Các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty CPXD số 4 TL

Phần mở đầu 1.Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH nhằm xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN. Nền kinh tế Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới với nhiều cơ hội và thách thức. Nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu làm cho tình hình cạnh tranh diễn ra ngày càng găy gắt hơn. Các doanh nghiệp muốn thắng thế trong cạnh tranh và đạt được mục tiêu của mình thì phải

doc64 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 13/08/2013 | Lượt xem: 832 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty CPXD số 4 TL, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
tiến hành nghiên cứu thị trường để sản phẩm sản xuất ra có đủ chất lượng với giá cả hợp lý. Khi quyết định lựa chọn phương án sản xuất một sản phẩm nào đó đòi hỏi các doanh nghiệp phải tính đến lượng chi phí bỏ ra và kết quả thu về. Việc doanh nghiệp có tồn tại được hay không phụ thuộc vào việc doanh nghiệp có bù đắp được chi phí bỏ ra trong quá trình SXKD hay không. Điều đó có ý nghĩa là doanh nghiệp phải tính toán hợp lý chi phí sản xuất và thực hiện quá trình sản xuất theo đúng sự tính toán ấy. Chi phí là chỉ tiêu chất lượng quan trọng phản ánh kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, chi phí sản xuất cao hay thấp hoặc tăng hay giảm phản ánh kết quả của việc quản lý, sử dụng vật tư, lao động, tiền vốn. Việc phấn đấu tiết kiệm chi phí SXKD, hạ giá thành sản phẩm là mục tiêu quan trọng không những của doanh nghiệp mà còn là vấn đề của toàn xã hội. Vì vậy, công tác quản lý chi phí sản xuất là một khâu quan trọng đảm bảo cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về kết quả hoạt động sản xuất, đáp ứng nhu cầu trong việc ra quyết định quản lý, là yếu tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói riêng, tăng trưởng và phát triển kinh tế nói chung. Là một đơn vị hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thủ công nghiệp, xâydựng công trình giao thông, thuỷ lợi, gia công lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn, kinh doanh XNK vật tư… Yêu cầu đặt ra cho Công ty CPXD số 4 TL là phải đi trước một bước tạo nền móng vững chắc cho sự phát triển lâu dài. Để làm được điều này, Công ty phải tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm, được đặt ra như là một tất yếu khách quan. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp nói chung và đối với Công ty CPXD số 4 TL nói riêng. Bằng những kiến thức đã học ở nhà trường, nhờ sự hướng dẫn tận tình của cô giáo : Đoàn Hương Quỳnh và các cô chú, các anh chị Phòng tài chính – kế toán Công ty CPXD số 4 TL, em đã mạnh dạn chọn đề tài: “Các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty CPXD số 4 TL”, với hy vọng có thể đóng góp một số ý kiến cho hoạt động quản lý chi phí, giá thành của Công ty trong thời gian tới. 2. Mục tiêu nghiên cứu. Thấy được tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu, trước hết cần tiến hành phân tích tình hình quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của Công ty CPXD số 4 TL trong thời gian qua, từ đó thấy được những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý chi phí, giá thành của Công ty. Từ phân tích thực trạng đó, kết hợp với phương hướng, mục tiêu trong những năm tới của Công ty, từ đó xây dựng những kiến nghị, đưa ra những giải pháp cụ thể trước mắt cũng như lâu dài nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 TL. 3. Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu + Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề: Chuyên đề tập trung nghiên cứu, phân tích thực trạng công tác quản lý chi phí, giá thành ở Công ty CPXD số 4 TL và đưa ra những ý kiến đề xuất nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty. + Nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề: Nhận thức được những vấn đề cơ bản về chi phí, giá thành và sự cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây lắp. Chỉ ra được thực trạng công tác quản lý chi phí, giá thành của Công ty và đưa ra những đánh giá chung về công tác đó của Công ty thời gian qua. 4. Nội dung của đề tài Tên đề tài : “Các giải pháp chủ yếu tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ Phần Xây Dựng số 4 Thăng Long” Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu và kết luận, chuyên đề được trình bày trong 3 chương: Chương 1: Lý luận chung về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ Phần Xây Dựng số 4 Thăng Long. Chương 3 : Một số ý kiến góp phần hoàn thiện công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty Cổ Phần Xây Dựng số 4 Thăng Long. Do trình độ lý luận và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên chuyên đề cuối khoá của em không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Em rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo, các cô chú và các anh chị Phòng tài chính – kế toán của Công ty và bạn đọc để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo: Đoàn Hương Quỳnh, Ban lãnh đạo, các cô chú, các anh chị Phòng tài chính – kế toán của Công ty CPXD số 4 TL đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề cuối khoá này. Em xin chân thành cảm ơn! Hà nội, ngày tháng năm 2005 Sinh viên Ninh Trần Nam Chương I Lý luận chung về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và gía thành sản phẩm của doanh nghiệp 1.1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh 1.1.1.1. Khái niệm Hoạt động SXKD chủ yếu của một doanh nghiệp là tạo ra những sản phẩm nhất định và tiêu thụ những sản phẩm đó trên thị trường nhằm thu được lợi nhuận. Nhưng bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động SXKD thì cũng đều phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định. Các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra trước hết là các chi phí cho việc sản xuất sản phẩm. Trong khi tiến hành sản xuất, các doanh nghiệp phải tiêu hao các loại vật tư như: Nguyên nhiên vật liệu, hao mòn máy móc, thiết bị, các công cụ dụng cụ. Ngoài ra còn các khoản chi phí về tiền lương hay tiền công cho người lao động. Như vậy, chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất và lao động mà các doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên và gắn liền với quá trình sản xuất sản phẩm nên gọi là chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Doanh nghiệp ngoài việc sản xuất, chế biến còn phải tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Trong quá trình này doanh nghiệp cũng phải bỏ ra những khoản chi phí nhất định như: Chi phí về bao gói sản phẩm, chi phí vận chuyển, bảo quản. Ngoài ra để giới thiệu rộng rãi sản phẩm cho người tiêu dùng, cũng như để hướng dẫn người tiêu dùng hoặc thăm dò khảo sát thị trường nhằm đề ra những quyết định có tính chất tối ưu đối với việc sản xuất thì doanh nghiệp cũng phải bỏ ra các chi phí về nghiên cứu, tiếp thị, quảng cáo, giới thiệu hay bảo hành sản phẩm. Ngoài những chi phí sản xuất và chi phí sinh hoạt, trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp còn bỏ ra những khoản chi phí phục vụ cho những hoạt động của bộ máy quản lý doanh nghiệp có liên quan đến quá trình kinh doanh. Như vậy, nhìn từ góc độ doanh nghiệp, có thể thấy chi phí SXKD của một doanh nghiệp là toàn bộ chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ sản phẩm, chi phí quản lý doanh nghiệp có liên quan đến hoạt động SXKD và các khoản thuế gián thu mà doanh nghiệp phải bỏ ra để thực hiện hoạt động SXKD trong một thời kỳ nhất định. Để đánh gía được kết quả hoạt động kinh doanh tốt đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có doanh thu từ hoạt động kinh doanh bù đắp, trang trải được toàn bộ chi phí kinh doanh và thu được lợi nhuận cao. Chi phí kinh doanh là một chỉ tiêu quan trọng. Qua xem xét chỉ tiêu này có thể đánh giá được trình độ quản lý kinh doanh, tình hình sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí của doanh nghiệp. Chi phí kinh doanh ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận mà lợi nhuận là mục tiêu kinh doanh, mục đích cuối cùng của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy, các doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến vấn đề quản lý chi phí, bởi lẽ mỗi đồng chi phí không hợp lý đều làm tăng giá thành sản phẩm, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp. Do đó hạ thấp chi phí kinh doanh là một điều kiện để doanh nghiệp đạt được mục tiêu của mình và đảm bảo cho sự tồn tại và đi lên của doanh nghiệp. 1.1.1.2. Phân loại chi phí sản xuất Chi phí trong năm tài chính bao gồm nhiều khoản chi phí. Các chi phí này khác nhau về nội dung kinh doanh, tính chất của chi phí, vai trò của nó trong việc tạo ra sản phẩm, dịch vụ. Để tạo điều kiện cho công tác quản lý và hạch toán chi phí tính giá thành sản phẩm từ đó tính đúng kết quả từng loại hoạt động kinh doanh thì việc phân loại chi phí SXKD theo các tiêu thức là rất cần thiết. Để phân loại chi phí sản xuất người ta có rất nhiều tiêu thức khác nhau nhưng về mặt cơ bản người ta dùng ba tiêu thức chủ yếu: Một là, phân loại chi phí SXKD theo nội dung, tính chất kinh tế. Theo cách phân loại này chi phí chia thành các yếu tố khác nhau, mỗi yếu tố chi phí chỉ bao gồm những chi phí cùng một nội dung kính tế không phân biệt chi phí đó phát sinh từ lĩnh vực nào. Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí SXKD của của doanh nghiệp được chia thành 5 loại: - Chi phí vật tư mua ngoài là toàn bộ giá trị vật tư mua ngoài dùng vào hoạt động SXKD của doanh nghiệp như chi phí nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế… - Chi phí tiền lương và các khoản trích theo lương là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công doanh nghiệp phải trả cho những người tham gia vào hoạt động SXKD; các khoản chi phí trích nộp theo lương như chi phí BHXH, BHYT, KPCĐ mà doanh nghiệp phải nộp trong kỳ. - Chi phí khấu hao TSCĐ là toàn bộ số tiền khấu hao các loại TSCĐ trích trong kỳ. - Chi phí dịch vụ mua ngoài là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả cho các dịch vụ đã sử dụng vào hoạt động SXKD trong kỳ do các đơn vị khác ở bên ngoài cung cấp như: dịch vụ điện, nước… - Chi phí khác bằng tiền là các khoản chi phí bằng tiền ngoài các khoản đã nêu trên. Phân loại các chi phí của doanh nghiệp thành các yếu tố chi phí như trên có ý nghĩa lớn trong quản lý chi phí. Nó cho biết kết cấu, tỷ trọng của từng loại chi phí để phân tích đánh giá tình hình thực hiện dự toán chi phí sản xuất theo yếu tố ở Bảng thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp tài liệu tham khảo để lập dự toán chi phí sản xuất, lập kế hoạch cung ứng vật tư, kế hoạch quỹ lương, tính toán nhu cầu vốn đầu tư cho kỳ sau. Hai là, phân loại chi phí sản xuất theo mục đích công dụng kinh tế và địa điểm phát sinh chi phí. Cách phân loại này dựa vào mục đích công dụng của chi phí nơi phát sinh chi phí và nơi gánh chịu chi phí để phân chia chi phí sản xuất thành các khoản mục khác nhau. Theo cách phân loại này toàn bộ chi phí sản xuất được chia thành: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là các chi phí về nguyên vật liệu, nhiên liệu, dụng cụ sản xuất trực tiếp dùng vào việc chế tạo sản phẩm hàng hóa dịch vụ. - Chi phí nhân công trực tiếp là toàn bộ các khoản tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp có tính chất lương, các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của nhân công trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp. - Chi