Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại xí nghiệp xây lắp số 2

Lời nói đầu Trong nền Kinh tế thị trường hiện nay, mục đích cuối cùng của các doanh nghiệp sản xuất là lợi nhuận. Để đạt được mục đích này, mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp là vừa đảm bảo an toàn, vừa đẩy nhanh vòng quay của vốn kinh doanh. Giá trị nguyên vật liệu, CCDC là biểu hiện của vốn lưu động, là một phần của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Vì vậy, sử dụng NVL, CCDC tiết kiệm và có hiệu quả cũng chính là một biện pháp bảo toàn và đầy nhanh vòng quay của vốn kinh doanh.

doc81 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1037 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ tại xí nghiệp xây lắp số 2, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
Đối với doanh nghiệp sản xuất chi phí Vật liệu, CCDC chiếm tỷ trọng rất lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất trong giá thành sản phẩm. Để tối đa hoá lợi nhuận, nhất thiết các doanh nghiệp phải làm sao giảm được chi phí vật liệu, CCDC một cách hợp lý. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, sự cạnh tranh là vấn đề tất yếu, muốn tồn tại đã khó, muốn tối đa hoá lợi nhuận lại càng khó hơn, điều này buộc các doanh nghiệp bên cạnh việc đảm bảo chất lượng sản phẩm và sử dụng triệt để, tiết kiệm nguyên vật liệu, CCDC trong sản xuất sản phẩm, từ đó hạ được giá thành sản phẩm, tăng sức cạnh tranh trên thị trường. Mặt khác, NVL, CCDC còn là một bộ phận quan trọng của hàng tồn kho. Do vậy, việc tổ chức công tác hạch toán kế toán về NVL, CCDC là một yệu cầu tất yếu của quản lý. Việc hạch toán VL tốt sẽ giúp cho việc đảm bảo việc cung cấp NVL, CCDC một cách kịp thời và đồng bộ cho nhu cầu sản xuất, kiểm tra và giám sát chặt chẽ việc chấp hành các định mức dự trữ và tiêu hao vật liệu, CCDC ngăn chặn việc lãng phí VL, CCDC trong sản xuất, góp phần giảm bớt chi phí, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, hạ giá thành sản phẩm, đem lại lợi nhuận cao hơn cho doanh nghiệp. Nhận thức được vai trò của kế toán, đặc biệt là vai trò của kế toán NVL, CCDC tại Xí nghiệp Xây lắp số 2. Cùng với sự giúp đỡ tận tình của các cán bộ trong phòng kế toán, đặc biệt là sự giúp đỡ tận tình của cô Bình, em đã chọn đề tài “ Tổ chức công tác kế toán NVL, CCDC “ để đi sâu nghiên cứu về kế toán NVL, CCDC trong lý thuyết và cả thực tế ở Xí nghiệp Xây lắp số 2. Ngoài phần mở đầu, bài chuyên đề này được chia thành ba phần chính: + Phần thứ nhất: Những vấn đề về kế toán NVL, CCDC trong doanh nghiệp sản xuất. + Phần thứ hai: Tình hình thực tế tổ chức công tác kế toán NVL, CCDC Xí nghiệp Xây lắp số 2. + Phần thứ ba: Một số nhận xét, kiến nghị, đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu, CCDC ở Xí nghiệp Xây lắp số 2. Em xin chân thành cảm ơn. Phần thứ nhất những vấn đề chung về kế toán vật liệu,nguyên vật liệu ,ccdc Trong doanh nghiệp sản xuất khái niệm, đặc điểm, vai trò của NL, VL, ccdc. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của NL, VL, ccdc trong sản xuất kinh doanh. Khái niệm: Vật liệu: là đối tượng lao động - một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất, là cơ sơ vật chất cấu thành nên thực thể sản phẩm. CCDC:là những tư liệu lao động không có đủ tiêu chuẩn quy định về giá trị và thời gian sử dụng của TSCĐ ( giá trị thực nhỏ hơn 5 triệu; thời gian sử dụng nhỏ hơn 1 năm). Đặc điểm. Đặc điểm của VL Chỉ tham gia một chu kỳ sản xuất, nó thay đổi hoàn toàn hình thái vật chất ban đầu. Giá trị của VL được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị của sản phẩm mới. Đặc điểm của CCDC. Tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất khác nhau nhưng nó vẫn giữa nguyên hình thái vật chất ban đầu và giá trị thì bị hao mòn dần, chuyển dịch từng phần vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Do CCDC có giá trị nhỏ thời gian sử dụng ngắn nên nhận được mua sắm bằng vốn lưu động. Vai trò. Chi phí VL, CCDC thường chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm, và thường được bỏ vào gia đoạn đầu của quá trình sản xuất để hình thành nên sản phẩm mới. Do đó việc cung cấp NVL, CCDC có kịp thời hay không sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới quá trình sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp. Chất lượng NVL, CCDC quyết định chất lượng sản phẩm, kể cả về mặt hiện vật lẫn mặt giá trị, NVL, CCDC là một trong những yếu tố không thể thiếu được của bất kỳ quá trình sản xuất nào. Dưới hình thức hiện vật nó biẻu hiện là một bộ phận quan trọng của tài sản lưu động, còn dưới hình thức giá trị nó biểu hiện thành vốn lưu động. Do việc quản lý NVL, CCDC chính là quản lý vốn kinh doanh và tài sản của doanh nghiệp, thêm vào đó vật liệu CCDC là tài sản dự trữ, sản xuất thường xuyên mua NVL, CCDC đáp ứng kịp thời cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm và các nhu cầu khác của doanh nghiệp vì vậy đòi hỏi có sự quản lý chặt chẽ việc thu mua và bảo quản NVL, CCDC. Phân loại và đánh giá NL, VL, CCDC. Trong các doanh nghiệp sản xuất, vật liệu CCDC bao gồm nhiều loại nhiều thứ khác nhau với nội dung kinh tế, công dụng trong quá trình sản xuất và tính năng lý hoá học khác nhau. Để có thể quản lý chặt chẽ và tổ chức hạch toán chi tiết từng loại vật liệu, CCDC phục vụ cho nhu cầu quản trị doanh nghiệp, cần thiết phải tiến hành phân loại chúng theo những tiêu chuẩn phù hợp. Phân loại Vật liệu, CCDC là căn cứ vào tiêu thức nào đó tuỳ theo yêu cầu quản lý doanh để sắp xếp VL, CCDC có cùng một tiêu thức vào một loại. Phân loại. - Căn cứ vào nội dung Kinh tế và yêu cầu kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất, vật liệu được chia thành các loại sau: + Nguyên vật liệu chính(bao gồm cả nửa thành phẩm mua ngoài): đối với các DNSX, nguyên vật liệu chính là đối tượng lao động chủ yếu cấu thành nên thực thể của sản phẩm như: xi măng, sắt, thép, đá, nhựa đường trong các doanh nghiệp chế tạo máy cơ khí xây dựng cơ bản . . . .Đối với nửa thành phẩm mua ngoài với mục đích tiếp tục quá trình sản xuất sản phẩm, ví dụ như: sợi mua ngoài trong các doanh nghiệp dệt cũng được coi là nguyên vật liệu chính. + Vật liệu phụ: Vật liệu phụ chỉ có tác dụng phụ trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm như làm tăng chất lượng nguyên vật liệu chính, tăng chất lượng sản phẩm, phục vụ sản xuất, cho việc bảo quản, đóng gói sản phẩm . . . . + Nhiên liệu: Trong DNSX, nhiên liệu bao gồm các loại ở thể lỏng, khí, rắn dùng để phục vụ cho các phương tiện vận tải máy móc, thiết bị hoạt động trong quá trình sản xuất kinh doanh như: xăng, dầu, than, củi . . . . + Phụ tùng thay thế: Bao gồm các loại phụ tùng, chi tiết dùng để thay thế sửa chữa máy móc thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải . . . + Thiết bị xây dựng cơ bản: Các loại thiết bị, phương tiện đực sử dụng cho công việc XDCB. + Vật liệu khác: là các loại vật liệu loại ra trong quá trình sản xuất , chế tạo sản phẩm như: gỗ, sắt vụn, phế liệu thu nhặt, thu hồi trong quá trình thanh lý TSCĐ. Tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý và hạch toán chi tiết, cụ thể của từng loại doanh nghiệp mà trong từng loại vật liệu nêu trên lại được chia thành từng nhóm, từng thứ, từng quy cách . . . - Căn cứ vào mục đích công dụng của NVL cũng như nội dung quy định phản ánh chi phí vật liệu trên các TK kế toán thì NVL của doanh nghiệp đuực chia thành: + NVL trực tiếp dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm. + NVL dùng cho các nhu cầu khác: phục vụ, quản lý ở các phân xưởng, tổ, đội sản xuất , cho nhu cầu bán hàng, quản lý doanh nghiệp . . . Căn cứ vào nguồn