Tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm 2003 ở dBB (23tr)

Lời nói đầu Tổ chức thực hiên kế hoạch bảo dảm hậu cần là một nội dung quan trọng của công tác hậu cần.Nó có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoàn thành nhiệm vụ hậu cần trong kỳ kế hoạch.Vì đây là bước quyết định để biến kế hoạch thành hành động và kết quả cụ thể.Đồng thời nó còn là giai đoạn đấu tranh để giải quyết các mâu thuẫn nội tại giữa khả năng với nhu cầu. Tổ chức thực hiện kế hoạch đảm bảo hâu cần năm ở dBB là biểu hiện cụ thể sự quan trọng của nhiệm vụ quân sự ,chính trị ,nghị quyết

doc23 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1594 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm 2003 ở dBB (23tr), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
về công tác hậu cần bằng những hành động tích cực,cụ thể như tổ chức sắp xếp,triển khai lực lượng,chuẩn bị cơ sở vật chất, kỹ thuật,tổ chức hiệp đồng khâu chỉ đạo giữa các mặt công tác trong ngành hậu cần,tổ chức đôn đốc kiểm tra chặt chẽ làm cho các mặt bảo đảm đáp ứng tốt mọi yêu cầu về xây dựng,huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cao.Tạo nên hiệu suất và chất lượng trong công tác hậu cần. Ngược lại,trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần,nếu không được thực hiện một cách nghiêm túc,chu đáo sẽ dẫn tới tình trạng quan liêu ,xa rời thực tiễn của đội ngũ cán bộ hậu cần,Sự thoái thác nhiệm vụ,thực hiện công việc bị chồng chéo của nhân viên,chiến sĩ hậu cần.Đồng thời sẽ không phát huy được chức năng,tác dung của cơ sở vật chất kỹ thuật hậu cần ở tiểu đoàn,dẫn đến việc đơn vị sẽ không hoàn thành được nhiệm vụ công tác hậu cần. Vì vậy,việc nghiên cứu chuyên đề “Tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm ở dBB ” và từ đó rút ra được những bài học kinh nghiệm là hết sức cần thiết và cấp bách. Nghiên cứu chuyên đề nhằm mục đích củng cố lý luận đã được học ở nhà trường.Từ đó nắm chắc và vận dụng linh hoạt,sáng tạo vào tình hình thực tiễn đơn vị để rút ra bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần ở dBB nói chung trong giai đoạn hiện nay. Chuyên đề được đi sâu và làm rõ trên 3 nội dung chủ yếu: Nghiên cứu đặc điểm ,tình hình ,nhiệm vụ hậu cần của dBB nơi thực tập chức trách Nghiên cứu việc tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm 2003 của dBB nơi thực tập chức trách Rút ra những bài học kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện kế hoach bảo đảm hậu cần phục vụ cho quá trình công tác ngay khi ra trường Phạm vi của chuyên đề tâp trung vào nghiên cứu việc tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm 2003 của dBB đủ quân làm nhiệm vụ huấn luyện,xây dựng đơn vị và sẵn sàng chiến đấu trên cơ sở dBB được biên chế nằm trong đội hình của eBB. Quá trình nghiên cứu các nội dung trong chuyên đề tiên hành sử dụng các phương pháp logic,lịch sử,kết hợp với khảo sát tình hình thực tế để xem xét và giải quyết các vến đề. Ngoài phần Lời Nói Đầu và phần kết luận, chuyên đề được kết cấu thành 2 chương cụ thể như sau : Chương I : Đặc điểm ,tình hình,nhiệm vụ công tác hậu cần năm 2003 của dBB6-eBB95-fBB325. Chương II : Kết quả của tổ chức thực hiện kế hoạch hậu cần năm 2003 của dBB6-eBB95-fBB325 Chương I đặc đIểm,tình hình, nhiệm vụ công tác hậu cần năm 2003 của dBB6-ebb95 I, Đặc điểm, tình hình 1,Tình hình chung Đóng quân trên địa bàn xã Thanh Hải ,huyện Lục Ngạn,tỉnh Bắc Giang,dBB6-fBB325-Quân đoàn II là tiểu đoàn cơ động của Bộ,được biên chế đủ quân.Đồng thời còn là tiểu đoàn điểm về công tác hậu cần của sư đoàn ,và là đơn vị nòng cốt của trung đoàn làm nhiệm vụ huấn luyện, xây dựng đơn vị và thường trực sẵn sàng chiến đấu. Với số quân nhân là 480 đồng chí,tiểu đoàn biên chế thành 3cBB ,1 cHL cùng các trung đội trực thuộc khác.