Sự hình thành tất yếu của nền kinh tế thị trường (kinh tế hàng hoá nhiều thành phần) trong chế độ hiện nay, những mâu thuẫn và..

Lời Mở đầu Từ giữa năm 1975, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cả nước độc lập thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng, bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội.Bước chuyển biến cách mạng lịch sử này đã và đang diễn ra cho đến nay được hai thập kỷ song đã gặp không ít những thuận lợi, khó khăn chồng chất không lường trước được xảy ra cả trong nước cũng như trên thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình đi lên của cách mạng nước ta. Trong thời kỳ 1975-1985 là thời kỳ

doc32 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1266 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Sự hình thành tất yếu của nền kinh tế thị trường (kinh tế hàng hoá nhiều thành phần) trong chế độ hiện nay, những mâu thuẫn và.., để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
sử dụng mô hình kinh tế cũ mà đặc trưng là: Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, các thành phần kinh tế phi XHCN (tư bản, cá thể…) sớm bị xoá bỏ ở mức cao và mở rộng trong phạm vi cả nước. Những nhược điểm và khuyết điểm của mô hình đó đã trở thành sức cản lớn đối với sự phát triển KT– XH, dẫn đến khủng hoảng kinh tế xã hội gay gắt. Chính những khó khăn, thách thức trong giai đoạn này đã tạo điều kiện để tư duy mới từng bước hình thành và phát triển tiệm tiến từng mặt, từng phần, ban đầu là những thể nghiệm đáng chú ý: Qua nghị quyết trung ương IV (khoá 6) với chính sách làm cho sản xuất bung ra, nghị quyết đại hội V với việc xác định thứ tự trong phát triển kinh tế khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, nghị quyết trung ương VIII về giá lương tiền, nghị quyết Bộ chính trị khoá V về các quan điểm kinh tế. Và đến đại hội VI ( năm 1986) đã có một bước chuyển biến, đặc biệt trong đường lối phát triển kinh tế: bước đầu tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển xã hội. Song trong thời kỳ quá độ từ một nước phong kiến lên một nước XHCN không kinh qua chế độ tư bản chủ nghĩa, cái cũ chưa mất đi, cái mới chưa mạnh lên, chưa có đủ sức chống lại sự chống phá của các thế lực thù địch, chính vì vậy trong giai đoạn này còn tồn tại những mâu thuẫn giữa các thành phần kinh tế, những vấn đề bất cập cần phải được giải quyết. Cũng chính vì lý do này mà trong bài tiểu luận này em xin được đề cập đến sự hình thành tất yếu của nền kinh tế thị trường (hay nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần) trong chế độ hiện nay, những mâu thuẫn và những phương hướng giải quyết. Kết cấu của bài tiểu luận này gồm có bốn phần: Lời mở đầu. Phần I: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập – Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Phần II: Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam - Những mâu thuẫn nảy sinh và biện pháp giải quyết. Kết luận Để hoàn thành bài viết này em đã được sự hướng dẫn tận tình của thầy Nguyễn Hữu Bật, em xin chân thành cảm ơn thầy. Hà Nội, ngày 25 tháng 11 năm 2004. Sinh viên Phạm Thị Ngọc Anh Phần I: Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật, và là hạt nhân của phép biện chứng duy vật. Nội dung của quy luật chỉ ra nguồn gốc, động lực của mọi sự vận động, phát triển trong thế giới khách quan. I. Nội dung quy luật mâu thuẫn: 1.1. Mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến: Sự vật hiện tượng của thế giới khách quan đều được tạo thành từ nhiều yếu tố, nhiều bộ phận, nhiều quá trình khác nhau. Theo nguyên lý về mối liên hệ phổ biến thì mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan tồn tại trong mối liên hệ phổ biến, được thể hiện: Sự vật hiện tượng là tiền đề, điều kiện tồn tại và phát triển của nhau, nương tựa, phụ thuộc ràng buộc lẫn nhau, thường xuyên thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau làm cho ranh giới giữa các lớp sự vật không bao giờ là tuyệt đối, giữa chúng bao giờ cũng