nhập VL được chia thành: + NVL nhập do mua ngoài + NVL tự gia công chế biến + NVL nhận vốn góp Phân loại CCDC: Theo qui định hiện hành nhhững tư liệu lao động sau không phân biệt tiêu chuẩn giá trị thời gian sử dụng vẫn được hạch toán là CCDC. Các lán trại tạm thời, đà giáo, công cụ( trong XDCB), dụng cụ giá lắp chuyên dùng cho sản xuất. Các loại bao bì bán kèm theo hàng hoá có tính tiền riêng nhưng trong quá trình bảo quản hàng hoá vận chuyển trên đường và dự trữ ở trong kho có tính giá trị hao mòn trừ dần giá trị của bao bì. Dụng cụ đồ nghề bằng thuỷ tinh, sành sứ. Để phục vụ cho công tác quản lý và kế toán, toàn bộ CCDC của doanh nghiệp được chia làm ba loại sau: Công cụ dụng cụ Bao bì luân chuyển Đồ dùng cho thuê. Ngoài ra có thể phân loại thành CCDC đang dùng và công cụ, dụng cụ trong kho. Tương tự như đối với vật liệu, trong từng loại công cụ, dụng cụ cần được phân loại chi tiết hơn thành từng nhóm, trong từng nhóm lại chia thành từng thứ . . . tuỳ theo yêu cầu, trình độ quản lý và công tác kế toán của doanh nghiệp. Đánh giá vật liệu, CCDC. Đánh giá NVL, CCDC là xác định giá trị của chúng theo những nguyên tắc nhất định.Theo qiu định hiện hành, kế toán nhập, xuất, tồn kho vật liệu, CCDC phải phản ánh theo giá trị thực tế, có nghĩa là khi nhập kho phải tính toán và phản ánh theo giá trị thực tế, khi xuất kho cũng phải xác định giá trị thực tế xuất kho theo đúng phương pháp quy định. Nhưng một số doanh nghiệp vẫn sử dụng giá trị hạch toán để ghi chép, tính toán hàng ngày. Đánh giá vật liệu CCDC theo giá thực tế: Giá thực tế VL, CCDC nhập kho. Đối với NVL, CCDC mua ngoài thì trị giá vốn thực tế nhập kho là: Giá mua ghi trên hoá đơn Các khoản thuế Các chi phí có trừ triết khấu giảm giá + thuế ko được + liên quan để có thương mại hoàn lại NLVN,CCDC Đối với NVL, CCDC do doanh nghiệp tự gia công chế biến là: Giá gốc vật tư xuất kho để gia công + Chi phí chế biến - Đối với NVL, CCDC thuê ngoài gia công chế biến là: Giá gốc Số tiền phải trả cho Chi phí vận chuyển vật tư + bên gia công + đi và về Trường hợp đơn vị khác góp vốn liên doanh bằng VL, CCDC thì trị giá vốn thực tế của từng VL nhận vốn góp liên doanh là giá do hội đồng liên doanh đánh giá. Phế liệu được đánh giá theo giá ước tính. Giá thực tế VL, CCDC xuất kho. Nguyên vật liệu, CCDC đuợc thua mua nhập kho thường xuyên từ nhiều nguồn khác nhau, do vậy giá trị thực tế của từng lần, đợt nhập kho không hoàn toàn giống nhau. Vì thế khi xuất kho, kế toán phải tính toán xác định được giá thực tế xuất kho cho các nhu cầu, đối tượng sử dụng khác nhau, theo phương pháp tính giá thực tế xuất kho đã đăng ký áp dụng và đảm bảo tính nhất quán trong niên độ kế toán. Để tính trị giá thực tế của NVL, CCDC xuất kho có thể áp dụng một trong các phương pháp sau: a. Tính giá trị thực tế tồn đầu kỳ: Theo phương pháp này, thì giá thực tế vật liệu, CCDC xuất kho được tính trên cơ sở số lượng vật liệu, CCDC xuất kho và đơn giá thực tế vật liệu tồn đầu kỳ. Giá thực tế xuất kho = Số lượng xuất * Đơn giá thực tế bình quân b. Tính theo giá thực tế bình quân gia quyền: Theo phương pháp này giá thực tế vật liệu, CCDC xuất kho cũng được căn cứ vào số lượng xuất kho trong kỳ và đơn giá thực tế bình quân để tính như sau: Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập TKỳ đơn giá thực tế bình quân = SL tồn đầu kỳ + SL nhập TKỳ c. Tính theo giá nhập trước - xuất trước: Theo phương pháp này trước hết ta phải xác định được đơn giá thực tế nhập kho của từng lần nhập và giả thiết hàng nào nhập kho trước thì xuất kho trước. Sau đó căn cứ vào số lượng xuất :kho để tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc. Tính theo đơn giá thực tế nhập trước đối với lượng xuất kho thuộc lần nhập trước, số còn lại( tổng số xuất kho - số đã xuất thuộc lần nhập trước) được tính theo đơn giá thực tế lần nhập tiếp sau. Như vậy, giá thực tế của vật liệu tồn cuối kỳ chính là giá thực tế của vật liệu, CCDC nhập kho thuộc các lần nhập sau cùng. Tính theo giá nhập sau - xuất trước: (Nhập trước - xuất sau). Theo phương pháp này cũng phải xác định được đơn giá thực tế của từng lần nhập kho và cũng giả thiết hàng nào nhập kho sau thì xuất trước. Sau đó căn cứ số lượng xuất kho tính ra giá thực tế xuất kho theo nguyên tắc: Tính theo đơn giá thực tế của lần nhập sau cùng, số còn lại được tính theo đơn giá thực tế của các lần nhập trước đó. Như vậy, giá thực tế của NVL, CCDC tồn kho cuối kỳ lại là giá thực tế của các lần nhập đầu kỳ. Tính theo giá thực tế đích danh: Theo phương pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý theo dõi VL theo từng lô hàng. Kho xuất kho nguyên vật liệu thuộc lô hàng nào thì phải căn cứ vào số lượng xuất kho và đơn giá nhập kho (mua) thực tế của lô hàng đó để tính ra giá trị thực tế xuất kho. II. Đánh giá vật liệu, CCDC theo giá hạch toán. Đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn, khối lượng, chủng loại nguyên vật liệu, CCDC lớn, tình hình nhập - xuất diễn ra thường xuyên việc xác định giá thực tế của nguyên vật liệu, CCDC hàng ngày rất khó khăn và ngay cả trong trường hợp có thể xác định được hàng ngày đối với từng lần, đợt nhập nhưng quá tốn kém nhiều chi phí, không hiệu quả cho công tác kế toán, có thể sử dụng giá hạch toán tình hình nhập, xuất hàng ngày giá hạch toán là loại giá ổn định được sử dụng thống nhất trong doanh nghiệp, trong thời gian dài, có thể là giá kế hoạch của nguyên vật liệu, CCDC. Như vậy, hàng ngày sử dụng giá hạch toán của vật liệu, CCDC để ghi sổ chi tiết giá trị vật tư nhập - xuất. Cuối kỳ phải điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế tiến hành như sau: Trước hết xác định hệ số giữa giá thực tế và giá hạch toán của NVL, CCDC như sau: Giá thực tế tồn đầu kỳ + Giá thực tế nhập trong kỳ H = Giá hạch toán tồn đầu kỳ + Giá hạch toán nhập trong kỳ Sau đó tính giá thực tế xuất kho, căn cứ vào giá hạch toán xuất kho và hệ số giá: Giá thưc tế của = Giá hạch toán của * Hệ số giá của NLVL,CCDC NLVL,CCDC xuất kho NLVL,CCDC Tuỳ thuộc vào đặc điểm, yêu cầu và trình độ quản lý cuẩ doanh nghiệp mà trong các phương pháp tính giá thực tế vật liệu, CCDC xuất kho, đơn giá thực tế hoặc sổ cái trong trường hợp sử dụng giá hạch toán) có thể tính riêng cho từng nhóm hoặc cả vật liệu, CCDC. Nhiệm vụ kế toán vật liệu, CCDC. Để đáp ứng được yêu cầu quản lý, kế toán vật liệu, CCDC tring DNSX cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: Thứ nhất: Thực hiện việc đánh giá, phân loại vật liệu, CCDC phù hợp với nguyên tắc, yêu cầu quản lý thống nhất của nhà nước và yêu cầu quản lý trong doanh nghiệp. Thứ hai: Tổ chức chứng từ, tài khoản kế toán, sổ kế toán phù hợp với phương pháp kế toán hàng tồn kho áp dụng trong các doanh nghiệp để ghi chép, phân loại, tổng hợp số liệu về tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm của vật liệu, CCDC trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, cung cấp số liệu kịp thời để tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Thứ ba: Tham gia việc phân tích, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch mua, tình hình thanh toán với người bán, người cung cấp và tình hình sử dụng vật liệu, CCDC trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thủ tục quản lý nhập xuất kho NL, VL, CCDC và các chứng từ kế toán liên quan. Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, các bộ phận sản xuất viết phiếu xin lĩnh vật tư. Căn cứ vào phiếu lĩnh vật tư kế toán viết phiếu xuất kho. Căn cứ vào phiếu xuất kho thủ kho xuắt NLVN và CCDC ghi vào phiếu xuất, số thực xuất ghi vào thẻ kho. Sau khi ghi xong vào thẻ kho,thủ kho chuyển chứng từ cho phòng kế toán đẻ ghi sổ. . Chứng từ sử dụng: Theo chế độ chứng từ kế toán qiu định ban hành theo QĐ 114/TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/1995 của Bộ trưởng bộ tài chính, các chứng từ kế toán về vật liệu, CCDC bao gồm: Phiếu nhập kho (mẫu 01 - VT) Phiếu xuất kho (mẫu 02 -VT ) Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ (mẫu 03 - VT) Biên bản kiểm kê vật tư, sản phẩm hàng hoá (mẫu 08 - VT) Hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (mẫu 02 - BH ) Hoá đơn cước phí vận chuyển (mẫu 03 - BH) Hoá đơn thuế GTGT (VAT) Ngoài ra chứng từ bắt buộc sử dụng thống nhất theo qui định của nhà nước, các doanh nghiệp có thể sử dụng thêm các chứng từ kế toán hướng dẫn như phiếu xuất vật tư hạn mức (mẫu 04 - VT), biên bản kiểm nghiệm vật tư (mẫu 05 -VT) . . . tuỳ thuộc vào đặc điểm, tình hình cụ thể của từng doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực hoạt động, thành phần kinh tế, hình thức sở hữu khác nhau. Mọi chứng từ về kế toán vật liệu, CCDC phải được tổ chức tuân theo trình tự thời gian hợp lý, do kế toán trưởng qui định phục vụ cho việc phản ánh, ghi chép và tổng hợp số liệu kịp thời của các bộ phận, cá nhân có liên quan. . Sổ kế toán chi tiết vật liệu, CCDC: Tuỳ thuộc vào phương pháp kế toán chi tiết áp dụng trong doanh nghiệp mà sử dụng các sổ thẻ kế toán chi tiết sau: Sổ (thẻ) kho Sổ (thẻ) kế toán chi tiết vật liệu, CCDC, Sổ đối chiếu luân chuyển Sổ số dư Ngoài các sổ kế toán chi tiết nêu trên, còn có mở thêm các bảng kê nhập, kê xuất, bảng luỹ kế tổng hợp nhập xuất tồn kho nguyên vật liệu, CCDC phục vụ cho việc ghi sổ kế toán chi tiết được đơn giản nhanh chóng kịp thời Thủ tục nhập, xuất kho nguyên vật liệu. 3.1. Thủ tục nhập kho nguyên vật liệu, CCDC: Khi xí nghiệp được nhà nước giao hoặc xí nghiệp trúng thầu các công trình giao thông thì bộ phận kế hoạch sẽ lên kế hoạch, đồng thời lập dự toán công trình. Khi công trình chuẩn bị thi công theo yêu cầu của thiết kế thì bộ phận kỹ thuật dựa vào dự toán công trình để bóc tách vật tư theo định mức đã được xây dựng. Sau đó, bộ phận vật tư dựa trên hạn mức công trình làm giấy xin mua vật tư trình lên Giám đốc duyệt, nếu Giám đốc chấp nhận thì sẽ cử người đi mua vật tư. Thường thì khi đi mua nguyên vật liệu, CCDC xí nghiệp sẽ tiến hành ký kết hợp đồng với bên cung cấp vật tư. Trong trường hợp này các bên sẽ soạn thảo các điều khoản qui định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi bên. Chẳng hạn bên cung cấp vật tư phải đảm bảo về chất lượng, quy cách mẫu mã, các quy phạm về kỹ thuật, phải cung cấp đúng thời hạn. Còn đối với xí nghiệp thì phải đảm bảo thanh toán tiền đầy đủ, đúng hạn và đúng phương thức thanh toán mà hai bên đã thoả thuận với nhau. Hiện nay ở xí nghiệp có ban kiểm nghiệm vật tư chuyên nghiệp và vậy khi mua vật tư về thì tuỳ theo từng trường hợp mà được bộ phận có liên quan kiểm nghiệm. Nếu vật tư mua về nhập kho thì thủ kho cùng đại diện của phòng vật tư, kế toán kiểm tra trước khi nhập kho, nếu thấy đầy đủ tiêu chuẩn thì tiến hành nhập kho, đối với vật tư có số lượng và giá trị lớn thì phải lập biên bản kiểm nghiệm vật tư. Đối với hàng mua về nhập kho căn cứ vào hoá đơn thì thủ kho cùng đại diện phòng vật tư kiểm tra, nếu thấy đầy đủ tiêu chuẩn thì tiến hành nhập kho. Cán bộ phòng vật tư sẽ lập và ký vào 3 niên phiếu nhập kho vật tư, sau đó chuyển cho thủ kho ký và đưa vật tư vào nhập kho. Trong 3 niên phiếu nhập kho, một niên lưu lại tại phòng vật tư, một niên thủ khi giữ làm căn cứ ghi vào thẻ kho, theo định kỳ thủ kho mang lên phòng kế toán hoặc kế toán nguyên vật liệu xuống lấy, một niên còn lại cùng với hoá đơn mua vật tư và giấy đề nghị thanh toán cho người bán được chuyển đến phòng kế toán. Đối với nguyên vật liệu, CCDC mua ngoài không qua nhập kho mà xuất thẳng đến chân cônng trình thì thủ tục nhập được tiến hành như sau: khi nguyên vật liệu, CCDC về đến chân công trình thì người lĩnh vật tư sẽ kiểm nghiệm và ghi số lượng thực nhập vào hai phiếu nhập kho và một giấy giao nhận vật tư được chuyển cho phòng vật tư, một phiếu nhập kho và hoá đơn mua hàng được chuyển lên phòng kế toán, kế toán thanh toán căn cứ vào tính hợp lý hợp lệ của chứng từ để thanh toán cho người bán. Sau đó phiếu nhập kho được chuyển cho kế toán vật liệu để theo dõi chi tiết trên sổ kế toán chi tiết nguyên vật liệu, CCDC. Đơn vị bán hàng: Công ty Thiết bị vật tư Bộ GT. Địa chỉ: .. . . . . . . . . . . . . .Số tài khoản: . . . . . . . . . . . . . . Điện thoại: . . . . . . . . . . . .MS: . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . hoá đơn (gtgt) Mẫu số 01 GTKT - 31.1 Liên 3 (dùng để thanh toán) PT / 99 - B Ngày 2 tháng 5 năm 2006 NO: 54232 Họ tên người mua hàng: Ô. Bảo Đơn vị: Xí nghiệp xây lắp số 2 Số tài khoản: . .. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . Địa chỉ: 61E Đường La Thành – Quận Đống Đa – Hà Nội Hình thức thanh toán: Chuyển khoản. Mã số: 01001532271 Đơn vị tính: VNĐ ST T Tên hàng hoá - dịch vụ ĐVT Số lượng Đơn giá Thành Tiền A B C 1 2 3 = 2 *1 1 Nhựa đường Singapo Kg 100.000 3.000 300.000.000 Cộng tiền hàng: 300.000.000 đ. Thuế suất GTGT: 10% Tiền thuế GTGT: 30.000.000 đ Tổng cộng tiền thanh toán: 330.000.000đ Số tiền viết bằng chữ: Ba trăm ba mươi ba triệu đồng chẵn./ Ví dụ: Trong tháng 5/2006 xí nghiệp có nhận được hoá đơn như sau:(biểu 3 Người mua hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị (ký tên) (ký tên) (ký tên) Căn cứ vào hoá đơn thủ kho và cán bộ phòng vật tư kiểm tra về số lượng, chất lượng hàng, nếu đứng yêu cầu sẽ viết biên bản kiểm nghiệm (biểu số 4) làm 3 bản giao cho phòng vật tư, phòng kế toán, kho. Trong tháng xí nghiệp có biên bản kiểm nghiệm của nhựa đường như sau: Biểu số 4: Biên bản kiểm nghiệm nguyên vật liệu, CCDC Căn cứ vào hoá đơn số 54232 ngày 2/5/2006 của Công ty Thiết bị vật tư - BGT. Thành phần ban kiểm nghiệm bao gồm. 1 - Đại diện P. vật tư: Ô. Nguyễn Trí Bảo. 2 - Đại diện P. kế toán: Bà Mai thị Sáu. 3 - Đại diện kho: Bà Âu thị Chính. Đã kiểm nghiệm số vật tư dưới đây do Ô. Bảo trực tiếp mua về. Tên nhãn hiệu, quy cách vật tư Mã số Phương thức kiểm nghiệm ĐVT Số lượng KQ kiểm nghiệm Số lượng đúng Số luợng Sai Nhựa đương Singappo 152.11 Cân Kg 100.000 100.000 P.Vật tư P.Kế toán Thủ kho (ký tên) (ký tên) (ký tên) ý kiến của ban kiểm nghiệm: Số lượng nhựa đường Ô. Bảo mua của Công ty thiết bị vật tư - BGT đúng tiêu chuẩn nhập kho, không mất mát, hư hỏng gì. Đồng thời viết phiếu nhập kho biểu số 5. Biểu số 5: Phiếu nhập kho Số 5/ N Mẫu số: 01 - VT. Ngày 2/ 5/ 2006 QĐ số: 1141- TC/QĐ/CĐKT Nợ 152: Ngày 1/ 11/ 1995 của BTC Có 331: Đơn vị bán hàng: Công ty Thiết bị vật tư BGT Người giao hàng: Ô. Bảo Theo hợp đồng số 1198 ngày 2/5/2006. Nhập tại kho: Sài Đồng - Gia Lâm ĐVT: VNĐ. S T T Tên vật tư Mã số Đ V T Số lượng Đơn giá Thành tiền Theo chứng từ Thực nhập 1 Nhựa đường Singapo 152.1 kg 100.000 100.000 3000 300.000.000 Cộng 300.000.000 Người nhận hàng Người giao hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) 3.2. Thủ tục xuất kho nguyên vật liệu, CCDC: Như đã nói, Công ty Xí nghiệp Xây lắp số 2 chỉ nhập kho nhựa đường còn các nguyên vật liệu, CCDC xuất thẳng đến chân Công trình không qua nhập kho. Khi xuất kho nguyên vật liệu, CCDC cho các đối tượng sử dụng, căn cứ vào phiếu xuất kho theo hạn mức vật tư, đối với vật tư đổ thẳng chân công trình thì bộ phận vật tư lập phiếu nhập - xuất kho cùng một lúc. Phiếu xuất kho được lập thành hai niên, một niên lưu lại phòng vật tư và một niên đôi trưởng sản xuất mang đến kho. Sau đó, khi xuất nguyên vật liệu, CCDC thủ kho ký vào phiếu xuất kho. Định kỳ 7 ngày một lần kế toán nguyên vật liệu xuống kho nhận phiếu xuất