Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở Giao dịch 1 - Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương (VietinBank)

MỤC LỤC DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU Bảng 1.1: Tổng vốn huy động 7 Biểu đồ 1.1: Tổng vốn huy động 7 Bảng 1.2: Cơ cấu nguồn huy động theo đối tượng 10 Biểu đồ 1.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng 2006 -2008 10 Bảng 1.3:Hoạt động tín dụng của Sở giao dịch I – Ngân hàng Công Thương 11 Bảng 1.4: Dư nợ cho vay và đầu tư đối với nền kinh tế của Sở giao dịch I 12 Biểu đồ 1.3: Tổng dư nợ cho vay và đầu tư 13 Bảng 1.5: Cơ cấu dư nợ cho vay và đầu tư 14 Bảng 1.6: Tỷ trọng lợi nhuận của Sở

doc74 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1183 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở Giao dịch 1 - Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương (VietinBank), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
giao dịch I trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Công Thương Việt Nam. 16 Bảng 1.7: Xếp hạng tín dụng nội bộ 30 Bảng 1.8: Ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội 35 Bảng 1.9: Cơ cấu tài sản - nguồn vốn 38 Bảng 1.10: Khả năng sinh lời 38 Biểu đồ 1.4: Doanh thu thuần và lợi nhuận sau thuế năm 2007 – 2008 39 Bảng 1.11: Một số chỉ tiêu tài chính 40 Bảng 1.12: Kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2009 42 Lời nói đầu Yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế là một vấn đề cấp thiết của nước ta trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay. Nhất là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới với nguyên nhân chính xuất phát từ hệ thống tài chính – ngân hàng mà cụ thể là do các khoản tín dụng rủi ro cao. Do tính chất lây lan ngày càng cao của đợt suy thoái này khiến nhiều nhà kinh tế phải nhìn lại các chính sách của mình để bảo đảm hoạt động ổn định cho nền kinh tế. Ở nước ta Nhà nước đã có nhiều chính sách thích hợp nhưng bản thân mỗi ngân hàng cần có cho mình những cách thức và lối đi riêng để có thể tồn tại và phát triển trong điều kiện hiện nay. Một trong những yếu tố quan trọng nhất chính là giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng. Và hoạt động đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng. Chính vì vậy, yêu cầu cần thiết là phải đánh giá phân tích rủi ro đối với một dự án, để đưa ra quyết định cho vay hay khước từ đối với dự án. Từ đó đưa ra một quyết định cho vay chính xác và đảm bảo thu hồi vốn cho ngân hàng. Cho nên các cán bộ ngân hàng cần đánh giá rủi ro đối với dự án một cách thận trọng và chính xác. Nhận thức rõ được điều này, em đã lựa chọn cho mình đề tài: “Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I, ngân hàng Công Thương”. Nội dung cụ thể của chuyên đề gồm 2 phần chính: Chương I: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương Chương II. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi ro đối với dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương Em xin chân thành cảm ơn PGS. TS Nguyễn Bạch Nguyệt cùng phòng Quản lý rủi ro tại Sở giao dịch I NHCT đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập giúp em hoàn thành chuyên đề này. Chương I: Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương 1.1 Tổng quan về hoạt động kinh doanh ở Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương 1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương Qua 20 năm xây dựng và trưởng thành cùng với sự phát triển đổi mới của đất nước cũng như của ngành ngân hàng, NHCTVN ngày càng lớn mạnh đồng thời khẳng định được vai trò, vị trí là một trong năm NHTM Nhà nước lớn của Việt Nam, với tổng tài sản chiếm trên 25% thị phần của Sở giữ vai trò quan trọng trụ cột của ngành ngân hàng. Cùng với hệ thống mạng lưới trải rộng toàn quốc với 2 sở giao dịch, trên 130 chi nhánh và 700 điểm giao dịch, có quan hệ đại lý với hơn 600 ngân hàng lớn trên toàn thế giới. NHCTVN có 3 công ty hạch toán độc lập và là công ty cho thuê tài chính, Công ty TNHH Chứng khoán, Công ty Quản lý Nợ và Khai thác Tài sản và 2 đơn vị sự nghiệp đó là trung tâm công nghệ thông tin và Trung tâm Công Nghệ Thông tin, trung tâm đào tạo, là sáng lập viên và đối tác liên doanh của Ngân Hàng INDOVINA, công ty cho thuê tài chính quốc tế (VILC), công ty liên doanh bảo hiểm châu Á, Sài Gòn công thương Ngân Hàng, NHCT còn là thành viên của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Hiệp hội ngân hàng Châu Á, Hiệp hội phát hành và thanh toán thẻ VISA, MASTER, Hiệp hội tài chính viễn thông Liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT). Sở Giao Dịch I Ngân hàng Công Thương Việt Nam (Industrial and Commercial Bank of Việt Nam – Transantion Office No 1) được thành lập vào ngày 30/3/1995 theo QĐ (CTHĐQT). Đây là đơn vị lớn nhất của Ngân hàng Công Thương Việt Nam, trụ sở đặt tại số 10 Lê Lai, Hoàn Kiếm, Hà Nội là đơn vị hạch toán phụ thuộc và là nơi thí điểm để cung cấp các dịch vụ mơí của Ngân hàng Công Thương. Lịch sử phát triển của Sở giao dịch I – Ngân hàng Công Thương có thể được phân chia thành 3 giai đoạn chủ yếu như sau: Từ năm 1988 đến 1/4/1993 Sở giao dịch I có tên gọi là Ngân hàng Công Thương Hà Nội. Trong giai đoạn này, cơ sở vật chất kĩ thuật của ngân hàng còn nghèo nàn, sản phẩm dịch vụ đơn điệu, kinh doanh đối ngoại chưa được phát triển. Đội ngũ cán bộ được đào tạo trong cơ chế cũ, đông về số lượng nhưng lại yếu về chất lượng. Còn về quy mô thì hoạt động của Sở còn rất khiêm tốn. Từ 1/4/1993 đến 31/12/1998 Sở giao dịch I sát nhập với Ngân hàng Công Thương Trung Ương được đặt tên là Hội sở chính Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Ở giai đoạn này, cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ của Hội sở được tăng cường, sản phẩm dịch vụ ngân hàng khá phong phú, ngoài cho vay ngắn, trung và dài hạn vốn tại Sở có nhiều loại cho mới ra đời như: Cho vay uỷ thác, cho vay thanh toán công nợ, đồng tài trợ…Kinh doanh đối ngoại đã phát triển mạnh hơn. Đội ngũ cán bộ được đào tạo lại và dần dần thích ứng với hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường. Từ 1/1/1999 đến nay Hội sở được tách ra theo quyết định số 134/QĐ HĐQT Việt Nam và mang tên Sở Giao Dịch I phát triển mạnh trên tất cả các mặt nghiệp vụ. Sở đã áp dụng giao dịch tức thời trên máy tính tại tất cả các điểm huy động vốn, mở rộng mạng lưới kinh doanh, phát triển các dịch vụ mới. Ngày 20/10/2003 Chủ tịch HĐQT NHCTVN đã ban hành quyết định số 153/QĐ – HĐQT về mô hình tổ chức mới của Sở giao dịch I như là một trong những đơn vị thí điểm NHCT trong đó nguồn vốn luồn chiếm khoảng 20%,đủ điều kiện áp dụng chương trình theo dự án hiện đại hoá ngân hàng và công nghệ thanh toán do ngân hàng thế giới (WB) tài trợ. Vị trí của Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam Trong những năm qua, Sở giao dịch I – NHCT đã có vị trí quan trọng trong hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Các chỉ tiêu kinh tế cơ bản luôn chiếm khoảng 20%, dư nợ và đầu tư được đánh giá là đứng một trong hai vị trí đầu trong hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Lợi nhuận hạch toán nội bộ luôn cao nhất, chiếm gần 50% trong toàn hệ thống. Chính vì những lý do trên Sở luôn được chọn làm nơi thí điểm cho sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Công Thương Việt Nam, là đầu mối cho các chi nhánh trên địa bàn để triển khai chương trình hợp tác của Ngân hàng Công Thương Việt Nam với các đối tác và bạn hàng. 1.1. 2 Cơ cấu tổ chức 1.1.2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức Giám đốc Phó Giám đốc 1 Phó Giám đốc Phó Giám đốc Phó Giám đốc Phòng khách hàng số1. Phòng khách hàng số 2. Phòng thông tin điện toán. Phòng quản lý rủi ro. Phòng thanh toán xuất nhập khẩu. Phòng kế toán giao dịch. Phòng kế toán tài chính. Phòng khách hàng tư nhân. Phòng tổng hợp. Phòng tiền tệ kho quỹ. 1.1.2.2. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các phòng ban Sở giao dịch Ngân hàng Công Thương Việt Nam có cơ cấu bao gồm 1 Giám đốc, 4 phó giám đốc và 11 phòng ban nghiệp vụ thực hiện chức năng nhiệm vụ do Tổng Giám đốc Ngân hàng Công Thương Việt Nam giao cho đơn vị. P Phòng khách hàng số 1 (Doanh nghiệp lớn) Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh nghiệp lớn, để khai thác vốn bằng VNĐ & ngoại tê; thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phù hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Trực tiếp quảng cáo bằng tiếp thị, giới thiệu và bán sản phẩm dịch vụ cho các doanh nghiệp lớn/ P Phòng khách hàng số 2(Doanh nghiệp vừa và nhỏ) Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N), để khai thác vốn bằng VND $ ngoại tệ, thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phủ hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN. Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các DNV&N. P Phòng khách hàng cá nhân Là phòng nghiệp vụ trực tiếp giao dịch với khách hàng là các cá nhân, để khai thác vốn bằng VNĐ & ngoại tệ; Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tín dụng, quản lý các sản phẩm tín dụng phủ hợp với chế độ, thể lệ hiện hành và hướng dẫn của NHCT VN Trực tiếp quảng cáo, tiếp thị, giới thiệu và bán các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng cá nhân. P Phòng quản lý rủi ro Phòng quản lý rủi ro có nhiệm vụ tham mưu cho giám đốc chi nhánh về công tác quản lý rủi ro và quản lý nợ xấu, nợ đã xử lý rủi ro; Quản lý giám sát thực hiện danh mục cho vay, đầu tư đảm bảo tuân thủ các giới hạn tín dụng cho từng khách hàng. Thẩm định hoặc tái thẩm định khách hàng, dự án, phương án đề nghị cấp tín dụng. Thực hiện chức năng đánh giá, quản lý rủi ro trong toàn bộ các hoạt động ngân hàng theo quy chỉ đạo của NHCT VN. Là đầu mối khai thác và xử lý tài sản bảo đảm tiền vay theo quy định của nhà nước. P Phòng kế toán giao dịch Là phòng nghiệp vụ thực hiện các giao dịch trực tiếp với khách hàng; Các nghiệp vụ và các công việc liên quan đến công tác quản lý tài chính, chi tiêu nội bộ tại chi nhánh; cung cấp các dịch vụ ngân hàng liên quan đến nghiệp vụ thanh toán, xử lý hạch toán các giao dịch. Quản lý kho tiền và quỹ tiền mặt đến từng giao dịch viên theo đúng quy định của Nhà nước và NHCT VN. Thực hiện nhiệm vụ tư vẫn cho khách hàng về sử dụng các sản phẩm ngân hàng. P Phòng kế toán tài chính Phòng kế toán tài chính là phòng nghiệp vụ giúp cho giám đốc thực hiện công tác quản lý tài chính và thực hiện nghiệp vụ chi tiêu nội bộ tại chi nhánh theo đúng quy định của Nhà nước và của Ngân hàng Công Thương. P Phòng thanh toán xuất nhập khẩu Là phòng nghiệp vụ tổ chức thực hiện nghiệp vụ về thanh toán xuất nhập khẩu và kinh doanh nghiệp tệ tại chi nhánh theo quy định của NHCT VN. P Phòng tiền tệ kho quỹ Là phòng nghiệp vụ quản lý an toàn kho quỹ, quản lý quỹ tiền mặt theo quy định của NHNN và NHCT VN, ứng và thu tiền cho các Quỹ tiết kiệm, các Điểm giao dịch trong và ngoài quầy, thu chi tiền mặt cho các doanh nghiệp có thu, chi tiền mặt lớn. P Phòng thông tin điện toán: Là phòng thực hiện công tác quản lý, duy trì hệ thống thông tin điện toán tại chi nhánh. Bảo trì bảo dưỡng máy tính đảm bảo thông suốt hoạt động của hệ thống mạng, máy tính của chi nhánh. P Phòng tổng hợp: Là phòng nghiệp vụ tham mưu cho Giám đốc chi nhánh dự kiến kế hoạch kinh doanh, tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh, thực hiện báo cáo hoạt động hàng năm của chi nhánh. 