí, thất thoát. - Nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu động thông qua tiếp cận các công nghệ mới trong sản xuất Tiếp cận công nghệ mới là một ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển của Công ty. Rõ ràng việc tiếp cận công nghệ mới sẽ đảm bảo cho năng lực sản xuất của Công ty được tăng cao điều này đồng nghĩa với việc các công trình được xây dựng với chất lượng cao hơn, thời gian và giá thành giảm giành được sự tín nhiệm của khách hàng. Hiệu quả sản xuất nâng cao cũng có nghĩa vòng quay của vốn lưu động sẽ tăng lên hàm nghĩa sự nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Để có thể thành công trong định hướng này Công ty phải xây dựng các bước (mốc thời gian) về tiêu chuẩn công nghệ cần phải đạt được, gắn liền với nó là kế hoạch về vốn để đảm bảo tính hiện thực của kế hoạch. Công ty cần thành lập một bộ phận chuyên trách làm công tác nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất. Bộ phận này sẽ đồng thời đảm nhiệm vai trò quản lý chất lượng và giám sát thi công, kiểm tra và sử lý kịp thời những sai phạm trong quá trình thi công và thông qua công tác nghiệm thu nội bộ trước khi mời hội đồng nghiệm thu của bên A Trong cuộc chạy đua về công nghệ đòi hỏi Công ty phải nghiên cứu đánh giá năng lực sản xuất của những đối thủ cạnh tranh chính, đây là điều mà Công ty chưa thực sự làm phổ biến. Nhận thức rõ vị thế của mình là một yêu cầu cần thiết để Công ty có một chiến lược đầu tư đúng đắn, bở lẽ phải cần lượng vốn rất lớn để nắm bắt được những công nghệ, máy móc sản xuất tiên tiến. Nếu chiến lược của Công ty không hợp lý có thể gây mất cân đối trong cơ cấu vốn (Vốn cố định chiếm tỷ trọng quá lớn) gây sự lệch lạc trong hoạt động, giảm hiệu quả sản xuất nói chung và hiệu quả sử dụng vốn lưu động nói riêng. Quản lý hàng tồn kho, giảm thiểu chi phí lưu kho Việc hàng tồn kho trong năm cũng nhiều tỷ trọng tương đối cao trong tổng vốn lưu động . Lập kế hoạch cho hoạt động sản xuất kinh doanh trên cơ sở tình hình năm báo cáo, chi tiết số lượng theo từng tháng , quý. Kiểm tra chất lượng số hàng hóa nhập về. Nếu hàng kém phẩm chất thì phải đề nghị người bán đền bù thiệt hại cho công ty hoặc không nhận . Bảo quản tốt hàng tồn kho. Hàng tháng kế toán hàng hóa đối chiếu sổ sách , phát hiện số tồn động để xử lý , tìm biện pháp để giải phóng số hàng hóa tồn động để nhanh chóng thu hồi vốn. Thường xuyên theo dõi sự biến động của thị trường hàng hóa . Từ đó dự đoán và quyết định điều chỉnh kịp thời lượng hàng hóa trong kho trước sự biến động của thị trường. Đây là biện pháp rất quan trọng để bảo toàn vốn của công ty. Nâng cao năng lực quản lý tài chính thông qua công tác bồi dưỡng cán bộ Chất lượng của các quyết định quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động. Trong khi đó, năng lực của các cán bộ quản lý, cán bộ tài chính, những người trực tiếp đưa ra những quyết định tài chính, sẽ đảm bảo cho chất lượng của các quyết định này. Là một giải pháp định tính, nâng cao năng lực quản lý tài chính thông qua công tác bồi dưỡng cán bộ là vấn đề mà dường như mọi doanh nghiệp Việt Nam đều quan tâm. Thật vậy, đây là vấn đề rất thực tế và nổi cộm tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà nội, được ban giám đốc đặc biệt quan tâm. Do