kho. Ví dụ: trong tháng 5/2006 Đội duy tu Gia Lâm được lệnh duy tu 2000 m2 đường Gia Lâm với tiêu chuẩn như sau: Chiều dày mặt đường là 10 cm. Chiều dày mặt đường đã nèn ép 10 cm, tiêu chuẩn nhựa 5,5 kg/m2. Căn cứ vào bảng định mức vật tư, phòng vật tư lập phiếu xuất kho theo hạn mức (biểu số 6) như sau: Xí nghiệp xây lắp số 2 Biểu số 6: phiếu xuất kho theo hạn mức. Bộ phận sử dụng: Đội duy tu Gia Lâm - duy tu đường tháng 5/ 2006 Đối tượng sử dụng: 2000m2 đường Gia Lâm dày 10 cm, nhựa 5,5 kg/m2 Xuất tại kho: Sài Đồng - Gia Lâm. Số phiếu: 05. STT Tên quy cách VTư ĐVT Mã số Hạn mức được duyệt Số lượng thực xuất 1 Nhựa đường kg 152.1 11.770 11.770 2 Đá răm tiêu chuẩn m3 152.1 263.8 263.8 3 Đá 4 * 2 m3 152.1 7.2 7.2 4 Đá 1 * 2 m3 152.1 47.4 47.4 5 Đá 0.5 * 2 m3 152.1 44 44 6 Củi kg 125.3 9.200 9.200 7 Dầu Diezel Lít 152.3 250 250 8 Dầu phụ Lít 152.2 10,5 10,5 Người nhận hàng Người giao hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) Căn cứ vào phiếu xuất kho theo hạn mức, thủ kho viết phiếu xuất kho cho từng lần xuất kho ( biểu số 7). Biểu số 7: phiêu xuất kho. Đơn vị: Xí nghiịep xây lắp số 2 Số 125 Mẫu số: 02 - VT Ngày 30 tháng 5 năm 2006 QĐ số: 1141 - TC/QĐ/CĐKT Ngày 1/ 11/ 1995 của BTC Nợ 621: Có 152.1: Họ và tên người nhận hàng: Tuấn - Đội duy tu Gia Lâm Lý do xuất kho: Duy tu định kỳ đường Gia Lâm Xuất tại kho: Sài Đồng - Gia Lâm ĐVT: đồng S T T Tên, nhãn hiệu, quy cách, phẩm chất vật tư (sản phẩm, hàng hoá) Mã số Đ V T Số lượng Đơn giá Thành tiền Yêu cầu Thực xuất 1 Nhựa đường Singapo 152.1 kg 11.770 11.770 3.010 35.427.700 Cộng 35.427.700 Người nhận hàng Người giao hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) Phiếu xuất kho số 112 Mẫu số: 02 - VT Đơn vị: Xí nghiệp xây lắp số 2 Ngày 8 tháng 5 năm 2006 QĐ số: 1141 - TC/ QĐ/ CĐKT Ngày 1/11/1995 của BTC Nợ 621: Có 153: Họ và tên người nhận hàng: Tuấn - Đôi duy tu Gia Lâm Lý do xuất kho: Trang bị đồ dùng BHLĐ Xuất tại kho: Không qua kho ĐVT: VNĐ Stt Tên hàng ĐVT Số lượng Đơn giá Thành tiền Yêu cầu Thực xuất 1 Quần áo LĐ bộ 39 39 43.636 1.701.804 2 Giầy vải Đôi 41 41 16.364 670.927 Cộng 2.327.728 Người nhận hàng Người giao hàng Kế toán trưởng Thủ trưởng đơn vị (ký tên) (ký tên) (ký tên) (ký tên) Căn cứ vào kế hoạch sản xuất, các bộ phận sản xuất viết phiếu xin lĩnh vật tư. Căn cứ vào phiếu xin lĩnh vật tư và kiểm tra kế toán viết phiếu xuất vật tư. Căn cứ vào phiếu xuất kho, thủ kho xuất VL,CCDC và ghi vào thẻ kho. Sau đó thủ kho chuyển chứng từ cho phòng kế toán để ghi sổ. Các phương pháp kế toán chi tiết vật liệu, CCDC. 4.1: Phương pháp ghi thẻ song song: Nội dung: ở kho: Việc ghi chép tình hình Nhập - Xuất - Tồn kho hàng ngày do thủ kho tiến hành trên thẻ kho và chỉ ghi theo số lượng. Khi nhận các chứng từ Nhập Xuất nguyên vật liệu, CCDC thủ kho phải kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của chứng từ rồi tiến hành ghi chép sổ thực nhập, thực xuất vào chứng từ thẻ kho. Cuối ngày tính ra số tồn kho ghi vào thẻ kho. Định kỳ thủ kho gửi các chứng từ nhập - xuất đã được phân loại theo từng thứ vật liệu cho phòng kế toán. ở phòng kế toán: Kế toán sử dụng sổ(thẻ) kế toán vật liệu, CCDC chi tiết để ghi chép tình hình nhập - xuất tồn kho vật liệu, CCDC theo chỉ tiêu hiện vật và giá trị. Cuối tháng kế toán cộng sổ chi tiết vật liệu, CCDC và kiểm tra đối chiếu với thẻ kho. Ngoài ra để có số liệu đối chiếu, kiểm tra với kế toán tổng hợp cần phải tổng hợp số liệu kế toán chi tiết từ các sổ chi tiết vào bảng tổng hợp nhập xuất tồn kho vật liệu, CCDC theo từng nhóm, loại vật liệu, CCDC. Có thể khái quát nội dung, trình tự kế toán chi tiết vật liệu, CCDC theo phương pháp thẻ song song trên sơ đồ sau: Kế toán chi tiết vật liệu, CCDC theo phương pháp ghi thẻ song song. Bảng kê tổng hợp X- N -T Chứng từ xuất Sổ kế toán chi tiết Thẻ kho Chứngtừ nhập Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Ghi đối chiếu Ưu điểm: Ghi chép đơn giản, dễ kiểm tra, đối chiếu. Nhược điểm: việc ghi chép còn trùng lặp về chỉ tiêu số liệu. Hạn chế chức năng kiểm tra kịp thời của kế toán. Phạm vi áp dụng: áp dụng trong các doanh nghiệp có ít chủng loại vật tư, các nghiệp vụ nhập - xuất ít không thường xuyên. 4.2. Phương pháp đối chiếu sổ đối chiếu luân chuyển: Nội dung: ở kho: giống như phương pháp thẻ song song. ở phòng kế toán: kế toán mở sổ đối chiếu luân chuyển để ghi chép tình hình Nhập - Xuất - tồn kho của từng thứ vật liệu, CCDC ở từng kho dùng cho cả năm, nhưng mỗi tháng chỉ ghi một lần vào cuối tháng. Để có số liệu ghi vào sổ đối chiếu luân chuyển, kế toán phải lập các bảng kê xuất trên cơ sở các chứng từ nhập xuất định kỳ thủ kho gửi lên, có thể khái quát theo sơ đồ sau. Kế toán chi tiết vật liệu, CCDC theo phương pháp Thẻ kho Sổ đối chiếu luân chuyển bảng kê nhập bảng kê xuất Chứng từ nhập Chứng từ xuất sổ đối chiếu luân chuyển Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Ghi đối chiếu 4.3 Phương pháp sổ số dư Nội dung ở kho: thủ kho cũng dùng thẻ kho để ghi chép tình hình nhập - xuất tồn kho nhưng cuối tháng phải ghi sổ tồn kho đã tính trên thẻ kho sang sổ số dư vào cột số lượng. ở phòng kế toán: Kế toán mở sổ số dư từng kho chung cho cả năm để ghi chép tình hình nhập, xuất. Từ các bảng kê nhập, bảng kế xuất kế toán lập luỹ kế nhập, luỹ kế xuất rồi từ các bảng luỹ kế lập bảng tổng hợp N - X- T kho theo từng nhóm, loại vật liệu, CCDC theo chỉ tiêu giá trị . Cuối tháng khi nhận sổ số dư do thủ kho gửi lên, kế toán căn cứ vào số lượng tồn cuối tháng do thủ kho tính chỉ ở sổ số dư và đơn giá hạch toán tính ra giá trị tồn kho để ghi vào cột số tiền trên sổ số dư. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, CCDC theo phương pháp sổ số dư. Ghi chú: Ghi hàng ngày Ghi cuối tháng Ghi đối chiếu thẻ kho Chứng từ nhập BK nhập Bảng luỹ kế nhập Sổ số dư BC tổng hợp N - X -T Chứng từ xuất BK xuất Bảng luỹ kế xuất 5. Kế toán tổng hợp nguyên vật liệu, CCDC: 5.1. Kế toán tổng hợp vâtk liệu, CCDC theo phương pháp kê khai thường xuyên: Kê khai thường xuyên hàng tồn kho là phương pháp ghi chép phản ánh thường xuyên liên tục và có hệ thống tình hình Nhập - Xuất - Tồn kho các loại vật liệu, CCDC, thành phần, hàng hoá trên các tài khoản và sổ kế toán tổng hợp trên cơ sở các chứng từ Nhập Xuất. 5.1.1 Tài khoản sử dụng. * Tài khoản 152: “ Nguyên liệu vật liệu” : TK này dùng để phản ánh số hiện có và tình hình tăng giảm các loại nguyên vật liệu, theo giá thực tế. Số phát sinh bên nợ: + Trị giá vốn thực tế nguyên liệu vật liệu nhập kho và các nghiệp vụ khác làm tăng giá trị + Kết chuyển trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu tồn kho cuối kỳ ((theo phương pháp kiểm kê định kỳ) Số phát sinh bên có: + Trị giá vốn thực tế NVL xuất kho + Chiết khấu hàng mua giảm giá hàng và hàng mua trả lại + Các nghiệp vụ khác làm giảm giá trị NVL + Kết chuyển trị giá vốn thực tế nguyên vật liệu tồn kho đầu kỳ(theo phương pháp kiểm kê định kỳ) Dư nợ: rị giá vốn thực tế NVL tồn kho TK 152 có các TK cấp hai TK 152.1 Nguyên Vật Liệu chính TK 152.2 Nguyên Vật Liệu phụ TK 152.3 Nhiên liệu TK 152.4 Phụ tùng thay thế TK 152.5 Thiết bị XDCB TK 152.8 Vật liệu khác TK 153 : “ Công cụ dụng cụ “ TK 153 sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động tăng giảm các loại CCDC theo giá thực tế. + Kết cấu của TK 153 tương tự như kết cấu của TK 152. TK 153có “ Công cụ dụng cụ “ có 3 TK cấp 2 TK 153.1 Công cụ dụng cụ TK 153.2 Bao bì luân chuyển TK 153.3 Đồ dùng cho thuê. Ngoài ra kế toán còn sự dụng các tài khoản liên quan khác như: TK 331 “ Phải trả cho người bán” TK này được sử dụng để phản ánh quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người bán người