Trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyến bố phá sản doanh nghiệp

Lời nói đầu Hiện nay, sự hội nhập của Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới là một xu thế khách quan, tất yếu và có tính qui luật. Trong tình hình đó, bên cạnh những thành quả, thành tựu nhất định mà nước ta đã đạt được thì cũng như các quốc gia khác trên thế giới, chúng ta phải đứng trước những thử thách về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền tảng để đến năm 2020 nước t

doc55 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1183 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyến bố phá sản doanh nghiệp, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
a cơ bản trở thành một nước công nghiệp. Sự phát triển của nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào sự vận động nhanh, thuận lợi của nguồn vốn. Chính vì vậy, trong nền kinh tế với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh đa dạng, quyền bình đẳng và tự do được pháp luật bảo đảm. Trong những năm qua, những thành tựu đã đạt được chứng tỏ tính đúng đắn của đường lối đổi mới kinh tế ở nước ta. Tuy nhiên những quy luật của nền kinh tế thị trường đang gây ảnh hưởng lớn cho nền kinh tế đặc biệt là quy luật cạnh tranh. Những hậu quả do nó để lại đòi hỏi chúng ta phải sớm khắc phục một cách có hiệu quả để làm lành mạnh nền kinh tế. Nước ta đang trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, tình hình kinh tế có nhiều biến động, việc thích nghi với nó để đứng vững trên thương trường là rất khó khăn đối với các doanh nghiệp đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước. Vì lẽ những doanh nghiệp còn chưa quen với môi trường kinh doanh mới, bị cạnh tranh, nguồn vật tư không ổn định, quản lý kinh doanh kém nên dẫn đến các doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn dẫn đến phá sản. Việc điều chỉnh những quan hệ này vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính riêng biệt mà không thể sử dụng các văn bản giải thể để xử lý được, do đó sự ra đời của luật phá sản là một tất yếu khách quan trong nền kinh tế thị trường. Phá sản doanh nghiệp và luật phá sản doanh nghiệp là những vấn đề phức tạp đòi hỏi phải được xem xét trên cơ sở thực tiễn và quan điểm lý luận tiến bộ. Đề tài khoá luận Tôi chọn “Trình tự thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết yêu cầu tuyến bố phá sản doanh nghiệp ” nhằm đánh giá những vấn đề lý luận và thực tiễn của phá sản và luật phá sản doanh nghiệp, làm sáng tỏ một số nội dung của luật phá sản để sớm đưa luật phá sản vào cuộc sống. Khoá luận đi sâu vào một số nội dung sau: Chương I : Khái niệm phá sản doanh nghiệp và pháp luật về phá sản. Chương II : Trình tự thủ tục tố tụng phá sản doanh nghiệp. Chương III: Những đánh giá và kiến nghị. Hoàn thành bản khoá luận này, Tôi đã tiếp thu những ý kiến đóng góp bổ ích từ các Thầy, Cô giáo và các học viên. Do còn hạn chế về nhiều mặt, thời gian và thông tin có liên quan đến đề tài còn chưa đầy đủ nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi mong sự góp ý của Thầy, Cô giáo nhằm nâng cao chất lượng khoá luận và làm cơ sở cho công tác nghiên cứu sau này. Tôi xin trân trọng cám ơn ! Học viên Nguyễn Văn ánh Chương I Khái niệm phá sản doanh nghiệp và pháp luật về phá sản. 1. Khái niệm phá sản doanh nghiệp. Nói đến phá sản doanh nghiệp, người ta hình dung ngay tới tình trạng làm ăn thua lỗ và mất khả năng thanh toán nợ đến hạn của doanh nghiệp. ở Châu Âu người ta dùng từ “ Bankrupcy” hoặc “Banqueroute” để chỉ sự phá sản. Hai danh từ này bắt nguồn từ chữ “ Bancarotta” của La Mã có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy” điều này liên quan tới việc thời đó các thương gia trong cùng một thành phố thường họp nhau lại, người nào mất khả năng thanh toán nợ thì cũng mất luôn quyền tham gia đại hội thương gia và do đó chiếc ghế ngồi của anh ta cũng bị đem ra khỏi hội trường. Ngày nay, ở hầu hết các nước trên thế giới, tình hình kinh doanh không thành công, do