Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư tại Công ty cổ phần tư vấn và Xây dựng Bưu điện

Mở đầu Bưu chính viễn thông là ngành kinh tế kỹ thuật thuộc lĩnh vực kết cấu hạ tầng của nền kinh tế và là công cụ thông tin liên lạc phục vụ sự phát triển của tất cả các Ngành nghề, dịch vụ. Sự phát triển của Bưu chính viễn thông, đặc biệt là công nghệ viễn thông giúp chúng ta có thể tiếp cận với thế giới trên mọi phương diện một cách nhanh chóng. Có thể khẳng định rằng quốc gia nào có trình độ công nghệ viễn thông càng hiện đại thì cơ hội thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, nâng cao mức sống củ

doc99 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1211 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư tại Công ty cổ phần tư vấn và Xây dựng Bưu điện, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a công dân càng lớn. Chính vì vậy, đầu tư cho công nghệ viễn thông luôn được chú trọng trong chính sách phát triển của Việt Nam nói riêng và của các quốc gia trên thế giới nói chung và đó là xu thế tất yếu. Tuy vậy để hoạt động đầu tư có hiệu quả nhằm tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, tăng năng lực sản xuất cho doanh nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động và hạ giá thành dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp cho xã hội thì phải có những dự án đầu tư mang tính khả thi cao. Do vậy, việc phân tích đánh giá công tác lập dự án để nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư mạng viễn thông là thực sự cần thiết. Chính vì lý do đó, sau thời gian thực tập, tìm hiểu tài liệu tại Công ty em đã lựa chọn đề tài "Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện” với mục đích là có thể nói rõ hơn về thực trạng lập dự án đầu tư mạng viễn thông tại Công ty để rút ra những ưu điểm, nhược điểm từ đó đưa ra một vài giải pháp kiến nghị để nâng cao hơn nữa chất lượng công tác lập dự án đầu tư của Công ty. Em xin chân thành cảm ơn thầy Từ Quang Phương, người trực tiếp hướng dẫn em và các thầy cô trong bộ môn đã hướng dẫn, hỗ trợ em về kiến thức, tài liệu để em có thể hoàn thành tốt chuyên đề của mình. Nhân đây cũng xin được trân trọng cảm ơn các bác, cô chú lãnh đạo, các anh chị kỹ sư, chuyên viên trong Công ty đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được thực tập và giúp em những ý kiến, kinh nghiệm quý báu trong quá trình nghiên cứu và viết đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình. Phần I Công tác lập dự án đầu tư mạng viễn thông tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu Điện. I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty 1. Quá trình hình thành. Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư và Xây dựng Bưu Điện (tên giao dịch quốc tế là Post and Telecommunications Investment and Construction Consulting Joint - Stock Company - viết tắt là PTICC), là doanh nghiệp được thành lập dưới hình thức chuyển từ doanh nghiệp Nhà nước thành Công ty cổ phần, được tổ chức và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp do Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam Khóa X kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12 tháng 6 năm 1999 (có sự sửa đổi vào năm 2003). Tiền thân đầu tiên của Công ty là Tổ thiết kế của Tổng cục Bưu Điện được thành lập năm 1954 với chức năng chính là tham gia thiết kế những công trình đầu tiên của ngành Bưu Điện Việt Nam. Tiếp đến tháng 10 năm 1960, chuyển thành Phòng Thiết kế thuộc Tổng cục Bưu Điện. Đến ngày 15 tháng 2 năm 1962 Công ty Thiết kế Bưu Điện và Truyền thanh ra đời. Mặc dù lúc này Công ty đã có bộ máy tổ chức tương đối hoàn chỉnh nhưng phải tính đến ngày 15 tháng 7 năm 1969 khi chuyển thành Viện Thiết kế Bưu Điện trực thuộc Tổng cục Bưu Điện Công ty mới chính thức là một đơn vị kinh doanh hạch toán độc lập. Sau đó Công ty được đổi tên thành Công ty Thiết kế Bưu Điện, một doanh nghiệp Nhà nước trực thuộc Tổng cục Bưu Điện, chuyên làm công tác khảo sát thiết kế các công trình thông tin và tư vấn đầu tư xây dựng. Sau này, khi các Tổng công ty mạnh được thành lập theo quyết định 91/ CP thì Công ty Thiết kế Bưu Điện được chuyển sang trực thuộc Tổng Công ty Bưu Chính -Viễn thông Việt Nam. Để thúc đẩy sự lớn mạnh của mình và đáp ứng được tốc độ phát triển nhanh chóng của Ngành trong kế hoạch tăng tốc giai đoạn II (1996-2000), năm 1997 Công ty đã mở rộng thêm lĩnh vực hoạt động kinh doanh và đổi tên thành Công ty Tư vấn Xây dựng và phát triển Bưu Điện. Trước khi chuyển đổi thành Công ty cổ phần như hiện nay Công ty đã có bề dày 50 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực tư vấn xây dựng, khảo sát thiết kế chuyên ngành bưu chính, viễn thông và tin học (nhà trạm, tổng đài, mạng cáp, trruyền dẫn vi ba, mạng LAN, internet,...) với địa bàn hoạt động trên khắp 67 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đội ngũ chuyên gia, kỹ sư tư vấn có trình độ chuyên môn cao, nhiều kinh nghiệm. Với các trang thiết bị hiện đại, phần mềm chuyên dụng, công ty cung cấp những sản phẩm tư vấn thiết kế đạt chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu và mong đợi của khác hàng. Không dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ tư vấn, thiết kế các công trình của mạng lưới bưu chính viễn thông tin học toàn quốc, Công ty đã và đang thực hiện tư vấn các công trình ngoài ngành và tiến hành các hoạt động hợp tác quốc tế. Phương châm hành động của Công ty tuân là thủ 10 tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam với khẩu hiệu "Trí tuệ - Trung thực - Chất lượng - Hiệu quả", xây dựng văn hoá kinh doanh và hội nhập quốc tế. 2. Sự phát triển của Công ty sau khi tiến hành cổ phần hóa. Năm 2005, Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện (PTICC) chính thức hoạt động theo mô hình Công ty cổ phần. Trong năm qua, Công ty đã xây dựng cho mình mục tiêu phát triển bám sát mục tiêu định hướng đầu tư phát triển, hiện đại hoá mạng lưới của Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Sau khi chuyển đổi thành doanh nghiệp cổ phần, Công ty tiến hành tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh bằng vốn hoạt động của mình bao gồm vốn điều lệ, vốn huy động, vốn tích luỹ và vốn khác. Trong đó vốn điều lệ là 13 tỷ đồng và được phân theo cơ cấu chử sở hữu như bảng sau (Bảng 1) Bảng 1: Cơ cấu vốn theo chủ sở hữu Chủ sở hữu Trị giá (VND) Tỷ lệ phần trăm Vốn Nhà nước (VNPT) 6.630.000.000 51% Vốn của CBCNV trong Công ty 5.512.000.000 42,4% Vốn của Cổ đông khác 858.000.000 6,6% (Nguồn tài liệu từ Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu Điện) Vốn điều lệ sử dụng với mục đích: - Mua sắm tài sản cố định, trang thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động của Công ty, cung cấp vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh doanh. - Phát triển kỹ thuật nghiệp vụ. - Thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. - Mua Cổ phiếu, Trái phiếu và các loại chứng khoán khác, góp vốn liên doanh. - Các dữ trữ cần thiết về động sản và bất động sản. Vốn huy động của Công ty được huy động dưới nhiều hình thức: - Phát hành chứng khoán khi có đủ điều kiện và được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cho phép. - Vay vốn của các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước. - Các hình thức huy động vốn khác được pháp luật cho phép. Vốn tích lũy hình thành từ kết quả kinh doanh và được sử dụng để mở rộng và phát triển Công ty, góp vốn liên doanh với cá nhân và các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước. Trong quá trình phát triển, Công ty không ngừng đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh, dịch vụ của mình nhằm tối đa hoá các nguồn lợi nhuận, đảm bảo lợi ích của các cổ đông, cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập, mức sống cho người lao động trong Công ty đồng thời thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước. 3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng công tác Lập dự án đầu tư tại Công ty 3.1. Các nhân tố khách quan. 3.1.1 Đề án quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội. Đây là nhân tố ảnh hưởng nhiều đến chất lượng công tác lập dự án đầu tư của Công ty. Nếu đề án quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội được xây dựng một cách khoa học, cụ thể, chi tiết và thận trọng thì sẽ tạo điều kiện cho các dự án đầu tư triển khai thuận lợi, mang lại hiệu quả đầu tư cao. Ngược lại, chất lượng quy hoạch thấp sẽ làm cho các dự án trong quá trình triển khai thực hiện phải dời đi, dời lại gây tổn thất và lãng phí. Đề án quy hoạch phải được xây dựng và trình duyệt trước làm căn cứ, cơ sở phát hiện các cơ hội đầu tư nhưng trên thực tế, tại Ngành Bưu chính Viễn thông nói riêng và các Ngành khác trong cơ cấu nền kinh tế nói chung, công tác quy hoạch chưa thực sự đi trước một bước. Chính vì vậy, các dự án được lập thường thoát khỏi quy hoạch, thiếu chính xác từ đó làm cho các dự án đầu tư mang tính khả thi thấp so với dự kiến. Do sự ảnh hưởng lớn của nhân tố này, trong quá trình lập dự án đầu tư Công ty luôn quan tâm nghiên cứu, xem xét một cách thoả đáng quy hoạch của cả nước và của Ngành nhằm phát huy các tiềm năng, tận dụng những ưu đãi, tránh những rào cản từ đó đảm bảo thành công cho dự án đã lập. 3.1.2 Môi trường pháp lý (Quy định của Nhà nước và của Ngành liên quan đến hoạt động đầu tư phát triển) Mặc dù được đánh giá là một quốc gia có sự ổn định về môi trường chính trị, nhưng sự thay đổi liên tục các quy định, chế tài cũng như các chính sách trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội nói chung và lĩnh vực đầu tư nói riêng của nước ta hiện nay đang gây nhiều khó khăn nhiều cho giới đầu tư trong và ngoài nước. Nếu đảm bảo được tính chính xác, sự ổn định trong các văn bản pháp lý sẽ giúp cho doanh nghiệp, các ngành có định hướng rõ ràng trong quy hoạch phát triển của mình và điều này thực sự quan trọng thu hút được nguồn đầu tư có qui mô lớn từ các quốc gia phát triển. Là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng Bưu Điện trực tiếp tạo ra các dự án đầu tư thì nhân tố này mà cụ thể là các văn bản quy định của Nhà nước, của Ngành về phương pháp lập dự án, thủ tục đầu tư, định mức xây dựng, quy định mức lương... ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng của công tác lập dự án của Công ty. Mặc dù là đơn vị tư vấn đầu tư chủ lực được hưởng các ưu đãi từ phía Tổng công ty trong việc cập nhật các quy định mới, hướng dẫn thực hiện cụ thể, tập huấn nghiệp vụ nhưng hiện nay, nhân tố này cũng đang gây nhiều khó khăn cho hoạt động của Công ty. Bởi lẽ, Công ty tiến hành lập các dự án đầu tư căn cứ vào các quy định hiện tại, nhưng khi dự án triển khai vận hành thi lại có sự thay đổi và điều đó sẽ dẫn đến dự án đầu tư đạt chất lượng không cao, trường hợp xấu nhất có thể phải thay đổi kế hoạch đầu tư. Thông thường là sự thay đổi các văn bản quy định về phân tích tài chính. Các quy định về nguồn vốn, chi phí, thuế thu nhập, thuế giá trị gia tăng...