nhận thầu về các khoản vật tư hàng hoá lao vụ dịch vụ theo hợp đồng kinh tế đã ký kết. TK 113: “ Thuế giá trị gia tăng được khấu trừ”: TK này dùng để phản ánh thuế GTGT đầu vào được khấu trừ, đã khấu trừ và còn được khấu trừ. TK 111 - Tiền mặt TK 112 - Tiền gửi ngân hàng TK 141 - Tạm ứng TK 128 - Đầu tư ngắn hạn khác TK 222 - Góp vốn liên doanh TK 241 - XDCBDD 5.2 Phương pháp kế toán tổng hợp vật liệu CCDC. NVL, CCDC trong các doanh nghiệp sản xuất tăng do nhiều nguồn khác nhau. Trong mọi trường hợp doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ thủ tục kiểm nhận nhập kho lập các c._.hứng từ liên quan khác, kế toán phải phản ánh kịp thời các nội dung cấu thành nên giá trị thực tế của VL, CCDC nhập kho vào các TK, sổ kế toán tổng hợp đồng thời phản ánh tình hình thanh toán với người bán và các đối tượng khác một cách kịp thời. Cuối tháng tiến hành tổng hợp số liệu kiểm tra đối chiếu với các số liệu kế toán chi tiết. Ngược lại vật liệu CCDC trong các doanh nghiệp sản xuất giảm chủ yếu do các nghiệp vụ xuất kho dùng cho sản xuất, chế tạo sản phẩm cho nhu cầu phục vụ và quản lý doanh nghiệp, góp vốn liên doanh với các đơn vị khác. Các nghiệp vụ xuất kho vật liệu, CCDC cũng phải được lập chứng từ đầy đủ đúng quy định. Trên cơ sở các chứng từ xuất kho kế toán tiến hành phân loại theo đúng đối tượng sử dụng và tính giá thực tế xuất kho để ghi chép phản ánh trên các TK sổ kế toán tổng hợp. Cuối tháng tổng hợp số liệu để đối chiếu kiểm tra với số liệu kế toán chi tiết. Kế toán tổng hợp các trường hợp tăng giảm vật liệu, CCDC được tiến hành trên sơ đồ sau: (sơ đồ số 4).kéo ở dưới lên Ghi chú: Nếu DN nộp thếu GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT hoặc không thuộc đối tượng thếu GTGT thì trên sơ đồ không phản ánh qua TK 133. Phương pháp tổng hợp dùng CCDC. Công cụ dụng cụ xuất dùng chủ yếu phục vụ cho nhu cầu SXKD và một số nhu cầu khác. Căn cứ vào các chứng từ xuất kho CCDC, kế toán tập hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi tính ra giá thực tế xuất dùng phản ánh vào các TK liên quan. Tuy nhiên do đặc điểm tính chất cũng như giá trị và thời gian sử dụng của CCDC và tính hiệu quả của công tác kế toán mà viêvj tính toán phân bổ giá thực tế CCDC xuất dùng vào các đối tượng sử dụng có thể được thực hiện một lần hoặc nhiều lần. a. Phương pháp phân bổ một lần(phân bổ ngay 100% giá trị). Nội dung: Khi xuất dùng CCDC kế toán căn cứ vào các phiếu xuất kho CCDC để tính ra giá thực tế CCDC xuất dùng rồi tính phân bổ ngay một lần (toàn bộ giá trị ) và chi phí SXKD trong kỳ. Căn cứ vào giá thực tế xuất dùng kế toán ghi: Nợ TK 627 (6273) Chi phí sản xuất chung (CP dụng cụ sản xuất) Nợ TK 641 (6413) Chi phí bán hàng ( CP dụng cụ đồ dùng) Nợ TK 642 (6423) Chi phí QLDN (CP đồ dùng văn phòng). . .. . .. . Có TK 153: Công cụ dụng cụ (1531, 1532, 1533) -Phạm vi áp dụng: Phương pháp phân bổ một lần áp dụng thích hợp đối với CCDC có giá trị nhỏ thời gian sử dụng quá ngắn. b. Phương pháp phân bổ nhiều lần (phân bổ nhiều ). Nội dung: Căn cứ vào giá thực tế xuất dùng CCDC, kế toán tiến hành tính toán phân bổ dàn giá trị thực tế CCDC xuất dùng vào chi phí SXKD từng kỳ hạch toán phải chịu. Số phân bổ cho từng kỳ được tính như sau: Giá thực tế CCDC xuất dùng Giá trị CCDC xuất dùng = phân bổ cho từng kỳ Số kỳ sử dụng Trong trường hợp doanh nghiệp chỉ phân bổ 2 lần thì khi xuất dùng kế toán tiến hành tính toán, phân bổ dần giá trị thực tế CCDC xuất dùng vào chi phí SXKD kỳ đó và khi báo hỏng sẽ tiến hành phân bổ nốt giá trị còn lại của CCDC hư hỏng vào chi phí SXKD của đơn vị bộ phận báo hỏng 5.3 Kế toán tổng hợp vật liệu CCDC theo phương pháp kiểm kê định kỳ: Phương pháp kiểm kê định kỳ là phương pháp không theo dõi phản ánh thường xuyên liên tục tình hình nhập xuất vật liệu CCDC trên các tài khoản hàng tồn kho tương ứng. Giá trị của vật tư hàng hoá mua vào và nhập kho trong kỳ được theo dõi phản ánh ở một tài khoản riêng - TK 611 “ Mua hàng” Còn các TK hàng tồn kho chỉ dùng để phản ánh giá trị hàng tồn kho lúc đầu và cuối kỳ. Hơn nữa giá trị hàng tồn kho lại không căn cứ trực tiếp vào các chứng từ xuất kho để tổng hợp phân loại theo các đối tượng sử dụng rồi ghi sổ mà lại căn cứ vào kết quả kiểm kê và giá trị vật tư, hàng hoá mua vào (nhập kho) trong kỳ tính theo công thức sau: Trị giá = Trị giá tồn + Trị giá nhập - Trị giá tồn xuất kho đầu kỳ trong kỳ cuối kỳ Với cơ sở và cách tính trị giá xuất kho như trên thì trị giá xuất kho là con số tổng hợp không thể hiện rõ được giá trị vật tư, hàng hoá xuất kho cho từng đối tượng sử dụng từng nhu cầu là bao nhiêu 5.3.1. Tài khoản kế toán sử dụng: Kế toán tổng hợp NVL, CCDC theo phương pháp kiểm kê định kỳ sử dụng các tài khoản sau: Tài khoản 152 “ Nguyên liệu vật liệu”: Tài khoản này không dùng để theo dõi tình hình nhập - xuất trong kỳ mà chỉ dùng để kết chuyển giá trị thực tế vật liệu cuối kỳ vào tài khoản 611 TK “Mua hàng”. Tài khoản 153 “ Công cụ dụng cụ”: tài khoản 611 không có số dư và được mở 2 tài khoản cấp 2: + TK 6111 “ Mua nguyên vật liệu “ + TK 6112 “ Mua hàng hóa” Ngoài ra kế toán cũng sử dụng các TK liên quan khác như phương pháp kê khai thường xuyên. 5.3.2. Phương pháp kế toán tổng hợp vật liệu, CCDC theo phương pháp kiểm kê định kỳ: Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, kế toán tổng hợp vật liệu, CCDC không căn cứ vào phiếu xuất kho để xác định giá trị thực tế vật liệu, CCDC xuất dùng mà căn cứ vào giá trị thực tế vật liệu, CCDC tồn đầu kỳ, nhập trong kỳ và kết quả kiểm kê cuối kỳ. Quá trình hạch toán theo sơ đồ sau: (xem sơ đồ sau). sơ đồ 5 kéo ở dưới lên. phần thứ hai tình hình thực tế công tác kế toán vật liệu công cụ dụng cụ tại Xí NGHIệP XÂY LắP Số 2 – Hà NộI đặc điểm tình hình chung CủA Xí NGHIệP XÂY LắP Số 2 Địa chỉ: Số 64E Đường La Thành - Đống Đa – Hà Nội 1.Vài nét về sự hình thành và phát triển của Xí nghiệp Xí nghiệp xây lắp số 2 thuộc Công ty lắp máy điện nước và xây dựng, thành viên của Tổng Công Ty Xây Dựng Hà Nội – Bộ xây dựng. Được thành lập theo quyết dinh số 151A/ BXD – TCLD ngày 20/3/1993 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Xí nghiệp Xây lắp số 2 có trụ sở tại 61E đường La Thành - Quận Đống Đa - Hà Nội. Tên giao dịch quốc tế của Xí nghiệp xây lắp số 2 là: Mechanical detrical & construction enterprise No 2. Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp trải qua không ít thăng trầm: từ khi thành lập cho đến năm 2000, trong giai đoạn này, các công trình mà Công ty xây dựng đều nằm trong kế hoạch được giao hàng năm của Nhà nước và được thực hiện chủ yếu bằng nguồn vốn ngân sách Nhà Nước cấp. Nhiệm vụ lúc bấy giờ của công ty đa phần tập trung vào duy tu bảo dưỡng các tuyến đường thuộc phạm vi ngoại thành Hà Nội. Từ năm 2000 cho đến nay, khi Nhà Nước chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường, với chi phối của các quy luật, của nền kinh tế thị trường và sự quản lý trên tầm vĩ mô của Nhà nước. Để phù hợp với tình hình đó Xí nghiệp Xây lắp số 2 cũng chuyển đổi sang lĩnh vực kinh doanh. Bên cạnh việc đảm bảo nhận công việc duy tu sửa chữa trên Xí nghiệp còn tham gia đấu thầu các công trình ngoài như: nâng cấp các đường thuộc kế hoạch của Sở giao thông Công chính, đảm nhận công việc khảo sát thiết kế. Để đứng vững trong nền kinh tế thị trường và uy tín đối với Nhà Nước, Xí nghiệp đã không ngừng chú trọng đến chất lượng của từng công trình, cải tiến kỹ thuật, nâng cao trình độ công nhân viên chức, trang bị thêm máy móc để phục vụ cho những công trình có quy mô lớn, trình độ kỹ thuật cao như dải thảm bê tông nhựa ASFAN. Đặc điểm từ năm 1996 đến nay, do xác định được hướng đi đúng đắn