phí sản xuất chung là các khoản chi phí được sử dụng ở các phân xưởng, bộ phận kinh doanh như: Tiền lương và phụ cấp lương của quản đốc, nhân viên phân xưởng, chi phí TSCĐ thuộc phạm vi phân xưởng, chi phí vật liệu, công cụ dụng cụ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí bằng tiền phát sinh ở phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất. - Chi phí bán hàng bao gồm các chi phí phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm hàng hóa, dịch vụ như: Chi phí tiền lương, phụ cấp trả lương cho công nhân bán hàng, tiếp thị, vận chuyển, bảo quản, các chi phí khấu hao phương tiện vận tải, chi phí vật liệu, bao bì, các chi phí dịch vụ mua ngoài, các chi phí bằng tiền khác (như: Bảo hành sản phẩm, quảng cáo). - Chi phí quản lý doanh nghiệp là các chi phí cho bộ máy quản lý doanh nghiệp, các chi phí liên quan đến hoạt động chung của doanh nghiệp như: Khấu hao TSCĐ phục vụ cho bộ máy quản lý, chi phí công cụ dụng cụ, các chi phí khác phát sinh trong phạm vi toàn doanh nghiệp (như: Tiền lương và các khoản phụ cấp lương trả cho Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, nhân viên các phòng ban quản lý), chi phí vật liệu, đồ dùng văn phòng, các khoản thuế, lệ phí, bảo hiểm, chi phí dịch vụ mua ngoài thuộc văn phòng doanh nghiệp. Các khoản chi phí dự phòng giảm gía hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, công tác phí, các chi phí giao dịch, đối ngoại… Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp có thể tập hợp chi phí và tính gía thành cho từng loại sản phẩm, quản lý chi phí tại địa điểm phát sinh để khai thác khả năng hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Ba là, phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với quy mô SXKD Theo cách phân loại này chi phí SXKD của doanh nghiệp được chia thành hai loại: Chi phí cố định và chi phí biến đổi. - Chi phí cố định: Là các chi phí không thay đổi (hoặc thay đổi không đáng kể) theo sự thay đổi quy mô SXKD của doanh nghiệp, thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí khấu hao TSCĐ (theo thời gian); chi phí tiền lương trả cho cán bộ, nhân viên quản lý, chuyên gia, lãi tiền vay phải trả, chi phí cho thuê tài chính, văn phòng. - Chi phí biến đổi: Là các chi phí thay đổi trực tiếp theo sự thay đổi của quy mô sản xuất. Thuộc loại chi phí này bao gồm: Chi phí nguyên vật liệu, chi phí tiền lương công nhân trực tiếp, chi phí hoa hồng bán hàng, chi phí dịch vụ được cung cấp (như: Tiền điện, tiền nước, tiền điện thoại…) Do đặc điểm của từng loại chi phí nêu trên khi quy mô SXKD càng tăng thì chi phí cố định tính cho một đơn vị sản phẩm hàng hoá, dịch vụ càng giảm. Riêng đối với chi phí biến đổi, việc tăng hoặc giảm hay không thay đổi khi tính chi phí này cho một đơn vị sản phẩm còn phụ thuộc vào tương quan biến đổi giữa quy mô SXKD và tổng chi phí biến đổi của doanh nghiệp. Cách phân loại này giúp cho doanh nghiệp thấy được xu hướng biến đổi của từng loại chi phí theo quy mô kinh doanh, từ đó doanh nghiệp có thể xác định được sản lượng hoà vốn cũng như quy mô kinh doanh hợp lý để đạt được hiệu quả cao nhất. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 1.1.2.1. Khái niệm Trong SXKD chí phí mới là mặt thứ nhất thể hiện sự hao phí đã chi ra. Để đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chi phí phải được xem xét trong mối quan hệ chặt chẽ với mặt thứ hai cũng là mặt cơ bản trong quá trình sản xuất. Đó là, kết quả sản xuất thu được biểu hiện dưới hình thái tiền tệ, quan hệ so sánh đó đã hình thành nên chỉ tiêu “Giá thành sản phẩm”. Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ chi phí của doanh nghiệp đã bỏ ra để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị sản phẩm hay loại sản phẩm nhất định. Có nhiều loại doanh nghiệp sản xuất ra cùng sản phẩm nhưng do trình độ quản lý khác nhau, giá thành sản phẩm đó sẽ khác nhau. Chính vì vậy mà giá thành sản phẩm mang tính cá biệt đối với từng doanh nghiệp. Trong công tác quản lý các hoạt động kinh doanh, giá thành sản phẩm giữ một vai trò hết sức quan trọng thể hiện trên các mặt sau: - Giá thành là thước đo mức hao phí về sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ để xác định hiệu quả SXKD. Muốn lựa chọn sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần phải nắm bắt được nhu cầu thị trường, gía cả thị trường và mức hao phí sản xuất loại sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả sản xuất loại sản phẩm đó để lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất tối ưu. - Giá thành là một công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát tình hình hoạt động SXKD, xem xét hiệu quả các biện pháp tổ chức, kỹ thuật. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản phẩm, phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến phát sinh chi phí không hợp lý để có biện pháp loại trừ. - Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá cả đối với từng loại sản phẩm, tạo cho doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. 1.1.2.2. Nội dung Trong phạm vi sản xuất và tiêu thụ sản phẩm có thể phân biệt giá thành sản xuất SP và giá thành toàn bộ. Giá thành sản xuất của sản phẩm và dịch vụ bao gồm: - Chi phí vật tư trực tiếp - Chi phí nhân công trực tiếp - Chi phí sản xuất chung Giá thành toàn bộ sản phẩm đã tiêu thụ gồm toàn bộ chi phí liên quan đến quá trình sản xuất và tiêu thụ một khối lượng sản phẩm nhất định gồm: - Giá thành sản xuất của sản phẩm - Chi phí bán hàng - Chi phí quản lý doanh nghiệp Đứng trên góc độ kế hoạch hoá, giá thành sản phẩm của doanh nghiệp còn được chia thành: - Giá thành kế hoạch: Việc xác định gía thành kế hoạch được xây dựng trước khi bước vào chu kỳ sản xuất, chế tạo sản phẩm. Giá thành kế hoạch được tính trên cơ sở chi phí sản xuất kế hoạch và được xem là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, là cơ sở để phân tích, đánh gía tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, kế hoạch hạ gía thành của doanh nghiệp. - Giá thành định mức: Được thực hiện trước khi tiến hành sản xuất chế tạo sản phẩm. Giá thành định mức được tính trên cơ sở các chi phí hiện hành và chi phí đơn vị sản phẩm. Nó là công cụ quản lý định mức của doanh nghiệp, là thước đo chính xác để xác định hiệu quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động trong sản xuất giúp cho việc đánh gía đúng đắn các giải pháp kinh tế kỹ thuật mà doanh nghiệp đã thực hiện trong quá trình hoạt động sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả SXKD. - Giá thành thực tế: Được xác định khi quá trình sản xuất, chế tạo SP đã hoàn thành và được xác định trên cơ sở lượng chi phí sản xuất thực tế đã phát sinh trong kỳ. Giá thực tế phản ánh tổng hợp kết quả phấn đấu của doanh nghiệp trong việc tiết kiệm chi phí, hạ gía thành sản phẩm. Nó là cơ sở để xác định kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp, là căn cứ để xây dựng gía thành kế hoạch cho kỳ sau, đảm bảo cho giá thành kế hoạch ngày càng sát thực và hợp lý. 1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và gía thành Giữa chi phí SXKD và giá thành sản phẩm có mối liên hệ mật thiết với nhau. Chúng giống nhau về bản chất vì đều là biểu hiện bằng tiền những hao phí mà doanh nghiệp đã chi ra trong quá trình sản xuất, chế tạo sản phẩm. Tuy nhiên, giữa chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm lại có sự khác nhau về mặt phạm vi và về mặt lượng. Về mặt phạm vi: Chi phí SXKD hợp thành giá thành sản phẩm, nhưng không phải toàn bộ chi phí SXKD phát sinh trong kỳ đều được tính vào gía thành sản phẩm. Giá thành sản phẩm biểu hiện lượng chi phí để hoàn thành việc sản xuất và tiêu thụ một đơn vị hay một khối lượng sản phẩm nhất định; còn chi phí sản xuất sản phẩm thể hiện số chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong một thời kỳ nhất định bao gồm cả chi phí sản xuất các sản phẩm hoàn thành và các sản phẩm chưa hoàn thành, chi phí cho các công việc khác phát sinh trong kỳ. Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau khi có sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ. Sự khác nhau về mặt lượng và mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm thể hiện ở công thức tính giá thành sản phẩm tổng quát sau đây: Z=Ddk+ C + Dck Trong đó: Z: tổng gía thành sản phẩm Ddk: trị giá sản phẩm dở dang đầu kỳ Dck : trị giá sản phẩm dở dang cuối kỳ C: tổng chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm phải luôn đi liền với nhau trong quá trình sản xuất của một doanh nghiệp. Chỉ có trên cơ sở tập hợp được chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo từng khoản mục, đối tượng, điểm phát sinh mới có thể tính được giá thành sản phẩm sản xuất ra. Tiết kiệm chi phí sản xuất là con đường cơ bản để hạ giá thành sản phẩm giúp cho doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranh trên thị trường. 1.2. Sự cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 1.2.1. Vai trò của chỉ tiêu chi phí và giá thành trong quản lý kinh tế ở doanh nghiệp Trong công tác quản trị doanh nghiệp, chi phí sản xuất và gía thành sản phẩm là hai chỉ tiêu kinh tế quan trọng luôn được các nhà quản lý quan tâm vì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là chỉ tiêu phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Thông qua những thông tin về chỉ tiêu chi phí sản xuất kinh doanh do bộ phận kế toán cung cấp, những người quản lý doanh nghiệp nắm được chi phí sản xuất của từng bộ phận, từng khoản mục, từng loại sản phẩm, lao vụ cũng như toàn bộ hoạt động kinh doanh của toàn bộ doanh nghiệp. Qua đó để đánh giá phân tích tình hình thực hiện các định mức chi phí và dự toán chi phí, tình hình thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm để có quyết định quản lý phù hợp. Còn về chỉ tiêu gía thành, đây là thước đo hao phí sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn cứ xác định hiệu quả kinh doanh. Để quyết định sản xuất một loại sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu thị trường, giá cả và mức hao phí sản xuất tiêu thụ sản phẩm đó. Trên cơ sở như vậy mới xác định được hiệu quả của sản phẩm đó và quyết định khối lượng sản xuất để đạt được lợi nhuận tối đa. Thông qua tình hình thực hiện kế hoạch giá thành, doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất và chi phí bỏ vào sản xuất, tác động đến hiệu quả thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất. Phát hiện và tìm ra các nguyên nhân dẫn đến các chi phí phát sinh không hợp lý để có biện pháp loại trừ. Giá thành là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng và thực hiện chính sách giá cả đối với từng sản phẩm. 1.2.2. ý nghĩa của việc quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp Trong điều kiện có nhiều doanh nghiệp cùng hoạt động trong một lĩnh vực thì doanh nghiệp ngoài việc cạnh tranh với nhau bằng chất lượng còn cạnh tranh cả về giá cả mà đấu thầu trong xây dựng là một điển hình. Vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải giảm tối đa các khoản chi phí để hạ giá thành mà vẫn đảm bảo được chất lượng để có thể cạnh tranh, tồn tại và đứng vững trên thị trường. Muốn chiến thắng trong cạnh tranh, một vấn đề quan trọng mà bất cứ doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào cũng phải quan tâm là giảm chi phí sản xuất. Hạ thấp chi phí không những chứng tỏ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn là nguồn tích luỹ chủ yếu cho nền kinh tế. Con đường duy nhất để doanh nghiệp đứng vững trong nền kinh tế thị trường là phải thường xuyên cải tiến mẫu mã cho phù hợp với thị hiếu của thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm và hạ được giá thành. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hạ giá thành là con đường cơ bản để tăng doanh lợi, nó cũng là tiền đề để tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường kể cả trong và ngoài nước, góp phần cải thiện đời sống vật chất cho người lao động. Ta có thể thấy ý nghĩa cụ thể của việc hạ giá thành là: - Hạ giá thành sẽ trực tiếp làm tăng lợi nhuận, nếu giá thành sản phẩm thấp so với giá bán trên thị trường thì doanh nghiệp có thể thu được lợi nhuận trên một đơn vị sản phẩm càng cao. Mặt khác, gía thành sản phẩm thấp thì doanh nghiệp có thể hạ được giá bán nhờ đó mà tăng khối lượng tiêu thụ, thu được nhiều lợi nhuận. - Hạ giá thành là cơ sở cho doanh nghiệp giảm bớt lượng vốn lưu động đã sử dụng vào sản xuất, khi hạ giá thành sản phẩm tức là doanh nghiệp đã tiết kiệm được chi phí về nguyên vật liệu, chi phí tiền lương, chi phí quản lý. Nghĩa là với khối lượng sản xuất như cũ doanh nghiệp chỉ cần một lượng vôn ít hơn. Trong điều kiện đó doanh nghiệp có thể rút bớt vốn lưu động trong sản xuất hoặc mở rộng tăng thêm khối lượng sản phẩm tiêu thụ. Việc hạ giá thành sản phẩm được thực hiện thông qua hai chỉ tiêu: mức hạ gía thành và tỷ lệ hạ giá thành. Khi xem xét việc hạ giá thành sản phẩm cần kết hợp cả hai chỉ tiêu này và chỉ xem xét cho những sản phẩm so sánh được. Trong đó: Mz: Mức hạ giá thành sản phẩm hàng hóa so sánh được Zi0: Giá thành đợn vị kỳ báo cáo Zi1: Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch Si1: Số lượng sản phẩm kỳ kế hoạch Tz: Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm so sánh được Như vậy, trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, việc tiết kiệm chi phí hạ gía thành sản phẩm của các ngành nghề sẽ mang lại sự tiết kiệm lao động xã hội. Nó sẽ làm tăng tổng số lợi nhuận của các doanh nghiệp đồng thời cũng làm tăng ngân sách nhà nước thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp. Chính vì vậy tiết kiệm chi phí trong sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm không chỉ là vấn đề quan tâm của các nhà sản xuất mà nó còn là mối quan tâm của từng ngành và toàn xã hội. 1.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp Để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh, các nhà quản lý không chỉ cần phải nắm vững nội dung, bản chất và kết cấu của các khoản mục trong chi phí sản xuất kinh doanh mà còn phải thấy được các nhân tố tác động đến chi phí sản xuất kinh doanh. Có nhiều nhân tố khách quan và chủ quan tác động đến chi phí, song có thể quy lại một số nhân tố chủ yêu sau: 1.3.1. Nhân tố tiến bộ khoa học và công nghệ Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và công nghệ sản xuất, các máy móc thiết bị, phương pháp công nghệ hiện đại được sử dụng ngày càng nhiều tạo nên khả năng lớn cho việc tiết kiệm chi phí lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình sản xuất. Vì vậy, các doanh nghiệp nào nắm bắt và ứng dụng kịp thời các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất sẽ có được nhiều lợi thế trong cạnh tranh, tiết kiệm được chi phí sản xuất, hạ gía thành và nâng cao chất lượng sản phẩm. 1.3.2. Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính của doanh nghiệp Nếu trình độ trang bị kỹ thuật hiện đại mà quản lý lại không tốt thì chi phí không có xu hướng giảm mà còn có xu hướng tăng lên. Do vây, phải tổ chức quản lý chi phí sản xuất sao cho hợp lý, bố trí các khâu sản xuất ăn khớp với nhau sẽ hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, năng lượng điện lực. Mặt khác, tổ chức lao động khoa học sẽ tạo ra sự kết hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý loại trừ được tình trạng lãng phí lao động, lãng phí giờ máy, thúc đẩy việc nâng cao năng suất lao động dẫn đến giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Đặc biệt bộ máy quản lý phải là những người có trình độ chuyên môn, năng lực quản lý, năng lực sáng tạo sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định được phương án sản xuất tối ưu làm cho lượng chi phí bỏ ra hợp lý nhất; phân công bố trí lao động đúng ngành, đúng năng lực lao động sẽ làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả kinh tế góp phần tích cực vào việc hạ giá thành sản phẩm. Việc phát huy đầy đủ vai trò của quản lý tài chính cũng ảnh hưởng rất lớn tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành sản phẩm. Việc tổ chức đầy đủ vốn, đảm bảo kịp thời với chi phí sử dụng vốn thấp nhât sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh có hiệu quả. Việc phân phối, sử dụng hợp lý, tăng cường kiểm tra giám sát sử dụng vốn sẽ tạo điều kiện sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả cao, bảo toàn và phát triển được vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Từ đó có tác động đến việc tiết kiệm chi phí sản xuất góp phần tích cực hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. 1.3.3. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Trong nhiều trường hợp, điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của từng doanh nghiệp khó khăn hay thuận lợi cũng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Chẳng hạn đối với các doanh nghiệp khai thác, nguồn tài nguyên cũng như điều kiện khai thác có ảnh hưởng quan trọng tới khả năng tiết kiệm chi phí và hạ giá thành. Nguồn tài nguyên phong phú, điều kiện khai thác thuận lợi thì chi phí khai thác sẽ thấp và ngược lại. Tóm lại, có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến việc quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Mỗi nhân tố có phạm vi và mức độ tác động khác nhau, làm sao hạn chế ảnh hưởng tiêu cực, phát huy tích cực nhằm có biện pháp tăng cường quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Qua đó, chúng ta sẽ xem xét đưa ra một số biện pháp chủ yếu dưới đây. 1.4. Vai trò của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đưa ra quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt được mục tiêu hoạt động tài chính doanh nghiệp, đó la tối đa hoá lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Để tồn tại phát triển trong nền kinh tế thị trường thì các hoạt động của doanh nghiệp phải được đặt trên cơ sở của công tác hoạch định cả về chiến lược và chiến thuật. Xét trên góc độ tài chính, việc giám sát thường xuyên đi sâu vào mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là một biện pháp có hiệu quả để thúc đẩy doanh nghiệp ra sức cải tiến công tác quản lý chi phí sản xuất, phấn đấu hạ giá thành sản phẩm tăng khối lượng tiêu thụ. Thông qua giám đốc tài chính sẽ chỉ ra mặt mạnh, mặt yếu từ đó khai thác mọi tiềm năng của doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là đảm bảo tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ được giá thành sản phẩm. Việc quản lý không chỉ ở các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn ở mọi giai đoạn của quá trình sản xuất từ: - Khâu huy động vốn, đảm bảo vốn đầy đủ kịp thời cho hoạt động SXKD: Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp là xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp, lựa chọn phương pháp và hình thức huy động vốn thích hợp góp phần tăng sản lượng sản xuất, giảm chi phí sử dụng vốn. - Tổ chức sử dụng vốn hiệu quả: Bằng việc đánh giá và lựa chọn phương án đầu tư tối ưu, tổ chức sản xuất góp phần tiết kiệm chi phí khấu hao trên một đơn vị sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu tiêu hao và chi phí lao động sống trên một đơn vị sản phẩm. - Thông qua giám sát kiểm tra, giám đốc tài chính để tìm ra các giải pháp nhằm quản lý chặt chẽ chi phí ngăn ngừa và hạn chế các chi phí bất hợp lý, điều chỉnh các hoạt động phù hợp với diễn biến thực tế kinh doanh. Chỉ có như vậy mới giám sát chặt chẽ mọi chu kỳ của quá trình sản xuất từ đó đề ra biện pháp quản lý chi phí hạ giá thành sản phẩm. Quản trị tài chính doanh nghiệp đối với quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ngăn ngừa các chi phí sản xuất vượt định mức, nâng cao năng suất lao động, sử dụng có hiệu quả công suất máy móc thiết bị, tiết kiệm chi phí sản xuất chung. Bên cạnh đó giúp cho công tác hạch toán phản ánh đúng những chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất, phản ánh đúng g._.iá thành sản phẩm mà vẫn đảm bảo chất lượng. Trên cơ sở đó mới ổn định tài chính của doanh nghiệp. Trái lại nếu không có sự giám sát tài chính như vậy sẽ dẫn đến tình trạng thất thoát vật tư, tiền vốn và chi phí vượt dự toán nên doanh nghiệp dễ lâm vào khó khăn. Muốn tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm phải tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất phải lập được kế hoạch chi phí, kế hoạch giá thành, dùng hình thức tiền tệ tính toán trước mọi chi phí cho SXKD kỳ kế hoạch, phải xây dựng được ý thức thường xuyên tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm … Để thực sự phát huy tác dụng đòi hỏi phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa các phòng ban, giữa các bộ phận để kiểm sát chặt chẽ chi phí. Điều đó được khởi đầu và thực hiện có hiệu quả hay không là phụ thuộc không nhỏ vào sự năng động sáng tạo, khả năng quản lý tài chính của các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp. 1.5. Một số biện pháp chủ yếu để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm 1.5.1. Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh là việc xác định toàn bộ mọi khoản chi phí mà doanh nghiệp phải chi ra để sản xuất và tiêu thụ sản xuất kỳ kế hoạch. Thông qua việc lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có thể kiểm tra tình hình sử dụng chi phí, phát hiện khả năng tiết kiệm chi phí để thúc đẩy đơn vị cải tiến kinh doanh tăng lợi nhuận, đáp ứng nhu cầu tái sản xuất mở rộng và cải thiện đời sống công nhân viên của đơn vị. Trong quá trình lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh đòi hỏi người quản lý phải tính đúng, tính đủ các chi phí sản xuất kinh doanh để xác định chỉ tiêu kế hoạch, đồng thời theo dõi động viên các bộ phận trong doanh nghiệp thực hiện. 1.5.2. Doanh nghiệp phải chú trọng tới trang thiết bị máy móc, công nghệ Việc chú trọng tới trang thiết bị dây chuyền sản xuất, đổi mới máy móc thiết bị, cải tiến quy trình công nghệ để không bị đẩy lùi tụt hậu so với tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đổi mới máy móc thiết bị đi đôi với việc tiết kiệm nguyên vật liệu, giảm nhẹ biên chế, nâng cao năng suất lao động từ đó mà giảm chi phí hạ gía thành sản phẩm. Đổi mới máy móc thiết bị là một là một vấn đề chiến lược lâu dài của doanh nghiệp, tuy nhiên phải xem xét hiệu quả đầu tư mang lại, phải nghiên cứu kỹ lưỡng về mặt tiến bộ khoa học kỹ thuật, lựa chọn đối tác đầu tư trước khi tiến hành mua. 1.5.3. Quản lý tốt lao động và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí tiền lương, tiền công để hạ giá thành sản phẩm Muốn giảm chi phí tiền lương và tiền công cần phải tăng nhanh năng suất lao động. Để làm được như vậy cần phải tiến hành cải tiến tổ chức sản xuất, tổ chức lao động đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ kỹ thuật và tay nghề; hoàn thiện định mức lao động, tăng cường kỷ luật lao động, áp dụng hình thức tiền lương tiền thưởng, trách nhiệm vật chất để người lao động gắn bó và có trách nhiệm nâng cao năng suất lao động. Sử dụng yếu tố “con người” là rất quan trọng vì tỷ trọng chi phí tiền lương chiếm rất lớn trong tổng chi phí của doanh nghiệp. Do đó giá thành sản phẩm phải chịu tương đối