áp dụng khi tiến hành lập dự án lại không được sử dụng nữa khi dự án đi vào hoạt động buộc chủ đầu tư phải đánh giá lại tính khả thi của dự căn cứ vào khả năng tài chính của mình. 3.1.3 Các nhân tố khác. Xét đến các nhân tố này ta thấy rằng mặc dù khâu dự báo trong quá trình tiến hành lập dự án đầu tư luôn được Công ty chú ý và thực hiện một cách khoa học nhằm giảm thiểu rủi ro một cách tốt nhất nhưng nền kinh tế trong nước và trên thế giới luôn biến động không ngừng nên sự ảnh hưởng của các nhân tố từ môi trường kinh tế vĩ mô đến chất lượng của công tác lập dự án đầu là không thể tránh khỏi. Các nhân tố này bao gồm: Tốc độ tăng trưởng; Lãi suất; Tỷ lệ lạm phát; Tình hình ngoại thương và các chế định có liên quan; Tình hình thâm hụt Ngân sách; Hệ thống kinh tế và các chính sách điều tiết vĩ mô của Nhà nước...Và chỉ cần một nhân tố thay đổi cũng làm cho hiệu quả đầu tư thay đổi từ đó chất lượng của dự án đầu tư cũng thay đổi. Chẳng hạn, khi lãi suất thị trường tăng lên, chi phí sử dụng vốn của dự án cũng tăng lên dẫn đến phần thuyết minh tài chính dự án thay đổi và chúng ta không chắc chắn được rằng dự án đầu tư còn mang tính khả thi hay không? Hoặc khi tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế tăng, thu nhập người tiêu dùng tăng, nhu cầu sử dụng điện thoại (bao gồm cả điện thoại cố định và điện thoại di động) tăng vượt quá khả năng đáp ứng của dự án. Để có thể triển khai, vận hành được dự án, cần phải bổ sung thêm một tiểu dự án khác và công việc này gây tốn kém cho chủ đầu tư. Nhưng nếu nền kinh tế suy thoái, nhu cầu giảm sút và năng lực mạng cung cấp dư thừa, gây lãng phí. 3.2. Các nhân tố chủ quan. 3.2.1 Năng lực đội ngũ lao động Nguồn nhân lực luôn là nhân tố đóng vai trò quan trọng quyết định tính hiệu quả, chất lượng của các dự án đầu tư mà Công ty tiến hành lập. Hiện nay, tổng số lao động của Công ty tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu Điện tính đến hết ngày 31.12.2005 là 256 người, trong đó có 105 nữ chiếm 41%. - Nếu phân theo độ tuổi: + Dưới 30 tuổi : 136 người chiếm 53,1% + Từ 30 tuổi đến 45 tuổi : 57người chiếm 22,3% + Trên 45 tuổi : 63 người chiếm 24,6% Nhân lực của Công ty phần lớn là lao động trẻ được đào tạo cơ bản và nâng cao. Đây là một trong những thuận lợi trong việc tiếp cận, cập nhật những công nghệ mới trên thế giới. Cùng với đó, những lao động lâu năm, nhiều kinh nghiệm cũng chiếm một tỷ lệ không nhỏ. Sự kết hợp này tạo cho Công ty một đội ngũ cán bộ trẻ, năng động và nhiều kinh nghiệm trong nghiệp vụ của mình. Những kỹ năng thực hiện công việc và sự tận tâm trong nghề nghiệp của họ luôn đảm bảo mang lại cho khách hàng những dự án khả thi, hoàn hảo. - Nếu phân theo trình độ: Ta có thể xem bảng 2 Bảng 2: Trình độ chuyên môn của công nhân viên Trình độ So với toàn Công ty So với số cán bộ tư vấn Số người Tỷ lệ (%) Số người Tỷ lệ (%) Trên đại học 10 3,9 6 3,5 Đại học, Cao Đẳng 187 73,0 150 88,3 Trung cấp 35 13,7 14 8,2 Sơ cấp, CN, phục vụ 24 9,4 Tổng cộng 256 170 (Nguồn tài liệu từ Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưư điện) Trình độ của cán bộ công nhân là một nhân tố vô cùng quan trọng quyết định hiệu quả của dự án đầu tư. Không chỉ xét về độ tuổi mà xét theo trình độ chuyên môn cũng là một trong những thế mạnh của Công ty trong quá trình tiến hành công tác lập dự án đầu tư. Trình độ Đại học và Cao đẳng chiếm 73% so với nội bộ Công ty, và chiếm tới 88,3% so với số lượng cán bộ tư vấn trong cả nước. Sự vững vàng về chuyên môn giúp Công ty tiến hành hoạt động lập dự án nhanh chóng, mang lại hiệu quả cho các dự án đầu tư. 3.2.2 Năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật Cơ sở vật chất kỹ thuật cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của các dự án đầu tư. Nếu các thiết bị phục vụ được trang bị hiện đại, cơ sở vật chất đảm bảo chất lượng sẽ hỗ trợ cho việc lập dự án một cách nhanh chóng, chính xác. Chính vì vậy Công ty luôn cố gắng chú ý trang bị đầy đủ các thiết bị, cập nhật công nghệ, cải tạo cơ sở làm việc phục vụ công tác lập dự án đầu tư. Tính đến hết ngày 31.12.2005, tổng nguyên giá tài sản cố định của Công ty là: 13.560.183.779 đồng. Trong đó: - Nếu phân chia theo nguồn hình thành: + Nguồn vốn ngân sách : 1.360.064.754 đồng + Nguồn vốn tái đầu tư của Công ty : 5.891.229.912 đồng Từ quỹ đầu tư phát triển : 5.051.301.025 đồng Từ nguồn khấu hao để lại : 3.016.958.836 đồng + Nguồn vốn vay Tổng công ty : 4.123.999.164 đồng + Nguồn vốn phúc lợi : 7.860.000 đồng - Nếu phân chia theo kết cấu tài sản: + Nhà cửa, vật kiến trúc : 1.337.828.309 đồng + Máy móc, thiết bị : 1.928.469.688 đồng + Phương tiện vận tải, truyền dẫn : 4.171.574.835 đồng + Thiết bị, dụng cụ quản lý : 6.024.707.667 đồng Cơ sở vật chất quan trọn nhất trong Công ty chính là các loại máy móc như máy tính, máy khoan, máy trắc đạc phục vụ công tác khảo sát và tiến hành thiết kế bản vẽ, lập dự án đầu tư, quản lý dự án được quy đổi ra tiền mặt như trên. Với cơ sở vật chất như vậy đảm bảo cho Công ty có thể tiếp nhận và tiến hành lập dự án cho những công trình, dự án với qui mô lớn đem lại nguồn thu lớn cho Công ty đồng thời mang lại những dự án hiệu quả cho Ngành và các chủ đầu tư ngoài Ngành. 3.2.3 Năng lực tài chính và quản lý tài chính Tận dụng những năng lực về lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật cùng với việc cập nhật những yêu cầu của thị trường, chuyển hướng đúng đắn, kịp thời, linh hoạt nên hiệu quả sản xuất của Công ty ngày càng cao. Từ đó Công ty không những có thể hoàn lại được vốn cho mình mà còn tăng nguồn vốn tích luỹ đảm bảo cho hoạt động tái sản xuất mở rộng. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2004 thể hiện khá rõ nét sự phát triển của Công ty về mặt tài chính (bảng 3) Bảng 3: Cơ cấu vốn phân theo thời kỳ chu chuyển Đơn vị: Tr.đ Năm Số vốn 2000 2001 2002 2003 2004 Vốn lưu động Vốn cố định 1.588 4.674 1.588 5.755 1.588 5.999 1.588 6.552 1.588 7.955 Tổng số 2.262 7.343 7.587 8.140 9.543 (Nguồn tài liệu từ Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu Điện) Đây là nguồn vốn kinh doanh của Công ty phân theo thời gian chu chuyển. Nếu năm 2000 số vốn mới chỉ là 2.262 triệu đồng thì đến năm 2004 tăng lên 9.543 triệu đồng (gấp 4,2 lần). Sự tăng lên trong nguồn vốn kinh doanh là cơ sở để Công ty mở rộng, phát triển kinh doanh của mình. Bên cạnh đó sẽ góp phần hỗ trợ hơn nữa cơ sở vật chất, cũng như trang thiết bị cho hoạt động lập dự án hiệu quả và chất lượng. Nguồn tài chính mạnh đã giúp Công ty chủ động trong hoạt động của mình, tiến hành các nghiệp vụ phục vụ công tác lập dự án một cánh thuận lợi, chính xác và hiệu quả. Từ đó chất lượng công tác lập dự án đầu tư của Công ty được đảm bảo hơn. 3.2.4 Năng lực tổ chức sản xuất Đáp ứng nhu cầu của thị trường trong thời đại công nghệ thông tin, qui trình đang áp dụng hiên nay tại Công ty là chuyên môn hoá theo đặc điểm công nghệ: có đơn vị làm các dự án về chuyển mạch, có đơn vị làm về cáp quang, cáp đồng, có đơn vị làm về vi ba, có đơn vị làm về kiến trúc... Tất cả các đơn vị này đều tuân theo qui trình hoạt động chính của Công ty: Bắt đầu từ việc liên hệ tìm đối tác và ký kết hợp đồng, sau đó tiến hành khảo sát hiện trường và lập dự án. Sau khi dự án được duyệt đơn vị chức năng sẽ tiến hành lập thiết kế tổng dự toán và trình duyệt. Công việc cuối cùng là tiến hành thanh, quyết toán công trình. Như vậy việc lập một dự án đầu tư mạng viễn thông được chia nhỏ thành các tiểu dự án và điều này giúp cho hoạt động lập dự án của Công ty mang tính chuyên nghiệp hơn và hiệu quả của dự án tổng thể chắc chắn sẽ đạt kết quả cao hơn. II. Công tác lập dự án đầu tư mạng viễn thông tại Công ty 1. Phân loại dự án đầu tư mạng viễn thông. Có nhiều cách để phân loại các dự án đầu tư trong ngành Bưu chính Viễn thông. Có thể phân theo nguồn vốn đầu tư, quy mô vốn đầu tư, khu vực đầu tư, tính chất dự án đầu tư... Trong đó, ở Việt Nam hiện nay việc phân loại các dự án đầu tư theo tính chất của dự án là chiếm ưu thế bao gồm: + Dự án mạng tính chiến lược quốc gia, quốc tế: Đó là những dự án tối quan trọng trong cấu trúc mạng viễn thông. Căn cứ v ào đề án quy hoạch phát triển Ngành của cả nước, các dự án này sẽ góp phần quyết định chiến lược phát triển của quốc gia ở hiện tại và trong tương lai. Những dự án này đòi hỏi nguồn vốn lớn và cần có sự hỗ trợ từ nguồn vốn Ngân sách phát triển của Nhà nước. + Dự án đầu tư đi trước về lĩnh vực công nghệ: Các dự án này mang tính chất "đi trước đón đầu" về công nghệ vì vậy khả năng rủi ro là không thể tránh khỏi. Lý do là do cơ sở hạ tầng chưa đủ điều kiện đáp ứng cũng như trình độ của công chúng chưa thể tiếp cận và ứng dụng trong cuộc sống. Nhưng đó là bước đi đột phá thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của quốc gia trong lĩnh vực công nghệ viễn thông. Và những dự án này thực sự quan trọng và rất cần thiết cho chúng ta trong xu thế hội nhập. + Dự án mang tính chất thử nghiệm dịch vụ mới... Các dự án này được đầu tư với hai mục tiêu cơ bản là để kinh doanh thu lợi nhuận hay mang tính chất phục vụ. Căn cứ vào hai mục tiêu đó chủ đầu tư sẽ có chiến lược đầu tư, cơ cấu vốn đầu tư cụ thể, phù hợp cho từng loại dự án. 2 Quan điểm hình thành một dự án đầu tư mạng viễn thông. Để đảm bảo cho các dự đầu tư mạng viễn thông mang lại hiệu quả cho nền kinh tế cũng như sự phát triển của Ngành thì việc đánh giá để đưa ra ý tưởng một dự án đầu tư hợp lý là thực sự cần thiết. Công việc này được xem xét thông qua tính "linh hồn" của dự án. Trên lý thuyết chúng ta không có khái niệm "linh hồn" của dự án nhưng trên thực tế thì cần phải xem xét dự án có "linh hồn" hay không? Thực chất là xem xét, đánh giá tính khả thi chắc chắn của dự án. Không phải là dự án có thực hiện, có triển khai được hay không mà là một dự án đảm bảo có khả năng kinh doanh thực sự. Trong các dự án này, cán bộ lập dự án quan tâm đến các thông số sau: — Đề án quy hoạch ảnh hưởng đến tính hiệu quả của dự án — Đánh giá nhu cầu của dự án trong tương lai. — Lập dự báo — Các vấn đề thuộc về công nghệ — Xây dựng các giải pháp cấu trúc tổng thể — Xem xét vấn đề về tiến độ đầu tư, nguồn vốn đầu tư — Các phương án thực hiện dự án như hình thức, phương thức tổ chức thực hiện dự án, nhịp độ đầu tư... — Triển khai, tổ chức, quản lý vận hành một dự án — Khả năng kinh doanh của dự án. Đây chính là những thông số "linh hồn" quan trọng, cốt lõi để đánh giá một dự án đầu tư có mang tính hoàn thiện hay không? có phải là một chỉnh thể thống nhất hay không? Công việc cuối cùng là đi vào xây dựng các giải pháp về mặt kinh tế, tiến hành tổng hợp và phân tích hiệu quả kinh tế của dự án. Chỉ khi các yếu tố này được xâu chuỗi với nhau và đảm bảo mục tiêu của chủ đầu tư thì một thực thể sống hay chính là một dự án đầu tư khả thi mới được hình thành! 