Thu hút & sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam. Thực trạng & Giải pháp

Tài liệu Thu hút & sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam. Thực trạng & Giải pháp: Em xin chân thành cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Thường Lạng đã giúp em hoàn thành luận văn này. Do năng lực có hạn, sự eo hẹp về thời gian, sự hạn chế về nguồn tài liệu nên chắc hẳn bài viết có nhiều thiếu sót, em rất mong nhận được các ý kiến góp ý để bài viết hoàn thiện hơn. Hà Nội, ngày 27 tháng 5 năm 2008 Sinh viên thực hiện Lê Thị Mai Anh Mục lục Bảng chữ viết tắt Số TT Chữ viết tắt Nghĩa đầy đủ Tiếng Việt Tiếng Anh 1 APEC Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Asi... Ebook Thu hút & sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam. Thực trạng & Giải pháp

doc113 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1494 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Thu hút & sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam. Thực trạng & Giải pháp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a-Pacific Economic Cooperation 2 ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á Association of Southeast Asian Nations 3 AIDS Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải Acquired Immunodeficiency Syndrome 4 ADB Ngân hàng phát triển châu Á Asian Development Bank 5 CAP Chương trình hỗ trợ quốc gia Country Assitance Program 6 CIEM Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Central institute for economic management 7 CG Nhóm các nhà tài trợ Consultalive Group 8 DAC Ủy ban hỗ trợ phát triển Development Assistance Committee 9 EU Liên minh châu Âu European Union 10 EPA Hiệp hội bảo vệ môi trường của Mỹ Environmental Protection Agency, 11 FPT Công ty cổ phần Phát triển Đầu tư Công nghệ The Corporation for Financing and Promoting Technology 12 FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign direct investment 13 FY Năm tài chính Fiscal year 14 GTGT Giá trị gia tăng 15 GMS Khu vực Tiểu vùng sông Mekong mở rộng Greater Mekong Subregion 16 GNP Tổng sản phẩm quốc dân Gross national product 17 GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product 18 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund 19 JBIC Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản Japan Bank for International Cooperation 20 JICA Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản Japan International Cooperation Agency 21 JAIDO Tổ chức phát triển quốc tế Nhật Bản Japan International Development Organization Ltd. 22 JEXIM Ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản The Export-Import Bank of Japan 23 JOVC Chương trình Tình nguyện viên hợp tác hải ngoại Nhật Bản Japan Overseas Cooperation Volunteers 24 MDBs Các Ngân hàng phát triển đa phương Multilateral Development Banks 25 MPI Bộ Kế hoạch và Đầu tư Ministry of Planning and Investment 26 M/P Quy hoạch tổng thể 27 MoF Bộ Tài chính Ministry of Finance 28 NĐ-CP Nghị định – Chính phủ 29 NGOs Các tổ chức phi chính phủ None Government Organizations 30 ODA Hỗ trợ phát triển chính thức Official Development Assistance 31 OECF Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại The Overseas Economic Cooperation Fund 32 OECD Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển Organization of Economic Co-operation and Development 33 PTKT-XH Phát triển kinh tế-xã hội 34 PMU Ban Quản lý các dự án Project Management Unit 35 QĐ-BKH Quyết định – Bộ Kế hoạch 36 SAPROF Kỹ thuật hình thành dự án Special Assistance for Project Formulation 37 TBCN Tư bản chủ nghĩa 38 TT-BTC Thông tư - Bộ Tài chính 39 Tp HCM Thành phố Hồ Chí Minh 40 TQ Trung Quốc 41 USD Đồng Đô la Mỹ United States Dollar 42 UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc United Nations Development Programme 43 UNICEF Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc United nations international children’s emergency fund 44 UNHCR Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn United Nations High Commissioner for Refugees 45 UBND Ủy ban nhân dân 46 WTO Tổ chức thương mại thế giới World Trade Organization 47 WB Ngân hàng thế giới World Bank 48 XHCN Xã hội chủ nghĩa Lời mở đầu 1. Tính cấp thiết của đề tài Nhật Bản từ một nước bại trận sau chiến tranh thế giới lần thứ hai, nền kinh tế kiệt quệ, đã bắt đầu xây dựng lại nền kinh tế nhờ các khoản viện trợ nước ngoài. Cho đến nay Nhật Bản đã không chỉ vươn lên trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới và hiện đang dẫn đầu là nhà tài trợ lớn nhất trên thế giới trong nhiều năm liên tục. Với các nước đang phát triển, nơi đang đối mặt với nhiều khó khăn gay gắt thì sự giúp đỡ của các nước phát triển, trong đó có Nhật Bản là hết sức cần thiết. Không thể phủ nhận rằng ODA của Nhật Bản đã góp phần giải quyết những khó khăn, đặc biệt là vốn, trong quá trình chuyển đổi và cải tổ nền kinh tế, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng như cải thiện cuộc sống ở các nước nhận viện trợ trong đó có Việt Nam. Nhật Bản vẫn luôn là nhà tài trợ lớn trong nhiều năm liền cho Việt Nam. Nhờ nguồn vốn ODA Nhật Bản, cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam được cải thiện đáng kể. Đó là những nhà máy điện, những tuyến đường huyết mạch, những công nghệ được chuyển giao… Quan hệ kinh tế Việt Nam – Nhật Bản cũng qua đó càng trở nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, hoạt đông thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam vẫn còn nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết nhằm thu hiệu quả tốt hơn. Đó là việc chậm chạp trong triển khai thực hiện, vấn đề giải phóng mặt bằng, vấn đề tốc độ giải ngân chậm… Vậy, làm thế nào để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn này phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước? Xuất phát từ những suy nghĩ trên đây, đề tài “Thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam: thực trạng và giải pháp” được lựa chọn để nghiên cứu. 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở tìm hiểu tổng quan về nguồn vốn ODA nói chung và ODA Nhật Bản nói riêng, luận văn tập trung nghiên cứu hiện trạng việc thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam, qua đó, đánh giá những thành tựu đã đạt được cũng như các vấn đề còn tồn tại, nguyên nhân của chúng. Luận văn đưa ra một số giải pháp cho việc thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1. Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA, tập trung vào phân tích và đánh giá hoạt đông thu hút và sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam 3.2. Phạm vi Luận văn tập trung vào nghiên cứu hoạt động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam chủ yếu trong giai đoạn từ năm 1992 tới nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng kết hợp phương pháp so sánh, phân tích tổng hợp. Nguồn tư liệu được sử dụng trong bài nghiên cứu được lấy từ các báo cáo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các báo cáo hàng năm của JICA, các Tạp chí thương mại, Niên giám thống kê, các nghiên cứu, báo kinh tế Việt Nam và thông tin từ mạng Internet. 5. Kết cấu Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Tổng quan chung về nguồn vốn ODA và hoạt động hỗ trợ phát triển của Nhật Bản Chương 2: Thực trạng việc thu hút va sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA Nhật Bản tại Việt Nam Chương 1: Tổng quan về nguồn vốn ODA và hoạt động hỗ trợ phát triển của Nhật Bản 1.1. Tổng quan về ODA 1.1.1. Khái niệm về nguồn vốn ODA ODA là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một thời gian ân hạn và lãi suất thấp) của Chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi Chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế (WB, ADB, IMF...) dành cho Chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ. Các cơ quan và tổ chức viện trợ phát triển nêu trên được gọi chung là đối tác viện trợ nước ngoài. DAC của OECD có thành viên là các nước tài trợ chính đã đưa ra định nghĩa về ODA như sau: ODA là sự trợ giúp của Chính phủ hoặc các cơ quan thuộc khu vực công cộng với mục đích là góp phần vào sự phát triển kinh tế hoặc cải thiện phúc lợi xã hội ở các nước đang phát triển. Để giảm nhẹ gánh nặng nợ nần cho các nước đang phát triển, yếu tố viện trợ (thể hiện ở lãi suất, phương thức và thời hạn trả nợ) chiếm ít nhất là 25% tổng viện trợ. 1.1.2. Một số đặc điểm của ODA 1.1.2.1. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA ODA là nguồn vốn mang tính chất ưu đãi hơn cả bởi vì trong ODA bao giờ cũng có một phần không nhỏ là viện trợ không hoàn lại (tức là cho không). Còn phần cho vay chủ yếu là vay ưu đãi với lãi suất thấp hơn các khoản tín dụng thông thường rất nhiều (thường dưới 3%). Mức độ ưu đãi nhiều hay ít, được thể hiện ở mức lãi suất, thời gian ân hạn và thời gian trả nợ. Một khoản ODA thường có thời gian sử dụng vốn dài, thường từ 20-50 năm, tùy thuộc vào từng nhà tài trợ, gồm hai phần: - Thời gian ân hạn từ 5-10 năm. - Thời gian trả nợ cũng đa dạng, gồm nhiều giai đoạn và tỉ lệ trả nợ khác nhau ở từng giai đoạn. Tuy nhiên, để được xếp vào ODA, một khoản cho vay phải có yếu tố không hoàn lại tối thiểu là 25%. Yếu tố cho không là cơ sở lượng giá mức ưu đãi của một khoản vay. Yếu tố cho không được xác định dựa vào việc so sánh với mức lãi suất tín dụng thương mại (thường lấy tiêu chuẩn là 10% năm). Bảng 1.1: Một số thí dụ xác định yếu tố cho không trong viện trợ Loại hình viện trợ Thời gian (năm) Yếu tố cho không (%) Hoàn trả Ân hạn - Cho không - Vay thương mại (Lãi suất 10% năm) - Vay, lãi 4% - Vay, lãi 3% - Vay, lãi 1% - Vay, lãi 0.75% - Vay, lãi 0% 11 25 25 25 25 3 7 2.5 7 7 100 0 35 45 55 70 76 Nguồn: Thực trạng của viện trợ 2000 1.1.2.2. ODA gắn liền với yếu tố chính trị ODA là một trong những phương tiện để thực hiện ý đồ chính trị của nước cấp viện trợ đối với nước nhận viện trợ. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh ODA được sử dụng để lôi kéo đồng minh do có sự đối đầu Đông-Tây, giữa hệ thống TBCN và XHCN. Sau khi hệ thống XHCN ở Đông Âu và Liên Xô cũ sụp đổ, các nước phương Tây dùng tiền giúp đỡ các nước này trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. ODA cũng chịu ảnh hưởng bởi các quan hệ giữa bên cấp viện trợ và bên nhận viện trợ. Tính chất địa lý - chính trị trong cung cấp viện trợ được thể hiện rất rõ. Bên cấp viện trợ thường ưu tiên cung cấp cho các đồng minh kinh tế, chính trị và quân sự. Trong các nước cấp viện trợ, Nhật Bản ưu tiên cho khu vực Châu Á, Mỹ chủ yếu dành cho Trung Đông, Pháp dành phần lớn viện trợ cho các nước thuộc địa cũ ở Châu Phi. 1.1.2.3. ODA gắn với điều kiện kinh tế Các nước cung cấp viện trợ nói chung đều muốn đạt được những ảnh hưởng về kinh tế, đem lại lợi nhuận cho hàng hóa và dịch vụ...Thường các nước này đều gắn các khoản viện trợ với việc mua hàng hóa và dịch vụ của nước họ, coi như một biện pháp nhằm tăng cường khả năng thâm nhập và làm chủ thị trường xuất khẩu. Theo báo cáo của DAC thì 17.7% viện trợ song phương của DAC trong năm 1997 phải được dành để mua hàng hóa và dịch vụ từ nước tài trợ. Trong đó, các nước như Đức, Italia yêu cầu khoảng 40%; Canada yêu cầu 68.5%; Pháp là 25.1%; Anh là 13.8%; Tây Ban Nha là 100% khoản viện trợ phải để mua hàng hóa và dịch vụ của chính các nước này. Thế nhưng, ngay cả viện trợ không hoàn lại cũng không đem lại lợi ích lâu dài cho bên nhận viện trợ. Khi sự viện trợ dưới hình thức hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ với những trang thiết bị không có khả năng thay thế bằng những trang thiết bị của các nước khác buộc nước nhận viện trợ phải phụ thuộc lâu dài vào nước viện trợ. Ngoài ra, rủi ro của đồng