Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá và sự vận dụng quy luật giá trị trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng CNXH ở Việt Nam

Bộ Giáo dục và Đào tạo Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Khoa Kinh tế và quản lý tài nguyên, Môi truờng và Đô thị Đề án Kinh tế chính trị Đề tài: Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá và sự vận dụng quy luật giá trị trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Thầy hướng dẫn Mai Hữu Thực Sinh viên Nguyễn Thế Anh MSSV CQ480011 Hà Nội ngày 10 - 5 - 2007 Lời nói đầu Trong tất cả các nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị luôn là một quy luật có va

doc11 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1145 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá và sự vận dụng quy luật giá trị trong xây dựng kinh tế thị trường định hướng CNXH ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
i trò trung tâm và giữ vị trí vô cùng quan trọng. Nhờ có quy luật này và với sự vận dụng hiệu quả của nó, nền kinh tế của nhiều nước đã phát triển vô cùng nhanh chóng. Tiêu biểu có thể kể đến như: mỹ, Nhật , Anh, Pháp…. Đất nước Việt Nam ta hiện nay đã và đang xây dựng một nền kinh tế hàng hoá thị trường định hướng XHCN, và do vậy việc nghiên cứu quy luật này càng trở nên quan trọng. Thông qua việc nghiên cứu, không những ta hiểu rõ hơn về nó mà còn tạo điều kiện để áp dụng những lợi ích mà quy luật này đem lại, đồng thời giảm bớt những tác hại không mong muốn đối với nền kinh tế nước ta. Trong phạm vi hiểu biết của mình cùng những kiến thức đã thu lượm được trong quá trình học tập, em đã cố gắng thực hiện đề án này trong khả năng của mình tốt nhất có thể. Tuy nhiên, đề án của em không thể tránh khỏi những thiếu sót cũng như sai lầm do hạn chế về kiến thức. Nên trong quá trình đánh giá đề án, mong thầy chỉ ra những thiếu sót để em có thể tiến xa hơn trong học tập. Em xin chân thành cảm ơn! I – Quy luật giá trị và vai trò của nó trong nền sản xuất hàng hoá. 1. Quy luật giá trị Đây là quy luật của sản xuất và trao đổi hàng hoá. Quy luật này chi phối sự vận động của giá trị và lượng giá trị hàng hoá và giá cả hàng hoá trong sản xuất và lưu thông. Nội dung chủ yếu là: sản xuất và giá cả sản xuất phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hoá. Trong sản xuất, quy luật này yêu cầu người sản xuất hàng hoá phải đảm bảo sao cho thời gian lao động hao phí cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xã hội cần thiết của từng hàng hoá. Ngoài ra, nó còn yêu cầu người sản xuất phải đảm bảo sao cho tổng thời gian lao động và hao phí cá biệt phải phù hợp tổng thời gian lao động xã hội cần thiết Bên cạnh đó, trong trao đổi, đối với một hàng hoá, quy luật giá trị cho phép giá cả hàng hoá có thể thay đổi. Tức là có thể bán với giá cao hoặc thấp hơn giá trị hàng hoá nhưng bao giờ cũng phải xoay quanh trục giá trị hàng hoá. Dở dĩ như vậy là do sự cạnh tranh và tác động của quy luật cung cầu. Khi cung lớn hơn cầu, giá cả hàng hoá thường thấp hơn. Và ngược lại, khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả hàng hoá thường cao hơn. Quy luật giá trị còn yêu cầu tổng giá cả hàng hoá sau khi bán phải bằng tổng giá trị hàng hoá trong quá trình sản xuất. Có như vậy thì nền kinh tế mới cân đối, tức là sản xuất và tiêu dùng, hay cung - cầu mới cân đối. 2. Vai trò của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng hoá Điều tiết sản xuất và lưu thông thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường: Quy luật giá trị điều tiết sự sản xuất hàng hoá tức là nó quy định việc phân bố TLSX và sức lao động vào các ngành kinh tế quốc dân để lập nên những cân đối kinh tế nhất định. Nó điều tiết nột cách tự phát thông qua sự biến động giá cả trên thị