3 Phương pháp lập một dự án đầu tư nói chung. Một dự án đầu tư nói chung phải trải qua 3 cấp độ nghiên cứu: Nghiên cứu và phát hiện các cơ hội đầu tư; Nghiên cứu tiền khả thi; Nghiên cứu khả thi. + Nghiên cứu và phát hiện các cơ hội đầu tư: Đây là bước nghiên cứu sơ bộ để xem xét nhu cầu và khả năng tiến hành một dự án đầu tư. Đồng thời xem xét các kết quả và hiệu quả sẽ đạt được nếu dự án đầu tư được tiến hành. Nghiên cứu cơ hội đầu tư được tiến hành thường xuyên để cung cấp các dự án sơ bộ cho nghiên cứu tiền khả thi và nghiên cứu khả thi, từ đó xác định được danh mục các dự án đầu tư cần thực hiện trong từng thời kỳ kế hoạch. + Nghiên cứu tiền khả thi: là giai đoạn trung gian giữa nghiên cứu cơ hội đầu tư và nghiên cứu khả thi. Đối với các dự án có quy mô đầu tư lớn, các giải pháp kỹ thuật phức tạp, thời gian thu hồi vốn lâu...thì công việc nghiên cứu khả thi sẽ rất tốn kém về tiền bạc và thời gian. Vì vậy, chỉ khi có kết luận về nghiên cứu tiền khả thi có hiệu quả mới bắt đầu giai đoạn nghiên cứu khả thi. Còn đối với các cơ hội đầu tư có quy mô nhỏ, không phức tạp về mặt kỹ thuật và triển vọng đem lại hiệu quả là rõ ràng thì có thể tiến hành cấp độ Nghiên cứu khả thi luôn sau khi đã nghiên cứu cơ hội đầu tư một cách chắc chắn. Sản phẩm cuối cùng của giai đoạn này chính là Báo cáo Nghiên cứu tiền khả thi. bao gồm các nội dung sau: Nghiên cứu về sự cần thiết phải đầu tư, các điều kiện thuận lợi và khó khăn. Dự kiến quy mô đầu tư, hình thức đầu tư. Chọn khu vực địa điểm xây dựng và dự kiến nhu cầu diện tích sử dụng đất trên cơ sở giảm tới mức tối đa việc sử dụng đất và những ảnh hưởng về môi trường, xã hội và tái định cư (có phân tích, đánh giá cụ thể). Phân tích, lựa chọn sơ bộ về công nghệ, kỹ thuật (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có) và các điều kiện cung cấp vật tư, thiết bị, nguyên liệu, năng lượng, dịch vụ, hạ tầng. Phân tích, lựa chọn sơ bộ các phương án xây dựng Xác định sơ bộ tổng mức đầu tư, phương án huy động các nguồn vốn, khả năng hoàn trả vốn và trả nợ, thu lãi. Tính toán sơ bộ hiệu quả đầu tư về kinh tế - xã hội của dự án. Xác định tính độc lập khi vận hành, khai thác của các dự án thành phần hoặc tiểu dự án (nếu có). Các vấn đề nghiên cứu trên đây ở giai đoạn này là chưa chi tiết, vẫn dừng lại ở trạng thái tĩnh, mọi yếu tố đầu vào, đầu ra, mọi khía cạnh kỹ thuật, tài chính, kinh tế của cơ hội đầu tư và toàn bộ quá trình thực hiện đầu tư vận hành kết quả đầu tư đạt mức độ chính xác chưa cao. + Nghiên cứu khả thi: Đây là cấp độ nghiên cứu cuối cùng để lựa chọn ra một dự án đầu tư tối ưu. Nghiên cứu khả thi để chỉ ra cơ hội đầu tư có khả thi hay không? có vững chắc và hiệu quả hay không? ở giai đoạn này, nội dung nghiên cứu như giai đoạn Nghiên cứu tiền khả thi nhưng mức độ chi tiết hơn, chính xác hơn và được xem xét ở trạng thái động (xem xét sự tác động của các yếu tố bất định và đưa ra các biện pháp đảm bảo cho dự án có hiệu quả) Nội dung nghiên cứu ở cấp độ này được cụ thể hóa qua Báo cáo Nghiên cứu khả thi: Những căn cứ để xác định sự cần thiết phải đầu tư Lựa chọn hình thức đầu tư. Chương trình sản xuất và các yếu tố phải đáp ứng (đối với các dự án có sản xuất) Các phương án địa điểm cụ thể phù hợp với quy hoạch xây dựng (bao gồm cả tài liệu về sự lựa chọn địa điểm trong đó có đề xuất giải pháp hạn chế mức tối thiểu ảnh hưởng đối với môi trường và xã hội) Phương án giải phóng mặt bằng, kế hoạch tái định cư (nếu có) Phân tích lựa chọn phương án kỹ thuật, công nghệ (bao gồm cả cây trồng, vật nuôi nếu có) Các phương án kiến trúc, giải pháp xây dựng, thiết kế sơ bộ các phương án đề nghị lựa chọn, giải pháp quản lý và bảo vệ môi trường. Xác định rõ nguồn vốn (hoặc hai nguồn vốn), khả năng tài chính, tổng mức đầu tư và nhu cầu vốn theo tiến độ. Phương án hoàn trả vốn đầu tư (đối với dự án có yêu cầu thu hồi vốn đầu tư) Phương án quản lý, khai thác dự án và sử dụng lao động. Phân tích hiệu quả đầu tư Các mốc thời gian chính thực hiện đầu tư. Dự án nhóm C phải lập ngay kế hoạch đấu thầu. Dự án nhóm A, B có thể lập kế hoạch đấu thầu sau khi có quyết định đầu tư (tùy điều kiện cụ thể của dự án). Thời gian khởi công (chậm nhất), thời hạn hoàn thành đưa ra công trình vào khai thác sử dụng (chậm nhất). Kiến nghị hình thức quản lý thực hiện dự án Xác định chủ đầu tư Mối quan hệ và trách nhiệm của các cơ quan liên quan đến dự án. Như vậy Nghiên cứu khả thi là xem xét lần cuối cùng nhằm đi đến những kết luận xác đáng về mọi vấn đề cơ bản của dự án bằng các số liệu đã được tính toán cẩn thận, chi tiết, các đề án kinh tế kỹ thuật, các lịch biểu và tiến độ thực hiện dự án trước khi quyết định đầu tư chính thức. 4 Phương pháp lập một dự án đầu tư mạng viễn thông tại Công ty Công tác lập dự án đầu tư của Công ty được tiến hành tuân theo quy định của Nhà nước và của Ngành. Tuy nhiên, ở cấp độ thứ nhất và thứ hai là Nghiên cứu cơ hội đầu tư và Nghiên cứu tiền khả thi thông thường do Chủ đầu tư là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông tiến hành, Công ty chỉ thực hiện cấp độ thứ ba là Nghiên cứu khả thi và sản phẩm cuối cùng Công ty tạo ra chính là hồ sơ các dự án đầu tư cụ thể. 4.1 Các căn cứ để lập một dự án đầu tư mạng viễn thông tại Công ty Ngoài các văn bản quy định, hướng dẫn công tác lập dự án đầu tư chung của Nhà nước cho tất cả các Ngành, các lĩnh vực quy gồm: +) Nghị định số 52/1999/NĐ - BXD ngày 8/7/1999 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng; +) Nghị định số 12/2000/ NĐ - CP ngày 5/5/2000 và Nghị định số 07/2003/ NĐ - CP ngày 30/1/2003 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế quản lý Đầu tư và Xây dựng, ban hành kèm theo Nghị định số 52/1999/NĐ - BXD ngày 8/7/1999 của Chính phủ +) Quy chuẩn xây dựng của Bộ Xây dựng theo quyết định số 439/ BXD - CSXD ngày 25/ 9/1997 Công tác lập dự đầu tư mạng viễn thông của Công ty còn phải căn cứ vào các văn bản quy định riêng của Ngành sau: +) Các tiêu chuẩn kỹ thuật của Ngành Bưu điện +) Lập kế hoạch phát triển mạng viễn thông - Nhà xuất bản Bưu điện +) Hướng dẫn thực hiện quản lý Đầu tư, Xây dựng và Đấu thầu - Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. +) Các hồ sơ mẫu về lập dự án đầu tư, đấu thầu - Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam +) Niên giám thống kê về địa lý, dân số, khí tượng thủy văn của từng vùng. +) Đơn giá xây dựng cơ bản của các Tỉnh tại thời điểm lập dự án đầu tư. +) Đơn giá Xây dựng cơ bản chuyên ngành Bưu điện... 4.2 Các bước tiến hành lập dự án đầu tư tại Công ty. Khác với các dự án đầu tư khác, dự án đầu tư mạng viễn thông là một chỉnh thể thống nhất gồm nhiều các dự án xâu chuỗi với nhau. Dự án mạng viễn thông chỉ có thể được đưa vào khai thác khi tất cả các tiểu dự án đồng loạt vận hành. Chính vì vậy, để lập được một dự án đầu tư mạng viễn thông cụ thể, căn cứ vào quy hoạch mạng lưới viễn thông, Công ty sẽ tiến hành lập dự án đầu tư cho các tiểu dự án theo các lĩnh vực gồm: a) Dự án đầu tư Hệ thống chuyển mạch: Dự án này sẽ xây dựng các nút mạng làm chức năng Transit (tổng đài Toll) của các vùng địa lý và các tổng đài nội hạt (Local) b) Dự án đầu tư Hệ thống truyền dẫn: Các dự án đầu tư thuộc loại này truyền tải lưu lượng tín hiệu thoại và phi thoại (số liệu, truyền hình …) kết nối giữa các tổng đài khác nhau trong một vùng hoặc nhiều vùng (mang tính chất liên vùng) với nhau. Hiện nay các dự án thuộc loại này thường sử dụng môi trường truyền dẫn là cáp sợi quanq ứng dụng công nghệ thiết bị SDH (Synchronous Digital Hierrachy). Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn sử dụng môi trường truyền dẫn vi ba (Microwave) với công nghệ SDH hoặc PDH (Plesiochronous Digital Hierrachy) chủ yếu để dự phòng như là phương thức truyền dẫn thứ hai trên mỗi hướng tuyến. Khó khăn hiện nay đối với các dự án này chính là tính dị biệt hóa sản phẩm của các nhà cung cấp làm cho các thiết bị cùng loại của các nhà cung cấp khác nhau không làm việc được với nhau, vì vậy các dự án này đều phải tăng chi phí đầu tư cho việc mua các thiết bị dự phòng. c) Dự án đầu tư Mạng ngoại vi trong phạm vi một vùng: các dự án này với chức năng là mở rộng dung lượng thuê bao phục vụ khách hàng thường được triển khai thực hiện trên địa bàn các Bưu điện tỉnh, thành phố. d) Các dự án bổ trợ khác như: hệ thống chống sét; cột anten; kiến trúc xây dựng... Thông thường các dự án này chỉ là một hạng mục trong các dự án đầu tư mạng viễn thông lớn nhưng nó lại đóng vai trò rất quan trọng. Bảo đảm các dự án bổ trợ hoạt động tốt cũng chính là biện pháp hữu hiệu bảo đảm cho dự án mạng viễn thông được vận hành liên tục ngay cả trong điều kiện thời tiết không được thuận lợi. Sau khi phân rõ các tiểu dự án, quy trình lập dự án mạng viễn thông mà cụ thể là quy trình chung để lập các tiểu dự án áp dụng tại Công ty gồm 2 bước: + Bước 1: Khảo sát và lập hồ sơ khảo sát lập dự án đầu tư + Bước 2: Lập dự án đầu tư 4.2.1 Khảo sát và lập hồ sơ khảo sát lập dự án đầu tư. Trước khi tiến hành lập dự án đầu tư, công việc quan trọng cần phải thực hiện là tiến hành khảo sát thu thập các số liệu cần thiết cho dự án.Các xí nghiệp tiến hành việc khảo sát lập dự án theo các nội dung sau. Thứ nhất: Chuẩn bị tài liệu đi khảo sát. Bao gồm - Cấu hình mạng viễn thông đã được Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt nam phê duyệt. - Kế hoạch phân bổ vốn cho năm thực hiện dự án - Các tài liệu cần thiết cho từng dự án cụ thể. Ví dụ +) Dự án chuyển mạch cần thêm các tài liệu sau: * Xem xét các yêu cầu của bên A và các đơn vị liên quan * Tìm hiểu phương án công nghệ, xác định các chỉ tiêu kỹ thuật sơ bộ của các thiết bị được lắp đặt trong chương trình như: Các chỉ tiêu về năng lực xử lý của thiết bị; Các giao tiếp liên kết với mạng hiện có và các khả năng hỗ trợ các chuẩn giao tiếp mở rộng; Các thông số môi trường liên quan của thiết bị; Các thông số về kích thước, trọng lượng._. thiết bị. + Dự án truyền dẫn quang cần thiết phải có thêm Bản đồ hành chính khu vực lập dự án ( tỷ lệ 1/ 5.000 hoặc 1/ 10.000 - 1/ 25.000)... Thứ 2. Lập đề cương đi khảo sát. Trước khi tiến hành khảo sát, đơn vị lập dự án trong Công ty sẽ tiến hành xây dựng kế hoạch quản lý kinh doanh cho dự án và lập đề cương công tác với việc dự kiến các công việc tiến hành, dự tính thời gian thực hiện và dự trù kinh phí Thứ 3. Triển khai công tác với chủ đầu tư (bên A) với hai công việc chính: * Họp với bên A - Xác định lại quy mô vốn và mục tiêu đầu tư. - Thống nhất các số liệu bên A sẽ cung cấp ngay hoặc sau này sẽ gửi về cơ quan. - Thống nhất với các đơn vị có liên quan để phối hợp cùng khảo sát. * Thu thập tài liệu ở mỗi khu vực lập dự án Bất kỳ một dự án đầu tư mạng viễn thông nào thì cũng cần phải thu thập đầy đủ các số liệu sau: ỉ Số liệu về điều kiện tự nhiên: ỉ Số liệu về điều kiện xã hội, tình hình phát triển kinh tế của địa phương, vùng dự án: ỉ Số liệu về tình hình kinh doanh của Bưu điện Tỉnh (hoặc của các công ty) ỉ Số liệu về dịch vụ, phát triển máy của Bưu điện tỉnh (hoặc của các công ty) ỉ Số lượng về hạ tầng cơ sở của khu vực dự án: ỉ Số liệu về hiện trạng thiết bị thông tin, công nghệ, dịch vụ: ỉ Số liệu về tình hình phát triển công nghệ, dịch vụ, của thế giới và trong nước các năm trước. Thứ 4. Lập biên bản khảo sát lập dự án (theo mẫu qui định của Công ty) Tất cả các đơn vị lập dự án trong Công ty sau khi tiến hành khảo sát sẽ lập biên bản khảo sát theo mẫu quy định của Công ty, trong đó thống nhất các vấn đề sau: + Tình hình doanh thu viễn thông, vốn đầu tư các năm trước + Thỏa thuận về dự báo nhu cầu viễn thông, phát triển công nghệ và dịch vụ tại vùng dự án + Thỏa thuận về hiện trạng hạ tầng, nhà trạm, trang thiết bị, công nghệ, dịch vụ. + Thỏa thuận về quy mô, nội dung, hình thức đầu tư. + Thỏa thuận về giải pháp xây dựng. + Thỏa thuận về giải pháp quản lý bố trí lao động. + Thỏa thuận về giải pháp sử dụng hạ tầng cơ sở, nhà trạm, vị trí tuyến, vị trí lắp đặt thiết bị, giải pháp xây dựng, sử dụng các trang thiết bị phụ trợ (nguồn điện, điều hòa, chiếu sáng, chống sét), sử dụng các trang thiết bị thông tin hiện có như máy tính, chuyển mạch truyền dẫn, cột anten... Biên bản khảo sát sẽ được đính kèm với dự án đầu tư khi tiến hành trình duyệt dự án để tiện cho công tác thẩm định dự án của các cấp có thẩm quyền. Công tác khảo sát dự án đầu tư là một bước quan trọng đối với các dự đầu tư mạng viễn thông. Tính chất kỹ thuật - công nghệ của dự án đòi hỏi số liệu thu thập cần phải chính xác, đúng mục tiêu, trọng tâm. Tuy vậy, công tác khảo sát một vài dự án do Công ty thực hiện còn tiến hành một cách sơ sài, chung chung, thiếu tính khách quan, thực tế. Đặc biệt là các dự án của các Bưu điện tỉnh do Tổng công ty ủy quyền thực hiện thì số liệu về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh doanh của Bưu điện tỉnh, khu vực triển khai dự án là hầu