1.1.3 Tổng quan về hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương 1.1.3.1 Tình hình huy động vốn Nhận thức được tầm quan trọng của công tác huy động vốn nên trong những năm qua, chính vì vậy Sở giao dịch I đặc biệt chú trọng mở rộng phạm vi huy động. Cùng với cơ chế lãi suất linh hoạt và nhiều hình thức khuyến khích, cũng như những hình thức ưu đãi đặc biệt, việc chú trọng đổi mới về phong cách phục vụ khách hàng, chú trọng quan tâm chăm sóc khách hàng có nguồn tiền gửi lớn chủ động phục vụ khách hàng có nguồn tiền gửi lớn, đồng thời chủ động phục vụ khách hàng tại đơn vị nhất là các đơn vị cá nhân có doanh số hoạt động lớn. Phát huy thế mạnh truyền thống của mình, trong những năm gần đây công tác huy động vốn của Sở giao dịch I vẫn duy trì và phát triển về nguồn vốn, và là đơn vị có nguồn vốn huy động lớn nhất trong toàn hệ thống NHCT VN. Ngoài việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu vốn cho hoạt động đầu tư và cho vay, thanh toán, Sở giao dịch I còn đóng một vai trò quan trọng trọng trong việc điều chuyển một khối lượng vốn lớn về quỹ điều hoà của NHCT VN. Kết quả huy động vốn tại SGD I trong những năm gần đây được phản ánh qua bảng số liệu sau: Bảng 1.1: Tổng vốn huy động (đơn vị: tỷ đồng) Năm 2006 T11/ 2007 T12/ 2008 Tổng vốn huy động - VND -Ngoại tệ (quy đổi VND) 17.448 14.953 2.495 16.718 13.713 3.005 17.940 14.865 3.075 Tăng trưởng (%) 8,57 -1,04 3.9 (Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2006,2007,2008 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam) Biểu đồ 1.1: Tổng vốn huy động Trong 3 năm 2006-2008, tổng vốn huy động của SGD I luôn duy trì ở mức tăng trưởng khá (>17.000 tỷ đồng). Với kết quả đó, hàng năm, SGD I đã góp phần điều chuyển một khối lượng vốn lớn khoảng 10.000 tỉ đồng về quỹ điều hoà vốn tại Hội sở chính NHCT VN. Năm 2006, huy động vốn của SGD I gặp nhiều khó khăn do các ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động cũng như có sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường. Trong khi lãi suất bình quân đầu vào trong năm tăng lên và bằng 0.13% do các doanh nghiệp có nguồn tiền gửi lớn để thực hiện gửi tiền có kỳ hạn theo lãi suất của hình thức đấu thầu cạnh tranh. Bên cạnh đó SGD I đã triển khai nhiều biện pháp để thu hút vốn như tổ chức các chương trình khuyến mại, chương trình rút thăm trúng thưởng, cũng như các chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng cùng với những chính sách lãi suất do đó hấp dẫn cho người gửi như gửi tiền có kì hạn với lãi suất bậc tháng linh hoạt theo số tiền và kì hạn gửi nhằm mục đích giữ vững và tăng cường được nguồn vốn huy động. Đặc biệt nhất, trong dịp cuối năm 2006, SGD I đã có chính sách linh hoạt mở đợt phát hành kỳ phiếu 7 tháng và 13 tháng và đã thu hút được một khối lượng lớn vốn nhàn rỗi của nhân dân. Kết quả năm 2006 tổng vốn huy động đạt ở mức khá cao là 17.448 tỷ đồng, tăng 1.377 tỷ đồng, tương đương với tốc độ tăng 8,5% so với năm 2005. Theo số liệu tổng kết của SGD I thì kết quả nguồn vốn huy động đến ngày 31/12/2007 đạt giá trị 16.718 tỷ đồng, so với năm trước thì tình hình huy động vốn của SGD I đã giảm 730 tỷ đồng và đạt 95% kế hoạch. Nguyên nhân của kết quả này chủ yếu là do nguồn huy động từ các tổ chức tín dụng và các tổ chức khác giảm đi đáng kể. Tuy nhiên huy động vốn đạt 16.718 tỷ đồng cũng là một con số không nhỏ, không phải bất kỳ ngân hàng nào trong nước cũng đạt được và từ đó phần nào đã đánh giá được hiệu quả huy động của SGD I trong thời gian qua. Nguồn vốn huy động của SGD I năm 2007 được đánh giá là chiếm tỷ trọng trên 11% trên tổng nguồn vốn của toàn hệ thống NHCT đồng thời chiếm 5% thị phần huy động của các ngân hàng trên địa bàn Hà Nội. Năm 2008 được đánh dấu là một năm có những biến động kinh tế toàn cầu, lãi suất ngân hàng trên thị trường biến đổi khôn lường. Các DN gần như đang kiệt sức vì thiếu vốn, ngân hàng đang khó khăn với nguồn vốn lãi suất cao đang lớn lên, khiến các doanh nghiệp, cá nhân phải tính toán kỹ lưỡng khi vay vốn, do vậy đã có rất nhiều ngân hàng vừa và nhỏ thi nhau phá sản. Đứng trước tình hình đó, ngày 11/10, Ngân hàng Công Thương Việt Nam (vietinbank) đã công bố điều chỉnh giảm lãi suất cho vay với mức giảm lên tới 1,3%/năm, lãi suất cho vay VND ngắn hạn sẽ được vietinbank điều chỉnh từ 19,5%/năm xuống còn 18,2%/năm. Đối với các khách hàng có uy tín trong quan hệ tín dụng với vietinbank, khách hàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ trọn gói của vietinbank đang kinh doanh trong các lĩnh vực quan trọng có thể được xem xét áp dụng mức lãi suất bằng hoặc thấp hơn mức ưu đãi của các ngân hàng khác (17,5%/năm). Khách hàng truyền thống có sử dụng dịch vụ trọn gói của vietinbank hưởng lãi suất chiết khấu USD thấp nhất là 7%/năm. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu lâm vào khủng hoảng dây chuyền, các nền kinh tế lớn đều suy thoái; trong nước, chỉ số giá cả tăng bình quân 22,9%, thị trường chứng khoán và bất động sản suy giảm lớn về giá trị và tính thanh khoản, với khả năng quản trị nhạy bén, kiểm soát phòng ngừa tốt rủi ro, cùng với những chính sách kịp thời hiệu quả này, đồng thời với sự nỗ lực cố gắng của toàn thể nhân viên, năm 2008 Sở giao dịch I đã cơ bản hoàn thành những mục tiêu, nhiệm vụ lớn đề ra từ đầu năm: phát triển an toàn, hiệu quả, bền vững. Đem lại lợi nhuận cao hơn năm trước và đạt được kế hoạch đề ra (17.940 tỷ) Qua đó, SGD I tiếp tục khẳng định vị trí dẫn đầu trong toàn hệ thống, góp phần quan trọng vào việc cân đối nguồn vốn chung để thanh toán, cho vay và đầu tư trên phạm vi cả nước. Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn trong công tác huy động vốn trên địa bàn, Sở giao dịch I đã chủ động khai thác các hình thức huy động phong phú như: phát hành kỳ phiếu nội, ngoại tệ với nhiều kỳ hạn, các hình thức tiết kiệm, tiền gửi… từ mọi thành phần trong nền kinh tế, nên đã thu hút được số lượng đông đảo khách hàng. Bảng 1.2: Cơ cấu nguồn huy động theo đối tượng (đơn vị: tỷ đồng) Năm 2006 T11/2007 T12/2008 Tổng vốn huy động 17.448 16.718 17.940 Tiền gửi doanh nghiệp - Tỷ trọng (%) 9.859 56,5 12.735 76,2 7.377 41 Tiền gửi dân cư - Tỷ trọng (%) 3.370 19,3 3.144 18,8 2.994 16.7 Tiền gửi khác - Tỷ trọng (%) 4.219 24,2 571 5 7.569 42.2 (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2006, 2007, 2008 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam) Biểu đồ 1.2: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo đối tượng 2006 -2008 Như vậy, qua số liệu trên ta thấy: Thứ nhất, Sở giao dịch I huy động vốn chủ yếu từ tiền gửi của doanh nghiệp. Trong 3 năm, tỷ trọng của nguồn này luôn là lớn nhất. Tuy nhiên, đây lại là một nguồn không ổn định do có kỳ hạn ngắn và doanh nghiệp có thể rút vốn bất cứ lúc nào mà không phải báo trước với ngân hàng. Đây là một bất lợi cho hoạt động kinh doanh của Sở. Thứ hai, tỷ trọng nguồn vốn từ tiền gửi doanh nghiệp có xu hướng giảm dần. Xu hướng này cho thấy Sở giao dịch I trong những năm qua đã có những cố gắng từ đó nhằm nâng cao chất lượng huy động vốn, không quá phụ thuộc vào một nguồn duy nhất là tiền gửi của doanh nghiệp. 1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn Cùng với hoạt động huy động vốn, hoạt động tín dụng cũng là một hoạt động hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại hiện nay. Các hình thức tín dụng Sở cung cấp cho khách hàng gồm có: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung – dài hạn. Ngoài việc cho vay trực tiếp từ ngân hàng, Sở giao dịch I còn kết hợp với các ngân hàng khác trên địa bàn cấp tín dụng dưới dạng đồng tài trợ, làm đa dạng hình thức sử dụng vốn đồng thời mang them thu nhập cho Sở. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, Sở giao dịch I đã đơn giản hoá thủ tục cho vay từ đó nhằm tạo sự nhanh chóng, thuận tiện cho khách hàng nhưng vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chí theo những quy định đã đưa ra. Bảng 1.3:Hoạt động tín dụng của Sở giao dịch I – Ngân hàng Công Thương Đơn vị: Tỷ đồng 2006 2007 2008 Chỉ tiêu VNĐ Ngoại tệ quy VNĐ Tổng số VNĐ Ngoại tệ quy VNĐ Tổng số VNĐ Ngoại tệ quy VNĐ Tổng số I.Tổng dư nợ cho vay và đầu tư 3.618 880 4.499 3.205 1.154 4.359 3.023 1.520 4.543 T.đó: cho vay 1.906 870 2.776 1.958 1.142 3.101 2.369 1.512 3.882 A/ Phân theo thời hạn T.đó: - Ngắn hạn 653 242 895 722 286 1.008 1.009 581 11.591 - Trung và dài hạn 1.253 628 1.881 1.236 857 2.093 1.502 930.399 2.290 B/ Phân theo TPKT - Kinh tế quốc doanh 2.081 2.341 2.983 -Kinh tế ngoài Qdoanh 695 760 899 C/Chất lượng tín dụng - Dư nợ trong hạn 2.774,5 3.101 3.882 - Dư nợ quá hạn 1,5 0 0 Trong đó: + KTQD + KTNQD D/ Chỉ tiêu hiệu quả - Tổng doanh số cho vay 6.960 7.380 7.435 - Tổng doanh số thu nợ 6.971 7.056 7.394 Bảng 1.4: Dư nợ cho vay và đầu tư đối với nền kinh tế của Sở giao dịch I Đơn vị: tỷ đồng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tổng vốn huy động 17.448 16.718 17.940 Tổng dư nợ cho vay và đầu tư 2.777 3.100,7 3.882 Tỷ lệ Tổng dư nợ /Tổng vốn huy động 16% 18,55% 21.6% (Nguồn: báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2005, 2006, 2007 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam) Biểu đồ 1.3: Tổng dư nợ cho vay và đầu tư Tổng dư nợ cho vay và đầu tư năm 2006 không cao, bởi lẽ năm 2006 là năm tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp được đẩy mạnh, đã có nhiều doanh nghiệp sau khi cổ phần hoá hoạt động kinh doanh có hiệu quả, tận dụng vốn tự có để kinh doanh không đi vay vốn ngân hàng. Năm 2007và năm 2008 dù có rất nhiều biến động kinh tế nói chung nhưng dư nợ cho vay và đầu tư tăng lên đáng kể. Có được điều đó vì gần đây Sở giao dịch I phát huy thế mạnh và bề dày kinh nghiệm hoạt động của mình và đã tiếp tục đẩy mạnh cho vay nhiều dự án lớn của các tập đoàn kinh tế (như tập đoàn VINASAT của tập đoàn BCVT, tập đoàn điện lực Việt Nam, dự án đổi mới đấu thầu của Tổng công ty Đường Sắt VN…) do đó năm 2008 đã hoàn thành kế hoạch được giao là tăng trưởng tín dụng trong khoảng từ 10-15%. Phát huy thế mạnh và bề dày kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh của mình, SGD I đã tiếp tục đẩy mạnh cho vay nhiều dự án lớn của các Tập đoàn kinh tế. Bảng 1.5: Cơ cấu dư nợ cho vay và đầu tư Đơn vị: tỷ đồng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Tổng Dư nợ Trong đó: 2.777 3.100,7 3.882 - Dư nợ VND Tỷ trọng(%) 1.906,7 68,7 1.958 63 2.370 61 - Dư nợ ngoại tệ Tỷ trọng(%) 870,3 31,3 1.142,7 37 1.512 39 Tổng (%) 100 100 100 (Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh năm 2006, 2007, 2008 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam) Từ hai bảng trên có thể thấy rằng: - Sở giao dịch I chủ yếu cho vay bằng nội tệ, tuy nhiên cho vay bằng ngoại tệ vẫn chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu dư nợ của Sở giao dịch I, và đang có xu hướng ngày càng gia tăng. - Vốn huy động của ngân hàng chưa được sử dụng có hiệu quả tối đa. Tỷ lệ Dư nợ/ Tổng vốn huy động trong 3 năm đều không vượt quá 20%. Lý giải cho vấn đề này là do tỷ trọng tiền gửi doanh nghiệp trong tổng vốn huy động của Sở giao dịch I chiếm tỷ trọng lớn, mà đây là một nguồn không thích hợp để cho vay của ngân hàng như đã nói ở trên. Đây cũng chính là một vấn đề mà Sở giao dịch I cần quan tâm xem xét để từ đó có thể đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập của thời buổi kinh tế thị trường hiện nay. 1.1.3.3 Tình hình hoạt động cung cấp các sản phẩm dịch vụ khác của Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam Xác định mục tiêu đẩy mạnh các sản phẩm dịch vụ là hướng đi tất yếu phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế, và là nhiệm vụ xuyên suốt trong chiến lược kinh doanh của mình, Sở giao dịch I đã có những bước chuẩn bị cần thiết từ việc đào tạo cán bộ đến việc nghiên cứu, triển khai các sản phẩm dịch vụ ngày càng mới mẻ. Đến nay, ngoài những sản phẩm dịch vụ truyền thống, Sở đã triển khai đa dạng các sản phẩm dịch vụ như: dịch vụ cho