đó lâm vào tình trạng phá sản là một hiện tượng khá phổ biến và được chấp nhận như một hiện tượng tất yếu. Trong nền kinh tế thị trường với sự tác động của quy luật cạnh tranh, việc các doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản là kết quả của một thời kỳ gặp khó khăn, thua lỗ trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến khả năng tài chính không đủ để thanh toán các khoản nợ của mình. Phải khẳng định rằng, không doanh nghiệp nào muốn rơi vào tình trạng phá sản, nhưng nhiều doanh nghiệp kể cả những doanh nghiệp “sừng sỏ” trên thế giới cũng khó tránh khỏi. Nguyên nhân dẫn đến phá sản muôn hình muôn vẻ bởi nếu như có hàng ngàn cách kinh doanh làm giàu thì cũng có hàng ngàn nguyên nhân dẫn đến phá sản có thể do sản xuất kinh doanh tồi, có thể do xác định chiến lược sai, do đổi mới công nghệ chậm hoặc do quá hiếu chiến mà bị vấp ngã... Đối với các nhà pháp lý, phá sản doanh nghiệp được coi như một hiện tượng kinh tế xã hội phức tạp mà pháp luật cần phải quan tâm điều chỉnh. Mỗi khi doanh nghiệp bị phá sản thì những doanh nghiệp bạn hàng cũng bị ảnh hưởng và do đó ảnh hưởng xấu đến tiến trình sản xuất của toàn xã hội. Để giải quyết vấn đề phá sản còn liên quan tới nhiều ngành luật như: Dân luật, hình luật, luật kinh tế, tài chính, lao động... Vì trong quá trình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp luôn có quan hệ mua bán trao đổi với nhau, vay mượn vốn ngân hàng, thuê mướn lao động... Do đó khi giải quyết phá sản không tránh khỏi xảy ra những tranh chấp trong các lĩnh vực nói trên. Để hiểu rõ hơn về khái niệm phá sản doanh nghiệp, chúng ta tham khảo quan niệm về phá sản của một số quốc gia trên thế giới: Theo ngôn ngữ chung trong luật phá sản của nhiều nước hiện nay: phá sản là tình trạng doanh nghiệp (pháp nhân hoặc tư nhân) không có khả năng nộp thuế và thanh toán các khoản nợ trong thời hạn quy định. Hầu hết pháp luật các nước đều coi tình trạng không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn là căn cứ để xác định một doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản hay không. * ở Anh: Luật không có khả năng thanh toán (Isolvency Act) và luật đình chỉ giám đốc công ty (company director - disqualification Act) và luật năm 1986 quy định: Khi các doanh nghiệp (công ty) có giá trị tài sản thấp hơn số nợ phải trả (hiện tại và tương lai) đều bị liệt vào loại không có khả năng thanh toán. Cũng như Pháp, Mỹ ở Anh không có khả năng thanh toán chưa có nghĩa là doanh nghiệp bị xếp vào loại phá sản. Các nước này còn dành một thời gian nhằm khôi phục hoạt động của doanh nghiệp. Sau thời gian này nếu doanh nghiệp không khôi phục lại khả năng thanh toán, không trả được nợ thì bị tuyên bố phá sản. * ở Pháp: Luật phá sản của Pháp ngày 25/01/1985 không định nghĩa rõ sự mất khả năng thanh toán nợ. Điều 3 của luật chỉ quy định rằng thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản sẽ áp dụng cho các doanh nghiệp không có khả năng thanh toán nợ bằng những tài sản sẵn có của mình. * ở Bỉ: Một doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ là doanh nghiệp không trả được nợ đến hạn, bị mất uy tín về mặt tài chính, tức là không còn đủ tài sản để đảm bảo các số nợ của mình hoặc kiếm cách trả nợ bằng các phương pháp bất thường. Đối với một cá nhân thì luật pháp không phân biệt các món nợ có tính dân sự hay kinh tế. * ở Tây Ban Nha: Pháp luật có quy định rằng doanh nghiệp bị mất khả năng thanh toán nợ là khi không thể thanh toán tất cả các số nợ đã đến hạn. Trường hợp chỉ trả một phần số nợ vẫn bị coi là mất khả năng thanh toán. * ở Hung-ga-ri: Luật phá sản Hung-ga-ri năm 1991 quy định: nếu doanh nghiệp bị rơi vào một trong những trường hợp sau đây đều bị xếp vào loại không có khả năng thanh toán: - Sau 60 ngày không trả được lương cho các cán bộ công nhân viên của mình hoặc quá hạn 30 ngày không trả được nợ cho các chủ nợ mà con nợ không có thảo luận gì hoặc thấy trước không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong vòng 1 năm. - Đã có lệnh buộc phải trả nợ nhưng hết hạn vẫn chưa trả được nợ. - Không thực hiện đúng các cam kết với các chủ nợ trước pháp luật. * ở Trung Quốc: Theo luật phá sản Trung Quốc 1986, trong vòng 6 tháng kể từ khi có đơn yêu cầu phá sản mà doanh nghiệp mắc nợ không trả được thì bị xếp vào loại phá sản. * ở Xing-ga-po: Luật phá sản (Act of Bankrupcy) năm 1985 của Xing-ga-po lại quy định 10 trường hợp cụ thể, nếu con nợ (doanh nghiệp) bị rơi vào 1 trong 10 trường hợp đó sẽ bị coi là phá sản. Tuy những khái niệm về phá sản doanh nghiệp ở các nước rộng hẹp khác nhau, nhưng các doanh nghiệp (công ty, xí nghiệp) ở các này muốn được tuyên bố phá sản đều phải tuân theo một thủ tục nhất định. Thủ tục đầu tiên là chủ nợ hay con nợ phải làm đơn yêu cầu toà án tuyên bố phá sản. Toà án phải cử người quản lý doanh nghiệp mắc nợ, thụ lý hồ sơ, sau đó thông báo công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để các chủ nợ, con nợ và những người liên quan biết, thông báo ngày tổ chức hội nghị chủ nợ, thảo luận phương án tháo gỡ khó khăn. Nếu thấy vô phương cứu chữa thì yêu cầu toà án tuyên bố phá sản công khai để các chủ nợ kịp thời đến kê khai hoặc gửi đơn đến toà án yêu cầu ghi nhận phần tài sản (số nợ) của mình ở doanh nghiệp bị phá sản trong một thời hạn nhất định. * ở Việt Nam: Trước khi có luật doanh nghiệp ngày 30/12/1993 có hiệu lực ngày 1/7/1994 thì quan niệm : “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản” đã được phản ánh ở luật doanh nghiệp tư nhân và luật công ty ban hành cùng ngày 21/12/1990 tại điều 17 và điều 24 như sau: “Doanh nghiệp (công ty) gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong sản xuất kinh doanh đến mức tại một điểm tổng số giá trị các tài sản còn lại của doanh nghiệp không đủ thanh toán tổng số các khoản nợ đến hạn là doanh nghiệp (công ty) lâm vào tình trạng phá sản ”. Dấu hiệu cơ bản nhất để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là tại một thời điểm tổng giá trị các khoản nợ lớn hơn giá trị của tổng số các tài sản có của doanh nghiệp. Luật phá sản doanh nghiệp, luật sửa đổi một số điều của luật công ty và luật doanh nghiệp tư nhân ngày 22/6/1994 đã xác định lại một cách rõ ràng khái niệm: “Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản ” như sau: doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh sau khi áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn bị mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Như vậy, dấu hiệu đặc trưng cơ bản để xác định doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản là mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Hai dấu hiệu gặp khó khăn, bị thua lỗ trong kinh doanh và đã áp dụng các biện pháp tài chính cần thiết chỉ là dấu hiệu bổ sung cho việc xác định tình trạng mất khả năng thanh toán mà thôi. Để tạo điều kiện cho việc xác định tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn điều 3 Nghị định 189 CP ngày 23/12/1994 đã xác định rõ hai dấu hiệu phụ này: “doanh nghiệp được coi là có dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản... nếu kinh doanh thua lỗ trong 2 năm liên tiếp đến mức không trả được các khoản nợ đến hạn, không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hợp đồng lao động trong 3 tháng liên tiếp”. Khi xuất hiện các dấu hiệu lâm vào tình trạng phá sản doanh nghiệp phải áp dụng các biện pháp cần thiết như: - Có phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, quản lý chặt chẽ các khoản chi phí, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm. - Có biện pháp xử lý hàng hoá sản phẩm vật tư tồn đọng. - Thu hồi tài sản bị chiếm dụng và các khoản nợ. - Thương lượng với các chủ nợ để hoãn nợ, mua nợ, bảo lãnh nợ, giảm xoá nợ. - Tìm kiếm các khoản tài trợ và các khoản vay để trang trải nợ đến hạn và đầu tư đổi mới công nghệ. Dấu hiệu mất khả năng thanh toán là dấu hiệu đặc trưng làm căn cứ để toà án quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản còn việc xác định thế nào là