trường. Tức là: Khi giá cả cao hơn giá trị, tức là cung nhỏ hơn cầu, đồng nghĩa với việc sản xuất không thoả mãn nhu cầu của tiêu dùng, do đó hàng hoá bán chạy và cho lãi cao. Vì vậy, những người sản xuất ở những ngành khác sẽ đầu tư để sản xuất trong những ngành trên. Dẫn đến việc TLSX và sức lao động sẽ được tập trung vào ngành này nhiều hơn các ngành khác. Khi giá trị cao hơn giá cả, tức là cung lớn hơn cầu, đồng nghĩa với việc sản xuất thừa, do đó hàng hoá ở những ngành trên sẽ bán không chạy và không cho lãi cao. Tất yếu sẽ khiến người làm kinh tế chuyển hướng sang các lĩnh vực khác cho lợi nhuận cao hơn. Dẫn đến việc TLSX và sức lao động sẽ ít được chuyển đến các ngành trên hơn so với các ngành khác. Kích thích sự phát triển của KH-KT nhằm tăng năng suất lao động, tối đa hoá lợi nhuận Xã hội gồm nhiều cơ sở sản xuất khác nhau cho cùng một loại hàng hoá. Chính vì vậy nên giá trị cá biệt của hàng hoá không thể giống nhau vì chúng được sản xuất trong những môi trường khác nhau. Nhưng khi đem ra trao đổi thì phải lấy giá trị xã hội làm cơ sở nên người sản xuất nào sản xuất ra sản phẩm của mình với giá rẻ hơn thì sẽ được lợi nhiều hơn. Chính vì vậy nên do tác động của cạnh tranh, người ta tìm các cách để cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất, và nhờ đó, nền sản xuất chung được thúc đẩy. Phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo Trao đổi hàng hoá trên thị trường thì phải dựa trên giá trị xã hội của hàng hoá. Do được sản xuất trong những điều kiện khác nhau nên những người, cơ sở sản xuất khác nhau sẽ thu được lợi nhuận khác nhau. Trong quá trình phát triển đi lên của nền kinh tế, sẽ dần dần làm phân hoá xã hội thành kẻ giàu người nghèo. Điều này là tất yếu chắc chắn sẽ xảy ra, dẫn đến sự nảy sinh mâu thuẫn giữa các giai cấp và có thể ngày càng gay gắt nếu như Nhà nước không làm tốt chức năng xã hội của mình. Trong thời buổi hiện nay, khi đất nước ta chấp nhận một nền kinh tế thị trường thì việc phân hoá trên không thể không tồn tại, tuy nhiên ta phải đảm bảo cho khoảng cách phân hoá đó không được quá xa. Có như vậy thì nền kinh tế của đất nước ta mới đi lên một cách bền vững. II – đặc điểm và Sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Quy luật giá trị được áp dụng cho mọi nền kinh tế. Với sự hiệu quả của nó, sẽ là rất có lợi nếu như ta vận dụng đúng lúc, đúng chỗ. Rất nhiều nền kinh tế đã phát triển nhanh chóng do sự vận dụng đúng đắn quy luật này vào thực tế. Có thể thấy rõ ở một số nước như: Mĩ, Nhật, Anh… Tuy nhiên, nước ta khi vận dụng quy luật giá trị không thể nào dập khuôn những bước đi mà các nước trên đã trải qua vì mỗi nước có một hoàn cảnh cụ thể, điều kiện phát triển rất khác nhau. Do vậy, trước khi đi đưa ra những sự vận dụng của quy luật, ta cần thấy rõ đặc điểm nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. 1. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay Là nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần với nhiều hình thức sở hữu khác nhau cùng tồn tại. Nước ta đang trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước định hướng XHCN. Sự định hướng đó không chỉ thể hiện ở thiết chế chính trị mà nó còn rõ ràng hơn khi ta nhìn vào chế độ kinh tế, mà trước hết là chế độ sở hữu. Chế độ sở hữu lại phụ thuộc vào loại hình kinh tế. mỗi loại hình kinh tế khác nhau lại có những chế độ sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau.. Với một nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ, nó vừa có những quan hệ tiền tư bản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, vừa có những quan hệ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nền kinh tế nước ta có năm thành phần chính, tương ứng với các loại hình sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau. Đó