thuê két sắt, kiều hối, dịch vụ du học trọn gói, dịch vụ điện tử qua mạng Internet, mở rộng dịch vụ thẻ ATM, thẻ tín dụng quốc tế, giải ngân các dự án… Doanh số hoạt động thanh toán năm 2008 đạt 775.000 tỷ đồng, tăng 2,8 lần so với năm 2002 (kể từ khi bắt đầu hiện đại hoá), bình quân hàng năm tăng 19%. Doanh số thanh toán xuất - nhập khẩu năm 2008 đạt 312 triệu USD, tăng 3,6 lần so với năm 2002, bình quân hàng năm tăng 26%. Hoạt động kinh doanh thẻ đạt tốc độ tăng lớn và liên tục được gia tăng thêm nhiều tiện ích. Đến nay, Sở giao dịch I đã phát hành được gần 35.000 thẻ E-partner và thẻ tín dụng quốc tế. Đã có 47 doanh nghiệp thực hiện chi trả lương cán bộ công nhân viên qua thẻ E-partner, có 21 đơn vị chấp nhận thẻ và quản lý 15 máy ATM. 1.1.3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh Phát huy thế mạnh truyền thống của mình, trong những năm qua, Sở giao dịch I vẫn luôn là đơn vị dẫn đầu trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Trong 3 năm 2006 và 2007,2008 lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của Sở đã đóng góp một phần không nhỏ trong lợi nhuận hợp nhất của toàn bộ hệ thống Ngân hàng Công Thương Việt Nam. Trong năm 2007 lợi nhuận của Sở đạt 331.5 tỷ đồng vượt 18.4% so với kế hoạch đặt ra. Đến năm 2008, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng NHCTVN vẫn phát huy được sức mạnh, cũng như trí tuệ tập thể, từ đó đóng góp cho sự thành công của toàn ngành. Theo đánh giá của toàn ngành, NHCTVN là ngân hàng tích cực trong việc thực hiện chính sách kiềm chế lạm phát cũng như chống suy giảm kinh tế của Chính phủ. Kết quả này đã thể hiện sự nỗ lực lớn của SGD I trong việc khắc phục khó khăn để giữ vững sự phát triển ổn định, theo đó tiếp tục là đơn vị đạt thành tích xuất sắc, góp phần vào kết quả kinh doanh chung của toàn hệ thống NHCT Việt Nam những năm qua. Bảng 1.6: Tỷ trọng lợi nhuận của Sở giao dịch I trong toàn bộ hệ thống ngân hàng Công Thương Việt Nam. Đơn vị: triệu đồng Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Lợi nhuận của Sở giao dịch I 343.055 331.500 394,319 Lợi nhuận trước thuế toàn hệ thống NHCT VN 599.639 Tỷ trọng (%) 57 (Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh năm 2006, 2007,2008 Sở giao dịch I – NHCT Việt Nam và báo cáo thường niên năm 2007 – Ngân hàng Công Thương Việt Nam) 1.2 Thực trạng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương Hà nội 1.2.1 Sự cần thiết phải đánh giá rủi ro Trong nền kinh tế thị trường, rủi ro trong kinh doanh là nhân tố không thể tránh khỏi, trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng vậy, rủi ro thường có phản ứng dây chuyền, lây lan và nó càng nó ngày càng có biểu hiện phức tạp hơn. Mặt khác, rủi ro cũng là một đại lượng rất khó xác định, không thể triệt tiêu hoàn toàn, vì vậy chúng ta phải biết cách phát hiện, phân tích, tính toán rủi ro từ đó đưa ra quyết định phù hợp để hạn chế rủi ro, cũng như hạn chế những ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh của con người. Như chúng ta biết, dòng đời của dự án thường rất dài từ vài năm đến vài chục năm. Trong quá trình đưa ra quyết định đầu tư, hay trong quá trình lập dự án doanh nghiệp thường đưa ra các số liệu giả định, dựa vào những số liệu đó để đưa ra quyết định hay giải pháp của mình. Những số liệu này, thường không thể biết trước được, và những tình huống xảy ra trong tương lai thì không thể lường trước được. Chính vì vậy, tron quá trình lập dự án thì dự án rất khả thi có thể chuyển sáng bước tiếp theo, nhưng khi thực hiện thì dự án lại gặp rất nhiều khó khăn, vốn càng lớn rủi ro càng nhiều và đôi khi doanh nghiệp phải chấm dứt việc đưa dự án vào hoạt động trước thời hạn. Bởi vậy, không những các doanh nghiệp phải hứng chịu hậu quả mà đến lượt các ngân hàng – là các tổ chức cho doanh nghiệp vay vốn cũng phải chịu một khoản chi phí nhất định. Từ những điều trên cho thấy, công tác thẩm định dự án là một khâu không thể thiếu khi ngân hàng quyết định cho vay vốn đối với một dự án đầu tư. Ngân hàng cần xem xét mọi phương diện, tính toán đầy đủ các rủi ro có thể xảy ra của dự án xin vay vốn, từ đó xác định tính khả thi của dự án từ đó đưa ra quyết định phòng chống rủi ro – trong trường hợp chấp nhận cho doanh nghiệp vay và khước từ dự án – trong trường hợp không chấp nhận cho vay. Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương luôn nhận biết rõ rằng để không ngừng phát triển và nâng cao vị thế của mình, công tác thẩm định dự án đầu tư nói chung và thẩm định rủi ro nói riêng là một khâu vô cùng quan trọng. Bởi lẽ, nếu việc đánh giá rủi ro một cách toàn diện chính xác, đưa ra quyết định cho vay và khước từ hợp lý, ngân hàng sẽ thu được lợi nhuận từ việc cho vay cũng như tránh được những rủi ro không mong muốn khi cho vay đối với những dự án không có khả thi. Ngược lại, nếu quyết định cho vay là sai lầm, do sự nhận diện đánh giá rủi ro không cẩn thận và toàn diện sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng cũng như làm giảm kết quả hoạt động kinh doanh và uy tín của ngân hàng. Xác định rõ điều này, Sở giao dịch I luôn thấy rõ được tầm quan trọng của công tác nhận diện và đánh giá rủi ro. Và phương châm của Sở giao dịch I để ra là: "Kinh doanh ngân hàng bền vững không đơn thuần chỉ là để tránh những rủi ro về môi trường và xã hội, hay để bảo vệ danh mục đầu tư của mình, kinh doanh ngân hàng bền vững còn có nghĩa là phát hiện, nhận biết các cơ hội kinh doanh và thị trường mới, cũng như biết biến các cơ hội thành lợi nhuận. Những ngân hàng thông minh thường có sẵn chiến lược phòng tránh các rủi ro". 1.2.2 Phương pháp đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn của Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương sử dụng kết hợp rất nhiều phương pháp để đánh giá rủi ro đối với dự án xin vay vốn tại Ngân Hàng. Trong đó được khái quát thành hai loại: phương pháp định tính & phương pháp định lượng 1.2.2.1 Phương pháp định tính Đối với phương pháp định tính Sở giao dịch I sử dụng để đánh giá đối với những rủi ro mà ngân hàng khó lượng hoá được ví dụ: rủi ro cơ chế chính sách, rủi ro thị trường, thu thập, thanh toán, rủi ro kinh tế vĩ mô…Ngân hàng sử dụng phương pháp này kết hợp với các số liệu có liên quan từ đó xác định rủi ro của dự án có khả năng xảy ra, từ đó đưa ra quyết định có cho vay đối với dự án đó không? Cán bộ thẩm định sẽ đưa ra các câu hỏi nhằm xác định dự án có những rủi ro nào, những rủi ro đó có khắc phục được hay không? nếu có thì dự án đã có phương án đưa ra khắc phục rủi ro đó chưa? P Rủi ro cơ chế, chính sách Những rủi ro này được bao gồm những bất ổn về tài chính, bất ổn về chính trị: Hạn chế trong việc chuyển tiền ra nước ngoài, sắc thuế nào gây thiệt hại cho nhà đầu tư, những cam kết trước đây đối với nhà đầu tư bị xoá bỏ, việc quốc hữu hoá…Trong phân tích rủi ro đối với dự án tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương cán bộ thẩm định đi xem xét một số vấn đề như: Các cơ chế, chính sách về ngành nghề hay lĩnh vực mà dự án hoạt động có bất ổn không? Nếu như có sự thay đổi thì chiều hướng thay đổi sẽ ảnh hưởng thế nào đối với dự án? Cũng như những chính sách về hạn ngạch, thuế quan, các giới hạn về thương mại…có ảnh hưởng đến dự án hay không? Những thay đổi về quản lý và tuyển dụng lao động như những thay đổi về mức lương tối thiểu, chính sách đối với lao động nữ, hạn chế về lao động nước ngoài…Xem xét những chính sách này có ảnh hưởng đến dự án như thế nào, liệu nó có gây nên những tác động xấu đối với dự án hay không? Ngoài ra các cán bộ thẩm định còn đưa ra và trả lời các câu hỏi như: chủ đầu tư có những rủi ro bất khả kháng do chính phủ không?, hay chủ đầu tư có những bảo lãnh về cung cấp ngoại hối hay hỗ trợ/bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để từ đó hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới dự án không? Tuỳ thuộc vào từng dự án cụ thể thuộc các ngành khác nhau mà cán bộ thẩm định có mức độ xem xét hay thẩm định đối với các khía cạnh của từng dự án là khác nhau. Hầu hết lại phụ thuộc vào trình độ và trực quan của cán bộ thẩm định như: Đối với các dự án mà liên quan đến vấn đề quy hoạch hoặc vấn đề về các di tích lịch sử…cán bộ thẩm định tại Sở sẽ đi xem xét thẩm định sẽ xem xét vùng định quy ho._.ạch đối với dự án ra sao? dự án nếu khả thi có vi phạm luật di sản hay không?... Đối với những dự án liên quan đến sản xuất xuất khẩu như tôm, thuỷ sản, hàng dệt may, đồ gỗ xuất khẩu…cán bộ thẩm định sẽ đi xem xét đầu vào dự án liên quan đến hạn ngạch như thế nào, thuế quan hoặc các giới hạn thương mại khác…Hay đối với những dự án sử dụng nhiều lao động như dệt may, chế biến…cán bộ thẩm định sẽ tính đến những thay đổi về quản lý và tuyển dụng lao động, những quy định về mức lương tối thiểu, chính sách đối với người lao động… Mặt khác, tuỳ vào những dự án cụ thể với những điều kiện khác nhau cán bộ thẩm định tại Sở cũng quan tâm đến các rủi ro khác như chính sách thuế sẽ có những ảnh hưởng như thế nào đối với dòng tiền của dự án, chính sách lãi suất của chính phủ hoặc sự độc quyền trong kinh doanh của nhà nước trong một số quy định liên quan đến kiểm soát chất thải, quy trình sản xuất nhằm bảo vệ cộng đồng có làm tăng chi phí của dự án hay không? P Rủi ro thị trường thu thập thanh toán Đối với những rủi ro này, cán bộ thẩm định tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương đi xem xét những vấn đề sau: Dự án đã đi phân tích thị trường một cách chi tiết chưa? Những dự kiến về cung cầu của dự án đã đi sát với thực tế hay chưa? Sản phẩm của dự án có phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hay có được thị trường chấp nhận hay không? Về mẫu mã, bao bì của sản phẩm có phù hợp và tiện ích đối với người tiêu dùng? Xem xét xem trên thị trường có sản phẩm nào cùng loại cạnh tranh với sản phẩm của dự án không? Nếu có thì sức ép cạnh tranh là nhiều hay ít, và ảnh hưởng đến dòng tiền của dự án đến mức nào? Công suất sử dụng trong dự án có hợp lý không? Có đáp ứng cầu trên thị trường dự kiến đối với sản phẩm hay không? Và những biện pháp đưa ra để khắc phục hiện tượng thiếu hụt cung của sản phẩm? Cán bộ thẩm định sẽ xem xét xem dự án có các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với bên có khả năng về tài chính hay không? Ngoài ra, cán bộ thẩm định còn xem xét, cơ cấu sản phẩm của dự án sẽ linh hoạt đến mức nào trước sự biến động của tình hình thị trường? P Rủi ro về cung cấp Đối với loại rủi ro này, cán bộ thẩm định Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương sẽ xem xét đánh giá Giá cả nguyên vật liệu của dự án sẽ thay đổi như thế nào? Nếu giá cả nguyên vật liệu thay đổi thì nó sẽ ảnh hưởng như thế nào đến dự án, cụ thể là đối với các chỉ tiêu tài chính? Số lượng, hay chất lượng của nguyên vật liệu cung cấp có đảm bảo hay không? Trong báo cáo nguyên vật liệu đầu vào của dự án, cán bộ thẩm định phải xem xét xem đã có các nghiên cứu, đánh giá các báo cáo về chất lượng, trữ lượng nguyên vật liệu đầu vào trong hồ sơ dự án đã cẩn thận và chính xác hay chưa? Nếu không đảm bảo yêu cầu thì sẽ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của dự án như thế nào? Ngoài ra cán bộ thẩm định còn xem xét sự cạnh tranh về nguồn cung cấp vật tư trên thị trường, hay thời gian và số lượng nguyên vật liệu mua vào đã linh hoạt chưa? P Rủi ro về kinh tế vĩ mô Đối với loại rủi ro này, cán bộ thẩm định tại Sở sẽ xác định: Các rủi ro trong điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản như: lạm phát, tỷ giá hối đoái… Dự án có sự cam kết của nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối hay không? 