tiền viện trợ khi có sự biến động bất lợi về tỉ giá hối đoái làm cho nghĩa vụ trả nợ của các nước nhận viện trợ thêm nặng nề. Thông thường, nước tiếp nhận không có quyền lựa chọn đồng tiền đi vay, sự lựa chọn này do bên cấp quy định. Chẳng hạn, Nhật Bản quy định chỉ cho vay bằng đồng Yên. Tỷ giá giữa USD và Yên trong những năm 1960 khoảng 1USD=330Yên, đến những năm 1990, tỷ giá này khoảng 1USD=100Yên. Như vậy, những nước vay Nhật Bản phải trả một khoản gấp 3 lần do sự lên giá của đồng Yên sau 30 năm. 1.1.2.4. ODA gắn liền với các nhân tố xã hội ODA là một phần được trích ra từ GNP của các nước tài trợ nên rất nhạy cảm với dư luận xã hội ở các nước tài trợ. Nhìn chung, người dân các nước OECD luôn ủng hộ sự giúp đỡ đối với những người cần được giúp đỡ, 80% người dân Châu Âu cho rằng cần tăng ngân sách phát triển của EU. Ở các nước cung cấp ODA tỉ lệ dưới 0.7 GNP, hơn 70% người dân cho rằng Chính phủ nên tăng ngân sách viện trợ phát triển của nước mình. Bên cạnh số lượng viện trợ, người dân ở các nước viện trợ còn quan tâm đến chất lượng viện trợ. Ở nhiều nước, dân chúng yêu cầu Chính phủ cắt giảm viện trợ để tập trung giải quyết các vấn đề khó khăn trong nước và tỏ ra lo ngại trước một số vấn đề trong việc cung cấp viện trợ như: tiếp thu chậm dự án, hiệu quả dự án thấp, bên nhận không thực hiện đúng cam kết, có dấu hiệu tham nhũng viện trợ của các quan chức... Ngược lại, ở các nước nhận viên trợ, dân chúng cũng tỏ ra dè dặt trong việc tiếp nhận viện trợ, e ngại những ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, bản sắc và truyền thống văn hoá dân tộc. 1.1.3. Phân loại ODA 1.1.3.1. Phân loại theo nguồn cung cấp - ODA song phương: Đây là viện trợ phát triển chính thức của Chính phủ nước này dành cho Chính phủ nước khác. Nguồn cung cấp ODA song phương chủ yếu trên thế giới hiện nay là Nhật Bản, Mỹ, Pháp, Đức, Anh... - ODA đa phương: Đây là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB...) hay khu vực (ADB, EU...) hoặc của một Chính phủ nước này dành cho Chính phủ nước kia nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức đa phương như: UNDP, UNICEF... 1.1.3.2. Phân loại theo tính chất nguồn vốn - ODA không hoàn lại: Đây là khoản viện trợ do bên nước ngoài cung cấp và bên nước tiếp nhận không phải hoàn trả. Khoản viện trợ không hoàn lại được sử dụng để thực hiện các chương trình dự án theo sự thỏa thuận giữa các bên. - ODA hoàn lại (tín dụng ưu đãi): Đây là các khoản cho vay với điều kiện ưu đãi, còn gọi là các khoản vay mềm có yếu tố không hoàn lại tối thiểu là 25%. Các khoản vay này thường có thời gian dài và lãi suất thấp đáng kể so với các khoản vay thương mại thông thường. - ODA cho vay hỗn hợp: là các khoản ODA bao gồm kết hợp một phần ODA không hoàn lại và một phần tín dụng ưu đãi theo các điều kiện của OECD. 1.1.3.3. Phân loại theo điều kiện - ODA không ràng buộc: Đây là khoản ODA mà việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng. - ODA ràng buộc: + Bởi nguồn sử dụng: Việc mua sắm hàng hoá, trang thiết bị hay dịch vụ bằng nguồn vồn ODA chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu hoặc kiểm soát (đối với viện trợ song phương), hoặc các công ty của nước thành viên (đối với viện trợ đa phương). + Bởi mục đích sử dụng: Đây là nguồn vốn ODA chỉ được sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể. - ODA có thể ràng buộc một phần: Đây là nguồn vốn ODA mà chỉ một phần ở nước sử dụng, phần còn lại ở bất cứ nơi nào. 1.1.3.4. Phân loại theo hình thức - Hỗ trợ cán cân thanh toán: Hỗ trợ cán cân thanh toán đựoc thực hiện qua các dạng: + Chuyển giao tiền tệ trực tiếp cho nước nhận (loại hình này ít gặp) + Viện trợ hàng hóa (hay hỗ trợ nhập khẩu): Chính phủ nước nhận ODA tiếp nhận một lượng hàng hoá có giá trị tương đương với các khoản cam kết, bán trên thị trường nội địa và thu về nội tệ. Ngoại tệ hoặc hàng hóa chuyển vào trong nước theo hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể được chuyển hóa thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi số hàng hóa nhập vào nhờ hình thức này được bán trên thị trường trong nước và số thu nhập bằng nội tệ được đưa vào ngân sách của Chính phủ. - Hỗ trợ chương trình (hỗ trợ phi dự án): Đây là loại hỗ trợ khi đạt được hiệp định với đối tác tài trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng quát với thời hạn nhất định mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ được sử dụng như thế nào. - Hỗ trợ dự án: Loại viện trợ này chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng vốn thực hiện ODA, điều kiện để nhận được hỗ trợ dự án là phải có dự án cụ thể, chi tiết về các hạng mục sử dụng ODA. Hỗ trợ dự án có hai loại: + Hỗ trợ cơ bản: thường cấp cho những dự án xây dựng đường xá, cầu cống, đê đập hoặc kết cấu hạ tầng. Thông thường, các dự án có kèm theo một bộ phận chủ yếu của hỗ trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra những hoạt động nhất định nào đó hoặc để soạn thảo, xác nhận các báo cáo cho các đối tác viện trợ. + Hỗ trợ kỹ thuật: Viện trợ tri thức (chiếm tỷ trọng lớn nhất) bao gồm viện trợ cho hoạt động chuyển giao công nghệ, đào tạo kỹ thuật hoặc phân tích về mặt quản lý, kinh tế, thương mại, thống kê hoặc các vấn đề xã hội; hỗ trợ tăng cường cơ sở; lập kế hoạch tư vấn cho các chương trình; nghiên cứu tiền đầu tư; hỗ trợ các lớp đào tạo, tham quan, khảo sát ở nước ngoài như cấp học bổng đào tạo dài hạn hoặc thiết bị nghiên cứu; 1.1.4 Vai trò của ODA đối với sự phát triển kinh tế các nước 1.1.4.1. Vai trò của ODA đối với nước đi tài trợ Các nhà tài trợ nói chung khi cung cấp ODA đều nhằm lợi ích nhất định (thường là các lợi ích về mặt kinh tế và mặt chính trị). ODA được các nhà tài trợ sử dụng như một công cụ buộc các nước tiếp nhận thay đổi chính sách kinh tế, xã hội và đối ngoại cho phù hợp với lợi ích bên tài trợ. Xét về mặt lợi ích kinh tế thuần túy, bên ngoài có vẻ các nước tài trợ bị thiệt vì họ là nước đi cho (đối với viện trợ không hoàn lại) hoặc cho vay ưu đãi với lãi suất ưu đãi và trong thời gian dài. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các nhà tài trợ đều gắn lợi ích thương mại với các khoản viện trợ, buộc các nước tiếp nhận tài trợ phải nhập thiết bị, hàng hóa, nguyên liệu từ nước tài trợ hoặc nơi nước tài trợ yêu cầu. Khoảng một phần năm viện trợ song phương của DAC buộc phải mua hàng hoá và dịch vụ từ nước tài trợ. Thông thường, các lợi ích về kinh tế chỉ là gián tiếp và phải trải qua một thời gian sau mới phát huy tác dụng. Với mục tiêu hỗ trợ phát triển kinh tế và xã hội của các nước đang phát triển, các nước tài trợ đặc biệt ưu tiên cung cấp ODA cho các dự án thuộc lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng mặc dù đầu tư vào lĩnh vực này xem như hoàn toàn không có lãi. Nhưng Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế vẫn đầu tư vào lĩnh vực này, thậm chí nhiều nước mặc dù phải đi vay nhưng vẫn cung cấp tài trợ cho nước khác bởi vì việc giúp đỡ xây dựng cơ sở hạ tầng các nước đang phát triển là biện pháp gián tiếp dọn đường để chuẩn bị cho đầu tư nước ngoài, mở rộng thị trường tiêu thụ hàng hóa và giành được sự cung cấp những vật tư chiến lược chủ yếu của các nước tài trợ. Mục đích chính trị của hoạt động cho vay và tài trợ thường được thể hiện trực tiếp bằng cách nêu ra các điều kiện để nhận được khoản viện trợ. Mục tiêu chính trị có thể thấy rõ trong chiến tranh lạnh để lôi kéo đồng minh. Các nước phương Tây nêu điều kiện chính trị kèm theo các khoản viện trợ kinh tế như cải cách mở cửa kiểu tư bản; mở cửa một cách toàn diện kinh tế thị trường; ra sức đẩy nhanh tư hữu hóa; đòi các nước nhận viên trợ thừa nhận một số chuẩn mực nào đó như tư tưởng tự do, nhân quyền tư sản, lối sống phương Tây... Cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính - tiền tệ châu Á năm 1997 là ví dụ về mục đích chính trị của hoạt động tài trợ. Để nhận được các khoản cứu trợ kinh tế của IMF, ADB... Hàn Quốc, Thái Lan, Inđônesia phải chấp nhận điều chỉnh kinh tế, đặc biệt Inđônesia còn phải chịu các sức ép chính trị trong đó có vấn đề Đông Timo. Trường hợp Nhật Bản, ODA từ trước đến nay luôn là công cụ quan trọng trong chính sách đối ngoại. Sau chiến tranh Thế giới thứ II, hình ảnh một nước Nhật phát-xít và tội ác mà quân đội Nhật đã gây ra ở những nước bị chiếm đóng để lại ấn tượng xấu về Nhật Bản. Bởi vậy, khi đã đạt được một số thành tích trong khôi phục và phát triển kinh tế, Nhật Bản quyết định áp dụng chính sách viện trợ và bồi thường chiến tranh cho những nước bị họ chiếm đóng theo điều 14 Bản Hiệp định Hòa bình San Francisco như: tháng 11 năm 1954, Nhật Bản ký Hiệp định bồi thường chiến tranh với Miến Điện; tháng 5 năm 1956 với Philipin; tháng 1 năm 1958 với Inđônêxia; và với Việt Nam vào tháng 5 năm 1959. Lào và Campuchia đã bỏ quyền đòi bồi thường chiến tranh nhưng thay vào đó, Nhật Bản đồng ý cung cấp viện trợ kinh tế và kỹ thuật tương ứng vào tháng 3 và tháng 10 năm 1959. Ngoài việc hoàn thành nghĩa vụ tinh thần để chứng tỏ sự hối lỗi về những gì mà họ đã gây ra cho các nước mà họ chiếm đóng, Chính phủ Nhật Bản còn muốn lợi dụng việc bồi thường chiến tranh và viện trợ là cơ hội để mở rộng ảnh hưởng kinh tế đối với các nước láng giềng. Chính phủ Nhật thấy rõ bồi thường chiến tranh và viện trợ sẽ đóng góp rất nhiều cho sự phát triển kinh tế của đất nước như giúp thiết lập lại những mối quan hệ thân thiện, giúp các doanh nghiệp Nhật Bản thâm nhập vào thị trường của các nước đó... Sau này, ODA của Nhật Bản tập trung vào các lĩnh vực như hạ tầng cơ sở, đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người, quan tâm bảo vệ môi trường... ODA Nhật Bản đã, đang và sẽ tạo nên một môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư Nhật Bản, tạo nên các mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ hơn giữa Nhật Bản và các nước nhận viện trợ mà các nước nhận viện trợ này bao giờ cũng ở vị thế yếu hơn. Tóm lại, ODA đã góp phần mở rộng quan hệ hiểu biết giữa các nước với Nhật Bản và tăng cường vai trò của Nhật Bản ở khu vực và trên thế giới cả về chính trị và kinh tế. 1.1.4.2. Vai trò của ODA đối với nước nhận ODA a. Mặt tích cực - ODA bổ sung cho nguồn vốn trong nước: Lịch sử phát triển của các nước trên thế giới đã chứng minh rằng vốn đầu tư và hiệu quả vốn đầu tư là một trong những yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển nói chung và tăng trưởng kinh tế nói riêng của mỗi quốc gia. Đặc biệt với những nước nghèo, trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển, do mức thu nhập thấp nên khả năng tích lũy rất khiêm tốn trong khi lại cần khoản vốn lớn để đầu tư nhằm mục tiêu hình thành và phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình nền tảng lâu dài cho phát triển kinh tế. Mặt khác, do nền công nghiệp của các nước nghèo chưa phát triển, hàng hóa xuất khẩu đa phần là sản phẩm sơ cấp (nông sản, hàng thủ công và nguyên liệu thô) có giá trị thấp. Ngược lại, về phía nhập khẩu, nhu cầu phát triển đòi hỏi phải nhập hàng cao cấp gồm máy móc, thiết bị, chất hóa học, phân bón... là những hàng có giá trị cao. Vì thế, cán cân thương mại luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề. Đối với nguồn vốn FDI, do các chủ đầu tư muốn bỏ vốn ra với mục đích thu lợi nhuận và thu hồi vốn nhanh nên nguồn vốn này thường được đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, ODA vừa có khối lượng lớn, vừa có tính ưu đãi (lãi suất thấp, thời gian vay dài) nên được đầu tư vào lĩnh vực cơ sở hạ tầng, y tế, giáo dục, hệ thống đường xá, thông tin viễn thông... Do vậy, ODA thực sự bổ trợ cho nguồn vốn trong nước trong công cuộc phát triển của các nước. - ODA giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát triển nguồn nhân lực: Hỗ trợ kỹ thuật là một hình thức cung cấp ODA của các nước, các tổ chức liên quan đến đến việc chuyển giao bí quyết kỹ thuật, công nghệ, những kinh nghiệm hoặc trao đổi ý kiến nhằm mục đích phát triển khả năng quản lý nền kinh tế ổn định, có hiệu quả của nước nhận. Những dự án về hỗ trợ kỹ thuật thành công có tác dụng to lớn đối với phát triển nguồn nhân lực. Đây là những lợi ích căn bản, lâu dài mà ODA đem lại cho các nước nhận tài trợ. - ODA giúp các nước đang phát triển hoàn thiện cơ cấu kinh tế: Đối với các nước đang phát triển, khó khăn kinh tế là điều không tránh khỏi, trong đó nợ nước ngoài và thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế ngày một gia tăng là tình trạng phổ biến. Để giải quyết tình trạng này, các nước đang phát triển cố gắng hoàn thiện cơ cấu kinh tế bằng cách phối hợp với các tổ chức (WB, IMF, ADB,...) và các nước tài trợ, hướng các dự án vào việc hỗ trợ ngân sách, phát triển khu vực tư nhân, phát triển sản xuất, hoàn thiện cơ cấu kinh tế... - ODA tăng khả năng thu hút FDI và tạo điều kiện để mở rộng đầu tư phát triển trong nước của các nước đang phát triển: Để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực nào đó, các quốc gia phải tạo cho môi trường đầu tư thuận lợi cho các nhà đầu tư (về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; hệ thống chính sách, pháp luật ổn định...), đảm bảo đầu tư có lợi với phí tổn thấp, hiệu quả đầu tư cao. Muốn vậy, đầu tư của nhà nước cần tập trung nâng cấp, cải thiện và xây mới cơ sở hạ tầng, hệ thống tài chính, ngân hàng... Để thực hiện điều này trong khi nguồn ngân sách hạn hẹp, các nước đều dựa vào nguồn vốn ODA. Môi trường đầu tư một khi được cải thiện sẽ tăng sức hút với dòng vốn đầu tư bên ngoài, thúc đẩy đầu tư trong nước. Mặt khác, việc sử dụng nguồn vốn ODA đầu tư trong nước cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong nước tập trung đầu tư cho các công trình sản xuất kinh doanh có khả năng mang lại lợi nhuận. b. Mặt tiêu cực Bên cạnh những tích cực, nguồn vốn ODA cũng có những tác động tiêu cực tới các nước tiếp nhận. Nếu không được quản lý hợp lý, nguồn vốn ODA cũng tạo cho các nước này nguy cơ mắc nợ cao. Thông thường, cơ cấu ODA có phần không nhỏ tín dụng ưu đãi, khi nguồn viện trợ ODA ngày càng tăng, việc sử dụng lãng phí, đầu tư tràn lan có xu hướng tăng cao, nhất là giai đoạn đầu khi nghĩa vụ trả nợ vẫn còn ẩn dấu, chưa thấy gánh nặng nợ nần. Theo tính toán của WB, đến hết năm 1995, số nợ nước ngoài của các nước đang phát triển đã vượt qua mức 1.800 tỉ USD và khoản dịch vụ nợ hàng năm lên tới 200 tỉ USD. Số nợ này tương đương với gần 30% GDP và 105% kim ngạch xuất khẩu của các nước này. Phần lớn khoản nợ là của các nước Mỹ la tinh và các nước Châu phi. Năm 1997, các nước vùng hạ Sahara Châu Phi phải trả nợ mất 12.7 tỷ USD tương đương 80% số viện trợ nhận được trong cùng năm ấy. Với những khoản nợ không lồ này, hệ quả khó tránh khỏi là tình trạng lệ thuộc phát triển, đánh mất quyền độc lập tự chủ, trước hết về mặt kinh tế. 1.2. Hoạt động hỗ trợ phát triển của Nhật Bản 1.2.1. Các cơ quan quản lý và tổ chức thực hiện cung cấp ODA tại Nhật Bản Trong công tác tổ chức thực hiện cung cấp ODA hiện nay của Nhật Bản, việc xây dựng chính sách hợp tác phát triển được giao cho 4 bộ: Bộ Ngoại giao, Bộ Tài chính, Bộ Ngoại thương và Công nghiệp, và Bộ Kế hoạch kinh tế. Bốn bộ này tiếp nhận khoảng 95% tổng ngân sách ODA và 5% còn lại được giao cho 14 bộ và cơ quan khác tuỳ theo các lĩnh vực của từng dự án, mà các Bộ này hoạt động mang tính chất cố vấn trong việc xây dựng chính sách ODA. Bộ Ngoại giao chịu trách nhiệm thương lượng với các nước đang phát triển, phân bổ các khoản đóng góp cho các tổ chức quốc tế và nguồn viện trợ không hoàn lại. Đây là bộ tiếp nhận ngân sách ODA Nhật Bản lớn nhất. JICA là cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản, trực thuộc Bộ Ngoại giao, thực hiện một phần chương trình viện trợ không hoàn lại và các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật. Bộ Tài chính chịu trách nhiệm quản lý vốn vay song phương. Việc thực hiện chương trình vay vốn song phương được giao cho JBIC - được hình thành trên cơ sở sát nhập giữa OECF và JEXIM từ 1/10/1999 và có các chức năng thay thế cho OECF và JEXIM. Hiện nay, JBIC là cơ quan chính điều hành vốn vay, chiếm gần một nửa tổng ODA Nhật Bản. JBIC sẽ hoạt động trong các lĩnh vực: - Tài trợ cho xuất nhập khẩu, kinh doanh ở nước ngoài của các công ty Nhật Bản. - Tham gia các hoạt động tài trợ ngoài ODA do JEXIM đang tiến hành. - Tài trợ cho các hoạt động hợp tác kinh tế ở nước ngoài với mục đích phát triển kinh tế xã hội ở các nước và khu vực đang phát triển. Đối với viện trợ không hoàn lại, Bộ Ngoại giao có trách nhiệm soạn thảo chính sách về viện trợ không hoàn lại trên cơ sở tham khảo ý kiến tư vấn của Văn phòng ngân sách Bộ Tài chính và JICA, trực thuộc Bộ Ngoại giao là cơ quan đứng ra tổ chức việc thực hiện viện trợ không hoàn lại. Bộ Ngoại thương và Công nghiệp, và Bộ Kế hoạch kinh tế chịu trách nhiệm phối hợp giữa ODA với FDI của Nhật Bản, phát triển hợp tác kinh tế giữa Nhật Bản với các nước. Ngoài ra, một cơ quan hợp tác phát triển quan trọng khác của Nhật Bản là Keidanren, một tổ chức tư nhân phi lợi nhuận. Với số vốn do khoảng 100 công ty tư nhân lớn nhất Nhật Bản và JBIC đóng góp, Keidanren, thông qua JAIDO, cung cấp vốn trực tiếp cho các dự án ở các nước đang phát triển. 1.2.2. Các loại hình ODA Nhật Bản Hoạt động cung cấp ODA của Chính phủ được thực hiện dưới hai hình thức song phương và đa phương. Sơ đồ 1.1: Các loại hình ODA Nhật Bản ODA Nhật Bản ODA song phương ODA đa phương Viên trợ song phương Cho vay song phương Đóng góp cho các tổ chức quốc tế Viện trợ không hoàn lại Tín dụng dự án Tín dụng điều chỉnh cơ cấu Hỗ trợ kỹ thuật Tín dụng dịch vụ kỹ thuật Tín dụng hàng hóa Tín dung tài chính trung gian Tín dụng phát triển ngành 1.2.2.1. ODA song phương ODA song phương bao gồm các hoạt động hỗ trợ trực tiếp từ Chính phủ Nhật Bản cho Chính phủ nước tiếp nhận. ODA song phương được chia làm 2 loại: ODA không hoàn lại và tín dụng ODA. ODA không hoàn lại: Hầu hết các hoạt động ODA không hoàn lại được Chính phủ Nhật Bản thực hiện thông qua JICA, gồm viện trợ chung và hợp tác kỹ thuật. - Viện trợ chung là khoản hỗ trợ tài chính không yêu cầu hoàn trả của Nhật Bản cho các nước đang phát triển nhằm thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội. Viện trợ không hoàn lại chung là yếu tố quan trọng của ODA Nhật Bản, là dạng hỗ trợ có chất lượng cao nhất. Chất lượng của viện trợ thay đổi tỉ lệ thuận với khối lượng viện trợ. Hình thức này bao gồm hoạt động cấp hỗ trợ tài chính cho các dự án chung, phát triển ngư nghiệp, các hoạt động văn hóa, hỗ trợ lương thực và tăng khả năng sản xuất lương thực, cứu trợ khẩn cấp và giảm nhẹ thiên tai... - Hợp tác kỹ thuật của Chính phủ Nhật Bản gồm các hình thức sau: + Chương trình đào tạo kỹ thuật: Đóng góp cho phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nâng cao trình độ cán bộ nước tiếp nhận tại Nhật Bản hoặc nước thứ ba. Ngoài ra, còn có chương trình mời thanh niên ASEAN và các nước đến Nhật Bản tham gia giao lưu văn hóa với thanh niên Nhật Bản. + Cử chuyên gia Nhật Bản hoặc chuyên gia của nước thứ 3 sang công tác tại nước tiếp nhận với mục tiêu chuyển giao công nghệ và kiến thức của chuyên gia tới các cán bộ của nước tiếp nhận, qua đó, giúp cho công nghệ Nhật Bản có chỗ đứng trong các nước đang phát triển. + Cung cấp trang thiết bị, chú ý đến mối quan hệ giữa “phần cứng” và “phần mềm” nhằm tạo thuận lợi cho việc chuyển giao và phổ biến công nghệ, đào tạo cán bộ. + Cử các tình nguyện viên Nhật Bản (thuộc JOVC) từ 20 đến 40 tuổi sang các nước đang phát triển trong thời gian hai năm góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước và đào tạo nhân lực nước tiếp nhận. Chương trình này cũng góp phần tăng sự hiểu biết lẫn nhau, thiết lập quan hệ hữu nghị giữa nhân dân hai nước. + Hợp tác kỹ thuật kiểu dự án: Đây là sự phối hợp 3 hình thức hợp tác kỹ thuật trọn gói, gồm đào tạo kỹ thuật tại Nhật Bản, cử chuyên gia và cung cấp máy móc thiết bị. Các dự án dạng này thường được thực hiện trong khoảng 3-5 năm, qua đó các kiến th._.ức chuyên môn của Nhật Bản được áp dụng và chuyển giao cho các nước đối tác và có thể được phổ biến rộng rãi sau khi dự án kết thúc. + Nghiên cứu phát triển: Đây là hình thức Chính phủ Nhật Bản cử các đoàn khảo sát nghiên cứu phối hợp làm việc với các cơ quan liên quan nước tiếp nhận chuẩn bị các Quy hoạch tổng thể, Báo cáo khả thi, Thiết kế chi tiết, nhằm hỗ trợ việc hoạch định các dự án phát triển cấp bách và ưu tiên cao. Tín dụng ODA: Đây là khoản tín dụng trực tiếp của Chính phủ Nhật Bản dành cho nước tiếp nhận để thực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội, phù hợp với các tiêu chuẩn của DAC và OECD. Việc cung cấp tín dụng ODA Nhật Bản ngày nay được thực hiện thông qua JBIC. Tín dụng ODA Nhật Bản có thể được chia làm 2 nhóm chính: Tín dụng dự án và Tín dụng phi dự án - Tín dụng dự án, bao gồm: + Tín dụng dự án thông thường: Đây là dạng tín dụng ODA cơ bản, được cung cấp với mục đích mua sắm thiết bị, máy móc; xây dựng các công trình dân sự; dịch vụ tư vấn và các nhu cầu khác đối với dự án. Ngoài ra còn có hình thức đồng tài trợ: được cấp trong trường hợp nhu cầu vốn đâu tư cho một dự án lớn vượt quá khả năng của JBIC thì có thể dùng hình thức đồng tài trợ cùng với các nhà tài trợ khác. + Tín dụng thiết kế dự án: Đây là khoản tín dụng được cung cấp để tiến hành các dịch vụ cần thiết trước khi thực hiện dự án như công tác lập dự án, công tác chuẩn bị đấu thầu... + Tín dụng hai bước: Đây là khoản tín dụng được thực hiện thông qua cơ quan tài chính nước tiếp nhận, đối tượng thụ hưởng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc các lĩnh vực công nghiệp chế tạo và nông nghiệp để thực hiện các dự án phát triển. - Tín dụng ODA phi dự án, bao gồm: + Tín dụng hàng hóa: Đây là loại tín dụng được cấp cho các nước đang phát triển bị thiếu hụt dự trữ ngoại tệ nhằm giúp các nước này có thể nhập khẩu hàng hóa, ổn định nền kinh tế. + Tín dụng điều chỉnh cơ cấu: Đây là loại tín dụng được cung cấp để các nước đang phát triển thực hiện cải cách kinh tế theo định hướng thị trường. + Tín dụng nghành: Đây là loại tín dụng hàng hóa hỗ trợ phát triển một nghành cụ thể của nước nhận. 1.2.2.2. ODA đa phương Đây là hình thức đóng góp tài chính hoặc kỹ thuật của Chính phủ Nhật Bản cho các tổ chức quốc tế đa phương như UNDP, UNHCR,... và các tổ chức tài chính quốc tế như WB, ADB ... với mục tiêu góp phần thúc đẩy ổn định và phát triển tại các nước đang phát triển. Đóng góp cho các tổ chức đa phương thường được thực hiện dưới dạng hợp tác kỹ thuật trong khi đóng góp cho các tổ chức tài chính quốc tế ở dạng tài chính 1.2.3. Tình hình cung cấp ODA Nhật Bản trên thế giới 1.2.3.1. Giai đoạn 1990-1999 Nguồn: MPI Từ đầu những năm đầu thập niên 90, Nhật Bản đã vươn lên trở thành nhà tài trợ lớn nhất thế giới. Trong nửa đầu thập niên 90, khối lượng ODA của Nhật Bản gia tăng một cách đều đặn và đạt đỉnh cao vào FY 1995 với 1385 tỷ Yên (tương đương 14.49 tỷ USD). Nếu tính theo đồng Yên thì năm 1991 là cao nhất với 1484.4 tỷ Yên. FY 1994 với lượng cung cấp ODA là 13.24 tỷ USD (1265.7 tỷ Yên), Nhật Bản tiếp tục giữ vị trí dẫn đầu trong số các nhà tài trợ trong 4 năm liền, chiếm 22.9% tổng viện trợ của các nước DAC, tuy nhiên, tỷ lệ ODA so với GNP chỉ là 0.29% đứng vị trí 14 trong số 21 nước DAC. Trong số 158 nước và vùng lãnh thổ Nhật Bản cung cấp nhận viện trợ, Nhật Bản đứng vị