là: Kinh tế nhà nước: dựa trên hình thức sở hữu Nhà nước về tư liệu sản xuất. Kinh tế tập thể: dựa trên hình thức sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất. Kinh tế Tư bản Nhà nước: dựa trên sự sở hữu chung về tư liệu sản xuất giữa một bên là Nhà nước và một bên là tư nhân ở trong, ngoài nước hoặc cho thuê tài sản hoặc liên doanh với nước ngoài để cùng làm kinh tế. Kinh tế cá thể: dựa trên hình thức sở hữu tư nhân nhỏ về tư liệu sản xuất và lao động của bản thân gia đình. Kinh tế tư nhân: dựa trên sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất và bóc lột lao động làm thuê thông qua giá trị thặng dư. Là nền kinh tế năng động, đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với thế giới. Suốt từ năm 1975, sau khi ta thống nhất hai miền Nam Bắc, đất nước hoàn toàn độc lập, đến trước năm 1986, nền kinh tế nước ta đã gặp rất nhiều khó khăn. Một phần do chính sách kinh tế kế hoạch tập trung không còn hợp lý làm trì trệ nền kinh tế, một phần khác là do nước ta đã đóng cửa không tham gia và nền kinh tế thế giới. Nhận thức được điều đó, kể từ sau đổi mới, bắt đầu vào năm 1986 trở đi, đất nước ta đã có những chuyển biến tích cực. Nền kinh tế không còn bó hẹp trong phạm vi đất nước mà đã mở rộng ra phạm vi toàn thế giới. Việt Nam đã trở thành một thành viên tích cực trên diễn đàn kinh tế thế giới. Thể hiện ở việc ta đã tham gia vào các tổ chức kinh tế trong khu vực và rộng hơn, trên toàn thế giới. Có thể kể đến các tổ chức mà ta đã gia nhập như: ASEAN (1994), WTO (2006), … Đặc biệt là việc ta đã thành công trong việc đàm phán gia nhập tổ chức WTO và đã là một thành viên chnh thức kể từ tháng 11 năm 2006. Việc tham gia những tổ chức có phạm vi và tầm ảnh hưởng trên toàn thế giới như trên sẽ là cơ hội và điều kiện để nền kinh tế nước ta có cơ hội học hỏi và phát triển nhờ những thuận lợi và ưu đãi đuợc hưởng sau khi gia nhập. Nếu như vào năm 1975, nước ta mới chỉ là nước Nông nghiệp với Công nghiệp không phát triển, các nghành nghề còn chưa đa dạng, chủ yếu mới chỉ là kinh tế Nhà nước, tập thể thì sau hơn 30 năm phát triển, nền kinh tế nước ta đã mang một diện mạo khác. Hiện nay, nước ta là một trong những nước có nền kinh tế phát triển nhanh nhất trên thế giới với tốc độ tăng trưởng hàng năm vào khoảng 8%. Tỉ trọng Công nghiệp ngày càng tăng thể hiện những bước phát triển nhanh chóng, nghành dịch vụ cũng đang ngày càng được mở rộng về quy mô và trở nên phong phú hơn. Nông nghiệp do được áp dụng những biện pháp, kỹ thuật mới nên cho sản lượng cao hơn trước rất nhiều. Hiện nay, nước ta là nước xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới. 1. Sự vận dụng quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cho các doanh nghiệp kinh doanh tự định đoạt giá cả theo cơ chế thị trường dưới sự giám sát của Nhà nước. Trong một nền kinh tế thị trường mà quy luật giá trị đóng vai trò chi phối thì việc giá cả lên xuống là điều vô cùng bình thường. Tuy nhiên, trước khi nước ta gia nhập tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), giá cả một số mặt hàng (có thể kể đến xăng, dầu…) lại được Chính phủ quy định. Sự lên xuống của giá cả cũng do Chính phủ quyết định. Chính điều đó đã gây ra một tác động không tốt khi những công ty kinh doanh cùng một mặt hàng đó không thể thể hiện được hết khả năng cũng như tiềm lực của mình. Nhưng kể từ sau khi gia nhập WTO, để những công ty có tiềm lực và khả năng cạnh tranh tốt có cơ hội phát triển, sự bảo hộ về giá cả đó đã được dỡ bỏ. Vừa qua, vào tháng 3 năm 2007, Chính phủ đã quết định cho phép các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu được tự ý quyết định giá cả. Quyết định này là vô cùng quan trọng vì trong thời gian vài năm vừa qua, khi giá xăng dầu trên thế giới biến động