như không có. 4.2.2 Lập dự án đầu tư mạng viễn thông. Nội dung chủ yếu của một dự án viễn thông:  Những căn cứ xác định sự cần thiết đầu tư - Trước khi thuyết minh sự cần thiết đầu tư, cũng như các dự án khác trong dự án đầu tư mạng viễn thông cũng nêu rõ các văn bản làm căn cứ trong quá trình thực hiện dự án bao gồm các văn bản định hướng và quy hoạch phát triển mạng viễn thông của địa phương; các văn bản về việc triển khai cụ thể các kế hoạch kinh tế của địa phương và các văn bản liên quan đến các dự án cụ thể. Ví dụ như trong dự án đầu tư " Mở rộng hệ thống tổng đài EWSD thêm 13.824 số Bưu điện tỉnh Cà Mau, bổ sung giai đoạn 2003 - 2005 lần 2", các văn bản liên quan bao gồm: +) Văn bản số 4084/2003/QĐ - VT ngày 10/11/2003 của Tổng giám đốc về việc phê duyệt cấu trúc tổng thể mạng viễn thông Bưu điện tỉnh Cà Mau giai đoạn (2003 -2005) +) Công văn số 5421/ĐTPT ngày 8/9/2004 của Tổng công ty Bưu chính - Viễn thông về việc thông báo chỉ tiêu bổ sung dung lượng chuyển mạch giai đoạn (2003 -2005) lần 2. +) Biên bản khảo sát giữa công ty tư vấn xây dựng và phát triển Bưu điện (nay là Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và phát triển Bưu điện) với Bưu điện tỉnh Cà Mau ngày 26/8/2004 +) Hợp đồng kinh tế số 739.2004/HĐKT ngày 10/9/2004 giữa Bưu điện tỉnh Cà Mau với công ty tư vấn xây dựng và phát triển Bưu điện (nay là Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và phát triển Bưu điện) +) Các hệ thống quản lý chất lượng của Công ty theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 - Khi thuyết minh sự cần thiết phải đầu tư của một dự án đầu tư mạng viễn thông, Công ty sẽ căn cứ vào báo cáo khảo sát lập dự án đầu tư để nêu rõ các số liệu thống kê liên quan đế tình hình kinh tế - xã hội của toàn tỉnh và của khu vực cần đầu tư (hiện tại và dự báo cho tương lai) như các dự án đầu tư khác và các số liệu đặc trưng của mạng viễn thông gồm: Tình hình kinh doanh của Bưu điện tỉnh , thành phố nói chung và khu vực cần đầu tư nói riêng; Hiện trạng mạng lưới viễn thông tại từng khu vực cần đầu tư. Trong đó: +) Tình hình kinh tế - xã hội của toàn tỉnh và của khu vực cần đầu tư trình bày các đặc điểm địa lý, khí tượng thủy văn; các số liệu thống kê về dân số, diện tích, định hướng phát triển kinh tế...So với các dự án khác thì việc thu thập và trình bày các số liệu về tình hình khí tượng thủy văn, đặc điểm địa hình, tính chất đất trong các dự án mạng viễn thông là chi tiết hơn và không thể thiếu. Bởi vì các số liệu này rất quan trọng, nó sẽ quyết định phương án xây dựng đường trục, phương án công nghệ cũng như xây dựng hệ thống chống sét...của dự án. +) Tình hình kinh doanh của Bưu địên tỉnh, thành phố nói chung và của khu vực đầu tư nói riêng nêu rõ tình hình phát triển các dịch vụ, tình hình doanh thu qua các năm theo kế hoạch được giao và thực tế thực hiện. +) Hiện trạng mạng lưới viễn thông tại từng khu vực cần đầu tư trình bày cấu trúc mạng lưới (chuyển mạch, truyền dẫn, ngoại vi...) sau đó dự báo nhu cầu mạng viễn thông trong quá trình khai thác vận hành dự án. - Thông thường trong các dự án đầu tư, phần thuyết minh sự cần thiết đầu tư cần phải nói rõ tính cạnh tranh của sản phẩm của dự án. Tuy vậy, đây là các dự án mạng viễn thông mà chủ đầu tư là Tổng công ty Bưu chính viễn thông với thị phần chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trên thị trường nên tính cạnh tranh không được đề cập đến trong dự án. Ví dụ: Thuyết minh sự cần thiết phải đầu tư dự án "Mở rộng hệ thống tổng đài EWSD thêm 13.824 số Bưu điện tỉnh Cà Mau (bổ sung giai đoạn 2003-2005 lần 2) (nguồn số liệu Công ty cổ phần đầu tư và xây dựng Bưu Điện) (1) Tổng quát tình hình kinh tế - xã hội của toàn tỉnh Cà Mau - Tỉnh Cà Mau nằm ở cực Nam của tổ quốc, thuộc bán đảo Cà Mau với diện tích là 5.211 km2; số dân là 1,125 triệu người. - Hai mặt giáp biển nằm kẹp giữa bờ biển Đông và vịnh Thái Lan, có 300km bờ biển, hàng năm được phù sa của các con sông và kênh rạch (nội tỉnh) bồi đắp lần ra biển hàng trăm m. Tỉnh Cà Mau nằm trong vùng cận nhiệt đới xích đạo, nên thời tiết khí hậu ôn hòa ( cả năm chỉ có hai mùa chính là mùa mưa và mua nắng). Đồng thời mạng sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, mênh mông với 400.000 ha. - Bên cạnh hệ thống sông , kênh rạch và ven dải bờ biển là những ao hồ, đầm lầy và những bãi bồi rộng lớn, rất thuận lợi cho quá trình phát triển rừng ngập mặn và cũng tạo điều kiện sinh sông của những loại thủy sản và các loại sinh vật vùng miền có giá trị kinh tế cao (gồm 125.000 ha rừng ngập mặn, chủ yếu là rừng Đước và 50.000 ha rừng Tràm) đều là thuộc loại rừng quý hiếm phải được bảo vệ trong đó gồm có 15 họ thực vật, 16 giống và 30 loại cây quý hiếm. - Đặc điểm tổ chức hành chính: +) Tỉnh lỵ: Thành phố Cà Mau +) 6 huyện: Đầm Dơi; Cái Nước; Ngọc Hiển; Trần Văn Thời; Thới Bình; U Minh. +) 8 thị trấn: Thới Bình; Trần Văn Thời; Đầm Dơi; U Minh; Sông Đốc A; Năm Căn (Ngọc Hiển) và Cái Đôi Vàm +) 8 phường và 57 xã, ngoài ra còn có hai hòn đảo là Hòn Khoai và Hòn Chuối. - Đặc điểm giao thông: +) Cà Mau là tỉnh cuối cùng trên tuyến quốc lộ 1A, là giao điểm giữa tuyến quốc lộ 1A và tuyến quốc lộ 63 đi Rạch Giá của tỉnh Kiên Giang. +) Cà Mau có mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài lên tới 7.000km bao gồm 7 hệ thống sông chính: Ông Đốc, Bảy Háp, Cái Lớn, Gáng Hào, Đầm Dơi, Trèm Trẹm, Bạch Ngưu. Ngoài phần đất liền, Cà Mau còn có vùng biển rộng lớn nằm ở phía Đông và phía Tây. - Đặc điểm về kinh tế: +) Do được tự nhiên ưu đãi với những đặc điểm như trên, điều này tác động đến nền kinh tế của tỉnh Cà Mau về nông - lâm - ngư nghiệp và thương mại, công nghiệp , chế biến hải sản cũng đang được dần phát triển mạnh, đã thu được một số kết quả như sau: ỉ Tổng số lượng lương thực đạt: 600 nghìn tấn ỉ Kim ngạch Xuất khẩu đạt: 155 triệu USD ỉ Nộp cho ngân sách Nhà nước: 230,4 tỷ đồng ỉ Chỉ số GDP (tính bình quân cho đầu người): 450 USD/ năm +) Nền kinh tế của toàn tỉnh đã được định hướng từng bước thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, phát triển toàn diện Nông - Lâm -Ngư - Công nghiệp - Dịch vụ chế biến xuất khẩu, tạo điều kiện cho nền kinh tế tăng trưởng nhanh. (2) Tổng quát tình hình kinh tế - xã hội của khu vực cần đầu tư. TT Tên khu vực Dân số (người) Cấp HC Đặc điểm kinh tế 1 TP. Cà Mau 176.848 Thành phố Công nghiệp - Thương mại 2 Phường 8 13.149 Phường Kinh tế - Chính trị - Xã hội 3 Phường 9 8.696 Phường Nông nghiệp 4 Thới Bình 9.808 Thị trấn Thương mại 5 Tr.Văn Thời 9.210 Thị trấn Thương mại 6 Cái Nước 12.506 Thị trấn Thương mại 7 Đầm Dơi 7.362 Thị trấn Thương mại 8 U Minh 5.015 Thị trấn Thương mại 9 Sông Đốc A 26.420 Thị trấn Nông-Ngư nghiệp, Thương mại 10 Sông Đốc B Nông - Ngư nghiệp, Thương mại 11 Năm Căn 17.477 Thị trấn Thương mại 12 Cái Đôi Vàm 14.648 Thị trấn Công nghiệp 13 Tân Thành 12.235 Khu vực Nông nghiệp 14 Tắc Vân 9.698 Khu vực Kinh tế - Chính trị - Xã hội 15 Trần Thới 19.341 Khu vực Nông-Ngư nghiệp, Thương mại 16 TT KT- VT 9.852 Khu vực Thương mại 17 Vàm Ô Rô 5.425 Khu vực Nông-Ngư nghiệp, Thương mại 18 An Xuyên 6.256 Khu vực (3) Tình hình kinh doanh của Bưu điện tỉnh Cà Mau và của từng khu vực TT Địa danh Năm1998 Năm 1999 Năm 2000 Năm 2001 KH TH KH TH KH TH KH TH 1 TP. Cà Mau 18.786 19.775 20.664 21.752 24.443 25.729 25.665 27.273 2 KV. Tắc Vân 1.467 1.545 1.614 1.699 1.952 2.054 2.049 2.178 3 H. Cái Nước 738 777 812 855 903 950 948 1.007 4 TT. Cái Đôi Vàm 636 670 700 737 893 940 937 996 5 KV. Gò Công 100 105 110 116 132 138 138 147 6 KV. Hưng Mỹ 106 112 117 123 174 183 182 194 7 KV. Phú Mỹ 30 31 33 34 53 55 55 59 8 KV. Rạch Chèo 198 208 218 229 454 478 477 506 9 KV. Trần Thới 238 250 261 275 354 373 372 395 10 KV. Tân Hưng Tây 307 323 338 356 382 402 401 427 11 KV. Phú Tân 68 72 75 79 96 102 101 108 12 KV. Nguyễn Huân 227 239 249 249 345 363 362 385 (4) Hiện trạng mạng lưới viễn thông tại khu vực cần đầu tư (tính đến hết kế hoạch 2003 - 2005) TT Địa danh Cấp HC Chuyển mạch Truyền dẫn Dung lượng (E1) Thiết bị DL lắp đặt (lines) DL sử dụng (line) Hướng đấu nối Thiết bị A - Hệ thống TDX-1B 1 Cà Mau TP Host TDX-1B 9.216 9.216 Giá Rai Siemens140 32 2 Tắc Vân KV RSS 1024 924 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 3 Cái Nước Huyện RSS 768 842 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 4 Đầm Dơi Huyện RSS 1.024 958 Cà Mau DXR 100 4 5 Thới Bình Huyện RSS 768 672 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 6 Tr. Văn Thời Huyện RSS 768 300 Cà Mau CTR 210 4 7 Sông Đốc A KV RSS 10224 429 Cà Mau DM 1000 8 8 U Minh Huyện RSS 512 419 Cà Mau DXR 100 4 9 Ngọc Hiển Huyện RSS 1024 924 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 B - Hệ thống EWSD 1 TP. Cà Mau TP Host EWSD 7168 4681 Giá Rai OFC - Fujitsu 124 2 Phường 8 KV DLU 6912 5970 Cà Mau OFC - Fujitsu 16 3 Phường 9 KV DLU 7680 6610 Cà Mau OFC - Fujitsu 16 4 Tân Thành KV DLU 2560 1950 Cà Mau OFC - Fujitsu 16 5 Tắc Vân KV DLU 1536 1460 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 6 Sông Đốc A KV DLU 1536 1700 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 7 Đầm Dơi Huyện DLU 1536 1460 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 8 Tr. Văn Thời KV DLU 1280 1220 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 9 Thới Bình Huyện DLU 1280 1220 Cà Mau CTR 210 4 10 U Minh Huyện DLU 1280 1220 Cà Mau OFC - Fujitsu 21 11 Sông Đốc B KV DLU 1792 1244 Cà Mau AWA 1808 4 C - Hệ thống EWSD (thuộc Host 3 Ngọc Hiển) 1 Host Ngọc Hiển Huyện HOST 4352 4150 Cà Mau OFC - Fujitsu 96 2 Tân Ân KV DLU 768 592 NgọcHiển AWA 1504 4 3 Đất Mũi KV DLU 768 668 NgọcHiển AWA 1504 4 4 Viên An Đông KV DLU 256 178 NgọcHiển AWA 1504 2 5 Viên An Tây KV DLU 768 578 NgọcHiển AWA 1504 2 6 Hàng Vịnh KV DLU 1024 770 NgọcHiển OFC - Fujitsu 16 7 Tam Giang KV DLU 256 208 NgọcHiển AWA 1504 2 8 Chợ Thủ KV DLU 256 225 NgọcHiển AWA 1504 2 9 Gò Công KV DLU 384 340 NgọcHiển AWA 1504 4 10 Rạch Chèo KV DLU 768 690 NgọcHiển AWA 1504 2 (5) Dự báo nhu cầu viễn thông và số máy phát triển TT Tên trạm Thiết bị DLLD (2003-2005lần 1) DLSD (12/2005) DLSD (6/2006) Hiệu suất SD (%) DL cần mở rộng TDL sau bổ trợ Mở rộng 1 Host2 Cà Mau EWSDD 12.748 13.280 15.620 90,0 4.608 17.356 2 Tân Đức RDLU 512 780 920 90,0 512 1.024 3 Thới Bình RDLU 1.280 1.370 1.610 90,0 512 1.792 4 Sông Đông A RDLU 1.536 1.560 1.840 512 2.048 Lắp mới 1 TT Kinh tế Vạn Tường RDLU 1.170 1.380 90,0 1.536 1.536 2 Vàm Ô Rô RDLU 390 460 90,0 512 512 3 An Xuyên RDLU 390 460 90,0 512 512 4 Tạ An Khương Đông RDLU 390 460 90,0 512 512 5 Cái Giềng RDLU 390 460 90,0 512 512 6 Cái Rắn RDLU 390 460 90,0 512 512 7 Nghĩa Hải RDLU 390 460 90,0 512 512 8 Hiệp Tùng RDLU 390 460 90,0 512 512 9 Hàm Rồng RDLU 390 460 90,0 512 512 10 Tân Trung RDLU 390 460 90,0 512 512 11 Zê Rô RDLU 390 460 90,0 512 512 12 So Đũa RDLU 390 460 90,0 512 512 13 Khánh Hải RDLU 390 460 90,0 512 512 Tổng 16.076 22.840 26.890 13.824 29.900 ố Kết luận sự cần thiết phải đầu tư. Ta thấy rằng Cà Mau là khu vực có sự phát triển kinh tế mạnh trong mọi lĩnh vực đặc biệt là viễn thông. Tuy vậy, qua số liệu khảo sát ta thấy rằng nhiều trạm lưu lượng sử dụng đã hết có trạm không còn. Chính vì vậy để duy trì sự hoạt động của hệ thống mạng và thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của mạng viễn thông Cà Mau thi việc đầu tư dự án này là thực sự cần thiết và mang lại hiệu quả. Trên đây là một trong những dự án đầu tư được Công ty thu thập số liệu đầy đủ, chi tiết vì vậy phần thuyết minh sự cần thiết phải đầu tư khá thuyết phục. Tuy vậy, có những thời điểm do có quá nhiều dự án đầu tư phải tiến hành trong cùng một lúc dẫn đến có dự án nêu sự cần thiết phải đầu tư còn đơn giản và sơ sài. Đặc biệt là các dự án đầu tư do chính Bưu điện tỉnh thực hiện thì phần vị trí địa lý, dân số, đặc điểm kinh tế, doanh thu của Bưu điện tỉnh thường không được nêu rõ (do không tiến hành khảo sát). Chính vì vậy, thường các dự án này sẽ rất khó khăn cho người đọc nếu chưa nắm rõ vùng thực hiện dự án. k Mục tiêu, năng lực mạng cần đầu tư, nội dung hình thức đầu tư và phương án kỹ thuật - Trước khi xác định chi tiết nội dung này, Công ty sẽ xác định rõ các văn bản làm cơ sở, các văn bản này thực chất đã được nêu ở nội dung sự cần thiết phải đầu tư. - Mục tiêu của dự án đầu tư: Đối với các dự án mạng viễn thông thì mục tiêu trong dự án được trình bày rất cụ thể là nhằm mục đích phát triển bao nhiêu thuê bao? cung cấp các loại hình dịch vụ nào? đổi mới công nghệ, nâng cấp thiết bị mạng; tăng dung lượng hay cải tạo đường truyền...làm cơ sở để xác định năng lực mạng cho dự án đầu tư. - Đối với năng lực mạng cần đầu tư: căn cứ vào mục tiêu của dự án đã nêu ở trên, cán bộ lập dự án sẽ dự kiến lập dự án để thỏa mãn nhu cầu lượng khách hàng là bao nhiêu? cung cấp đến thời điểm nào? dung lượng mạng đáp ứng nhu cầu viễn thông nội vùng hay liên vùng? trong khung thời gian bao nhiêu năm?...