mất khả năng thanh toán sẽ đề cập đến phần sau của khoá luận. Tóm lại: phá sản là khái niệm dùng để chỉ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản mà dấu hiệu đặc trưng nhất là mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Tuy nhiên, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản chưa hẳn bị phá sản, nó chỉ được coi là bị phá sản khi đã tiến hành một thủ tục tố tụng nhất định và có sự phán quyết của cơ quan toà án. * Phá sản là một thủ tục thanh toán đặc biệt. Luật phá sản doanh nghiệp ngày 30/12/1993 có hiệu lực pháp luật ngày 1/7/1994 gồm 6 chương 52 điều. Trong đó có 4 chương với 41 điều ghi nhận thủ tục giải quyết việc phá sản doanh nghiệp - thủ tục thanh toán nợ đặc biệt. Tính đặc biệt của thủ tục này được xác định bởi tính chất của quan hệ chủ nợ với doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Tính đặc biệt trong thủ tục phá sản doanh nghiệp được biểu hiện ở chỗ: * Việc thanh toán các khoản nợ được tiến hành trên cơ sở số tài sản còn lại củadoanh nghiệp, các chủ nợ được xếp thứ tự ưu tiên theo quy định của pháp luật trong việc phân chia giá trị tài sản còn lại của doanh nghiệp. * Việc đòi nợ và thanh toán các khoản nợ được tiến hành thông qua một cơ quan đại diện có thẩm quyền. Điều đó có nghĩa là khi cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục phá sản thì mối quan hệ đòi nợ và thanh toán trực tiếp không được diễn ra, các chủ nợ không được xé lẻ để đòi nợ hoặc thanh toán. Giữa chủ nợ và con nợ tồn tại một cơ quan đại diện (Toà án kinh tế hoặc cơ quan Thi hành án), cơ quan này sẽ đại diện cho chủ nợ để đòi con nợ. Đồng thời đại diện cho con nợ để thanh toán cho các chủ nợ. * Việc thanh toán chỉ được tiến hành sau khi có quyết định của Toà án. Điều này hoàn toàn khác so với đòi nợ trong dân sự. Trong dân sự việc thanh toán được diễn ra bất cứ lúc nào kể cả vụ việc đó được đưa ra xét xử trước phiên toà. Còn trong phá sản, kể từ khi toà án mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản, con nợ và chủ nợ không được tiến hành thanh toán cho nhau. Họ chỉ được thanh toán các khoản nợ sau khi có quyết định của toà án. Cơ quan thi hành án thực hiện việc thanh toán theo quyết định tuyên bố phá sản đó. Như vậy, hậu quả pháp lý mà doanh nghiệp phải gánh chịu sau khi tuyên bố phá sản là xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh. 2. Pháp luật về phá sản: ở Việt Nam, kể từ khi chuyển đổi sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, xuất hiện nhiều loại hình doanh nghiệp khác nhau thuộc mọi thành phần kinh tế như doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, các công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài... Chúng cùng tồn tại, hoạt động sản xuất kinh doanh bình đẳng trước pháp luật và cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật. Bên cạnh việc các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, mang lại những lợi ích kinh tế, tạo sự ổn định và phát triển cho nền kinh tế đất nước, thì cũng không tránh khỏi việc các doanh nghiệp do quản lý làm ăn kém, cơ chế lỏng lẻo hoặc do những lý do khác nhau mà làm ăn thua lỗ, nợ nần chồng chất dẫn đến không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn và lâm vào tình trạng phá sản. Điều này được pháp luật nước ta phản ánh thông qua các văn bản quy phạm pháp luật (Văn bản luật và dưới luật). Trước khi có Luật phá sản doanh nghiệp (30/12/1993), cùng với việc thừa nhận quan niệm công ty và doanh nghiệp tư nhân, quan niệm phá sản doanh nghiệp (công ty) cũng được ghi nhận trong hai đạo luật ban hành cùng ngày 21/12/1990, đó là Luật doanh nghiệp tư nhân và Luật công ty. Song hai văn bản này cũng mới dừng lại ở sự ghi nhận phá sản là một hiện tượng tất yếu của kinh tế thị trường-nêu ra định nghĩa chung thế nào là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Pháp luật cũng chưa có những văn bản cụ thể điều chỉnh vấn đề này. Vì thế gặp nhiều khó khăn trong khi xử lý những doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, doanh