Vận dụng phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu vai trò trung tâm kinh tế của Thủ đô Hà Nội đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng

LỜI MỞ ĐẦU Với 1000 năm lịch sử gắn liền với công cuộc dựng nước và giữ nước, Thủ đô Hà Nội là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước. Phát triển Thủ đô là trọng điểm trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của đất nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là trách nhiệm, nghĩa vụ của toàn Đảng, t

doc37 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 2028 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Vận dụng phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu vai trò trung tâm kinh tế của Thủ đô Hà Nội đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
oàn dân, toàn quân. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô phải được xây dựng và thực hiện trong mối quan hệ hữu cơ với sự phát triển kinh tế- xã hội của cả nước, với việc xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội vùng, liên vùng, dùng sức mạnh của Thủ đô làm động lực thúc đẩy sự phát triển của vùng, tạo ra sự phân công - hợp tác chặt chẽ trong một cơ cấu thống nhất trên phạm vi cả nước, đặc biệt trong vùng kinh tế đồng bằng sông Hồng. Sau 20 năm đổi mới, đặc biệt là những năm đầu thế kỷ XX, vai trò kinh tế của Thủ đô Hà Nội đối với các tỉnh trong khu vực ĐBSH ngày càng rõ rệt và gia tăng. Việc nghiên cứu rõ cơ chế tác động, những mặt mạnh, mặt còn hạn chế của mối tác động qua lại giữa thủ đô với các tỉnh trên quan điểm, phương pháp biện chứng để tìm ra những biện pháp thúc đẩy tác động tích cực là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu này nếu đi đúng hướng và đảm bảo được kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và thực tiễn sẽ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có giá trị tham khảo cao. Vấn đề nghiên cứu này đã từng được đề cập và giải quyết khi tiến hành hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội của Thủ đô Hà Nội, của vùng ĐBSH, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Vai trò của Thủ đô Hà Nội đối với cả nước nói chung và vùng ĐBSH nói riêng đã được thể hiện rất rõ thông qua việc mở rộng địa giới hành chính Thủ đô. Tuy nhiên, đây vẫn là một đề tài khá mới và có nhiều khía cạnh phải khai thác, đặc biệt là nghiên cứu trên lập trường phép Biện chứng Duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin. Sau khi được giảng viên hướng dẫn tìm hiểu phép biện chứng duy vật, trên cơ sở những kiến thức của bản thân và các tài liệu liên quan đến Hà Nội, vùng ĐBSH tôi mạnh dạn nghiên cứu đề tài: “Vận dụng phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu vai trò trung tâm kinh tế của Thủ đô Hà Nội đối với các tỉnh đồng bằng sông Hồng”. Bố cục của tác phẩm gồm 3 phần: Chương 1: Phép biện chứng duy vật. Chương 2: Vai trò trung tâm Kinh tế của Hà Nội đối với ĐBSH. Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò kinh tế của thủ đô Hà Nội. NỘI DUNG CHƯƠNG 1: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT 1. Nội dung của Phép biện chứng duy vật: 1.1- Lịch sử phép biện chứng và phép biện chứng duy vật khoa học? Phép biện chứng là nội dung đặc biệt quan trọng trong triết học Mác - Lênin, triết học Heghen cũng như trong nhiều triết học khác của lịch sử triết học, từ thời cổ đại Trung hoa, ấn độ và Hy lạp. Nó được xác định với hai tư cách là tư cách lý luận biện chứng và tư cách phương pháp biện chứng, cũng tức là với tư cách thế giới quan và tư cách phương pháp biện chứng trong triết học: Với tư cách lý luận biện chứng, phép biện chứng được xác định là một hệ thống các quan điểm biện chứng, khái quát tính biện chứng của thế giới thành một thế giới thành một hệ thống các nguyên lý, các quy luật biện chứng. Đó là nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển, quy luật mâu thuẫn đấu tranh của các mặt đối lập, quy luật những thay đổi về lượng dẫn tới những thay đổi về chất và ngược lại, quy luật phủ định của phủ định. Ph.