đặc thù hoạt động xây lắp của Công ty (xây dựng các công trình giao thông thuỷ điện) được thực hiện tại những địa bàn xa xôi do đó việc thu hút nguồn nhân viên tài chính kế toán có trình độ đến làm việc tại các xí nghiệp là rất khó khăn. Phó Giám đốc Kinh tế của Công ty đã từng đề cập trong buổi tiếp xúc với những sinh viên thực tập tại phòng tài chính – kế toán: “Công ty đang rất cần những bạn trẻ được đào tạo về chuyên ngành tài chính kế toán, có trình độ để công tác tại những xí nghiệp, nhưng chỉ sợ các bạn không chịu được khổ thôi”. Rõ ràng, câu nói của bác Phó giám đốc kinh tế công ty đã phản ánh thực trạng năng lực của các cán bộ quản lý tài chính và điều này có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại các xí nghiệp. Vậy vấn đề ở đây là Công ty làm thế nào để nâng cao năng lực của cán bộ quản lý tài chính ở các xí nghiệp. Có hai con đường để nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính: một là, Công ty đưa ra những ưu đãi trong tuyển dụng (về lương bổng, trợ cấp, về thời gian công tác…) nhằm thu hút nguồn nhân lực thực sự có chất lượng cao đảm nhiệm công tác quản lý doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng; hai là, từ đội ngũ cán bộ hiện tại (ưu thế là có kinh nghiệm làm việc lâu năm trong nghề) Công ty thường xuyên tổ chức bồi dưỡng, nâng cao năng lực làm việc (bồi dưỡng thông qua mở các đợt học tập trung, hay bằng cách cử những cán bộ giỏi chuyên môn đến làm việc tại xí nghiệp trong một thời gian nhằm hướng dẫn thông qua quá trình làm việc). Trên đây là những giải pháp được đúc rút từ thực tế nghiên cứu trong quá trình thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội. Đây là những giải pháp gắn liền với các nhân tố bên trong Công ty, do Công ty quyết định. Tuy nhiên, Công ty luôn hoạt động trong một môi trường kinh tế xã hội cụ thể và hiệu quả hoạt động nói riêng, hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty nói chung chịu sự tác động mạnh của môi trường này. Để đảm bảo cho những giải pháp có tính thực thi, đảm bảo khả năng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động của Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội em xin có những kiến nghị sau. 3.3 Một số kiến nghị Như chúng ta đều biết, vấn đề quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều mong muốn thực hiện. Qua những phân tích thực tế ở trên Em xin mạnh dạn đề xuất một số biện pháp để khắc phục những mặt còn tồn tại của công ty để công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động đạt kết quả cao hơn. - Với hàng hoá dự trữ, công cụ dụng cụ, nguyên nhiên vật liệu. Hàng hoá dự trữ cần đảm bảo độ đa dạng về chủng loại và đảm bảo về chất lượng, công cụ dụng cụ phải được tăng cường để đảm bảo yêu cầu tiện dụng và hiện đại. Công ty cần mở rộng thêm quan hệ với những bạn hàng có những sản phẩm có uy tín, chất lượng cao. Với những hàng hoá đã lỗi thời hoặc chất lượng giảm sút do tồn kho lâu ngày, công ty cần chủ động thanh lý để thu hồi vốn. Mặt khác, với cơ chế thị trường đầy năng động và cạnh tranh gay gắt giữa các thành phần kinh tế, vấn đề gia cả tăng cao như hiện nay ảnh hưởng khụng nhỏ tới các dự án thầu tồn kho hàng hóa dự trữ của Công ty phải dựa trên cơ sở điều tra, nắm chắc nhu cầu cụ thể của từng thời