Đối với dự án đầu tư nói chung, đây chính là kết quả cụ thể, có thể định lượng, được tạo ra từ các hoạt động khác nhau của dự án. - Nội dung hình thức đầu tư: +) Cũng như các dự án đầu tư khác, dự án mạng viễn thông cũng thực hiện hình thức đầu tư mới, đầu tư cải tạo, đầu tư mở rộng. Cụ thể gồm: mở rộng mạng; nâng cấp mạng hay lắp đặt mới tổng đài vệ tinh (hoặc tổng đài độc lập). +) Tùy thuộc vào từng dự án cụ thể, về nghuyên tắc phải nói rõ về cơ sở hạ tầng (nhà trạm, điện, nước) và phụ trợ (nguồn một chiều, máy nổ dự phòng, giá CDF, MDF, máy điều hòa nhịêt độ, chống cháy, chống sét...) như thế nào, đã có hay cần phải đầu tư mới, thay thế, nâng cấp. Đối với đất đai, nhà trạm và trụ anten cao từ 50 m trở lên, cần trình bày rõ các thủ tục pháp lý đã và đang tiến hành, điều này sẽ rất cần thiết trong việc đánh giá tính khả thi của dự án. Nhưng do có những dự án quy mô nhỏ, thủ thục pháp lý rườm rà, phức tạp nên đơn vị lập dự án trong Công ty chỉ tiến hành thực hiện mà không trình bày trong dự án, chính vì vậy đôi lúc gây khó khăn cho việc thẩm định dự án của các cấp có thẩm quyền. - Phương án kỹ thuật: +) Do hệ thống thiết bị, công nghệ của các dự án mạng viễn thông đều phải nhập khẩu và phải đảm bảo tính đồng bộ nên trong phương án kỹ thuật việc xem xét phương án công nghệ cho dự án là quan trọng nhất. Để lựa chọn được giải pháp thích hợp, Công ty đã căn cứ vào nhu cầu phát triển máy, dịch vụ, nguồn vốn đầu tư... của dự án để lựa chọn thiết bị công nghệ có tính mở, linh hoạt trong khai thác, bảo dưỡng, thích hợp với công nghệ hiện tại và có khả năng thích ứng với công nghệ hiện đại trong tương lai. +) Trên thực tế, Công ty sẽ đưa ra một số phương án thỏa mãn mục tiêu đặt ra và kiến nghị phương án chủ đầu tư nên thực hiện. Việc lựa chọn phương án nào sẽ tùy thuộc vào các kết quả tính toán hiệu quả đầu tư dự án theo các định hướng kinh tế, kỹ thuật của Tổng công ty. Ví dụ: Dự án đầu tư "Nâng cấp hệ thống truyền dẫn quang trục Bắc-Nam lên 20Gbit/s" (1) Các văn bản liên quan gồm +) Tờ trình số: 4769 TD/VT của Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam ngày 11/11/1997 về việc: Nâng cấp dung lượng tuyến OFC Hà Nội - TP. Hồ Chí Minh lên 20Gbit/s. +) Quyết định số 510 QĐ/VT ngày 13/2/2001 của Tổng giám đốc Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam về việc: Phê duyệt cấu trúc điều chỉnh mạng truyền dẫn trục Bắc - Nam giai đoạn 2001 - 2005. (2) Mục tiêu và năng lực đầu tư: Mục tiêu đầu tư của dự án là nhằm nâng cao dung lượng và chất lượng tuyến đường trục Bắc - Nam qua đó thỏa mãn các nhu cầu thông tin và dịch vụ mới của toàn xã hội ít nhất là đến năm 2010. (3) Hình thức đầu tư: - Trên cơ sở hệ thống hiện có, từng bước nâng cấp để tăng khả năng phục vụ của hệ thống cả về lưu lượng và chất lượng, đáp ứng nhu cầu dịch vụ viễn thông của toàn xã hội đến năm 2010. - Xây dựng mới kết hợp cải tạo nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của Ngành - Với mục tiêu nâng dung lượng truyền dẫn của trục Bắc - Nam, hoàn toàn có thể dựa trên các tuyến cáp đã và đang đầu tư là: Cáp quang đơn mode 8 sợi của Pirelli; Cáp phi kim loại 20 sợi của Siemens và Cáp 10 sợi của hãng Nisshoiwai (Nhật). - Ngoài ra thay thế trạm lặp R15 trên đường 500 Kv bằng trạm WADM đặt tại Kontum để tăng năng lực thông tin, do vậy phải chôn thêm 1 đường cáp quang 8 sợi non-metalic mới dọc theo quốc lộ 14 từ trạm R15 đến Kontum dài 15 km, từ tramk WADM Kontum tới trạm Pleiku thì sử dụng đường cáp hiện có. - Lựa chọn mua sắm, lắp đặt hệ thống thiết bị, nâng khả năng phục vụ của hệt thống theo từng giai đoạn phù hợp với quy hoạch phát triển và nhu cầu thực tế, sử dụng công nghệ ghép bước sóng với dung lượng ban đầu là 10Gbit/s và 20Gbit/s ở giai đoạn sau. (4) Các phương án kỹ thuật: Trong dự án này, Công ty đã giới thiệu cho Tổng công ty 2 loại công nghệ phổ biến trên thế giới hiện này là: Công nghệ ghép kênh theo thời gian (TDM); Công nghệ ghép kênh theo bước sóng (WDM) và đưa ra 3 phương án lựa chọn kỹ thuật cho dự án. +) Phương án 1: Sử dụng kỹ thuật TDM để nâng dung lượng từ 2,5Gbit/s lên 10Gbit/s, sau đó dùng kỹ thuật WDM ghép 2 bước sóng tín hiệu STM-64 * Ưu điểm: - Do dung lượng của mỗi kênh là STM-64 nên số lượng thiết bị quản lý ít - Việc quản lý các phần tử mạng không phức tạp * Nhược điểm: - Tốc độ 10Gbit/s làm giảm khoảng cách trạm lặp điện do bị ảnh hưởng nhiễu của tán sắc, các hiện tượng phi tuyến, PDM - Do dung lượng trên mỗi kênh là STM-64, nên khi lưu lượng thật sự trên mỗi kênh chưa cao thì hiệu quả kinh tế của phương án này là kém. +) Phương án 2: Sử dụng kỹ thuật WDM ghép bước sóng để ghép tín hiệu STM-16 nâng dung lượng từ 2,5Gbit/s lên 20Gbit/s, sử dụng thiết bị từ 8 đến 16 bước sóng, trước mắt sử dụng 8 bước sóng. * Ưu điểm: - Do dung lượng của mỗi kênh là nhỏ nên có thể từng bước tăng dung lượng của cả hệ thống tùy theo nhu cầu số kênh bước sóng được sử dụng. - Tốc độ 2,5Gbit/s nên khoáng cách các trạm lặp điện có thể đạt tới 16 km theo khuyến nghị G.692 do ít bị ảnh hưởng của tán sắc. * Nhược điểm: - Số lượng các thiết bị SDH trực tiếp liên quan đến tuyến WDM khá nhiều nên việc quản lý chúng trở nên phức tạp. - Việc quản lý dung lượng khá phức tạp. +) Phương án 3: Sử dụng kỹ thuật WDM ghép 4 bước sóng của tín hiệu STM-16 để đạt được dung lượng 10Gbit/s, sau đó dùng thêm một bước sóng nữa để ghép 1 tín hiệu STm-64 để đạt được dung lượng 20Gbit/s (tổng cộng 5 bước sóng) * Ưu điểm: Dung lượng các bộ DXC giảm nhỏ, do đó hạ giá thành và giảm sự phức tạp trong quản lý * Nhược điểm: Bị hạn chế về tính linh hoạt phân phối luồng Qua việc phân tích 3 phương án nêu trên, ta thấy rằng không nên sử dụng phương án 1. Còn phương án 3 thì xét về mặt giá thành 1 hệ thống thiết bị STM-64 tuy cao hơn STM-16 nhưng lại thấp hơn giá thành của 4 hệ thống STM-16 có dung lượng tương đương. Tuy vậy tốc độ STM-64 vẫn giữ nguyên những nhược điểm cố hữu của nó là bị ảnh hưởng của tán sắc, PDM. Hơn nữa nhu cầu về lưu lượng của Việt Nam khó có khả năng tăng đột biến ở mức cao nên sử dụng STm-64 là không kinh tế. Chính vì vậy nên dùng phương án 2: Dùng kỹ thuật WDM từ 8 đến 16 bước sóng, trước mắt sử dụng 8 bước sóng để ghép tín hiệu STM-16 là phù hợp với giai đoạn trước mắt và lâu dài. l Phương án, giải pháp xây dựng Phương án và giải pháp xây của các dự án mạng viễn thông được xây dựng trên cơ sở các quy chuẩn, quy định của Nhà nước và của Ngành, đáp ứng yêu cầu về quy hoạch đô thị, quy hoạch giao thông, hạ tầng cơ sở của vùng dự án, mục tiêu của dự án, nhu cầu phát triển máy, dịch vụ và công nghệ, nguồn vốn đầu tư. Phương án và giải pháp xây dựng của các dự án đầu tư nói chung bao gồm việc giới thiệu tình hình địa điểm xây dựng; các giải pháp quy hoạch tổng mặt bằng của công trình xây dựng của dự án; các giải pháp về kiến trúc; các giải pháp về kết cấu xây dựng; các giải pháp về công nghệ xây dựng và tổ chức xây dựng. Đối với các dự án mạng viễn thông, ngoài các giải pháp xây dựng các công trình xây dựng (hệ thống nhà trạm) còn có các phương án lắp đặt, sử dụng các thiết bị vật tư cho hệ thống chống sét, chống cháy, cấp nguồn ...và các giải pháp kỹ thuật thi công đảm bảo thông tin liên tục. Cũng như các dự án khác, sau khi xây dựng phương án và giải pháp xây dựng, cán bộ lập dự án sẽ thống kê nhu cầu thiết bị và vật tư chủ yếu cần mua mới, mở rộng, điều chuyển cho từng địa điểm và cho toàn dự án. Trên thực tế, phương án và các giải pháp xây dựng của các dự án mạng viễn thông được Công ty trình bày rất cụ thể, rõ ràng, dễ hiểu, dễ đọc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc tính toán chi phí xây dựng cũng như quá trình triển khai thực hiện dự án. Chúng ta xem xét phương án và giải pháp xây dựng cụ thể của dự án đầu tư " Mở rộng hệ thống tổng đài EWSD thêm 13.824 số Bưu điện tỉnh Cà Mau bổ sung giai đoạn (2003-2005) lần 2" do Công ty thực hiện. (1) Nguồn điện a) Nguồn điện lưới: Sử dụng nguồn điện lưới hiện có tại các trạm b) Nguồn điện AC - Để có nguồn dự phòng mỗi khi mất điện lưới, cần trang bị máy phát điện dự phòng cho các trạm tổng đài lắp mới với công suất đủ cho phát triển sau này - Sử dụng nguồn điện sẵn có cho các trạm mở rộng. (2) Hệ thống tiếp đất - Các trạm mở rộng dung lượng sử dụng hệ thống tiếp đất hiện có tại các trạm. Đảm bảo tiêu chuẩn điện trở tiếp đất công tác trạm vệ tinh: Rct Ê 2W - Làm mới hệ thống tiếp đất cho các trạm lắp mới, tổ cọc tiếp đất gồm 18 cọc tiếp đất bằng ống đồng F34 dày 5mm dài 2,5m. Dùng dây đồng nhiều sợi có thiết diện S = 70mm2 để nối cọc đất với nhau. Dùng dây đồng có nhiều sợi vỏ bọc thiết diện S = 120m2 để làm hệ thống tiếp đất và phòng máy. Các cọc và dây dẫn liên kết với nhau bằng mối hàn đồng thau, dây dẫn chôn sâu 0,7m so với mặt nền. Điện trở tiếp đất đáp ứng yêu cầu sau: điện trở công tác - Rct Ê 2W; điện trở bảo vệ - Rbv Ê 10W. Đầu nối giữa các tổ cọc đất bằng thiết bị cân bằng đẳng thế TEC. Khi thi công xong phải đo trị số điện trở tiếp đất để đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật cho phép. (3) Hệ thống điều hòa - Lắp đặt tại các phòng đặt thiết bị tổng đài mới mỗi trạm 2 máy điều hòa 2 cục hoạt động luân phiên. Máy điều hòa cần đặt gần các thiết bị thông tin, máy tính. Đảm bảo điều hòa nhiệt độ phòng máy, đáp ứng được các chỉ tiêu về điều kiện môi trường của các thiết bị tổng đài, thiết bị quang và các thiết bị khác. - Các trạm mở rộng sử dụng điều hòa hiện có. (4) Hệ thống chống sét - Trang bị hệ thống chống sét cho các trạm vệ tinh lắp mới (hệ thống chống sét bao gồm: thiết bị cắt sét 3 pha; thiết bị cắt lọc sét 1 pha-32A) - Hệ thống chống sét (cho các tổng đài còn lại) sử dụng hệ thống chống sét có sẵn. (5) Hệ thống báo cháy - Trang bị mới cho các trạm vệ tinh lắp mới, mỗi trạm một hệ thống báo cháy. - Đặc tính kỹ thuật cơ bản của đầu chống khói: Trong điều kiện bình thường, lắp đặt độ cao Ê 3,5m. Diện tích của một đầu báo Ê 85m2. Nếu độ cao > 3,5 đến 6m thì diện tích bảo vệ của một đầu báo Ê 70m2, khoảng cách giữa các đầu báo Ê 9m2. Khoảng cách từ đầu báo tới tường Ê 4,52 (6) Yêu cầu mặt bằng nhà trạm: tuân thủ các tiêu chuẩn thiết kế đã quy định như sau: a) Kết cấu vỏ trạm: +) Nhà > 2 tầng chủ yếu sử dụng kết cấu