Đội ngũ cán bộ toàn tiểu đoàn là 50 đồng chí với 100% là đảng viên,30 % có trình độ đại học , số còn lại được đào tạo cơ bản qua trường quân chính của Quân đoàn. Quân nhân trong toàn tiểu đoàn luôn phát huy được truyền thống của thế hệ đi trước , nêu cao tinh thần, trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ. Luôn được cấp trên trao tặng bằng khen, giấy khen và nhiều phần thưởng cao quý khác. Với đặc điểm là chiến sĩ đã bước sang năm huấn luyện thứ 2 nên phần lớn đều ý thức được trách nhiệm trong quá trình học tập, rèn luyện và công tác, kế thừa và phát huy được kết quả và kinh nghiệm của năm huấn luyện thứ nhất nên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ luôn có nhiều thuận lợi. Với bảng thành tích mà tiểu đoàn đã đạt được trong năm 2002 như : nhất toàn sư đoàn trong hội thao chiến sĩ mới,nhất toàn sư đoàn về bắn AK –đánh thuốc nổ , ném lựu đạn bài 1, nhất toàn trung đoàn về hội thi “ Ngành hậu cần làm theo lời Bác ” … Đồng thời tiểu đoàn còn được bộ quốc phòng trao tặng danh hiệu “Đơn vị có môi trường quang cảnh xanh-sạch -đẹp ”. Với những sự cố gắng và nền tảng đó,trong năm 2003, toàn tiểu đoàn đã ra sức giữ vững và phát huy cao độ kết quả đã đạt được trên cả 4 mặt công tác :Tham mưu , chinh trị , hậu cần , kỹ thuật.Tiểu đoàn xác định rõ phương hướng nhiệm vụ trung tâm trong năm 2003 là : Huấn luyện ,xây dựng đơn vị , sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu cao.Đồng thời tiểu đoàn đã đề ra mục tiêu phấn đấu đạt từ khá trở lên trong tất cả các nhiệm vụ , chú trọng xây dựng ngành hậu cần theo hướng dẫn và chỉ lệnh của cấp trên. 2,Tình hình hậu cần Là tiểu đoàn được xây dựng điểm về công tác hậu cần của sư đoàn nên dBB6 luôn được sự quan tâm , chỉ đạo và hướng dẫn kịp thời của chỉ huy các cấp , đặc biệt là cơ quan ngành hậu cần cấp trên đã tạo điều kiện về con người và vật chất cho tiểu đoàn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Lực lượng hậu cần được tiểu đoàn biên chế 58 đồng chí. Trong đó có 1 trợ lý hậu cần , 1 quản lý kiêm kế toán nhà ăn , 1 nhân viên quân nhu , 1 nhân viên tài chính , 1 tiếp phẩm , 1 y sỹ và 2 y tá.Trung đội phục vụ gồm 27 đồng chí, trong đó có trung đội trưởng và tiểu đội trưởng .Số các đồng chí còn lại được biên chế vào trung đội vận tải bộ , luôn làm nhiệm vụ vận chuyển vật chất cho tiểu đoàn và làm lực lượng thường trực sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu khi có lệnh của cấp trên. Đội ngũ sỹ quan , quân nhân chuyên nghiệp trong lực lượng hậu cần được đào tạo chính quy theo đúng chuyên môn đảm nhiệm , có trình độ nghiệp vụ tương đối cao ,Chiến sỹ nuôi quân được chọn từ những đồng chí có tinh thần trách nhiệm và có khả năng hoàn thành nhiệm vụ . Nhìn chung , cán bộ , nhân viên ,chiến sỹ hậu cần trong tiểu đoàn luôn phát huy được vai trò trong thực hiện nhiệm vụ nên đã đi vào ổn định nề nếp , chế độ . Sẵn sàng nhận và hoàn thành bất cứ nhiệm vụ nào khi được cấp trên giao phó . DBB6 là đơn vị được xây dựng thí điểm đầu tiên về mô hình nhà ở , nhà ăn , nhà bếp , các công trình phục vụ cho sinh hoạt , học tập và vườn rau tập trung trong toàn sư đoàn theo quy định và mẫu thiết kế của bộ quốc phòng , Doanh trại của tiểu đoàn được xây dựng khang trang , sạch đẹp , Tiểu đoàn tổ chức bếp ăn tập trung , nhà ăn , nhà bếp được xây dựng theo mô hình “ Riêng rẽ một chiều ” rất tiện lợi cho quá trình chế biến và nấu nướng phục vụ bộ đội. Vật chất doanh trại và vật chất hậu cần khác có liên quan được trang bị mới hoàn toàn , điện nước luôn đảm bảo cho sinh hoạt thường xuyên của cán bộ , chiên sỹ trong toàn tiểu đoàn. 3,Tình hình khác có liên quan Xã Thanh Hải - huyện Lục Ngạn nơi địa bàn đóng quân của eBB95 thuộc địa hình trung du miền núi phía bắc . Đất đai ở đây rất thích hợp cho các loại cây trồng , đặc biệt là cây vải . Hệ thống sông ngòi trong vùng tương đối phong phú , đa dạng . Nước phục vụ cho nông nghiệp chủ yếu được cung cấp từ sông Chũ. Hệ thống thuỷ lợi trên địa bàn được xây dựng cơ bản đồng bộ ,rất thuận tiện cho việc tưới tiêu của dân cư trong vùng. Là huyện nằm ở phía đông bắc của tỉnh Bắc Giang , huyện