kỳ. Trong đó chú ý nhu cầu hàng hóa nguyên vật liệu của những hạng mục công trình trọng điểm của Nhà nước, nhu cầu hàng hóa nguyên nhiên vật liệu cho sản xuất các sản phẩm xây dựng . Cùng với nắm chắc nhu cầu thực tế cần xác định chính xác lượng hàng hóa tồn kho của Công ty và các thành phần kinh tế xã hội, khả năng cung cấp sản phẩm trong nước, số lượng quy cách chủng loại hàng hóa..trên cơ sở đó xác định lượng hàng dự trữ hợp lý để bình ổn mọi nhu cầu cung cấp cho cỏc dự ỏn thầu đem lại hiệu quả kinh doanh. Hơn nữa để duy trì nguồn hàng ổn định đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Công ty đạt hiệu quả cao cần có các biện pháp quản lý theo dõi và điều khiển dự trữ của Công ty như: áp dụng các biện pháp dự trữ tiên tiến: Đưa tin học vào để xử lý các dữ liệu đầu vào và đầu ra của Công ty, nhanh nhậy trong nắm bắt và xử lý thông tin về thị trường, vận dụng những kiến thức Marketing Thương mại tiên tiến.. Phân chia hàng hoá thành các loại khác nhau để theo dõi và điều chỉnh kịp thời. Phân bổ dự trữ hàng hoá theo mục tiêu và chiến lược kinh doanh đảm bảo cân đối giữa dự trữ hiện vật với tiền tệ, giữa các nhóm hàng và giữa các kho trung tâm với hệ thống kho nói chung của Công ty. - Với vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền của công ty đang thiếu, để quản lý tốt vốn bằng tiền công ty phải có cách thức hạch toán rõ ràng hơn để giám đốc nắm được thực trạng vốn bằng tiền hiện có của công ty. Vì thế việc quản lý vốn bằng tiền cần được quản lý trên những cơ sở sau: Tình hình kiểm tra tiền tồn quỹ phải được tiến hành hàng ngày thay vì định kỳ 2-3 ngày /1 lần, giám đốc chế độ thanh toán không dùng tiền mặt. Các khoản tiền đang chuyển cũng cần được theo dõi chi tiết để phát hiện ra nguyên nhân tiền đang chuyển bị ách tắc để có biện pháp giải quyết nhanh chóng. Ngoài các phương thức hiện nay đang áp dụng, công ty cần lưu ý một số biện pháp sau: - Công ty nên lập bảng danh sách ghi hoá đơn thu chi tiền mặt tại thời điểm và nơI nhận tiền. Với cách làm này, khi phát hiện ra có những sai lệch giữa sổ sách với thực tế công ty sẽ nhanh chóng tìm ra những sai sót để giải quyết. -Tiền mặt chỉ nên dùng cho các khoản chi tiêu nhỏ, các khoản lớn nên dùng séc. Trước khi phát hành séc thanh toán công ty cần kiểm tra số lượng và giá trị của chúng một cách kỹ càng. - Công ty cũng nên tạo ra nguyên tắc tách biệt hẳn chức năng duyệt chi với chức năng viết séc để tránh những tiêu cực có thể xảy ra. Điểm quan trọng là mức dự trữ tiền của công ty cần được nâng cao và bảo đảm ổn định để chủ động trong việc chi trả, thực hiện nghiệp vụ mua bán hàng hoá. Với công nợ phải thu. Với những khách hàng có những khoản nợ lớn với thời gian dài, công ty phải quy định một mức lãi suất gia tăng theo thời gian nợ để khách hàng tập trung trả nợ. công ty cần lập dự phòng nợ phải thu khó đòi để tránh tình trạng khủng hoảng khi khách hàng vỡ nợ. Công ty cũng nên xem xét khả năng thực hiện chiết khấu bán hàng. Các khoản tạm ứng: Khoản ứng trước cho đơn vị sửa chữa phải được thay đổi lại thành chi phí trả trước và được coi là khoản phải thu. Nếu thực hiện trả trước, công ty phải thoả thuận mức trả trước thấp nhất có thể và công ty phải có được những ưu đãi nhất định về giá cả. Về khoản phải trả