Thị trường Xuất khẩu hàng hoá - Giải pháp phát triển Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ

Lời Nói Đầu Trong xu hướng hội nhập toàn cầu hoá hiện nay, thế giới đang có những sự thay đổi lớn lao về nhiều mặt, thương mại quốc tế là một bộ phận quan trọng, gắn liền với tiến trình hội nhập đó. Nó có vai trò quyết định đến lợi thế của một quốc gia trên thị trường khu vực và Thế giới . Vì vậy việc giao lưu thương mại nói chung và xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ nói riêng là một mục tiêu kinh tế hàng đầu không nằm trong phạm vi của mọt quốc gia nào cả. Và Việt Nam cũng không là một ngoại lệ. Nư

doc12 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1123 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thị trường Xuất khẩu hàng hoá - Giải pháp phát triển Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ớc ta là một nước có nền kinh tế đang bước đầu phát triển, cơ sở vật chất, kỹ thuật còn thấp kém, dân số phát triển với tỉ lệ cao, cán cân thương mại bị thâm hụt, mức dự trữ ngoại tệ còn nhỏ bé nên việc xuất khẩu để thu ngoại tệ, nâng cao cơ sở vật chất , cải thiện đời sống, phát triển kinh tế và hội nhập với Thế giới là một đòi hỏi tất yếu để phát triển tiềm lực kinh tế cuả Đất Nước. Để hiểu rõ hơn về thị trường xuất khẩu của Việt Nam , em đã chọn đề tài “Thị trường xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam - những vấn đề đặt ra và giải pháp phát triển. Xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ” để nghiên cứu. Phần nội dung I >Một số nhận thức về hoạt động xuất khẩu hàng hoá 1 >Khái niệm về hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ cho nước ngoài trên cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.Cơ sở của hoạt động xuất khẩu là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hoá ( bao gồm cả hàng hoá hữu hình và vô hình) trong nước. Khi sản xuất phát triển và việc trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia tăng lên, hoạt động này mở rộng phạm vi ra ngoài biên giới của các quốc gia hoặc giữa thị trường nội địa và khu chế xuất trong nước . Xuất khẩu là một hoạt động cơ bản của ngoại thương, xuất hiện lâu đời mà hình thức cơ bản ban đầu của nó là hoạt động trao đổi hàng hoá giữa các quốc gia .Cho đến nay nó đã phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu với nhiều hình thức khác nhau. Hoạt động xuất khẩu ngày nay diễn ra trên toàn cầu, trong tất cả các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, không chỉ ở hàng hoá hữu hình mà còn là hàng hoá vô hình với tỉ trọng lớn. 2> Vai trò của hoạt động xuất khẩu Xuất khẩu là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh tế đối ngoại, xuất khẩu đã trở thành phương tiện để phát triển kinh tế, xuất khẩu là hình thức kinh doanh quan trọng nhất, nó phản ánh quan hệ thương mại, buôn bán giữa các quốc gia trong phạm vi khu vực và thế giới. Hình thức kinh doanh xuất khẩu thường là hoạt động kinh tế quốc tế cơ bản của một quốc gia, nó là “chiếc chìa khoá” mở ra những giao dịch quốc tế, tạo ra nguồn thu chi ngoại tệ chủ yếu của một nước khi tham gia vào hoạt động kinh tế quốc tế. Thực tế đã chứng minh các nước đi nhanh trên con đường tăng trưởng và phát triển kinh tế là nước có nền ngoại thương mạnh và năng động. Vì vậy vai trò của hoạt động xuất khẩu có một ý nghĩa chiến lược để phát triển kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá Đất nước. Xuất khẩu sẽ đem lại những lợi ích: Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ, góp phần cho sản xuất phát triển và ổn định. Thông qua xuất khẩu, hàng hoá sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng. Cuộc cạnh tranh này đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi với thị trường. Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống nhân dân. Xuất khẩu là cơ sở mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại của Đất nước . Xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp củng cố và nâng cao kỹ năng quản lý chuyên môn, nâng cao trình độ tay nghề của đội ngũ cán bộ nhân viên. II Thực trạng và vấn đề đặt ra đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam 1. Thực trạng : Về tốc độ tăng trưởng : Nhìn chung trong thời kì đổi mới, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam tăng nhanh. Năm 1988, một năm sau khi thực hiện cơ chế chuyển sang kinh tế thị trường, khối lượng xuất khẩu tăng 80% so với năm 1987. Bắt đầu từ đó, Việt Nam duy trì mức tăng trưởng xuất khẩu bình quân hơn 20% một năm . Hoạt động nhập khẩu trong trong 10 năm qua (1989-1999) cũng đi theo một xu hướng tương tự : gia tăng đều đặn nhưng tốc độ chậm hơn tăng trưởng xuất khẩu . Về cơ cấu mặt hàng xuất khẩu : Trong những năm gần đây,cơ cấu mặt hàng xuất khẩu đã có những bước thay đổi tích cực . Nhóm hàng xuất khẩu nguyên liệu thô đã giảm từ 91% trong tổng số kim ngạch xuất khẩu vào năm 1994 xuống còn 72% vào năm 1998. Rõ nét nhất là nhóm hàng chủ lực như : dầu thô, than, cao su,thuỷ sản,gạo, cà phê, hạt điều,chè đạt tốc độ tăng bình quân 18%/năm, các mặt hàng khác có mức chế biến cao đạt mức tăng bình quân 41%/năm, nhờ đó tạo ra mức tăng trưởng bình quân các mặt hàng là :26%.Tăng trội hơn cả trong các mặt hàng chế biến là các mặt hàng giầy dép và may mặc tăng tới 100%/năm và 50%/trong năm 1998.Tỷ trọng các mặt hàng chế biến sâu (trong đó có hàng chế tạo) năm 1994 chỉ chiếm 8,5%năm 1997 đã lên đến 25%, năm 1999 đã tăng lên thành 30%. Năm 2001, cơ cấu xuất khẩu tăng tuy chậm nhưng vẫn tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng hàng đã qua chế biến, nhất là chế biến sâu . Tỷ trọng của 4 nhóm hàng dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ tinh chế và điện tử trong kim ngạch xuất khẩu đã tăng từ 27,8% lên 31,5%, mặc dù các nhóm này đều gặp khó khăn gay gắt trong năm 2001 . Nhóm nguyên liệu thô và mặt hàng sơ chế chủ lực (dầu thô, gạo, hải sản, cà phê, cao su, điều nhân )chỉ còn chiếm 45% kim ngạch xuất khẩu (năm 2000 chiếm 50%). Nếu phân theo ngành kinh tế thì nhóm nông, thuỷ sản chỉ còn chiếm 37% kim ngạch xuất khẩu, nhóm sản phẩm công nghiệp ( kể cả của công nghiệp khai khoáng )đã chiếm tới 63%. Đây là một bước chuyển tích cực trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam . 2 Vấn đề đặt ra đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam : Chất lượng của hàng hoá xuất khẩu : Ngày nay trên thế giới, một sản phẩm chỉ có thể chiếm lĩnh được thị trường khi hội đủ các yếu tố cơ bản, bao gồm sự công nhận của người tiêu dùng, sự tự chứng nhận của nhà sản xuất và mức độ tiêu thụ đạt được, mà một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định sự công nhận đó chính là chất lượng sản phẩm .Vậy liệu hàng hoá của Việt Nam có thâm nhập được vào thị trường nước ngoài hay không ? Hiện nay nhìn chung các doanh nghiệp Việt Nam còn mắc phải những hạn chế như thiếu thông tin, tư tưởng thụ động, từ đó dẫn đến chất lượng hàng hoá không đồng đều, chính vì vậy khối lượng thành phẩm hoàn chỉnh của Việt Nam xuất khẩu ra nước ngoài chưa cao, chủ yếu vẫn là xuất khẩu nguyên liệu thô( chiếm70% kim ngạch xuất khẩu). Khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới : Trong xu thế hội nhập, ngày càng có nhiều quốc gia cũng lựa chọn mô hình hướng vào xuất khẩu, do đó cuộc cạnh tranh giành giật thị trường giữa các quốc gia tương đồng về trình độ, cơ cấu sản xuất sẽ quyết liệt hơn . Nếu sức cạnh tranh của hàng hoá không cao thì các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp khó khăn khi thị trường dần bị thu hẹp . Và mộtt khi tiến trình hội nhập của Việt Nam đi vào thực tế, Việt Nam xuất khẩu nhiều hàng hoá hơn, vào nhiều thị trường hơn và hàng hoá của Việt Nam có sức cạnh tranh cao hơn đe doạ sự tồn tại của hàng hoá các nước thì hệ quả tất yếu của các doanh nghiệp Việt Nam phải đương đàu và chống đỡ rất khó khăn đối với nhiều rào cản