Công tác tư tưởng cần có sự phân công hoạt động: các cán bộ tư tưởng chuyên nghiệp, các cấp uỷ và đảng viên đều phải tham gia

Chương 1 TÌNH HÌNH MỚI, YÊU CẦU MỚI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VÀ SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG 1.1 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác tư tưởng trước thời kỳ đổi mới 1.1.1 Khái lược về công tác tư tưởng Theo quan điểm của các nhà kinh điển mác xít, công tác tư tưởng là những hoạt động nhằm củng cố, phát huy hiệu quả của công tác lý luận, đưa lý luận thâm nhập vào quần chúng, biến tri thức thành niềm tin vững chắc, thành ý chí, tình cảm,

doc170 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1248 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Công tác tư tưởng cần có sự phân công hoạt động: các cán bộ tư tưởng chuyên nghiệp, các cấp uỷ và đảng viên đều phải tham gia, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
nghị lực kiên định, biến lý luận thành sức mạnh vật chất để cải tạo thế giới hiện thực: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” . C.Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 1, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1994, tr. 580. . Như vậy, đây là hai mặt của một vấn đề, không thể tách rời. Khi nói về mối quan hệ này, V.I. Lênin cho rằng công tác tư tưởng và công tác lý luận không có mục đích tự thân, nó phải phục vụ cho công tác tư tưởng lại phải tiến hành trên cơ sở công tác lý luận. Theo V.I.Lênin làm công tác lý luận của Đảng tức là dựa trên cơ sở lý luận, trên cơ sở những kết luận khoa học đúc rút được từ lý luận và thực tiễn để phổ biến, tuyên truyền và tổ chức thực hiện tư tưởng của Đảng. Chính vì công tác tư tưởng và công tác lý luận có mối quan hệ biện chứng như vậy, nên không thể coi nhẹ mặt nào. Bất kỳ một đảng cách mạng nào cũng phải coi cả hai công tác đó làm một nhiệm vụ quan trọng, cần phải tiến hành đồng thời như V.I.Lênin đã nói: “Không thể là một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không làm công tác lý luận nói trên, cũng như không thể là một nhà lãnh đạo tư tưởng mà lại không hướng công tác đó theo những nhu cầu của sự nghiệp, mà lại không tuyên truyền trong công nhân những kết luận của lý luận đó” . V.I.Lênin, Toàn tập, tập 1, Nxb.Tiến bộ Mátxcơva, 1978, tr. 382. . Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, công tác tư tưởng - lý luận có vai trò rất quan trọng. Đó là khâu đột phá mở đường để trang bị cơ sở lý luận cho các hoạt động thực tiễn, đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Các hệ thống lý luận tạo thành “bối cảnh xã hội” và “cơ sở lý luận” của các phong trào thực tiễn” . C.Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 34, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 725. . Vai trò định hướng, dẫn đường của công tác lý luận cũng được V.I.Lênin nêu rõ: “Chỉ đảng nào được lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiên phong” . V.I.Lênin, Toàn tập, tập 6, Nxb.Tiến bộ Mátxcơva, 1975, tr. 32. . Với vai trò như vậy, công tác tư tưởng - lý luận có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của cách mạng. C. Mác và Ph.Ăngghen đã nói rõ điều đó: “Mỗi sai lầm phạm phải, mỗi thất bại đều là hậu quả không tránh khỏi những luận điểm lý luận không chính xác của cương lĩnh ban đầu” . C.Mác-Ăngghen, Toàn tập, tập 36, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 786. . Công tác tư tưởng - lý luận không những đóng vai trò định hướng, dẫn đường, là cơ sở của các hoạt động thực tiễn, mà còn là sức mạnh góp phần cải biến hiện thực. V.I.Lênin khẳng định: “Tư tưởng trở thành sức mạnh khi nào tư tưởng thâm nhập vào quần chúng” . V.I.Lênin, Toàn tập, tập 34, Nxb.Tiến bộ Mátxcơva, 1976, tr. 137. . Theo quan điểm của các nhà kinh điển mác xít, công tác tư tưởng - lý luận có vai trò rất lớn, do đó, Đảng của giai cấp vô sản cần phải xác định công tác tư tưởng - lý luận là một nhiệm vụ quan trọng và phải được tiến hành thường xuyên trong suốt quá trình thực hiện mục tiêu của Đảng. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, công tác tư tưởng - lý luận có những nhiệm vụ sau: 1- Bảo vệ hệ tư tưởng cộng sản chủ nghĩa đấu tranh với hệ tư tưởng tư sản. 2- Tuyên truyền, giải thích các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng. 3- Đảm bảo sự thống nhất trong toàn Đảng. Từ thực tiễn phát triển của xã hội loài người và trên cơ sở học thuyết mác xít có thể khẳng định, công tác tư tưởng hình thành từ khi xã hội có giai cấp. Mọi chính đảng, nhà nước đều tiến hành công tác tư tưởng và coi đó là hoạt động quan trọng bậc nhất của mình. Có nhiều cách tiếp cận khi đề cập đến khái niệm công tác tư tưởng. Nếu xét theo quá trình hình thành, phát triển và truyền bá hệ tư tưởng của giai cấp giữ vị trí thống trị trong lịch sử thì “Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, nhằm hình thành và phát triển hệ tư tưởng, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể hệ tư tưởng” . Lương Khắc Hiếu: Nguyên lý công tác tư tưởng, tập 1, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 11-12. . Nếu tiếp cận theo quan điểm của giai cấp vô sản thì “Công tác tư tưởng là hoạt động đa dạng và quan trọng vào bậc nhất của Đảng Mác-Lênin và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhằm xây dựng, xác lập, phát triển hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, hình thành niềm tin, định hướng giá trị đúng đắn, góp phần xây dựng thế giới quan khoa học cho con người, thúc đẩy con người hành động tích cực và sáng tạo, để thực hiện thắng lợi lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa” . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: Một số vấn đề lý luận và nghiệp vụ công tác tư tưởng, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1996, tr. 23. . Cũng theo cách tiếp cận này, “Công tác tư tưởng là một bộ phận cấu thành rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động cách mạng của Đảng. Công tác tư tưởng cùng với công tác tổ chức góp phần xây dựng Đảng thành đội tiền phong, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nó có nhiệm vụ giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối, chủ trương của Đảng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng, nhằm nâng cao tính tự giác, chủ động, sáng tạo của họ trong việc thực hiện những nhiệm vụ chính trị cụ thể do Đảng đề ra; đồng thời nó cũng góp phần vào việc hình thành đường lối, chủ trương của Đảng…góp phần xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa” . Đào Duy Tùng: Một số vấn đề công tác tư tưởng, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1999, tr. 7-8. … Như vậy, theo nghĩa chung nhất, công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng, nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng trong quần chúng, thúc đẩy quần chúng hành động vì lợi ích của chủ thể tư tưởng. Công tác tư tưởng dưới chủ nghĩa xã hội là hoạt động có mục đích của Đảng Cộng sản, nhằm hình thành, phát triển, truyền bá hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa thành hệ tư tưởng chi phối, thống trị trong đời sống tinh thần xã hội; hình thành, phát triển, truyền bá cương lĩnh, đường lối, chính sách của Đảng trong xã hội, cổ vũ động viên mọi người hành động chủ động, tích cực, sáng tạo vì lý tưởng, mục tiêu xã hội chủ nghĩa; đấu tranh chống lại những luận điệu sai trái phản động; bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Trong quá trình ra đời và lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định, công tác tư tưởng là nhiệm vụ trọng yếu. Công tác tư tưởng có 3 bộ phận hợp thành: công tác nghiên cứu lý luận, công tác tuyên truyền giáo dục và công tác cổ động. Công tác nghiên cứu lý luận là bộ phận quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng, nhằm tổng kết thực tiễn, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từng bước làm phong phú hệ tư tưởng của Đảng. Công tác tuyên truyền giáo dục là một bộ phận của công tác tư tưởng có nhiệm vụ truyền bá sâu rộng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm làm cho mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân từng bước nhận thức được quy luật tồn tại và phát triển của xã hội loài người, thấm nhuần đường lối, chủ trương có căn cứ khoa học, trên cơ sở đó nâng cao niềm tin, hành động tự giác và sáng tạo. Công tác cổ động nhằm tác động trực tiếp vào tâm lý, tình cảm của quần chúng. Bằng việc thông tin, giải thích cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu biết kịp thời những sự kiện đang diễn ra trong đời sống. Nắm bắt đường lối, chủ trương, chính sách; cổ vũ động viên mọi người hành động vì mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Ba bộ phận công tác tư tưởng tuy có khác nhau về mục tiêu, phương thức tiến hành, song có quan hệ gắn bó với nhau, cùng tác động đến nhận thức tư tưởng, tâm lý, tình cảm của quần chúng, tạo sự thống nhất về ý chí và hành động, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng. Trong công tác tư tưởng, Đảng phải kết hợp ba bộ phận đó sao cho hiệu quả nhất. Công tác tư tưởng có các chức năng chủ yếu là: nhận thức lý luận; giáo dục, tuyên truyền và cổ động, hình thành giá trị tinh thần giải phóng tư tưởng, dự báo sự phát triển xã hội và đấu tranh tư tưởng. Các chức năng đó đều thực hiện thông qua hoạt động tư tưởng và tâm lý của con người bằng lực lượng (các cán bộ làm công tác tư tưởng), bằng tổ chức và bộ máy với một hệ thống hết sức đa dạng, phong phú, linh hoạt về phương pháp, biện pháp và các hình thức thể hiện. Để thực hiện các chức năng đó, công tác tư tưởng cần có sự phân công hoạt động: các cán bộ tư tưởng chuyên nghiệp, các cấp uỷ và đảng viên đều phải tham gia. 1.1.2 Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta về công tác tư tưởng trước đổi mới Trong các thời kỳ cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng luôn quan tâm lãnh đạo công tác tư tưởng. Chủ tịch Hồ Chí Minh - người sáng lập và rèn luyện Đảng ta đã tiếp thu những tinh hoa tư tưởng của nhân loại trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin. Vấn đề nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những vấn đề Hồ Chí Minh coi trọng hàng đầu trước khi thành lập Đảng. Người khẳng định: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam” . Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 2, Nxb.CTQG, Hà Nội, 1995, tr. 268. . Trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã thực hiện quá trình tư tưởng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng là vấn đề cốt lõi của đời sống tinh thần của con người, tư tưởng luôn giữ vai trò chủ đạo đầu tiên chi phối sự suy nghĩ, hành động của con người. Người cho rằng, công tác tư tưởng là sự tác động lên trạng thái tư tưởng, tình cảm, tinh thần của những đối tượng khác nhau nhằm thúc đẩy cách mạng tiến lên. Tư tưởng đúng đắn, thông suốt, lập trường giai cấp vững vàng, luôn luôn là yếu tố quan trọng hàng đầu tạo nên lòng quyết tâm, ý chí kiên cường của người chiến sĩ cách mạng; là tiền đề, là cơ sở đề hành động thống nhất, mạnh mẽ và có hiệu quả. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, điểm quan trọng nhất trong công tác tư tưởng là lòng tin vào con người, tin vào những gì tốt đẹp và cao thượng của con người. Người chỉ rõ: Mỗi con người đều có cái thiện và cái ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa xuân và phần xấu bị dần mất đi, đó là thái độ của người cách mạng. Chính lòng tin đó là cơ sở đưa đến những quan niệm cách mạng và khoa học của Người về công tác tư tưởng. Trong công tác tư tưởng, Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác lý luận: “Có lý luận soi đường thì quần chúng hành động mới đúng đắn, mới phát triển được tài năng và lực lượng vô cùng tận của mình”. Tuy nhiên, Hồ Chí Minh luôn luôn nhấn mạnh, lý luận phải gắn với thực tiễn, học đi đôi với hành, nói đi đôi với làm, tuyệt đối tránh tình trạng “lý luận suông”, “nói suông” trong cán bộ, đảng viên, nhất là trong các cán bộ lãnh đạo. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam có những nhận thức và hành động rất đúng đắn về công tác tư tưởng và vai trò của công tác tư tưởng trong sự nghiệp cách mạng. Thời kỳ chưa giành được chính quyền, Đảng đã tiến hành công tác tư tưởng một cách kịp thời, sắc bén, gắn chặt với mục tiêu, nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách mạng. Việc đánh giá đúng tình hình đã góp phần quan trọng ổn định tư tưởng cán bộ, đảng viên, nâng cao lòng tin vào lý tưởng và thắng lợi của cách mạng, đẩy lùi các hiện tượng bi quan, dao động. Việc giáo dục khí tiết cách mạng trước kẻ thù, kiên cường đấu tranh trong các nhà tù… đã nêu gương sáng về tinh thần hy sinh, bất khuất cho độc lập, tự do của dân tộc. Hoạt động tư tưởng thời kỳ này đã góp phần to lớn vào việc bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ về chính trị, tổ chức, phát động quần chúng, kinh nghiệm công tác bí mật, giáo dục đảng viên nêu cao vai trò tiên phong cách mạng, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, chịu đựng hy sinh gian khổ, xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng phục vụ sự nghiệp giải phóng dân tộc. Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975), dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác tư tưởng đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng đường lối giải phóng dân tộc và biến đường lối ấy thành phong trào cách mạng của cả nước với tinh thần quyết chiến, quyết thắng vì độc lập tự do của dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Tổng Bí thư Trường Chinh chỉ rõ: “Công tác tư tưởng là công tác tinh vi nhất vì nó động đến tâm tư, tình cảm của con người, nó nắm được mạch sống của xã hội và có khả năng phát huy tính tự giác, tính tích cực, chủ động và óc sáng tạo của quần chúng để hoàn thành mọi nhiệm vụ của Đảng đề ra. Mỗi cơ quan lãnh đạo của Đảng cần đi sâu nghiên cứu vấn đề lãnh đạo công tác tư tưởng, dùng công tác tư tưởng làm đòn bẩy để đẩy mạnh mọi mặt công tác khác” . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: 70 năm công tác tư tưởng văn hoá của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 21. . Vì thế: “Toàn Đảng phải làm công tác tư tưởng, toàn Đảng phải làm công tác tuyên truyền. Vì công tác chính trị, công tác tư tưởng là linh hồn của mọi công tác, không những nó nhằm phục vụ những nhiệm vụ cụ thể trước mắt mà còn nhằm cải tiến bộ mặt tinh thần của toàn thể xã hội của hàng chục triệu con người” . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: 70 năm công tác tư tưởng văn hoá của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2000, sđd, tr. 19. . Tuy nhiên, “Tuyệt đối không nên xem công tác tư tưởng như một liều thuốc “linh đan” hoặc một thứ “bùa” đả thông thắc mắc khi cần thì dùng đến, khi không cần thì xếp lại một bên. Làm như vậy là hạ thấp ý nghĩa và tác dụng của lý luận Mác - Lênin, của công tác tư tưởng của Đảng, thu hẹp công tác tư tưởng vào những công việc sự vụ, vụn vặt, và “Các cấp, các ngành cần nâng cao trình độ lãnh đạo công tác của mình lên trình độ lãnh đạo chính trị, lãnh đạo tư tưởng và xem công tác tư tưởng là then chốt để hoàn thành tốt mọi mặt công tác” . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: 70 năm công tác tư tưởng văn hoá của Đảng truyền thống vẻ vang, trách nhiệm to lớn, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2000, sđd, tr. 20. . Nhờ làm tốt công tác tư tưởng mà đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến của Đảng được quán triệt sâu rộng đến toàn thể cán bộ, đảng viên và toàn dân, góp phần xây dựng và giữ vững ý chí quyết chiến, quyết thắng, kiên cường, bất khuất, chịu đựng hy sinh gian khổ; chống bi quan, sợ địch, hữu khuynh, thoả hiệp, mất cảnh giác, ngại hy sinh gian khổ, đồng thời chống chủ quan, khinh địch, nóng vội, muốn thắng nhanh, giải quyết nhanh. Công tác tư tưởng trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã khơi dậy và huy động được sức mạnh của toàn dân tộc tham gia cuộc kháng chiến, làm lên một “Điện Biên Phủ chấn động địa cầu”. Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng chỉ rõ, nhiệm vụ của công tác tư tưởng là: “Làm cho toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta trong mọi tình thế đều tin tưởng vững chắc vào đường lối chủ trương đối ngoại của Đảng; có ý chí quyết chiến, quyết thắng đế quốc Mỹ xâm lược; ra sức làm tốt nhất mọi công tác trong sản xuất và trong chiến đấu” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 26, Nxb.CTQG, H, 2003, tr. 128. . Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư tưởng: “Toàn bộ công tác tư tưởng trước mắt phải hướng vào việc phát huy cao độ vai trò của cán bộ, đảng viên và các lực lượng nòng cốt trong quần chúng, tăng cường sự nhất trí trong Đảng, sự đoàn kết trong các tầng lớp nhân dân, sự gắn bó giữa quân và dân tạo ra một cao trào cách mạng sôi nổi và liên tục trong sản xuất và chiến đấu” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 26, Nxb.CTQG, H, 2003, sđd, tr . 130. . Về phương pháp, Đảng chỉ rõ: “Công tác tư tưởng phải kết hợp chặt chẽ ba mặt: tuyên truyền giáo dục về tình hình, nhiệm vụ và đường lối, chủ trương của Đảng trong hoàn cảnh mới; nâng cao trình độ hiểu biết về quản lý kinh tế và kỹ thuật, về chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn dân; bồi dưỡng phẩm chất và đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản”. Bên cạnh đó, Đảng nhấn mạnh, công tác tư tưởng phải tăng cường công tác tuyên truyền đối ngoại, nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ mạnh mẽ hơn nữa của các nước xã hội chủ nghĩa, nhất là của Liên Xô và Trung Quốc, và của nhân dân tiến bộ trên thế giới đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam và bảo vệ miền Bắc của nhân dân ta. Tại thời điểm gay go ác liệt nhất của cuộc kháng chiến (1965-1975) - khi quân Mỹ trực tiếp tham chiến, Đảng ta xác định: Điều quan trọng nhất đối với dân tộc ta là vấn đề tư tưởng. Quân dân miền Nam nói riêng, cả nước nói chung phải xác định được lập trường kiên định, đó là cái gốc của mọi vấn đề, là chiếc chìa khoá mở ra những thắng lợi huy hoàng từ đó về sau. Trong thời điểm này, bằng nhiều hoạt động phong phú, công tác tư tưởng của Đảng đã tiến hành động viên chính trị sâu rộng, mạnh mẽ, liên tục trong Đảng và trong nhân dân, làm cho toàn Đảng, toàn dân tin tưởng vào đường lối cách mạng của Đảng, phát huy đến đỉnh cao chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Trong suốt 21 năm kháng chiến chống Mỹ, với quan điểm “có vũ khí tư tưởng sắc bén mới có vũ khí bằng sắt thép sắc bén để chiến thắng quân thù”, Đảng đã huy động các cơ quan tuyên truyền và văn hoá của Đảng và Nhà nước, các ngành, các giới, các lực lượng phối hợp tiến hành động viên chính trị, giáo dục tư tưởng, đặc biệt là đối với cán bộ, đảng viên những người có trách nhiệm đi đầu, vận động và tổ chức phong trào quần chúng. Đặc biệt, trước những bước ngoặt của cách mạng, khi tình hình trong nước và quốc tế có những biến động phức tạp, khi địch dùng những thủ đoạn quyết liệt để chống phá, khi cách mạng thắng lợi cũng như khi gặp khó khăn, tổn thất, công tác tư tưởng đã căn cứ các nghị quyết của Đảng tạo sự thống nhất về nhận thức, khắc phục những lệch lạc, định hướng đúng cho hành động của toàn Đảng, toàn dân. Trong cuộc chiến đấu trường kỳ, quyết liệt và phức tạp, công tác tư tưởng đã thường xuyên góp phần xây dựng, vun đắp và phát huy niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và tin vào sức mạnh của dân tộc, dám đánh Mỹ, sáng tạo nhiều cách đánh Mỹ, kiên quyết đánh Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn. Trong cuộc kháng chiến trường kỳ, tư tưởng “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội là một”, là những chủ đề xuyên suốt trong hoạt động tư tưởng. Những tấm gương anh hùng, dũng sĩ diệt Mỹ, những “người tốt việc tốt”, những cái hay, cái đẹp nảy sinh trong sản xuất, chiến đấu và công tác được nêu cao, góp phần xây dựng đạo đức mới, nếp sống mới của con người Việt Nam, đồng thời đấu tranh bảo vệ văn hoá dân tộc, chống văn hoá nô dịch và đồi truỵ của Mỹ - nguỵ. Công tác tư tưởng đã kết hợp tốt với công tác tổ chức, tập hợp rộng rãi tất cả mọi người Việt Nam yêu nước, dấy lên một cao trào chống Mỹ, cứu nước của toàn dân, với khí thế sôi nổi, hào hùng, thu hút mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, miền xuôi, miền ngược, tiền tuyến, hậu phương, trên mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu và công tác. Với trí thông minh, sự sáng tạo của quần chúng, tất cả các giai cấp, tầng lớp từ nông dân, công nhân đến bộ đội, du kích và nhà khoa học… đều có những hành động thiết thực tạo nên sức mạnh tổng hợp vì mục tiêu cao cả: “Tất vả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Mỗi phong trào cách mạng của các ngành, các giới đều mang đậm khí phách của dân tộc. Trong quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, Đảng chỉ rõ: Khi nhân dân lao động đã được giải phóng, thì yếu tố tinh thần có tác dụng vô cùng to lớn trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới. Đảng khẳng định: “Tư tưởng, văn hoá và kỹ thuật là những vũ khí sắc bén mà chính đảng của giai cấp công nhân phải nắm lấy để thúc đẩy toàn bộ sự nghiệp cách mạng tiến lên, thúc đẩy công cuộc xây dựng xã hội mới” và “Tư tưởng, văn hoá, kỹ thuật là ba mặt có liên hệ chặt chẽ với nhau và thúc đẩy nhau phát triển, nhưng tư tưởng vẫn là cơ sở. Cách mạng văn hoá và kỹ thuật không thể tiến hành tốt, càng không thể giành được thắng lợi, nếu không dựa vững trên những thành quả của cách mạng tư tưởng” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, tập 21, Nxb.CTQG, H, 2002, tr. 550. . Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Hội nghị lần thứ 24 Ban Chấp hành Trung ương, khoá III (9-1975) đã phân tích tình hình mọi mặt, quyết định nhiệm vụ hoàn thành thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Về công tác tư tưởng, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ phương hướng chung là: “Giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tinh thần tự hào dân tộc, tinh thần tự lực tự cường, vạch trần chủ nghĩa quốc gia giả hiệu, chống hệ tư tưởng chính trị phản động… Tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa, ý thức xây dựng của công, xây dựng nếp sống mới; đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hoá tư sản, thực dân mới”. Nghị quyết 24 của Ban Chấp hành Trung ương, khoá III đã xác định đúng đắn phương hướng, nhiệm vụ công tác tư tưởng trong bước ngoặt mới của cách mạng, định hướng kịp thời cho các hoạt động tư tưởng, góp phần phát huy thắng lợi, hoàn thành sớm việc thống nhất Tổ quốc, chuyển sang giai đoạn mới đưa cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng xác định nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng tư tưởng và văn hoá trong giai đoạn cách mạng mới là: “Xây dựng con người mới, nền văn hoá mới; giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, làm cho đường lối, chính sách của Đảng thấu suốt trong cán bộ, đảng viên và quần chúng; tiến hành đấu tranh tư tưởng chống tư tưởng văn hoá phản động của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân. Nhằm đẩy mạnh công tác tư tưởng trong những năm đầu thập kỷ 80, tháng 2-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 36 về những nhiệm vụ trước mắt của công tác tư tưởng. Nghị quyết chỉ rõ những yếu kém của công tác tư tưởng: “Không vươn lên kịp sự phát triển của cách mạng …không kịp thời giải quyết những vấn đề mới xuất hiện… không chủ động ngăn ngừa và không kiên quyết đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực. Công tác tư tưởng cũng đi theo phương hướng nóng vội, thường nêu thành tích và thuận lợi một chiều… chưa phân tích đầy đủ mọi mặt khó khăn, thiếu tính chiến đấu, thiếu chủ động và chưa sắc bén, chưa thật sự đi sát công tác kinh tế và đời sống nhân dân, chưa gắn liền với công tác tổ chức, không làm tất cả các tổ chức đều làm công tác tư tưởng” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb.CTQG, H, 2002, tr . Việc chỉ ra những hạn chế trong công tác tư tưởng đã giúp cho đại bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hiểu đúng tình hình đất nước, thấy được những cố gắng đổi mới bước đầu và những khuyết điểm, sai lầm cần khắc phục, đồng thời tạo cơ sở để Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng kịp định hướng công tác tư tưởng trong thời gian tới. Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản của công tác tư tưởng trong những năm 1981-1985 là: Vũ trang cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta những kiến thức cơ bản về chủ nghĩa xã hội khoa học, xây dựng ý thức kiên cường, quyết tâm sắt đá và trình độ hiểu biết cần thiết để làm tròn hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Để cải tiến công tác tư tưởng, Đảng chỉ rõ: Phải sâu sát thực tế, nhạy cảm với cuộc sống, nghiên cứu, tổng kết, phổ biến những điển hình tiên tiến, cổ vũ, vun xới cho những nhân tố tích cực sớm được nhân lên… Toàn Đảng phải làm công tác tư tưởng, mọi đảng viên đều phải làm công tác tư tưởng. Phối hợp tất cả các cơ quan, ban, ngành và đoàn thể; sử dụng tất cả các công cụ thông tin, văn hoá, văn học, nghệ thuật, giáo dục… để làm công tác tư tưởng; gắn chặt công tác tuyên truyền giáo dục với công tác tổ chức và tổng kết thực tiễn để làm công tác tư tưởng. Trong những năm cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1975-1985). Thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương Đảng, công tác tư tưởng đã huy động toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tích cực lao động sản xuất, anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại giành những thắng lợi quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Công tác tư tưởng, công tác lý luận đã góp phần tích cực vào việc hình thành những chủ trương đổi mới từng phần như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6, khoá IV; Chỉ thị 100 của Ban Bí thư (1-1981) về khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động; Quyết định 25/CP, 26/CP của Hội đồng Bộ trưởng về phát huy quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh và cải tiến công tác kế hoạch; Kết luận của Bộ Chính trị về ba quan điểm kinh tế. Đó là những đổi mới quan trọng trong công tác tư tưởng và nghiên cứu lý luận, tạo tiền đề cho sự đổi mới toàn diện tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. 1. 2. Tình hình mới, yêu cầu mới đối với công tác tư tưởng và sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực tư tưởng 1.2.1. Tình hình quốc tế Những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, trên bình diện quốc tế nảy sinh nhiều mâu thuẫn cơ bản. Đó là: 1 - Mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không chỉ là mâu thuẫn giữa các nước xã hội chủ nghĩa với các nước tư bản chủ nghĩa mà còn bao hàm những mâu thuẫn giữa chủ nghĩa tư bản với các lực lượng, các nhân tố xã hội chủ nghĩa trong từng nước tư bản và trên phạm vi thế giới. Cụm từ “mâu thuẫn hai phe” không còn thích hợp với tình hình hiện tại. Sau sự kiện Liên Xô tan rã, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản không dịu đi mà tiếp tục diễn ra phức tạp. 2 - Mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trong các nước tư bản là biểu hiện về mặt chính trị - xã hội của mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội tư bản: Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, toàn cầu hoá kinh tế, những điều chỉnh của chủ nghĩa tư bản không thể kiềm chế được mâu thuẫn nói trên, mà càng làm cho mâu thuẫn sâu sắc thêm và phát triển nhanh hơn. Mâu thuẫn giữa giai cấp tư sản và công nhân là hạt nhân của một mâu thuẫn đang phát triển nhanh chóng. Đó là mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân rộng rãi với tư sản độc quyền. Trong chủ nghĩa tư bản hiện đại, chính sách của các tập đoàn tư bản độc quyền không chỉ tăng cường bóc lột giai cấp công nhân mà còn xâm phạm và đe doạ lợi ích của các tầng lớp trong xã hội, kể cả một bộ phận của giai cấp tư sản. Đó là những lợi ích về hoà bình, an ninh, về an sinh, về tự do dân chủ, v.v.. Mâu thuẫn này được thể hiện ở các cuộc đấu tranh chống toàn cầu hoá tư bản chủ nghĩa, chống chiến tranh xâm lược, chống chủ nghĩa bá quyền…, đã lôi cuốn hàng chục triệu người thuộc nhiều tầng lớp xã hội tham gia. 3 - Mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản độc quyền, các công ty xuyên quốc gia, các trung tâm tư bản lớn với nhau là mâu thuẫn trong nội bộ chủ nghĩa tư bản độc quyền, biểu hiện mới của mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các cường quốc tư bản tìm mọi cách hạn chế những bất đồng, tăng cường liên minh về chính trị và quân sự để đối phó với Liên Xô và khối Vácsava. Sau khi Liên Xô sụp đổ, khối Vácsava không còn, mâu thuẫn giữa các quốc gia và trung tâm tư bản lớn phát triển nhanh hơn, bộc lộ công khai hơn. Biểu hiện của mâu thuẫn này là các cuộc “chiến tranh” thương mại, tranh giành thị trường, giành khống chế các nguồn tài nguyên, v.v… Nổi bật lên là mâu thuẫn gay gắt giữa Mỹ đang thi hành chính sách bá quyền, đơn phương với các cường quốc tư bản đồng minh chủ chốt của Mỹ. Các bên đều tìm cách giải quyết những bất đồng, song mâu thuẫn cụ thể này tạm thời được khắc phục thì mâu thuẫn khác lại nổi lên, vì nguồn gốc sâu xa của mâu thuẫn là chế độ chiếm hữu của tư bản độc quyền toàn cầu hoá. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, mâu thuẫn này chưa có khả năng phát triển thành xung đột lớn như trước đây. 4 - Mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển và các nước đang phát triển là hình thức biểu hiện mới của mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và các dân tộc bị áp bức. Về vấn đề này, Cương lĩnh năm 1991 cho rằng, các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp, chống nghèo nàn, lạc hậu, chống chủ nghĩa thực dân dưới mọi hình thức, chống sự can thiệp và xâm lược của chủ nghĩa đế quốc nhằm bảo đảm độc lập và chủ quyền dân tộc. Chủ nghĩa tư bản độc quyền không muốn và không thể khắc phục mâu thuẫn này, vì việc duy trì “khu vực ngoại vi” gồm những nước đang phát triển và kém phát triển là điều kiện tồn tại và là lợi ích sống còn của họ. Xuất phát từ phân tích tình hình chính trị sau “chiến tranh lạnh”, Hội nghị Trung ương 8, khoá IX của Đảng đã có sự phát triển trong tư duy về việc xác định mâu thuẫn thời đại, nêu lên những nét mới về nội dung và hình thức biểu hiện của mâu thuẫn, không dùng các khái niệm “mâu thuẫn cơ bản” “mâu thuẫn cơ bản nhất”, “mâu thuẫn chủ yếu” mà khẳng định: “Tình hình thế giới trong hơn một thập kỷ qua, nổi lên mâu thuẫn gay gắt giữa một bên là thế lực hiếu chiến mưu toan thống trị thế giới và các thế lực theo đuổi chúng, với một bên là nhân dân lao động và các lực lượng đấu tranh chống chiến tranh, chống chủ nghĩa bá quyền, bảo vệ hoà bình, độc lập dân tộc, chủ quyền, sự bình đẳng giữa các quốc gia và lợi ích của mỗi nước”. Một thập kỷ cuối của thế kỷ XX tình hình thế giới diễn biến hết sức phức tạp. * Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu là biến cố lớn nhất làm thay đổi hẳn cục diện chính trị thế giới Từ 1989 đến 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô lần lượt sụp đổ, tạo nên cơn bão táp chính trị và bi kịch chính trị lớn nhất trong lịch sử. Chủ nghĩa xã hội tạm thời lâm vào thoái trào. Tương quan lực lượng và trật tự quốc tế thay đổi bất lợi cho cách mạng. Đây là thách thức lớn đối với cách mạng Việt Nam. Cuộc đảo lộn chính trị không những làm cho cách mạng nước ta mất đi những đồng minh chiến lược quan trọng, mà còn tác động tiêu cực đến niềm tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào tiền đồ của chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống các thế lực thù địch để bảo vệ Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội ngày càng thêm ._.gay go, phức tạp Các thế lực thù địch, đứng đầu là Mỹ lợi dụng tình hình đó để đẩy mạnh cuộc phản kích quyết liệt hòng xoá bỏ các nước xã hội chủ nghĩa còn lại. Trong cuộc phản kích này, chúng tập trung bác bỏ, xuyên tạc những quan điểm lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, hòng phủ nhận hoàn toàn lý luận của Đảng. Từ đó, đi đến xoá bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, thực hiện mưu đồ thiết lập một trật tự thế giới mới - một thế giới không có chủ nghĩa xã hội do Mỹ đứng đầu và mọi quốc gia trên thế giới phụ thuộc vào Mỹ. Những hành động bao vây, cấm vận ngang ngược của Mỹ và sự can thiệp thô bạo của Mỹ và NATO vào các quốc gia độc lập, có chủ quyền đang thách thức dư luận tiến bộ trên toàn thế giới. Đặc biệt, sau sự kiện 11-9-2001 ở Mỹ, nhân danh chống chủ nghĩa khủng bố, hành động can thiệp của Mỹ vào các nước khác càng trắng trợn và ngang ngược hơn. Tình hình đó làm cho cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa càng trở nên quyết liệt, trong một tình thế không có lợi cho phong trào hoà bình, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận hiện nay nhằm củng cố, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng đã và đang trở thành vấn đề cấp bách đối với các Đảng Cộng sản cầm quyền. * Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã và đang tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của mọi quốc gia, dân tộc Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại là bước nhảy vọt mới - cả về tính chất, trình độ, cơ cấu của lực lượng sản xuất. Nét nổi bật của bước nhảy vọt này là sự chuyển biến từ nền công nghiệp truyền thống lấy sản xuất cơ khí làm nền tảng sang nền công nghiệp hiện đại lấy công nghệ thông tin và các ngành công nghệ cao khác làm nền tảng. Kinh tế tri thức có vai trò nổi bật trong phát triển kinh tế. Lực lượng sản xuất của loài người chuyển sang giai đoạn mới: giai đoạn toàn cầu hoá và tri thức hoá. Cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại làm biến đổi sâu sắc cơ cấu xã hội, tính chất và cơ cấu giai cấp công nhân . Cách mạng khoa học - công nghệ buộc các quốc gia phải thay đổi cách quản lý kinh tế - xã hội; phải từ bỏ những mô hình, thể chế chỉ thích hợp với nền công nghiệp truyền thống. Ở các nước xã hội chủ nghĩa, việc kết hợp tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội với cách mạng khoa học - công nghệ trở thành vấn đề hết sức cơ bản và bức xúc. Là động lực vĩ đại của lịch sử, song tự thân cách mạng khoa học - công nghệ không trực tiếp giải quyết được mọi vấn đề của thời đại (như loại trừ chiến tranh huỷ diệt, xoá bỏ áp bức, bóc lột bất công; thực hiện xã hội công bằng, dân chủ văn minh, bảo vệ môi trường,…). Đối với các nước, các khu vực khác nhau, tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ không hoàn toàn giống nhau. Cách mạng khoa học - công nghệ tạo cơ hội rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước đang phát triển, các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mặt khác, nó cũng đặt cho những nước này nhiều vấn đề lớn, tạo nhiều thách thức lớn. Trong thực tế, khoa học, công nghệ, vốn đầu tư đều do các nước tư bản phát triển chi phối. Các nước đang phát triển và các nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội đứng trước nguy cơ phụ thuộc vào bên ngoài và nguy cơ tụt hậu về khoa học - công nghệ. Tuy nhiên, cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo ra cho các nước đang kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa những cơ hội lớn để phát triển đất nước. Đường lối công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Đảng ta được thực tiễn chứng minh là đúng đắn, đang được hoàn thiện nhằm phát huy mạnh mẽ hơn nữa sức mạnh tổng hợp của chủ nghĩa xã hội, của độc lập dân tộc và của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại. Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã và đang tạo ra bước nhảy vọt trong nhận thức tư tưởng của nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Tiến bộ của khoa học - công nghệ đã phá vỡ sự ngăn cách của các quốc gia, dân tộc, mở rộng tầm nhìn, giúp các dân tộc hiểu nhau hơn, tạo sự xích lại gần nhau… Như vậy, cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo nên một cục diện mới trên mặt trận tư tưởng. Đó là sự đan xen, hoà nhập giữa các hệ tư tưởng đối lập ở ngay trong mỗi quốc gia. Vì thế, cuộc đấu tranh tư tưởng càng trở nên phức tạp hơn, đặt ra cho các Đảng Cộng sản cầm quyền lãnh đạo công tác tư tưởng nhiều yêu cầu mới về cả nội dung, hình thức và biện pháp tiến hành. * Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả quốc gia và quan hệ quốc tế Ngày nay, toàn cầu hoá kinh tế đã trở thành một xu thế lớn của thế giới đương đại. Nó tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến đời sống của tất cả các dân tộc, đến các quan hệ quốc tế - cả tích cực lẫn tiêu cực. Toàn cầu hoá vừa là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, vừa tạo động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, có tác dụng nhất định trong việc tranh thủ những nguồn vốn, khoa học - công nghệ tiên tiến của các nước phát triển, tạo cơ hội mở rộng thị trường để công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Về mặt chính trị - xã hội, toàn cầu hoá thúc đẩy sự phân hoá giàu nghèo, đẩy nhanh sự phát triển các mâu thuẫn của thời đại, mở rộng cơ sở của đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, tạo ra tiền đề của chủ nghĩa xã hội. Toàn cầu hoá hiện nay thực tế do các nước tư bản phát triển, các công ty xuyên quốc gia chi phối. Vì vậy, mặt trái của toàn cầu hoá cũng không thể xem thường, nhất là đối với các nước đang phát triển. Toàn cầu hoá tạo ra những thách thức và nguy cơ không nhỏ đối với đa số các quốc gia, dân tộc (như nguy cơ mất độc lập tự chủ, mất bản sắc dân tộc; kinh tế quốc dân phải đương đầu với cuộc cạnh tranh quốc tế không cân sức, không thật sự cân bằng và ngày càng quyết liệt, dễ chịu sự tác động xấu từ những biến động phức tạp của thị trường thế giới; các nước thực dân lợi dụng toàn cầu hoá để can thiệp về chính trị vào các quốc gia độc lập,v.v…). Toàn cầu hoá vừa có mặt tích cực lại vừa chứa đựng những tiêu cực. Đề cập đến vấn đề toàn cầu hoá, Đảng chỉ rõ rằng muốn phát triển, không thể đứng ngoài toàn cầu hoá, nhưng tham gia toàn cầu hoá là tham gia một quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, xem