trí dẫn đầu ở 34 nước và đứng ở vị trí thứ hai tại 29 nước. Điều này cho thấy ODA của Nhật Bản có vị trí đáng kể trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của hầu hết các nước đang phát triển và cũng là công cụ thiết lập quan hệ thân thiện giữa Nhật Bản với các nước nhận viện trợ. Cũng giống như các nhà tài trợ khác, tình hình suy thoái kinh tế kéo dài ảnh hưởng lớn đến chính sách viện trợ của Nhật Bản. Một loạt các biện pháp kích thích kinh tế trên cơ sở những chi tiêu tài chính mà hệ quả là đồng Yên mất giá, tỷ lệ thâm hụt ngân sách so với GDP danh nghĩa vượt qua con số 6% và các khoản nợ trong và ngoài nước so với GDP đạt tới 90%, cao nhất trong các nước công nghiệp phát triển. Vì vậy, từ năm 1995, Nhật Bản phải cắt giảm khối lượng viện trợ, trong ngân sách quốc gia FY 1998, ODA bị cắt giảm 10.4 % khoảng 5 tỷ Yên (40 triệu USD). Khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất là chương trình cho vay bằng đồng Yên, giảm 13.8%. Viện trợ không hoàn lại và hợp tác kỹ thuật ít bị tác động, giảm lần lượt 9.4% và 2.7%. Viện trợ đa phương bị cắt bớt 8.3%, phần lớn là do việc giảm tới 19.2% các khoản đóng góp cho các thiết chế tài chính đa phương (WB, ADB ...), viện trợ qua các tổ chức Liên hợp quốc chỉ giảm 3.6%. Tuy vậy, Nhật Bản vẫn là nhà tài trợ có khối lượng viện trợ lớn nhất trên thế giới. Nhật Bản luôn dẫn đầu bảng xếp hạng này trong 10 năm liền (1990-1999) 1.2.3.2. Giai đoạn 2000-2007 Do những khó khăn về tài chính, Nhật Bản quyết định cắt giảm nguồn viện trợ ODA cho các nước. ODA Nhật Bản trên thế giới giảm dần qua các năm. Nguồn: Tổng hợp các báo cáo hàng năm ODA Nhật Bản 2000-2007 Trong giai 1991-2000, Nhật Bản từng vượt qua Mỹ, trở thành nước viện trợ lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, Nhật Bản đã rơi xuống thứ 2 vào năm 2001. Tháng 8/2003, sau khi Nhật Bản sửa đổi chính sách ODA nhằm tăng cường tính chiến lược và hiệu quả trong sử dụng vốn vay, tổng ODA của nước này giảm còn 857.8 tỷ Yên (8.0 tỷ USD) so với 1021.1 tỷ Yên (10.7 tỷ USD) FY 1998. Năm 2005, Nhật Bản tiếp tục là nhà tài trợ ODA lớn thứ hai thế giới, sau Mỹ. Tổng vốn ODA Nhật Bản viện trợ cho các nước khác trong FY 2005 chỉ còn 786.2 tỷ Yên (7.29 tỷ USD), giảm gần 3.8% do những nhân tố đặc biệt, trong đó có việc giảm nợ cho Irắc. Tuy nhiên, tổng mức đóng góp của nước này cho các tổ chức quốc tế giảm 8.8% so với FY 2004 xuống còn 269 tỷ Yên (2.5 tỷ USD). Năm 2006, Nhật Bản dành 759.7 tỷ Yên (7.05 tỷ USD) cho viện trợ nước ngoài, giảm 9.1% so với FY 2005, chỉ đứng thứ 3 sau Mỹ và Anh. Bắt đầu từ FY 2007, Nhật Bản (lần đầu tiên) cắt giảm việc cung cấp các khoản cho vay đặc biệt bằng đồng yên cho các nước đang phát triển nhằm giải quyết tình trạng mất cân bằng ngân sách và tài chính đang có xu hướng ngày càng xấu đi tại Nhật Bản. Tổng ODA Nhật Bản viện trợ các nước đang phát triển giảm 30.1% so với FY 2000, xuống chỉ còn 729.3 tỷ Yên (6.77 tỷ USD). Pháp và Đức cũng vượt qua Nhật Bản trong việc viện trợ cho nước ngoài khiến cho nguồn ODA của Nhật Bản trên thế giới chỉ đứng ở vị trí thứ 5. Trước đây, các chuyên gia từng dự đoán Nhật Bản sẽ rơi xuống vị trí thứ 4 vào năm 2010, nhưng trên thực tế ngân sách viện trợ nước ngoài của Nhật Bản đã bị cắt giảm nhanh hơn. Dự báo, năm 2010, Nhật Bản sẽ rơi xuống vị trí thứ 6 khi bị Italia vượt qua. Nguyên nhân khiến Nhật Bản tụt bậc là ngân sách thông thường dành cho ODA bị cắt giảm, trong đó chương trình cắt giảm phần lớn các khoản nợ của Iraq (phần được tính vào vốn ODA của Nhật Bản cho Iraq) đã kết thúc sau hai năm thực hiện. - Xét về cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ Bảng 1.2: Cơ cấu ODA Nhật Bản theo loại hình viện trợ (FY 2006 – FY 2007) Đơn vị: Tỷ Yên, % Loại hình FY 2006 FY 2007 Tăng thêm (%) I. Viện trợ 593.9 570.3 -4.0 1. Viện trợ song phương 503.0 483.1 -4.0 1, Hỗ trợ phát triển kinh tế 168.2 163.6 -2.7 2, Viện trợ lương thực - - - 3, Transfer to Trade Reinsurance Account 4.8 2.5 -47.9 4, Ngân sách của JBIC 30.0 20.0 -33.3 5, Hỗ trợ kỹ thuật 300.0 297.0 -1.0 (Hỗ trợ kỹ thuật được thực hiện bới JICA) 157.5 155.6 -1.2 2. Đóng góp và tài trợ cho các tổ chức đa phương 90.9 87.2 -4.1 1, Các tổ chức quốc tế 64.8 62.6 -3.3 2, MDBs 26.1 24.6 -5.8 II. Khoản vay 165.9 159.1 -4.1 JBIC 165.9 159.1 -4.1 III. Tổng 759.7 729.3 -4.1 Nguồn: Japan’s ODA Annual Report 2007 Theo thống kê, khoảng 88% vốn ODA là viện trợ song phương và các khoản cho vay song phương của Chính phủ, trong đó khoản cho vay song phương của Chính phủ chiếm tỷ trọng khoảng 34%, viện trợ không hoàn lại chiểm khoảng 25% và hỗ trợ kỹ thuật khoảng 28%. Nhật Bản luôn là nước dẫn đầu trong các nước thành viên DAC về mức viện trợ song phương. Bên cạnh đó, Nhật Bản còn cung cấp ODA qua kênh viện trợ đa phương bằng cách đóng góp cho các tổ chức quốc tế, chiếm khoảng 14% ODA Nhật Bản. - Xét cơ cấu ODA Nhật Bản theo khu vực: Bảng 1.3: Cơ cấu nguồn vốn hỗ trợ kỹ thuật Nhật Bản theo khu vực (FY 2005 – FY 2006) Đơn vị: Tỷ Yên Khu vực Châu Á Trung Đông Châu Phi Mỹ Latinh Châu Âu Châu Đại Dương 2006 51.1 (43.7%) 12.9 (11.1%) 24.5 (21.0%) 20.5 (17.5%) 2.9 (2.5%) 4.9 (4.2%) 2005 54.1 (45.6%) 13.3 (11.2%) 22.7 (19.1%) 21.2 (17.8%) 2.95 (2.5%) 4.5 (4.2%) Nguồn: Japan’s Annual report 2007 Châu Á là khu vực tiếp nhận ODA Nhật Bản nhiều nhất, tính riêng về hỗ trợ kỹ thuật chiếm tỷ trọng 45.6% FY 2005, 43.7% FY 2006. Tiếp đến là châu Phi với 19.1% FY 2005 và 21.0% FY 2006. Nguồn: Japan’s ODA Annual report 2006 - Cơ cấu ODA Nhật Bản theo lĩnh vực: Nhật Bản thường dành trên 60% tổng vốn ODA để ưu tiên cho lĩnh vực cơ sở hạ tầng kinh tế (giao thông, thông tin, năng lượng...), cơ sở hạ tầng xã hội (y tế, giáo dục, dân số, công trình công cộng...) và hỗ trợ sản xuất (nông nghiệp, công nghiệp và khai thác mỏ...). Bảng 1.4: Cơ cấu nguồn vốn hỗ trợ kỹ thuật theo lĩnh vực (FY 2005 – FY 2006) Đơn vị: Tỷ Yên, % Lĩnh vực Năm FY 2005 FY 2006 Lập kế hoạch và quản lý 14.3% (21.991) 14.1%(21.32) Công trình công cộng 16.2% (24.933) 14.1%(21.257) Nông, lâm và ngư nghiệp 12.4% (19.085) 12.9% (19.53) Công nghiệp và khai thác mỏ 3.4% (5.286) 3.1% (4.657) Năng lượng 1.9% (2.848) 1.9% (28.53) Thương mại và du lịch 2.1% (3.29) 2.2% (3.376) Nguồn nhân lực 13.5% (20.766) 14.4% (21.736) Sức khỏe và y tế 8.6% (13.287) 9.8% (14.761) Phúc lợi xã hội 1.7% (2.635) 1.3% (1.961) Khác 25.8% (39.761) 26.3% (39.387) Nguồn: Japan’s Annual Report 2006 Nguồn vốn dành cho hỗ trợ kỹ thuật từ ODA Nhật Bản được tập trung nhiều cho việc lập kế hoạch và quản lý, xây dựng các công trình công cộng, nông lâm ngư nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và vấn đề y tế, sức khỏe. Các lĩnh vực này chiếm tới hơn 90%, còn lại dành cho công nghiệp khai thác mỏ, năng lượng, phúc lợi xã hội và các lĩnh vực khác. Bảng 1.5: Cơ cấu nguồn viện trợ không hoàn lại Nhật Bản theo lĩnh vực (FY 2005 – FY 2006) Đơn vị: Tỷ Yên, % Ngành, lĩnh vực FY 2005 FY 2006 Sức khỏe và y tế 13.6% (12.743) 11.9% (120.86) Giáo dục đào tạo 19.1% (17.801) 16.4% (16.695) Môi trường và điều kiện sống 26.3% (24.547) 20.9% (21.329) Nông lâm ngư nghiệp 16.5% (15.461) 17.5% (17.795) Giao thông và truyền thông 21.5% (20.113) 25.7% (26.227) Nguồn: Japan’s ODA annual report 2007 Nguồn viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản được tập trung chủ yếu vào các vấn đề cải thiện môi trường và điều kiện sống (trung bình gần 24%), giao thông và truyền thông (trung bình hơn 23%), giáo dục đào tạo (trung bình gần 18%), nông lâm ngư nghiệp (trung bình 17%) và sức khỏe y tế (trung bình gần 13%). 1.3. Chính sách ODA của Nhật Bản Các dự án riêng lẻ Chương trình hỗ trợ quốc gia (Các sáng kiến cụ thể theo ngành) Chính sách trung hạn Hiến chương ODA Chức năng của ODA Nhật Bản Làm rõ các khái niệm phương pháp tiếp cận và các hoạt động chi tiết của chính sách cơ bản và các vấn đề ưu tiên của ODA Nhật Bản với tầm nhìn từ 3-5 năm Các chương trình chính sách hỗ trợ của Nhật cho các quốc gia và các ngành cụ thể trong khoảng 5 năm Sơ đồ 1.2: Khung chính sách ODA của Nhật Bản Khung chính sách ODA của Nhật Bản bao gồm 3 cấp: Hiến chương về ODA, chính sách ODA trung hạn và các Chương trình hỗ trợ quốc gia. Dựa trên khung chính sách này, các chương trình, dự án riêng lẻ sẽ được hình thành. Hiến chương về ODA của Nhật Bản được Quốc hội thông qua vào năm 1992 và được chỉnh sửa vào năm 2003 chính là nền tảng cho các chính sách viện trợ của Nhật Bản. Hiến chương ODA quy định mục đích của ODA là đóng góp vào hòa bình và phát triển của cộng đồng quốc tế, và do vậy giúp cho việc củng cố an ninh và thịnh vượng của chính Nhật Bản. Bên cạnh đó, hiến chương cũng đề cập đến năm nguyên tắc và tư tưởng chung trong việc cung cấp ODA của Nhật Bản, đó là: (i) Ủng hộ các nỗ lực tự chủ của các nước đang phát triển, (ii) Khía cạnh an ninh con người, (iii) Đảm bảo công bằng, (iv) Sử dụng các kinh nghiệm và chuyên môn của Nhật, và (v) Xây dựng quan hệ cộng tác và đối tác với cộng đồng quốc tế. Căn cứ vào Hiến chương ODA, chính sách ODA trung hạn được xây dựng nhằm trình bày cụ thể hơn về cách tiếp cận và hành động của Chính phủ Nhật Bản nhằm giải quyết các ưu tiên và an ninh con người, đây cũng là những điểm được đặc biệt nhấn mạnh, cũng như các phương tiện thực hiện chiến lược về ODA. Các ưu tiên bao gồm (i) Xóa đói giảm nghèo, (ii) Phát triển bền vững, (iii) Giải quyết các vấn đề có tính toàn cầu, và (iv) Kiến tạo hòa bình. Căn cứ vào Hiến chương và chính sách ODA trung hạn, Chính phủ Nhật cũng chuẩn bị các chính chương trình hỗ trợ quốc gia trong đó thể hiện chương trình và chính sách hỗ trợ cho từng quốc gia và lĩnh vực cụ thể trong giai đoạn khoảng 5 năm. CAP nhằm vào 3 trụ cột chính đó là: (i) thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, (ii) nâng cao điều kiện xã hội và chất lượng sống, (iii) xây dựng năng lực thể chế như là những lĩnh vực ưu tiên của quốc gia. Đồng thời CAP cũng đề cập tới sự chuyển đổi từ phương thức tiếp cận dựa trên yêu cầu trước đây sang phương thức xây dựng và lựa chọn dự án dựa vào đối thoại. Theo 3 nội dung trên, CAP chỉ rõ các lĩnh vực ưu tiên. Cụ thể, thúc đẩy tăng trưởng có 5 lĩnh vực ưu tiên; cải thiện điều kiện xã hội và điều kiện sống có 5 lĩnh vực ưu tiên; xây dựng thể chế có 2 lĩnh vực ưu tiên. Hơn nữa, CAP cũng chỉ ra các hỗ trợ ưu tiên và hỗ trợ sẽ cần xem xét theo các lĩnh vực kể trên (Phụ lục 1). Nhật Bản cũng đã sửa đổi lại bản CAP hiện nay cho phù hợp kế hoạch PTKT-XH 2006-2010 từng quốc gia tiếp nhận ODA. Trong bản CAP mới, bảo vệ môi trường sẽ là một trong số các trụ cột chính. Bên cạnh đó, CAP cũng giới thiệu các quan điểm về các lĩnh vực có tính khu vực. Sơ đồ 1.3: Ba trụ cột và các lĩnh vực ưu tiên trong CAP của Nhật Bản Ba trụ cột Các lĩnh vực ưu tiên Thúc đẩy tăng trưởng  - Phát triển môi trường đầu tư - Khuyến khích khu vực tư nhân và khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ - Phát triển cơ sở hạ tầng (giao thông, điện và bưu chính viễn thông) - Phát triển nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng - Cải cách kinh tế bao gồm cả cải cách Doanh nghiệp Nhà nước Cải thiện điều kiện và điều kiện xã hội Xây dựng thể chế - Giáo dục - Y tế và chăm sóc sức khoẻ - Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển địa phương - Phát triển đô thị - Môi trường - Phát triển hệ thống pháp luật - Cải cách hành chính (cải cách dịch vụ công và hệ thống tài chính) 1.4. Kinh nghiệm một số nước trong thu hút và sử dụng ODA Nhật Bản 1.4.1. Kinh nghiệm 1.4.1.1. Kinh nghiệm Trung Quốc TQ với dân số đông nhất thế giới, gần 1.3 tỷ người, đang thực hiện phát triển kinh tế rất thành công. Với vị trí địa lý rất gần Nhật Bản, có quan hệ mật thiết về chính trị, lịch sử, văn hóa nên dù chỉ mới nhận ODA Nhật Bản gần 30 năm (từ 1979) nhưng TQ xếp hạng 3 trong danh sách các nước nhận nhiều ODA của Nhật. Từ năm 1979 (tức 7 năm sau ngày Bắc Kinh và Tokyo bình thường hóa quan hệ ngoại giao) đến năm 2005, số tiền ODA Nhật dành cho TQ lên đến hơn 25.7 tỷ USD, nhưng có thể Nhật Bản sẽ chấm dứt viện trợ cho TQ kể từ năm 2008 trở đi. Tuy nhiên, như Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Taro Aso nói trong Câu lạc bộ báo giới quốc gia tại Tokyo ngày 19/1/2006, suy cho cùng ODA mà Nhật dành cho các nước thực ra là để giúp chính nước Nhật cả hôm nay lẫn mai sau. ODA được tập trung cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và sản xuất lương thực, môi trường, y tế sức khỏe, phát triển nguồn nhân lực. Ngoài việc cung cấp ODA trợ giúp TQ trong quá trình phát triển, xúc tiến thương mại và đầu tư vào thị trường rộng lớn này, Nhật Bản còn muốn tăng cường uy tín và gây ảnh hưởng đối với TQ khi mà ảnh hưởng của TQ ngày càng được nâng lên rõ rệt cả về kinh tế và quân sự. Sở dĩ nguồn vốn ODA Nhật Bản được thu hút vào TQ nhiều và sử dụng hiệu quả chính là nhờ chủ trương đúng đắng trong quản lý nguồn vốn ODA. TQ sử dụng nguyên tắc quản lý tập trung, thực hiện phi tập trung. Nguồn vốn ODA đóng vai trò rất tích cực trong việc thúc đẩy cải cách và phát triển ở TQ. Nguyên nhân thành công của việc sử dụng ODA ở TQ có thể tóm tắt: chiến lược hợp tác tốt, xây dựng tốt các dự án, cơ chế điều phối và thực hiện tốt, cơ chế theo dõi và giám sát chặt chẽ. TQ đặc biệt đề cao vai trò của việc quản lý và giám sát. Hai cơ quan Trung ương quản lý ODA là MoF và Ủy ban cải cách và phát triển quốc gia. MoF làm nhiệm vụ đi xin tài trợ, đồng thời là cơ quan giám sát việc sử dụng vốn. MoF yêu cầu các Sở Tài chính địa phương thực hiện kiểm tra thường xuyên hoạt động của các dự án, phối hợp với đối tác tài trợ đánh từng dự án. Các Bộ ngành chủ quản và địa phương có vai trò quan trọng trong thực hiện và phối hợp với MoF giám sát việc sử dụng vốn. Việc trả vốn ODA ở TQ theo cách “ai hưởng lợi, người đó trả nợ”. Quy định này buộc người sử dụng phải tìm giải pháp sản sinh lợi nhuận và lo bảo vệ nguồn vốn. 1.4.1.2. Kinh nghiệm Ba Lan Điểm nổi bật trong quản lý nguồn vốn ODA tại Ba Lan là vốn vay không hoàn lại vẫn phải giám sát chặt. Ba Lan quan niệm để sử dụng vốn ODA đạt hiệu quả, trước hết phải tập trung đầu tư vào nguồn nhân lực và năng lực thể chế. Chính phủ Ba Lan cho rằng, việc thực hiện dự án ODA mà giao cho các bộ phận hành chính không phải là thích hợp. Cơ sở luật pháp rõ ràng và chính xác trong toàn bộ quá trình là điều kiện để kiểm soát và thực hiện thành công các dự án ODA. Ba Lan đề cao hoạt động phối hợp với đối tác viện trợ. Ở Ba Lan, các nguồn hỗ trợ được coi là quỹ tài chính công, việc mua sắm tài sản công phải tuân theo Luật mua sắm công và theo những quy tắc kế toán chặt chẽ. Quá trình giải ngân khá phức tạp nhằm kiểm soát đồng tiền được sử dụng đúng mục đích. Trong đó, nhà tài trợ có thể yêu cầu nước nhận viện trợ thiết lập hoặc sửa đổi hệ thống thể chế và hệ thống luật pháp. Cơ quan chịu trách nhiệm gồm có các Bộ, một số cơ quan Chính phủ, trong đó Bộ Phát triển đóng vai trò chỉ đạo. Ba Lan đặc biệt chú trọng công tác kiểm soát và kiểm toán. Công tác kiểm toán tập trung vào kiểm toán các hệ thống quản lý. Trong đó, chịu trách nhiệm gồm có kiểm toán nội bộ trong mỗi cơ quan, các công ty kiểm toán nước ngoài được thuê, và các dịch vụ kiểm toán của Ủy ban châu Âu. Khi công tác kiểm toán phát hiện có những sai sót, sẽ thông báo các điểm không hợp lệ cho tất cả các cơ quan. Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợp thức của các giao dịch, kiểm tra hàng năm và chứng nhận các khoản chi tiêu, kiểm tra cuối kỳ, kiểm tra bất thường. Chính phủ Ba Lan cho rằng, kiểm tra và kiểm toán thường xuyên không phải để cản trở mà là để thúc đẩy quá trình dự án. 1.4.1.3. Kinh nghiệm Malaysia Điểm nổi bật trong công tác thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA tại Malaysia là sự phối hợp chặt chẽ với nhà tài trợ cùng kiểm tra đánh giá. Ở Malaysia, vốn ODA được quản lý tập trung vào một đầu mối là Văn phòng Kinh tế Kế hoạch. Vốn ODA được đất nước này dành cho thực hiện các dự án xóa đói giảm nghèo, nâng cao năng lực cho người dân. Văn phòng Kinh tế Kế hoạch Malaysia là cơ quan lập kế hoạch ở cấp Trung ương, chịu trách nhiệm phê duyệt chương trình dự án, và quyết định phân bổ ngân sách phục vụ mục tiêu phát triển quốc gia. Malaysia đánh giá cao hỗ trợ kỹ thuật từ các nhà tài trợ. Mục đích lớn nhất của Malaysia là nhận hỗ trợ kỹ thuật để tăng cường năng lực con người thông qua các lớp đào tạo. Malaysia công nhận rằng họ chưa có phương pháp giám sát chuẩn mực. Song chính vì vậy mà Chính phủ rất chú trọng vào công tác theo dõi đánh giá. Kế hoạch theo dõi và đánh giá được xây dựng từ lập kế hoạch dự án và trong lúc triển khai. Cũng tương tự như Ba Lan, Malaysia đặc biệt chú trọng đơn vị tài trợ trong hoạt động kiểm tra, giám sát. Phương pháp đánh giá của đất nước này là khuyến khích phối hợp đánh giá giữa nhà tài trợ và nước nhận viện trợ, bằng cách hài hòa hệ thống đánh giá của hai phía. Nội dung đánh giá tập trung vào hiệu quả của dự án so với chính sách và chiến lược, nâng cao công tác thực hiện và chú trọng vào kết quả. Hoạt động theo dõi đánh giá được tiến hành thường xuyên. Cũng quan niệm như Ba Lan, Malaysia cho rằng công tác theo dõi đánh giá không hề làm cản trở dự án, trái lại sẽ giúp nâng cao tính minh bạch, và đặc biệt là giảm lãng phí. 1.4.2. Bài học đối với Việt Nam Từ kinh nghiệm của Trung Quốc, Ba Lan và Malaysi có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau: Thứ nhất, chiến lược hợp tác tốt với nhà tài trợ: Để thực hiện tốt hoạt động tiếp nhận ODA cũng như lấy được lòng tin lâu dài đối với nhà tài trợ, sự phối hợp hợp tác chặt chẽ với nhà tài trợ giúp tăng cường mối quan hệ tốt đẹp giữa hai bên, kiểm soát chặt chẽ và thông suốt trong việc tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA. Các khó khăn trong quá trình thực hiện dễ dàng được chia sẻ và giải quyết. Thứ hai, thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát thông qua công tác kiểm toán và kiểm soát. Công tác kiểm toán tập trung vào các hệ thống quản lý. Công tác kiểm soát tập trung vào kiểm tra tình hình hợp pháp và tính hợp thức của các giao dịch, các khoản chi tiêu, kiểm tra cuối kỳ, kiểm tra bất thường. Thứ ba, phối hợp chặt chẽ với phía nhà tài trợ trong khâu đánh giá hiệu quả hoạt động ODA bằng cách hài hòa hệ thống đánh giá hai phía Chương 2: Thực trạng việc thu hút và sử dụng ODA Nhật Bản tại Việt Nam 2.1. Vấn đề huy động và sử dụng nguồn vốn ODA tại Việt Nam 2.1.1. Tình hình huy động và sử dụng vốn ODA tại Việt Nam Việt Nam có sức hấp dẫn đối với ODA cho phát triển kinh tế - xã hội từ năm 1992. Nguồn vốn ODA vào Việt Nam có xu hướng tăng, nhưng không phải luôn tăng. Năm 1997 và 1998, vốn ODA cam kết giảm sút là do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á. Trong suốt thời kỳ 1993-2007, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng trong thu hút và sử dụng ODA. Tổng cộng đã có 37 tỷ USD được các nhà tài trợ cam kết cho Việt Nam, chiếm khoảng 2% tổng ODA toàn thế giới. Trong số vốn cam kết, 22.6 tỷ USD đã được ký kết. Bình quân mỗi năm Việt Nam thu hút được 2.5 tỷ USD vốn ODA. Nguồn: MPI Vốn ODA giải ngân tăng hơn 4 lần trong thời gian từ 1993 đến 2007. Hầu hết sự gia tăng dài hạn của nguồn vốn giải ngân là ở vốn vay hơn là vốn không hoàn lại. Khoảng 49% nguồn vốn vay có lãi suất thấp hơn 1%/ năm, thời gian trả nợ ít nhất là 30 năm, trong đó 10 năm ân hạn. Một phần ba nguồn vốn vay có lãi suất hàng năm từ 1% đến 2.5% (thống kê từ MPI, 2007). Bên cạnh đó, phần lớn khoản vay ODA được xem xét trong điều kiện hạn chế khả năng trả nợ bên ngoài của Việt Nam. Tổng nợ quy đổi của Việt Nam khoảng 37% GDP năm 2007 (thống kê từ MPI, 2007). Điều này chứng tỏ không có dấu hiệu nguy hiểm của khủng hoảng nợ ở Việt Nam. ODA chủ yếu tập trung cho các dự án đầu tư, chiếm 41%, trong đó, một lượng vốn tương đối được dành cho các dự án hỗ trợ kỹ thuật, chiếm 23% và phi hỗ trợ kỹ thuật, chiếm 20%. Chỉ có 13% nguồn vốn giải ngân FY 2005 là cho các chương trình viện trợ ngân sách và trợ giúp cán cân thanh toán. Nguồn: MPI Vốn ODA được phân bổ theo sự ưu tiên mà Chính phủ đặt ra cho các ngành kinh tế. Giao thông vận tải, truyền thông, năng lượng và công nghiệp, là những lĩnh vực có dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn, chiếm tỷ lệ lớn nhất 42%. Tiếp theo là nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm 21%. ODA phân bổ cho giáo dục, đào tạo, y tế, môi trường và công nghệ thấp hơn, chiếm tỉ lệ 12%. Các lĩnh vực khác chiếm khoảng 18% tổng số vốn ODA giải ngân. Bảng 2.1: Cơ cấu sử dụng vốn ODA giai đoạn 2001 – 2005 Đơn vị: Triệu USD Ngành, lĩnh vực Hiệp định ODA ký kết 2001 - 2005 ODA giải ngân 2001 - 2005 Tổng % Tổng % 1. Nông nghiệp và phát triển nông thôn 1.818 16% 1.641 21% 2. Năng lượng và công nghiệp 1.802 16% 1.375 17% 3. Giao thông vận tải, truyền thông, cấp thoát nước và phát triển đô thị 3.801 34% 2.559 32% - Giao thông vận tải và truyền thông 2.753 25% 2.040 25% - Cấp thoát nước và phát triển đô thị 1.048 9% 519 7% 4. Y tế, giáo dục đào tạo, môi trường, công nghệ và các ngành khác 3.785 34% 2.332 30% - Y tế, giáo dục đào tạo 1.171 11% 554 7% - Môi trường, công nghệ 351 3% 361 5% - Các ngành khác 2.263 20% 1.417 18% Tổng số 11.206 100% 7.907 100% Nguồn: MPI Nguồn: MPI ODA đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Trong giai đoạn 2001-2007, ODA đã bổ sung khoảng 12% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 18% tổng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Nhờ nguồn vốn ODA, sự phát triển đạt được trên nhiều mặt nền kinh tế như giảm nghèo đói, phát triển nguồn nhân lực, chuyển giao tiến bộ công nghệ, kinh nghiệm quản lý lập kế hoạch tiên tiến và cải thiện năng lực thể chế. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã thu hút được rất nhiều ODA từ các tổ chức quốc tế cũng như các đối tác song phương. Nguyên nhân là do: (i) Chế độ chính trị ổn định và sự nghiệp đổi mới toàn diện kinh tế - xã hội đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nước được cộng đồng viện trợ đặc biệt quan tâm; (ii) Việt Nam hưởng lợi nhờ đạt được kết quả ấn tượng về tăng trưởng kinh tế và giảm đói nghèo nhanh đúng vào thời điểm các nhà tài trợ có chính sách ODA tập trung nhiều vào lĩnh vực giảm đói nghèo và sẵn sàng viện trợ cho các quốc gia sử dụng tốt nguồn vốn này; (iii) Tiến trình hội nhập sâu và chủ động vào nền kinh tế thế giới và khu vực, sự năng động nhạy bén của nền kinh tế, tiến trình cải cách hành chính theo hướng nhanh gọn, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, mong muốn của Chính phủ Việt Nam tiếp tục gắn bó với các nhà tài trợ đã khiến cho họ càng nhiệt tình với Việt Nam hơn. Đối với các nhà tài trợ, nguồn vốn viện trợ ODA được coi là hiệu quả nếu nó được chuyển cho nước tiếp nhận và trực tiếp hay gián tiếp tạo ra các điều kiện cho phát triển. Đối với nước tiếp nhận viên trợ, ODA được xem như nguồn lực thực sự nếu nó được kết hợp hiệu quả với các nguồn lực trong nước khác để đạt được các mục tiêu quốc gia trong từng thời kỳ nhất định. Do đó, có thể khẳng định rằng nguồn vốn ODA ở Việt Nam đã trở thành một nguồn vốn thực sự và có hiệu quả trong tiến trình đổi mới. Tuy nhiên, bên cạnh những thành công trong thu hút và sử dụng vốn ODA, còn tồn tại nhiều vấn đề mà Việt Nam cần phải giải quyết để sử dụng nguồn vốn này có hiệu quả hơn trong tương lai. 2.1.2. Một số vấn đề hiện tại của ODA 2.1.2.1. Hiệu quả sử dụng Nâng cao hiệu quả sử dụng ODA là vấn đề quan trọng mà Việt Nam phải giải quyết. Một trong những nguyên nhân chính của việc sử dụng ODA chưa hiệu quả là nhận thức và hiểu chưa đầy đủ và chính xác về bản chất của ODA trong quá trình huy động và sử dụng nguồn vốn này. Quan điểm cho rằng ODA là tiền cho không, chỉ Chính phủ mới có trách nhiệm trả nợ nguồn vốn vay này, dẫn đến sự kém hiệu quả trong thực hiện một số chương trình, dự án ODA. Thực tế, ODA là một sự đánh đổi. Nếu sử dụng ODA không hiệu quả, gánh nặng trả nợ sẽ tăng lên. Mặt khác, do việc kết hợp nguồn vốn ODA với các nguồn vốn khác còn yếu cũng làm giảm hiệu quả của nguồn vốn ODA. 2.1.2.2. Giải ngân Tỷ lệ giải ngân ODA ở Việt nam còn thấp. Từ năm 1993 đến 2006, nguồn vốn ODA được giải ngân là 15.9 tỷ USD, chiếm 42.9% tổng số ODA cam kết (37 tỷ USD). Tỷ lệ giải ngân bình quân trong những năm gần đây chỉ chiếm khoảng 50%. Tỷ lệ giải ngân bình quân của Việt Nam cũng thấp hơn của các nước ASEAN (Bảng 2.2). Tỷ lệ ODA trong GDP của Việt Nam nằm trong khoảng từ 3.5% đến 4.5%, thấp hơn một số nước cùng trình độ phát triển kinh tế. Vốn cam kết dành cho Việt Nam có xu hướng tăng lên nhưng tình hình giải ngân còn chậm, chính vì thế, Việt Nam cần đẩy nhanh hoạt động giải ngân nhằm thu được hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA cao hơn. Theo dự đoán của ADB, tốc độ tăng trưởng GDP có thể tăng từ 8% lên 8.4% nếu cải thiện được tỷ lệ giải ngân và Việt Nam có thể trở thành nước có mức thu nhập trung bình vào năm 2009, sớm hơn mục tiêu đặt ra là năm 2010. Bảng 2.2: Tỷ lệ giải ngân nguồn vốn ODA của Việt Nam và một số nước Asean giai đoạn 2001 - 2005 Nhà tài trợ Tỷ lệ giải ngân bình quân của một số nước Asean (%/năm) Tỷ lệ giải ngân bình quân của Việt Nam (%/năm) WB 18 15 ADB 20 18 Nhật Bản 15 9.3 Lưu ý: Một số nước Asean bao gồm: Thái Lan, Malaisia, Indonexia, Philipin Nguồn: MPI Việc giải ngân chậm nguồn vốn ODA ở Việt Nam có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan: Thứ nhất, nguyên nhân khách quan: - Thủ tục của các nhà tài trợ phức tạp: Thủ tục của các nhà tài trợ rườm rà, phê duyệt qua nhiều bước. Văn phòng đại diện tại Việt Nam có ít thẩm quyền, phải thường xuyên xin ý kiên cơ quan cấp trên ở nước ngoài; một số dự án do nhiều nhà tài trợ cung cấp vốn nên thủ tục thường chồng chéo, gây khó khăn cho chủ dự án trong quá trình triển khai; Nhà tài trợ chậm phê duyệt tài liệu đấu thầu, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ, có trường hợp kéo dài hơn 6 tháng. Trong nhiều trường hợp, có sự không nhất quán trong điều kiện đấu thầu, mỗi gói thầu có quy định riêng. - Các vấn đề liên quan tới bên nước ngoài: Tư vấn nước ngoài, do thiếu hiểu biết về điều kiện của Việt Nam, nên thường chậm chễ trong việc hoàn thành các công tác thiết kế dự án. Chất lượng tư vấn trong nhiều trường hợp chưa đáp ứng yêu cầu, bên cạnh đó lương chuyên gia đòi hỏi cao. Thứ hai, nguyên nhân chủ quan: - Giải phóng mặt bằng chậm: Việc giải phóng mặt bằng chậm đã ảnh hưởng tới tiến độ thi công của nhiều dự án do các nguyên nhân sau: + Các văn bản pháp lý thiếu đồng bộ, khó xác định hệ số K (giá nông nghiệp khác nhau cho cùng một khu vực, nhiều chủ đầu tư đưa ra các mức đền bù khác nhau trên cùng một địa bàn…) + Việc bố trí vốn đối ứng cho giải phóng mặt bằng chậm, quỹ nhà cho tái định cư ở các thành phố lớn còn bị hạn chế. + Thiếu phối hợp giữa các cơ quan trung ương, chủ dự án và chính quyền địa phương trong công tác giải phóng mặt bằng. - Có sự khác biệt về quy trình thủ tục giữa các nhà tài trợ và phía Việt Nam: + Công tác xây dựng dự án theo quy trình phía Việt Nam đòi hỏi phải trải qua hai bước là lập thiết kế chi tiết và lập ._. trong quá trình triển khai chương trình, dự án gây thất thoát, lãng phí và tham nhũng. 7. Các quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. Điều 24. Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của chủ dự án 1. Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn chung: a) Tổ chức bộ máy quản lý và thực hiện chương trình, dự án; ký kết các hợp đồng theo quy định của pháp luật. Nếu trực tiếp quản lý chương trình, dự án, chủ dự án phải đảm bảo có đủ bộ máy, đủ năng lực quản lý dự án, được cơ quan có thẩm quyền cho phép và được ghi trong quyết định đầu tư hoặc quyết định phê duyệt chương trình, dự án; b) Tổ chức thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, dự toán các hạng mục công trình; c) Đàm phán, ký kết, giám sát việc thực hiện các hợp đồng và xử lý các vi phạm hợp đồng; d) Kiến nghị với cơ quan chủ quản về cơ chế, chính sách bảo đảm việc thực hiện chương trình, dự án phù hợp với cam kết quốc tế; đ) Các quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. 2. Nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn cụ thể: a) Thực hiện công tác đấu thầu theo quy định của pháp luật hiện hành về đấu thầu; b) Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho các bên hợp đồng và tư vấn lập và thực hiện chương trình, dự án; chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý và độ tin cậy của các thông tin, tài liệu đã cung cấp; lưu trữ hồ sơ, tài liệu về chương trình, dự án theo quy định của pháp luật; c) Chịu trách nhiệm toàn diện, liên tục về quản lý sử dụng các nguồn vốn đầu tư từ khi chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và đưa chương trình, dự án vào khai thác sử dụng, thu hồi và hoàn trả vốn vay ODA (trường hợp cho vay lại). d) Thực hiện giám sát, đánh giá dự án, quản lý khai thác chương trình, dự án; đ) Chịu trách nhiệm toàn diện về những sai phạm trong quá trình quản lý chương trình, dự án gây ra những hậu quả có hại đến kinh tế, xã hội, môi sinh, môi trường và uy tín quốc gia; e) Chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật, có thể phải bồi thường thiệt hại về kinh tế hoặc phải thay đổi chủ dự án, đối với việc triển khai chậm, không đúng với quyết định đầu tư và quyết định phê duyệt văn kiện chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật, gây thất thoát, lãng phí và tham nhũng, ảnh hưởng đến mục tiêu và hiệu quả chung của chương trình, dự án; g) Các quyền và trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật. 3. Khi thay đổi chủ dự án thì chủ dự án mới thay thế phải chịu trách nhiệm kế thừa toàn bộ quyền và trách nhiệm, nghĩa vụ của chủ dự án trước, trừ những trách nhiệm do sai phạm của chủ dự án trước. Điều 25. Thành lập Ban quản lý chương trình, dự án (Ban quản lý dự án) 1. Căn cứ khoản 3 Điều này, chủ dự án ban hành quyết định thành lập Ban quản lý dự án ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 2. Căn cứ khoản 3 Điều này, cơ quan chủ quản ban hành quyết định thành lập Ban quản lý dự án đối với chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật ngay sau khi văn kiện chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật được cấp có thẩm quyền phê duyệt. 3. Chủ dự án có thể thuê tư vấn quản lý dự án theo quy định của pháp luật. 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành thông tư hướng dẫn về cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ của Ban quản lý dự án. Điều 26. Vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trình, dự án 1. Các chương trình, dự án phải được đảm bảo đủ vốn đối ứng để chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trình, dự án. Nguồn, mức vốn và cơ chế vốn đối ứng phù hợp với nội dung nêu trong quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ theo quy định tại Điều 8 Quy chế này. 2. Vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện chương trình, dự án có thể bao gồm các khoản sau: a) Chi phí cho Ban quản lý chương trình, dự án (lương, thưởng, phụ cấp, văn phòng, phương tiện làm việc, chi phí hành chính, theo dõi, đánh giá dự án, giám sát chất lượng, nghiệm thu, bàn giao, quyết toán); b) Chi phí thẩm định thiết kế, duyệt tổng dự toán, hoàn tất các thủ tục đầu tư, xây dựng và thủ tục hành chính cần thiết khác; c) Chi phí liên quan đến quá trình lựa chọn nhà thầu; d) Chi phí cho hội nghị, hội thảo, đào tạo, tập huấn nghiệp vụ quản lý và thực hiện chương trình, dự án; đ) Chi phí tiếp nhận và phổ biến công nghệ, kinh nghiệm, kỹ năng quốc tế; e) Chi phí tuyên truyền, quảng cáo chương trình, dự án và các hoạt động tham dự của cộng đồng; g) Chi phí dịch vụ và phương tiện trong nước cung cấp cho các nhà thầu nước ngoài làm việc theo hợp đồng tại Việt Nam; h) Chi phí thuê tổ chức, cá nhân thẩm định, theo dõi, đánh giá chương trình, dự án; i) Chi trả các loại thuế gián thu, phí hải quan, phí bảo hiểm theo quy định hiện hành; k) Tiền trả lãi, tiền đặt cọc, phí cam kết và các loại phí liên quan khác phải trả cho phía nước ngoài trong thời gian xây dựng; l) Chi phí tiếp nhận thiết bị và vận chuyển nội địa; m) Chi phí kiểm toán; n) Chi phí thực hiện một số hoạt động cơ bản của chương trình, dự án (khảo sát, thiết kế kỹ thuật, thi công; đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư, xây dựng một số hạng mục công trình, mua sắm một số trang, thiết bị); o) Chi phí dự phòng và các chi phí hợp lý khác. 3. Đối với chương trình, dự án thuộc diện cấp phát từ ngân sách nhà nước, cơ quan chủ quản có trách nhiệm cân đối vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sách hàng năm theo quy định của pháp luật hiện hành; đảm bảo vốn đối ứng đầy đủ, kịp thời, phù hợp với tiến độ quy định trong văn kiện chương trình, dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước và điều ước quốc tế về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 4. Đối với các chương trình, dự án cho vay lại từ ngân sách nhà nước và các chương trình, dự án một phần cấp phát, một phần cho vay lại: chủ dự án phải tự lo toàn bộ vốn đối ứng và phải giải trình đầy đủ về khả năng và kế hoạch đảm bảo vốn đối ứng trước khi ký hợp đồng vay lại. Trong trường hợp này, chủ dự án được ưu tiên vay từ các nguồn tín dụng của Nhà nước cho khoản vốn đối ứng. Trường hợp gặp khó khăn đột xuất về vốn đối ứng, chủ dự án phải báo cáo cơ quan chủ quản để có biện pháp giải quyết. 5. Đối với các chương trình, dự án thuộc diện cấp phát từ ngân sách nhà nước nhưng chưa kịp bố trí vốn đối ứng trong kế hoạch ngân sách hàng năm, hoặc có nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng, theo đề nghị bằng văn bản của cơ quan chủ quản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xử lý theo thẩm quyền, hoặc trình cấp có thẩm quyền quyết định ứng trước dự toán ngân sách năm sau để thực hiện. Cơ quan chủ quản có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan bố trí dự toán ngân sách năm sau hoàn trả vốn ngân sách nhà nước đã ứng. 6. Cơ quan chủ quản được phép điều chuyển vốn đối ứng đã được phân bổ trong năm kế hoạch từ chương trình, dự án không sử dụng hết vốn đối ứng đã được bố trí theo kế hoạch trong năm sang chương trình, dự án khác có nhu cầu về vốn đối ứng nhưng số vốn đã bố trí theo kế hoạch năm không đáp ứng đủ. Điều 27. Vốn ứng trước để thực hiện chương trình, dự án Trường hợp có nhu cầu cấp thiết về vốn ứng trước để thực hiện một số hạng mục của chương trình, dự án thuộc diện cấp phát từ ngân sách nhà nước đã được cam kết tài trợ từ nguồn vốn ODA và đã được ghi kế hoạch tài chính năm mà chưa rút được vốn ODA, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xem xét, quyết định tạm ứng vốn từ nguồn ngân sách nhà nước trên cơ sở văn bản giải trình của cơ quan chủ quản và văn bản thoả thuận của nhà tài trợ. Phần vốn này sẽ được Kho bạc nhà nước các cấp thu hồi lại khi giải ngân vốn ODA phân bổ cho các hạng mục đó. Điều 28. Thuế đối với các chương trình, dự án Thuế áp dụng đối với các chương trình, dự án được thực hiện theo quy định hiện hành của pháp luật hiện hành về thuế và điều ước quốc tế về ODA mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Điều 29. Đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư 1. Việc đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư trong các chương trình, dự án thực hiện theo pháp luật hiện hành và điều ước quốc tế về ODA mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. 