không ngừng theo chiều hướng gia tăng, Chính phủ ta đã phải bù một khoản lỗ không nhỏ cho các doanh nghiệp. Giờ đây, khi giá cả được định đoạt bởi các doanh nghiệp thì sự bù lỗ trên sẽ không còn. Khi đó thì sự cạnh tranh sẽ diễn ra quyết liệt hơn và kết quả sẽ là những doanh nghiệp có khả năng tồn tại và sự yếu kém sẽ bị đào thải. Điều này là rất cần thiết khi nước ta tham gia tổ chức WTO, vốn gồm các nước có nền kinh tế phát triển với những công ty có khả năng cạnh tranh mạnh. Tuy nhiên, sự tự định đoạt giá cả đó không đồng nghĩa với sự thả nổi, để tự ý các công ty liên kết để cùng nâng giá. Vai trò của Nhà nước vẫn vô cùng quan trọng trong sự điều tiết, kiểm soát, tránh những liên minh độc quyền nhằm thao túng một mặt hàng nào đó - vốn rất nguy hiểm đối với nền kinh tế. Khuyến khích phát triển và áp dụng KH – KT vào trong sản xuất nhằm nâng cao năng suất, hạ giá thành hàng hoá. Giá bán hàng hoá trên thị trường là dựa trên giá trị xã hội của hàng hoá. Điều tất yếu là nếu ta sản xuất ra sản phẩm với giá trị thấp hơn giá trị xã hội thì sẽ càng được lợi nhiều hơn. Để giá trị của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội thì cần tăng năng suất, gắn liền với sự phát triển và ứng dụng các thành tựu KH - KT mới vào trong dây chuyền sản xuất. Nếu doanh nghiệp nào nhạy bén trong việc áp dụng thành tựu mới và sản xuất ắt sẽ có một lợi thế không nhỏ. Nắm bắt được điều đó nên việc chuyển đổi Công nghệ đã được chú ý đến nhiều hơn và diễn ra nhanh chóng hơn trong thời gian vài năm trở lại đây. Những công nghệ lạc hậu dần được thay thế, năng suất lao động xã hội tăng đáng kể làm giá thành sản phẩm có giảm, nhất là trong các mặt hàng dân dụng. Bên cạnh đó, ta cũng chú trọng đến việc thu hút đầu tư hay liên doanh với các đối tác nước ngoài, tận dụng nguồn KH - KT phát triển ở nước họ để khai thác tốt hơn những khả năng vốn có của nước nhà. Bên cạnh đó, ta không chỉ dựa vào KH-KT tiên tiến của nước ngoài mà cũng cần phát triển cho riêng mình những công nghệ riêng. Điều đó là hiển nhiên vì thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, nơi những phát minh và công nghệ có thể đáng giá hàng tỷ USD. Tất nhiên, với một nền kinh tế non trẻ như nước ta, việc sở hữu những phát minh trên là không thể vì bị hạn chế bởi nguồn tài chính eo hẹp. Chính vì vậy nên việc nghiên cứu, phát minh những công nghệ mới đang được chú trọng ở nước ta và bước đầu đã cho những kết quả khả quan. Điều đó hứa hẹn một tương lai tươi sáng cho nền kinh tế nước nhà với một nền sản xuất hiện đại, tiên tiến. Giúp Nhà nước ta thực hiện tốt vai trò điều tiết và lưu thông hàng hoá. Như đã biết, khi cung và cầu có sự chênh lệch tất sẽ dẫn đến sự điều tiết lại sức lao động và TLSX. Thể hiện ở chỗ: khi ở một nghành mà xảy ra tình trạng cung nhỏ hơn cầu sẽ thu hút được nhiều lao động và TLSX hơn tham gia sản xuất ở nghành đó và ngược lại, khi cung lớn hơn cầu thì số lượng lao động và TLSX được điều tiét vào nghành đó sẽ giảm đi. Nhưng đôi khi, sự chuyển biến về số lượng lao động và TLSX lại quá lớn ( do tâm lí của người làm kinh doanh, luôn muốn đầu tư vào những nghành, lĩnh vực cho lãi cao hơn ) vượt quá sự cân bằng về cán cân kinh tế. Điều này là không có lợi cho toàn bộ nền kinh tế bởi nó sẽ dẫn đến sự thiếu hụt về lao động và TLSX ở các nghành khác. Đến một lúc nào đó, sự vựơt quá đã nêu ở trên đã đạt đến giới hạn và lại làm cho các ngành khác nữa bị thiếu về lao động và TLSX. Lúc đó lại xảy ra sự phân bổ lại lao động và TLSX. Chính xự phân bố lại quá nhiều lần trong một thời gian ngắn có thể dẫn đến việc nền kinh tế thiếu đi sự ổn định cần thiết và có thể dẫn đến khủng hoảng. Nếu Nhà nước nắm bắt vững quy luật giá trị, có thể tiên đoán được trước một bước những biến động của nền kinh tế một cách chính