khung, sàn bê tông cốt thép, xây tường bao bằng gạch dày 220mm. Trong đó tầng 1 có độ cao so với cốt 0.0 tối thiểu 3m +) Mái bê tông cốt thép: báng tạo dốc chống thấm, bên trên lợp tôn chống thấm dột, cách nhiệt. b) Vị trí: đặt ở tầng 2 cho cả thiết bị tổng đài, Accu, đầu dây. (7) Yêu cầu đảm bảo thông tin liên lạc: +) Trong quá trình thi công lắp đặt cần hạn chế tới mức thấp nhất sự mất liên lạc của thuê bao, đặc biệt là các giờ cao điểm. Khi tiến hành sửa chữa dòng điện hệ thống phải tiến hành vào giờ cao có lưu lượng thông tin thấp (24h) để tránh những khả năng xấu xảy ra do thiết bị hay quá trình thi công. +) Đối với các trạm lắp thiết bị mới, sau khi lắp đặt xong chạy thử, nếu an toàn thì đấu chuyển các kênh liên lạc với tổng đài HOST và thuê bao chuyển mạng vào thiết bị mới. +) Khi thi công những trạm có thiết bị mới đặt chung trong phòng thiết bị cũ thì trước khi khởi động phải bàn bạc tại chỗ với đơn vị quản lý. Việc đấu chuyển được thực hiện vào thời điểm thấp tải nhất trong ngày. Các đài trạm hiện có được tháo dỡ sau khi trang thiết bị thay thế đã vận hành ổn định. (8) Thống kê các thiết bị vật tư chủ yếu cần mua mới. Ú Hạng mục tổng đài & phụ trợ (+) Thiết bị mua ngoại tệ - Phần mở rộng: +) HOST - 4.608 số/ trạm +) DLU - 512 số/ trạm - Phần lắp mới: +) DLU - 1.536 số/ trạm +) DLU - 512 số/ trạm cho 12 trạm (+) Thiết bị mua bằng nội tệ - Máy điều hòa 2 cục 18.000 BTU (26 máy) - Máy phát điện 20 KVA - 3 pha (13 máy) - Máy ổn áp 20 KVA - 3 pha (13 máy) - Thiết bị cắt sét 3 pha (13 bộ) - Thiết bị cắt lọc sét 3 pha (13 bộ) Ú Hạng mục báo cháy: 13 bộ „ Phương án sử dụng lao động cho quản lý, khai thác. Căn cứ vào định mức khai thác của loại kỹ thuật hay quy mô của dự án để lập phương án sử dụng lao động cụ thể cho các dự án mạng viễn thông khác nhau. Thông thường, nếu là dự án nâng cấp hoặc nâng cao công suất mạng thì phương án đưa ra là sử dụng lao động hiện có. Đối với dự án xây dựng mới hoặc mở rộng phạm vi, quy mô, năng lực phục vụ, hay ứng dụng công nghệ mới thì phải xây dựng một phương án lao động mới (vẫn sử dụng cả lao động hiện tại). Cần phải cung cấp thêm bao nhiêu cán bộ quản lý; bao nhiêu kỹ sư; bao nhiêu công nhân kỹ thuật. Bên cạnh đó, nếu trình độ lao động chưa đáp ứng đủ yêu cầu thì phải có chương trình đào tạo kịp thời hoặc huy động từ các đơn vị khác. Mọi chi phí liên quan đến phương án sử dụng lao động được tính vào chi phí nhân công của dự án. Ví dụ: Trong dự án đầu tư " Mở rộng hệ thống tổng đài EWSD thêm 13.824 số Bưu điện tỉnh Cà Mau bổ sung giai đoạn 2003-2005 lần 2" phương án sử dụng lao động như sau: - Đối với những trạm lắp mới. Số nhân viên trực nhiệm vụ là 1 người/ ca. Một ngày có 3 ca nên cần 3 người. Dự án có tổng số trạm là 13, nên tổng số người cần là: 13 x 3 = 39 người/ ngày. - Đối với các trạm mở rộng sử dụng lao động hiện có. Hoặc trong dự án đầu tư "Mổ rộng RING truyền dẫn cáp quang nội tỉnh tuyến Nho Quan - Thanh Sơn Bưu điện tỉnh Ninh Bình năm 2005" thì phương án sử dụng lao động như sau: - Tại các trạm lắp đặt mới cần 2 người quản lý trực ca - Cần có 4 người giám sát các tuyến cáp - Những trạm lắp thêm card sử dụng số nhân viên hiện có. …Xác định chủ đầu tư và hình thức quản lý thực hiện dự án. Chủ đầu tư có thể là: Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam hoặc Bưu điện tỉnh (thành phố) do Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt nam ủy quyền hoặc các đối tác Hợp đồng kinh hợp tác kinh doanh. Hình thức quản lý thực hiện dự án có thể là: Chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án, Chủ nhiệm điều hành dự án, Chìa khóa trao tay và Tự thực hiện. Hình thức phổ biến nhất trong Ngành hiện nay là chủ đầu tư trực tiếp quản lý thực hiện dự án. Ví dụ: Trong dự án đầu tư "Mạng viễn thông khu Kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường tỉnh Quảng Ngãi đến 2010" chủ đầu tư là Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Dự án sẽ được phân thành các dự án thành phần theo các hạng mục._.o sát. Phương pháp khảo sát. Khối lượng và các loại công tác khảo sát. Tiêu chuẩn khảo sát áp dụng. Thời gian thực hiện khảo sát. +) Phương án kỹ thuật khảo sát phải đáp ứng các yêu cầu sau đây: Phù hợp với nhiệm vụ khảo sát xây dựng. Tuấn thủ các tiêu chuẩn về khảo sát xây dựng được áp dụng +) Nội dung khảo sát và báo cáo kết quả khảo sát phải đầy đủ Nội dung chủ yếu của nhiệm vụ khảo sát. Đặc điểm, qui mô, tính chất công trình. Vị trí và điều kiện tự nhiên của khu vực khảo sát. Tiêu chuẩn khảo sát áp dụng. Khối lượng khảo sát. Qui trình, phương pháp và thiết bị khảo sát. Phân tích số liệu, đánh giá kết quả khảo sát. Đề xuất giải pháp kỹ thuật phục vụ cho việc thiết kế (thiết kế cơ sở và thiết kế bản vẽ thi công), thi công xây dựng. - Để nâng cao chất lượng công tác khảo sát lập dự án đầu tư, ngoài việc tuân thủ những điều trên đây còn lưu ý một số điểm với một số loại dự án sau đây: +) Đối với các loại dự án truyền dẫn có xây dựng tuyến cáp quang, các dự án xây dựng các tuyến cống bể phải xác định chính xác cấp và loại đất đá. Sở dĩ như vậy là vì nó sẽ giúp cho việc lập thiết kế cơ sở làm căn cứ tính toán khối lượng thi công và kinh phí xây dựng. Nếu khâu này không chính xác sẽ làm thay đổi kinh phí trong dự án vì chỉ cần thây đổi cấp đất đá là kinh phí sẽ thay đổi do định mức, đơn giá khác nhau. +) Đối với các dự án có lắp đặt thiết bị cần đặc biệt lưu ý các chỉ tiêu về điện trở tiếp đất (tiếp đất bảo vệ và tiếp đất công tác). Nếu các trị số này không đảm bảo yêu cầu cần tính toán thiết kế sao cho trị số phải nằm trong tiếu chuẩn ngành cho phép. Bên cạnh đó phải khảo sát về nguồn điện lưới. Nếu không đáp ứng phải có giải pháp cấp nguồn trước mắt cũng như tương lai, đồng thời phải xem xét phương án dự phòng thông qua việc đầu tư máy phát điện, ắc qui. Các yếu tố này phải thể hiện trong báo cáo khảo sát, thiết kế sơ bộ làm căn cứ xác định tổng mức đầu tư. - Việc lựa chọn thiết bị công nghệ phải đảm bảo vòng đời thiết bị công nghệ dài, phù hợp với điều kiện khai thác tại Việt Nam. +) Đối với các dự án truyền dẫn bằng viba phải thu thập đầy đủ số liệu về tự nhiên như mưa, nắng, độ ẩm, độ trơn không khí … và phải có các phần mềm chuyên dụng mô phỏng tuyến trên các số liệu khảo sát đảm bảo mức thu, phát yêu cầu. +) Đối với các dự án xây dựng cột an ten viba cũng phải thu thập đầy đủ số liệu về tự nhiên như mưa, nắng, độ ẩm, bão … để xác định cấp công trình, thiết kế kết cấu. - Công ty cũng nên trang bị máy tính xách tay cho cán bộ khảo sát để có thể xem xét các số liệu liên quan đến dự án, trang bị máy trắc đạc, máy khoan, máy thăm dò địa chất...đảm bảo chất lượng hiện đại góp phần hỗ trợ công tác khảo sát được nhanh chóng, chính xác từ đó có thể giảm thiểu chi phí cho các dự án đầu tư. 1.3. Hoàn thiện khâu dự báo - Trên thực tế công tác khảo sát quyết định nhiều đến chất lượng khâu dự báo nhu cầu năng lực mạng, nhu cầu dịch vụ viễn thông cũng như dự báo rủi ro trong quá trình thực hiện dự án. Chính vì vậy hoàn thiện công tác khảo sát cũng là một biện pháp hữu hiệu để khắc phục những yếu điểm trong quá trình dự báo, từ đó xây dựng những bảng dự báo hợp lý, khoa học, chính xác cho từng dự án cụ thể. - Để nâng cao chất lượng khâu dự báo từ chính phương pháp dự báo, Công ty cần căn cứ vào mục tiêu của từng dự án cụ thể là phát triển thuê bao, đổi mới công nghệ, hay nâng cấp hệ thống mạng... để dự báo nhu cầu của các mục tiêu đó trong tương lai cho chính xác. Đây là một khâu rất quan trọng trong quá trình lập dự án bởi nó quyết định dự án sau khi triển khai có mang tính khả thi hay không. Dự án có độ chính xác càng cao thì tính khả thi của dự án cũng càng cao. - Trên thực tế đây là một công việc rất khó khăn không chỉ đối với Công ty nói riêng mà đối với cả hệ thống dự báo của quốc gia nói chung. Chính vì vậy cần rất nhiều thời gian, tài chính để đào tạo được những cán bộ có chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong việc dự báo để từ đó xây dựng một hệ thống dự báo chuẩn, chính xác, kịp thời cho từng đơn vị sản xuất và cho quốc gia. - Nhưng trước mắt đối với khâu dự báo các công trình viễn thông của Công ty thì các cán bộ lập dự án cần chú ý đến những vấn đề sau: +) Đối với các dự án mạng viễn thông nói chung, Công ty căn cứ những số liệu thu được từ khâu khảo sát để xác định đối tượng có nhu cầu dự báo (là dân cư hay các cơ quan), các vùng mục tiêu của dự báo (toàn quốc, một số tỉnh, toàn tỉnh hay vùng phục vụ của một điểm trạm...), giai đoạn dự báo (một năm, hai năm, năm năm hay mười năm...) và loại hình dịch vụ dự báo (điện thoại di động, điện thoại cố định, điện thoại thẻ, Internet, truyền số liệu, các dịch vụ ISDN, phát thanh, truyền hình hay dịch vụ bưu chính...). Sau đó tiến hành hoạt động dự báo theo nhu cầu mục tiêu của các dự án cụ thể. +) Đặc biệt đối với các dự án dịch vụ truyền số liệu, mạng truyền số liệu (đây là những dự án sẽ có nhu cầu rất lớn trong Ngành Bưu chính Viễn thông trong tương lai và chính vì vậy các dự án đầu tư về lĩnh vực dịch vụ này cũng chiếm tỷ trọng lớn trong các dự án do Công ty tư vấn trong thời gian tới) các thông tin cần nghiên cứu trong quá trình dự báo * Phải căn cứ vào các thông tin rất cơ bản, mang tính cơ sở như các loại khách hàng quan trọng, các loại địa điểm mà họ có nhu cầu, tổng số các điểm mà khách hàng có thể có nhu cầu và phân bố của các địa điểm này trên lãnh thổ toàn quốc. * Một thông tin quan trọng tiếp theo cần phải nghiên cứu thu thập là tổng số đường truy nhập cần thiết tại một địa điểm của khách hàng, lưu lượng mà các đường truy nhập cần thiết tại một địa điểm khách hàng, lưu lượng mà các đường truy nhập này sử dụng đêns (kể cả tốc độ của đường truy nhập và thời gian chiếm đường truy nhập), tổng dung lượng truy nhập trung bình trong các giờ cao điểm. +) Công ty có thể áp dụng các phương pháp dự báo được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới cho việc dự báo tình hình phát triển và nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông. Có hai loại chính là các mô hình theo biến thời gian và các mô hình dựa theo các tham số kinh tế, xã hội. (+) Các mô hình theo biến thời gian trình bày về sự chuyển động của nhu cầu theo biến số thời gian. Trong đó có kiểm tra các quy luật và xu thế phát triển của mỗi loại hình dịch vụ viễn thông theo thời gian trong quá khứ rồi sử dụng nó để suy đoán ra xu thế phát triển của loại hình dịch vụ đó trong tương lai. Theo mô hình này có thể áp dụng một vài phương pháp dự báo sau: (1) Các phương pháp tính trung bình: Mục tiêu của phương pháp này là sử dụng các số liệu trong quá khứ để phát triển ra một hệ thống dự báo nhu cầu tương lai. Có thể thực hiện việc tính trung bình một lần (đơn), hay hai lần (kép) (2) Các phương pháp dự báo theo hàm số mũ: Theo phương pháp này thì các giá trị số liệu quan sát được hiện tại sẽ có độ nặng hơn các giá trị quan sát được từ trước đó. Thông thường các giá trị này có xu thế biến đổi, giao động xung quanh một mức cố định tại chỗ. (3) Phương pháp dự báo theo đường cong tăng trưởng. Phương pháp này thuộc vào loại các mô hình dự báo đặc biệt, nó chứa 3 hoặc 4 tham số và sử dụng thời gian như một biến giải thích. Phương pháp này được sử dụng phổ biến bởi vì chỉ cần một lượng số liệu hạn chế (trong trường hợp dự báo nhu cầu đối với các dịch vụ mới) cũng có thể đưa ra được các kết quả dự báo khả thi. Có thể sử dụng phương pháp dự báo này cho cả dự báo ngắn hạn và dài hạn. Thông thường thì đường cong tăng trưởng này tăng nhanh theo hàm số mũ ở giai đoạn đầu, dần dần tốc độ của sự tăng trưởng giảm đi cũng theo hàm số mũ khi tiến đến gần giai đoạn bão hòa. Điểm yếu của phương pháp dự báo này là không chứa các biến giải thích (các tham số về kinh tế, xã hội) (+) Các mô hình dựa theo các tham số kinh tế, xã hội: Trong mô hình này chỉ rõ mối quan hệ nhân quả giữa nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông với các tham số kinh tế, xã hội. Thông thường người ta hay sử dụng các tham số kinh tế, xã hội như tổng sản phẩm quốc nội GDP, tổng sản phẩm quốc gia GNP, thu nhập tính theo đầu người, dân số và mức cước phí đối với các dịch vụ viễn thông... Ví dụ theo mô hình này, ta có bảng dự báo nhu cầu dịch vụ Internet trong các năm 2001-2010 của dự án đầu tư " Nâng cấp hệ thống truyền dẫn quang trục Bắc - Nam lên 20 Gbit/s" như sau: (Bảng 5) Bảng 5: Bảng dự báo nhu cầu dịch vụ Internet trong các năm 2001-2010 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 Tốc độ tăng trưởng GDP 7,5% 7,7% 8,0% 8,2% 8,4% 8,6% 8,8% 9,1% 9,3% 9,5% Tốc độ tăng dân số 1,7% 1,6% 1,6% 1,6% 1,4% 1,4% 1,4% 1,3% 1,3% 1,3% Phát triển bình quân GDP trên đầu người của Việt Nam 5,7% 6,0% 6,3% 6,5% 6,9% 7,1% 7,4% 7,6% 7,9% 8,1% Tương quan giữa tốc độ phát triển thuê bao Internet và tốc độ phát triển GDP 3 2,5 2,5 2,5 2,5 2,5 2,5 1,9 1,7 1,5 Tốc độ phát triển của khả năng có nhu cầu thuê bao Internet trên đầu người 17% 15% 16% 16% 17% 18% 18% 14% 13% 12% Khả năng có nhu cầu thuê bao Internet trên đầu người 0,051 0,059 0,068 0,079 0,093 0,109 0,129 0,148 0,168 0,188 Khả năng có nhu cầu thuê bao Internet 42.102 49.210 57.816 68.277 81.182 96.942 116.327 134.962 155.021 176.120 Khả năng thuê bao dịch vụ Internet (%) 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% 100,0% Số thuê bao Internet 42.102 49.210 57.816 68.277 81.182 96.942 116.327 134.962 155.021 176.120 (Nguồn số liệu Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện) - Bên cạnh việc sử dụng hai mô hình chính trên, Công ty có thể sử dụng một vài biện pháp sau: (+) Dự báo từ trên xuống (Top down) và từ dưới lên (Bottom up). Cụ thể của phương pháp này là khi thực hiện dự báo ở một khu vực đặc biệt nào đấy gọi là dự báo khu vực nội bộ còn khi thực hiện dự báo cho cả một nhóm các khu vực thì gọi là dự báo tổng hợp. Tuy nhiên, đôi khi phương thức dự báo này đưa ra các kết quả không ăn khớp * Top down: Sử dụng các thông tin về các dự báo nội bộ và các thông tin về dự báo tổng hợp. Các giá trị tổng hợp sẽ được phân tách ra thành các giá trị dự báo cho từng khu vực dựa trên cơ sở tỷ lệ với các giá trị dự báo khu vực nội bộ. * Bottom up: Thủ tục dự báo này không sử dụng các giá trị dự báo tổng hợp mà tiến hành thực hiện một cách riêng rẽ cho từng khu vực khác nhau, sau đó có thể cộng các giá trị dự báo này lại thành một kết quả tổng hợp. (+) Dự báo phân đoạn. Khi thiếu các phương pháp dự báo khác thì kỹ thuật dự báo phân đoạn lại là một thế mạnh. Có thể dự báo phân đoạn theo hai phương pháp sau: * Phương pháp so sánh. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc dự báo nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông. Tiến hành kiểm tra xu thế phát triển và nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông tương ứng khác hoặc thực hiện các phép so sánh giữa nhu cầu đối với các dịch vụ viễn thông của nước này với nước khác có cùng mức tổng sản phẩm kinh tế quốc dân hoặc có mức độ phát triển khác nhau. Phương pháp này cho các kết quả tương đối tốt nếu như các tham số bên ngoài không thay đổi theo thời gian. Nhưng trên thực tế thì nền kinh tế thế giới cũng phát triển không đồng đều và tỷ lệ tăng trưởng ở các năm cũng khác nhau. * Phương pháp lấy ý kiến của chuyên gia. Đây cũng là phương pháp được các thực thể viễn thông hay sử dụng. Theo phương pháp này, người thực hiện sẽ lấy và sử dụng nhiều ý kiến của các chuyên gia khác nhau để tìm ra xu thế phát triển và dự báo nhu cầu của mỗi loại hình dịch vụ. - Trên thực tế, công tác dự báo của Công ty gặp nhiều khó khăn do trong nước các số liệu về tình hình phát triển và nhu cầu dịch vụ viễn thông trong quá khứ là hạn chế. Phần lớn các số liệu cơ sở đã được thu thập đều ở dưới dạng không phù hợp cho việc dự báo và lập kế hoạch. Hơn nữa các số liệu thường không đầy đủ thậm chí, trong trường hợp các số liệu là đầy đủ thì vẫn phải kiểm tra lại để đảm bảo sự chính xác của số liệu. Chính vì vậy để bổ sung cho các nguồn số liệu thiếu thốn, Công ty có thể thực hiện việc nghiên cứu thị trường để các giá trị dự báo có cơ sở và độ tin cậy cao hơn thông qua việc trực tiếp hỏi các khách hàng ề Hỏi xem khách hàng nào có ý định sử dụng dịch vụ, họ có nhu cầu sử dụng loại dịch vụ nào, tại bao nhiêu địa điểm với bao nhiêu thuê bao, lưu lượng lớn hay nhỏ ề Hỏi khách hàng về quan điểm, động cơ của họ đối với việc sử dụng các dịch vụ viễn thông, qua đó mà có thể hiểu rõ các đặc tính của thị trường, các tham số ẩn trong đó, rồi từ đó có thể đưa ra các nhu cầu dịch vụ tốt hơn Việc nghiên cứu thị trường là rất có ích cho công tác dự báo nhu cầu đối với các dịch vụ đang tồn tại. Nhưng nó có vai trò đặc biệt quan trọng đối với các dịch vụ mới. Khi chưa có số liệu về nhu cầu trong quá khứ, cách duy nhất để xác định nhu cầu đối với một dịch vụ mới trong tương lai là đi hỏi một số đối tượng có thể cho là khách hàng có nhu cầu sử dụng hay không. - Dự báo nhu cầu, mục tiêu của dự án trong tương lai là chính, tuy vậy việc dự báo các rủi ro về kỹ thuật, khả năng huy động vốn, quan niệm văn hoá, thiên tai... trong thời gian chuẩn bị, thực hiện và vận hành dự án cũng rất cần thiết. Cần phải xây dựng mô hình xương cá (mô hình nguyên nhân, kết quả) cho từng dự án cụ thể để xem xét, đánh giá mức độ rủi ro. Nếu rủi ro vượt mức cho phép thì cần phải xác định rõ mức độ và có đề xuất các phương án cụ thể để phòng ngừa rủi ro. Ngoài ra có thể tính toán chỉ tiêu giá trị kỳ vọng làm cơ sở định lượng cụ thể cho vấn đề rủi ro trong dự án. Công thức xác định giá trị kỳ vọng: EV = P1 X1 + P2X2 + ...PnXn Trong đó: EV_ Là giá trị kỳ vọng P1, P2, ...Pn _ Là xác suất của biến cố thứ 1, 2, ...,n X1, X2, ...Xn _Giá trị của các biến cố thứ 1, 2, ...n Có thể xác định hệ số tin cậy, tỷ lệ chiết khấu điều chỉnh, hay độ nhạy của dự án...(nếu cần thiết) - Thu thập số liệu (khảo sát) và phân tích dữ liệu (dự báo) là cơ sở để xác định một cách chính xác về nhu cầu, mục tiêu, quy mô và hình thức xây dựng dự án. Một số biện pháp đưa ra trên đây có thể là chưa đầy đủ nhưng cũng có thể hỗ trợ một phần trong quá trình thực hiện dự báo của Công ty. Từ đó lựa chọn các phương án kỹ thuật công nghệ, các giải pháp xây dựng và phương án cần thiết đảm bảo tính khả thi, hiệu quả của dự án với chi phí đầu tư khai thác và bảo dưỡng phù hợp. 1.4. Giải pháp của Công ty nhằm tránh những sai sót trong quá trình lập dự án. - Quá trình lập dự án phải chú ý tới phần nói đến sự cần thiết phải đầu tư cả về thời gian lẫn công sức. Bởi đây là phần rất quan trọng của một dự án. Hoàn thiện khâu khảo sát và dự báo với những số liệu cung cấp mang tính chất thực tế, khoa học từ đó khẳng định sự cần thiết đầu tư thuyết phục hơn. - Cần làm rõ mục tiêu của dự án là đầu tư xây dựng mới, mở rộng hay nâng cấp dự án đầu tư. Để làm được điều này cần xác định cụ thể các số liệu sau: +) Nếu là mạng mở rộng dung lượng (Nút chuyển mạch hiện có và mạng cáp hiện có) cần phải thu thập số thuê bao hiện có hết tháng 12 năm trước và hết tháng 12 năm liền kề. Ví dụ, dự án trong giai đoạn 2006-2008 thì phải có số liệu thuê bao hết 12/2003, 12/2004 và dự báo số thuê bao 12/2005); Dự báo thuê bao phát triển mỗi năm thuộc kỳ dự án; Số thuê bao phát triển đến hết năm cuối kỳ dự án; Cáp gốc hiện có gồm thực tế hiện có trên mạng và số liệu đã có trong dự án đầu tư được phê duyệt nhưng chưa tiến hành thi công); Số cáp gốc cần đầu tư bổ sung +) Nếu là dự án đầu tư mạng xây dựng mới (nút chuyển mạch mới). Ngoài các số liệu cần phải có như mạng nâng cấp, Công ty cùng với Bưu điện tỉnh phải xác định các tuyến cáp quay đầu - Tính toán chi phí, tổng dự toán phải lấy đúng đơn giá tại địa phương. Đồng thời phân tích chi tiết công việc cụ thể cần làm để áp dụng đúng định mức chính xác hơn Ví dụ như khi tính toán chi phí vật liệu xây dựng cho các dự án đầu tư mạng viễn thông tại thành phố Điên Biên và huyện Điện Biên cần lấy đúng đơn giá sau (chỉ nêu ví dụ một vài loại vật liệu). STT Danh mục vật liệu Đơn vị tính Giá nơi SX Giá lưu thông 1 Đá hộc đ/m3 30.000 70.000 2 Cát đen đ/m3 15.000 40.000 3 Vôi cục đ/kg 430 500 4 Ve quét tường ngoại đ/kg 15.000 5 Xi măng Bỉm Sơn đ/kg 920 6 Gạch Tuynel 2 lỗ loại A1 đ/viên 390 7 Ve bột ngoại đ/kg 18.000 8 Xi măng Bút Sơn PC 30 đ/kg 940 9 Cát vàng đ/m3 18.000 45.000 10 Sơn nước ngoài trời K-261 đ/kg 19.800 ... ... Mặc dù Tổng công ty đã tiến hành tính toán các chỉ tiêu NPV (giá trị hiện tại ròng) và IRR (tỷ lệ thu hồi nội tại) nhưng trong dự án đầu tư ngoài việc đánh giá chỉ tiêu thời gian hoàn vốn nên tính toán thêm các chỉ tiêu NPV, IRR cũng như các giá trị kỳ vọng tương ứng để đưa ra quyết định đầu tư đối với dự án. -54.721,2 + 429,6 ++ -23.064,5 + -41.496,1 + 22.381,8 Xét bảng hoàn vốn trong dự án đầu tư "Mạng viễn thông khu kinh tế Dung Quất và thành phố Vạn Tường tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010", nếu tính chỉ tiêu NPV ta có (1+0.09)5 (1+0.09)4 (1+0.09)3 (1+0.09)2 (1+0.09)1 NPV = - 1.810,18 $ = 68.210,7 + 53.682,9 38.035,3 (1+0.09)1 (1+0.09)7 + (1+0.09)6 + Ta thấy NPV của dự án < 0 có nghĩa là dự án không khả thi về mặt tài chính (Trong khi nếu tính thời gian hoàn vốn của dự án theo cách đơn giản thì dự án mang tính khả thi). Tuy nhiên, trên thực tế, đây là dự án được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước, thực hiện chiến lược của quốc gia. Dự án mang tính xã hội cao trong việc cung cấp một điều kiện viễn thông tốt nhất cho các doanh nghiệp, các Ngành khác trong nền kinh tế. Bên cạnh đó dự án đã xây dựng nên cơ sở hạ tầng viễn thông tạo cơ sở hạ tầng cho sự tiếp cận công nghệ viễn thông hiện đại trên thế giới. Nên dự án vẫn mang tính khả thi. Nhưng xu hướng trong tương lai, viễn thông cũng như các ngành khác không còn có sự bảo trợ của Nhà nước, cạnh tranh trên thị trường ngày càng khốc liệt nên việc tính toán các chỉ tiêu tài chính là cần thiết và không thể thiếu. - Đối với các dự án chuyển mạch cần chú ý các biểu thống kê (số máy, dung lượng, doanh thu, chi phí...) hiện trạng và các bảng dự báo nhu cầu tương lai cần phải liệt kê tất cả các điểm chuyển mạch (kể cả các điểm có nhu cầu đầu tư và các diểm không có nhu cầu đầu tư) và cuối các biểu cần có dòng cộng tổng cho toàn tỉnh. +) Trong dự án chuyển mạch nhất thiết phải có phần tính ma trận chuyển mạch, từ đó xác định dung lượng trung kế giữa các HOST trong tỉnh, dung lượng trung kế đi ra ngoài (liên tỉnh, quốc tế, di động, đi các mạng của các nhà khai thác) và xác định nhu cầu mở rộng dung lượng trường chuyển mạch và năng lực xử lý cuộc gọi của hệ thống. +) Nếu là dự án có điểm chuyển mạch mới thì cần nói rõ thủ tục đất đai, vỏ trạm, điện lưới...