thương mại của các nước, ví dụ như việc Hoa Kỳ áp dụng hoặc đe doạ áp dụng thúe bán phá giá với cá tra, cá basa và tôm ; EU áp dụng với bật lửa ga và ocid kẽm, và Canada áp dụng với giày có đế chống thấm .v.v.. III> Một số biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam. 1.Về phía nhà nước. 1.1. Cần xây dựng chiến lược ngành hàng theo hướng khai thác tối đa tiềm năng của nền kinh tế, khai thác tối đa lợi thế cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu, tránh hiện tượng đầu tư tràn nan kém hiệu quả. 1.2. Hoàn thện và xây dựng đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu phát triển, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu trên thị trường thế giới. 1.3. Đổi mới quan điểm luận cứ khi xây dựng cơ chế chính sách. Về quan điểm: cần gắn kinh tế Việt Nam với kinh tế ASEAN, các giải pháp tăng cường sự hội nhập của Việt Nam trong khối ASEAN phải đảm bảo khai thác những lợi thế và hạn chế những yếu kém của nền kinh tế Việt Nam. Phải vừa hợp tác phát triển vừa cạnh tranh. Tiếp tục chính sách đối ngoại đa rạng hoá thị trường đa phương hoá quan hệ. Về nguyên tắc: phải hội nhập từng bước, theo lộ trình đã vạch. Có đi có lại. Tuân thủ pháp luật Việt Nam và các quy định của nhà nước về quản lý kinh tế, tôn trọng pháp luật và tập quán thương mại quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết với bên ngoài. 1.4. Đảm bảo quyền bình đẳng của các chủ thể tham gia hoạt động xuất nhập khẩu. Trước hết, nhà nước phải đảm bảo quyền bình đẳng hoàn toàn trong việc tiếp cận các yếu tố đầu vào( Vốn tín dụng, đất đai, lao động), sau đó là quyền bình đẳng trong việc nhận hỗ trợ đầu tư, hỗ trợ kinh doanh từ phía nhà nước. 1.5. Có trách nhiệm về các vấn đề thị trường, thông tin và xúc tiến thương mại. Khắc phục đồng thời hai biểu hiện tiêu cực là ỷ lại vào nhà nước và phó mặc cho doanh nghiệp. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại để hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực thông tin và tiếp thị. Tiến hành sâu rộng một chiến dịch nhằm cải thiện hình ảnh về hàng hoá Việt Nam trên thị trường thế giới. 1.6. Đẩy mạnh cải cách hành chính, xoá bỏ các rào cản bất hợp lý đang cản trở hoạt động xuất khẩu. Công khai hoá và pháp luật hoá là việc đầu tiên cần làm trong tiến trình đổi mới công tác quản lý. Hoàn thiện cơ chế quản lý xuất nhập khẩu, ổn định môi trường pháp lý Về thủ tục hành chính và hải quan: tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho hoạt động xuất khẩu, bỏ đi những thủ tục rườm rà không cần thiết, phát triển theo hướng đơn giản hoá công khai hoá hiện đại hoá. Đơn giản hóa chế độ hoàn thuế, đặc biệt là hoàn thuế nhập khẩu vật tư phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và hoàn thuế VAT. Nhanh chóng ban hành các chú giải biểu thuế để tránh tranh chấp trong việc áp mã tính thuế. 1.7. Có kế hoạch và biện pháp bồi dưỡng đào tạo cán bộ làm công tác thị trường trong và ngoài nước. 2. Về phía doanh nghiệp. Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới. Tập trung xây dựng chiến lược doanh nghiệp để đạt được mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn. Nâng cao chất lượng lao động và quản lý lao động trong doanh nghiệp. Đổi mới và hiện đại hoá công nghệ với chi chí thấp. Nhập các thiết bị nước ngoài, học tập nguyên tắc thiết kế, tự thiết kế lại, cải tiến cho phù hợp với điều kiện sản xuất và chế tạo tại Việt Nam. Các doanh nghiệp cần khai thác các thông tin qua mạng để đi theo các hướng công nghệ mới và tìm kiếm sự trợ giúp kỹ thuật từ bên ngoài doanh nghiệp. Tìm cơ hội liên doanh với các công ty nước ngoài có khả năng công nghệ hiện đại. Doanh nghiệp cần có định hướng bồi dưỡng, đào tạo tài năng trẻ và gửi đi đào tạo ở các nước phát triển bằng nguồn tài chính của doanh nghiệp. IV. Đánh gía chung tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ Những thuận lợi và cơ hội xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ. 