1.2.2.2. Phương pháp định lượng Là phương pháp cụ thể hoá rủi ro thành số đo, trên cơ sở đó đánh giá mức rủi ro và từ đó đưa ra biện pháp hạn chế rủi ro có thể xảy ra. Phương pháp này được thực hiện qua việc khảo sát những ảnh hưởng của sự thay đổi một số nhân tố đồng thời ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính và khả năng trả nợ của dự án đang xem xét. Phương pháp này được thực hiện qua các bước sau: + B1: Xác định các số liệu đầu vào và các dữ liệu đầu ra cần tính độ nhạy. + B2: Liên kết dữ liệu đã nhập trong bảng tính có liên quan đến mỗi biến theo một điều kiện nhất định. + B3: Xác định các chỉ số đánh giá hiệu quả của dự án, khả năng trả nợ như NPV, IR… cần khảo sát sự ảnh hưởng các biến thay đổi. + B4: Lập bảng tính toán độ nhạy trong trường hợp của một biến thay đổi hay xét đồng thời cả hai biến thay đổi. Từ đó đánh giá, kết luận đưa ra giải pháp thực hiện nhằm khắc phục rủi ro. 1.2.2.3. Phương pháp thẩm định theo trình tự Là phương pháp Sở giao dịch I thực hiện thẩm định rủi ro theo một trình tự từ chi tiết đến tổng hợp. Từ đó những kết luận sau được dựa trên những kết luận trước đó, và sau đó đưa ra kết luận cuối cùng có nên cho vay vốn đối với dự án hay không? Trong đó: Thẩm định chi tiết: Cán bộ thẩm định từng khía cạnh của dự án chỉ ra rủi ro có thể xảy ra cho dự án. Thẩm định tổng hợp: Sau khi thẩm định chi tiết, cán bộ thẩm định sẽ tổng hợp lại rủi ro của dự án đã được xác định. Từ đó, đánh giá một lần nữa để đảm bảo tính chính xác cũng như rà soát lại để đảm bảo xác định đẩy đủ hơn các rủi ro có thể xảy ra. 1.2.3. Quy trình đánh giá rủi ro Quy trình: Sở tiếp nhận hồ sơ từ khách hàng => Đánh giá rủi ro của chủ đầu tư => Đánh giá rủi ro từ dự án đầu tư => Đánh giá rủi ro của biện pháp bảo đảm tiền vay => Cấp tờ trình => Báo cáo trưởng phòng nghiệp vụ => Trình duyệt hồ sơ và nêu ra phương án cho vay. 1.2.4. Nội dung đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương. P Rủi ro về chủ đầu tư Nguồn lực pháp lý của chủ đầu tư Khách hàng không có đủ hồ sơ chứng minh năng lực pháp lý theo quy định pháp luật hiện hành Năng lực quản lý điều hành chủ đầu tư : + Ngành nghề lĩnh vực kinh doanh: Rủi ro sai khác giữa ngành nghề ghi trong đăng ký kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp hoặc không phù hợp với dự án dự kiến đầu tư, ngành nghề không phù hợp với xu hướng phát triển của ngành. + Mô hình tổ chức bố trí lao động: rủi ro quy mô, cơ cấu tổ chức bộ may hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp, rủi ro trong trình độ quản lý. + Quản trị điều hành của lãnh đạo Doanh nghiệp: Rủi ro khi trình độ chuyên môn năng lực lãnh đạo doanh nghiệp không cao, không nhạy bén. - Năng lực tài chính chủ đầu tư: rủi ro này thể hiện qua các chỉ tiêu như: tổng tài sản/nguồn vốn, cơ cấu vốn, khả năng huy động vốn, khả năng tự chủ về tài chính… P Rủi ro dự án Rủi ro về thị trường của dự án: + Nội địa: Có thể gặp phải sự trùng hợp về hình thức, mẫu mã, chất lượng hoặc không phù hợp nhu cầu thị hiếu người tiêu dùng, giá cả sản phẩm không phù hợp, không thu hút được khách hàng. + Nước ngoài:Rủi ro như vi phạm tiêu chuẩn xuất khẩu, hay chất lượng mẫu mã thua kém nước ngoài, giá cả không cạnh tranh được… Rủi ro về khả năng cung ứng yếu tố đầu vào + Chủ động được nguồn nguyên liệu hay không? Khó khăn đi kèm với việc chủ động nguồn nguyên liệu… Rủi ro về kỹ thuật: + Địa điểm xây dụng, quy mô sản xuất, công nghệ, thiết bị, máy móc + Địa điểm có thuận lợi giao thông và nguồn cung cấp không? Yêu cầu kỹ thuật, ty nghề sản phẩm như thế nào?... Rủi ro về tổng vốn đầu tư, cơ cấu nguồn vốn, tính khả thi của nguồn vốn, rủi ro về hiệu quả tài chính dự án và độ nhạy của dự án P Rủi ro cho vay Rủi ro không thu đủ nợ khoản vay Ngân hàng mất vốn Ngân hàng không sử dụng luồn thanh toán. 1.2.5. Tập hợp các loại rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định dự án xin vay vốn và phương pháp phòng ngừa rủi ro P Rủi ro đầu tư: Một dự án đầu tư, từ khâu chuẩn bị đầu tư đến thực hiện đầu tư và đi vào sản xuất có thể xẩy ra nhiều loại rủi ro khác nhau (do nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan), việc tính toán khả năng tài chính của dự án như đã giới thiệu ở trên chỉ đúng trong trường hợp dự án không bị ảnh hưởng bởi một loạt các rủi ro có thể xảy ra. Vì vậy, việc đánh giá, phân tích, cũng như dự đoán các rủi ro có thể xẩy ra là điều rất quan trọng nhằm tăng tính khả thi của phương án tính toán dự kiến cũng như chủ động và có biện pháp phòng ngừa, giảm thiểu. Dưới đây là phân loại một số rủi ro chủ yếu bao gồm: Rủi ro về cơ chế chính sách Rủi ro xây dựng, hoàn tất Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán Rủi ro về cung cấp các yếu tố đầu vào . Rủi ro kỹ thuật và vận hành. Rủi ro môi trường và xã hội. Rủi ro kinh tế vĩ mô, tỷ giá .... Các biện pháp giảm thiểu rủi ro Mỗi loại rủi ro trên đều có các biện pháp giảm thiểu riêng, những biện pháp này có thể do Chủ đầu tư phải thực hiện - đối với những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh, trách nhiệm của Chủ đầu tư; hoặc có thể do Ngân hàng phối hợp với Chủ đầu tư cùng thực hiện - đối với những vấn đề mà Ngân hàng có thể trực tiếp thực hiện hoặc có thể yêu cầu, can thiệp. Tuỳ theo từng dự án cụ thể với những đặc điểm khác nhau đó mà Cán bộ quan hệ khách hàng/quản lý rủi ro cần tập trung phân tích đánh giá cũng như đưa ra các điều kiện đi kèm với việc cho vay để hạn chế rủi ro, đảm bảo khả năng an toàn vốn vay, từ đó Sở giao dịch I có thể xem xét khả năng tham gia cho vay để đầu tư dự án. Sau đây là một số biện pháp cơ bản có thể áp dụng để giảm thiểu rủi ro cho từng loại rủi ro nêu trên. * Đối với rủi ro về cơ chế chính sách: Rủi ro này được xem bao gồm tất cả những bất ổn tài chính và chính sách của nơi/địa điểm xây dựng dự án, bao gồm: các sắc thuế mới, hạn chế về chuyển tiền, về quốc hữu hoá, tư hữu hóa hay các luật, nghị quyết, nghị định và các chế tài khác có liên quan tới dòng tiền của dự án. Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách: Khi thẩm định dự án, cán bộ thẩm định cần phải xem xét mức độ tuân thủ của dự án (thể hiện trong hồ sơ dự án) để đảm bảo chấp hành nghiêm ngặt các luật và qui định hiện hành có liên quan tới dự án. Chủ đầu tư nên có những hợp đồng ưu đãi riêng để qui định về vấn đề này (bất khả kháng do Chính phủ, ...). Những bảo lãnh cụ thể về cung cấp ngoại hối sẽ góp phần hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực tới dự án. Hỗ trợ và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu. ... * Rủi ro xây dựng, hoàn tất: Đó là vấn đề hoàn tất dự án không đúng thời hạn, không phù hợp với các thông số cũng như tiêu chuẩn thực hiện. Loại rủi ro này nằm ngoài khả năng điều chỉnh, kiểm soát của Sở giao dịch I, tuy nhiên có thể giảm thiểu bằng cách đề xuất với chủ đầu tư thực hiện các biện pháp như sau: Lựa chọn các nhà thầu xây dựng uy tín, có sức mạnh tài chính và kinh nghiệm. Việc lựa chọn này càng chặt chẽ, minh bạch, và khách quan sẽ góp phần làm giảm thiểu những rủi ro loại này. Thực hiện nghiêm túc việc bảo lãnh thực hiện hợp đồng cũng như bảo hành chất lượng công trình. Giám sát chặt chẽ trong quá trình thi công xây dựng công trình. Hỗ trợ của các cấp có thẩm quyền, dự phòng về tài chính của khách hàng trong trường hợp vượt dự toán đề ra. Qui định rõ trách nhiệm vấn đề đền bù và giải toả mặt bằng. Hợp đồng giá cố định hoặc chìa khóa trao tay với sự phân chia rõ ràng nghĩa vụ của các bên. * Rủi ro thị trường, thu nhập, thanh toán: Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách: Nghiên cứu thị trường, đánh giá phân tích thị trường, thị phần cẩn thận. Dự kiến Cung - Cầu thận trọng (không nên có những dự báo quá lạc quan). Phân tích về khả năng thanh toán, thiện ý, đồng thời xem xét hành vi của người tiêu dùng cuối cùng (không chỉ người bao tiêu). Tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đầu ra của dự án bằng các biện pháp như: phân tích về việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm, cùng với việc tiết kiệm chi phí sản xuất... Xem xét các hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với các bên có khả năng về tài chính (nếu có). Hỗ trợ bao tiêu sản phẩm của Chính phủ (nếu có). Khả năng linh hoạt của cơ cấu sản phẩm, dịch vụ đầu ra. Giảm thiểu đối với các khoản điều khoản không cạnh tranh (nếu có). * Rủi ro về cung cấp: Dự án không có được nguồn nguyên nhiên vật liệu (đầu vào chính/quan trọng) với số lượng, cũng như giá cả và chất lượng như dự kiến để vận hành dự án, tạo dòng tiền ổn định, đảm bảo khả năng trả nợ. Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách sau: Trong quá trình xem xét dự án, Cán bộ quan hệ khách hàng và cán bộ quản lý rủi ro phải nghiên cứu, đánh giá cẩn trọng các báo cáo về chất lượng, cũng như trữ lượng nguyên vật liệu đầu vào trong hồ sơ dự án. Đưa ra những nhận định ngay từ ban đầu trong tính toán đồng thời xác định hiệu quả tài chính của dự án. Theo đó, nghiên cứu sự cạnh tranh giữa các nguồn cung cấp vật tư. Linh hoạt về thời gian cũng như số lượng nguyên nhiên vật liệu mua vào. Những hợp đồng hay những thoả thuận với cơ chế chuyển qua tới người sử dụng cuối cùng. Xem xét những hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu đầu vào dài hạn với nhà cung cấp có uy tín. * Rủi ro về kỹ thuật, vận hành, bảo trì: Đây là những rủi ro về việc dự án không thể vận hành hay bảo trì ở mức độ phù hợp với các thông số thiết kế ban đầu đã đưa ra. Loại rủi ro này, Chủ đầu tư có thể giảm thiểu thông qua việc thực hiện một số biện pháp như sau: Việc sử dụng công nghệ đã được kiểm chứng. Bộ phận vận hành dự án phải được đào tạo tốt và có kinh nghiệm. Chủ đầu tư có thể ký hợp đồng vận hành và bảo trì với những điều khoản khuyến khích và phạt vi phạm rõ ràng. Việc bảo hiểm các sự kiện bất khả kháng tự nhiên như lụt lội, động đất, chiến tranh. Kiểm soát ngân sách cũng như kế hoạch vận hành. Quyền thay thế người vận hành do việc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ. * Rủi ro về môi trường và xã hội: Những tác động tiêu cực của dự án đối với môi trường và người dân xung quanh. Loại rủi ro này, Chủ đầu tư có thể giảm thiểu thông qua việc thực hiện một số biện pháp như sau: Có báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) phải khách quan và toàn diện, được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản. Dự án nên có sự tham gia của các bên liên quan (cơ quan quản lý môi trường, chính quyền địa phương) từ khi bắt đầu triển khai dự án. Tuân thủ các qui định của nhà nước về môi trường. * Rủi ro kinh tế vĩ mô: Đây là những rủi ro phát sinh xuất phát từ môi trường kinh tế vĩ mô, bao gồm tỷ giá hối đoái, lạm phát, lãi suất, v.v ... Loại rủi ro này có thể giảm thiểu bằng cách: Chủ đầu tư phải phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô cơ bản. Trên cơ sở sử dụng các công cụ thị trường như hoán đổi và tự bảo hiểm. Bảo vệ trong các hợp đồng (ví dụ như: chỉ số hoá, cơ chế chuyển qua, giá cả leo thàng, hay bất khả kháng). Những đảm bảo/cam kết của Nhà nước về phá giá tiền tệ và cung cấp ngoại hối (nếu được). *Rủi ro tỷ giá: Rủi ro này được hình thành do sự khác biệt về loại tiền trong ngân lưu vào và ngân lưu ra sẽ gây ra những rủi ro về tỷ giá cho dự án. Đối với các nước đang phát triển, đồng nội tệ ít có khả năng chuyển đổi trên thị trường thế giới, chính vì vậy các giao dịch thương mại quốc tế (mua sắm thiết bị, nhập khẩu nguyên vật liệu đầu vào,…) hầu như được thực hiện thông qua các loại ngoại tệ mạnh như USD, EUR, hoặc được sử dụng đồng tiền của bên bán làm đồng tiền thanh toán. Như vậy, nếu không thực hiện các biện pháp bảo hiểm tỷ giá điều này sẽ có nguy cơ rủi ro về tỷ giá trong quá trình thực hiện dự án. Để hạn chế những rủi ro này, đối