ăngghen đã định nghĩa phép biện chứng một cách khái quát: "Phép biện chứng là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy" Với tư cách là phương pháp biện chứng, phép biện chứng được xác định là phương pháp luận triết học xem xét, phân tích các sự vật, hiện tượng của thế giới trong trạng thái của mối liên hệ phổ biến trong sự vận động và phát triển không ngừng của tự nhiên xã hội và tư duy. Với tư cách đó, phương pháp biện chứng là hệ quả tất yếu và thống nhất với lý luận biện chứng, cũng tức là sự thống nhất giữa mặt thế giới quan và phương pháp luận triết học của phép biện chứng trong triết học. Trong lịch sử triết học phép biện chứng có thể được xác lập trên lập trường của chủ nghĩa duy vật hoặc trên lập trường của chủ nghĩa duy tâm, từ đó tạo ra phép biện chứng duy vật hoặc phép biện chứng duy tâm. Phép biện chứng duy vật giải quyết theo lập trường duy vật đối với mặt thứ nhất của vấn đề cơ bản trong triết học. Biện chứng khách quan dùng để chỉ những mối liên hệ, biến đổi, phát triển khách quan vốn có của sự vật hiện tượng. Biện chứng chủ quan dùng để chỉ tư duy biện chứng tức là những mối liên hệ, vận động và phát triển của ý thức, của tư duy con người. Theo lập trường của con người duy vật: biện chứng chủ quan là sự phản ánh biện chứng khách quan do đó đã giải thích một cách khoa học về nguồn gốc biện chứng của thế giới. 1.2- Phép biện chứng duy vật có cơ sở khoa học và nguồn gốc lịch sử nào? Phép biện chứng duy vật khoa học là sự kế thừa phép biện chứng cổ điển Đức trên một tinh thần phê phán khoa học, loại trừ tính chất duy tâm, xác lập trên một lập trường duy vật khoa học hiện đại, trên cơ sở của những thành tựu khoa học hiện đại. Các phát minh khoa học lớn ở thế kỷ XIX đã giữ một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác lập cơ sở khoa học cho phép biện chứng Macxit; đó là học thuyết về tế bào với tư cách là xuất phát điểm thống nhất của mọi vật chất sống; đó còn là học thuyết tiến hóa các giống loài sinh vật, là học thuyết bảo toàn và chuyển hóa năng lượng. Vào đầu thế kỷ XX hàng loạt các phát minh lớn trong lĩnh vực khoa học tự nhiên như phát hiện ra cấu trúc nguyên tử, cấu trúc ADN của sự sống, học thuyết lượng tử...đã giữ một vị trí quan trọng cho việc chứng minh tính đúng đắn của phép biện chứng duy vật khoa học. Cùng với sự phát triển của thực tiễn cách mạng vô sản – cách mạng xã hội chủ nghĩa trên phạm vi toàn thế giới; cùng với sự phát triển ngày càng gia tăng của khoa học hiện đại, phép biện chứng duy vật Macxit cũng ngày càng được tiếp tục hoàn thiện và vận động một cách sáng tạo, đóng vai trò phương pháp luận quan trọng của thực tiễn cách mạng khoa học. 1.3- Xét theo cấu trúc nội dung cơ bản, phép biện chứng duy vật bao gồm những nguyên lý, quy luật cơ bản nào? Xét theo nội dung cấu trúc cơ bản, phép biện chứng duy vật khoa học bao gồm hai nguyên lý cơ bản: Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển; ba quy luật lớn; quy luật thống nhất và duy tâm giữa các mặt đối lập, quy luật phủ định của phủ định. Sáu cặp phạm trù cơ bản với tư cách là sáu quy luật nhỏ của phép biện chứng, đó là cặp phạm trù cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, bản chất và hiện tượng, nội dung và hình thức, nguyên nhân và kết quả, khả năng và thực hiện. Trong cấu trúc nội dung cơ bản đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến đóng vai trò là nguyên lý xuất phát và nền tảng. Nguyên lý về sự phát triển giữ vai trò là nguyên lý trung tâm. Ba quy luật cơ bản được luận giải với tư cách là những quy luật – nguyên tắc cơ bản nhất của mọi sự vận động và phát triển, còn lại sáu cặp phạm trù được phân tích với tư cách là những quy luật làm sáng tỏ các nguyên lý và quy luật lớn. 2. Ý nghĩa nghiên cứu của Phép biện chứng duy vật: Nguyên lý về liên hệ phổ biến đòi hỏi trong nhận thức sự vật cần phải có quan điểm toàn diện. Với quan điểm này, khi nghiên cứu sự vật phải xem xét tất cả các mối liên hệ của bản thân sự vật