1.1/ Về mặt cơ chế chính sách: Công cuộc đổi mới kinh tế bắt đầu từ năm 1986 đã giúp cho nền kinh tế Việt Nam có những phương hướng và động lực phát triển mới. Và trong thời kỳ đổi mới này đã có những chính sách tác động tích cực đến ngành dệt may: Thứ nhất, thông qua các đại hội VI, VII, VIII, Đảng cộng sản Việt nam đã xác định sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu là những mục tiêu quan trọng trong chiến lược đầu tư để chuyển dịch cơ cấu kinh tế hướng về xuất khẩu. Luật đầu tư nước ngoài tại Việt nam ra đời tháng 2/1987 và được sửa đổi đã tạo ra khả năng cho toàn bộ nền kinh tế nói chung và ngành dệt may nói riêng thu hút được khá lớn vốn đầu tư nhằm mục tiêu phát triển sản xuất. Thứ hai, với chính sách mở cửa nền kinh tế tích cực tham gia quan hệ ngoại giao đa phương hóa chính phủ Việt nam đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp dệt may vươn ra chiếm lĩnh thị trường nước ngoài, Thứ ba, chính sách về khuyến khích xuất khẩu. Để khuyến khích xuất khẩu từ nhiều năm nay nhà nước không đánh thuế xuất khẩu vào mặt hàng dệt may hay nói cách khác là áp dụng biểu thuế bằng 0% đối với các mặt hàng dệt may. 1.3/ Những thuận lợi về nguồn nhân lực: Nước ta hiện nay có nguồn nhân lực hết sức dồi dào, phong phú. Với dân số cả nước gần 80 triệu người, số người trong tuổi lao động xấp xỉ 34 triệu trong đó phụ nữ chiếm 52% ngành dệt may có nhiều công đoạn thủ công, không đòi hỏi sức lực cao nên rất phù hợp bới nữ giới, với đức tính lao động cần cù sáng tạo. Giá nhân công của Việt nam tương đối rẻ hơn so với các nước khác và đây là thế mạnh để tăng ưu thế cạnh tranh trong giá bán hàng may mặc trên thị trường quốc tế. Những trở ngại và thách thức của hàng dệt may vào thị trường Mỹ. Trong những năm qua kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt nam đã tăng trưởng không ngừng và chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu (đứng thứ hai sau dầu thô) .Tuy nhiên kim ngạch hàng dệt may Việt nam xuất khẩu sang thị trường Mỹ, một thị trường tiềm năng lớn còn rất nhỏ. Nguyên nhân chủ yếu là do hiện nay hàng dệt may của Việt nam khi xuất khẩu vào Mỹ vẫn phải chịu thuế suất rất cao. Bên cạnh trở ngại thuế quan để tăng cường xuất khẩu sang thị trường Mỹ hàng dệt may Việt nam phải đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm của Mỹ và các nước xuất khẩu truyền thống vào Mỹ như: Trung Quốc, ấn Độ, và các nước nam Mỹ , đặc biệt là Trung Quốc đang có rất nhiều thế mạnh. Một bất lợi nữa là trong số các mặt hàng của Việt nam xuất khẩu vào thị trường Mỹ thì hàng dệt may phải chịu mức thuế phí NTR rất cao, gần gấp 2,5 lần so với các nước khác. 3. Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ trong những năm tới 3.1 Định hướng xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ a. Phương hướng tổng quát: Đảng và nhà nước cùng các cấp lãnh đạo ngành công nghiệp dệt may đã xây dựng được những quan điểm chủ đạo và các mục tiêu quan rrọng về phát triển xuất khẩu hàng dệt may trong thời gian tới. Với mục đích tạo công ăn việc làm cho người lao động và đóng góp một mức tăng trưởng nhanh về doanh thu xuất khẩu . Ngành dệt may cần phải thực hiện theo các bước: Một là, phải hoàn thành nhanh chóng kế hoạch tổng thể phát triển ngành dệt may đến năm 2010, xây dựng một chiến lược kinh doanh của toàn công ty trong đó kết hợp với chiến lược thị trường và chiến lược sản phẩm để tập trung đầu tư vào việc thực hiện chiến lược. Hai là, phải không ngừng mở rộng thị trường tại Mỹ . Phải chú trọng đến các mặt hàng mới, mặt hàng chất lượng cao theo tiêu chuẩn ISO 9000 và đa dạng hoá sản phẩm.Phải đẩy mạnh và khuyến khích phương thức giao hàng FOB để dần dần giảm bớt tỷ lệ hợp đồng phụ. Phải đánh giá cao thị trường nội địa. Ba là, phải tăng cường đẩu tư để nâng cao chất lượng vải đảm bảo đủ máy móc và thiết bị sản xuất, nguyên vật liệu thay thế, phát triển các sản phẩm mới và các