với chủ đầu tư cần thực hiện biện pháp bảo hiểm như: mua ngoại tệ kỳ hạn, hoặc sử dụng các công cụ phái sinh cần thiết khác. P Rủi ro tín dụng Nguyên nhân của những rủi ro tín dụng Nguyên nhân bất khả kháng: Nguyên nhân này không phụ thuộc vào ý muỗn chủ quan của người vay, nó tác động đến người vay làm họ không có khả năng thanh toán cho ngân hàng như thiên tai, chiến tranh, thay đổi của chính sách kinh tê… Những rủi ro này, vượt quá tầm kiểm soát của người vay. Những thay đổi này xảy ra có thể tạo thuận lợi hoặc khó khăn cho người vay. Vậy, để nắm được những rủi ro loại này, người vay phải sử dụng khả năng dự báo từ đó có thể thích ứng kịp thời với những khó khăn có thể xảy ra. Những tác động từ những nguyên nhân bất khả kháng trên thường nặng nề, và làm cho khả năng trả nợ của người vay bị suy giảm. Nguyên nhân thuộc về người vay: Nguyên nhân này phụ thuộc vào trình độ của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, yếu kém trong quản lý hoặc cố tình hay có chủ định để lừa đảo cán bộ ngân hàng. Họ sẵn sàng dùng những thủ đoạn khác nhau để đạt được mục đích của mình như: cung cấp thông tin sai lệch, bằng cách mua chuộc cán bộ… Hoặc trong công tác dự báo, công tác quản lý hoạt động đầu tư họ đã không tính toán kỹ lưỡng những bất trắc có thể xảy ra, do đó người vay đã không có khả năng thích ứng và khắc phục những khó khăn đó. Chính vì vậy, trong quá trình thẩm định, câu hỏi mà cán bộ thẩm định tại Sở nói riêng và đối với cán bộ ngân hàng nói chung là: Người vay có thiện chí trả nợ khi khoản vay đến hạn hay không? Điều này nó phụ thuộc vào một số yếu tố sau mà cán bộ thẩm định tại Sở cần xem xét: + Đối với tư cách người vay: Cán bộ thẩm định phải chắc chắn tin rằng người xin vay có mục đích tín dụng rõ ràng và có thiện chí nghiêm chỉnh trả nợ khi đến hạn. Khi mục đích xin vay rõ ràng, cán bộ tín dụng phải xác định xem, mục đích đó có phù hợp với chính sách tín dụng hiện hành của ngân hàng hay không? Thậm chí mục đích xin vay là tốt, thì cán bộ thẩm định tại Sở cũng phải xác định xem người vay có tỏ thái độ, trách nhiệm trong việc sử dụng vốn vay, người vay có trả lời câu hỏi một các trung thực có thiện chí và nỗ lực hết sức để hờan trả nợ vay khi đến hạn. + Năng lực của người vay: Cán bộ thẩm định tại Sở sẽ đi xem xét để chắc chắn rằng người vay có đủ năng lực hành vi và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Mặt khác cán bộ thẩm định sẽ phải chắc chắn rằng người đại diện cho công ty kỹ kết hợp đồng tín dụng có là người được uỷ quyền hợp pháp của công ty hay không? Bởi lẽ, một hợp đồng tín dụng được ký kết bởi người không được uỷ quyền có thể sẽ không thu hồi được nợ, do đó sẽ tiềm ẩn rủi ro cho ngân hàng. + Thu nhập của người vay: Cán bộ thẩm định tại Sở giao dịch sẽ tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ? Đối với ngân hàng, bất cứ nguồn thu nào từ ba khả năng: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập của người vay, bán thanh lý tài sản, tiền từ phát hành chứng khoán nợ hay chứng khoán vốn đều có thể sử dụng để trả nợ cho ngân hàng. Tuy nhiên, khả năng đầu tiên được Sở coi là khoản thu đầu tiên và căn bản để trả nợ cho ngân hàng. + Bảo đảm tiền vay: Khía cạnh tài sản đảm bảo được cán bộ thẩm định tại Sở chú ý để hỗ trợ cho khoản vay khi nó không có khả năng thu hồi. Trong đó khía cạnh công nghệ phải đặc biệt chú ý đến, bởi lẽ nếu tài sản của người vay co công nghệ lạc hậu, thì giá trị giảm rất nhiều và rất khó để tìm được người mua trong khi công nghệ lại thay đổi hàng ngày. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng: Nguyên nhân này xuất phát từ chất lượng cán bộ kém, không có đủ trình độ để đánh giá khách hàng, hoặc cán bộ thẩm định cố tình làm sai… Để làm tốt trách nhiệm và vai trò của mình, cán bộ thẩm định tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực khách hàng chọn để kinh doanh, môi trường kinh doanh của khách hàng. Chính vì vậy, điều quan trọng hơn cả là cán bộ thẩm định phải có những khả năng dự báo về các vấn đề liên quan đến người vay. Nếu khả năng dự báo tốt, nắm được những điều bất trắc có thể xảy ra, để từ đó đưa ra biện pháp hạn chế, khắc phục rủi ro, cũng như chối từ việc cho vay đối với khách hàng. Tuy nhiên, không tránh khỏi cám dỗ của đồng tiền, có những cán bộ có thể tiếp tay với khách hàng để rút ruột Ngân hàng, và khi đó họ nhận được một khoản hoa hồng mà khách hàng đã mua chuộc. Do vậy, nguyên nhân gây ra rủi ro trong hoạt động tín dụng, về phía ngân hàng bao gồm trình độ đạo đức, nghề nghiệp không đảm bảo. Phương thức phân loại tín dụng Căn cứ vào kết quả của Hệ thống Xếp hạng Tín dụng Nội bộ, các khoản nợ của khách hàng sẽ được phân loại vào các nhóm nợ tương ứng như sau: Bảng 1.7: Xếp hạng tín dụng nội bộ Xếp hạng khách hàng theo Hệ thống Xếp hạng Tín dụng Nội bộ Phân loại Nhóm nợ AAA Nợ nhóm 1 AA A BBB Nợ nhóm 2 BB B Nợ nhóm 3 CCC CC C Nợ nhóm 4 D Nợ nhóm 5 (Nguồn từ Sở giao dịch I NHCT) Trong đó: Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm: a) Các khoản nợ trong hạn và Sở đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi đúng hạn. b) Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và Sở đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc, lãi bị quá hạn cũng như thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại. Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm: a) Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày. b) Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: a) Các khoản nợ đã quá hạn từ 91 đến 180 ngày; b) Các khoản nợ gia hạn nợ lần đầu; c) Các khoản nợ đã được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng đã nêu; Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: a) Các khoản nợ đã quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; b) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ và được cơ cấu lại lần đầu; Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: a) Các khoản nợ đã quá hạn trên 360 ngày; b) Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; d) Các khoản nợ khoanh, cũng như nợ chờ xử lý; Các biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng Các biện pháp mang tính chất phòng ngừa: Kinh nghiệm từ trước đến nay cho thấy “phòng còn hơn chống”, vì thế các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng, do vậy sở giao dịch I đã đề ra một số biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng như sau: + Ngân hàng đưa ra một chính sách tín dụng rõ ràng, linh hoạt trong từng trường hợp. + Ngân hàng đưa ra những quy định và kiểm soát quá trình cho vay, để đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả cao. + Về đảm bảo tín dụng: ngân hàng hình thành cơ sở pháp lý để có thêm nguồn thu thứ hai cho những khoản thu nợ của ngân hàng. + Để nhằm sàng lọc tìm các khách hàng tin cậy, Sở giao dịch I cũng đề ra cho mình những chiến lược khách hàng đặc biệt. + Để loại trừ một số rủi ro trong tín dụng Sở giao dịch I luôn đa dạng hoá các hợp đồng tín dụng. + Theo quy định chung của ngân hàng Nhà nước các ngân hàng tư nhân và cổ phân phải quy định tỷ lệ dự trữ bắt buộc để đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng. Vì thế, Sở giao dịch đã quy định mức rủi ro tập trung tín dụng trong đó quy định tổng dư nợ cho vay đối với một khách hàng không được vượt quá 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng. + Trong các hoạt động dự báo rủi ro tín dụng, sở luôn ưu tiên việc lập các tín hiệu dự báo đảm bảo cho sự hoạt động an toàn có hiệu quả. + Trong quá trình thu thập và xử lý thông tin cần đầy đủ và chính xác từ đó hạn chế rủi ro trong hoạt động thẩm định của Sở giao dịch I. + Đối với một tổ chức kinh tế thì nguồn nhân lực là quan trọng nhất đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, một lĩnh vực nhạy cảm và đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế. Chính vì vậy, việc đào tạo một đội ngũ nhân viên cho vay và thẩm định lành nghề là yêu cầu cấp thiết. Các biện pháp mang tính chất xử lý: Rủi ro có tính chất lan truyền và khó xác định khi rủi ro tín dụng xảy ra thì Sở giao dịch I cần có những biện pháp triệt để ngăn ngừa tối đa ảnh hưởng của rủi ro đó. + Các biện pháp khai thác nợ có vấn đề ở Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương gồm có: gia hạn khoản vay, chuyển nợ quá hạn, thay đổi nhân sự, cấp thêm vốn tín dụng, điều chỉnh lại các điều khoản trong hợp đồng. Ngân hàng nhấn mạnh những biện pháp xử lý nợ có vấn đề như: Yêu cầu người bảo lãnh trả nợ, phát mãi tài sản thế chấp hay cầm cố, xử lý theo pháp luật, thanh lý nợ khó đòi bằng xoá nợ. Biện pháp phổ biến để hạn chế khi rủi ro xảy ra chính là đòi nợ bằng tài sản bảo đảm. Vậy câu hỏi đặt ra là tại sao ngân hàng lại phải nhận tài sản đảm bảo: Trong khi những công ty lớn và các khách hàng khác có hệ số tín nhiệm cao không có đảm bảo tín dụng thì những khách hàng còn lại thường được yêu cầu có biện pháp bảo đảm tín dụng nhưcầm cố, thế chấp tài sản hay bảo lãnh trả nợ của người thứ ba. Việc Sở giao dịch I nhận tài sản đảm bảo tín dụng nhằm mục đích: Thứ nhất, nếu người vay không trả nợ theo quy định, thì ngân hàng sẽ có quyền bán tài sản cầm cố hay thế chấp để thu hồi nợ, thứ hai, ngân hàng nhận bảo đảm tín dụng tạo cho ngân hàng lợi thế về tâm lý so với người vay. Các loại bảo đảm tín dụng thông thường: + Tài khoản phải thu: Sở giao dịch I nhận bảo đảm tín dụng bằng việc quy định tỷ lệ % giá trị của tài khoản phải thu theo số liệu tren bảng cân đối tài chính. Chính vì vậy, khi khách hàng của người vay thanh toán tiền hàng mua chịu, thì số tiền này được dùng để trả nợ cho ngân hàng. + Bao thanh toán: Ngân hàng có thể mua tài khoản phải thu của người vay theo một tỷ lệ % nhất định theo giá trị đã ghi trên sổ. Sở giao dịch I sẽ thông báo cho khách hàng của người vay là khoản tiền thanh toán mua hàng chịu sẽ trả trực tiếp cho ngân hàng. + Hàng tồn kho: Sở giao dịch I có thể nhận hàng tồn kho, vật tư, nguyên liệu của người vay làm tài sản cầm cố để đảm bảo tín dụng. Tài sản cầm cố này có thể do người vay kiểm soát hoàn toàn, nhưng giấy tờ sở hữu do sở giao dich nắm giữ. + Thế chấp tài sản cố định: Sở giao dịch I chấp nhận bảo đảm tín dụng bằng tài sản cố định. + Bảo lãnh của bên thứ ba: Trong trường hợp người vay không có tài sản đảm bảo tín dụng thì sẽ có một bên thứ ba đứng ra bảo lãnh. Đối với Sở giao dịch I, bảo lãnh của bên thứ ba có thể bảo lãnh bằng tài sản hoặc uy tín. 1.3 Ví dụ minh hoạ về đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương 1.3.1 Giới thiệu chủ đầu tư và dự án xin vay vốn Tên khách hàng: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội Ngành nghề: Kinh doanh, là doanh nghiệp hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - công ty con. Trụ sở chính: 187 B Giảng Võ, phường Cát Linh, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội Giấy phép thành lập số:310/QĐ – TCNS ngày 23/3/2007 Giấy chứng nhận kinh doanh số: 0103016836 ngày 30/8/2007 do sở Kế hoạch và Đầu tư Hà Nội cấp Vốn điều lệ:80.000.000.000 VNĐ trong đó: + Vốn nhà nước do công ty mẹ Nhà xuất bản giáo dục đầu tư :52% + Vốn do cổ đông là Cán bộ công nhân viên Nhà xuất bản giáo duc và ngoài doanh nghiệp góp 49% Đại diện trước pháp luật: Vũ Bá Khánh – giám đốc công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội Nghành nghề kinh doanh: Xuất bản, in ấn, phát hành các loại sách giáo khoa, sách tham khảo…phục vụ việc giảng dạy và học tập cho các nghành học bậc học thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Tài khoản giao dịch số: 1020100000515764 tại Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương Vốn tự có: 80.000 000 000 VNĐ Trong đó vốn vay của Sở giao dịch I là: 50 000 