nghiệp mắc nợ và những người có liên quan, xác định trách nhiệm của doanh nghiệp mắc nợ khi giải quyết việc phá sản doanh nghiệp, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo trật tự, kỷ cương xã hội, ngày 30/12/1993 Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật phá sản doanh nghiệp-đáp ứng đòi hỏi bức xúc của nền kinh tế thị trường. Luật gồm 6 chương 52 điều, trên cơ sở vừa áp dụng những nguyên tắc quốc tế về phá sản vừa kết hợp tính thời đại và tính dân tộc nó thực sự là cơ sở pháp lý cần thiết cho các doanh nghiệp đang hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, kể cả Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhắc nhở các doanh nghiệp thận trọng và kinh doanh có hiệu quả hơn. Đối tượng điều chỉnh của luật phá sản doanh nghiệp: Luật phá sản doanh nghiệp 30/12/1993 vừa chứa đựng những quy phạm pháp luật về nội dung vừa chứa đựng những quy phạm pháp luật về hình thức, có nghĩa là nó vừa quy định những quyền và nghĩa vụ của các bên chủ nợ, con nợ và những chủ thể khác có liên quan trong việc giải quyết phá sản doanh nghiệp, vừa quy định trình tự, thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp. Như vậy, đối tượng điều chỉnh của luật phá sản doanh nghiệp gồm hai quan hệ chủ yếu sau: * Quan hệ giữa chủ nợ và con nợ: + Chủ thể: các bên trong quan hệ này gồm có chủ nợ và con nợ (doanh nghiệp mắc nợ). - Chủ nợ: trong luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam số chủ nợ được phân chia thành 3 loại: . Chủ nợ có đảm bảo: Là chủ nợ có khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. . Chủ nợ có bảo đảm một phần là: Chủ nợ có khoản nợ được bảo đảm bằng tài sản của doah nghiệp mắc nợ mà giá trị tài sản bảo đảm ít hơn khoản nợ đó. . Chủ nợ không có bảo đảm: Là chủ nợ có khoản nợ không bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. - Con nợ (tức doanh nghiệp mắc nợ): Con nợ được hiểu là doanh nghiệp không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, họ có thể trực tiếp tham gia tố tụng hoặc có thể uỷ quyền cho “ đại diện hợp pháp của doanh nghiệp” đây là người được chủ sở hữu doanh nghiệp uỷ quyền theo quy định của pháp luật (điều 3). Người này được thay mặt chủ doanh nghiệp trong các giai đoạn của quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp. Theo điều 7 của Nghị định 189 CP thì đại diện hợp pháp của doanh nghiệp có thể là những người sau: Đại diện đương nhiên (theo pháp luật) gồm: - Chủ tịch Hội đồng quản lý đối với doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp của các tổ chức chính trị xã hội, trường hợp các doanh nghiệp này không có hội đồng quản lý thì đại diện theo pháp luật sẽ là Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. - Chủ tịch Hội đòng quản trị đối với các Công ty cổ phần, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, công ty trách nhiệm hữu hạn có 12 thành viên trở lên. Riêng đối với các Công ty trách nhiệm hữu hạn không thành lập Hội đồng quản trị thì người được phân công quản lý công ty và được ghi trong điều lệ của công ty là người đại diện theo pháp luật của công ty. - Chủ nhiệm hợp tác xã đối với các hợp tác xã: Đại diện do uỷ quyền: Xuất hiện khi đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp uỷ quyền bằng văn bản cho thành viên Hội đồng quản lý, Hội đồng quản trị, Phó giám đốc, Phó tổng giám đốc hoặc phó chủ nhiệm hợp tác xã tham gia quá trình giải quyết vụ phá sản doanh nghiệp. + Khách thể: Khách thể của quan hệ này là tài sản của doanh nghiệp mắc nợ: Về phía doanh nghiệp mắc nợ dù muốn hay không cũng phải thanh toán các khoản nợ đó bằng số tài sản còn lại của mình. Theo quy định của pháp luật phá sản, các chủ nợ được xếp thứ tự ưu tiên trong thanh toán. Nếu tài sản còn lại của doanh nghiệp lớn hơn hoặc bằng các khoản nợ thì đương nhiên các chủ nợ được thanh toán hết, nếu ít hơn thì phần thiếu đó các chủ nợ sẽ phải gánh chịu theo tỷ lệ. + Nội dung: Gồm quyền và nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật. Luật