có một lớp trung gian chuyển tiếp, và mối liên hệ giữa các sự vật diễn ra không chỉ giữa các sự vật với nhau mà còn diễn ra trong bản thân từng sự vật. Sự vật có rất nhiều mối liên hệ, nhưng vị trí, vai trò của từng mối liên hệ không giống nhau. Trong tổng số những mối liên hệ mà sự vật có, những mối liên hệ bên trong, bản chất bao giờ cũng cũng có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của sự vật, còn những mối liên hệ bên ngoài không bản chất bao giờ cũng chỉ có những ảnh hưởng nhất định. Theo nguyên lý này, các yếu tố, bộ phận của quá trình tạo nên sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan thường xuyên liên hệ, tác động lẫn nhau tạo thành những xu hướng, phát triển trái ngược nhau và gọi là các mặt đối lập. Các mặt đối lập hợp thành mâu thuẫn của sự vật. Do đó mâu thuẫn là sự liên hệ tác động lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong bản thân sự vật hay giữa các sự vật với nhau. Vì vậy bất kỳ ở đâu, lúc nào, sự vật cũng đều có những mâu thuẫn, và khi một mâu thuẫn nào đó được giải quyết thì sự vật lại xuất hiện một mâu thuẫn mới. Do vậy mâu thuẫn là hiện tượng khách quan phổ biến của sự vật. 1.2. Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: Các mặt đối lập là những mặt có xu hướng phát triển trái ngược nhau nhưng chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, chúng vừa thống nhất với nhau, lại vừa đấu tranh, tiêu diệt lẫn nhau. Trong đó thống nhất chỉ là tạm thời, tương đối, còn đấu tranh là vĩnh viễn tuyệt đối. 1.2.1. Sự thống nhất giữa các mặt đối lập: Hai mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn biện chứng, tồn tại trong sự thống nhất với nhau. Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa, ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, tồn tại không tách rời nhau, là tiền đề điều kiện tồn tại của nhau, chúng thường xuyên xâm nhập chuyển hóa lẫn cho nhau và sự tồn tại của mặt này có sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề. Song sự thống nhất của các mặt đối lập chỉ là hiện tượng tương đối tạm thời, có khởi đầu, có kết thúc, diễn ra trong một giới hạn nhất định, nhưng sự thống nhất giữa các mặt đối lập là môi trường, là điều kiện, là địa bàn cho sự đấu tranh giữa chúng và đấu tranh giữa các mặt đối lập ngay trong thể thống nhất của chúng, tức là trong chính bản thân sự vật. 1.2.2. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập : Đó là sự bài trừ, gạt bỏ, phủ định lẫn nhau giữa chúng. Hai mặt đối lập nhau cùng tồn tại trong một thể thống nhất là sự vật, chúng thường xuyên gạt bỏ phủ định nhau, vì thế sự đấu tranh giữa các mặt đối lập không tách rời sự thống nhất giữa chúng. Sự đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra thường xuyên liên tục, từ khi thể thống nhất được thiết lập cho đến khi nó bị phá vỡ để thiết lập một thể thống nhất mới, nhưng sự đấu tranh giữa các mặt đối lập phải diễn ra qua nhiều giai đoạn với nhiều hình thức khác nhau và sẽ dẫn đến sự chuyển hoá cuối cùng giữa các mặt đối lập. Kết quả hai mặt đối lập đều có sự thay đổi, đều cùng phát triển lên một tính chất, trình độ mới. Khi đó mâu thuẫn được giải quyết, sự vật phát triển, trong sự vật mới lại xuất hiện mâu thuẫn mới, quá trình vận động của mâu thuẫn lại dẫn đến sự chuyển hoá cuối cùng, mâu thuẫn được giải quyết và sự vật lại phát triển lên một trình độ mới hơn. Quá trình đó lặp đi lặp lại thường xuyên, vì thế đấu tranh giữa các mặt đối lập là vĩnh viễn tuyệt đối. Sự chuyển hoá cuối cùng giữa các mặt đối lập là sự kiện quan trọng nhất trong quá trình vận động, giải quyết mâu thuẫn, khi sự chuyển hoá cuối cùng đựơc thực hiện, mâu thuẫn đựoc giải quyết, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, còn nếu sự vận động của sự vật không dẫn đến sự chuyển hoá cuối cùng thì mâu thuẫn chưa được giải quyết, sự vật vẫn là chính nó. 1.2.3. Mâu thuẫn là nguồn gốc của sự vận động phát triển: Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là hai xu hướng tác động khác nhau của các mặt đối lập tạo thành mâu thuẫn. Như vậy mâu thuẫn biện chứng đã bao hàm cả “sự thống nhất” lẫn “đấu tranh” của các mặt đối lập. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập không tách rời nhau, trong quá trình vận động phát triển của sự vật. Sự thống nhất gắn liền với với sự đứng im, với ổn định tạm thời của sự vật. Sự đấu tranh gắn liền với tính tuyệt đối của sự vận động và phát triển. Điều đó có nghĩa là sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, tạm thời, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối. V.I.Lenin viết: “Sự thống nhất (…) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng qua, tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối, cũng như sự phát triển vận động là tuyệt đối”. Trong sự vận động qua lại của các mặt đối lập thì đấu tranh của các mặt đối lập quy định một cách tất yếu sự thay đổi của các mặt đang tác động làm cho mâu thuẫn phát triển. Lúc đầu mới xuất hiện, mâu thuẫn đó chỉ là sự khác nhau căn bản, nhưng theo khuynh hướng trái ngược nhau. Sự khác nhau đó càng ngày càng phát triển và đi đến đối lập. Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện, chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết. Nhờ đó mà thể thống nhất cũ được thay thế bằng thể thống nhất mới, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời, thay thế. V.I.Lê-nin viết:“Sự phát triển là một cuộc “đấu tranh” giữa các mặt đối lập”. Tuy nhiên không có thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập thì cũng không có đấu tranh giữa chúng. Thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập là không thể tách rời nhau trong mâu thuẫn biện chứng. Sự vận độngvà phát triển bao giờ cũng là sự thống nhất giữa tính ổn định và tính thay đổi. Sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập trong quy định tính ổn định và sự thay đổi của sự vật. Do đó mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động phát triển của sự vận động phát triển. 1.3. ý nghĩa phương pháp luận của quy luật: Việc nghiên cứu quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập có ý nghĩa quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Để nhận thức đúng bản chất sự vật và tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải đi sâu nghiên cứu phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật. Muốn phát hiện ra mâu thuẫn phải tìm ra trong thể thống nhất những mặt đối lập và tìm ra những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập đó. V.I.Lê-nin viết: “Sự phân đôi của cái thống nhất và sự nhận thức của các bộ phận của nó, đó là thực chất … của phép biện chứng”. Khi phân tích mâu thuẫn phải xem xét trong quá trình phát sinh, phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò, vị trí và mối quan hệ lẫn nhau của các mâu thuẫn; phải xem xét quá trình phát sinh phát triển và vị trí của từng mặt đối lập, mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng, điều kiện chuyển hóa lẫn nhau giữa chúng. Chỉ có như thế chúng ta mới có thể hiểu đúng mâu thuẫn của sự vật, hiểu đúng xu hướng vận động phát triển và điều kiện giải quyết mâu thuẫn. Để thúc đẩy sự vật phát triển phải tìm moi cách để giải quyết mâu thuẫn, không được điều hoà mâu thuẫn. Việc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn phải phù hợp với trình độ phát triển của mâu thuẫn, phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để giải quyết mâu thuẫn. Mâu thuẫn chỉ có thể giải quyết khi điều kiện đã chín muồi. Một mặt phải chống thái độ chủ quan để làm cho các điều kiện giải quyết mâu thuẫn đi đến chín muồi. Mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau. Phải tìm ra các hình thức giải quyết mâu thuẫn một cách linh hoạt, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể. II. Tính tất yếu phải xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần: 2.1. Sở hữu tư liệu sản xuất trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam 2.1.1. Sở hữu TLSX và vai trò của nó Trong quá trình sản