000 000 Tài sản đảm bảo: Không có tài sản đảm bảo 1.3.2 Đánh giá rủi ro 1.3.2.1 Rủi ro từ khách hàng a. Rủi ro năng lực pháp lý của chủ đầu tư Hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp là hợp pháp gồm có: quyết định thành lập công ty số :310/QĐ – TCNS ngày 23/3/2007 do Bộ trưởng bộ Giáo dục và đào tạo cấp, giấy chứng nhận kinh doanh số 0103016836 ngày 30/8/2007 do sở Kế hoạch và Đầu tư hà Nội cấp, quyết định của Chủ tịch hội đồng quản trị công ty cổ phần Đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội bổ nhiệm Giám độc công ty là ông Vũ Bá Khánh kể từ ngày 2/8/2007; và bà Dương Việt Hà là kế toán trưởng công ty kể từ ngày 10/5/2007 Kết luận: Công ty cổ phần Đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội có tổ chức chặt chẽ, có đầy đủ tư cách pháp lý để thực hiện các quan hệ giao dịch kinh tế và đầy đủ những nghĩa vụ dân sự. Chính vì vậy, rủi ro về năng lực pháp lý của chủ đầu tư là thấp. b. Rủi ro năng lực quản lý điều hành của chủ đầu tư - Ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh: Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp là hợp pháp và phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tê nước ta. Bảng 1.8: Ngành nghề kinh doanh của công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội STT Tên ngành nghề 1 Phát hành xuất bản phẩm in các dịch vụ liên quan đến in 2 In và phát hành bổ trợ sách giáo khoa, sách tham khảo, chất lượng, các sản phẩm giáo dục theo hướng đối mới, phương pháp dạy học, tự học và các loại sản phẩm giáo dục khác 3 Kinh doanh các sản phẩm thiết bị văn phòng, các phần mềm giáo dục, văn phòng phẩm, vở học sinh, quần áo, đồng phục cho học sinh. 4 Dịch vụ tư vấn, đầu tư, chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tư vấn du học, lập dự án đào tạo. 5 Khai thác, cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo qua mạng Internet qua các phương tiện viễn thông 6 Thiết kế mỹ thuật, chế bản tạo mẫu in (không bao gồm thiết kế công trình) 7 Dịch vụ dịch thuật, phiên dịch, biên dịch, và mua bán quyền tấc giả. 8 Tư vấn và cung cấp dịch vụ biên soạn 9 Xây dựng các công trình dân dụng, công nghệ, giao thông, thuỷ lợi, cơ sở hạn tầng. 10 Quản lý, vận hành công trình dân dụng công nghiệp nhà ở, khu văn phòng, khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch, trung tâm thương mại. 11 Đại lý mua bán, ký gửi hàng hóa 12 Dịch vụ uỷ thác xuất nhập khẩu (Nguồn: Công ty cổ phần đầu tư và phát triển giáo dục Hà Nội) Về phạm vi kinh doanh và hoạt động: + Công ty được phép lập kế hoạch và tiến hành tất cả các hoạt động kinh doanh theo quy định của giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và điều lệ này phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và thực hiện các biện pháp thích hợp để đạt được các mục tiêu của công ty + Công ty có thể tiến hành hoạt động kinh doanh trong các lĩnh vực khác được pháp luật cho phép và được hội đồng quản trị phê chuẩn. Mô hình tổ chức bố trí lao động Mô hình quản lý điều hành linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực, các phòng ban phối hợp nhịp nhàng. Cơ cấu tổ chức quản lý: Công ty sẽ ban hành 1 hệ thống quản lý mà theo đó bộ máy quản lý sẽ chịu trách nhiệm và nằm dưới sự lãnh đạo của Hội đồng quản trị, công ty có 1 giám đốc, 1 phó giám đốc và 1 kế toán trưởng do hội đồng quản trị bổ nhiệm. Giám đốc và phó giám đốc đồng thời là thành viên hội đồng quản trị và được hội đồng quản trị bổ nhiệm và bổ nhiệm thông qua một cách thức hợp lý. Cán bộ quản lý: + Theo đề nghị Giám đốc và sự chấp thuận Hội đồng quản trị, công ty được sử dụng số lượng và chức danh cán bộ quản lý cần thiết hoặc phù hợp với cơ cấu và thông lệ quản lý. Công ty do Hội đồng quản trì đề xuất tuỳ từng thời điểm. Cán bộ quản lý phải có sự mẫn cán nhất thiết để các hoạt động và tổ chức của công ty đạt được mục tiêu để ra. + Mức lương, tiền thù lao, lợi ích và điều khoản khác trong hợp đồng lao động đối với giám đốc sẽ do Hội đồng quản trị quyết định và hợp đồng với những cán bộ quản lý khác sẽ do hội đồng quản trị quyết định sau khi tham khảo ý kiến qiám đốc. Quản trị điều hành của lãnh đạo doanh nghiệp: Năn._.ng và nguyên nhân từ chính ngân hàng… Xác định được những nguyên nhân trên, ngân hàng cần có những biện pháp hợp lý nhằm khắc phục để hạn chế những rủi ro có thể xảy ra đối với dự án xin vay vốn. Nguyên nhân từ phía các doanh nghiệp + Hầu hết các doanh nghiệp hiện nay thường không muốn công khai minh bạch hoá tình hình tài chính của mình, họ thường dấu đi những mặt còn chưa đạt, bởi lẽ với một nền tài chính kém sáng sủa, các chỉ tiêu tài chính đạt chất lượng không cao sẽ là cản trở doanh nghiệp được vay vốn từ các tổ chức tài chính hay vay từ ngân hàng. Vì vậy, khi thực hiện công tác thẩm định rủi ro, cán bộ ngân hàng sẽ gặp rất nhiều khó khăn, hay chỉ là đánh giá dựa trên những số liệu mà các doanh nghiệp cung cấp, đôi khi không biết thực tế như thế nào, do đó cán bộ ngân hàng thiếu thông tin để tiến hành đánh giá. + Việc kiểm tra dư nợ trong công tác thẩm định rủi ro tại Sở giao dịch I cũng gặp rất nhiều khó khăn, do các ngân hàng đang cho doanh nghiệp vay vốn thường sẽ bảo mật thông tin cho khách hàng nhằm giữ chân khách hàng. Khó khăn từ chính bản thân ngân hàng + Do đội ngũ cán bộ trong công tác thẩm định và đánh giá rủi ro đa phần là các cán bộ lâu năm, việc áp dụng khoa học công nghệ, hay những phần mêm chuyên dụng gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy đã làm giảm tiến độ của công việc đôi khi gây chậm trễ cho khách hàng. Còn đối với những cán bộ trẻ mời bước vào nghề, thiếu kinh nghiệm ảnh hưởng không ít đến quá trình thẩm định rủi ro. Mặt khác, trình độ nhiều nhân viên chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra, công tác quản lý thẩm định chưa hợp lý đã gây khó khăn cho công tác thâm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng. + Từ phía ngân hàng, việc thiếu các chỉ tiêu định mức để so sánh cũng như hiệu quả dự án đầu tư đã làm ảnh hưởng đến chất lượng đánh giá rủi ro của khách hàng hay dự án đầu tư xin vay vốn. + Quá trình đánh giá những nội dung phi tài chính của cán bộ thẩm định, chưa được chi tiết do thiếu hẳn những thông tin về mảng này. Nguyên nhân chính là do những chuyên môn họ được đào tạo không phải là nội dung đó. Các cán bộ tại Sở giao dịch I tham gia quá trình đánh giá rủi ro hầu hết là được học tập, tại các trường đại học thuộc khối ngành kinh tế nên nắm rất chắc các vấn đề về tài chính; tuy nhiên đối với các mảng phi tài chính thì họ chưa được đào tạo thật bài bản mà chủ yếu là thông qua tìm hiểu trên các phương tiện thông tin. Một số nguyên nhân khác: + Đáng lẽ ra ngân hàng Nhà Nước phải có nhiệm vụ là đóng vai trò chủ đạo, định hướng và quản lý hỗ trợ cho các Ngân Hàng Thương Mại nhất là các ngân hàng mới thực hiện quá trình cổ phân hoá; tuy nhiên nhiệm vụ này đã và đang chưa được thực hiện thực sự có hiệu quả. Bên cạnh đó, nhiều khó khăn trở ngại trong quá trình hoạt động thẩm định đánh giá rủi ro của các ngân hàng xảy ra do các văn bản pháp quy về quy trình thẩm định dự án còn chưa được hoàn chỉnh hay được sửa đôi và đôi khi còn khác nhau giữa nhiều cấp ngành. + Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hiện nay, Nhà Nước rất khuyến khích quá trình cổ phần hoá các ngân hàng Thương mại, và thành lập các ngân hàng cổ phần mới. Tuy nhiên điều này đã gây ra, sự cạnh tranh rất lớn trong nên kinh tế bởi lẽ số lượng các khách hàng tiềm năng là hạn chế. Chính vì sự cạnh tranh này, nên nhiều ngân hàng ít khi chia sẻ thông tin với nhau về các khách hàng của mình cũng như các hoạt động có liên quan. Mặc dù vậy nhằm giảm thiểu rủi ro với các quyết định cho vay bằng cách minh bạch các quan hệ tín dụng của khách hàng thật sự cần thiết phải có một kênh để liên kết thông tin giữa các ngân hàng. + Ở nhiều nước có nền tài chính phát triển hiệu quả thường có một tổ chức chuyên đứng ra đảm nhận việc đánh giá và xếp loại các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này mà hầu hết là do Nhà Nước đứng ra giao nhiệm vụ. Ở nước ta thực sự chưa có một tổ chức nào như vậy, vì thế các ngân hàng hoạt động thiếu hẳn một kênh thông tin đáng tin cậy trong hoạt động thẩm định dự án cho vay vốn. Các hoạt động ấy như việc chấm điểm xếp hạng đánh giá doanh nhiệp vẫn chủ yếu do các ngân hàng tự đứng ra thực hiện theo văn bản hướng dẫn của chính bản thân ngân hàng. Nhận xét: Về bản chất rủi ro là một phạm trù mà bản thân nó không phải là đại lượng dễ đo lường; đồng thời cũng không thể giảm thiểu một cách tuyệt đối. Bởi trong các yếu tố phòng ngừa rủi ro lại tiềm ẩn không ít rủi ro. Các rủi ro lại muôn hình vạn trạng, tồn tại ở mọi yếu tố cấu thành lên dự án. Mặt khác từ khi chuẩn bị dự án đến khi kết thúc dự án có vô số sự kiện xảy ra, do vậy đòi hỏi kinh nhgiệm và phương tiện hiện đại mới có thể dự báo chính xác được. Vì những đặc điểm nêu trên mà trong quá trình thẩm định rủi ro một dự án xin vay vốn, điều mà chúng ta có thể thực hiện được chỉ có thể là đánh giá một cách chính xác nhất có thể mà thôi, do đó thay vì việc chúng ta đi tìm biện pháp để triệt tiêu rủi ro chúng ta sẽ đi dự kiến các rủi ro có thể xảy ra để dự phòng và từ đó chế ngự nó. Trong những năm qua, Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương đã làm khá tốt nhiệm vụ của mình, trong quá trình thẩm định dự án đã phát hiện khá chính xác những bất chắc có thể xảy ra, từ đó đo lường, và đánh giá những rủi ro đó. Bằng các phương tiện ngày một hiện đại, hệ thống thông tin đã được mở rộng và tiêu chuẩn hoá, đội ngũ cán bộ được chú trọng đào tạo…nhờ vậy mà cong tác phân tích đánh giá rủi ro ngày một trở nên chính xác hơn, và theo đó chất lượng thẩm định dự án ngày một đảm bảo. Chương II. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi ro đối với dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương 2.1 Phương hướng của Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương trong thời gian tới 2.1.1 Về huy động vốn - Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương tích cực thu hút lượng tiền gửi từ dân cư, tập trung đẩy mạnh việc huy động vốn, nâng cao tỷ trọng huy động trung và dài hạn để đáp ứng cho nhu cầu cho vay đầu tư và phát triển. - Sở ngày một đa dạng hoá các loại sản phẩm huy động, để đáp ứng nhu cầu tiền gửi của khách hàng một cách tối đa. - Mối quan hệ với các khách hàng truyền thống, với những khách hàng lớn ngày được tăng cường và xiết chặt, cũng như ngày một mở rộng quan hệ với khách hàng mới và khách hàng tiềm năng. - Với mục tiêu đảm bảo tự chủ về nguồn vốn, đảm bảo thanh khoản và đáp ứng hoàn toàn nhu cầu cho vay và đầu tư, Sở giao dịch I đề ra cho mình cơ cấu nguồn hợp lý. - Sở giao dịch I đã, đang và sẽ xây dựng, phát triển sản phẩm huy động vốn mang đặc trưng của mình. Theo đó, mở rộng danh mục khách hàng, phát triển những kế hoạch có tiềm năng lớn về tiền gửi. - Sở luôn luôn phải theo dõi, nắm bắt thông tin, nghiên cứu cũng như dự báo xu hướng biến động của lãi suất để có kế hoạch điều chỉnh kịp thời. 2.1.2 Về thẩm định và cho vay dự án - Sở giao dịch luôn đề ra cho mình phương hướng nhằm nâng cao chất lượng công tác tín dụng, thẩm định dự án do đó làm tăng trưởng dư nợ cho vay. - Sở luôn luôn chú trọng công tác kiểm tra, giám sát sau khi giả ngân, hạn chế tối đa những rủi ro có thể xảy ra đối với khoản vay, đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích. - Nâng cao vai trò của công tác đánh giá rủi ro và thẩm định dự án, để đảm bảo an toàn trong tín dụng và bảo lãnh. Sở giao dịch I đảm bảo việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo đúng với thực tế hoạt động tín dụng cũng như quy định của ngân hàng