lớn. Hàng kỳ doanh nghiệp nên tổ chức bình chọn những cá nhân, đơn vị hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để khen thưởng kịp thời, doanh nghiệp đưa ra hệ số thi đua vào trong tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên. Mặt khác, doanh nghiệp cần phải chú trọng đến công tác đời sống cho cán bộ công nhân viên như: nơi ăn ở, vui chơi, thể dục thể thao; đảm bảo đầy đủ chính sách cho người lao động như: nghỉ phép, nghỉ ốm, sẽ khuyến khích được người lao động nâng cao năng suất lao động. 1.5.4 Tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý Làm như vậy sẽ tiết kiệm được chi phí gián tiếp, hạn chế sự lãng phí nguyên vật liệu, giảm thấp phế liệu thu hồi, chi phí ngừng sản xuất. Tổ chức quản lý sản xuất phải được chú trọng từ trên xuống dưới mỗi đồng chi phí bỏ ra được người quản lý sử dụng một cách tiết kiệm và đạt hiệu quả cao nhất. 1.5.5 Tăng cường phát huy vai trò tài chính trong việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm Thực hiện biện pháp này đòi hỏi doanh nghiệp phải tăng cường công tác kiểm tra tài chính đối với từng khoản chi phí như: Chi phí nguyên vật liệu: kiểm tra định mức tiêu hao nguyên vật liệu, giá vật tư, tận dụng phế liệu thu hồi. Thông qua kiểm tra phát hiện sự tăng giảm chi phí vật tư cho một đơn vị sản phẩm, đề xuất kịp thời biện pháp thưởng phạt Chi phí tiền lương: kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch lao động tiền lương và tình hình thực hiện quỹ lương bằng việc kiểm tra định mức lao động, tốc độ tăng tiền lương và tốc độ tăng năng suất lao động, hình thức trả lương. Chi phí quản lý phân xưởng, chi phí quản lý doanh nghiệp: kiểm tra các khoản chi phí này thực tế phát sinh có phù hợp với dự toán được lập, cần kết hợp với tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh chung của doanh nghiệp, qua đó ngăn chặn kịp thời tình trạng chi phí quá mức cần thiết kém hiệu quả. Mặt khác, tổ chức sử dụng vốn hợp lý, đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn cho mua sắm vật tư tránh tổn thất cho sản xuất như phải ngừng sản xuất vì thiếu vật tư, kiểm tra tình hình dự trữ vật tư, tồn kho sản phẩm, từ đó đẩy mạnh tốc độ chu chuyển vốn, giảm bớt nhu cầu vay vốn làm giảm bớt chi phí lãi vay Trên đây là một số biện pháp nhằm để quản lý tốt chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm. Thực tế, do đặc điểm khác nhau giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân nên mỗi doanh nghiệp cần phải căn cứ vào những biện pháp chung đó để đưa ra cho doanh nghiệp mình phương hướng biện pháp cụ thể có tính chất khả thi nhằm quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm Chương II Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long 2.1. Khái quát chung về Công ty CPXD số 4 TL 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển Tên công ty: Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long Tên giao dịch: Thăng Long No4 Construction joint strock company Tên viết tắt: Thăng Long No4 Const j.strock co Trụ sở giao dịch chính: Đường Nam Thăng Long, xã Xuân Đỉnh, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long (Công ty CPXD số 4TL) là doanh nghiệp hạng I - hạch toán độc lập trực thuộc Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long (Bộ Giao thông vận tải). CTCP số 4TL thành lập ngày 17/10/1973 theo quyết định số 2347/QĐ-TC với tên “Công ty vật liệu và xây dựng”. Đến ngày 21/07/1976, công ty đổi tên thành “Công ty vật tư” với nhiệm vụ tiếp nhận, bảo quản và quản lý cấp phát toàn bộ vật tư phục vụ cho việc xây dựng cầu Thăng Long. Đến năm 1985 cầu Thăng Long được hoàn thành và đưa vào sử dụng, công ty chuyển sang thu hồi vật tư, thiết bị toàn bộ công trường cầu Thăng Long. Công ty bắt đầu nhiệm vụ mới là quản lý, cấp phát và tiếp nhận dầm cầu Đuống, cầu Việt Trì, phục vụ công trình cầu bến Thuỷ và sản xuất vật liệu xây dựng. Thời gian này để phù hợp với hình thức hoạt động, công ty đổi tên là “Xí nghiệp cung ứng vật tư thiết bị Thăng Long”. Năm 1995 với nhiệm vụ và yêu cầu mới của xã hội, của thị trường. công ty lại được đổi tên thành “Công ty xây dựng công trình Thăng Long” theo quyết định số 3376QĐ/TCCB-LĐ ngày 03/07/1995 của Bộ Giao thông vận tải, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 110000 cấp ngày 27/02/1995 tại sở kế hoạch đầu tư thành phố Hà Nội. Đến ngày 20/09/2000, công ty đã được chuyển đổi từ doanh nghiệp Nhà nước sang Công ty cổ phần theo Quyết định số: 2750/2000/QĐBGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải với tên gọi mới là “Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long”. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số: 0103000198 cấp ngày 29/12/2000 tại phòng kế hoạch đầu tư TP-Hà Nội. Công ty được thành lập từ việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước trên cơ sở tự nguyện cùng góp vốn của các cổ đông được tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa X kỳ họp thứ V thông qua ngày 10/021999. 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty + Chức năng, nhiệm vụ của công ty Là một trong số những đơn vị tiêu biểu của Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long trở thành tập đoàn kinh tế mạnh. Công ty CPXD số 4 TL luôn đi đầu trong công tác đổi mới phương pháp kinh doanh, phong cách phục vụ khách hàng, nghiên cứu khai thác triệt để khả năng và tiềm lực sẵn có để mở rộng thị trường, tìm kiếm và thiết lập các mối quan hệ hợp tác lâu dài với các bạn hàng trong và ngoài nước. Với phương châm “Đơn vị giỏi một nghề, Công ty đa ngành nghề”, Công ty CPXD số 4 TL luôn đổi mới đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng. Công ty hoạt động kinh doanh trên các lĩnh vực: - Xây dựng công trình giao thông, phá đá nổ mìn trên cạn – dưới nước. - Xây dựng công trình thuỷ lợi, công nghiệp dân dụng, thi công các loại nền móng công trình. - Gia công lắp đặt kết cấu thép, cấu kiện bê tông đúc sẵn. - Kinh doanh xuất nhập khẩu vật tư, thiết bị giao thông vận tải, vật liệu xây dựng, cho thuê kho bãi. - Xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng cụm dân cư đô thị, hệ thống điện dưới 35Kw, hệ thống nước sinh hoạt. - Sữa chữa thiết bị thi công. - Sản xuất thủ công nghiệp. Hiện nay ngành đóng vai trò mũi nhọn của công ty là xây dựng các công trình giao thông, các công trình dân dụng. + Nhiệm vụ của công ty - Công ty căn cứ vào phương hướng nhiệm vụ và các chỉ tiêu kế hoạch của Nhà nước, của Bộ Giao Thông và của Tổng công ty xây dựng cầu Thăng Long, và căn cứ vào nhu cầu thị trường để chủ động đề ra kế hoạch sản xuất kinh doanh và triển khai thực hiện kế hoạch có hiệu quả. - Trên cơ sở các luận chứng kinh tế kỹ thuật, dự án đầu tư, Công ty tổ chức nhận thầu xây lắp các công dân dụng công nghiệp. - Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả tiền vốn, vật tư trang thiết bị, lược lao động… đạt hiệu quả tốt nhất. 2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và công tác kế toán của công ty 2.1.3.1. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý Cơ cấu bộ máy quản lý công ty như sau: - Hội đồng quản trị Là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định mọi vấn đề liên quan đến mục đích, quyền lợi của công ty. - Chủ tịch Hội đồng quản trị Theo dõi quá trình thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị và các mặt hoạt động của công ty. Lập chương trình, kế hoạch hoạt động và tổ chức việc thông qua quyết định của Hội đồng quản trị. - Giám đốc điều hành Là người đại diện theo pháp luật của công ty, quyết định các vấn đề liên quan đến hoạt động hàng ngày của công ty, tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị. Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý của CTCPXD số 4tl Hội đồng quản trị Chủ tịch HĐQT GĐ điều hành Ban kiểm soát PGĐ ĐH nội chính PGĐ ĐH kỹ thuật thi công PGĐ ĐH sản xuất công nngnghiệp Phòng tổ chức cán bộ, lao động Phòng thiết bị kỹ thuật thi công và vật tư Phòng kinh tế kế hoạch Phòng tài chính, kế toán Phòng kinh doanh Các đội công trình (từ đội 1 -> 10) Đội sửa chữa thiết bị cơ giới - Ban kiểm soát Do đại hội cổ đông bầu ra và bãi nhiệm theo đa số phiếu của cổ phần hiện diện bằng thể thức trực tiếp, bỏ phiếu kín. Kiểm soát các hoạt động kinh doanh và tài chínhcủa của công ty, tiến hành giám sát đối với các hành vi vi phạm pháp luật và điều lệ của công ty, của Hội đồng quản trị, của giám đốc điều hành trong quá trình thi hành nhiệm vụ. - Phó giám đốc điều hành kỹ thuật thi công Là người phụ trách về kỹ thuật sản xuất và xây dựng, trực tiếp theo dõi các phòng vật tư, kế hoạch, kỹ thuật thiết bị. - Phó giám đốc điều hành sản xuất công nghiệp Là người làm công tác tham mưu cho giám đốc về hoạt động sản xuất kinh doanh, trực tiếp theo dõi phòng tài chính – kế toán, phòng kinh doanh. - Phó giám đốc điều hành nội chính Là người phụ trách đời sống vật chất cho cán bộ công nhân viên, trực tiếp theo dõi các phòng tổ chức cán bộ và lao động, phòng hành chính bảo vệ. *Nhiệm vụ các phòng ban - Phòng tổ chức hành chính Đảm nhiệm công tác quản lý lao động, theo dõi thi đua, công tác văn thư, tiếp kách, bảo vệ tài sản. Ngoài ra còn làm công tác tuyển dụng lao động, quản lý theo dõi bổ sung của nhan viên toàn công ty. - Phòng tài chính – kế toán Có nhiệm vụ hạch toán tài vụ cũng như quá trình sản xuất kinh doanh của công ty. Tổ chức thực hiện việc ghi chép, xử lý, cung cấp số liệu về tình hình kinh tế, tài chính, phân phối và giám sát vốn, giám sát và hướng dẫn nghiệp vụ đối với những người làm công tác kế toán trong công ty. - Phòng kinh tế kế hoạch dự án Xây dựng kế hoạch sản xuất, giá thành kế hoạch của sản phẩm, ký kết hợp đồng sản xuất, quyết toán sản lượng, tham gia đề xuất với giám đốc các quy chế quản lý kinh tế áp dụng nội bộ. - Phòng kỹ thuật thiết bị thi công và vật tư Phụ trách vấn đề xây dựng và quản lý các quy trình trong sản xuất, nghiên cứu ứng dụng công nghệ mới đưa vào sản xuất, tổ chức hướng dẫn nhằm nâng cao tay nghề cho công nhân, tăng khả năng nghiệp vụ cho các kỹ thuật viên. Ngoài ra còn có nhiệm vụ cung cấp nguyên vật liệu cho quá trình sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, điều hành mọi phương tiện thiết bị được giao cho toàn công ty. - Phòng kinh doanh Phân tích hoạt động sản xuất kinh doanh trước, trong và sau khi sản xuất, thiết lập mối quan hệ với các cấp, lập toàn bộ hồ sơ dự toán công trình, định giá và lập phiếu giá thanh toán, làm tham mưu bảo đảm tính pháp lý của mọi hoạt động kinh tế, kiểm tra bản vẽ thiết kế, tổng hợp khối lượng công trình, bám sát kế hoạch, tiến độ, biện pháp thi công và tham gia nghiệm thu. Như vậy, mỗi phòng ban trong công ty đều có chức năng nhiệm vụ riêng nhưng giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ dưới sự điều hành của ban giám đốc và Hội đồng quản trị công ty nhằm đạt lợi ích cao nhất cho công ty. 2.1.3.2. Đặc điểm về tổ chức sản xuất và lao động + Về tổ chức sản xuất kinh doanh Hiện nay, việc tổ chức sản xuất thành các đội sản xuất một cách hợp lý giúp cho công ty trong việc quản lý lao động và phân công lao động của công ty thành nhiều vị trí khác nhau với nhiều công trình khác nhau có hiệu quả. Cơ cấu sản xuất của công ty được bố trí như sau: + Đội 2,5,9: Là các đội sản xuất các loại cấu kiện bê tông, đúc cọc, sản xuất dầm bê tông, ống… Công việc của các đội có thể do công ty giao nhiệm vụ hoặc cũng có thể tự tìm kiếm bạn hàng, tạo thêm việc cho cán bộ công nhân viên của mình. + Đội 1.3,4,6,7,8,10: Là các đội tổ chức thi công các công trình nền móng dân dụng công nghiệp, thi công và sửa chữa đường bộ, cầu cống vừa và nhỏ. Ngoài các đội này còn có đội xe cơ giới có nhiệm vụ bảo dưỡng phục hồi các loại xe, máy, đảm bảo vận chuyển vật liệu, máy móc thiết bị đến nơi cần thiết, phục vụ trực tiếp cho quá trình thi công xây dựng sản xuất có hiệu quả. Bộ phận quản lý của mỗi đội trên gồm: 1 đội trưởng, 1 đội phó, 1 nhân viên tíêp liệu, 1 nhân viên thống kê và 2 kỹ sư. + Về tổ chức lao động Xuất phát từ đặc điểm của ngành Xây dựng cơ bản, mỗi công trình có những đặc điểm khác nhau. Sản phẩm xây lắp cố định tại nơi sản xuất, đơn vị xây lắp phải di chuyển vật tư, lao động theo mặt bằng và vị trí thi công mà vị trí thi công thường rải rác khắp nơi cách xa trụ sở công ty. Do vậy, số lao động trong công ty thường thay đổi theo khối lượng công việc mà công ty nhận thầu. Hiện nay, lực lượng lao động chính thức trong công ty gồm có: Trình độ đại học là 106 người Trình độ trung cấp là 54 người Công nhân lao động là 806 người Lực lượng lao động của công ty đều là những người có trình độ tay nghề vững, có năng lực.Trong số 106 cán bộ có chuyên môn thì có đến 64 người có thâm niên công tác trên 10 năm, 65 người có thâm niên trên 5 năm. Với một đội ngũ lãnh đạo, cán bộ, kỹ sư, công nhân có trình độ tay nghề chuyên môn tay nghề cao, đây là một tiềm lực rất lớn của công ty. Nếu biết sử dụng hợp lý thì chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao cho hoạt động sản xuất kinh doanh. 