xuất, con người phải quan hệ với tự nhiên, chiếm hữu những vật liệu có sẵn trong tự nhiên biến đổi những vật liệu đó thành những sản phẩm phù hợp với nhu cầu của con người. Chiếm hữu là quan hệ giữa người với tự nhiên, là hành vi tồn tại cùng với sự phát triển của con người, là phạm trù vĩnh viễn. Trong xã hội có giai cấp, các cá nhân không có quyền như nhau đối với của cải vật chất do con người tạo ra, đối với những gì thuộc về tự nhiên mà con người chiếm hữu. Quan hệ giữa con người với con người trong việc chiếm hữu của cải đó là quan hệ sở hữu. Trong quan hệ giữa của cải vật chất, thì quan hệ sở hữu về TLSX giữ vai trò quyết định. Trong lịch sử, mỗi PTSX có một loại hình sở hữu tư liệu sản xuất đặc trưng, chẳng hạn sở hữu phong kiến, sở hữu TBCN. Nhưng điều đó không có nghĩa là mỗi PTSX chỉ có một hình thức sở hữu TLSX, mà có thể có nhiều loại hình sở hữu TLSX khác nhau cùng tồn tại. Trong lịch sử phát triển của nền sản xuất XH chung quy lại có hai loại hình sở hữu cơ bản về TLSX là sở hữu công cộng và sở hữu tư nhân. Bên cạnh hai loại hình đó là hình thức sở hữu hỗn hợp. Một loại hình sở hữu TLSX có thể bao gồm một số hình thức sở hữu. Chẳng hạn, loại hình sở hữu công cộng về TLSX gồm có hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể. Sự xã hội hoá của các hình thức sở hữu TLSX do tính chất và trình độ phát triển của các LLSX quy định. LLSX không ngừng vận động, biến đổi làm cho QHSX cũng không ngừng vận động biến đổi. Trong lịch sử phát triển của sản xuất XH, sở hữu tư nhân về TLSX, từ chỗ phù hợp, thúc đẩy sự phát triển của LLSX dần dần trở thành lạc hậu lỗi thời, cản trở sự phát triển của LLSX. Sự thay thế sở hữu tư nhân bằng sở hữu công cộng về TLSX, mở đường cho sự phát triển hơn nữa của LLSX là tất yếu khách quan. Thời kỳ quá độ lên CNXH là thời kỳ chuyển biến từ sở hữu tư nhân thành sở hữu công cộng về TLSX. Nhưng sự chuyển biến đó mang lại tính khách quan tuỳ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX. Do đó sự nóng vội chủ quan, duy ý chí trong việc xoá bỏ sở hữu tư nhân, xác lập sở hữu công cộng về TLSX đều trái với yêu cầu của quy định QHSX phải phù hợp tính chất và trình độ phát triển của LLSX và phải trả giá. Đặc điểm to lớn nhất của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam là điểm xuất phát rất thấp, sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ TBCN. Điều đó có nghĩa là trình độ của LLSX nước ta còn rất thấp kém do vậy sở hữu tư nhân về TLSX vẫn còn phù hợp với trình độ của LLSX. Bởi vậy trong giai đoạn đầu của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, sở hữu tư nhân về TLSX chẳng những không cần phải xoá bỏ mà còn cần được tạo điều kiện để phát triển. Sở hữu công cộng về TLSX vừa là phương tiện, vừa là mục tiêu cần thực hiện của công cuộc xây dựng CNXH. Do đó xây dựng sở hữu công cộng về TLSX còn là công cụ quan trọng định hướng nền kinh tế lên CNXH. Tuy nhiên việc xây dựng sở hữu công cộng về TLSX phải trải qua một thời kỳ lâu dài, từ thấp đến cao và luôn phải đặt trong mối liên hệ với trình độ phát triển của LLSX. Sở hữu công cộng về TLSX phải thể hiện ưu thế, sức sống của mình so với sở hữu tư nhân bằng năng suất, chất lượng, hiệu quả. Bởi vậy, xây dựng sở hữu công cộng về TLSX không đơn giản là thiết lập chế độ công hữu về TLSX dưới hai hình thức toàn dân và tập thể mà điều quan trọng và khó khăn hơn cả là phải làm cho sở hữu công cộng về TLSX có năng suất, chất lượng, và hiệu quả cao hơn so với sở hữu tư nhân. 2.1.2. Các hình thức sở hữu TLSX trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam, LLSX chưa phát triển cao và có nhiều trình độ khác nhau. Do đó, trong nền kinh tế tồn tại nhiều loại hình sở hữu TLSX: sở hữu tư nhân, sở hữu công cộng về TLSX và sở hữu hỗn hợp. Trong mỗi loại hình sở hữu TLSX tồn tại những hình thức sở hữu khác nhau và vì thế trong nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu: sở hữu tập thể, sở hữu nhà nước, sở hữu cá thể, sở hữu tư bản tư nhân, sở hữu hỗn