phá sản doanh nghiệp 30/12/1993 có quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ nợ, con nợ trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp. Quyền và nghĩa vụ của các bên chúng ta sẽ nghiên cứu trong chương 2 về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp). * Quan hệ giữa những người tham gia quá trình giải quyết việc phá sản với cơ quan nhà nước có thẩm quyền. + Những người tham gia quá trình giải quyết phá sản: Bao gồm: - Doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản: Điều 2 luật phá sản doanh nghiệp có định nghĩa rõ thế nào là doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản. - Các chủ nợ có bảo đảm, có bảo đảm một phần hoặc không có bảo đảm. - Đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn. - Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. . Toà án nhân dân: Khoản 1 điều 4 luật phá sản doanh nghiệp có quy định: Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Toà án nhân dân tối cao là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. . Phòng thi hành án: Cục thi hành án: Khoản 2 điều 4 luật phá sản doanh nghiệp có quy định: Phòng thi hành án thuộc Sở Tư Pháp, Cục Thi hành án thuộc Bộ Tư pháp là cơ quan có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp. . Viện Kiểm sát nhân dân: Điều 5 Luật phá sản doanh nghiệp có quy định: Viện Kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết việc phá sản doanh nghiệp theo quy định của pháp luật. + Khách thể: Khi tham gia quan hệ này các bên đều hướng tới việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Luật phá sản doanh nghiệp Việt Nam cũng như Luật phá sản của các nước trên thế giới được quy định chỉ có toà án mới là người có thẩm quyền tuyên bố phá sản hay không. + Nội dung: Nội dung của quan hệ này bao gồm các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình tham gia giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Trong từng giai đoạn giải quyết, quyền và nghĩa vụ của các bên được quy định cụ thể. Chúng ta hãy xem xét cụ thể các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ này ở Chương II- chương thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Chương II Trình tự thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản 1. Thủ tục nộp và thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. 1-1. Thủ tục nộp đơn: Giải quyết vấn đề thanh toán trong khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, pháp luật quy định một “Trình tự thủ tục thanh toán nợ đặc biệt ” - trình tự thủ tục tố tụng phá sản doanh nghiệp. Để làm căn cứ cho việc giải quyết vấn đề phá sản doanh nghiệp khi có những lý do chứng tỏ doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, việc làm đầu tiên là nộp đơn lên Toà án nhân dân tỉnh, nơi có trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. a- Đối tượng được quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản: Cũng như pháp luật phá sản nhiều nước trên thế giới, Luật phá sản Việt Nam quy định có ba loại chủ thể sau đây được quyền này: * Đối với các chủ nợ: Điều 3 Luật phá sản doanh nghiệp có phân biệt loại chủ nợ với tính chất và tư cách tham gia của từng loại khác nhau. Bao gồm: - Chủ nợ có bảo đảm: là chủ nợ có khoản nợ được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ. Đây là chủ nợ mà quyền đòi nợ của họ được đảm bảo bằng tài sản, đến hạn trả mà doanh nghiệp mắc nợ không thanh toán thì chủ nợ này có quyền yêu cầu bán tài sản bảo đảm đó theo sự thoả thuận trước để trang trải nợ. Loại chủ nợ này không có quyền đệ đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Nói chung các chủ nợ có bảo đảm là người chịu rủi ro ít hơn so với chủ nợ khác trong mọi trường hợp. Việc Luật phá sản không quy định quyền nộp đơn của họ không có nghĩa là họ không được tham gia việc giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Tuy nhiên quyền tham gia của họ bị hạn chế bởi sự thoả thuận về việc xử lý giá trị tài sản đem ra bảo đảm giữa họ và con