2.1.3.3. Đặc điểm tổ chức công tác kế toán của Công ty + Bộ máy kế toán: Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo mô hình một phòng kế toán trung tâm của công ty, bao gồm các bộ phận cơ cấu phù hợp với các khâu công việc, các phần hành kế toán, thực hiện toàn bộ công tác kế toán của công ty. Các nhân viên thống kê ở các tổ, đội làm nhiệm vụ hướng dẫn và thực hiện hạch toán ban đầu, thu nhận, kiểm tra sơ bộ chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến hoạt động của tổ, đội đó và gửi những chứng từ kế toán đó về phòng Tài chính – kế toán của công ty để hạch toán và xử lý. Từ đó, đưa ra các thông tin tài chính, kế toán tổng hợp, chi tiết đáp ứng yêu cầu quan lý của công ty. + Tất cả các phần hành kế toán trong công ty đều tuân thủ chung một hệ thống kế toán đã ban hành theo QĐ1864/1998/QĐ-BTC ngày 16/12/1998 và các chuẩn mực kế toán đã được ban hành. + Hình thức sổ kế toán tại công ty: Hình thức kế toán được Công ty áp dụng là hình thức “Chứng từ ghi sổ”. Công ty nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ. + Cơ cấu tổ chức bộ máy kế toán: Phòng Tài chính – Kế toán của công ty có 8 người, đảm nhiệm các phần hành kế toán khác nhau: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán ở công ty CPXD số 4 Thăng Long Kế toán trưởng Kế toán tổng hợp (phó phòng) Kế toán vật tư, TSCĐ Kế toán thanh toán Kế toán vốn bằng tiền Kế toán thanh toán tiền lương và BHXH Thủ quỹ Nhân viên thông kê ở đội 2.2. Khái quát tình hình tài chính và hoạt động SXKD của Công ty trong thời gian qua 2.2.1. Những thuận lợi và khó khăn trong SXKD của Công ty 2.2.1.1. Những thuận lợi + Là công ty Nhà nước hình thành từ khá sớm, vì vậy công ty có khá nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Đó là tiền đề, là cơ sở vững chắc tạo tiền đề bước vào giai đoạn mới. + Được sự giúp đỡ của Tổng công ty và các ngành chức năng như: Ngân hàng, tổ chức Tài chính tín dụng, chính quyền địa phương… + Công ty có tinh thần đoàn kết, phát huy tinh thần cách mạng vượt qua mọi thử thách, hăng hái thi đua liên tục hoàn thành nhiệm vụ được giao. + Cán bộ công nhân viên trong công ty đều là những người có kinh nghiệm, nhiệt tình và có đầy đủ trình độ chuyên môn để phục vụ cho công ty. + Công ty đã xây dựng được định hướng phát triển là đổi mới phương thức quản lý điều hành, đầu tư thiết bị, công nghệ tiến tiến, đào tạo con người nhằm đáp ứng các yêu cầu cao nhất của khách hàng, Công ty cam kết thực hiện dựa trên những nguyên tắc: - Không ngừng phát triển, đầu tư đổi mới, đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng các yêu cầu đa dạng và tổng hợp của khách hàng. - Luôn quan tâm và liên hệ chặt chẽ với khách hàng, đảm bảo cung cấp các sản phẩm, dịch vụ tốt nhất, nhanh nhất. - Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đảm bảo đủ về số lượng và chất lượng. - Thường xuyên chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động. Trên cơ sở từng bước đó, quyết định từng bước đi vững chắc đáp ứng yêu cầu tình hình nhiệm vụ thực tế. 2.2.1.2. Những khó khăn + Nền kinh tế thị trường đem lại cho Công ty nhiều thuận lợi, thời cơ mới, nhưng đồng thời cũng xuất hiện những khó khăn, thách thức. Xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập kinh tế Việt Nam với khu vực và quốc tế sẽ làm tăng sức ép cạnh tranh trong hoạt động SXKD. Việc tìm kiếm và giải quyết việc làm cho người lao động, tiềm kiếm thị trường cho các sản phẩm công nghiệp sẽ còn hết sức khó khăn do phải cạnh tranh ngày càng gay gắt. + Sự biến động bất thường của giá NVL gây khó khăn cho công ty trong việc thực hiện kế hoạch gía thành các công trình đã lập ra từ trước, nhất là trong năm 2003 và 2004 giá nguyên vật liệu tăng, giảm nhanh đến bất ngờ. + Do thành lập từ khá sớm và chịu ảnh hưởng nhiều của cơ chế cũ nên trang thiết bị của doanh nghiệp chưa được nâng cấp một cách hiện đại. + Hoạt động của công ty có tính chất lưu động, trong quá trình sản xuất phải thường xuyên di chuyển máy móc, công cụ, người lao động. Từ đây làm nảy sinh những khó khăn trong việc quản lý chi phí cũng như làm phát sinh thêm một số chi phí phụ làm tăng giá thành sản phẩm. + Quá trình xây dựng thường chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện thời tiết, khí hậu nên dễ bị gián đoạn gây ứ đọng vốn. + Sản phẩm hoàn thành theo từng đơn đặt hàng, do đó phải lập dự toán trước về giá thành, tính toán cẩn thận trước khi tham gia đấu thầu. 2.2.2. Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của Công ty CPXD số 4 TL. 2.2.2.1. Đánh giá khái quát qua Bảng cân đối kế toán. - Về tài sản. TSLĐ: 103.150.888.743đồng, chiếm 83,74% tổng tài sản. TSCĐ: 20.020.543.361đồng, chiếm 16,26% tổng tài sản. Đến quý 4 năm 2004 tổng tài sản của Công ty giảm 24.507.319.018 đồng với tỷ lệ giảm là 19,89%, chứng tỏ quy mô SXKD của Công ty đã giảm. Trong đó TSLĐ và đầu tư ngắn hạn giảm 24.179.330.121 đồng với tỷ lệ là 23,44% do: + Tiền tăng 1.324.142.852 đồng với tỷ lệ tăng 117,29% chứng tỏ an toàn ngân quỹ của Công ty tăng. Nhưng tỷ trọng tiền nhỏ 1,09% đầu năm và 3,1% cuối năm, chứng tỏ Công ty đã phát huy hết khả năng sinh lời của đồng vốn. Công ty đã để lại một lượng tiền mặt quỹ hơi ít còn lại đầu tư nhiều nên phải hết sức cẩn thận trong việc quản lý đồng vốn và thu lời. + Các khoản phải thu giảm 16.439.720.334 đồng với tỷ lệ giảm 29,73% điều này cho thấy thị phần của Công ty giảm, do cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường. Song số vốn bị chiếm dụng giảm xuống làm cho tốc độ chu chuyển vốn tương đối tốt. Do vậy, các khoản phải thu giảm, Công ty có thể giảm nhẹ trong công tác quản lý năm tới vì tỷ trọng các khoản phải thu chiếm 53,6% tổng TSLĐ và đầu tư ngắn hạn. Tuy vậy, Công ty nên tích cực tìm kiếm thị trường, nâng cao uy tín của Công ty. + Hàng tồn kho cũng giảm 107.029.552 đồng với tỷ lệ giảm 0,32% tương đối nhỏ do nguyên vật liệu tồn kho và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang giảm. Do Công ty đang dần bước vào giai đoạn cuối cùng hoàn thành bàn giao các công trình đang thi công. + TSLĐ khác cũng giảm 8.956.723.087 đồng với tỷ lệ giảm 60,9%, chủ yếu là giảm các khoản tạm ứng và chi phí trả trước giảm. Công ty không phải trả trước cho các đội để mua công cụ dụng cụ, nguyên vật liệu… Như vậy, các khoản mục của TSLĐ và đầu tư ngắn hạn đều giảm đã làm cho TSLĐ của Công ty giảm đi. - Đối với TSCĐ và đầu tư dài hạn cũng giảm so với đầu kỳ là 327.988.897 đồng với tỷ lệ giảm 1,63%. Nguyên nhân chính do giá trị TSCĐ giảm, Công ty không đầu tư mua sắm trang thiết bị TSCĐ, đổi mới số thiết bị (xe, máy thi công). Công ty đang hướng sang việc tận dụng thuê ngoài máy móc thiết bị cho việc thi công những công trình ở xa, từ đó giảm chi phí vận chuyển, bảo dưỡng, sửa chữa. Nhìn chung cơ cấu tài sản của Công ty là hợp lý, tạo ra sự cân đối giữa TSCĐ và đầu tư dài hạn với TSLĐ và đầu tư ngắn hạn, phù hợp với thực trạng SXKD của Công ty cũng như cơ cấu tài sản của Tổng công ty cầu Thăng Long và của ngành. - Về nguồn vốn. Nguồn vốn Chủ sở hữu: 7.862.820.395đồng, chiếm 9,33% tổng nguồn vốn. Nợ phải trả: 115.308.611.709 đồng, chiếm 90,67% tổng nguồn vốn. Đến quý 4 năm 2004 nguồn vốn đã giảm so với đầu năm là 24.507.319.018 đồng tương ứng với tỷ lệ giảm 19,89% phù hợp với sự giảm đi của tài sản. Sự giảm đi đó chủ yếu là do sự giảm đi của các khoản phải trả, cụ thể: + Nợ phải trả giảm 24.641.061.820 đồng, với tỷ lệ giảm 21,37% sự giảm này chủ yếu là do các khoản nợ ngắn hạn trong kỳ giảm. Chi tiết dù vay ngắn hạn tăng 6.746.972.089 đồng với tỷ lệ tăng 14,35% nhưng các khoản phải trả cho người bán, người mua trả tiền trước… đã giảm nhiều hơn. Đây chính là khoản mục quyết định sự giảm xuống của các khoản nợ phải trả cũng như của nguồn vốn, và đó cũng có thể coi là gánh nặng về mặt tài chính của Công ty trong những năm tới có phần giảm xuống. + Đối với nguồn vốn chủ sở hữu, tỷ trọng đầu năm là 9,33% đến cuối năm giảm xuống còn 8,11% trong tổng nguồn vốn. Tuy nhiên, nguồn vốn chủ sở hữu tăng 133.743.132 đồng với tỷ lệ tăng 17% là do sự tăng lên của nguồn vốn quỹ, đặc biệt là quỹ đầu tư phát triển… Nguyên nhân các quỹ của công ty tăng lên là do được trích lập từ lợi nhuận năm trước, mà các năm gần đây có tốc độ tăng trưởng tương đối ổn định. 2.2.2.2. Tình hình doanh thu và lợi nhuận Trong những năm gần đây, Công ty đã đạt được một số thành tựu khả quan chứng tỏ cong đường mà công ty lựa chọn là đúng đắn. Qua Bảng số liệu 3 ta thấy doanh thu của Công ty tăng lên, lợi nhuận tuy có giảm nhưng không đáng kể và quan trọng hơn là khoản nộp ngân sách, thu nhập bình quân (người/tháng) đã tăng. Cũng cần phải thấy rằng từ khi bước sang loại hình Công ty Cổ phần, do cơ chế mới của Nhà nước ưu đãi giúp công ty khi thực hiện phần nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước được giảm xuống. Nhờ vậy, sang tới năm 2003 mọi chỉ tiêu đặt ra của doanh nghiệp đã hoàn thành tốt và phần nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước đã tăng. Quá trình chuyển đổi từ một doanh nghiệp Nhà nước sang công ty Cổ phần cho thích ứng với nền kinh tế thị trường đã mang lại hiệu quả tích cực. Địa bàn hoạt động của Công ty không ngừng được mở rộng, quy mô kinh doanh ngày càng lớn. Công ty đã nhận được nhiều hợp đồng xây dựng lớn có giá trị như: Xây dựng nhà ga T1 Hà Nội – Hà Nội, cầu Đá trắng – Yên Bái, cầu + đường Nội Bài – Bắc Ninh – quốc lộ 18, cầu Cả - Tuyên Quang. Là một đơn vị hạch toán độc lập, lấy thu bù chi, kinh doanh có lãi nên thu nhập của người lao động tuy chưa cao song từng bước được cải thiện. Người lao động có công ăn việc làm ổn định, được sự quan tâm sâu sắc của đoàn thể quần chúng và được tạo mọi điều kiện để chứng tỏ mình. Những kết quả SXKD trên phần nào đã nói lên sự phấn đấu nỗ lực của cán bộ công nhân viên trong Công ty đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, năng động sáng tạo, sự đoàn kết phôi hợp nhịp nhàng trong các khâu của quá trình SXKD từ khi ký hợp đồng, lập kế hoạch đến tổ chức thi công và nghiệm thu công trình. 2.3. Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 TL 2.3.1. Công tác tập hợp chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành ở Công ty CPXD số 4 TL 2.3.1.1. Đối tượng và nội dung các khoản mục chi phí cấu thành sản phẩm ở Công ty * Đối tượng tập hợp chi phí Trong doanh nghiệp xây lắp, đối tượng tập hợp chi phí sản xuất ở Công ty được xác định là từng công trình, hạng mục công trình, một bộ phận của hạng mục công trình, nhóm hạng mục công trình. Mỗi công trình, hạng mục công trình từ khi khởi công đến khi hoàn thành bàn giao đều được mở riêng những tờ kê chi tiết chi phí sản xuất phát sinh cho từng công trình, hạng mục công trình đó. Tập hợp chi phí sản xuất theo đúng đối tượng đã có tác dụng phục vụ tốt cho việc tăng cường quản lý sản xuất và chi phí sản xuất, cho công tác hạch toán kinh tế nội bộ và hạch toán kinh tế toàn doanh nghiệp, phục vụ cho công tác tính giá thành sản phẩm được kịp thời, chính xác. * Nội dung các khoản mục chi phí Giá thành sản phẩm xây lắp bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến việc thi công xây lắp công trình, nội dung các khoản mục bao gồm: - Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Gồm tất cả các chi phí về nguyên vật liệu trực tiếp dùng cho thi công xây lắp như: Vật liệu xây dựng: Là giá thực tế của cát, đá, sỏi, sắt, thép, xi măng… Vật liệu khác: Bột màu, a dao, đinh, dây … Nhiên liệu: Than củi dùng để nấu nhựa dải đường… Vật kết cấu: Bê tông đúc sẵn… Thiết bị gắn liền với vật kiến trúc như: Thiết bị vệ sinh, thông gió, ánh sáng, thiết bị sưởi ấm … (kể cả công xi mạ, bảo quản thiết bị). - Chi phí nhân công trực tiếp: Gồm tiền lương, phụ cấp của công nhân trực tiếp tham gia công tác thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị dụng cụ gồm: + Tiền lương chính của công nhân trực tiếp thi công xây lắp kể cả công nhân phụ. + Các khoản phụ cấp theo lương như phụ cấp làm đêm, thêm giờ, phụ cấp trách nhiệm, chức vụ… + Tiền lương phụ của các công nhân trực tiếp thi công xây lắp. + Các khoản chi BHXH, BHYT, KPCĐ của công nhân trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp. - Chi phí sử dụng máy thi công: Gồm các chi phí trực tiếp liên quan đến việc sử dụng máy thi công như: + Tiền lương của công nhân điều khiển máy móc thi công, kể cả công nhân phục vụ máy và các khoản phụ cấp theo lương, kể cả khoản tiền ăn giữa ca của công nhân điều khiển máy thi công. + Chi phí khấu hao TSCĐ là máy thi công. + Chi phí về công cụ dụng cụ dùng cho máy móc thi công. + Chi phí về sữa chữa, bảo trì, điện nước cho máy thi công, tiền thuê TSCĐ, chi phí trả trước cho nhà thầu. + Chi phí quản lý máy thi công. - Chi phí sản xuất chung: Là các chi phí trực tiếp khác (trừ những chi phí trực tiếp kể trên) và các chi phí về tổ chức, quản lý phục vụ sản xuất xây lắp, các chi phí có tính chất chung cho hoạt động xây lắp gắn liền với từng đơn vị thi công như tổ, đội, công trường thi công, bao gồm: + Chi phí nhân viên phân xưởng: Gồm tiền lương chính, lương phụ, phụ cấp lương, phụ cấp lưu động phải trả cho nhân viên quản lý đội xây dựng… + Chi phí vật liệu: Gồm chi phí vật liệu cho đội xây dựng như vật liệu dùng để sửa chữa, bảo dưỡng TSCĐ, công cụ dụng cụ thuộc đội xây dựng quản lý và sử dụng, chi phí lán trại tạm thời. + Chi phí dụng cụ sản xuất xây lắp: Gồm các chi phí về công cụ dụng cụ dùng cho thi công như cuốc xẻng, dụng cụ cầm tay, xe đẩy, ván khuân và các loại công cụ dụng cụ dùng cho sản xuất và quản lý đội xây dựng. + Chi phí khấu hao TSCĐ: Gồm các chi phí khấu hao TSCĐ dùng chung cho hoạt động của đội xây dựng. 2.3.1.2. Đối tượng và phương pháp tính giá thành ở Công ty * Đối tượng tính giá thành Đối tượng tính giá thành xây lắp là các loại sản phẩm, công việc, lao vụ do doanh nghiệp sản xuất ra và cần phải tính được giá thành và giá thành đơn vị. Kỳ tính giá thành là theo năm. Đối với các công trình được giao (hay chỉ định thầu): Căn cứ vào bản thiết kế kỹ thuật và khối lượng công việc chủ yếu, đơn giá do cơ quan Nhà nước ban hành thì Phòng kế hoạch lập dự toán, xác định giá dự toán công trình. Giá dự toán được sử dụng để hai bên xem xét, ký hợp đồng (bên chỉ định và bên được chỉ định). Đối với công trình tham gia dự thầu: Khi nhận được thông tin mời thầu thì Phòng kinh tế kế hoạch cùng với các phòng ban liên quan tiến hành khảo sát, xác định khối lượng thi công, biện pháp thi công để lập hồ sơ dự thầu, xác định rõ giá dự thầu. Trong quá trình đấu thầu Phòng ._.dự án xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải thực hiện theo đúng phương thức đấu thầu quốc tế tại Việt Nam, thì khoảng 89% các nhà thầu nước ngoài thắng thầu. Thực tế xảy là các nhà thầu Việt Nam chỉ còn chiếm được vị trí làm thầu phụ, do đó quá trình thi công bắt buộc phải phụ thuộc, thụ động đôi khi còn bị ép giá. Do đâu lại xảy ra tình trạng như vậy? Nguyên nhân thì có nhiều, nhưng sâu xa mà nói thì đó là do giá thành các công trình có thể thực hiện được của ta còn quá cao. Chúng ta chưa có phương án cụ thể nào để giảm chi phí sản xuất và hạ giá thành công trình mà vẫn đảm bảo chất lượng. Một bài toán đặt ra cho các doanh nghiệp của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xây dựng, mà rất ít doanh nghiệp tìm ra lời giải “Tại sao họ vẫn có thể làm được trong khi đó ta lại không thể?”. Đã có rất nhiều ý kiến tranh cãi về vấn đề này, kể cả những cuộc Hội thảo mang tính chuyên đề. Qua nghiên cứu, tham khảo thực tế trong và ngoài nước thì một kinh nghiệm chung nhất trong quản lý chi phí và hạ giá thành mà các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này luôn quan tâm, thực hiện tốt là: - Có kế hoạch, tổ chức quản lý thực hiện nghiêm túc. - Sử dụng có hiệu qủa máy móc thiết bị, đầu tư nâng cao năng lực sản xuất. - Coi trọng yếu tố con người. - Quan tâm đến việc học hỏi kinh nghiệm, đánh giá cao việc đổi mới tích cực. - Nâng cao uy tín, mở rộng quan hệ hợp tác. - Đặc biệt là sự “mềm dẻo” trong thi công, biết phối hợp công việc một cách nhịp nhàng để có hiệu quả cao nhất; nắm rõ mối quan hệ mật thiết giữa số lượng lao động, thời gian lao động, năng suất lao động. Biết ứng phó một cách linh hoạt, có thể lấy lợi nhuận ở khu vực này bù đắp cho khu vực khác, ở hợp đồng này cho hợp đồng khác. Biết cách tình giá thành thấp thông qua việc loại bỏ chi phí phụ. Các nhà thầu cũng có các biện pháp thi công hợp lý với từng công trình, đồng thời nắm vững và tận dụng một cách linh hoạt các quy phạm, thông lệ về xây dựng cơ bản sao cho có lợi nhất. Để quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm thì việc tham khảo, học hỏi kinh nghiệm quản lý từ các doanh nghiệp khác có ý nghĩa quan trọng. Quản lý tốt chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm phụ thuộc rất nhiều vào phương án tổ chức thi công, máy móc thi công, trình độ cán bộ kỹ thuật… Nhưng không vì lẽ đó mà các nhà thầu cố gắng hạ thấp gía thành, giảm chi phí sản xuất bằng mọi cách để làm giảm chất lượng công trình. Thực tế thời gian gần đây nhất là trong năm 2002 – 2003 tình hình đã có sự thay đổi khác: Có khoảng gần 85% các hợp đồng của các dự án đều chạy về phía các nhà thầu Việt Nam. Mặc dù con số đó chưa phản ánh hết tiềm lực của các doanh nghiệp của Việt Nam, nhưng có được kết quả như trên đã là sự cố gắng rất nhiều của các doanh nghiệp. Trong đó cũng có những công trình mà Công ty CPXD số 4 TL thắng thầu, đảm bảo đủ công ăn việc làm cho cán bộ công nhân viên của mình, họ không con phải thấp thỏm trong cảnh chờ việc và cũng không phải lo chạy xuôi chạy ngược xin chân phụ thầu. 3.3. Một số ý kiến góp phần tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 TL Trên cơ sở nghiên cứu về mặt lý luận và phân tích tình hình thực tế trong công tác quản lý – lập và thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm xây lắp tại Công ty CPXD số 4 TL cho thấy: Để hạ giá thành sản phẩm, các công trình, hạng mục công trình đòi hỏi phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp, có sự phối hợp nhiều cấp, nhiều mặt trong toàn bộ hoạt động của công ty. Song do khả năng có hạn và giới hạn mục tiêu của đề tài, em xin nêu một số biện pháp cơ bản, phù hợp và có tính chất khả thi nhất với công ty hiện nay. 3.3.1. Hoàn thiện công tác xây dựng giá thành kế hoạch, lập kế hoạch thi công các công trình xây lắp Đối với hoạt động xây dựng cơ bản, công tác xây dựng giá thành kế hoạch, lập kế hoạch thi công đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện kế hoạch quản lý chi phí và hạ giá thành. Đây là điều kiện tiền đề, làm cơ sở của việc kiểm tra đối chiếu nỗ lực hạ giá thành của Công ty. Có làm tốt công tác này mới tạo điều kiện cho việc thực hiện giá thành công trình xây lắp đạt kết quả khả quan. Công ty có thể áp dụng các biện pháp sau: 3.3.1.1. Xác định chính xác khôi lượng công tác xây lắp phải hoàn thành, lựa chọn phương pháp và tiến độ thi công hợp lý Phòng kinh tế kế hoạch và bộ phận thi công cần phải xác định khối lượng xây lắp, nhu cầu, tiến độ thu mua nguyên liệu, bố trí cả máy thi công và nhân công sao cho khoa học, phù hợp nhất để tiết kiệm các chi phí tiêu hao. Các đơn vị thi công phải biết kết hợp các phần việc cùng một lúc, nắm rõ các mối quan hệ đẩy nhanh tiến độ thi công và các chi phí phát sinh như: Trong công tác thi công móng thường sử dụng nhiều thì chi phí phát sinh cang tăng nhưng tiến độ sẽ được rút ngắn. Do đó, Công ty phải xác định khâu nào thì dùng máy, khâu nào dùng người; nguyên vật liệu nào cần mua dưới dạng thành phẩm, nguyên vật liệu nào thì chủ động tạo ra… 3.3.1.2. Xác định nguồn cung ứng nguyên vật liệu, dự trù lao động hợp lý Phòng kế hoạch cần làm tốt hơn chức năng tư vấn trong công tác cung ứng nguyên vật liệu, xác định giá cả một số loại chính, quy trần giá để không đội nào mua với giá cao hơn (trừ những công trình do bên A cung cấp). Những công trình thi công trên địa bàn tỉnh khác thì tận dụng nguyên vật liệu của địa phương để giảm chi phí. Để giảm giá thành vật liệu công ty nên đặt mua khối lượng lớn nguyên vật liệu thường dùng ở mức bình quân năm. Việc này sẽ giúp công ty tiết kiệm chi phí thông qua giảm chiết khấu, không phải ứng tiền trước, đồng thời chủ động về nguyên vật liệu. Hàng năm Công ty sử dụng nhiều loại nguyên vật liệu, chẳng hạn: Với vật liệu Xi măng thì số lượng bình quân cho công tác xây lắp trực tiếp không kể do bên A cung cấp khoảng trên 100 tấn. Do các công trình thi công nằm ở các địa bàn khác nhau nên việc cung ứng tương đối phực tạp. Song thị trường vật liệu phong phú, nhiều loại nếu như tận dụng tốt thì đây là một thuận lợi. Ví dụ: Xi măng Hoàng Thạch giá 830 đồng/kg tại kho người bán, 850 đồng/kg tại chân công trình. Xi măng Bỉm Sơn: của Vinaximex giá 770 đồng/kg tại kho người bán, còn tại chân công trình là 850 đồng/kg. Của công ty vật tư kỹ thuật giá 790 đồng/kg tại kho người bán, 830 đồng/kg tại chân công trình. Nếu mua với số lượng lớn từ 25tấn trở lên thì được giảm 50 đồng/kg. Mặt khác, các loại Xi măng trên địa bàn có tính chất tương tự nhau nhưng giá thành tương đối khác biệt. Chỉ tính riêng trên địa bàn Hà Nội, công ty đã sử dụng trên 45tấn. Như vậy, việc lựa chọn đúng nguồn cung ứng nguyên vật liệu sẽ đem lại hiệu quả to lớn cho công tác hạ giá thành. Chẳng hạn nếu chọn Xi măng CP30 (Bỉm Sơn) của Công ty Vinaximex thì mức tiết kiệm là: (830 – 770)*45.000 – 50*45.000 = 4.950.000 đồng so với Xi măng Hoàng Thạch. (790 – 770)*45.000 + 50*45.000 = 3.150.000 đồng so với Xi măng của công ty vật tư. Thông qua việc ký hợp đồng với số lượng lớn ở mức sử dụng bình quân hàng năm, giao hàng nhiều đợt, giúp Công ty