đã tiến hành đến đâu để xác định tính khả thi của điểm đặt vỏ trạm. - Đối với dự án truyền dẫn cần nêu rõ mục tiêu cũng như nội dung tổng quát của tuyến, thống kê dung lượng các điểm chuyển mạch trên vòng hoặc tuyến truyền dẫn, từ đó tính lưu lượng cần truyền tải trên tuyến truyền dẫn để quyết định tốc độ truyền dẫn của tuyến hay vòng truyền dẫn. Trường hợp có thay thế truyền dẫn vi ba bằng truyền dẫn quang cần nói rõ các đầu vi ba chuyển đi đầu, tái sử dụng các thiết bị này như thế nào 1.5. Quá trình tư vấn phải đảm bảo đúng nguyên tắc, quy định của Nhà nước. - Phát triển và hội nhập đòi hỏi chúng ta phải thay đổi. Chính vì vậy chính sách của Nhà nước cũng phải liên tục thay đổi. Nhiệm vụ chính của Công ty là tuân thủ chặt chẽ các bước trong quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng, thực hiện đúng qui trình của hệ thống quản lý chất lượng. Phải luôn cập nhật các thông tin, các văn bản có liên quan đến hoạt động đầu tư, các dự án của Nhà nước, của Ngành cũng như những qui định về đơn giá áp dụng tính mức tổng vốn đầu tư, các khoản thuế trích nộp... nhằm đảm bảo cho hoạt động tư vấn của Công ty được thực hiện đúng qui định, tránh được sai xót từ đó nâng cao chất lượng tư vấn. - Lĩnh vực tư vấn lập dự án đầu tư là một trong những lĩnh vực mua sắm công, chính vì vậy để dự án được cấp vốn đầu tư, được phê duyệt của Nhà nước và của Ngành thì việc chấp hành đúng các quy định về lập dự án đầu tư, các quy trình xin phép đầu tư, triển khai đâu tư...là cần thiết và nhất thiết phải như vậy. - Tuân thủ các văn bản hướng dẫn lập dự toán hiện hành của Nhà nước, của Ngành, áp dụng đúng đơn giá tại địa phương tại thời điểm lập dự án 1.6. Tăng cường hợp tác, gắn kết với các đơn vị, các ban ngành trong hoạt động tư vấn. - Hoạt động lập dự án đầu tư mạng viễn thông là cơ sở để để hình thành các dịch vụ hỗ trợ sự phát triển của các ngành, doanh nghiệp, các tầng lớp xã hội vì vậy việc liên kết hợp tác sẽ tạo điều kiện cho Công ty trong quá trình thu thập số liệu, triển khai dự án cũng như quá trình khai thác vận hành kết quả đầu tư một cách thuận lợi - Thực hiện việc tăng cường cũng giúp Công ty có thể thực hiện được các chức năng hoạt động của mình, theo sát và nắm bắt được một cách nhanh chóng các chủ trương, định hướng phát triển của Tổng công ty. Tiếp tục thực hiện phương châm của Công ty là tham gia vào các bước thiết kế qui hoạch để chủ động trong quá trình chuẩn bị đầu tư cho dự án, từ đó có thể mở rộng được thị trường và cung cấp thêm các dịch vụ tư vấn mới. 2. Phạm vi thuộc Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam Nhằm nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư thuộc phạm vi của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam chúng tôi cho rằng hai vấn đề then chốt phải được giải quyết: Một là Qui hoạch phát triển ngành bưu chính viễn thông phải căn cứ vào định hướng phát triển kinh tế xã hội, qui hoạch kinh tế vùng để định hướng cho công tác đầu tư và xây dựng các kế hoạch đầu tư (kế hoạch ngắn hạn và kế hoạch dài hạn) nhằm nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá đầu tư phát triển ngành. Bên cạnh đó, do ngành bưu chính viễn thông mang tính đặc thù chủ yếu trên hai mặt: - Dịch vụ viễn thông không có sản phẩm tồn kho. - Vòng đời thiết bị công nghệ viễn thông ngắn. Hai đặc điểm này xuyên suốt qui hoạch ngành. Vì vậy qui hoạch phát triển ngành phảI xây dựng cho được và có chất lượng qui hoạch phát triển mạng lưới viễn thông, trong đó phải thể hiện rõ yếu tố xu hướng phát triển của công nghệ, thiết bị và nguồn nhân lực. Làm được điều này góp phần nâng cao chất lượng công tác kế hoạch hoá đầu tư phát triển trong toàn bộ mạng lưới của Tổng công ty và tất yếu sẽ đem đến kết quả nâng cao chất lượng công tác lập dự án đầu tư và hiệu quả đầu tư. Hai là phải xây dựng được cơ chế, chính sách đầu tư trong phạm vi Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam không được trái với qui định hiện hành của Nhà nước. Sở dĩ như vậy là do tính đặc thù của ngành viễn thông và tốc độ phát triển rất cao của mạng lưới viễn thông Việt Nam. Một ví dụ về tốc độ phát triển mạng lưới viễn thông là: hiện tại số máy điện thoại bình quân trên 100 dân là 13,75 máy; chỉ tiêu này vào năm 2010 là 40 máy. Để đạt được chỉ tiêu này bình quân trong giai đoạn 2006- 2010 mỗi năm phải đầu tư 10.000 tỷ đồng, con số này nói lên khối lượng công việc khổng lồ phải thực hiện hàng năm. Để thực hiện được nhiệm vụ trong gia đoạn này nên thực hiện các vấn đề sau đây: - Xây dựng và công bố qui hoạch phát triển mạng hàng năm làm căn cứ xây dựng cấu hình mạng, cấu hình từng vùng, từng dự án để xây dựng kế hoạch đầu tư thông qua các dự án cụ thể. - Xây dựng qui chế phân cấp đầu tư cho các đơn vị trực thuộc theo hướng phân cấp mạnh và tăng cường công tác kiểm tra giám sát đầu tư. - Tham gia, đề xuất và trình cấp có thẩm quyền ban hành định mức kinh tế- kỹ thuật, đơn giá xây dựng chuyên ngành và sửa đổi bổ sung kịp thời làm căn cứ tính toán tổng mức đầu tư và Dự toán/Tổng dự toán công trình nhằm nâng cao công tác kế hoạch hoá vốn đầu tư. -Xây dựng, xin ý kiến của các Bộ, Ngành liên quan thực hiện mua sắm thông qua đấu thầu tập chung các loại vật tư thiết bị theo thời kỳ (ví dụ trong vòng 5 năm) hoặc theo chủng loại thiết bị công nghệ (ví dụ đấu thầu chung Thiết bị chuyển mạch; Thiết bị truyền dẫn trên cáp quang, vi ba; Cáp sợi quang; Cáp đồng…) cho toàn Tổng công ty để đảm bảo sự thống nhất về chủng loại vật tư thiết bị trên toàn mạng. - Tham gia, đề xuất và trình cấp có thẩm quyền ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và sửa đổi bổ sung kịp thời làm tiêu chuẩn xây dựng qui hoạch mạng và lập các dự án đầu tư nhằm nâng cao chất lượng lập các dự án đầu tư. - Xây dựng và trình cấp có thẩm quyền ban hành những phần mềm kế toán mới, phần mềm thiết kế mới và các phần mềm ứng dụng khác nhằm hỗ trợ cho hoạt động tư vấn đầu tư và xây dựng, tiết kiệm chi phí và thời gian cho Công ty. 3. Các giải pháp hỗ trợ từ phía Nhà nước Nền kinh tế nước ta đang chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự alnhx đạo của Đảng. Chính vì vậy Đản và Nhà nước ta đang từng bước xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật và hệ thống cơ chế, chính sách, trong đó có lĩnh vực đầu tư phát triển. 3.1 Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách. các văn bản pháp qui trong lĩnh vực đầu tư phát triển phù hợp với sự phát triển chung của xã hội, đảm bảo qui định chính xác, phù hợp, kịp thời và đời sống văn bản dài. - Năm 1996 Nhà nước mới ban hành Điều lệ quản lý đầu tư và xây dựng (Nghị định 42/CP của Chính Phủ) và Qui chế đấu thầu (Nghị định 42/CP của Chính Phủ) - Năm 1999 Nhà nước ban hành Qui chế quản lý Đầu tư và Xây dựng (Nghị định số 52/1999/NĐ - CP ngày 8/7/1999 và được sửa đổi bổ sung theo các Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000; Nghị định số 07/2003/NĐ-CP ngày 30/01/2003 của Chính phủ). - Năm 1999 Nhà nước ban hành Qui chế Đấu thầu (Nghị định số 88/1999/NĐ - CP ngày 01/9/1999 và được sửa đổi bổ sung theo các Nghị định số 14/2000/NĐ-CP ngày 05/5/2000; Nghị định số 66/2003/NĐ-CP ngày 12/6/2003 của Chính phủ). Kèm theo các Nghị định của Chính phủ là một hệ thống các văn bản pháp qui do các Bộ, Ngành hướng dẫn thực hiện. Như vậy đời sống văn bản quá ngắn làm cho công tác lập dự án đầu tư gặp khó khăn do những thay đổi này làm cho các dự án đầu tư phảI sửa đổi, bổ sung nhiều làm chậm quá trình triển khai và xác định tổng mức đầu tư không chính xác. Vừa qua Quốc hội thông qua một số luật nhằm điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng: -.Luật Xây dựng số 16/QH11 ngày 26/11/2003. - Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 ngày 29/11/2005. - Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 ngày 29/11/2005. Các đạo luật này hy vọng đời sống văn bản sẽ dài nhưng hiện tại các Bộ, Ngành liên quan hiện vẫn chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện và còn một số điểm chồng chéo giữa các Luật này. Chính vì vậy hiện tại công tác đầu tư đãng bị chững lại do việc lập các dự án đầu tư chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể trên một số mặt như thiết kế sơ bộ hay thiết kế cơ sở, phương páhp xác định tổng mức đầu tư, phương pháp xác định giá gói thầu… Từ chưa nâng cao được chất lượng công tác lập dự án đầu tư và kéo dài thời gian đầu tư. 3.2 Nâng cao chất lượng công tác qui hoạch Công tác quy hoạch phải được tiến hành một cách khoa học, đi trước một bước, trong đó quan trọng nhất là qui hoạch phát triển kinh tế vùng và qui hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật. Qui hoạch phát triển kinh tế vùng thường chậm, chất lượng chưa cao và thiếu tầm nhìn xa. Vì vậy nó ảnh hưởng đến qui hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật nói chung và ngành bưu chính viễn thông nói riêng. Vì vậy qui hoạch phát triển kinh tế vùng phải được ưu tiên nghiên cứu theo hướng nhanh, nâng cao chất lượng qui hoạch, phải có tầm nhìn xa tới 10-15 thậm chí 20 năm đồngthời phải được xem xét, đánh giá, điều chỉnh hàng năm và công bố công khai, kịp thời làm căn cứ xây dựng qui hoạch ngành. Từ định hướng phát triển kinh tế và qui hoạch kinh tế vùng phải xây dựng qui hoạch ngành kinh tế kỹ thuật sớm và đảm bảo chất lượng làm kim chỉ nam cho công cuộc đầu tư phát triển ngành. Kết luận Thông qua việc tìm hiểu và xem xét hoạt động tư vấn đầu tư và tư vấn xây dựng, đặc biệt là hoạt động lập dự án đầu tư đầu tư mạng viễn thông tại Công ty cổ phần tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện có thể thấy rằng hoạt động cung cấp dịch vụ tư vấn tại Công ty mà chủ yếu là tư vấn lập dự án đầu tư mạng viễn thông thời gian qua đã đạt được những thành tựu đáng kể, xây dựng được nhiều dự án đầu tư mang tính hiệu quả khả thi cao đã góp phần mở rộng qui mô sản xuất kinh doanh ngày càng lớn, chất lượng sản xuất kinh doanh ngày càng được nâng cao, không những hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh mà còn góp phần đấp ứng nhu cầu của toàn Tổng công ty và xã hội, thúc đẩy sự phát triển của Ngành trong việc cung cấp nhiều dịch vụ viễn thông cho các Ngành, các doanh nghiệp trong nước. Tạo cơ sở hạ tầng để tiếp nhận công nghệ hiện đại trên thế giới và của Việt Nam trong xu thế hội nhập mới. Mặc dù vẫn còn những tồn tại nhất định ở mỗi khâu, mỗi giai đoạn trong quá trình lập dự án do những nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan Nhưng cùng với đà phát triển mạnh, cơ sở nền tảng năng lực vững chắc, sự cố gắng nổ lực của ban lãnh đạo cũng như công nhân viên của Công ty trong công tác và kết hợp với quá trình từng bước hoàn thiện cơ chế chính sách của Nhà nước, chúng ta có cơ sở tin rằng Công ty không những sẽ đứng vững trong cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước mà còn phát triển lớn mạnh trong tương lai. Tài liệu tham khảo 1. Nghị định số 52/1999/NĐ-CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 2. Nghị định số 12/2000/NĐ-CP ngày 5 tháng 5 năm 2000 3. Nghị định 07/2003/NĐ ngày 30 tháng 1 năm 2003 4. Chế độ mới về quản lý tài chính trong đầu tư xây dựng, đấu thầu.NXB Tài chính, Hà Nội 7/2001 12. Giáo trình Kinh tế đầu tư , Bộ môn Kinh tế đầu tư, Trường ĐH Kinh tế quốc dân. Chủ biên: PGS.TS. Nguyễn Bạch Nguyệt - TS. Từ Quang Phương, NXB Thống kê Hà Nội-2004. 5. Điều lệ hoạt động của Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện 6. Sổ tay chất lượng của Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và xây dựng Bưu điện 7. Hướng dẫn lập dự án đầu tư mạng viễn thông của Tổng công ty Bưu chính viễn thông Việt Nam. 8.Dự án đầu tư "Mạng viễn thông khu kinh tế Dung Quất và TP. Vạn Tường tỉnh Quảng Ngãi đến năm 2010" 9. Dự án đầu tư " Nâng cấp hệ thống truyền dẫn quang trục Bắc - Nam lên 20Gbit/s" 10.Dự án đầu tư "Mở rộng hệ thống tổng đài EWSD thêm 13.824 số Bưu điện tỉnh Cà Mau-bổ sung giai đoạn 2003-2005 lần 2" 11. Websize - - http: //www.vnexpress.com - mục lục ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32437.doc
Tài liệu liên quan