Lục Ngạn có khí hậu nhiệt đới gió mùa , một năm ở đây được chia làm 4 mùa rõ rệt , Do tính chất địa lý và đặc điểm của địa hình kết hợp với điều kiện khí hậu , thời tiết tương đối thuận lợi nên phần lớn người dân ở đây đều làm nông nghiệp thuần tuý. Nền kinh tế của huyện nói chung và xung quanh khu vực đóng quân của đơn vị eBB95 nói riêng phát triển rất nhanh so với một số nơi khác trong địa bàn tỉnh . Cách vị trí đóng quân của trung đoàn 4 km là thị trấn Chũ-trung tâm kinh tế , chính trị , văn hoá xã hội của huyện , nơi trao đổi mua bán hàng hoá của cả huyện ,trong đó có eBB95 . Nhân dân trong huyện Lục Ngạn nói chung kinh tế chủ yếu dựa vàocây vải, nó là nguồn thu có tính chất quyết định đến tổng thu nhập của người dân . Bên cạnh đó , cây lúa vẫn được coi trọng . Các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ ngày mọc lên càng nhiều , góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế –xã hội . Tình hình chính rị , trật tự an toàn xã hội trên địa bàn xung quanh khu vực đóng quân của trung đoàn khá ổn định . Người dân ở đây là những người lao động thuần tuý và có tính chịu thương ,chịu khó . Nhiều gia đình có truyền thống yêu nước và tinh thần giác ngộ cách mạng cao . ý thức giữ gìn trật tự an toàn xã hội và tham gia phòng chống bài trừ các tệ nạn xã hội luôn được chính quyền các cấp quan tâm và triệt để tiêu diệt . 4,Thuận lợi , khó khăn Từ những đặc điểm , tình hình nổi bật về đơn vị , về công tác hậu cần và những nét chính về đặc điểm , tình hình trên dịa bàn đóng quân của eBB95 như đã nêu ở trên , trong năm 2003, dBB6-eBB95 xác định những thuận lợi , khó khăn trong công tác tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần như sau: 4.1 Thuận lợi : Phát huy kết quả của công tác bảo đảm hậu cần năm 2002 , đơn vị huấn luyện đã đi vào ổn định và có nề nếp chính quy. Luôn được sự quan tâm, giúp đỡ , uốn nắn và tạo điều kiện thuận lợi của chỉ huy các cấp và cơ quan hậu cần cấp trên , tranh thủ được những ý kiến chỉ đạo của cơ quan hậu cần sư đoàn . Diện tích gieo trồng và chăn nuôi được mở rộng , nhận thức của cán bộ , chiến sỹ về công tác bảo đảm hậu cần ngày càng được nâng cao. Chế độ , tiêu chuẩn bằng nghị định của chính phủ và bộ quốc phòng đã được phê duyệt và thực thi có hiệu quả . Kinh tế xã hội xung quanh địa bàn đóng quân phát triển mạnh mẽ , có ảnh hưởng tích cực đối với công tác hậu cần của tiểu đoàn . Đặc biệt là việc khai thác , tiếp nhận cơ sở vật chất kỹ thuật tại địa bàn nhân dân cơ sở. 4.2 Khó khăn : -Diện tích ao hồ ít , đất đai vườn tập trung mới cải tạo .Cán bộ làm công tác trực tiếp tăng gia sản xuất còn ít kinh nghiệm , trồng trọt , chăn nuôi còn hạn chế. -Phải đầu tư cho chuồng trại lớn , vốn đầu tư cho tăng gia sản xuất có hạn. -Một số khu vực trong tiểu đoàn chưa được xây dưng cơ bản , một số công trình đã xuống cấp do thiếu đồng bộ trong xây dựng và quản lý cơ sở hạ tầng. -Thời tiết thay đổi thất thường làm ảnh hưởng không nhỏ tới công tác bảo đảm hậu cần , nhất là công tác quân y. -Đội ngũ nuôi quân năng lực còn hạn chế , kinh nghiệm của quản lý và bếp trưởng còn non nớt do chính sách luân chuyển cán bộ. II,Nhiệm vụ công tác bảo đảm hậu cần 1,Nhiệm vụ chung Một là :Tổ chức xây dựng hoàn chỉnh kế hoạch SSCĐ (A , A2, PCBL…) theo nhiệm vụ quân sự đã được trung đoàn xác định . Bổ xung hệ thống văn kiện bảo đảm hậu cần ở các đại đội và trung đội trực thuộc phù hợp với nhiệm vụ quân sự của trung đoàn . Tổ chức bảo đảm kịp thời , đầy đủ nhu cầu hậu cần cho trung đoàn hoàn thành các nhiệm vụ trên giao. Hai là : Tổ chức chỉ đạo bảo đảm hậu cần phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới.Giữ vững ổn định và nâng cao chất lượng hiẹu quả các mặt bảo đảm đời sống bộ đội . Tăng cường công tác kiểm tra rút kinh nghiệm , chỉ huy , chỉ đạo chặt chẽ mọi hoạt động của ngành. Ba là : Quản lý chặt chẽ cơ sở vậy chất và kinh phí hậu cần , sử dụng có hiệu quả nguồn ngân sách .Tích cực chủ động khắc phục mọi khó khăn , phát huy nội lực đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống tham ô, lãng phí. Bốn là : Tiếp tục nghiên cứu ,ứng dụng các thành tựu khoa học vào công tác hậu cần theo hướng thiết thực.