chủ động trong việc cung ứng nguồn hàng; mặt khác giúp công ty tiết kiệm được chi phí dự trữ, bảo quản. Công ty có thể xem xét tương tự với các nguyên vật liệu khác như: Sắt, thép, sỏi, đá. 3.3.1.3. Tiến hành xây dựng hệ thống định mức, chỉ tiêu tiết kiệm các chi phí đầu vào, xây dựng kế hoạch tiết kiệm chi phí giá thành hàng năm Trên cơ sở giá thành dự toán Công ty cần lập ra các hệ số hạ giá thành của các khoản mục đầu vào thích hợp. Thông thường các hệ số này do Bộ xây dựng ban hành (mang tính tùy ý), nhưng cũng có thể xây dựng cho phù hợp với đơn vị mình phổ biến hiện nay hệ số tiết kiệm chi phí là: - Mức tiết kiệm nguyên vật liệu 1%; chi phí nhân công 6%; chi phí máy 6%; chi phí sản xuất 6%. Tuy nhiên với tình hình công ty hiện nay, mức tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu có thể giảm 0,6-0,7% còn ba khoản chi phí kia có thể áp dụng 4-5%. Việc áp dụng cũng cần linh hoạt chẳng hạn các công trình có mặt bằng nhỏ hẹp thì các hệ số giảm về chi phí nhân công có thể tăng cao còn chi phí máy không đáng kể. Với những công trình sử dụng nhiều nguyên vật liệu thì cần coi trọng công tác tiết kiệm nguyên vật liệu. Hàng năm dựa trên kế hoạch sản xuất ở từng đội, phòng kế toán cần tính ra mức tiết kiệm kế hoạch mà mỗi đội thành viên cần đạt được. Mức tiết kiệm thực tế đạt được chia cho mức tiết kiệm kế hoạch đề ra là cơ sở xác định các đội có nỗ lực nhất định trong công tác quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm, từ đó có chính sách khen thưởng động viên khích lệ. 3.3.2. Tăng cường đổi mới công tác quản trị và tổ chức sản xuất Hiệu quả của công tác hạ giá thành thực tế sản phẩm xây lắp phụ thuộc vào việc hoàn thiện công tác lập giá thành dự toán nhưng khâu quyết định là chất lượng, tiến độ của quá trình thi công trực tiếp tại công trình. Do đó, quản lý chi phí và hạ giá thành thực tế công trình là kết quả của việc áp dụng đồng thời một loạt các giải pháp trong công tác quản trị và tổ chức thi công như sau: 3.3.2.1. Tăng cường công tác quản lý vật liệu để giảm chi phí nguyên vật liệu trong giá thành Giá nguyên vật liệu tính vào giá thành công trình bao gồm: Giá mua, chi phí vận chuyển, đóng gói, bảo quản… Trong giá thành các công trình, chi phí nguyên vật liệu chiếm khoảng từ 80 – 85%, do đó việc giảm chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn tới công tác hạ giá thành sản phẩm xây lắp. Tuy nhiên, để quản lý tốt chi phí nguyên vật liệu thì Công ty cần nỗ lực phấn đấu trên tất cả các mặt, các khâu. Trong thiết kế kỹ thuật, phải có phương án sử dụng nguyên vật liệu hợp lý, lựa chọn nguyên vật liệu có giá thành hạ nhưng vẫn đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Nên sử dụng nguyên vật liệu trong nước thay thế nhập khẩu, nguyên vật liệu địa phương để giảm chi phí vận chuyển vừa có lợi cho công ty vừa kích thích sản xuất trong nước. Trong qúa trình lập dự toán, phải xác định được nguồn cung cấp nguyên vật liệu, xây dựng định mức nguyên vật liệu trên cơ sở đơn giá của Nhà nước và phù hợp với thực tiễn, sát với giá cả thị trường nhằm hạn chế biến động tiêu cực. Đồng thời trong quá trình thi công, phải xác định phương pháp cung ứng nguyên vật liệu thích hợp. Coi trọng công tác bảo quản nguyên vật liệu, cần có sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên kiểm tra, kiểm soát, tránh cấp thừa không đúng chủng loại. Thực hiện chế độ khen thưởng cá nhân, tập thể có thành tích trong công tác tiết kiệm nguyên vật liệu đồng thời xử lý nghiêm túc những vi phạm. Phát huy chế độ khoán công việc, hạng mục cho các đội sản xuất đồng thời đánh giá tình hình hoàn thành kế hoạch giá thành, rút kinh nghiệm. 3.3.2.2. Tiếp tục cải tiến công tác tổ chức lao động theo hướng xây dựng các tổ, đội khung; tăng cường thuê lao động tự do theo công trình để giảm chi phí nhân công Công ty nên xem xét tiến hành xây dựng biểu đồ nhân lực hợp lý trước khi khởi công công trình, từ đó xác định số lao động cần thiết, biết được tình hình thừa thiếu để chủ động điều tiết. Bố trí đúng người, đúng việc, tránh sự chồng chéo. Với những công việc đòi hỏi yêu cầu về mặt kỹ thuật, mỹ thuật thì nhất thiết phải được những người có tay nghề cao đảm nhiệm. Ngược lại, những công việc giản đơn khác thì lao động phổ thông cũng có thể làm được. Một số vấn đề đang đặt ra là số lượng công nhân biên chế lớn, với mức cung lao động giản đơn dồi dào như hiện nay, công ty nên xây dựng các đội khung. Những đội này bao gồm các công nhân có tay nghề cao, nằm trong biên chế, còn số lao động giản đơn thì tiến hành thuê ngoài theo nhu cầu riêng của từng công trình thi công. Số lao động giản đơn này chỉ chịu sự trực tiếp chỉ đạo của tổ trưởng tổ đội chứ không ràng buộc về mặt hành chính với công ty. Việc làm này sẽ góp phần làm giảm quỹ lương, qua đó trực tiếp hạ giá thành công trình. Tuy nhiên hạn chế căn bản khi sử dụng lao động thuê ngoài là công nhân có trình độ thấp, ý thức kỷ luật kém. Để khắc phục hạn chế này cần thực hiện một số biện pháp: - Có chính sách đào tạo bồi dưõng tay nghề cho đội ngũ công nhân kỹ thuật nòng cốt là những lao động làm việc lâu năm ở công ty, có kế hoạch điều động xuống phụ trách đội. - ở từng đội sản xuất trực tiếp cần phải phân tổ sản xuất thành những nhóm nhỏ, ở mỗi nhóm cử một người phụ trách. Sử dụng hình thức khen thưởng, kỷ luật bằng tiền đối với nhóm trưởng để gắn trách nhiệm của họ trong việc điều hành lao động trong nhóm, tránh lãng phí mất mát vật liệu và tự ý bỏ việc của công nhân 3.3.2.3. Tăng cường công tác quản lý Lập, thực hiện kế hoạch giá thành sản phẩm; thực hiện hạch toán kinh tế theo hướng tăng cường tính chủ động sáng tạo của các xí nghiệp thành viên và các đơn vị thi công. Phòng kinh tế kế hoạch càn quan tâm hơn nữa đến công tác quản lý giá thành. Sau khi lập giá thành dự toán, phải xác định mức hạ giá thành kế hoạch mà đơn vị thi công thực hiện. Sau khi kết thúc công trình phòng kế toán tập hợp chi phí, tính ra giá thành thực tế của công trình. Kết quả này phải được chuyển về phòng kinh tế kế hoạch để có thể đối chiếu hiệu quả của công tác lập giá thành cũng như mức độ phấn đấu hạ giá thành của đơn vị thi công. Từng quý, phòng kinh tế kế hoạch nên xác định chỉ tiêu tổng hợp về mức hạ giá thành kế hoạch, mức hạ giá thành thực tế đạt được, xác định tỷ lệ % trên sản lượng hoặc doanh thu để xác định đội sản xuất nào đạt thành tích cao nhất, có kết quả khả quan nhất trong công tác hạ giá thành. Từ đó đưa ra những chế độ thưởng phạt kịp thời, thích đáng. Liên quan đến hiệu quả quản trị công ty cũng nên thiết lập một hệ thống thông tin hợp lý, phù hợp với đặc điểm sản xuất tổ chức quản lý của công ty. Một hệ thống thông tin luôn được cập nhật bổ sung sẽ cho cán bộ quản lý của công ty biết rõ được: + Thông tin về vật tư. + Thông tin về thị trường. + Thông tin về máy móc thiết bị. + Thông tin từ công ty về đơn vị sản xuất thông qua các quyết định, hướng dẫn. + Thông tin của đơn vị sản xuất về công ty thông qua các báo cáo định kỳ và đột xuất. + Tình hình thị trường, tình hình sản xuất, tình hình về lao động… Trên cơ sở đó đưa ra những quyết định có giá trị đảm bảo cho công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là tốt nhất. Công ty cũng cần quy định rõ chế độ thưởng phạt mức độ giao khoán thích hợp cho từng công trình. Xác định trong những giới hạn nào công ty sẽ thực hiẹn trích tỷ lệ % chi phí quản lý, % lợi nhuận mà các đơn vị thi công được hưởng do thực hiện tốt công tác hạ giá thành. 3.3.2. 4. Quan tâm, tăng cường quản lý chi phí doanh nghiệp Với lượng nhân viên quản lý như hiện nay ở công ty là hợp lý. Trong thời gian này công ty không nên nhận thêm người mà bên cạnh đó sẽ tìm cách tăng hiệu quả hoạt động của từng cá nhân và từng phòng ban. Phòng tổ chức cán bộ sẽ tham mưu cho lãnh đạo doanh nghiệp sắp xếp lại cơ cấu tổ chức sản xuất, xác định lại nhiệm vụ và chức năng của từng cá nhân cũng như phòng ban cho phù hợp với tình hình mới. Đối với TSCĐ dùng trong công tác quản lý ở công ty hiện nay đã trang bị khá hiện đại, đầy đủ thuận lợi cho công việc. Trong năm 2005 ngoại trừ việc nâng cấp hệ thống máy vi tính không nên trang bị thêm TSCĐ dùng trong quản lý nữa. Quản lý chặt chẽ các khoản chi phí bằng tiền phục vụ đối ngoại , giao dịch… cần xây dựng định mức hợp lý với chi phí định mức tham gia dự thầu. Để giảm lãi vay ngân hàng, tìm mọi biện pháp tăng nhanh tốc độ vòng quay của vốn, tận dụng các khoản tiền nhàn rỗi như: Bảo hiểm xã hội, qũy lưong của cán bộ công nhân viên, tiền khấu hao chưa sử dụng đến… 3.3.3. Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo đảm an toàn lao động Với sự phát triển của các công nghệ xây dựng hiện đại, quá trình thi công ngày nay chuyển từ hoạt động “ xây” sang hoạt động “ lắp”, hiện đại hoá các công đoạn sản xuất. Một đòi hỏi bức thiết với công ty là phải dần hiện đại hoá máy móc thiết bị, áp dụng công nghệ xây dựng mới vào xây dựng các công trình theo yêu cầu. Trước những khó khăn và tiềm năng đó Công ty có thể xem xét các biện pháp sau: 3.3.3.1. Tăng cường công tác cơ giới hoá thi công, đưa việc sản xuất các bộ phận kết cấu vào phân xưởng đội, tổ chức sản xuất một số loại vật liệu Vấn đề cần quan tâm ở đây là cần tính toán giữa hiệu quả sản xuất tại công trình với tại phân xưởng đội. Đối với những công trình gần phân xưởng của công ty thì việ đưa sản xuất tại phân xưởng là hợp lý, nếu xa Công ty nên thuê ngoài ở các cơ sở gia công địa phương như: Đinh các loại, vì kèo, cột chống… Công ty cần đầu tư mới trang thiết bị cho xưởng cấu kiện để phát huy tính tích cực của biên pháp này. 3.3.3.2. Khắc phục khó khăn về vốn dài hạn, tạo điều kiện đầu tư và áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật Công ty có thể huy động nguồn vốn dài hạn bằng cách phát hành thêm cổ phiếu để huy động vốn của công nhân viên chức trong công ty. Để thực hiện giải pháp này không phải dễ dàng khi mà thu nhập của họ chưa cao. Song vẫn có thể huy động một phần vốn nằm trong các quỹ tích luỹ gia đình, nếu công ty sử dụng đòn bẩy kích thích vật chất thích hợp với động viên thuyết phục. Công ty cần chú trọng đến quy chế bảo dưỡng chi tiết máy móc thiết bị, đảm bảo cho thiết bị luôn hoạt động và tận dụng tối đa công suất. Cùng với việc hiện đại hoá máy móc công nghệ cũng cần có chính sách khuyến khích cán bộ vừa công tác học hỏi, trao đổi kiến thức về kỹ thuật, nghiên cứu sáng tạo tìm tòi phát hiện hay có sáng kiến có lợi cho công ty. 3.3.4. Tăng cường công tác bảo đảm an toàn lao động Đảm bảo an toàn lao động luôn là yếu tố quan trọng với bất cứ hoạt động nào. Nó là yếu tố tiền đề đảm bảo cho công tác quản lý chi phí sản xuất, giá thành đạt hiệu quả cao. Biện pháp cần nhất hiện nay là: - Giao công việc, máy móc phải cân nhắc lựa chọn lao động hợp lý, tránh để tình trạng phân công việc không hợp lý. Có như vậy mới đảm bảo an toàn máy, người và chất lượng công việc. - Thường xuyên truyên truyền phổ biến kiến thức về an toàn lao động, tổ chức các lớp học nâng cao trình độ, tham dự cuộc thi tìm hiểu an toàn lao động. - Đưa ra các quyết định bắt buộc công nhân khi thi công phải tuân thủ về an toàn lao động: Mặc quần áo bảo hộ lao động, đeo khẩu trang… - Trong quá trình thi công thường xuyên có ý thức cẩn thận đảm bảo an toàn lao động cho công nhân và những người xung quanh hạn chế tai nạn như: Rào chắn, sơn báo hiệu… Kết luận chương 3 Trên đây là một số giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 TL, dựa trên những căn cứ thực tế tình hình quản lý sản xuất, giá thành sản phẩm của