hợp giữa nhà nước và tư nhân. Các hình thức sở hữu TLSX không tồn tại biệt lập mà đan xen và tác động lẫn nhau. Sở hữu nhà nước được xác lập trước hết đối với các công trình thuộc kết cấu hạ tầng, các nguồn tài nguyên, các tài sản quốc gia, … Sở hữu nhà nước còn được thiết lập trong các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế như: ngân hàng, bảo hiểm, bưu điện, đường sắt, hàng không, sản xuất điện, khai thác mỏ…Đồng thời, do hoàn cảnh lịch sử, sở hữu nhà nước còn được thiết lập ở các doanh nghiệp cung ứng hàng hoá, dịch vụ thông thường. Với sự thiết lập sở hữu nhà nước, nhà nước trở thành chủ thể kinh tế thực sự, thiết lập quan hệ kinh tế và tác động đến các chủ thể kinh tế khác. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, sở hữu tư bản tư nhân không còn là hình thức sở hữu thống trị, nhưng vẫn còn là hình thức sở hữu thống trị, nhưng vẫn tồn tại đan xen với sở hữu nhà nước, kể cả trong các thành phần kinh tế then chốt như ngân hàng, bảo hiểm,…Trong các khu vực kinh tế mà trình độ của LLSX thấp kém hơn thì tồn tại dưới hình thức sở hữu cá thể, sở hữu tập thể. Các hình thức sở hữu là cơ sở để thực hiện lợi ích của các chủ thể kinh tế và tác động với nhau trên tất cả các phương diện và tổ chức quản lý, phân phối thu nhập, năng suất, chất lượng, hiệu quả…Lợi ích của các chủ thể còn đòi hỏi các hình thức sở hữu liên kết với nhau và từ đó hình thức sở hữu hỗn hợp xuất hiện. 2.2. Nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam 2.2.1. Phạm trù thành phần kinh tế Thành phần kinh tế (TPKT) là một loại hình tổ chức hoạt động kinh tế với một QHSX xác định, có mối liên hệ chặt chẽ với LLSX nhất định đã ra đời, nhưng chưa phát triển tới độ bao trùm và thống trị tuyệt đối trong nền kinh tế hoặc đang bị thủ tiêu dần, không còn đủ tư cách là một PTSX hoàn chỉnh. Nghĩa là, TPKT phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa QHSX và LLSX, đặc trưng cho một kiểu tổ chức hoạt động kinh tế hướng tới việc thực hiện một PTSX nhất định hoặc là đang nảy sinh, hoặc là đang bị thủ tiêu dần. Mặc dù khái niệm PTSX và khái niệm TPKT đều bao trùm sự thống nhất biện chứng giữa QHSX và LLSX, nhưng hai khái niệm này không đồng nhất. Chỉ khi nào mối quan hệ của một loại hình QHSX nhất định gắn với một LLSX tương ứng đạt trình độ hoàn chỉnh chín muồi, giữ địa vị thống trị và quyết định xu hướng vận động phát triển của nền kinh tế thì nó mới trở thành PTSX. Còn khi mối liên hệ giữa QHSX và LLSX chỉ dừng lại ở mức độ chưa phát triển chín muồi, chưa trở thành thống trị và chỉ mới có ảnh hưởng nhất định đến xu hướng vận động của nền kinh tế, thì khi đó mới chỉ là hoạt động với tư cách là một TPKT. Nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên CNXH tồn tại đan xen của nhiều kết cấu kinh tế xã hội: Kết cấu KT-XH cũ đang suy thoái dần và kết cấu KT-XH mới đã phát sinh, đang phát triển dần từng bước. V.I. Lê-nin viết: “Danh từ quá độ nghĩa là gì ? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của CNTB và CNXH không? Bất cứ ai cũng thừa nhận là có”( V.I. Lênin toàn tập, tập 43, Nxb Tiến bộ, M.1978, Tr 248 ). Điều đó có nghĩa là trong nền kinh tế quá độ của thời kỳ quá độ lên CNXH không có PTSX nào tồn tại cả, mà nó chỉ có nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần. Sự cùng tồn tại của các thành phần kinh tế trong phạm vi một nền KT-XH thì gọi nó là tính nhiều thành phần của nền kinh tế. Tính chất nhiều TPKT là nét đặc trưng có tính quy luật của nền kinh tế quá độ vì thời kỳ quá độ là thời kỳ giáp ranh, chuyển tiếp từ sự thống trị của PTSX cũ sang sự thống rị của PTSX mới, cao hơn. Cũng vì vậy mà trong nền kinh tế quá độ cuả các TPKT đều không nguyên dạng, ít nhiều có những tính chất mới. Kinh tế nhà nước, kinh tế hợp tác chưa thể hiện đầy đủ tính chất XHCN; còn kinh tế tư nhân, kinh tế cá thể không còn giữ nguyên bản chất riêng của mình giống như nó trong XH cũ vì chúng phải chịu sự quản lý của nhà nước XHCN. Trong quá trình tồn tại, phát triển