và với các sự vật hiện tượng khác. Phải phân loại các mối liên hệ để hiểu rõ vị trí, vai trò của từng mối liên hệ với sự vận động và phát triển của sự vật. Nếu khuynh hướng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan là vận động đi lên thì trong nhận thức và thực tiễn cần phải có quan điểm phát triển. Quan điểm phát triển đòi hỏi phải phân tích sự vật trong sự phát triển, cần phát hiện cái mới, ủng hộ cái mới, cần phải tìm nguồn gốc của sự phát triển trong bản thân sự vật. Tóm lại: Hai nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật là cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể và phát triển. Với cách xem xét, nghiên cứu theo quan điểm toàn diện và phát triển sẽ giúp ta hiểu được bản chất sự vật, làm cho nhận thức phản ánh đúng đắn về sự vật và hoạt động thực tiễn có hiệu quả cao. Với từng quy luật lại cho ta một ý nghĩa riêng, đặc thù và cũng đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu thế giới tự nhiên, con người và xã hội. a/ Quy luật: thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập: Mâu thuẫn là khách quan, là nguồn gốc, động lực của sự phát triển, nên muốn nắm được bản chất của sự vật cần phải phản đối cái thống nhất và nhận thức các bộ phận đối lập của chúng. Mâu thuẫn là phổ biến, đa dạng. do đó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, phải có phương pháp phân tích mẫu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn một cách cụ thể. Việc giải quyết mâu thuẫn chỉ bằng con đường đấu tranh giữa các mặt đối lập và với những điều kiện chín muồi. b/ Quy luật lượng chất: có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trong nhận thức và hoạt động thực tiễn. Do sự vận động và phát triển của sự vật, trước hết, là sự tích lũy về lượng và khi sự tích lũy về lượng vượt quá giới hạn độ thì tất yếu có bước nhảy về chất, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần chống cả hai khung hướng: Thứ nhất, “tả khuynh”-Tư tưởng nôn nóng, chủ quan duy ý chí, thể hiện ở chỗ khi chưa có sự tích lũy về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất, thứ hai, “Hữu khuynh”-Tư tưởng bảo thủ, chờ đợi, không dám thực hiện bước nhảy về chất, khi đã có sự tích lũy đầy đủ về lượng hoặc chỉ nhấn mạnh đến sự biến đổi dần dần về lượng. Cần có thái độ khách quan khoa học và có quyết tâm thực hiện các bước nhảy khi có các điều kiện đầy đủ. c/ Quy luật phủ định của phủ định: đã chỉ rõ sự phát triển là khuynh hướng chung, là tất yếu của các sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan. Song, quá trình phát triển không diễn ra theo đường thẳng mà quanh co phức tạp, phải trải qua nhiều lần phủ định, nhiều khâu trung gian. Điều đó giúp chúng ta tránh được cách nhìn phiến diện, giản đơn trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng, đặc biệt là các hiện tượng xã hội. Quy luật phủ định của phủ định cũng khẳng định tính tất thắng của cái mới, vì cái mới, là cái ra đời phù hợp vơí quy luật phát triển của sự vật. Mặc dù khi mới ra đời, cái mới có thể còn non yếu, song nó là cái tiến bộ hơn, là gia đoạn phát triển cao hơn về chất so với cái cũ. Vì vậy, trong nhận thức và hoạt động thực tiễn cần có ý thức phát hiện ra cái mới, tạo điều kiện cho cái mới phát triển. Trong khi phê phán cái cũ, cần phải biết sàng lọc, kế thừa những yếu tố hợp lý của cái cũ, tránh thái độ “hư vô chủ nghĩa”, “Phủ định sạch trơn” d/ Cái chung và cái riêng: thống nhất với nhau, nên trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, chúng ta phải biết phát hiện cái chung và cá biệt hóa cái chung, khi áp dụng vào cái riêng. Giữa cái chung và cái đơn nhất có sự chuyển hóa lẫn nhau. Cần phải tạo điều kiện cho sự chuyển hoá cái đơn nhất tiến bộ thành cái chung và biến cái chung lạc hậu thành cái đơn nhất. e/ Nội dung và hình thức: luôn luôn gắn bó hữu cơ với nhau, do đó trong hoạt động thực tiễn cần tránh sự tách rời hoặc tuyệt đối hoá một trong hai mặt đó. Vì nội dung quyết định hình thức cho nên khi xét đoán sự vật, trước hết phải căn