nợ. - Chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm: Đối với chủ nợ có bảo đảm một phần, mặc dù khoản nợ của họ được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp mắc nợ nhưng quyền đòi nợ của họ vẫn bị hạn chế do giá trị tài sản bảo đảm thấp hơn giá trị khoản nợ. Họ là người chịu rủi ro nhiều hơn so với các chủ nợ có bảo đảm nếu doanh nghiệp bị phá sản. Vì vậy quyền lợi của họ cần được pháp luật phá sản bảo vệ. Đối với chủ nợ không có bảo đảm, họ là người chịu nhiều rủi ro hơn cả vì các khoản nợ không được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp. Nếu như doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản thì khoản nợ của họ còn có thể bị mất trằng bởi doanh nghiệp không đủ tài sản để trang trải nợ không có bảo đảm. * Đối với bản thân doanh nghiệp mắc nợ: Trong trường hợp đã thực hiện các biện pháp khắc phục khó khăn về tài chính để thanh toán các khoản nợ đến hạn, kể cả hoãn nợ mà doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, thì chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp phải nộp đơn đến Toà án nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Việc làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp này giúp cho chính bản thân con nợ thoát ra được tình trạng nợ nần kéo dài gây ảnh hưởng tới sự phát triển chung trong giới kinh doanh. Trường hợp này được coi là phá sản tự nguyện. * Đối với người lao động làm công ăn lương trong doanh nghiệp. Đây là loạt chủ nợ đặc biệt mà luật quy định cũng có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản. Khác với các dạng chủ nợ khác, quan hệ chủ nợ- con nợ, giữa họ và doanh nghiệp mắc nợ phát sinh không phải từ quan hệ mua bán thông thường mà trong quá trình các bên tham gia quan hệ lao động. Khoản nợ của doanh nghiệp đối với họ chính là tiền lương hoặc tiền công lao động. Pháp luật lao động nước ta quy định: Công đoàn là người đại diện đứng ra bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Trong thủ tục tố tụng phá sản thì quyền và lợi ích hợp pháp cho người lao động. Trong thủ tục tố tụng phá sản thì quyền nộp đơn của người lao động được thực hiện thông qua đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nơi chưa có tổ chức công đoàn, và như vậy việc tham gia quá trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản của người lao động cũng được thực hiện thông qua những người đại diện này. Việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản của đại diện công đoàn còn được Nghị định 189/CP giải thích thêm như sau: - Đại diện công đoàn tham gia quá trình giải quyết phá sản doanh nghiệp là Chủ tịch BCH công đoàn hoặc người được chủ tịch BCH Công đoàn uỷ quyền bằng văn bản. - Đại diện công đoàn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp khi có đủ hai điều kiện sau đây: + Doanh nghiệp không trả đủ lương cho người lao động theo thoả ước lao động và hoạt động lao động trong ba tháng liên tiếp. + Có nghị quyết của Công đoàn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp. b- Hồ sơ yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Trước hết, trong hồ sơ yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản phải có đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản. Ngoài ra, đối với từng loại chủ thể khác nhau, pháp luật phá sản còn quy định trong hồ sơ kèm theo đơn là những văn bản giấy tờ cần thiết khác. * Đối với các chủ nợ: Đơn yêu cầu tuyên bố phá sản phải ghi rõ: Họ tên, địa chỉ người làm đơn; Tên và trụ sở chính của doanh nghiệp bị yêu cầu tuyên bố phá sản. Kèm theo đơn phải gửi bản sao giấy đòi nợ, các giấy tờ, tài liệu chứng minh doanh nghiệp mất khả năng thanh toán nợ đến hạn( khoản 2 điều 7). * Đối với bản thân con nợ: Đơn yêu cầu tuyên bố phá sản phải ghi rõ: * Tên địa chỉ trụ sở chính của doanh nghiệp, họ tên của doanh nghiệp hoặc người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp. * Các biện pháp mà doanh nghiệp đã thực hiện nhưng vẫn không khắc phục được tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. * Kèm theo