Đồng thời nâng cao hiệu quả phong trào thi đua “Ngành hậu cần làm theo lời Bác ” ,phát huy sức mạnh tổng hợp , tạo sự chuyển biến tiến bộ toàn diện và vững chắc trong công tác hậu cần ở tiểu đoàn, xây dựng ngành hậu cần vững mạnh toàn diện. 2,Nhiệm vụ cụ thể - Bảo đảm đầy đủ kịp thời mọi cơ sở vật chất kỹ thụât hậu cần cho nhiệm vụ SSCĐ ,đáp ứng mọi kế hoạch A, A2, phòng chống bão lụt, phòng chống cháy nổ… - Giữ vững ổn định đời sống bộ đội ,bảo đảm đầy đủ tiêu chuẩn chế độ về quân lương, quân trang, tiền ăn ,phụ cấp và các chế độ tiêu chuẩn khác cho cán bộ,chiến sỹ,phấn đấu đưa vào ăn thêm ngày lễ, tết 5000 đồng/người/ngày trở lên. - Quản lý sử dụng ngân sách ,kinh phí hậu cần của tiểu đoàn có chất lượng, hiệu quả, tiết kiệm.chống tham ô, lãng phí. - Giáo dục, bồi dưỡng cho chiến sỹ, nhân viên hậu cần có năng lực chuyên môn và thái độ phục vụ đúng đắn. - Đẩy mạnh tăng gia sản xuất , hoàn thiện hệ thống chuồng trại ,tăng đầu lợn lên 120 con, tăng diện tích ao cá và chất lượng chăn nuôi. - Xây dựng và hoàn chỉnh dứt điểm vườn rau tập trung, trồng đa dạng các loại rau, tăng số gốc vải lên 300 cây trên diện tích của tiểu đoàn. - Chú trọng đến chất lượng bữa ăn, tích cực cải tiến chế biến món ăn cho phù hợp. Quyết tâm xây dựng “ Bếp nuôi quân giỏi, quản lý tốt”. - Tổ chức nuôi quân phòng bệnh, phòng dịch, tiếp tục thi đua “ ngành hậu cần làm theo lời Bác” CHương II của Kết quả tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần năm 2003 dBB6 I, kết quả thực hiện các mặt công tác hậu cần Năm 2003 , công tác hậu cần của trung đoàn nói chung và của dBB6 nói riêng đã tập trung cố gắng nỗ lực , hoàn thành khá tốt các mặt công tác hậu cần ,góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mục tiêu cơ bản là giữ vững đời sống bộ đội,mọi chế độ công tác hậu cần đi vào chiều sâu có độ vững chắc bảo đảm tốt nơi ăn ở sức khoẻ của bộ đội ,chuẩn bị tốt mọi cơ sở vật chất hậu cần sẵn sàng chiến đấu cho các lực lượng của tiểu đoàn .Cụ thể: A-Bảo Đảm Hậu Cần Cho Sẵn Sàng Chiến Đấu - Trong năm 2003 tiểu đoàn đã duy trì thường xuyên đủ lực lượng vật chất SSCĐ theo quy định , ,chỉ định ,chỉ thị 41/CT –TM của bộ tổng tham mưu. -Tiểu doàn đã hoàn chỉnh thống nhất về cách xắp đặt gói buộc và tem nhãn theo đúng quy định của cấp trên . -Đã kiện toàn điều chỉnh kịp thời các văn kiện kế hoạch hậu cần cho các nhiệm vụ quan trọng của công tác SSCĐ như :A ,A2 ,PCLB, động viên… -Năm 2003 tiểu đoàn đã làm tốt việc duy trì các chế độ thường trực như trực ban , trực chiến , trực nghiệp vụ Đ Nhược điểm: -Văn kiện cấp đại đội làm chưa thống nhất và chưa đẹp , chưa có sự đầu tư chiều sâu cho nhiệm vụ quan trọng này. -Việc luân phiên đổi hạt có lúc , có giai đoạn còn chưa kịp thời , đặc biệt là thuốc quân y. - Các bTT bảo quản , dự trữ lượng vật chất cho sẵn sàng chiến đấu còn chưa tốt ,còn để chuột cắn ,có đơn vị bổ sung còn chưa kịp thời B-công tác bảo đảm hậu cần thường xuyên i –công tác quân nhu 1.1. – Bảo đảm ăn uống -Trong năm 2003 ,dBB6 đã bảo đảm đủ tiêu chuẩn ,định lượng cho các đối tượng , đáp ứng đủ 3380 kclo/người/ngày. Đưa vào ăn thêm từ TGSX từ 40000 đến 45000đ/người /năm. -Hậu cần tiểu đoàn đã thực hiên thống nhất thực đơn ăn trong trung đoàn .Qua các chấm điểm thi đua tiểu đoàn luôn xếp ở vị trí cao so với các tiểu đoàn và các đơn vị trực thuộc khác. -Đã tích cực cải tiến món ăn ,giảm tỉ lệ đun than xuống còn 600g/người/ngày. Không thâm hụt tại bếp.Cụ thể về định lượng ăn mà hậu cần dBB6 đã thực hiện của một số đối tượng( theo qui định của Quân Đoàn II ) (phụ lục kèm theo) -Đã bảo đảm ăn uống tốt cho dã ngoại , các đợt diễn tập và các nhiệm vụ khác của đơn vị, bảo đảm đủ nước uống mùa hè . -Trong năm, hậu cần tiểu đoàn đã bảo