các thành phần kinh tế vận động phát triển theo hai hướng: hoặc là đang phát triển tới độ hoàn chỉnh để đi đến khẳng định mình với tư cách là một PTSX nhất định, độc lập, đại diện cho một thời đại, hoặc là đang bị suy yếu dẫn đến mức không còn tư cách là một PTSX hoàn chỉnh nữa, mà chỉ còn là hình thức kinh tế, lệ thuộc hữu cơ vào TPKT đã phát triển như một PTSX nhất định đang thống trị. Như vậy các TPKT chỉ tồn tại trong nền kinh tế quá độ, mà ở đó chưa xuất hiện một PTSX nào tồn tại và thống trị cả. Quá trình vận động, đấu tranh giữa các TPKT trong nền kinh tế quá độ sẽ chỉ có một TPKT phát triển tới độ hoàn chỉnh. Chín muồi vươn lên giữ địa vị thống trị, quyết định xu hướng vận động của nền kinh tế, đủ sức biến đổi những TPKT khác lệ thuộc suy yếu dần thành những hình thức kinh tế độc đáo của việc thực hiện PTSX đã hình thành và thống trị. Khi nền kinh tế quá độ với cơ cấu nhiều thành phần đã chuyển hoá thành nền kinh tế mà trong đó một TPKT đã trở thành PTSX thống trị các TPKT khác yếu dần thành những hình thức kinh tế lệ thuộc, thì lúc đó tính chất quá độ của nền kinh tế kết thúc trở thành nền kinh tế đã trưởng thành hoàn chỉnh của một chế độ XH mới, của hình thái KT-XH mới; khi đó xét về phương diện kinh tế thì thời kỳ quá độ sẽ kết thúc. Trong mỗi chế độ XH, trong mỗi hình thái kinh tế XH đều chỉ có một PTSX thống trị và nhiều hình thức kinh tế phụ thuộc. Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, nền kinh tế còn tồn tại nhiều thành phần, trong đó TPKT nhà nước giữ vai trò chủ đạo và cùng với sự lớn mạnh của kinh tế tập thể làm nền tảng cho sự phát triển của nền KTQD theo định hướng XHCN. Các TPKT tư nhân, cá thể được sử dụng và cải tạo theo CNXH. Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong đó nền kinh tế là nền kinh tế qúa độ nhiều thành phần. V.I.Lênin chỉ ra rằng, ở các nước đi lên CNXH, phổ biến có ba thành phần kinh tế cơ bản: Kinh tế XHCN, kinh tế TBCN và kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ. 2.2.2. Thực tiễn nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt Nam: Vận dụng tư tưởng của Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, Đảng ta khẳng định nước ta hiện có các TPKT sau: Kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế cá thể, kinh tế TBTN, kinh tế TB NN và kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài. Sự tồn tại của nhiều TPKT trong nền kinh tế quá độ là một tất yếu khách quan,tính rất yếu đó được quy định bởi các điểm sau: Do LLSX xã hội phát triển không đồng đều giữa các cùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng… Tương ứng với mỗi trình độ của LLSX có một loại hình QHSX, do đó có một TPKT tồn tại. Có bao nhiêu trình độ phát triển LLSX thì có bấy nhiêu loại hình QHSX, do đó có bấy nhiêu TPKT. Sự xuất hiện, phát triển và tiêu vong của các TPKT phụ thuộc vào trình độ phát triển của LLSX. Người ta không thể “xoá bỏ” hoặc “ưu tiên” TPKT này hay TPKT khác một cách chủ quan. Việc biến đổi QHSX được quyết định bởi tính chất và trình độ phát triển của LLSX. Không thể bỏ qua loại hình QHSX nào tức là không thể bỏ qua TPKT nào khi nó còn phù hợp và LLSX tương đồng với nó vòn tồn tại và cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế. Vịêc chuyển từ những QHSX, TPKT cũ lỗi thời sang những QHSX, TPKT chỉ diễn ra khi những điều kiện tồn tại vật chất của chúng đã chín muồi. C.Mác viết: “Một chế độ XH không bao giờ mất đi trước khi tất cả những LLSX mà chếe độ XH đó tạo địa bàn cho phát triển chưa được phát triển và những QHSX mới cao hơn không bao giờ xuất hiện trước khi nhũng điều kiện vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân XH cũ”(() Góp phần phê phán chính trị kinh tế học- Nxb Sự thật, H. 1971, Tr.8. ). Do tính chất qúa độ của nền kinh tế trong thời kỳ quá độ. Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên CNXH tồn tại đan xen của nhiều kết cấu KT-XH: kế cấu KT-XH cũ đang suy yếu dần và kết cấu KT-XH mới đã phát sinh, đang phát triển dần từng bước. Nghĩa là trong nền kinh tế quá độ lên CNXH không có PTSX nào tồn tại cả mà chỉ có nền kinh tế với cơ cấu nhiều thành phần. Tính chất quá độ của nền kinh tế quy định tính nhiều thành phần kinh tế, bởi vì: Thứ nhất: Khi giai cấp công nhân và nhân dân lao động giành được chính quyền và bước vào con đường xây dựng CNXH thì một đòi hỏi khách quan là phải từng bước xây dựng cơ sở KT-XH của chế độ mới, hình thành những thành phần kinh tế đóng vai trò nền tảnag cho nền kinh tế mới là kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, mặc dù chúng chưa đủ sức thống trị nền kinh tế. Đồng thời mặc dù tính chất quá độ từ một nước thuộc địa nửa phong kiến đi lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN, nước ta tất yếu còn có kinh tế TB nhà nước, kinh tế TB tư nhân, kinh tế cá thể tiểu chủ của nông dân, thợ thủ công, người làm thương nghiệp, dịch vụ… Những TPKT này vẫn đang tồn tại và phát huy tác dụng bên cạnh những TPKT mới. Thứ hai: Quá trình xã hội hoá nền kinh tế không chỉ thể hiện ở ở sự phát triển của phân công lao động, sự liên kết hợp tác, đan xen giữa các TPKT nhiều tầng năng động mà còn phản ánh sự dịch chuyển không ngừng, thay đổi cấu trúc không ngừng và chuyển hoá lẫn nhau giữa các TPKT để duy trì XH hóa thực tế. Sự cùng tồn tại của nhiều TPKT là một tất yếu kinh tế. Bởi lẽ nền kinh tế nhiều thành phần tạo ra một động lực rất quan trọng về nhiều mặt: Giải quyết được mọi sức sản xuất tiềm tàng và mọi tiềm năng của đất nước để phát triển nền KTQD, tập hợp mọi nguồn lực rộng rãi trong toàn xã hội về lao động, trí tuệ cho công cuộc phát triển một cách nhanh nhất, có hiệu quả nhất. Mỗi TPKT có vị trí, vai trò và tác dụng to lớn của nó trong việc phát triển nền kinh tế, mà TPKT khác không thể thay thế được. Sự phát triển hài hoà của tất cả các TPKT sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp cho nền kinh tế, để giải quyết vấn đề việc làm, thu nhập của người lao động . Phát triển các TPKT là cơ sở để phát triển SX, phát triển KTTT, tạo thuận lợi cho cơ chế thị trường định hướng XHCN vận động có hiệu quả. Phát triển TPKT có tác dụng to lớn trong việc động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài, động viên mọi tầng lớp nhân dân xây dựng nền kinh tế, phát triển LLSX phục vụ CNH- HĐH đất nước. Phát triển nền KTHH nhiều thành phần là cơ sở vưng chắc để đảm bảo sự dân chủ về kinh tế. Phát triển cácTPKT là điều kiện để đại đa số công dân tham gia hoạt động kinh tế, làm giàu chính đáng, không ngừng nâng cao đời sống. Đó là tiền đề cho dân chủ hoá đời sống KTXH và thực hiện đựơc mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.” Trước đây về mặt lý luận đã khẳng định rằng, sự tồn tại nhiều TPKT là tất yếu khách quan, là đặc trưng kinh tế của thời kỳ quá độ lên CNXH. Song trên thực tế chúng ta lại chủ trương xoá bỏ nền kinh tế nhiều thành phần bằng “làn sóng” quốc doanh hoá, tập thể hóa, tạo dựng lên bức tường ngăn cách giữa kinh tế XHCN với các TPKT TBTN , cá thể. Điều này trái với quy luật khách quan, trái với lý luận của chủ nghĩa Mac-Lênin, nó dẫn đến hậu quả tiêu cực: Các tiềm năng kinh tế của đất nước không được khai thác, LLSX XH bị lãng phí một cách nghiêm trọng, sự phát triển của kinh tế hàng hóa bị kìm hãm, do đó đời sống của nhân dân lao động gặp nhiều khó khăn. Đổi mới kinh tế không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan nhiều TPKT mà còn phải thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách cơ cấu kinh tế nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Phần II: Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam Những mâu thuẫn nảy sinh và biện pháp giải quyết I. Thực trạng xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam : 1.1. Vai trò của cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam: Sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam không chỉ là một tất yếu khách quan mà nó còn có vai trò to lớn, vì: Nền kinh tế tồn tại nhiều thành phần, có nghĩa là tồn tại nhiều