đơn phải có: + Bản danh sách các chủ nợ và số nợ phải trả cho mỗi chủ nợ; + Bản tường trình về trách nhiệm của giám đốc, các thành viên Hội đồng quản trị doanh nghiệp đối với tình trạng mất khả năng thanh toán nợ đến hạn; + Báo cáo tình hình kinh doanh 6 tháng trước khi không trả được nợ đến hạn. + Báo cáo tổng kết năm tài chính của hai năm cuối cùng, nếu doanh nghiệp hoạt động chưa đến hai năm thì gửi báo cáo tổng kết tài chính của cả thời gian hoạt động; Các hồ sơ kế toán có liên quan. (Điều 9 khoản 2 LPSDN) * Đối với người lao động trong doanh nghiệp: Điều 8 luật phá sản doanh nghiệp mới chỉ đề cập đến quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà không có giải thích gì thêm về hồ sơ. Nhưng với tư cách là một “chủ nợ ” thì việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản của họ cũng phải bảo đảm các nội dung cơ bản như đối với trường hợp các chủ nợ khác. Ngoài ra theo điều 9 NĐ 187/CP thì việc nộp đơn của họ còn phải kèm theo Nghị quyết Công đoàn về việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh doanh nghiệp. Để ràng buộc trách nhiệm của người làm đơn đối với nội dung yêu cầu của mình, điều 11 luật phá sản doanh nghiệp cũng quy định: người làm đơn yêu cầu phải chịu trách nhiệm về nội dung ghi trong đơn và các giấy tờ tài liệu kém theo, phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của các tài liệu bằng chứng đã cung cấp. Người nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản phải nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định của pháp luật trừ trường hợp đại diện công đoàn hoặc đại diện người lao động nộp đơn theo quy định của điều 8 luật phá sản doanh nghiệp. Mức lệ phí giải quyết việc phá sản doanh nghiệp sẽ do toà án quy định theo pháp luật về lệ phí. c- Trách nhiệm của Toà án đối với việc nộp đơn. Luật phá sản doanh nghiệp không quy định Toà án có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản nhưng có quy định về trách nhiệm của Toà án đối với việc nộp đơn của các chủ thể khác như sau: Trong quá trình giải quyết các vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, nếu phát hiện doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì Toà án thông báo cho các chủ nợ, doanh nghiệp đó biết để nộp đơn yêu cầu giải quyết việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp (điều10). Như vậy nếu phát hiện thấy doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản Toà án có trách nhiệm phải thông báo cho các chủ thể được quyền làm đơn yêu cầu tuyên bố phá sản chứ không trực tiếp làm việc đó bởi lẽ: Toà án là cơ quan tài phán nằm trong bộ máy tư pháp của nhà nứơc có chức năng xét xử trong đó có các vụ việc phá sản. Bản thân toà án không thể xét xử vụ việc do tự mình đưa ra và cơ quan nhà nước cũng không nên can thiệp quá sâu vào công việc của các doanh nghịêp, tôn trọng quyền tố tụng của các chủ thể khác. 1-2.Thủ tục thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp: Theo điều 12 luật phá sản doanh nghiệp việc thụ lý đơn được tiến hành như sau: - Vào sổ thụ lý đơn. - Cấp cho người nộp đơn giấy báo đã nhận được đơn và các giấy tờ kèm theo. - Thông báo cho doanh nghiệp mắc nợ biết trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày thụ lý đơn. Sau khi thụ lý đơn Toà án có quyền yêu cầu doanh nghiệp mắc nợ và người làm đơn cung cấp các bằng chứng tài liệu cần thiết để xem xét. Việc xem xét đơn ở đây thực chất là Toà án tiến hành điều tra các dấu hiệu chứng tỏ doanh nghiệp có bị lâm vào tình trạng phá sản hay không. Kết thúc việc điều tra xem xét khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp. Toà án ra quyết định mở hay không mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp là tuỳ thuộc doanh nghiệp đó có thực sự lâm vào tình trạng phá sản hay không. Điều 13 Luật phá sản doanh nghiệp quy định: trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Chánh án Toà án kinh tế cấp tỉnh phải xem xét đơn cùng các gi._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVV584.doc