2. Hồ sơ trình duyệt kế hoạch đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư của chương trình, dự án phải có cam kết chính thức bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền giải phóng mặt bằng và tái định cư về tiến độ, thời hạn hoàn thành đền bù, giải phóng mặt bằng và tái định cư phù hợp với tiến độ thực hiện của từng gói thầu thuộc chương trình, dự án. Điều 30. Đấu thầu Việc đấu thầu để thực hiện chương trình, dự án phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đấu thầu và điều ước quốc tế về ODA mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Điều 31. Điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình, dự án trong quá trình thực hiện 1. Trong trường hợp những điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung nội dung chương trình, dự án trong quá trình thực hiện dẫn đến: a) Sự thay đổi về ®iều ước quốc tế cụ thể về ODA đã ký kết: cơ quan chủ quản thực hiện các quy định của pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; b) Sự thay đổi về cơ chế tài chính trong nước hoặc điều kiện cho vay lại trong nước áp dụng cho chương trình, dự án: cơ quan chủ quản báo cáo Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định. 2. Trong trường hợp nhà tài trợ chấp thuận cho sử dụng phần vốn dư sau đấu thầu của chương trình, dự án vốn vay (vốn dư là phần chênh lệch giữa tổng giá trị tài trợ quy định trong điều ước quốc tế về ODA đã ký và tổng giá trị kết quả lựa chọn nhà thầu đã được phê duyệt): a) Nếu việc sử dụng phần vốn đó để thực hiện chương trình, dự án mới theo hướng ưu tiên nhằm phát huy hiệu quả của chương trình, dự án đang thực hiện: cơ quan chủ quản gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư báo cáo giải trình kèm theo văn kiện chương trình, dự án dự kiến sử dụng phần vốn dư này để Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định việc sử dụng vốn dư; b) Nếu việc sử dụng vốn dư để bổ sung khối lượng trong phạm vi chương trình, dự án đang thực hiện: cơ quan chủ quản quyết định việc sử dụng vốn dư. Điều 32. Quản lý xây dựng, nghiệm thu, bàn giao, quyết toán 1. Đối với dự án đầu tư, việc thẩm định, phê duyệt thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán, cấp giấy phép xây dựng, quản lý chất lượng công trình, nghiệm thu, bàn giao, bảo hành, bảo hiểm công trình xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành về quản lý đầu tư và xây dựng. 2. Đối với chương trình, dự án hỗ trợ kỹ thuật, sau khi hoàn thành, cơ quản chủ quản tổ chức nghiệm thu và tiến hành các biện pháp cần thiết để tiếp tục khai thác và phát huy kết quả đạt được cũng như thực hiện các quy định của pháp luật hiện hành về quản lý tài chính và tài sản của chương trình, dự án. 3. Việc quyết toán chương trình, dự án phải được thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành và các điều ước quốc tế về ODA đang có hiệu lực đối với Việt Nam. Chương VI THEO DÕI, ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG TRÌNH, DỰ ÁN ODA Điều 33. Theo dõi chương trình, dự án Theo dõi chương trình, dự án là hoạt động thường xuyên và định kỳ cập nhật toàn bộ các thông tin liên quan đến tình hình thực hiện chương trình, dự án; phân loại và phân tích thông tin; kịp thời đề xuất các phương án phục vụ việc ra quyết định của các cấp quản lý nhằm đảm bảo chương trình, dự án được thực hiện đúng mục tiêu, đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng và trong khuôn khổ các nguồn lực đã được xác định. Điều 34. Đánh giá chương trình, dự án 1. Đánh giá dự án là hoạt động định kỳ, xem xét toàn diện, có hệ thống và khách quan về tính phù hợp, hiệu quả, hiệu suất, tác động và mức độ bền vững của chương trình, dự án để có những điều chỉnh cần thiết và rút ra những bài học kinh nghiệm để áp dụng cho giai đoạn thực hiện tiếp theo và áp dụng cho các chương trình, dự án khác. 2. Công tác đánh giá được tiến hành định kỳ và đột xuất (khi cần thiết). Công tác đánh giá định kỳ được tiến hành theo 4 giai đoạn chủ yếu sau: a) Đánh giá ban đầu: tiến hành ngay sau khi bắt đầu thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét tình hình thực tế của chương trình, dự án so với văn kiện được duyệt để có biện pháp xử lý ngay từ khâu thiết kế kỹ thuật và lập kế hoạch thực hiện chi tiết; b) Đánh giá giữa kỳ: tiến hành vào giữa thời gian thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét quá trình thực hiện từ khi bắt đầu và đề xuất các điều chỉnh cần thiết; c) Đánh giá kết thúc: tiến hành ngay sau kết thúc thực hiện chương trình, dự án nhằm xem xét các kết quả đạt được và tổng kết toàn bộ quá trình thực hiện, rút ra các kinh nghiệm cần thiết làm cơ sở lập báo cáo kết thúc chương trình, dự án; d) Đánh giá tác động: tiến hành vào một thời điểm thích hợp trong vòng 3 năm, kể từ ngày đưa chương trình, dự án vào khai thác, sử dụng nhằm làm rõ hiệu quả, tính bền vững và tác động kinh tế - xã hội của chương trình, dự án so với mục tiêu đặt ra ban đầu. 3. Kế hoạch, tổ chức thực hiện và kinh phí cho công tác đánh giá trích từ nguồn vốn ODA, nguồn vốn đối ứng hoặc nguồn vốn khác, phải được quy định và xác định trước trong văn kiện chương trình, dự án và phải phù hợp với tính chất của từng loại chương trình, dự án. Điều 35. Trách nhiệm theo dõi, đánh giá chương trình, dự án 1. Ban quản lý dự án có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đánh giá chương trình, dự án theo các quy định dưới đây: a) Xây dựng kế hoạch tổng thể và kế hoạch chi tiết hàng năm thực hiện chương trình, dự án, trong đó xác định rõ các nguồn lực sử dụng, tiến độ thực hiện, thời hạn hoàn thành, mục tiêu chất lượng và tiêu chí chấp nhận kết quả đối với từng hoạt động của chương trình, dự án để làm cơ sở theo dõi, đánh giá. Kế hoạch tổng thể thực hiện dự án phải được Ban quản lý dự án chuẩn bị trước ngày khởi động chương trình, dự án 3 tháng và phải được chủ dự án phê duyệt. Kế hoạch chi tiết hàng năm phải được xây dựng trên cơ sở thống nhất với nhà tài trợ và trình chủ dự án phê duyệt phù hợp với lịch biểu xây dựng kế hoạch hàng năm của cơ quan chủ quản; b) Thiết lập hệ thống thông tin nội bộ, thu thập và lưu trữ đầy đủ thông tin, dữ liệu, hồ sơ, tài liệu, sổ sách, chứng từ của chương trình, dự án, báo cáo của các nhà thầu, những thay đổi trong chính sách, luật pháp của Nhà nước và các quy định của nhà tài trợ liên quan đến việc quản lý thực hiện; c) Lập báo cáo thực hiện theo quy định, cung cấp, chia sẻ thông tin thông qua hệ thống thông tin theo dõi, đánh giá cấp ngành, địa phương và cấp quốc gia; d) Thuê tư vấn tiến hành đánh giá ban đầu, giữa kỳ và kết thúc theo nội dung báo cáo khả thi hoặc văn kiện chương trình, dự án đã được phê duyệt; làm đầu mối phối hợp với nhà tài trợ hoặc cơ quan quản lý có thẩm quyền để đánh giá chương trình, dự án. 2. Chủ dự án có trách nhiệm chỉ đạo, đôn đốc, hỗ trợ Ban quản lý dự án trong việc theo dõi, đánh giá chương trình, dự án. Trường hợp có khó khăn, vướng mắc mà không tự xử lý được, chủ dự án phải kịp thời đề nghị các cấp có thẩm quyền giải quyết. 3. Chủ dự án có trách nhiệm công bố công khai với các tổ chức chính trị, xã hội, chính quyền địa phương và các cơ quan dân cử tại địa bàn có chương trình, dự án về mục đích, nội dung các hoạt động, quy mô vốn ODA và vốn đối ứng của chương trình, dự án; cơ cấu tổ chức và quy chế hoạt động của Ban quản lý dự án để tranh thủ sự giám sát của cộng đồng trong quá trình thực hiện. 4. Cơ quan chủ quản có trách nhiệm theo dõi tình hình thực hiện các chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quản lý; phản hồi đầy đủ và kịp thời các báo cáo của chủ dự án; tiến hành phân tích danh mục các chương trình, dự án để xác định mức độ thực hiện. 5. Cơ quan chủ quản có trách nhiệm xem xét các kết quả đánh giá các chương trình, dự án do các chủ dự án thuộc thẩm quyền quản lý tiến hành. Trong những trường hợp cần thiết cơ quan chủ quản phối hợp với nhà tài trợ và các cơ quan liên quan tổ chức đánh giá đột xuất các chương trình, dự án. 6. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước về ODA, trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ quy định tại Chương VII Quy chế này, thực hiện việc giám sát đánh giá năng lực quản lý thực hiện các chương trình, dự án tại cơ quan chủ quản và theo dõi, đánh giá ở cấp quốc gia về các chương trình, dự án. Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm phản hồi các báo cáo nhận được từ các cơ quan chủ quản để không ngừng hoàn thiện công tác quản lý và thực hiện nguồn vốn ODA. Trong trường hợp cần thiết, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ quản lý ngành và địa phương thành lập đoàn công tác liên ngành làm việc trực tiếp với chủ dự án và Ban Quản lý dự án để xem xét, đánh giá và giải quyết theo thẩm quyền những kiến nghị liên quan đến chương trình, dự án đó. Đối với những vấn đề vượt quá thẩm quyền, Bộ Kế hoạch và Đầu tư có trách nhiệm tổng hợp ý kiến của các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. 7. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan và nhà tài trợ xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về ODA để phục vụ công tác theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án ODA cũng như phục vụ nhu cầu về thông tin đối với nguồn vốn này. 8. Tổng cục Thống kê chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng và tổng hợp các chỉ tiêu thống kê định kỳ về tình hình tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA để phản ánh vào hệ thống số liệu thống kê quốc gia về tình hình phát triển kinh tế - xã hội. Điều 36. Báo cáo thực hiện chương trình, dự án 1. Trong quá trình thực hiện chương trình, dự án, Ban quản lý dự án phải xây dựng và gửi các báo cáo quy định dưới đây cho chủ dự án, để chủ dự án gửi cơ quan chủ quản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện chương trình, dự án: a) Báo cáo tháng, chậm nhất 10 ngày sau khi hết tháng (chỉ áp dụng đối với chương trình, dự án đầu tư thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ); b) Báo cáo quý, chậm nhất 15 ngày sau khi hết quý; c) Báo cáo năm, chậm nhất vào ngày 31 tháng 01 năm sau; d) Báo cáo kết thúc, chậm nhất 6 tháng sau khi kết thúc thực hiện chương trình, dự án; đ) Báo cáo về những thay đổi (nếu có) so với các nội dung của điều ước quốc tế cụ thể về ODA đã ký kết. Các báo cáo cho nhà tài trợ được thực hiện theo thoả thuận trong điều ước quốc tế về ODA có liên quan. 2. Chậm nhất 20 ngày sau mỗi quý, cơ quan chủ quản lập báo cáo tổng hợp về kết quả vận động ODA, báo cáo đánh giá tình hình thực hiện chương trình, dự án thuộc thẩm quyền quản lý và gửi cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. 3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư lập báo cáo tổng hợp 6 tháng và báo cáo năm về tình hình thu hút và sử dụng ODA trong cả nước trình Thủ tướng Chính phủ. 4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn chế độ báo cáo và mẫu báo cáo thống nhất về ODA, từng bước hài hoà hoá mẫu báo cáo về ODA với các nhà tài trợ; giám sát việc tuân thủ chế độ báo cáo ODA ở các cấp và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình thực hiện công tác này. Điều 37. Kiểm tra, thanh tra và giám sát việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng ODA Việc kiểm tra, thanh tra và giám sát việc tiếp nhận, quản lý và sử dụng ODA được thực hiện theo quy định của pháp luật hiện hành. Chương VII QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ODA Điều 38. Quản lý nhà nước về ODA Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA bao gồm các nội dung sau: 1. Quyết định chiến lược, chính sách, quy hoạch, định hướng thu hút và sử dụng ODA cho từng thời kỳ; ủy quyền cho Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục yêu cầu tài trợ ODA và những sửa đổi, bổ sung (nếu có) của Danh mục; 2. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng ODA theo thẩm quyền; 3. Điều hành vĩ mô công tác quản lý và sử dụng ODA. Điều 39. Nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bộ Kế hoạch và Đầu tư giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA, có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Là cơ quan đầu mối trong việc thu hút, điều phối, quản lý ODA; chủ trì soạn thảo chiến lược, chính sách, quy hoạch thu hút và sử dụng ODA; hướng dẫn cơ quan chủ quản xây dựng danh mục chương trình, dự án yêu cầu tài trợ ODA của từng cơ quan để tổng hợp thành Danh mục yêu cầu tài trợ ODA trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; 2. Chủ trì soạn thảo, trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý và sử dụng ODA; 3. Chủ trì việc chuẩn bị nội dung, tổ chức vận động và điều phối các nguồn ODA theo thẩm quyền; 4. Chủ trì, phối hợp với cơ quan có liên quan trình Chính phủ về việc ký kết, tiến hành đàm phán, ký điều ước quốc tế khung về ODA; trình Chính phủ về việc ký kết điều ước quốc tế cụ thể về ODA cho chương trình, dự án quy định tại khoản 2 Điều 21 Quy chế này; 5. Hướng dẫn các đơn vị, tổ chức liên quan chuẩn bị chương trình, dự án; chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xác định cơ chế tài chính trong nước sử dụng vốn ODA; 6. Hỗ trợ các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung và theo dõi quá trình đàm phán điều ước quốc tế cụ thể về ODA với nhà tài trợ; 7. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính tổng hợp và lập kế hoạch giải ngân vốn ODA, bố trí đầy đủ và kịp thời vốn chuẩn bị chương trình, dự án, vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện đối với các chương trình, dự án thuộc diện cấp phát từ ngân sách nhà nước trong kế hoạch vốn hàng năm. Chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính xử lý các nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng và nhu cầu vốn ứng trước cho chương trình, dự án theo quy định tại khoản 5, Điều 26 và Điều 27 Quy chế này. 8. Theo dõi, kiểm tra việc quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, dự án; đôn đốc, hỗ trợ việc thực hiện các chương trình, dự án. Xây dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống quốc gia về theo dõi và đánh giá các chương trình, dự án; chia sẻ thông tin với các cơ quan liên quan và nhà tài trợ, khai thác có hiệu quả hệ thống này. 9. Đánh giá chung về hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA; báo cáo tổng hợp theo định kỳ (6 tháng, một năm), đột xuất và theo yêu cầu đặc biệt của Đảng và Nhà nước về tình hình quản lý, thực hiện các chương trình, dự án và hiệu quả thu hút, sử dụng nguồn vốn ODA. 10. Làm đầu mối xử lý các vấn đề liên quan đến nhiều Bộ, ngành; kiến nghị Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp xử lý các vấn đề về ODA thuộc thẩm quyền của Thủ tướng Chính phủ. 11. Biên soạn và phổ biến các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ về vận động, chuẩn bị, thẩm định, quản lý thực hiện, theo dõi, đánh giá chương trình, dự án có tính đến yêu cầu hài hoà thủ tục với các nhà tài trợ; hỗ trợ công tác đào tạo quản lý chương trình, dự án theo hướng chuyên nghiệp và bền vững. 12. Chủ trì tổ chức thực hiện các biện pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA. Điều 40. Nhiệm vụ của Bộ Tài chính Bộ Tài chính có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút, sử dụng ODA và điều phối các nguồn vốn ODA; hướng dẫn chuẩn bị nội dung chương trình, dự án liên quan đến điều kiện sử dụng vốn, quản lý tài chính, phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng vốn ODA. 2. Chuẩn bị nội dung đàm phán chương trình, dự án vốn vay với nhà tài trợ; theo ủy quyền Thủ tướng Chính phủ, tiến hành đàm phán các điều ước quốc tế cụ thể về ODA vốn vay theo quy định tại khoản 1 Điều 21 Quy chế này. 3. Đại diện chính thức cho “người vay” là Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong các điều ước quốc tế cụ thể về ODA vốn vay, kể cả trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ ủy quyền cho một cơ quan khác chủ trì đàm phán các điều ước quốc tế nêu trên. 4. Quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án: a) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan hướng dẫn quy chế quản lý tài chính đối với chương trình, dự án; b) Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều kiện cho vay lại trong nước áp dụng cho các chương trình, dự án; c) Quy định cụ thể thủ tục rút vốn và quản lý rút vốn của các chương trình, dự án trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành và quy định tại các điều ước quốc tế về ODA đã ký với nhà tài trợ; d) Chủ trì hướng dẫn thực hiện chính sách thuế đối với các chương trình, dự án; giải quyết các vấn đề vướng mắc liên quan đến thuế; đ) Bố trí vốn ngân sách nhà nước và các nguồn vốn khác (nếu có) để trả nợ các khoản ODA vốn vay khi đến hạn; e) Theo dõi, kiểm tra công tác quản lý tài chính trong việc sử dụng vốn ODA; tổ chức hạch toán kế toán ngân sách nhà nước đối với nguồn vốn ODA; tổng hợp số liệu rút vốn, thanh toán và trả nợ đối với chương trình, dự án báo cáo Chính phủ và thông báo cho các cơ quan liên quan; g) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổng hợp và lập kế hoạch giải ngân nguồn vốn ODA, bố trí đầy đủ và kịp thời vốn chuẩn bị chương trình, dự án, vốn đối ứng chuẩn bị thực hiện và thực hiện đối với các chương trình, dự án thuộc diện được Nhà nước cấp phát từ ngân sách trong dự toán ngân sách hàng năm; cấp phát đầy đủ, đúng tiến độ vốn đối ứng cho các chương trình, dự án thuộc diện được Nhà nước cấp phát từ ngân sách; phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư xử lý các nhu cầu đột xuất về vốn đối ứng và nhu cầu về vốn ứng trước cho chương trình, dự án theo quy định tại khoản 5, Điều 26 và Điều 27 Quy chế này; h) Tổ chức cho vay lại và thu hồi phần vốn cho vay lại của các chương trình, dự án cho vay lại từ ngân sách nhà nước. Điều 41. Nhiệm vụ của Bộ Tư pháp Bộ Tư pháp có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Thẩm định các điều ước quốc tế về ODA theo quy định của pháp luật về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế; 2. Cung cấp ý kiến pháp lý đối với các điều ước quốc tế về ODA hoặc các vấn đề pháp lý khác theo đề nghị của cơ quan đề xuất ký kết điều ước quốc tế; 3. Thẩm định về nội dung đối với các dự án hợp tác trong lĩnh vực pháp luật theo quy định của pháp luật hiện hành. Điều 42. Nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Phối hợp với các cơ quan liên quan chuẩn bị nội dung đàm phán; theo sự ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ, tiến hành đàm phán và ký các điều ước quốc tế cụ thể về ODA với các tổ chức tài chính quốc tế: Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), ADB (ADB); bàn giao vốn và toàn bộ các thông tin liên quan đến chương trình, dự án cho Bộ Tài chính sau khi các điều ước quốc tế cụ thể về ODA có hiệu lực, trừ thoả thuận vay với IMF; 2. Phối hợp với Bộ Tài chính xác định và công bố danh sách các ngân hàng thương mại đủ tiêu chuẩn để ủy quyền thực hiện việc giao dịch thanh toán đối ngoại đối với nguồn vốn ODA, ủy quyền cho vay lại và thu hồi vốn trả nợ ngân sách trong trường hợp cần thiết; 3. Tổng hợp theo định kỳ (6 tháng, một năm) và thông báo cho Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan về tình hình rút vốn và thanh toán thông qua hệ thống tài khoản của các chương trình, dự án sử dụng vốn ODA mở tại các ngân hàng. Điều 43. Nhiệm vụ của Bộ Ngoại giao Bộ Ngoại giao có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng và thực hiện chủ trương, phương hướng vận động ODA cũng như chính sách đối tác trên cơ sở chính sách đối ngoại chung; tham gia vận động ODA; 2. Tham gia đàm phán, góp ý kiến xây dựng nội dung dự thảo điều ước quốc tế về ODA; kiểm tra việc đề xuất đàm phán, ký điều ước quốc tế về ODA; thực hiện các thủ tục đối ngoại về việc ký kết và thực hiện điều ước quốc tế về ODA; 3. Chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư chỉ đạo các cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam tại nước ngoài tiến hành vận động ODA phù hợp với quy hoạch, kế hoạch thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA trong từng thời kỳ. Điều 44. Nhiệm vụ của Văn phòng Chính phủ Văn phòng Chính phủ có các nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: 1. Giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành thống nhất quản lý nhà nước về ODA; 2. Tham gia ý kiến về nội dung trong quá trình chuẩn bị chương trình, dự án theo yêu cầu của cơ quan chủ quản hoặc chủ dự án; thẩm tra và đề xuất kiến nghị về chính sách, cơ chế, cách thức tổ chức thực hiện chương trình, dự án trước khi trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định; 3. Giúp Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Quy chế này. Điều 45. Nhiệm vụ của các Bộ, ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 1. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ: a) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, quy hoạch định hướng thu hút và sử dụng ODA; xây dựng các chính sách, biện pháp điều phối và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA thuộc lĩnh vực phụ trách; b) Chủ trì, phối hợp với cơ quan hữu quan trình Chính phủ về việc ký kết điều ước quốc tế cụ thể về ODA cho chương trình, dự án thuộc lĩnh vực phụ trách theo quy định của Quy chế này; c) Bảo đảm chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA thuộc lĩnh vực phụ trách; d) Thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với chương trình, dự án theo quy định của pháp luật. Khi có yêu cầu, chịu trách nhiệm xem xét và có ý kiến bằng văn bản về các vấn đề liên quan đến chương trình, dự án trong thời gian quy định. 2. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có nhiệm vụ: a) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, ngành và các cơ quan liên quan xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút và sử dụng ODA; xây dựng các chính sách, biện pháp điều phối và nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trên địa bàn tỉnh, thành phố; b) Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc trình Chính phủ về việc ký kết điều ước quốc tế cụ thể về ODA cho chương trình, dự án thuộc lĩnh vực phụ trách theo quy định của Quy chế này; c) Bảo đảm chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA do địa phương trực tiếp quản lý và thực hiện; d) Chịu trách nhiệm thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, thực hiện các chính sách đền bù, tái định cư cho chương trình, dự án trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Điều 46. Khen thưởng và xử lý vi phạm 1. Tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc thực hiện Quy chế này được khen thưởng theo quy định của pháp luật về thi đua khen thưởng. 2. Tổ chức, cá nhân vi phạm các quy định của Quy chế này thì tùy theo tính chất và mức độ vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật./. TM. CHÍNH PHỦ THỦ TƯỚNG Nguyễn Tấn Dũng ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc10414.doc