đảm đủ dụng cụ cấp dưỡng, trang thiết bị nhà ăn ,nhà bếp. - Cán bộ hậu cần đã duy trì chặt chẽ chế độ nhà ăn –nhà bếp, xuất nhập tay ba, tài chính công khai, thực đơn kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm. - Đã thực hiện tốt khâu 5 quản,5 chế ,bình xét đạt tiêu chuẩn :”Bếp nuôi quân giỏi, quản ly tốt” - Đã tiếp thu ý kiến đóng góp của bộ đội và giáo dục quan điểm phục vụ tận tình chu đáo .Kịp thời khắc phục khâu yếu, mặt yếu. *Tồn tại: -Trong năm bữa ăn có thời điểm bếp ăn duy trì không đều , cơm có bữa còn sống và khê. -Sử dụng vật chất trang bị DCCD còn để hỏng mất, chưa sửa chữa bổ sung kịp thời. -Tăng gia vườn tập trung giai đoạn đầu năm kém phát triển,chưa nhiều chủng loại rau,nên đưa vào bữa ăn chất lượng chưa cao. - Nước uống mùa hè đi thao trường chưa đủ. - Quản lý thực phẩm đi dã ngoại còn để thâm hụt, mất mát. 1.2 Bảo đảm quân trang -Trong năm hậu cần dBB6 đã bảo đảm đủ tiêu chuẩn quân trang cho các đối tượng tân binh ,cựu binh,quân trang cán bộ S1 đúng cỡ số, màu sắc chủng loại, 380 suất tân binh,50 xuất cán bộ, 325 xuất cựu binh. -Hậu cần tiểu đoàn cũng đã thu hồi cấp phát tập trung đến từng cán bộ, chiến sỹ. -Đã bảo đảm đủ quân trang niên hạn, quân trang chống rét. -Đồng thời với công tác bảo đảm quân trang , hậu cần dBB6 đã quản lý chặt chẽ ,bổ sung kịp thời thiếu mất. -Đã theo dõi chặt chẽ quân số thuyên chuyển .Duy trì chế độ điểm nghiệm theo quy định của từng cấp, từ tiểu đội đến tiểu đoàn , giải quyết dứt điểm tồn đọng. -Đã giáo dục ý thức giữ gìn bảo quản giặt dũ , khâu vá quân trang, công khai chế độ tiêu chuẩn cho mọi cán bộ chiến sỹ . *Tồn tại : -ý thức giữ gìn sử dụng và bảo quản quân trang của một số chiến sỹ còn yếu dẫn đến tìng trạng hư hỏng mất mát. - Giai đoạn chuyển mùa việc bảo đảm quân trang chống rét cho các đối tưọng còn chưa kịp thời do trách nhiệm của nhân viên quân nhu còn chưa cao. 1.3-Công tác tăng gia sản xuất - Đã bảo đảm đủ rau ăn quanh năm không phải mua ngoài.Đã đạt được chỉ tiêu 180 kg rau xanh/người/năm. - Đưa tỷ lệ rau cao cấp lên 70% , rau muống nước lên 80 % , củ quả dự trữ 10% , cây leo giàn một người =1,5m², vườn rau gia vị 1m²/người . 60% đưa vào ăn thêm ngày lễ ,ngày tết ;35% tái sản xuất , 5% sử dụng vào việc khác ,vườn cây lấy lá uống nước , vườn cây rau rừng 30-40% loại cây. - Đã xây dựng xong 4 gian chuồng gà 120m², nuôi 300 con vào tháng 2, lên đến 400 con vào tháng 5.Đã cung cấp được 1/2 số trứng cho tiểu đoàn, củng cố xong đường vôi xỉ khu gia tăng , xây chuồng trại lại và xây thêm 2 gian chuồng lợn 50m² đưa đầu lợn lên 120 con ,Đã đạt được bình quân 3 người /1 đầu lợn , thu hoạch được 20kg thịt lợn xô lọc /người/năm.Đậu ,lạc, vừng 2kg/người/năm -Đã đào thêm ao, nạo vét xong ao hồ thả cá,thu hoạch được 6kg/người/năm. -Thu hoạch gỗ bạch đàn , trồng thêm được 500 cây mới -Đã đưa giá trị thu hoạch TGSX đạt bình quân 350 000đ/người/năm. Đưa vào ăn thêm ngày lễ tết 40 000đ/người/năm *Tồn tại: -Lập kế hoạch TTXS của TLHC/d còn chưa sát đúng ,nhất là vào lúc giao mùa gối vụ. -Việc hoàn thành 2 chuồng lợn, 1 chuồng gà trong tháng 2 còn chưa đúng tiến độ -Tăng gia vườn rau tập trung giai đoạn đầu còn kèm phát triển. 2–Công tác quân y -Trong năm 2003 công tác quân y cuả tiểu đoàn đã hoàn thành tốt nhiệm vụ ,đã củng cố nơi điều trị, mua sắm bảng biểu xây dựng nề nếp chính quy, trang bị cho y sỹ ,y tá của tiểu đoàn. Hội thi y sỹ của tiểu đoàn bổ sung cấp cứu cho thương binh hoả tuyến đạt giảỉ nhất toàn trung đoàn -Quân số khoẻ bảo đảm trên 98,87%, điều trị an toàn ,không có dịch bệnh xảy ra , không có tai biến tử vong tại tuyến.Duy trì nề nếp ,vệ sinh phòng dịch tốt. *Tồn tại Bộ đội sử dụng công trình vệ sinh còn để xuống cấp.Vệ sinh các công trình phụ và môi trường có thời gian chưa tốt, thống kê sổ sách có đơn vị làm chưa kịp thời, xử lý rác thải chưa triệt để 3, Công tác doanh trại -Trong năm đã bảo đảm đủ doanh cụ sinh hoạt, chỗ nằm cho bộ đội ,bảo đảm nước sinh hoạt