sản phẩm truyền thống, đưa vào nhiều mẫu mã đẹp. Phải kết hợp giữa khuyến khích đầu tư và mở rộng đầu tư đẩy mạnh đầu tư thông qua các liên doanh và hợp tác trong và ngoài nước để thu hút vốn, công nghệ, thị trường và kỹnăng quản lý nhân sự. Phải tạo nhiều hướng đầu tư hướng tới thành lập các công ty cổ phần để nhanh chóng thực hiện quyền làm chủ của người lao động. Bốn là, để hoàn thành được mục tiêu tổng công ty cần sớm có một liên đoàn dệt may Việt nam để phối hợp hoạt động và tập trung mọi nguồn lực nhằm đối mặt với những thách thức của sự cạnh tranh khốc liệt trên khu vực và quốc tế. b. Phương hướng cụ thể: Để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ trong những năm tới chúng ta cần quan tâm tới những vấn đề chính sau: Phải đảm bảo ổn định xản xuất ổn định thị trường. Đặc biệt cần ổn định hạn ngạch được cấp, nếu ngược lại sẽ mất thị trường. Tăng cường kiểm tra kiểm soát đánh giá thực chất việc thực hiện hạn ngạch. Liên bộ chỉ cấp hạn ngạch các chủng loại hàng các năm qua sử dụng hết hạn ngạch Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ tài chính, cơ sở hạ tầng đất đai, lao động… đối với các doanh nghiệp nhỏ , vừa và mới thành lập vì loại hình này thích hợp với kinh doanh xuất khẩu. Hàng năm tổ chức các cuộc tiếp xúc giữa các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp dệt may có doanh số xuất khẩu hàng năm trên 1 triệu USD để trao đổi thông tin, tìm kiếm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may. Kết luận Góp phần quan trọng trong thành tựu chung của đất nước, hoạt động xuất khẩu của Việt Nam đã giải quyết được những vấn đề kinh tế, khai thác được nội lực và phát huy được tiềm năng, lợi thế so sánh của đất nước. Tuy nhiên, công tác xuất khẩu của chúng ta vẫn còn bộc lộ một số tồn tại như quy mô và kim ngạch xuất khẩu còn nhỏ bé so với các nước trong khu vực, cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu còn ở tình trạng lạc hậu, chất lượng thấp, , sức cạnh tranh yếu, thị trường xuất khẩu còn bấp bênh, chủ yếu là thị trường gần, nhiều trường hợp phải buôn bán qua trung gian, còn thiếu những hợp đồng lớn và dài hạn. Trong thời gian tới, cùng với lộ trình tham gia AFTA và trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới( WTO) đòi hỏi chúng ta phải có những thay đổi phù hợp và hữu hiệu để có thể mở rộng thị trường và tăng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá ra nước ngoài. Mục lục Lời mở đầu 1 Phần nội dung 2 I. Một số nhận thức về hoạt động xuất khẩu hàng hoá 2 1. Khái niệm về hoạt động xuất khẩu 2 2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu 2 II. Thực trạng và vấn đề đặt ra đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam 3 1. Thực trạng 3 2. Vấn đề đặt ra đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam 4 III. Một số biện pháp cơ bản nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hoá ở Việt Nam 5 1. Về phía nhà nước 5 2. Về phía doanh nghiệp 6 IV. Đánh gía chung tình hình thực hiện hoạt động xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ 7 1. Những thuận lợi và cơ hội xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường Mỹ. 7 2. Những trở ngại và thách thức của hàng dệt may vào thị trường Mỹ 8 3. Phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường khả năng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ trong thời gian tới 8 Kết luận 10 Tài liệu tham khảo Báo công nghiệp số 1,2,5 năm 2000 Báo doanh nghiệp số 6,7,8 năm 2000 Thời báo kinh tế Việt nam số 32,34,46,48 năm 2000 Thương nghiệp thị trường Việt nam số 7/2000, 6/2001 Báo thương mại T4/2001 Tạp chí kinh tế và phát triển số 44/2000, số 2+3 năm 2000, số 25, 31 năm 1999 Tạp chí dệt may Việt nam từ số 144_149 năm 1999, số 150_153 năm 2000. Việt nam ECONOMIC REVIEW số 9+10 năm 1998, số 3 năm 1998. Sách: Thương mại quốc tế của PGS.PTS Nguyễn Duy Bột chủ biên. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0640.doc