cứ vào nội dung, đồng thời thấy được sự tác động của hình thức với nội dung. Do đó trong hoạt động thực tiễn cần nắm vững mối quan hệ giữa nội dung và hình thức để có sự điều chỉnh áp dụng một cách linh hoạt. Muốn hiểu được sự vật, nhận thức không dừng lại ở hiện tượng, mà phải đi từ hiện tượng đến bản chất. Trong hoạt động thực tiễn không thể dựa trên tri thức về hiện tượng mà phải dựa trên tri thức về bản chất của sự vật. f/ Nguyên nhân và kết quả: tìm nguyên nhân của các hiện tượng trong bản thân thế giới hiện thực, mối quan hệ nhân quả có tính khách quan. Vì mối liên hệ nhân quả là đa dạng, cần phân biệt các loại nguyên nhân để có biện pháp xử lý đúng đắn. Kết quả do nguyên nhân sinh ra nhưng không tồn tại một cách thụ động, vì vậy phải biết khai thác, vận dụng các kết quả đã đạt được để nâng cao nhận thức và tiếp tục thúc đẩy sự vật phát triển. g/ Tất nhiên và ngẫu nhiên: Nếu tất nhiên là cái nhất định phải xuất hiện theo quy luật nội tại của nó, còn ngẫu nhiên có thể xuất hiện và cũng có thể không xuất hiện, thì trong nhận thức phải đạt đến cái tất nhiên và trong hoạt động thực tiễn phải dựa vào cái tất nhiên. Khi nhấn mạnh cái tất nhiên, chúng ta không thể quên cái ngẫu nhiên, không tách rời cái tất nhiên ra khỏi cái ngẫu nhiên. Phải xuất phát từ cái ngẫu nhiên để đạt đến cái tất nhiên và khi đưa vào cái tất nhiên, phải chú ý đến những cái ngẫu nhiên.Tất nhiên và ngẫu nhiên có thể chuyển hóa qua lại, nên phải tạo ra điều kiện để cản trở hay chuyển hóa giữa chúng do yêu cầu cụ thể của thực tiễn. h/ Khả năng và hiện thực: Phải phát huy tối đa tính năng động chủ quan để biến khả năng thành hiện thực khi cần thiết, tránh tư tưởng chờ đợi, thụ động. 3. Phép biện chứng duy vật trong nghiên cứu và quản lý kinh tế: Với tinh thần tiến bộ cách mạng, khoa học của phép biện chứng duy vật với tư cách là phương pháp luận biện chứng thì chúng ta cần vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận biện chứng trong mọi quá trình nghiên cứu và khoa học và quản lý kinh tế để có thể đạt được những kết luận khoa học, hiệu quả. Hai nguyên tắc khái quát có ý nghĩa thời sự hiện nay mà việc vận dụng phương pháp luận biện chứng vào nghiên cứu và quản lý kinh tế cần quán triệt là: Trong nghiên cứu và giải quyết bất cứ một vấn đề kinh tế nào cũng cần thiết phải nghiên cứu và giải quyết nó trong mối liên hệ thống nhất của các mối liên hệ phố biến và trong quá trình vận động; phát triển không ngừng. Việc nghiên cứu và giải quyết vấn đề như thế không cho phép hình dung sự vật là cố định, bất biến; nó đòi hỏi phải phân tích và giải quyết vấn đề trong tổng thể các mối quan hệ kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội. Trong nghiên cứu và quản lý kinh tế cần thiết phải phân tích và giải quyết một cách khoa học hệ thống các mâu thuẫn nhằm phát hiện và tạo ra động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội. Cần khắc phục cách nhìn nhận giản đơn về mâu thuẫn, nhất là trong điều kiện quốc tế hoá, toàn cầu hoá như hiện nay. CHƯƠNG 2: VAI TRÒ TRUNG TÂM KINH TẾ CỦA HÀ NỘI ĐỐI VỚI CÁC TỈNH TRONG VÙNG ĐBSH 1. Vị trí của Hà Nội trong vùng đồng bằng sông Hồng (ĐBSH): Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của cả nước. Sông Hồng là ranh giới chia vùng thành các tỉnh phía Bắc và phía Nam sông Hồng. Các tỉnh, thành phố ở phía Bắc vùng ĐBSH gồm 7 tỉnh, thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Hà Tây, Hải Dương, Hưng Yên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh; trong đó có các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng. Các tỉnh thuộc phía Nam của ĐBSH, gồm 4 tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Thái Bình Vùng đồng bằng sông Hồng có diện tích tự nhiên là 14.812 km2, dân số năm 2004 khoảng 17,65 triệu người; chiếm 4,5% diện tích và 21,81% dân số của cả nước; mật độ dân số cao nhất (1.087 người/km2) và diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp nhất so với các vùng khác và có xu hướng ngày càng thu hẹp trong quá