và hướng dẫn của Hội sở chính. - Thường xuyên rà soát, đôn đốc theo dõi các khoản vay, đảm bảo việc sử dụng vốn đúng mục đích. Từ đó tiếp tục nâng cao chất lượng tín dụng trên cơ sở an toàn và chắc chắn. - Tăng cường việc rà soát hồ sơ tín dụng, đảm bảo thực hiện tuân thủ đầy đủ những quy trình đã đề ra, và thống nhất theo quy định của NHNN hay Hội sở chính. Song song với việc tiếp tục theo dõi, bám sát các doanh nghiệp có rủi ro như có nợ xấu, nợ tồn đọng, từ đó bám sát và xử lý, tận thu các khoản nợ khó đòi để tạo điều kiện cơ cấu lại nợ. - Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương ngày một đa dạng hoá các hình thức cho vay như cho vay nhà ở, cho vay trả góp, vay tín dụng… 2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương 2.2.1 Giải pháp về quy trình đánh giá rủi ro Quy trình đánh giá rủi ro tại Sở giáo dịch I còn sơ sài và có phần chưa hợp lý. Chính vì vậy, ngân hàng cần khắc phục bằng cách đánh giá một cách đầy đủ hơn nữa các khía cạnh của dự án: + Thẩm định cơ sở pháp lý của dự án => Rủi ro về cơ chế chính sách + Thẩm định khía năng cung cấp, đáp ứng nguyên vật liệu đầu vào = > Rủi ro về cung cấp + Thẩm định về thị trường của sản phẩm => Rủi ro về thị trường và thu nhập + Thẩm định các điều kiện vĩ mô => Rủi ro về kinh tế vĩ mô + Thẩm định về kỹ thuật và công nghệ => Rủi ro về kỹ thuật vận hành + Thực hiện về phương thức diện tổ chức và quản lý thực hiện dự án => Rủi ro về thi công xây dựng + Thẩm định hiệu quả tài chính dự án => Rủi ro về khả năng trả nợ của dự án Để đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn nhiều ngân hàng ở nước ta đã áp dụng phương thức xếp hạng tín dụng, với những cách thức rất chuyên nghiệp để đưa ra từng mức điểm đối với dự án từ đó đưa ra kết luận của mình, đồng ý cho vay hay khước từ đối với dự án. Phương thức xếp hạng tín dụng là rất quan trọng, do vậy Sở giao dịch I cần tiếp tục xây dựng và củng cố phương thức này có chiều sâu hơn nữa, để có những cách nhìn, cách đánh giá về dự án ngày càng chính xác và đầy đủ hơn. Một trong những yếu tố quan trọng nhất của phương pháp này, là sự tham gia của các chuyên gia giàu kinh nghiệm để đáp ứng đầy đủ yêu cầu quản trị trong tình hình mới và tiếp cận tối đa với các chuẩn mực quốc tế. Việc đo lường và định dạng các loại rủi ro tín dụng tại Sở giao dịch I sẽ ngày càng được thực hiện thống nhất và tập trung hơn trong suốt quá trình cho vay, quản lý khoản vay từ Hội sở đến tất cả các điểm giao dịch. Từ đó, giúp cho Sở giao dịch có thể hoạch định được các chính sách tín dụng và chính sách quản trị rủi ro phù hợp, thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng đúng theo quy định của ngân hàng Nhà nước. Về phần các khách hàng, việc áp dụng thành công chương trình này cũng sẽ mang nhiều lợi ích hơn cho họ. Bở lẽ, thông qua phương thức chấm điểm tự động thời gian xử lý các giao dịch của ngân hàng sẽ nhanh chóng hơn. Đồng thời, các khách hàng được xếp loại tốt sẽ nhận được nhiều chính sách ưu đãi về giá, phí, chương trình khách hàng thân thiết hay có nhiều cơ hội hợp tác cùng ngân hàng. Ngoài ra các khách hàng sẽ có cơ hội thường xuyên được bảo đảm hoạt động tài chính, kinh doanh lành mạnh. Bởi lẽ, họ sẽ được tư vấn chu đáo hơn từ các cán bộ của ngân hàng. Chính vì vậy, Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương cần nhanh chống đưa hệ thống mô hình xếp hạng tín dụng nội bộ thành công sau khi được ngân hàng Nhà nước phê duyệt. Tuy vậy, trong công tác đánh giá rủi ro tín dụng thì kinh nghiệm đánh giá và chuyên môn của chính các cán bộ tác nghiệp vẫn là yếu tố chủ quan và quan trọng hơn cả mà không có phương pháp phân tích hay một hệ thống phức tạp nào có thể thay thế được. Chính vì vậy, trong phương thức này, Sở giao dịch I cần kết hợp nhuần nhuyễn yếu tố về nhân sự cũng như yếu tố về công nghệ để đảm bảo được thành công trong chương trình này, xứng đáng là một trong những ngân hàng hàng đầu thành công trong công tác xếp hạng tín dụng nội bộ theo chuần mực quốc tế. 2.2.2 Giải pháp về phương pháp đánh giá rủi ro P Đối với phương pháp định lượng Để việc đánh giá trở nên hoàn thiện hơn, khi phân tích độ nhạy, Sở cần đưa ra nhiều giá trị mà một yếu tố ảnh hưởng có khả năng thay đổi. Ví dụ như việc xét trường hợp doanh thu dự án tăng 10%, 15% hay chi phí giảm 10%, 15%, cũng như xem xét các chỉ tiêu tài chính khi doanh thu giảm 10%, 15% hay chi phí tăng 10%, 15% có còn đạt hiệu quả không, từ đó ngân hàng quyết định cho vay hay không? Bên cạnh đó, Sở giao dịch I cũng cần đánh giá dự án trong trường hợp có sự thay đổi đồng thời của hai hay ba yếu tố để từ đó có cách nhìn chính xác hơn về các chỉ tiêu hiệu quả tài chính của dự án khi có các biến động xảy ra. P Đối với phương pháp định tính Để khắc phục những hạn chế đã nêu Sở giao dịch I cần áp dụng thêm các phương pháp như: phương pháp ma trận SWOT, mô hình 5 lực lượng của Porter… Phương pháp ma trận SWOT Nghiên cứu mô hình SWOT chủ yếu dựa vào phân tích điểm yếu, điểm mạnh, cơ hội, đe doạ/thách thức (Strength, Weakness, Opportunity, Threat). Cụ thể ở đây, trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, việc áp dụng mô hình SWOT sẽ tập trung vào phân tích dựa trên những khí cạnh chủ yếu như: Môi trường, ngành, quản lý, sở hữu và khả năng sinh lợi/dòng tiền của một doanh nghiệp. + Môi trường kinh doanh: Là những điều kiện về kinh tế, sự ổn định về chính trị - xã hội, các chính sách của chính phủ, các khía cạnh xã hội, thị hiếu của người dân… Sở cần xem xét những vấn đề nêu trên thì đầu là điểm mạnh của doanh nghiệp, liệu rằng ngân hàng có khả năng thích nghi với sự thay đổi của môi trường kinh doanh hay không? Sản phẩm của doanh nghiệp có đáp ứng nhu cầu của khách hàng không? Cũng trong điều kiện như vậy, Sở cần phải nắm được những điểm yếu của doanh nghiệp. Trong những thay đổi về môi trường kinh doanh mà con người khó có thể biết trước được đó, doanh nghiệp có thể vượt qua được những khó khăn đó không? Và làm sao để họ có thể tận dụng được cơ hội cũng như có đủ bản lĩnh để đương đầu với những thách thức đặt ra đó. Từ đó, Sở sẽ đưa ra những kết luận: Những rủi ro về môi trường kinh doanh xảy ra đối với doanh nghiệp chủ yếu là gí? Và doanh nghiệp đã làm thế nào để giảm thiểu những rủi ro đó, và Sở có thể kiểm soát những rủi ro đó hay không? + Ngành kinh doanh: Cán bộ thẩm định rủi ro phải nắm được vị trí của doanh nghiệp, nhà cung cấp chủ yếu, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, tính chu ký, tuổi thọ sản phẩm từ dó có thể làm cơ sở đánh giá liệu rằng doanh nghiệp có giành được thế chủ động trong môi trường cạnh tranh đó không? Sản phẩm có phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng hay không? Xu hướng phát triển của sản phẩm trong tương lai có gặp khó khăn và trở ngại không? + Công nghệ - máy móc sản xuất + Vấn đề quản lý Bên cạnh những yếu tố chủ yếu khác quyết định sự thành công hay thất bại trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, thì vấn đề quản lý cũng cực kỳ quan trọng. Ngân hàng cần đánh giá, xem xét những điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ lãnh đạo trong doanh nghiệp, từ đó xem xét doanh nghiệp có đủ tin cậy để ngân hàng có quan hệ lâu dài hay không? Theo đó, ngân hàng cần có sự giám sát và theo dõi thực tiễn quản lý điều hành doanh nghiệp, cũng như khả năng sẵn sàng đối phó với những thay đổi, hay các mối quan hệ với các chủ nợ, mối quan hệ với các ban ngành, khả năng xác định và liệt kê các điểm yếu trong nguồn lực cảu doanh nghiệp. Từ đó đánh giá, nhìn nhận mối quan hệ với nhân viên, và có cách nhìn bao quát nhất về ban điều hành trong doanh nghiệp. + Vấn đề sở hữu: Ngân hàng xem xét vấn đề sở hữu trong một doanh nghiệp cũng cần phải để ý đến một số khía cạnh như giá cả và xu thế hướng biến động của giá cổ phiếu trên thị trường, hay mức độ đa dạng của thu nhập và vốn… + Khả năng sinh lời, dòng tiền. Theo mô hình này cần đánh giá những thay đổi môi trường kinh doanh, lĩnh vực kinh doanh, chiến lược phát triển của công ty ảnh hưởng đến mức dự báo trong tương lai cũng như một số biến động trong lịch sử hay không? 2.2.3 Giải pháp về nội dung phân tích Để đưa ra được quyết định xem có nên tài trợ cho dự án hay không, ngân hàng sử dụng các kết quả của việc phân tích các nội dung đánh giá rủi ro. Chính vì vậy, để đưa ra sự đánh giá một cách chính xác đối với 1 dự án đầu tư, Sở giao dịch I phải xử lý tốt các nội dung đánh giá, từ đó giúp Ngân hàng lựa chọn được cho mình nhà đầu tư thích hợp nhằm đem lại hiệu quả cho vốn đầu tư mà Ngân hàng bỏ ra. Đầu tiên chúng ta đi xem xét công tác đánh giá nhu cầu vốn đầu tư của dự án. Sở giao dịch I cần phải xây dựng cho mình một bảng giá định mức trong từng lĩnh vực cụ thể để làm căn cứ cho việc tiến hành thẩm định đánh giá rủi ro. Mặt khác, ngân hàng cũng phải thành lập một tổ định giá độc lập để từ đó có thể định giá một cách chính xác nhất những nhu cầu vốn đầu tư trong từng trường hợp của dự án, cũng như những dự án đầu tư đặc thù. Thứ hai, Sở giao dịch I cần xác định lại những yếu tố doanh thu hoặc chi phí một cách chính xác và đầy đủ hơn nữa. Điều này đòi hỏi cán bộ thẩm định phải có kiến thức về chuyên môn cũng như cần phải có kiến thức về thị trường liên quan với những vấn đề của dự án. Đối với chi phí của dự án, việc xác định thường có nhiều khó khăn. Bởi lẽ, giá cả của các yếu tố đầu vào của khối lượng tính toán thường được xác định theo định mức. Trong khi đó, các định mức này cần phải được xây dựng dựa trên những quy định của ngành và Nhà nước hay từ các dự án tương tự đã và đang hoạt động. Chính vì vậy, cán bộ thẩm định đánh giá rủi ro luôn cần cập nhật các quy định của Nhà nước đối với những vấn đề có liên quan đến dự án để có thể xây dựng được những thông số chuẩn hơn đánh giá chi phí từ đó có hiệu quả tốt nhất trong công tác thẩm định rủi ro. Thứ ba, trong công tác đánh giá hiệu quả tài chính đối với một dự án đầu tư, khi tính toán đến dòng tiền của dự án, Sở cần tính đến các yếu tố lạm phát hay trượt giá, yếu tố này rất có thể sẽ xảy ra, và khi đó nó có thể gây ảnh hưởng không nhỏ đến dự án nếu dự án được thực thi. Nguyên nhân là do có liên quan đến tỷ suất chiết khấu của dự án, từ đó liên quan đến dòng tiền và hiệu quả tài chính đối với dự án. 2.2.4 Giải pháp về trình độ công nghệ Thiết bị, công nghệ thông tin hiện nay là yếu tố không thể thiếu được trong hoạt động của từng ngân hàng. Để đảm bảo cho công tác quản lý rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn của ngân hàng được tiến hành kịp thời, chính xác hơn nữa, cũng như việc tiếp tục hoàn thiện đường truyền hội sở tại các chi nhánh Sở giao dịch I cần mua sắm thêm thiết bị công nghệ thông tin cho toàn hệ thống, quan trọng hơn là các phần mềm có bản quyền cho hệ thống. Song song với nó, Sở phải không ngừng nâng cao trình độ quản lý, ngoại ngữ, nghiệp vụ và kỹ năng tiếp cận những công nghệ mới đó cho toàn đội ngũ nhân sự tại ngân hàng. 2.2.5 Giải pháp về cán bộ Yếu tố con người trong hoạt động vay vốn tại ngân hàng nói chung và trong hoạt động thẩm định rủi ro nói riêng luôn là nhân tố quyết định. Nó là yếu tố đặc biệt quan trọng, bởi lẽ nó ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thẩm định rủi ro. Chính vì vậy, Sở giao dịch I luôn luôn quan tâm đến công tác cải thiện về cả số lượng và chất lượng của cán bộ tại đơn vị mình. Đối với mỗi ngân hàng, để xây dựng một chiến lược nguồn nhân lực dài hạn, cần phải đề ra cho mình yêu cầu hay những mục tiêu hướng tời trong chiến lược ấy. Một cán bộ thẩm định giỏi phải có đầy đủ những tố chất như trình độ, năng lực, cũng như đạo đức nghề nghiệp. Đạo đức nghề nghiệp thể hiện ở lòng yêu nghề, tâm huyết với