nên hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp phát triển mạnh mẽ, sản lượng không ngừng tăng, nộp ngân sách cho Nhà nước cũng tăng và đời sống của công nhân viên của Xí nghiệp được cải thiện đáng kể. Vượt lên mọi khó khăn để đứng vững trong nền kinh tế thị trường như hiện nay là cả một sự cố gắng lớn của cán bộ lãnh đạo Xí nghiệp cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp. Cơ sở vật chất của Xí nghiệp bao gồm: - Khu nhà văn phòng hai tầng kiên cố trên tổng diện tích 570m2 tại số 61E đường La Thành – Hà Nội. Khu nhà xưởng: 3100m2 Khu nhà đội xe: 950 m2 Hai nhà kho nội :2764m2 và một kho đá ngoài trời. Ba khu nhà làm việc của 3 Đội duy tu với tông diện tích là 6272m2 Số lượng xe tải, xe con, máy thi công thiết bị của Xí nghiệp càng ngày càng tăng và được năng cấp để phù hợp với các công trình. Trong những năm gần đây Xí nghiệp đã đạt được những thành tích sau: Chỉ tiêu 2000 2006 Doanh thu 13.910.000.000 29.000.000.000 Lãi 356.000.000 725.000.000 Nộp ngân sách Nhà Nước 859.000.000 1.100.000.000 Thu nhập bình quân CNV/tháng 900.000 1.500.000 Số công nhân 300 503 2. Hệ thống sổ kế toán nguyên vật liệu, CCDC ở Xí nghiệp Xây lắp số 2. 2.1. Kế toán chi tiết. Nguyên vật liệu, CCDC áp dụng phương pháp ghi thẻ song song nên ở ở xí nghiệp có các sổ sau: ở kho: thẻ kho. ở phòng kế toán: sổ chi tiết, sổ tổng hợp N - X - Tồn kho nguyên vật liệu, CCDC. 2.2 Kế toán tổng hợp. áp dụng hình thức nhật ký chứng từ, Xí nghiệp hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên, có các loại sổ sau: Sổ chi tiết số 2- TK331: (Phải thanh toán với người bán). Sổ chi tiết này được Xí nghiệp mở để theo dõi việc thanh toán với đơn vị bán. Đối với những đơn vị thường xuyên được phản ánh trên một tờ sổ hoặc một quyển sổ. Nhưnng ngược lại, với dơn vị có quan hệ thường xuyên thì được phản ánh chung trên một tờ sổ hoặc một quyển sổ. Việc ghi sổ chi tiết số 2 được thực hiện trên nguyên tắc mỗi hoá đơn chứng từ ghi một dòng theo thứ tự thời gian hoá đơn, chứng từ về phòng kế toán và theo dõi cho đến khi xong hoá đơn đó. NKCT số 5: sổ này gồm hai phần chính: + Phần ghi có TK 331, ghi nợ các TK có liên quan. + Phần theo dõi thanh toán ghi nợ TK 331, có các TK liên quan. Sổ NKCT số 5 được dùng để phản ánh tổng quát quan hệ thanh toán giữa Xí nghiệp với các đơn vị bán vật tư . . . cho xí nghiệp. NKCT số 5 được ghi vào cuối tháng trên cơ sở sổ chi tiết số 2. Cuối tháng tiến hành cộng sổ NKCT số 5, đối chiếu số liệu với sổ kế toán khác đẻ đảm bảo số liệu chính xác để ghi .vào sổ cái TK 331 và bảng kê số 3, phần nhập trong tháng, dòng “NKCT số 5”. Ngoài ra xí nghiệp còn có: - Sổ NKCT số 1: Ghi có TK 111 - tiền mặt. Sổ NKCT số 2: Ghi có TK 112 - tiền gửi ngân hàng. Để theo dõi việc sử dụng của từng đội kế toán của xí nghiệp mở sổ chi tiết cho từng đội sản xuất căn cứ vào từng hoá đơn xuất kho nguyên vật liệu, CCDC. Tổng các sổ chi tiết các đội sản xuất được ghi vào bảng kê số 3, phần xuất dùng trong tháng. Căn cứ vào bảng kê số 3 - phần xuất dùng trong tháng, kế toán tổng hợp lập: “Bảng phân bố nguyên vật liệu, CCDC”, bảng gồm có hai phần chính: + Phần “ Ghi có các TK 152, TK 153 “. + Phần “ Đối tượng sử dụng “ Sổ cái TK 152: được mở vào cuối tháng, số liệu ghi vào sổ cái được căn cứ vào số liệu từ bảng kê số 3. 3. Đặc điểm tổ chức sản xuất và tổ chức bộ máy của xí nghiệp: 3.1. Đặc điểm tổ chức sản xuất. Xí nghiệp Xây lắp số 2 là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Sản phẩm chủ yếu của xí nghiệp làm ra là những con đường theo kế hoạch đặt ra của Nhà nước nên nó mang tính chất Quốc gia. Do vậy, Xí nghiệp Xây lắp số 2 tổ chức thành 6 đội. Trong đó có ba đội đảm nhận việc duy tu bảo dưỡng các tuyến đường thuộc ba huyện ngoại thành Hà nội đó là. Đội duy tu Gia Lâm Đội duy tu Đông Anh Đội duy tu Sóc Sơn Hai đội chuyên làm công việc nâng cấp và làm mới các tuyến theo kế hoạch, các công trình ngoài, các công trình đấu thầu. Đội xây dựng số 4 Đội xây dựng số 5 Ngoài ra còn có một đội thi công cơ giới phục vụ máy móc, phương tiện vận chuyển để thi công các công trình khi có lệnh. Cơ cấu sản xuất chung của xí nghiệp Xí NGHIệP XÂY LắP Số 2 Bộ phận quản lý Bộ phận sản xuất Hành chính sự nghiệp Bộ phận KH-KT Bộ phận Vật tư Bộ phận kế toán Bộ phận tổ chức Bộ phận quản lý - đường xá Khảo sát thiết kế Đội duy tu Gia Lâm Đội duy tu Đông Anh Đội duy tu Sóc Sơn Đội xây dựng số 4 Đội xây dựng số 5 Đội thi công cơ giới Bộ phận Hành chính Bảo vệ Sơ đồ quá trình sản xuất. Đào lắp san nền Làm nền đường Chồng đá hộc chân khay Rải đá 2 *4 Lu lèn Tưới nhựa Lu lèn Tưới Nhựa Dính Bám Rải thảm ASFAN Lu lèn 3.2 Tổ chức bộ máy quản lý của xí nghiệp. Xí nghiệp Xây lắp số 2 tổ chức thành các phòng ban như sau: Ban Giám đốc Phòng tài chính - kế toán Phòng chế độ Phòng kế hoạch Phòng kỹ thuật Phòng hành chính Phòng quản lý đường xá Phòng khảo sát thiết kế Phòng bảo vệ Phòng vật tư Nhiệm vụ cơ bản của các phòng ban như sau: Ban Gián đốc: Bao gồm Giám đốc và hai phó Giám đốc. Trong đó, Giám đốc phụ trách toàn bộ công việc sản xuất kinh doanh của toàn bộ xí nghiệp. Còn hai phó giám đốc làm nhiệm vụ giúp việc cho Giám đốc: một phó giám đốc trực tiếp chỉ đạo công việc duy tu, một phí giám đốc trực tiếp chỉ đạo việc làm mới các công trình. Hai phó giám đốc tham gia đề xuất với Giám đốc những chủ trương biện pháp để tănng cường công tác quản lý sản xuất kinh doanh nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất. Phòng kế hoạch kỹ thuật: lập dự toán, bản vẽ, hồ sơ thiết kế các công trình, giám sát trực tiếp các công trình mới, quản lý máy móc thiết bị, là nơi điều động máy móc đến chân công trình.Ngoài ra phòng còn xem xét khối lượng để cấp hạn mức vật tư cho các công trình. Phòng quản lý đường xá: trực tiếp quản lý 3 đội duy tu, tiến hành lập hồ sơ dự toán quyết toán và cung cấp hạn mưc vật tư. Phòng chế độ: làm nhiệm vụ quản lý lao động, duyệt và thanh toán lương, giải quyết các chế độ, chính sách cho người lao động. Phòng hành chính: làm nhiệm vụ phục vụ các hội nghị của xí nghiệp và thay mặt cho công ty tiếp khách đến giao dịch, tổ chức mua sắm các thiết bị văn phòng, quản lý lưu trữ các hồ sơ công văn. Phòng tài vụ: ngoài việc cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh là cơ sở cho Giám đốc ra các quyết định sản xuất kinh doanh, bộ phận này còn cung cấp đầy đủ, chính xác các tài liệu về việc cung ứng, dự trữ, sử dụng từng loại tài sản, nguyên vật liệu, CCDC, để góp phầnquản lý và sử dụng tài sản, nguyên vật liệu, CCDC, một cách hợp lý và kịp thời. Ngoài ra phòng kế toán còn theo dõi việc thanh toán các công trình với cấp chủ quan. Phòng vật tư: đảm bảo cung cấp kịp thời về số lượng, chất lượng và chủng loại vật tư cho sản xuất. Bộ phận này phải thường xuyên cử ngưòi đi mua vật tư, tổ chức quản lý tình hình nhập, xuất vật tư một cách chặt chẽ, đồng thời còn có nhiệm vụ lập các chứng từ về quá trình nhập, xuất vật tư. Phòng khảo sát thiết kế: đảm nhận công việc khảo sát thiết kế các công trình của xí nghiệp và các công trình ngoài. Bộ phận này được phân công chuyên môn hoá theo các chức năng quản lý, theo dõi hướng dẫn các bộ phận sản xuất và cấp dưới thực hiện các quyết định, nhiệm vụ phân công. Ngoài việc hoàn thành các nhiệm vụ được giao cho từng phòng ban, các phòng ban này còn phải phối hợp với nhau để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn xí nghiệp được hoàn thành tốt hơn. Có thể mô phỏng bộ máy quản lý của xí nghiệp theo sơ đồ sau: Giám đốc Phó giám đốc Phó giám đốc Phòng quản lý- đường xá Phòng KH- kỹ thuật Phòng TChức Kế Toán Phòng chế độ Phòng hành chính Phòng khảo sát thiết kế Phòng bảo vệ Phòng Vật tư Đội duy tu Gia Lâm Đội duy tu Sóc Sơn Đội duy tu Đông Anh Đội xây dựng số 4 Đội xây dựng số 5 Đội thi công cơ giới Để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp được tốt hơn, ở mỗi đội sản xuất có thành lập bộ máy quản lý bao gồm: - Mỗi đội trưởng chịu trách nhiệm về phần điều hành công việc chung của đôi mình. - Một đội phó giúp việc cho đội trưởng, giám sát tình hình tiến độ thi công công trình. - Một nhân viên kinh tế làm nhiệm vụ thống kê các công việc phát sinh hàng ngày như: Công của công nhân, tình hình sử dụng vật liệu, công cụ dụng cụ. 3.3 Đặc điểm tổ chức bộ máy kế toán. 3.31 Tổ chức bộ máy kế toán của xí nghiệp. Xuất phát từ đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh và tổ chức quản lý, để đáp ứng yêu cầu quản lý và trình độ của các cán bộ kế toán, bộ máy kế toán xí nghiệp được tổ chức theo hình thức: bộ máy kế toán tập trung. Theo hình thức này, toàn bộ công tác kế toán, vào sổ . . . đều tập trung ở phòng kế toán của xí nghiệp. Dưới tác đội sản xuất không tổ chức bộ phận kế toán riêng biệt mà chỉ bố trí các nhân viên làm nhiệm vụ kiểm tra, thu nhận chứng từ và chuyển về phòng kế toán xí nghiệp. Do đó mọi công tác kế toán được thực hiện ở bộ phận kế toán của xí nghiệp từ việc thu thập kiểm tra chứng từ, ghi sổ chi tiết đến việc lập báo cáo tài chính. Chính vì vậy mà xí nghiệp nắm được toàn bộ các thông tin, từ đó có thể kiểm tra, đánh giá kịp thời. Mọi nhân viên kế toán trong phòng kế toán được điều hành trực tiếp từ người lãnh đạo đó là trưởng phòng kế toán. Bộ phận kế toán của xí nghiệp hiện nay gồm có 8 nhân viên kế toán, nhiệm vụ của từng kế toán viện như sau: Trưởng phòng kế toán: là người giúp việc cho Giám đốc về chuyên môn, phổ biến chủ trương và chỉ đạo công tác chuyên môn của bộ phận kế toán, chịu trách nhiệm trước cấp trên về việc chấp hành luật pháp, thể lệ chế độ tài chính, kế toán hiện hành. Trưởng phòng kế toán là người kiểm tra định hình hạch toán kinh tế, kiểm tra tình hình tài chính, huy động vốn và sử dụng vốn. Trưởng phòng kế toán có trách nhiệm tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả, khai thác khả năng tiềm tàng của tài sản, cung cấp cac thông tin về tình hình tài chính một cách kịp thời, chính xác và toàn diện để ban giám đốc ra quyết định kinh doanh. Cùng với các bộ phận liên quan trưởng phòng kế toán tham gia ký kết các hợp đồng kinh tế, xây dựng các kế hoạch tài chính của xí nghiệp. Ngoài ra, trưởng phòng kế toán còn có nhiệm vụ theo dõi phụ trách công việc chung của phòng kế toán. Kế toán chi phí và giá thành: tiến hành phân bổ các chi phí sản xuất cho từng đối tượng sử dụng, tính giá thành cho từng công trình và xác định chi phí sản xuất dở dang cuối kỳ. Kế toán chi phí và tính giá thành còn có nhiệm vụ thanh quyết toán công trình về mặt tài chính với các đơn vị chủ quản. Kế toán nguyên vật liệu, CCDC: là người theo dõi tình hình nhập xuất các loại nguyên vật liệu, CCDC tronng kỳ. Hàng ngày, kế toán nguyên vật liệu, CCDC phải ghi các số liệu từ các chứng từ vào sổ chi tiết, tính giá thực tế vật liệu xuất kho. Cuối tháng lập bảng kê số 3, nhật ký chứng từ số 5... bảng phân bổ nguyên vật liệu, CCDC còn có nhiệm vụ theo dõi tình hình sử dụng vật tư theo hạn mức và số tồn kho. Kế toán TSCĐ: là người theo dõi tăng, giảm khấu hao TSCĐ Kế toán tiền lương: theo dõi việc tính trả lương và phân bổ chi phí tiền lương vào các đối tượng tính giá thành. Kế toán ngân hàng: theo dõi tình hình thu chi tiền gửi ngân hàng. Thủ quỹ: là người quản lý số lượng tiền mặt tại xí nghiệp chịu trách nhiệm thu tiền công trình và chi tiết tiền mặt. Kế toán tổng hợp: có nhiệm vụ thu thập toàn bộ các số liệu của xí nghiệp và lập báo cáo vào cuối tháng. Tổ chức bộ máy kế toán được mô tả theo sơ đồ: Bộ máy kế toán của công ty Trưởng phòng kế toán Kế toán tài sản cố định Kế toán TL Kế toán vật liệu Kế toán GT Kế toán ngân hàng Kế toán tiền mặt Kế toán tổng hợp Nhân viên kinh tế ở đội sản xuất Ghi chú: : Mối quan hệ trực tuyến : Mối quan hệ chức năng 3.32. Hình thưc kế toán: Hình thức kế toán mà xí nghiệp áp dụng là hình thức nhật ký chứng từ với hệ thống tài khoản kế toán mới ban hành ngày 1/11/96. Xí nghiệp hạch toán kế toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên( nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ). Đây là hình thứ kế toán phù hợp với đặc điểm của xí nghiệp, tạo điều kiện cập nhập hàng ngày các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, phục vụ cho việc chi phí sản xuất và tính giá thành được dễ dàng. Cụ thể kế toán dùng những loại sổ sách: Sổ chi tiết bao gồm: sổ chi tiết tài sản cố định, sổ chi tiết vật liệu, CCDC, sổ chi tiết thanh toán với người bán... Sổ tổng hợp bao gồm: các nhật ký chứng từ số 1(ghi có TK 111 - tiền mặt), NKCT số 5 (ghi có TK 331 - phải thanh toán với người bán) .. . và các sổ cái.. Hình thức nhật ký chứng từ được biểu diễn trên sơ đồ: hình thức nhật ký chứng từ Chứng từ gốc Nhật ký chứng từ Sổ cái Bảng kê Sổ kế toán chi tiết Báo cáo tài chính Bảng tổng hợp chi tiết Ghi chú: : Ghi hàng ngày. : Ghi cuối tháng. : Đối chiếu, kiểm tra. 2.4. Đặc điểm của sản phẩm: Xí nghiệp Xây lắp số 2 là một đơn vị xây dựng nên xí nghiệp không có quy trình công nghệ nhất định nhưng đòi hỏi về mặt kỹ thuật để hoàn thành một sản phẩm nào đó phải có các bước công việc chung cho toàn bộ quy trình. Sản phẩm củễpí nghiệp mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất dài, sản phẩm là ra cố định tại nơi sản xuất và giá trị của sản phẩm là lớn. Nhưng do sản phẩm làm ra cố định tại nơi sản xuất nên khi tiến hành sản xuất sản phẩmễpí nghiệp phải di chuyển về nhân lực, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu ... đến nơi sản xuất sản phẩm. Sản phẩm làm ra của xí nghiệp không được tiêu thụ trên thị trường mà khi sản phẩm hoàn thành, đảm bảo đầy đủ các yêu cầu thiết sẽ đựoc bàn giao cho Nhà nước và được quyết toán Công trình, đến đây sản phẩm được coi như là đã tiêu thụ. ii. thực trạng công tác kế toán vật liệu công cụ dụng cụ tại Xí NGHIệP XÂY LắP Số 2. Đặc điểm vật liệu, công cụ dụng cụ ở xí nghiệp: Xí nghiệp xây lắp số 2 là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản với nhiệm vụ chủ yếu là sửa chữa và làm mới những con đường giao thông theo kế hoạch của Nhà nước. Trong quá trình thi công các công trình xí nghiệp cần rất nhiều các vật liệu, công cụ dụng cụ khác nhau như: nhựa đường, cát, đá, xi mămg... mỗi loại một đặc điểm, tính năng khác nhau. Do vậy, việc tiến hành phân loại vật liệu, công cụ một cách khoa học hợp lý sẽ tạo điều kiện cho việc quản lý và sử dụng có hiệu quả. Căn cứ vào nội dung, công dụng kinh tế của vật liệu, công cụ dụng cụ trong quá trình xây dựng của xí nghiệp được chia thành các loại sau đây: Vật liệu chính bao gồm: nhựa đường, xi măng, đá các loại, các loại cát, đất cấp phối và cấu kiện bê tông. Trong đó, đất cấp phối là loại đất lẫn đá được dùng để làm nền cho những con đường mà xí nghiệp thi công, cấu kiện bê tông là loại bê tông đúc sẵn thường làm vỉa và nắp cống. Vật liệu phụ bao gồm: dầu bôi trơn máy móc, sơn kẻ đường, vôi. Nhiên liệu gồm có: xăng các loại, dầu Diezel, củi. Phụ tùng thay thế gồm có: Các chi tiết máy móc thiết bị. Công cụ dụng cụ tại xí nghiệp chỉ sử dụng công cụ dụng cụ thuần tuý như: Quần áo bảo hộ lao động, mũ, giầy, ủng ... Xí nghiệp đã lập bảng mục lục nguyên vật liệu, CCDC như sau: Biểu số 1: Mục lục vật tư STT Số thẻ kho Tên quy cách Vật tư Đơn vị tính 152.1- Vật liệu chính 1 Nhựa đương Singapo kg 2 Đá 4 * 6 m2 Đá 2 * 4 Đá 1 * 2 . .. .. … 152.2 - Vật liệu phụ 1 Sơn kg 2 dầu bôi trơn . . . . . lít 152.3 - Nhiên liệu 1 Xăng lít 2 Dầu