trình đô thị hoá. Sau 20 năm đổi mới, cùng với Hà Nội, các tỉnh – thành phố trong vùng ĐBSH thể hiện là một trong những vùng phát triển năng động của cả nước, chỉ đứng sau vùng Đông Nam Bộ (ĐNB) và đã góp phần quan trọng tạo nên sự chuyển biến tích cực của tình hình kinh tế - xã hội nước ta khi bước vào kỷ nguyên mới. Tuy nhiên, về đặc điểm tự nhiên của Hà Nội và cả vùng DDBSH có điểm yếu là: nền đất của các công trình, nhà ở thấp hơn cốt của các lòng sông gây khó khăn không nhỏ; tình trạng lũ lụt có diễn biến nghiêm trọng hơn; phần lớn dân số sống ở nông thôn nhưng đất nông nghiệp lại ít và số người nông dân thiếu đất canh tác ngày một gia tăng khi công nghiệp phát triển mạnh mẽ; bị ảnh hưởng lớn của tư duy bao cấp, trông chờ ỉ lại,… 2- Những đóng góp về kinh tế của Hà Nội với các tỉnh vùng ĐBSH Năm 2005, vùng ĐBSH đóng góp 27,5% GDP của cả nước, tổng thu ngân sách của vùng khoảng 53,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 28,4% thu ngân sách của cả nước; giá trị kim ngạch xuất khẩu chiếm 21,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; thu hút được khoảng 24% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. 2.1- Phát triển các KCN và đô thị hoá: Ven sông Hồng, dọc các quốc lộ chính và bao quanh thủ đô là một vệ tinh các khu công nghiệp, các đô thị mới góp phần đẩy mạnh chất và lượng của tiến trình đô thị hoá trong vùng. Tính đến 30/6/2006, cả vùng tất cả 32 khu công nghiệp và khu chế xuất; hầu hết các KCN đều cách Hà Nội không xa, điều này chứng tỏ vai trò của trung tâm kinh tế Hà Nội với các tỉnh trong khu vực. Công nghiệp phát triển tương đối nhanh, tập trung nhiều ngành công nghiệp giữ vị trí quan trọng của cả nước, thu hút hàng trăm doanh nghiệp và tạo việc làm cho khoảng 1,5 vạn lao động, tạo ra khoảng 3,7 nghìn tỷ đồng GDP. Các đô thị và các khu công nghiệp trong vùng có nếp sống đô thị và phong cách kinh doanh tiên tiến, cuốn hút sự phát triển chung của các vùng xung quanh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân khoảng 14%/năm. Chủ trương của Đảng và nhà nước là đầu tư phát triển mạnh vùng kinh tế trọng điểm Phía Bắc là nòng cốt kinh tế của vùng ĐBSH. . 2.2- Cơ sở hạ tầng và hệ thống giao thông : Mạng lưới kết cấu hạ tầng của vùng đã được tăng cường đáng kể, về cơ bản nhiều mặt có thể đáp ứng yêu cầu phát triển, hợp tác ở mức cao hơn trước. Từ trung tâm là Hà Nội, nhiều tuyến đường quốc lộ lớn được xây dựng, nâng cấp và cải tạo: Quốc lộ 1, Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, Quốc lộ 10, 183, 39, đường Bắc Thăng Long - Nội Bài, đường Láng - Hoà Lạc; xây dựng lại các cầu Bình, Phú Lương, Lai Vu (Hải Dương); xây dựng mới cầu Tân Đệ (Thái Bình), cầu Thanh Trì (Hà Nội), Yên Lệnh (Hưng Yên). Hệ thống giao thông nông thôn, hệ thống thuỷ lợi vào loại khá so cả nước. Với hệ thống giao thông an toàn, thông suốt đã tạo sự giao lưu, vận chuyển hàng hoá được dễ dàng với chi phí thấp góp phần nâng cao đời sống nhân dân trong vùng và giảm chi phí sản xuất kinh doanh. Mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển nhanh, tính đến năm 2006 toàn bộ các tỉnh trong vùng có mạng thông tin viễn thông kỹ thuật số, tất cả các xã đều có điện thoại, bình quân có 32 máy/100 dân, riêng Hà Nội trên 55 máy/100 dân (trong khi cả nước đạt 15,8 máy/100 dân). 2.3- Thương mại: Với hệ thống siêu thị hiện đại và hàng chục chợ đầu mối bán buôn ở cửa ngõ thủ đô là nơi giao lưu, trao đổi hàng hoá các sản phẩm của các ngành sản xuất giữa Hà Nội và các tỉnh lận cận. Hệ thống phân phối chuyên nghiệp của các công ty phân phối lớn trong khu vực và trên Thế giới đã có thị phận và chỗ đứng lớn tại Thủ đô, từ nền tảng đó họ mở rộng kinh doanh ở tất cả các tỉnh, thành phố thuộc vùng. Người dân Hà Nội có mức sống cao hơn các tỉnh trong vùng nên sức mua của thị trường Hà Nội với các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, hàng thủ công, sản phẩm từ các khu CN vệ tinh là rất lớn; tạo tổng cầu phong phú cho hệ thống thương mại và sản xuất trong vùng. 2.4- Dịch vụ, du lịch: Khu vực dịch vụ có bước phát triển rõ nét, có loại dịch vụ đạt trình độ phát triển của khu vực và đem lại hiệu quả. Về cơ bản, dịch vụ ngân hàng, viễn thông đã được hiện đại hoá, có chất lượng, đạt trình độ chung của khu vực; các hình thức thanh toán hiện đại đã bắt đầu phát triển, thúc đẩy sự phát triển chung. Tốc độ tăng giá trị các ngành dịch vụ bình quân hàng năm đạt khoảng 8,5%. Thương mại phát triển mạnh, cả ở thành thị và nông thôn. Du lịch phát triển ngày một đa dạng và có chất lượng. 