nợ. Công ty không nên để số nợ 2.534.169.215 đồng là số đã đến hạn trả và khi có tiền thu về công ty lại dùng để trả nợ. Như vậy, vốn kinh doanh của công ty sẽ dần bị co hẹp lại. Công ty nên có thoả thuận để chuyển số nợ này thành nợ dài hạn để giảm sức ép trả nợ để tạo điều kiện cho việc hoạt động kinh doanh. Hàng năm, khoản lãi phải trả cho vay vốn khá nhiều mà chủ yếu là vay từ công ty Thiết bị và phụ tùng. Công ty nên có sự bàn bạc với công ty Thiết bị và phụ tùng chuyển số nợ vay này thành vốn góp liên doanh của họ và họ sẽ được hưởng lãi theo tỷ lệ vốn góp để tăng hiệu quả kinh doanh chung. Ngoài các vấn đề kể trên, công ty cần quan tâm tới thêm một số nội dung sau: Công ty cần thường xuyên đánh giá phân tích hiệu quả kinh doanh và lập kế hoạch cho kỳ kinh doanh tiếp theo. Công tác lập kế hoạch cần căn cứ vào thực tế tình hình biến động của các năm trước và dự báo biến động về nhu cầu thị trường trong các kỳ tiếp theo để có kế hoạch kinh doanh mang tính tổng hợp. Căn cứ vào kế hoạch năm công ty cũng cần xác định chỉ tiêu kế hoạch chi tiết cho từng tháng, từng quý. Trong công tác lập kế hoạch, công ty cần xác định nhu cầu cần thiết cho từng loại vốn để có kế hoạch huy động và đảm bảo cho quá trình kinh doanh được liên tục. Công ty cần thực hiện tốt công tác quản lý chi phí, hạ thấp định mức chỉ tiêu để tiết kiệm vốn, tăng lợi nhuận. Công ty cũng cần chú ý nâng cao trình độ cho mỗi cán bộ công nhân viên. Khi trình độ của cán bộ công nhân viên được nâng cao, ý thức trách nhiệm của người lao động trong công ty sẽ được nâng cao hơn và điều này cũng có nghĩa là các cá nhân sẽ hoàn thành công việc của mình một cách tốt hơn đẩy nhanh tiến độ chung toàn công ty. Công ty cần phát triển thêm hoạt động cho thuê kho chứa hàng,nhà xưởng máy xây dựng, .. vì hoạt động này tạo ra nguồn thu ổn định và có mức lợi nhuận khá cao. Ngoài ra, công ty cần phát triển thêm mặt hàng kinh doanh truyền thống của mình là sản xuất tà vẹt bê tông phục vụ nhu cầu xây dựng cơ bản và giao thông thủy lợi, xứng đáng là doanh nghiệp đầu đàn cung cấp phần lớn vật liệu xây dựng công trình xây dựng , giao thông trên khắp các tỉnh thành Biện pháp cuối cùng mà em muốn đề đạt là công ty nên hợp tác liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước để thu hút vốn công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ giúp công ty huy động được thêm vốn và nguồn lực từ bên ngoài, phát hành thêm cổ phiếu và trái phiếu hay vay vốn ngân hàng khi cần thiết giải quyết được tình trạng thiếu vốn hiện nay, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Một số kiến nghị với cơ quan nhà nước Nhà nước cần xây dựng hệ thống chỉ tiêu trung bình cho từng ngành để công ty có cơ sở chính xác cho việc đánh giá vị thế của mình, tìm ra các mặt mạnh, mặt yếu để từ đó có biện pháp thích hợp. Nhà nước cần tạo môi trường thuận lợi hoạt động kinh doanh, giảm bớt các thủ tục hành chính mở rộng cho hoạt động sản xuất kinh doanh Bộ tài chính cần có chính sách hoàn thuế kịp thời trả vốn kinh doanh cho các khoản phải thu của doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng được khấu trừ tuy chiếm tỷ trọng không cao trong các khảon phải thu của công ty nhưng nếu không được hoàn thuế kịp thời thì gây ra sự lãng phí trong khi công ty vẫn phải đi vay từ bên ngoài với lãi suất cao . Chính phủ cần đẩy mạnh phát triển thị trường tài chính, đặc biệt là thị trường tiền tệ để các doanh nghiệp đa dạng hóa đầu tư cũng như lựa chọn phương pháp huy động vốn.Với một thị trường tiền tệ phát triển, các công ty có thể đầu tư nguồn vốn tạm thời nhàn dỗi của mình một cách có hiệu quả và đồng thời dễ dàng huy động vốn khi cần thiết. Kết luận. Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt hiện nay, vốn lưu động thật sự cần thiết để một doanh nghiệp bắt đầu và duy trì hoạt động kinh doanh của mình. Muốn tồn tại và phát triền được thì mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều phải được tiến hành một cách có hiệu quả. Việc quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh nói chung, vốn lưu động nói riêng luôn là vấn đề sống còn cho mỗi doanh nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được những mục tiêu đề ra. Qua thời gian thực tập tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội, kết hợp với nghiên cứu các kiến thức đã học và tham khảo tài liệu, với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo hướng dẫn Lê Đức Lữ, các thầy cô giáo trong khoa Ngân Hàng Tài chinh cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của Ban giám đốc và các phòng ban trong công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội em đã hoàn thành công việc nghiên cứu đề tài: “ Quản lý và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội “. Nội dung nghiên cứu của đề tài đã đề cập tới một số biện pháp để nâng cao khả năng và trình độ quản lý vốn lưu động của các cán bộ quản lý trong công ty, biện pháp tăng hiệu quả sử dụng tại các bộ phận sử dụng vốn lưu động. Tuy nhiên, do thời gian thực tập ngắn, kinh nghiệm và trình độ còn những hạn chế nên những vấn đề em nêu ra chỉ ở phạm vi nhỏ, chưa bao quát được toàn bộ các hoạt động trong công tác quản lý và sử dụng vốn lưu động. Em rất mong được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn bè quan tâm và hy vọng rằng những vấn đề em nêu ra ở chuyên đề này có thể góp phần nhỏ bé trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư công trình Hà Nội. Qua đây, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân đã bồi dưỡng kiến thức cho em trong quá trình học tập tại trường. Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo Lê Đức Lữ đã tận tình chỉ dẫn, giúp đỡ em hoàn thành bài viết này. Hà Nội Ngày / /2010 Sinh viên: Nguyễn Thị Sắc TàI liệu tham khảo. 1. TàI CHíNH DOANH NGHIệP - PGS TS LƯU THị HƯƠNG 2. Bảo toàn và phát triển vốn Nguyễn Công Thiện-Phùng Thị Đoan. 3. Kiểm tra tài chính trong các doanh nghiệp. NXB Chính trị Quốc Gia. 4. Phân tích tài chính doanh nghiệp - NXB TàI CHíNH 5. Một số vấn đề tài chính, tín dụng giá cả. 6. Hoạt động tài chính trong nền kinh tế thị trường. NXB TP Hồ Chí Minh. 7.Tài chính trong các doanh nghiệp SXKD. NXB Thống kê. 8.Quản trị tài chính doanh nghiệp – NXB THốNG KÊ 9. Phân tích hoạt động kinh doanh – NXB THốNG KÊ 10. Kinh tế và tổ chức sản xuất trong doanh nghiệp NXB Thống kê. 11. quản trị doanh nghiệp NXB LAO Động xã hội 12. Kế toán quản trị - NXB Thống kê. 13. Báo cáo Tài chính của công ty năm 2007- 2008-2009. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc25505.doc