Công ty trong một số năm vừa qua. Công ty có thể áp dụng một, một số hoặc kết hợp các giải pháp chắc chắn sẽ mang lại kết quản tốt đẹp, hiệu quả hoạt động SXKD của Công ty sẽ được nâng lên tầm cao mới. Tuy nhiên, để những giải pháp trên có tính khả thi cao thì Công ty cần chuẩn bị một số điều kiện cụ thể như: Đào tạo và đào tạo lại thường xuyên đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân viên, bố trí, xắp xếp nhân lực một cách hợp lý. Đặc biệt, phải có đội ngũ nhân viên có trình độ cao làm công tác khảo sát và định giá công trình, thẩm định các dự án đầu tư, xác định đúng đắn nhu cầu vốn để tiếp nhận các công trình lớn. Ngoài ra, Công ty rất cần đến sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, Bộ Giao thông, TCT cầu Thăng Long, từ phía các nhà đầu tư, các nhà cung cấp tín dụng, các nhà cung cấp vật tư đầu vào. Đồng thời các cơ quan cấp trên cần hỗ trợ cho Công ty về chi phí quảng cáo sản phẩm để sản phẩm của Công ty trở nên quên thuộc, phổ biến đối với khách hàng. Kết luận Nhân loại đang bước vào một nền văn minh mới- văn minh trí tuệ, một nền kinh tế mới- kinh tế tri thức; một xã hội mới - xã hội thông tin. Thế giới đang trong cuộc chạy đua về tốc độ: Tốc độ triển khai, tốc độ đưa ra ứng dụng, đẩy nhanh các số liệu thông tin tri thức... trong hệ thống kinh tế xã hội. Để có thể rút ngắn khoảng cách lạc hậu với các nước tiên tiến, đẩy nguy cơ tụt hậu nền kinh tế thì sản phẩm của mỗi một doanh nghiệp làm ra phải có đủ sức cạnh tranh trên thị trường, Bất kể một doanh nghiệp nào nếu như muốn sản phẩm của mình có sức cạnh tranh cao trên thị trường thì việc tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là yếu tố rất cần thiết. Trong quá trình sản xuất, chi phí sản xuất luôn phát sinh với muôn hình muôn vẻ, vì thế xác định một phương pháp quản lý chi phí sản xuất và đề ra các biện pháp hạ giá thành sản phẩm phù hợp với tình hình thực tế của doanh nghiệp luôn là mục tiêu của các nhà quản trị. Xuất phát từ những suy nghĩ đó, ngay từ khi về thực tập tại Công ty CPXD số 4 TL em đã tích cực tìm hiểu tình hình quản lý chi phí sản xuất cũng như phương pháp hạ giá thành sản phẩm của Công ty. Nhìn chung Công ty đã có những cố gắng trong công tác quản lý chi phí, lập cũng như đề ra một số phương pháp nhằm làm hạ giá thành sản phẩm xây lắp. Qua quá trình thực tập tại Công ty, được sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Đoàn Hương Quỳnh, Ban lãnh đạo cùng các cô chú trong Phòng tài chính kế toán của Công ty CPXD số 4 TL, với những kiến thức lý luận đã học ở Học Viện Tài Chính. Qua quá trình tiếp xúc với thực tế dựa trên nhiều thành tích mà Công ty đạt được cũng như những khó khăn mà Công ty gặp phải trong công tác quản lý chi phí, giá thành. Em đã mạnh dạn đưa ra một số ý kiến đề xuất nhằm góp phần tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Với mong muốn sẽ góp phần làm nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty trong thời gian tới. Do trình độ và thời gian nghiên cứu còn hạn chế, hơn nữa vấn đề quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm là một vấn đề phức tạp đòi hỏi phải hội tụ được rất nhiều kiến thức không chỉ về mặt lý luận mà còn cả về mặt thực tiễn nên chuyên đề cuối khoá của em còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, cùng toàn thể cán bộ công nhân viên trong Công ty để những giải pháp em đưa ra được hoàn thiện hơn và có thể góp một phần nhỏ bé vào việc tăng cường quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm của Công ty trong thời gian tới. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo bộ môn Tài chính Doanh nghiệp đặc biệt là cô giáo: Đoàn Hương Quỳnh cùng các cô chú anh chị Phòng tài chính – kế toán của Công ty CPXD số 4 TL đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ em để em có thể hoàn thành chuyên đề tốt nghiệp này. Hà Nội, ngày 06 tháng 4 năm 2005 Sinh viên Ninh Trần Nam Danh mục Tài liệu tham khảo 1. Báo “Giao thông vận tải” các số năm 2003+2004 2. Điều lệ quản lý và đầu tư xây dựng. 3. Giáo trình “Pháp luật Kinh tế” của Học viện Tài chính Hà Nội xuất bản năm 2004. 4. Giáo trình “Quản trị Tài chính doanh nghiệp” của Học viện Tài chính Hà Nội xuất bản năm 2001. 5. Giáo trình “Kế toán doanh nghiệp sản xuất” của trường ĐH Tài chính kế toán Hà Nội xuất bản năm 1999. 6. Giáo trình “Phân tích hoạt động kinh tế doanh nghiệp” của Học viện Tài chính Hà Nội xuất bản năm 2002. 7. Giáo trình “Kinh tế và quản trị kinh doanh xây dựng” của trường ĐH Xây dựng Hà Nội xuất bản năm 2002. 8. Một số vấn đề về công tác quản lý tài chính trong tình hình hiện nay 2002. 9. Quản trị kinh doanh của các doanh nghiệp – Hà Nội 10. Tạp chí “Doanh nghiệp” 11. Tạp chí “Tài chính” 12. Tạp chí “Xây dựng” Mục lục Trang Phần mở đầu 1 Chương 1: Lý luận chung về chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 4 1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 4 1.1.1. Chi phí sản xuất kinh doanh 4 1.1.2. Giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 8 1.1.3. Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành 10 1.2. Sự cần thiết phải quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 11 1.2.1. Vai trò của chỉ tiêu chi phí và giá thành trong quản lý kinh tế ở doanh nghiệp 11 1.2.2. ý nghĩa của việc quản lý chi phí và hạ giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 12 1.3. Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm của doanh nghiệp 13 1.3.1. Nhân tố tiến bộ khoa học và công nghệ 13 1.3.2. Nhân tố tổ chức quản lý sản xuất, quản lý tài chính của doanh nghiệp 14 1.3.3. Nhân tố thuộc điều kiện tự nhiên và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 14 1.4. Vai trò của công tác quản trị tài chính doanh nghiệp trong việc quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm 15 1.5. Một số biện pháp chủ yếu để quản lý chi phí sản xuất kinh doanh và hạ giá thành sản phẩm 16 1.5.1. Lập kế hoạch chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 16 1.5.2. Doanh nghiệp phải chú trọng tới trang thiết bị máy móc, công nghệ 17 1.5.3. Quản lý tốt lao động và sử dụng lao động có hiệu quả để giảm chi phí tiền lương, tiền công để hạ giá thành sản phẩm 17 1.5.4. Tổ chức sản xuất, bố trí các khâu sản xuất hợp lý 18 1.5.5. Tăng cường phát huy vai trò tài chính trong việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh hạ giá thành sản phẩm 18 Chương 2: Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm ở Công ty cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long 19 2.1. Khái quát chung về Công ty CPXD số 4 Thăng Long 19 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển 19 2.1.2. Chức năng, nhiệm vụ của công ty 20 2.1.3. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và công tác kế toán của công ty 21 2.2. Khái quát tình hình tài chính và hoạt động SXKD của Công ty trong thời gian qua 26 2.2.1. Những thuận lợi và khăn trong SXKD của Công ty 26 2.2.2. Đánh giá khái quát về tình hình tài chính của Công ty CPXD số 4 Thăng Long 27 2.3. Thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long 30 2.3.1. Công tác tập hợp chi phí sản xuất và lập kế hoạch giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long 30 2.3.2. Phân tích thực trạng công tác quản lý chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long. 33 2.3.3. Thực tế công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở công trình cầu Cả - Tuyên Quang. 40 2.3.4. Những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long 40 Chương 3: Một số ý kiến góp phần tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long 45 3.1. Chiến lược phát triển SXKD của công ty từ năm 2001-2005 45 3.1.1. Định hướng phát triển của công ty 45 3.1.2. Mục tiêu phát triển của công ty 45 3.2. Một số kinh doanh quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm của các doanh nghiệp xây lắp 47 3.3. Một số ý kiến góp phần tăng cường công tác quản lý chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm ở Công ty CPXD số 4 Thăng Long 49 3.3.1. Hoàn thiện công tác xây dựng giá thành kế hoạch, lập kế hoạch thi công các công trình xây lắp 49 3.3.2. Tăng cường đổi mới công tác quản trị và tổ chức sản xuất 51 3.3.3. Đẩy nhanh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, bảo đảm an toàn lao động 55 3.3.4. Tăng cường công tác đảm bảo an toàn lao động 55 Kết luận 57 Danh mục Tài liệu tham khảo 59 Bảng số 1: Bảng phân tích tình hình biến động tài sản của công ty Cổ phần xây dựng số 4 Thăng Long Đến ngày 31/12/2004 Đơn vị tính: đồng TT Tài sản Số đầu năm Số cuối kỳ Chênh lệch Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) A Vốn lưu động 103.150.888.743 83,74 78.971.558.622 80,04 -21.179.330.121 -23,44 1 Tiền 1.128.901.033 1,09 2.453.043.885 3,1 1.324.142.852 117,29 2 Các khoản phải thu 55.293.784.968 53,6 38.854.064.634 49,2 -16.439.720.334 -29,73 3 Hàng tồn kho 33.341.010.155 32,32 33.233.980.603 42,08 -107.029.552 -0,32 4 TSLĐ khác 13.387.192.587 12,99 4.430.469.500 5,62 -8.956.723.087 -66,90 B Vốn cố định 20.020.543.361 16,26 19.692.554.464 19,96 -327.988.897 -1,63 1 Tài sản cố định 20.020.543.361 19.692.554.464 -327.988.897 -1,63 - TSCĐ hữu hình 20.020.543.361 19.692.554.464 -327.988.897 -1,63 + Nguyên giá 30.404.143.497 31.933.834.304 1.529.690.807 5,03 + Giá trị hao mòn lũy kế (10.383.600.136) (12.241.279.840) 1.857.679.704 17,89 Tổng tài sản 123.171.432.104 100 98.664.113.086 100 -24.507.319.018 -19,89 Bảng số 2: Bảng phân tích tình hình biến động nguồn vốn của công ty CPXD số 4 Thăng Long Đến ngày 31/12/2004 Đơn vị tính: đồng TT Tổng vốn Số đầu năm Số cuối kỳ Chênh lệch Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) Số tiền Tỷ lệ (%) A Nợ phải trả 115.308.611.709 90,67 90.667.549.889 91,89 -24.641.061.820 -21,37 1 Nợ ngắn hạn 107.799.433.547 93,48 85.319.160.597 94,10 -22.480.272.950 -20,85 - Vay ngắn hạn 47.020.316.621 43,62 53.767.288.710 63,02 6.746.972.089 14,35 - Phải trả người bán 22.289.317.614 20,68 18.690.784.121 22,0 -3.598.533.493 -16,14 - Mua trả tiền trước 11.540.202.720 10,70 5.545.637.430 6,50 -5.994.565.290 -51,94 ……… 2 Nợ dài hạn 7.447.833.974 6,46 5.313.833.974 5,86 -2.134.000.000 -28,65 3 Nợ khác 61.344.188 0,06 34.554.988 0,04 -26.789.200 -43,67 B Nguồn vốn chủ sở hữu 7.862.820.395 9,33 7.996.563.527 8,11 133.743.132 1,7 1 Nguồn vốn quỹ 7.757.088.728 98,65 7.919.292.912 99,03 162.204.184 2,09 - Nguồn vốn kinh doanh 6.964.071.020 89,77 6.964.071.020 87,94 0 0 2 Nguồn kinh phí, quỹ khác 105.731.667 1,35 77.270.619 0,97 -28.461.048 -26,91 Tổng cộng nguồn vốn 123.171.432.104 100 98.664.113.086 100 -24.507.319.018 -19,89 Bảng số 3 Bảng phân tích tình hình biến động kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong những năm vừa qua Đơn vị tính: đồng TT Chỉ tiêu Năm Chênh lệch 2003/2004 2003 2004 Số tuyệt đối Số tương đối 1 Doanh thu (DTT) 92.367.811.712 96.453.608.643 4.085.791.931 4,42% 2 Nộp ngân sách 4.900.971.334 4.912.701.588 41.730.254 0,85% 3 Thu nhập bình quân (người/tháng) 1.293.683 1.060.683 -233.000 -0,18% 4 Giá vốn hàng bán 83.076.345.302 87.629.350.879 4.553.005.577 5,48% 5 Chi phí tài chính 4.761.610.982 4.942.626.229 181.015.247 3,8% 6 Chi phí bán hàng - - - - 7 Chi phí quản lý doanh nghiệp 3.942.370.207 2.923.208.508 -1.019.161.699 -25,85% 8 Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 1.660.402.176 1.652.247.563 -8.154.613 -0,49% 9 Lợi nhuận sau thuế 1.232.433.091 996.397.132 -136.035.959 -19,15% ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc22659.doc
Tài liệu liên quan