2.5- Ngành Nông nghiệp: Nông nghiệp (theo nghĩa rộng bao gồm cả nông, lâm nghiệp, thủy sản) có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn trước, đã và đang chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng sản xuất hàng hoá hướng về xuất khẩu. Đã xuất hiện một số sản phẩm có chất lượng tương đối tốt, rõ nhất là gạo chất lượng cao, lợn sữa xuất khẩu. Kinh tế thuỷ sản phát triển, xuất hiện một số mô hình nuôi trồng thuỷ sản có hiệu quả. Nổi bật là mô hình nuôi cá nước ngọt, nuôi tôm nước lợ, nuôi ngọc trai và nuôi hải sản. 2.6- Đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: Tại vùng ĐBSH, bước đầu trong một số lĩnh vực đã hình thành được đội ngũ doanh nhân và lao động kỹ thuật có năng lực tiếp cận trình độ quốc tế trong các lĩnh vực có vốn đầu tư nước ngoài như: điện tử, đồ điện dân dụng, công nghệ phần mềm, sản xuất vật liệu, lắp ráp ô tô, xe máy; may mặc, giày dép, nước giải khát. Vùng có khoảng 30 vạn doanh nghiệp công nghiệp (ước khoảng gần 90 vạn các nhà doanh nghiệp), chiếm 39,4% số doanh nghiệp công nghiệp cả nước và hơn 5 nghìn doanh nghiệp thuộc ngành dịch vụ thương mại, du lịch (ước khoảng gần 15-20 nghìn các nhà doanh nghiệp), chiếm 21% số doanh nghiệp thương mại du lịch cả nước. 3- Những hạn chế trong vào trò trung tâm kinh tế của Hà Nội trong vùng ĐBSH Tuy nhiên, Hà Nội còn nhiều yếu kém: Kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng và vị thế của Thủ đô. Vai trò trung tâm kinh tế của cả nước chưa nổi bật, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh thấp. Công tác quản lý đô thị còn bất cập. Chất lượng hạ tầng kĩ thuật đô thị thấp so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Tình trạng ùn tắc giao thông, đất công bị lấn chiếm, ô nhiễm môi trường, chưa đảm bảo an toàn thực phẩm, tăng dân số cơ học đang là những vấn đề bức xúc, một số tệ nạn xã hội gia tăng. Xây dựng cơ sở hạ tầng, quy hoạch đô thị còn nhiều ngổn ngang, bất hợp lý. Bộ máy quản lý cồng kềnh, hoạt động kém hiệu lực - hiệu quả.. Một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái đạo đức, quan liêu tham nhũng. Quản lý hành chính ở một số đơn vị cơ sở cấp phường còn nhiều sách nhiễu, gây khó khăn trở ngại cho nhân dân. Nguyên nhân của những khuyết điểm: 1. Đảng bộ và chính quyền thành phố Hà Nội chưa thật chủ động, năng động nghiên cứu, triển khai các giải pháp kiên quyết, các khâu đột phá để phát huy tốt vai trò và vị thế của Thủ đô, chưa khai thác được sự trợ giúp của các Bộ, ban ngành Trung ương, các cơ quan khoa học, các chuyên gia.. trên địa bàn; chưa chủ động phối hợp với các địa phương, trực tiếp là các tỉnh thành lân cận trong khu vực kinh tế đồng bằng sông Hồng và tam giác kinh tế khu vực phía Bắc. 2. Một số bộ, ban, ngành trung ương chưa nhận thức sâu sắc trách nhiệm trong việc xây dựng và phát triển Thủ đô. Việc phân công, phân cấp giữa Trung ương và thủ đô còn chưa rõ ràng, còn chồng chéo chưa khai thác tốt các tiềm năng trên địa bàn. 3. Một số địa phưong, trước hết là lân cận Hà Nội chưa chủ động phối hợp với Hà Nội xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội có hiệu quả. (1) Các ngành kinh tế của ĐBSH phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của vùng; các mục tiêu quy hoạch đề ra hầu hết chưa thực hiện được. Sau khi quy hoạch vùng ĐBSH được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (tại Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 23/8/1997), các ngành, các địa phương đã tích cực triển