có nhiều tích cực, cơ bản đủ nước sinh hoạt cho bộ đội ,đã sửa chữa 120 phản nằm, sử dụng điện tiết kiệm,đã khoan được 2 giếng nước -Hậu cần tiểu đoàn cũng đã tích cực chống dột, chống sập, sửa chữa lợp lại 3 gian ngói bị tốc,xây dựng hoàn chỉnh nhà cắt tóc, có cột đèn ,khu khuôn viên nhà chỉ huy tiểu đoàn ,xây dựng môi trường quang cảnh ,bồn hoa thảm cỏ có nhiều chuyển biến *Tồn tại -Công tác giáo dục giữ gìn doanh cụ và ý thức sử dụng vật chất doanh trại còn để xuống cấp, sử dụng sai doanh cụ -Có đại đội còn để thiếu nước sinh hoạt mùa hè, hệ thống van nước còn để hỏng nhiều 4-Công tác vận tảI Với đặc điểm là bVTB/d nhưng lại được gửi huấn luyện tại đại đội vận tải của trung đoàn nên nhìn chung công tác vận tải của dBB6 trong năm 2003 không có nhiều nhiệm vụ.Tuy nhiên , trong kiểm tra, báo động di chuyển hoặc khi tiểu đoàn làm nhiệm vụ đột xuất như :A1, A, PCLB…thì bvtb/d đã tổ chức di chuyển vật chất đảm bảo theo đúng kế hoạch . nhất là trong diễn tập đã làm tốt nhiệm vụ vận chuyển vật chất, vận chuyển thương binh, bệnh binh với kết quả khá tốt. 5-Công tác quản lý hậu cần -Năm 2003 hậu cần tiểu đoàn đã quản lý chặt chẽ các vật chất trang bị, quân trang , doanh trại, không để hư hỏng và xuống cấp nhiều. -Đã quản lý từ khi nhập đến khi xuất tới tận bữa ăn và người sử dụng.Tích cực tạo ga, hạ thấp tỷ lệ đun than xuống còn 100gam/người/ngày. -Đăng ký thống kê kịp thời ,điểm nghiệm theo quy định định kỳ -Đã sửa chữa khắc phục kịp thời vật chất hư hỏng, bổ sung đủ theo quy định. *Tồn tại: -Thực hiện chế độ cân đong tay ba ,chế độ kiểm tra có thời gian còn chưa có hiệu quả. -Việc quản lý vật chất còn chưa chặt chẽ dẫn đến hư hỏng và mất mát -Việc đóng, cắt điện của các đơn vị còn chưa đúng giờ quy định,sử dụng nước sinh hoạt còn lãng phí. 6-Công tác xây dựng ngành: -Duy trì huấn luyện đủ nội dung,thời gian chương trình huấn luyện .Qua kiểm tra hội thao có 80% đạt loại khá ,giỏi về : mắc tăng võng ,tiêu chuẩn chế độ,… -Có đầy đủ kế hoạch , giáo án phục vụ huấn luyện. -Tham gia các hội thi ,hội thao, diễn tập đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. -Đã duy trì tốt chế độ nề nếp công tác hậu cần.Xứng đáng là tiểu đoàn điểm về công tác hậu cần của toàn sư đoàn *Tồn tại: Một số đơn vị huấn luyện chưa nghiêm túc .Qua kiểm tra ,chiến sỹ còn lóng ngóng khâu thực hành. Trong năm 2003,hậu cần của dBB6 đã hoàn thành tương đối tốt nhiệm vụ, kế hoạch đã đề ra.Các nhiệm vụ đã hoàn thành tốt như công tác quân nhu,công tác quân y và công tác doanh trại.Góp phần không nhỏ vào việc hoàn thành nhiệm vụ chung của tiểu đoàn, xứng đáng là tiểu đoàn điểm về công tác hậu cần của sư đoàn .So sánh với mục tiêu và kế hoạch công tác hậu cần 2003 đề ra, hậu cần dBB6 đã hoàn thành nhiệm vụ ở mức tốt. II-nguyên nhân: Để có được kết quả trên,ngoài sự cố gắng phấn đấu không biết mệt mỏi của cán bộ chiến sỹ hậu cần trong tiểu đoàn còn có sự quan tâm chỉ huy ,chỉ đạo kịp thời của cấp trên,Đặc biệt là chỉ huy tiểu đoàn và cơ quan hậu cần trung, sư đoàn, Tuy nhiên ngoài yếu tố quan trọng đó , hậu cần dBB6 đã biết phát huy nội lực ,làm tốt việc tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần trong từng khâu, trong giai đoạn cụ thể như sau: Một là: Trong tổ chức triển khai thực hiên kế hoạch Ngay sau khi kế hoạch hậu cần năm được phê chuẩn. Cán bộ hậu cần tiểu đoàn mà trực tiếp là đồng chí TLHC/d đã tổ chức phổ biến đến từng đối tượng làm cho tất cả những người có trách nhiệm thực hiện đều quán triệt được mục đích , ý nghĩa , yêu cầu , hiểu rõ nội dung của kế hoạch , nắm vững những mục tiêu cơ bản, những nhiệm vụ và chỉ tiêu chủ yếu , những công tác trọng tâm , trọng điểm khâu then chốt cần phải tập trung lực lượng , khả năng để giải quyết trong kì kế hoạch . Đồng thời để có được kết quả đó , hậu cần dBB6 đã tổ chức hiệp đồng giữa các lực lượng thật chặt chẽ và khoa học , giải quyết những vấn đề bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch cấp trên và các ngành chuyên môn , đơn vị dã bàn bạc và thống nhất về các biện pháp cụ thể và thiết thực đã quy dịnh rõ trách nhiệm , quyền hạn của từng cấp, phối hợp hành động trong quá trình thực hiện .Qua việc hợp đồng, sự chỉ đạo của cấp trên đã đi sâu giải quyết nhữnh vấn đề cụ thể giúp cho cấp dưới có điều kiện thực tế hoàn thành kế hoạch .Hậu cần dBB6 đã tổ chức hiệp đồng một cách chặt chẽ liên tục nhằm bảo đảm những nội dung, biện pháp hiệp đồng đã được thực hiện đầy đủ nghiêm chỉnh . Hai là: Trong quá trình đôn đốc kiểm tra Hậu cần dBB6 đã xác định theo dõi ,đôn đốc kiểm tra việc thực hiện kế hoạch là nội dung cơ bản bậc nhất của công tác quản lý kế hoạch ,vì đây là khâu khó khăn phức tạp nhất,là giai đoạn đấu tranh để giải quyết các mâu thuẫn mới phát sinh để đảm bảo cho kế hoạch được thực hiện . Việc theo dõi đã được tiến hành ngay từ khâu lập kế hoạch và trong suốt cả quá trình tổ chức thực hiện. Hậu cần dBB6 đã nắm chắc được tình hình chung một cách chính xác, p thời, toàn diện ,phân tích khoa hoc các hoạt động Kế hoạch hậu cần đề ra nhiều mặt công tác, nhiều công việc phải làm và trong thực hiện có những diễn biến phức tạp.Xác định được như vậy ,hậu cần dBB6 đã thường xuyên tổ chức theo dõi ,kiểm tra chặt chẽ ,toàn diện từ khi bắt đầu đến khi sơ kết,Qua theo dõi kiểm tra đã phát hiện kịp thời các khâu yếu và đã tìm cách khắc phục thúc đẩy việc hoàn thành kế hoạch. Ba là: Trong quá trình giải quyết các phát sinh Khi xây dựng kế hoạch, hậu cần dBB6 dã dự kiến được nhiều tình huống xảy ra ,Tuy nhiên ,trong qua trình thực hiện dự án không thể ăn khớp với thực tế.Ngay khi kế hoạch vừa được dây dựng xong đã có nhiều nhân tố mới xuất hiện,như :Sập 2 gian chuồng lợn hồi đầu tháng 2 ,cá bị chết hàng loạt hồi đàu tháng 3…cho nên hậu cần dBB6 đã phải theo dõi nắm chắc tình hình và đã kịp thời bổ sung ,điều chỉnh kế hoạch , hạn chế đựơc những nhân tố tiêu cực , phát huy những nhân tố tích cực, khắc phục những khó khăn ,mâu thuẫn nội tại ảnh hưởng tới việc thực hiện các chỉ tiêu trong kế hoạch Bốn là Trong báo cáo, sơ kết ,tổng kết Hậu cần dBB6 ngay những ngày đầu của kỳ kế hoạch đã xác định :Báo cáo ,sơ kết, tổng kết nhằm đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ,chỉ tiêu kế hoạch qua từng thời kỳ .Thông qua đó mới có căn cứ nhận xét, phân tích tình hình được kịp thời, chính xác, nhận rõ mặt mạnh mặt yếu và rút kinh nghệm, tiếp tục chỉ đạo việc thực hiện kỳ kế hoạch sau được tốt hơn. Sau khi kết thúc mỗi kỳ kế hoạch, hậu cần dBB6 đã thực hiện chế độ báo cáo quyết toán kế hoạch;báo cáo tổng kết toàn bộ hoạt động trong kỳ kế hoạch , đối chiếu kết quả thực hiện với mục tiêu của kế hoạch, rút ra những kết luận chính xác, đánh giá được những ưu điểm ,nhược điểm . Thông qua báo cáo ,sơ kết, tổng kết đã phát hiện được những nhân tố mới điển hình mới để biểu dương ,khen thưởng kip thời ,phát hiện ra những hạn chế để triệt để khắc phục Trên đây là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến kết quả tương đối tốt của việc tổ chức thực hiên kế hoạch hậu cần năm 2003 của dBB6 .Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn còn một số vấn đề cần khắc phục trong các kỳ kế hoạch tiếp theo như sau : Một là: Trong tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch Việc xây dựng kế hoạch đã là quan trọng,song trong qrá trình triển khai thực hiện còn quan trọng hơn,Nhưng đối chiếu với kết quả mà hậu cần dBB6 đã đạt được trong năm 2003 thì việc phổ biến kế hoạch hiệp đồng với các lực lượng tuy đã làm song còn sơ sài ,đơn giản dẫn đến tình trạng có nhiều bộ phận chưa hiểu rõ nhiệm vụ cũng như việc thực hiện công việc còn bị chồng chéo chưa khoa học, nhất là trong công tác TGSX và công tác huấn luyện , xây dựng ngành. Hai là : Trong quá trình theo dõi đôn đốc ,kiểm tra Cần xây dựng được một hệ thống thông tin thống nhất,có đủ khả năng phản ánh tình hình công tác hậu cần,việc so sánh thường xuyên đúng đắn những kết quả