Diezel lít 152.4 - Phụ tùng thay thế 1 Phụ tùng máy móc 153 - Công cụ dụng cụ 1 Quần áo bảo hộ lao động 2 Dụng cụ sản xuất Qua cách phân loại ở trên ta thấy rằng việc tổ chức quản lý tình hình thu mua và sự vật liệu, CCDC là rất phức tạp đòi hỏi cán bộ kế toán vật liệu, CCDC phải có trình độ chuyên môn và trách nhiệm trong công việc. Trong giai đoạn hiện nay, vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ cho ngành xây dựng cơ bản được thị trường cung cấp rất kịp thời, giá cả ít biến động. Ngoài ra, Nhà nước quy định giá bán theo Thông tư 1216 và định mức cho một số mặt hàng. Hiện nay xí nghiệp đang áp dụng mức số 56/ Thông tư 1216 về bảng giá của bộ xây dựng ban hành: Biểu mẫu số 02. Bảng tính giá vật liệu xây dựng áp dụng từ 1/10/1996 theo thông tư 1216 STT Loại vật liệu, vật tư và trang thiết bị ĐVT Gíá tại hiện trường xây lắp Ghi chú 1 2 3 4 5 1 Cát đổ nền cự ly < 7 km m3 17.350 <10 km m3 18.630 <13 km m3 20.690 >13 km m3 25000 2 Xi măng Hoàng Thạch Tấn 850.000 3 Xi măng Bỉm Sơn Tấn 800.000 4 Xi măng Trắng HPhòng Tấn 1.469.000 5 Xi măng trắng TQuốc Tấn 1.669.000 6 Nhựa đường Singapo Kg 3.000 7 Cát vàng m3 60.000 8 Gạch đặc tư nhân 1000v 270.000 9 Dầu Diezel Lít 3.700 10 Dầu HD40 Lít 10.000 Đánh giá vật liệu, cônng cụ dụng cụ. 2.1. Vật liệu, công cụ dụng cụ của xí nghiệp Xây lắp số 2: Chủ yếu là mua ngoài,ắi nghiệp không tự gia công chế biến được vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất của mình. Đồng thời xí nghiệp cũng không có đội xe để vận chuyển vật tư mua về. Do vậy khi mua vật tư với số lượng lớn và vật tư không qua nhập kho mà đổ tại chân công trình( nơi đơn vị đang thi công) thì chi phí vận chuyển là hoàn toàn do nơi cung cấp chịu, thường thì chi phí này được cộng luôn vào giá mua. Ngoài ra khi xí nghiệp mua nhựa đường hoặc cấu kiện bê tông thì giá bán là giá ghi trên hoá đơn công (+) chi phí vận chuyển, bốc dỡ(nếu có). Ví dụ: theo hoá đơn số 54232 ngày 2/5/2006, xí nghiệp mua nhựa đường của Công ty thiét bị vật tư Bộ giao thông gồm: 100000 kg nhựa đường Singapo giá ghi trên hoá đơn là: 3000 đ/kg (bao gồm cả chi phí vận chuyển bốc dỡ). Thuế suất GTGT của mặt hàng này là 10%. Do đó giá mua thực tế của số nhựa đường này là: 3000đ * 100000kg = 300.000.000 (đ) Nếu vật tư về đến kho mà bộ phận kiểm nghiệm vật tư xác định là vật tư đúng tiêu chuẩn, không bị mất mát, hao hụt gì thì đây chính là giá thực tế nhập kho của vật tư. 2.2 Giá thực tế nguyên vật liệu, CCDC xuất kho. Tại Xí nghiệp Xây lắp số 2, nguyên vật liệu, CCDC xuất kho được tính theo phương pháp bình quân gia quyền. Kế toán căn cứ vào sổ chi tiết của từng loại nguyên vật liệu, CCDC để xác định giá thực tế của nguyên vật liệu, CCDC xuất kho Theo phương pháp này giá thực tế của nguyên vật liệu, CCDC xuất kho được tính theo công thức sau: Trị giá NVL, CCDC xuất kho = Số lượng xuất * Giá bq gia quyền tháng Giá trị tồn đầu + Giá trị nhập trong tháng Giá bq gia quyền tháng = Số lượng tồn đầu + Số lượng nhập trong tháng Trong thực tế, do đặc điểm sản xuất của xí nghiệp nên xí nghiệp chỉ nhập vật liệu chính là nhựa đường còn các loại nguyên vật liệu, CCDC khác mua về không qua nhập kho mà đổ tại chân công trình. Vì vậy, đối với các loại nguyên vật liệu, CCDC này giá thực tế xuất chính là giá thực nhập. Còn nhựa đường xí nghiệp mua về và làm thủ tục nhập kho, sau đó phân bổ cho các đối tượng sử dụng theo phương pháp bình quân gia quyền. Ví dụ: theo phiếu xuất kho số 125 ngày 18/5/2006 xuất kho cho ông Tuấn - đôi duy tu Gia Lâm: 11.770 kg nhựa đường Singapo phục vụ cho việc duy tu tháng 10, kế toán căn cứ vào giá trị thực tế hàng tồn đầu tháng và lượng hàng nhập kho trong tháng thì giá thực tế nhựa đường xuất kho như sau: 83.775.000 + 300.000.000 Giá bq gia quyền tháng 5 = = 3010 (đ/kg) 27.500 + 100.000 Trị giá của số nhựa đường xuất kho = 11.770 * 3010 = 35.427.700(đ) Ví dụ: Trong tháng xí nghiệp có mua CCDC giao cho đội duy tu Gia Lâm đơn giá của quần áo BHLĐ là 46.636 đ/bộ. Thuế suất GTGT: 10%(bao gồm cả chi phí vận chuyển). Do vậy giá của bộ quần áo BHLĐ nhập kho này là: 46.636 đ/bộ. Đây cũng là đơn giá xuất kho của loại CCDC này. Kế toán chi tiết nguyên vật liệu, CCDC ở Xí nghiệp Xây lắp số 2: Xí nghiệp công trình Giao thông 1 HN hạch toán kế toán chi tiết nguyên vật liệu, CCDC theo phương pháp ghi thẻ song song. Theo phương pháp này được tiến hành đồng thời tại kho và phong kế toán. Nhưng ở kho chỉ theo sự biến động về số lượng của nguyên vật liệu, CCDC. Còn ở phòng kế toán sẽ theo dõi chi tiết sự biến động về nguyên vật liệu, CCDC cả mặt số lượng và mặt giá trị. Nhiệm vụ của thủ kho và kế toán nguyên vật liệu, CCDC như sau: 3.1 ở kho: Thủ kho và các nhân viên phục vụ trong kho phải bảo quản toàn vẹn cả về số lượng, chất lượng của từng vật tư.Thủ kho phải nắm vững số lượng và tình trạng chất lượng của nguyên vật liệu, CCDC trong bất kỳ thời điểm nào để kịp thời cấp phát cho các đội sản xuất, đảm bảo cho quá trình được liên tục, tránh tình trạng ngừng sản xuất vì thiếu vật liệu. Hằng ngày thủ kho căn cứ vào phiếu nhập kho, xuất kho để ghi vào thẻ kho theo chỉ tiêu số lượng. Định kỳ bảy ngày một lần thủ kho chuyển toàn bộ các phiếu xuất, nhập kho cho kế toán vật liệu để cho kế toán ghi vào sổ chi tiết nguyên vật liệu, CCDC. Cuối tháng, kế toán nguyên vật liệu sau khi đối chiếu sổ chi tiết nguyên vật liệu của phòng kế toán với thẻ kho, nếu đúng thì hai bên sẽ ký nhận vào cột thẻ kho và sổ chi tiết. Ví dụ: Trong tháng ở kho có thẻ kho về vạt liệu nhựa đường Singapo như sau: Biểu số 8: Thẻ kho Mẫu số: 06 - VT QĐ 1411 - TC/QĐ/CĐ ngày 1/1/1995 Đơn vị: Xí nghiệp Xây lắp số 2 Số thẻ: 1 Kho Sài Đồng - GL. Số tờ: 09 Ngày lập: 1/ 5/ 2006 Danh điểm vật tư Tên vật tư: Nhựa đường Singapo Mã số: 152.1. ĐVT: kg Ngày tháng Số hiệu chứng từ Trich yếu Số lượng ghi chú Nhập Xuất Nhập Xuất Tồn Kiểm kê ngày 1/8 27.500 2/8 05 ô.Bảo mua nhập kho 100000 8/8 110 ĐộiXD 5(ĐườngTXS) 3210 14/8 115 ĐộiXD4 (Láng trung) 6420 16/8 118 Đôị duy Đông Anh 6420 18/8 125 Đội duy tu Gia Lâm 11770 22/8 130 Đội duy tu Sóc Sơn 11770 Cộng 100000 39590 87910 3.2. ở phòng kế toán. Hàng ngày kế toán nguyên vật liệu căn cứ vào phiếu nhập, xuất kho và các chứng từ ở phòng vật tư chuyển đến, phân loại chứng từ theo từng loại vật liệu để làm căn cứ ghi vào sổ chi tiết( dạng tờ rời) của từng loại vật tư. Mỗi chứng từ đựoc ghi vào một dòng tươnng ứng. Đối với nguyên vật liệu, CCDC mua vào, hoá đơn GTGT có thuế đầu vào thì giá trị hàng nhập kho là phần chưa có thuế GTGT, phần thuế GTGT được theo dõi trên TK 133. Căn cứ vào đơn giá mua chưa có thuế GTGT, kế toán ghi đơn giá nhập và tính tổng giá trị nhập trên từng phiếu nhập và trên sổ chi tiết nguyên vật liệu, CCDC. Cuối tháng, kế toán tính ra đơn giá nguyên vật liệu, CCDC xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền. Căn cứ vào đơn giá xuất kho, kế toán ghi đơn giá và thành tiền trên từng phiếu xuất kho, tiếp theo ghi phần tônngr giá trị xuất kho trên sổ chi tiết trên dòng tổng cộng cuối tháng. Từ đó, kế toán tính ra số lượng và giá trị tồn kho cuối tháng. Số lượng tồn kho cuối tháng được đối chiếu với kế toán tổng hợp và thẻ kho. Mỗi loại vật tư được mở một tờ riêng để theo dõi. Phương pháp ghi sổ chi tiết nguyên vật liệu, CCDC được thực hiện như sau: Sổ chi tiết nguyên vật liệu,CCDC gồm 13 cột mỗi cột đảm nhiệm phản ánh một nội dung nhất định. Cột 1 căn cứ vào ngày tháng năm ghi trên các phiếu nhập xuất kho để ghi vào. Cột 2, 3 căn cứ vào số liệu chứng từ trên các phiếu nhập xuất để ghi. Cột 4 phản ánh một cách khái quát nội dung của ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32538.doc
Tài liệu liên quan