xác thì có thể kịp thời lập ra những chính sách để điều tiết kinh tế kịp thời và hiệu quả hơn, tránh khỏi sự chậm trễ khi đem ra áp dụng cũng như có thời gian để xem xét những ảnh hưởng của nó để có thể sửa chữa những sai sót. Có như vậy thì nền kinh tế thị trường nước ta mới đứng vững và phát triển đi lên. 2. Đánh giá sự vận dụng quy luật ở VN hiện nay Nền kinh tế nước ta đã có những bước chuyển biến tích cực từ lúc bắt đầu thực hiện quá trình đổi mới. Với sự vận dụng đúng đắn quy luật giá trị trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ta đã thu được những thành tựu nhất định. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu đã trở thành một trong những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao nhất trên thế giới với tốc độ tăng khoảng 8% một năm. Các ngành ngày càng phong phú, bao quát toàn bộ các mặt trong nền kinh tế và quản lý với tính hiệu quả cao hơn trước rất nhiều. KH - KT đã được ứng dụng rộng rãi trong sản xuất góp phần làm tăng năng suất, giảm giá thành hàng hoá. Rất nhiều doanh nghiệp trong thời kỳ này nhờ biết cách nắm bắt thời cơ và tận dụng lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào với giá rẻ đã làm nâng cao tính cạnh tranh cho hàng hoá của nước ta trên thị trường thế giới. Nhà nước ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều tiết và giám sát, định hướng cho nền kinh tế. Nhờ vậy mà nền kinh tế nước ta hầu như không bị ảnh hưởng trước những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 của các nước ĐNA, và luôn là một trong những môi trường đầu tư an toàn nhất trên thế giới. Bên cạnh những thành tựu đạt được, cũng còn những mặt tiêu cực mà không thể tránh khỏi. Đó là mặt trái của cơ chế thị trường chịu sự tác động của quy luật giá trị. Cùng với sự làm ăn có hiệu quả của các đơn vị kinh tế, nhờ đó thu được những lợi nhuận khổng lồ, là sự giàu lên nhanh chóng của một bộ phận doanh nhân thành đạt. Trong khi gần 80% dân số nước ta là nông dân với thu nhập ở mức thấp so với thế giới, khoảng cách giàu nghèo không được thu hẹp mà còn trở nên xa hơn. Quy luật giá trị khiến cho giá cả hàng hoá có thể lên xuống chạy quanh trục giá trị thực của nó, phụ thuộc vào lựong cung - cầu. Do các loại hàng hoá có mối liên hệ với nhau nên sự lên xuống của một loại có thể kéo theo sự biến động của các mặt hàng khác. Đôi khi sự biến động này diễn ra không thật hợp lý khi gần như tất cả cùng tăng. Điều đó gây khó khăn cho người tiêu dùng trong việc chi tiêu bởi số tiền của họ không thể tự tăng số lượng và đa số người dân không có nguồn thu nhập ổn định mỗi năm (chủ yếu là người làm nghề nông). Quy luật giá trị là quy luật của mọi nền kinh té hàng hoá. Tác động của nó chi phối các hoạt động kinh tế. Nó đem lại những mặt tích cực nhưng cũng mang theo cả mặt trái của nó. Nếu như vận dụng đúng đắn quy luật này vào nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta, sẽ mang lại những ảnh hưởng có lợi thúc đẩy phát triển kinh tế. Với sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng hiện nay, với một nền kinh tế đang đi đúng hướng, tương lai trở thành một cường quốc kinh tế của nước ta không còn xa. III – Kết luận Với những phân tích nêu trên, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của quy luật giá trị trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay. Với việc vận dụng đúng đắn tác dụng có lợi của nó vào nền kinh tế sẽ mang lại những hiệu quả to lớn. Tuy nhiên, ta cũng cần có những biện pháp nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do mặt trái của quy luật mang lại. Có như vậy nền kinh tế nước ta mới dần đi vào hoàn thiện và phát triển ổn định, trở thành một nền kinh tế có sức cạnh tranh cao trên trường quốc tế. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35922.doc