hình thức QHSX, sẽ phù hợp với thực trạng thấp kém và không đồng đều của LLSX ở nước ta hiện nay. Sự phù hợp này đến lượt nó lại có tác dụng thúc đẩy tăng năng suất lao động, tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho nâng cao hiệu quả kinh tế trong các TPKT và trong toàn bộ nền KTQD ở nước ta. Nền kinh tế nhiều thành phần thúc đẩy phát triển kinh tế hàng hoá, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân, phát triển các mặt của đời sống kinh tế xã hội. Cho phép khai thác và sử dụng có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của các TPKT trong nước như: vốn, lao động, tài nguyên, kinh nghiệm, tổ chức quản lý, KHCN mới trên thế giới… Tạo điều kiện thực hiện và ở rộng các hình thức kinh tế quá độ, trong đó có hình thức kinh tế TBNN, nó như những “cầu nối”, trạm “trung gian” cần thiết để đưa nước ta từ sản xuất nhỏ lên CNXH bỏ qua chế độ TBCN. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần tạo ra tiền đề khắc phục tình trạng độc quyền, tạo ra quan hệ cạnh tranh - động lực quan trọng thúc đẩy cải tiến kỹ thuật phát triển LLSX. Như vậy, cơ cấu kinh tế nhiều thành phần có vai trò to lớn trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Cơ cấu đó vừa phù hợp với tình độ XH hoá của LLSX ở nước ta, vừa phù hợp với lý luận của Lênin về đặc điểm kinh tế nhièu thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Vì vậy, Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định rằng: “chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ lên CNXH và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người được tự do làm ăn theo pháp luật”. 1.2. Các thành phần kinh tế ở nước ta hiện nay: Căn cứ vào nguyên lý chung và điều kiện cụ thể của Việt Nam, Đảng cộng sản xác định: Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam có 6 thành phần: 1.2.1. Kinh tế nhà nước: Kinh tế nhà nước là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu công cộng về TLSX ( sở hữu toàn dân và sở hữu nhà nước). Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà nước có thể đưa vào vòng chu chuyển kinh tế. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền KTQD, là nhân tố mở đường cho sự phát triển kinh tế, là lực lượng vật chất quan trọng và công cụ để nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước, một bộ phận quan trọng nhất của nền kinh tế, giữ vị trí then chốt, phải đi đầu trong việc ứng dụng tiến bộ KHCN, nêu gương về năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế xã hội và chấp hành pháp luật. 1.2.2. Kinh tế tập thể: Kinh tế tập thể là TPKT bao gồm những cơ sở kinh tế do người lao động tự nguyện góp vốn, cùng kinh doanh theo nguyên tắc tập trung, bình đẳng, cùng có lợi. Kinh tế tập thể với nhiều hình thức hợp tác đa dạng mà nòng cốt là hợp tác dựa trên sở hữu của các thành viên và sở hữu tập thể, liên kết rộng rãi những người lao động, các hộ sản xuất, kinh doanh, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các TPKT; không giới hạn quy mô và thuộc các TPKT, phân phối theo lao động, theo vốn góp và mật độ tham gia dịch vụ, hoạt động theo nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm. Thành viên kinh tế tập thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân, cả người ít vốn và người nhiều vốn, cùng góp vốn và góp sức trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi và quản lý dân chủ. Kinh tế tập thể lấy lợi ích kinh tế làm chính bao gồm lợi ích các thành viên và lợi ích tập thể, đồng thời coi trọng lợi ích XH của các thành viên, góp phần xoá đói, giảm nghèo, tiến lên làm giàu cho các thành viên. Sự phát triển kinh tế tập thể trong điều kiện nước ta rất cần có sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và sự hỗ trợ của nhà nước. Bởi vậy, “phải tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo và có chính sách khuyến khích, ưu đãi, giúp đỡ kinh tế hợp tác phát triển có hiệu quả, thực hiện tốt._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc35660.doc
Tài liệu liên quan