từng bước thực hiện kế hoạch với các chỉ tiêu còn chưa làm được dẫn đến hiêu quả trong việc điều chỉnh và quản lý kế hoạch chưa cao. Cần vận dụng các phương pháp kiểm tra khoa học như : phương pháp phân tích , ngoại suy , tương quan , định mức , cân đối…để thực hiện. Vẫn còn tình trạng kiểm tra sơ sài , giản đơn dẫn đến các đơn vị và cá nhân được kiểm tra chưa có tinh thần đấu tranh với các hiện tượng sai trái. Ba là : Trong quá trình giải quyết các phát sinh Trong thực hiện nhiệm vụ, việc thay đổi các chỉ tiêu ,pháp lệnh còn tuỳ tiện,việc báo cáo với cấp trên có thẩm quyền còn sai sót .Khâu tổ chức hiệp đồng sau khi đã điều chỉnh kế hoạch còn làm chưa tốt , dẫn đến các cơ quan đơn vị có trách nhiệm thực hiện chưa nắm chắc được tình hình như trong công tác TGSX và công tác quân nhu. Bốn là : Trong báo cáo, sơ kết, tổng kết Còn chưa coi trọng việc nhận xét, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch, chưa nêu ra được rõ ràng các nguyên nhân chủ quan,khách quan dẫn đến việc phát hiện ,bồi dưỡng ,nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các đối tượng có liên quan gặp nhiều khó khăn do chưa tìm ra các giải pháp thích hợp. Việc báo cáo lên cấp trên có lúc còn chưa kịp thời ,còn thụ động trong xử trí các công việc đột xuất xảy ra III- Một số kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện kế hoạch Một là: Phải coi trọng khâu triển khai, hiệp đồng thực hiện kế hoạch đã được người chỉ huy phê duyệt . làm cho đơn vị và người có trách nhiệm thực hiện quán triệt được mục đích ,ý nghĩa , yêu cầu và nội dung của kế hoạch. Đồng thời phải chú trọng khâu hiêp đồng .Vì khi nhận thức đã thông suốt, việc hiệp đồng giữa các lực lượng sẽ giải quyết các vấn đề bảo đảm cho việc thực hiện kế hoạch ,làm cho các ngành có liên quan ,các đơn vị và người thực hiện bàn bạc thống nhất về các chỉ tiêu và biện pháp cụ thể giúp cho quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch hậu cần được thông suốt va có hiệu quả cao nhất . Hai là : Duy trì chặt chẽ các chế độ báo cáo , thống kê , kiểm tra …theo đúng quy định, thống nhất về nội dung và hình thức, từng người, từng đơn vị phải phản ánh tình hình thực hiện kế hoạch hậu cần của mình với cấp trên bằng tinh thần ,trách nhiệm và ý thức kỷ luật cao. Như vậy cấp trên sẽ tổng hợp được những nét chung mang tính tổng quát và chỉ ra được xu hướng phát triển của quá trình tổ chức thực hiện . Ba là : Giải quyết kịp thời các phát sinh trong kỳ kế hoạch ,kịp thời rút kinh nghiệm , nâng cao năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch hậu cần cho cán bộ-chiến sỹ Có như vậy mới bảo đảm cho việc thực hiện được thông suốt, không bị ùn tắc, chồng chéo công việc.Cho nên phải theo dõi ,nắm chắc tình hình để kịp thời bổ sung, điều chỉnh kế hoạch ,hạn chế những tiêu cực. Bốn là : Xác định đúng và chú trọng công tác trọng tâm, coi trọng chỉ đạo điểm trong tổ chức thực hiện kế hoạch. Năm là : Nâng cao trình độ và tác phong chỉ huy của cán bộ hậu cần, chú trọng vào việc sơ kết , tổng kết, rút kinh nghiệm trong thực hiện kế hoạch hậu cần .Bởi vì thông qua sơ kết , tổng kết sẽ có căn cứ nhận xét , đánh giá tình hình được kịp thời, chính xác ,nhận rõ được mặt mạnh , mặt yếu và rút kinh nghiệm chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần các năm tiếp theo Kết luận Tổ chức thực hiện ké hoạch bảo đảm hậu cần năm ở dBB là một mặt công tác cơ bản và quan trọng nhất của công tác hậu cần.Nhằm điều khiển phối hợp sự hoạt động công tác của nhiều ngành, nhiều đơn vị trong một thời gian nhất định để thực hiện cho được nhiệm vụ chỉ tiêu của kỳ kế hoạch. Tiến hành tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm hậu cần không thể giản đơn .Trái lại, phải nắm vững và vận dụng có ý thức những quy luật khách quan của chủ nghĩa xã hội.Đặc biệt là quy luật phát triển có kế hoạch và cân đối, quy luật c._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docNKT238.Doc
Tài liệu liên quan