nghề, trung thực, có tình thần trách nhiệm cao. Chính vì vậy, để đạt được yêu cầu với nguồn nhân lực như trên, Sở đã đề ra cho mình những giải pháp sau: Coi trọng công tác tuyển dụng cán bộ: Công tác tuyển dụng là công tác sàng lọc để chọn ra những cán bộ có đủ năng lực đáp ứng yêu cầu của từng công việc. Chính vì vậy, việc tuyển dụng trước tiên phải đảm bảo khách quan, công bằng, tránh tình trạng tiêu cực trong công tác tuyển dụng. Đề thi sử dụng nên có sự đóng góp ý kiến của các tổ chức, các chuyên gia có kinh nghiệm, các viện nghiên cứu đảm bảo có được một đề thi tuyển hợp lý bám sát với thực tế. Bố trí cán bộ một cách hợp lý: Công tác bố trí cán bộ cần được đánh giá cao hơn nữa. Bởi lẽ, việc bố trí cán bộ không hợp lý, việc khen thưởng đào thải cản bộ không đúng, không công bằng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của công tác thẩm định rủi ro đối với các dự án xin vay vốn. Chính vì vậy, cần bố trí lao động phù hợp với trình độ chuyên môn cũng như khả năng công tác đồng thời phải kiên quyết kiểm điểm, loại bỏ, hay chuyển công tác đối với những cán bộ thiếu phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Xây dựng chính sách bồi dưỡng, đào tạo cán bộ Để đảm bảo mục tiêu nâng cao chất lượng công tác thẩm định đánh giá rủi ro, cán bộ thẩm định không những cần được trang bị những kiến thức cơ bản về dự án kỹ năng thẩm định (bao gồm: nội dung, chu trình, các bước nghiên cứu, và phương pháp phân tích rủi ro dự án) mà còn cần thiết nắm vững các quy định của Nhà nước có liên quan đến lĩnh vực đầu tư. Ngoài ra, cán bộ thẩm định cần có những hiểu biết nhất định, biết cách thu thập và phân tích thông tin để phục vụ chức năng nhiệm vụ của mình. Trong đó, chú trọng đến các kỹ năng thực hành bằng các phần mềm mà cán bộ thẩm định được trang bị, bở lẽ, nó giúp cho công việc được thực hiện nhanh và chính xác hơn rất nhiều. Cán bộ thẩm định phải được thường xuyên đào tạo những kiến thức cập nhật đối với công tác quản lý rủi ro, cũng như việc cập nhật những quy định có liên quan của Nhà nước đến lĩnh vực đó. Có được điều đó là do những quy định này thì mang tính chất nghiêm ngặt và chặt chẽ để bảo vệ cho lợi ích của nhà nước, của chủ đầu tư cũng như của cả cộng đồng. Để ngày một nâng cao chất lượng, kinh nghiệm của nguồn nhân lực phục vụ công tác thẩm định và quản lý rủi ro trong ngân hàng, Sở giao dịch I cần phải tổ chức những lớp tập huấn ngắn hạn và dài hạn cho các cán bộ với sự tham gia của các chuyên gia có trình độ, kinh nghiệm cao. Vấn đề đào tạo cho nguồn nhân lực, luôn luôn phải được chú trọng hàng đầu, chính vì vậy việc đào tạo cho cán bộ cần được xem xét như một mục tiêu hàng đầu, nhằm hướng tới đội ngũ cán bộ có đầy đủ năng lực, phẩm chất đạo đức cùng góp phần xây dựng cho sự phát triển ngày một lớn mạnh hơn của Sở giao dịch I. Cở chế đãi ngộ thích hợp Để kích thích tinh thần làm việc hết mình của của các nhân viên cũng như kích thích sự sáng tạo trong công việc thì Sở giao dịch I cần có những chính sách đãi ngộ, phù hợp bằng các chính sách như: khen thưởng kịp thời cho các thành tích mà các cán bộ đạt được, hay xây dựng các chương trình phúc lợi cho các cán bộ công nhân viên chức trong ngân hàng, động viên giúp đỡ những gia đình cán bộ gặp điều kiện khó khăn… 2.2.6 Giải pháp về thông tin Dự án đầu tư rất nhạy cảm trước những biến động về kinh tế, chính trị, xã hội. Do vậy thông tin đã và đang là một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động cho vay. Cũng chính vì lý do đó, để tạo tiền đề vững chắc cho các quyết định cho vay của Sở, thông tin mà các cán bộ thẩm định thu thập được để đánh giá rủi ro cần phải được cập nhật, khai thác triệt để, nhằm mục đích phục vụ cho hoạt động này một cách hiệu quả hơn. Ngân hàng cần không ngừng tăng cường hệ thống thông tin nội bộ: Tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương, các phòng ban đều được trang bị máy tính được nối mạng nội bộ khá hiện đại do vậy rất thuận tiện cho việc trao đổi thông tin. Ngân hàng cần ban hành một quy chế thông tin định kỳ cho các bộ phận thong tin ở các chi nhánh cũng như Hội sở. Bởi lẽ, để đảm bảo đánh giá rủi ro một các hiệu quả nhất, thông tin mà cán bộ thẩm định thu thập được phải đảm bảo nhanh, chính xác, kịp thời. Do vậy, những thông tin cần thiết đối với một dự án xin vay vốn phải được cung cấp thông suốt, chính xác, đầy đủ và nhanh chóng trong toàn hệ thống của ngân hàng. Sở giao dịch I cần đề cao việc thu thập thông tin từ bên ngoài: Để có dữ liệu vô tận qua mạng thông tin toàn cầu, Sở giao dịch I cần phát triển hệ thống thông tin từ bên ngoài như từ Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại khác, trung tâm thông tin trong nước và quốc tế qua việc kết nối mạng lưới máy tính với các tổ chức trên. Thuế là cơ quan của nhà nước thường xuyên theo dõi, thu thập tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua những số liệu có độ tin cậy cao. Chính vì vậy, cán bộ thẩm định tại Sở giao dịch I có thể khai thác thông tin từ cơ quan này, để dó những thông tin chính xác hơn về tình hình tài chính của doanh nghiệp thông qua việc so sanh đối chiếu với những thông tin mà doanh nghiệp cung cấp. Ngoài ra, để nắm bắt được tình hình quan hệ thanh toán cũng như khả năng đảm bảo của việc cung cấp đầu vào và vấn đề tiêu thụ đầu ra của dự án, Sở có thể đa dạng hoá nguồn thông tin này từ các bạn hàng của doanh nghiệp. Đồng thời, ý kiến của các chuyên gia tư vấn kỹ thuật cũng rất quan trọng trong việc thẩm tra khía cạnh tài chính của dự án, chính vì vậy việc tham khảo ý kiến của các chuyên gia có trình độ học vấn, có kinh nghiệm là rất quan trọng. Một trong những thông tin rất quan trọng cho cán bộ thẩm định rủi ro đánh giá những rủi ro về môi trường và kinh tế xã hội của dự án đó là những thông tin về chủ trương, chính sách, chiến lược phát triển vùng, ngành, lãnh thổ phải được ngân hàng nắm bắt và cập nhật thường xuyên. 2.3 Một số kiến nghị 2.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, Ngành có liên quan Chính phủ cần phối hợp với các Bộ, Ngành chỉ đạo các doanh nghiệp nghiêm túc thực hiện chế độ hạch toán, kế toán, lập các báo cáo tài chính theo đúng quy định đã đề ra. Đồng thời cần nghiêm túc thực hiện chế độ kiểm toán các báo cáo tài chính, để đảm bảo tính rõ ràng, đúng đắn của các báo cáo này, điều này sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng trong phân tích tình hình tài chính, cũng như hỗ trợ công tác đánh giá rủi ro từ đó ra quyết định cho vay đối với các doanh nghiệp được chính xác hơn. Chính phủ cần xây dựng một hệ thống luật pháp thống nhất để tránh tình trạng chồng chéo giữa các quy định của ngành, gây khó khăn việc thực thi quy định trong hoạt động của ngân hàng. Mặt khác, các Bộ, Ngành nên đưa ra các chỉ tiêu định mức kinh tế kỹ thuật cũng như các chỉ tiêu đánh giá xếp hạng doanh nghiệp một cách hợp lý và chi tiết hơn nữa để các cán bộ thẩm định làm cơ sở đánh giá doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành nghề, từ đó định giá doanh thu và chi phí một cách chính xác hơn. Đối với các bộ chủ quan như Bộ Công nghiệp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp, Bộ Tài chính, Tổng cục thống kê cần phải hệ thống hoá hơn nữa thông tin trong lĩnh vực mà mình quản lý ở mỗi năm, để Ngân hàng thuận tiện hơn trong việc thu thập thông tin phục vụ công tác đánh giá rủi ro của đơn vị mình. 2.3.2 Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước Trong thời gian tới, NHNN cần nỗ lực phát triển và củng cố hoạt động của trung tâm thông tin tín dụng để đảm bảo chức năng thu thập và cung cấp dịch vụ thông tin tín dụng cho NHNN, các tổ chức tín dụng nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt đông của ngân hàng, phục vụ tốt công tác quản lý của NHNN, do đó sẽ hạn chế rủi ro tín dụng và phát triển kinh tế xã hội. Mặt khác, NHNN cần xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp hơn nữa trong toàn ngành. Đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho sự hợp tác hoạt động của các ngân hàng với nhau đối với những dự án quy mô lớn, từ đó sẽ tận dụng được những lợi thế của mỗi ngân hàng trong công tác thẩm định rủi ro đối với dự án đầu tư. NHNN cần tổ chức nhiều hơn nữa những buổi hội thảo, trao đổi kinh nghiệm về thẩm định và quản lý rủi ro đối với dự án giữa các ngân hàng. 2.3.3 Kiến nghị với Sở giao dịch I Ngân hàng Công Thương. Sở cần xây dựng một hệ thống thông tin thông suốt trong toàn ngành cũng như phải có sự cập nhật thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để có được những nguồn thông tin đáng tin cậy phục vụ tốt hơn trong công tác đánh giá rủi ro. Hơn nưa, Sở cần phải tạo điều kiện cho nhân viên tham gia lớp tập huấn trong và ngoài nước để học hỏi kinh nghiệm từ đó đảm nhận tốt hơn trách nhiệm của mình 2.3.4 Kiến nghị với chủ đầu tư Thông tin chủ đầu tư cung cấp ảnh hưởng rất lớn đến kết quả thẩm định và đánh giá rủi ro của dự án. Chính vì vậy, chủ đầu tư cần phải trung thực đưa ra chính xác những thông tin về dự án mà mình định vay vốn cho ngân hàng. Do vậy, mà chủ đầu tư cũng phải chấp hành nghiêm chỉnh chế độ thống kê, kế toán, chủ động cung cấp thông tin cho cán bộ ngân hàng để làm cơ sở cho công tác phân tích và đánh giá rủi ro khách hàng cũng như rủi ro dự án. Kết luận Trong nền kinh tế thị trường và trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay thì rủi ro trong kinh doanh là một yếu tố không tránh khỏi, mà đặc biệt là rủi ro trong ngân hàng có phản ứng lây lan và ngày càng biểu hiện phức tạp hơn. Rủi ro là một đại lượng khó xác định và là một yếu tố không thể triệt tiêu hoàn toàn, chính vì vậy, các cán bộ ngân hàng cần biết đánh giá phân tích rủi ro đối với một dự án, để từ đó đưa ra quyết định cho vay hay khước từ đối với dự án đó. Để đưa ra một quyết định cho vay chính xác và đảm bảo thu hồi vốn cho ngân hàng, cán bộ ngân hàng cần đánh giá rủi ro đối với dự án một cách thận trọng và chính xác. Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương đang trên đà phát triển và để khẳng định uy tín trong hoạt động kinh doanh Sở cần phải nâng cao chất lượng công tác thẩm định đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại ngân hàng. Trong thời gian thực tập tại phòng “Quản lý rủi ro” em đã chọn đề tài: “Rủi ro và đánh giá rủi ro trong thẩm định dự án xin vay vốn tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương” với mục đích tìm ra được giải pháp nhằm nâng cao chất lượng trong công tác đánh giá rủi ro đối với dự án đầu tư. Do kiến thức của em còn hạn chế nên em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo cũng như các cán bộ tại phòng Quản lý rủi ro. Em xin chân thành cảm ơn giáo viên hướng dẫn PGS. TS Nguyễn Bạch Nguyệt và các cán bộ tại Sở giao dịch I ngân hàng Công Thương đã tạo điều kiện giúp đỡ em trong thời gian vừa qua để hoàn thành khoá luận này. Danh mục tài liệu tham khảo Bài giảng: Quản trị rủi ro, TS. Nguyễn Hồng Minh Giáo trình: Lập dự án đầu tư, PGS. TS. Nguyễn Bạch Nguyệt, 2000, NXB Thống Kê. Thẩm định dự án đầu tư, TS. Đinh Công Tuấn, 1988, NXB TP HCM Quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, Nguyễn Việt Tiến, NXB thống kê. Quản trị NHTM, Nguyễn Thị Mùi, NXB tài chính. Phương pháp mạo hiểm và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh, Nguyễn Hữu Thành Tạp chí ngân hàng, năm 2006,2007,2008. Thời báo tài chính Việt Nam Phần mềm dự báo và phân tích rủi ro Crystal ball (chương trình Fulbright về giảng dạy kinh tế ở Việt Nam) Phân tích rủi ro, Cao Hào Thi Militarybank.com.vn Vnexpress.net Creditinfo. Org.vn Ask.edu.vn Saga.vn Vietnamnet.vn ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc21390.doc
Tài liệu liên quan