khai thực hiện quy hoạch, bước đầu đã đạt được những thành tựu quan trọng, nhưng chưa tạo được đà bứt phá, mức đạt còn thấp so mục tiêu của quy hoạch. - Mục tiêu mức tăng GDP thời kỳ 1996 - 2000 chỉ bằng khoảng 80% mục tiêu quy hoạch đã đề ra (9/11,45%/năm), tốc độ tăng GDP của các năm 2001-2004 cũng chỉ đạt mức khoảng 8,5 - 9%/năm. Theo xu thế này, mục tiêu tăng trưởng của quy hoạch (thời kỳ 2001 - 2005: 13% và thời kỳ 2006 - 2010: 14%) khó có khả năng đạt được. - Chưa tận dụng hết năng lực sản xuất công nghiệp, mức phát huy công suất thiết kế của phần lớn doanh nghiệp còn thấp. Đến nay mức phát huy công suất thiết kế cao nhất chỉ khoảng 60% (một số loại phát huy công suất tương đối cao như xi măng khoảng 70%, gạch ốp lát 62%, ti vi 53%, dệt vải 35%, quần áo may sẵn 58%, chế biến sữa 47%). Một số sản phẩm cao cấp đặc trưng của vùng như lắp ráp ôtô, xe máy, xe đạp, mức huy động công suất cũng không cao . - Xuất khẩu chỉ đạt được khoảng 78% so với mục tiêu đề ra (năm 2000 đạt khoảng 2,1 tỷ USD, năm 2002 đạt 2, 424 tỷ USD, năm 2004 xấp xỉ 3 tỷ USD). Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của vùng ĐBSH năm 2004 bằng 88% xuất khẩu bình quân đầu người của cả nước và chỉ bằng khoảng 20-25% của vùng Đông Nam Bộ. Các ngành tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ tuy có tiềm năng song phát triển còn hạn chế. - Thu ngân sách nhà nước còn thấp so với tiềm năng của vùng. Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà nước năm 2004 đạt khoảng 20 %, thấp hơn mức trung bình của cả nước và chưa có xu hướng tăng một cách ổn định. - Mục tiêu đảm bảo việc làm cho người lao động không đạt, vùng ĐBSH có tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị vào loại cao nhất cả nước, tới trên 6% (trung bình của cả nước 5,6%). (2) Cơ cấu kinh tế có bước phát triển song bộc lộ nhiều yếu kém, chuyển dịch cơ cấu kinh tế không đạt được mức đề ra của quy hoạch. Năm 2004 so với các mục tiêu đề ra cho năm 2000 thì tỷ trọng công nghiệp đã vượt (40,5/33,1%), tỷ trọng nông nghiệp cũng đã vượt mức quy hoạch (11,7/15,9%), tỷ trọng dịch vụ không đạt mục tiêu (47,8/51%). Biểu hiện cơ bản về yếu kém cơ cấu là: - Các ngành công nghiệp hỗ trợ (bổ trợ) nhằm phát huy thế và lực trong vùng ĐBSH còn rất kém, chính vì vậy dẫn đến giá trị quốc gia trong sản phẩm của vùng còn thấp. Đến nay các ngành sản xuất phụ trợ đi theo lắp ráp ôtô, xe máy, tivi như công nghiệp sản xuất phụ tùng ôtô, phụ tùng xe máy, linh kiện điện tử, vỏ ti vi... còn quá non trẻ và không đáng kể nên tỷ lệ nội địa hoá rất thấp, chẳng hạn đối với sản phẩm dệt chỉ đạt 30%, ôtô 6%, hàng điện tử 10%. Đánh giá chung, giá trị quốc gia (thể hiện qua công nghiệp bổ trợ) chỉ khoảng 20-25%. Đây là một khoảng cách rất lớn phải phấn đấu gia tăng. - Dịch vụ chất lượng cao chưa phát triển. Kinh nghiệm các nước, để đảm bảo nền kinh tế phát triên vững chắc, thì giá trị gia tăng các ngành sản xuất (công nghiệp-xây dựng và nông lâm, ngư nghiệp) tăng 1% thì giá trị gia tăng ngành dịch vụ phải tăng từ 1,1-1,8%. Như vậy, thời gian qua các ngành sản xuất tăng khoảng 8,8%/năm thì dịch vụ tăng ít nhất là 10%, song thực tế chỉ tăng khoảng 7%/năm. - Chưa lựa chọn được cơ cấu kinh tế hấp dẫn các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài. Mức thu hút đầu tư nước ngoài còn thấp so với vùng ĐNB. Tính đến hết năm 2004, đầu tư trực tiếp nước ngoài của vùng chỉ bằng khoảng 25% tổng mức của cả nước, và bằng 40% của vùng Đông Nam Bộ. - Tại vùng ĐBSH, chủ trương phát triển các sản phẩm chủ lực có ưu thế cạnh tranh chưa rõ (chưa rõ cả về chủng loại sản phẩm, khối lượng và chất lượng sản phẩm); do đó đầu tư phát triển các sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSH còn ít. Đến nay các ngành cơ khí chế tạo, điện tử, sản xuất đồ điện... vốn có thế mạnh của vùng, song không được phát triển tương xứng. Nhìn chung, từ lợi thế của vùng, từ những mô hình làm ăn có hiệu quả cho thấy, nếu hỗ trợ phát triển nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ hợp lý từ nguồn bù đắp chi ngân sách hàng năm của vùng, tạo thêm nhiều việc làm, hỗ trợ thúc đẩy phân công lại lao động tại chỗ; chuyển giao và ứng dụng nhanh khoa học công nghệ mới... để tăng nguồn thu cho ngành và địa phương, thì GDP của vùng ĐBSH có thể đạt cao hơn, bằng khoảng 1,4 lần so mức đã đạt được hiện nay và tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế có thể đạt mức 12-13%/năm chứ không phải mức 8-9%/năm như hiện nay. (3) Diện tích đất nông nghiệp không nhiều và có xu hướng giảm dần nhưng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích chưa cao, 80% dân số nông thôn còn làm nông nghiệp, tiềm lực trong dân cư hạn chế; các đô thị và đất phi nông nghiệp mở rộng, một bộ phận lớn nông dân không có việc làm..., đang đặt ra nhiều vấn đề gay gắt. (4) Sự phát triển còn mang tính tự phát, không bám sát quy hoạch đề ra, rõ nhất ở các lĩnh vực sau đây: - Nhiều điểm đô thị phát triển tự phát, bám quá sát vào các trục giao thông lớn như ở đường 5, đường 18, đường 1A, đường 39...; trình độ quản lý đô thị thấp, dẫn đến hạn chế việc mở rộng đường khi có nhu cầu; đặc biệt, làm cản trở gây ùn tắc và tai nạn giao thông. - Các làng nghề phát triển tự phát, hầu hết chưa có quy hoạch, đặc biệt không có biện pháp chống ô nhiễm môi trường, dẫn đến một số quận, huyện, thành phố và nhiều vùng nông thôn, môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng. - Hệ thống đào tạo từ bậc cao đẳng trở lên và dạy nghề ở vùng ĐBSH chưa được quy hoạch phát triển một cách có căn cứ khoa học là nguyên nhân chủ yếu làm cho chất lượng đào tạo thấp và chưa theo kịp yêu cầu của thị trường. (5) Vẫn còn có sự chênh lệch đáng kể về trình độ phát triển giữa các tỉnh của hai tiểu vùng. Hiện nay các tỉnh phía Nam của vùng ĐBSH vẫn còn khó khăn, kém phát triển so với các tỉnh phía Bắc của vùng ĐBSH. - Các tỉnh, thành phố ở phía Bắc vùng ĐBSH gồm 7 tỉnh, thành phố là những trung tâm thương mại và giao lưu quốc tế của vùng và cả nước; là địa bàn tập trung nhiều ngành công nghiệp (cơ khí chế tạo, điện tử tin học, sản xuất hàng tiêu dùng cao cấp) và dịch vụ (chiếm tới 83,6% trong tổng GDP của vùng, trong khi của cả vùng chỉ chiếm 76% so cả nước); tập trung phần lớn cán bộ khoa học, các trường đại học và trung tâm nghiên cứu của vùng. GDP bình quân đầu người gấp 1,2 lần cả vùng ĐBSH và gấp 2 lần của các tỉnh Nam ĐBSH; thu ngân sách trên 1 đồng GDP gấp 1,8 lần so các tỉnh Nam vùng ĐBSH, xuất khẩu bình quân đầu người gấp 4,8 lần vùng Nam ĐBSH. - Các tỉnh thuộc phía Nam của ĐBSH, gồm 4 tỉnh chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp; công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển (mới chiếm 53,2% trong GDP); chưa huy động và thu hút được nhiều đầu tư trong nước và nước ngoài, nhất là trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản. Lực lượng cán bộ khoa học và lao động kỹ thuật công nghiệp còn ít. Tốc độ tăng trưởng bình quân chỉ đạt 7,3%/năm, bằng 81% tốc độ tăng trưởng của cả vùng ĐBSH và bằng khoảng 71% tốc độ tăng trưởng của các tỉnh KTTĐ Bắc Bộ (Bắc ĐBSH). Mức GDP bình quân đầu người chỉ bằng 60% của cả vùng ĐBSH và 49% của các tỉnh Bắc ĐBSH. Thu ngân sách thấp, thu không đủ chi (hàng năm nhận trợ cấp của Trung ương khoảng 70-80%). Sự phát triển và mức sống của dân cư ở hai tiểu vùng còn chênh lệch lớn, làm hạn chế sự phát triển chung, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp, đã đặt ra nhiều vấn đề bức xúc cần sớm giải quyết. (6) Nhìn chung, trình độ công nghệ của vùng ĐBSH vẫn còn thấp và còn thấp nhiều so với nhiều nước trong khu vực. Thiết bị của một số lĩnh vực như bưu chính viễn thông, sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, sản xuất điện, xi măng, một số ngành thực phẩm và hàng tiêu dùng đạt trình độ tương đối khá. Việc phát triển khoa học, công nghệ trong các ngành còn lại và trong nông nghiệp, thuỷ sản còn rất hạn chế. Các ngành công nghệ c._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc8984.doc
Tài liệu liên quan