nhẹ mặt nào cũng không thể thành công. Vấn đề không phải là “thúc đẩy” hay “chống” toàn cầu hoá, mà là tranh thủ mọi cơ hội do toàn cầu hoá đưa lại để phục vụ lợi ích dân tộc. Hiện nay, các nước muốn phát triển nhất thiết phải hợp tác, hội nhập trong khu vực và thế giới. Đó là đòi hỏi tất yếu với mọi quốc gia, dân tộc, không phân biệt chế độ chính trị và trình độ phát triển. Đại hội IX của Đảng nhấn mạnh “Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa hợp tác, vừa có đấu tranh” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 32. . Nếu không nhận thức đầy đủ xu thế đó và thiếu chủ động đấu tranh khắc phục “mặt tiêu cực” trong quá trình hội nhập đó đều là sai lầm và dẫn đến hậu quả khó lường. Quá trình toàn cầu hoá và quốc tế là quá trình lợi dụng cả hai phía. Các nước chậm phát triển thì tận dụng cơ hội để thoát khỏi tình trạng tụt hậu, còn các nước phát triển thì lợi dụng những yếu kém của các nước chậm phát triển để thu lợi nhuận, đẩy nhanh tốc độ phát triển. Vì thế, hội nhập là quá trình đấu tranh quyết liệt giữa các nước chậm phát triển với các nước phát triển. Trên thực tế, chúng đang chi phối quá trình đó theo lập trường của giai cấp tư sản, ép các nước chậm phát triển chấp nhận những điều kiện của chúng. Hoà nhập không hoà tan, hoà nhập nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hoá dân tộc, giữ được độc lập chủ quyền đó là yêu cầu và cũng là điều kiện tiên quyết, là lập trường có tính nguyên tắc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình hội nhập. Vì thế, cuộc đấu tranh về nhận thức tư tưởng trong quá trình hội nhập có nội dung rộng lớn, phức tạp và không kém phần quyết liệt. Hoà bình, hợp tác để phát triển là xu thế chung của các quốc gia, dân tộc. Sau khi Liên Xô sụp đổ, các mâu thuẫn giữa các nước lớn vẫn tồn tại và phát triển, nhưng chưa đến mức có thể dẫn tới nguy cơ xung đột, chiến tranh. Các quốc gia lớn, nhỏ đều cần duy trì hoà bình để phát triển. Tuy nhiên, những nhân tố đe doạ hoà bình vẫn tồn tại (như chạy đua vũ trang, chủ nghĩa bá quyền, các giới quân phiệt hiếu chiến gia tăng thế và lực, chủ nghĩa phát - xít, v.v.). Chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, khủng bố còn xảy ra ở nhiều nơi với tính chất phức tạp ngày càng tăng. Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là hoạt động xâm lược, can thiệp, lật đổ của Mỹ và các thế lực theo đuôi Mỹ. Sau khi “Chiến tranh lạnh” chấm dứt, chiến lược của đa số các quốc gia đều tập trung vào phát triển. Các nước lớn và các nước giầu cần phát triển để giữ vững và nâng cao vai trò, địa vị của mình. Phát triển càng là vấn đề sống còn đối với các nước nghèo. Các dân tộc thiết tha với phát triển đều hiểu rõ rằng, cần giữ vững hoà bình, an ninh, xây dựng mối quan hệ hợp tác tin cậy lẫn nhau. Tuy còn những nhân tố đi ngược lại xu thế hoà bình, hợp tác để phát triển, song các nhân tố tiêu cực ấy đã không ngăn chặn được xu thế nói trên. Sau sự kiện Liên Xô tan rã, trước tình hình khó khăn, phức tạp, các nước xã hội chủ nghĩa còn lại, đa số các Đảng Cộng sản, các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên thế giới vẫn kiên trì cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. * Phân hoá giàu nghèo giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển ngày càng tăng Sự chênh lệch lớn về mức sống giữa các nước phát triển với các nước chậm phát triển là một trong những nhân tố tác động đến tư tưởng và công tác tư tưởng. Chủ nghĩa tư bản hiện đại nhờ ứng dụng được những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã đạt được mức tăng trưởng kinh tế đáng kể, tạo ra sự chênh lệch khá lớn về mức sống giữa các nước phát triển với các nước chậm phát triển (trong đó có Việt Nam). Trong khi ở một số nước phát triển thu nhập bình quân đầu người đạt trên 20.000 đôla/người/năm, thì chúng ta chưa đạt con số 500 đôla/người/năm. Tình hình đó đã và đang tác động rất mạnh mẽ, sâu sắc tới nhận thức, tư tưởng của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, khiến cho nhiều người giảm sút niềm tin, chao đảo, dao động về mục tiêu, lý tưởng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Thực tế đó đã tạo nên tình thế không có lợi cho các Đảng Cộng sản cầm quyền tiến hành cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm củng cố giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng. Đồng thời, nó cũng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn đòi hỏi các Đảng Cộng sản phải giải đáp để thực hiện cuộc đọ sức về kinh tế. Bởi cuộc đấu tranh “Ai thắng ai” giữa hai con đường: chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội chỉ giành được thắng lợi triệt để khi chủ nghĩa xã hội chiến thắng chủ nghĩa tư bản trên mặt trận kinh tế. * Các trào lưu tư tưởng và chủ nghĩa dân tộc, tôn giáo cực đoan phát triển mạnh ở nhiều khu vực trên thế giới Trào lưu xã hội dân chủ phát triển mạnh ở các nước Bắc Âu như: Thuỵ Điển, Na Uy, Đan Mạch. Từ năm 1998 đến những năm đầu thế kỷ XXI, các đảng trung tả trở thành lực lượng chính trị áp đảo ở Tây Âu. Mô hình phát triển ở các nước này là sự kết hợp giữa cách tân tự do trong chính sách kinh tế và chính sách tài khoá với việc nhấn mạnh vai trò của Nhà nước xã hội và những quan điểm tự do cấp tiến trong các vấn đề về chính sách văn hoá, xã hội. Tuy nhiên, những năm gần đây, các quốc gia Châu Âu chỉ còn lại ba nước có người đứng đầu chính phủ là Đảng dân chủ xã hội. Mặc dù vậy, trào lưu tư tưởng dân chủ xã hội vẫn tác động đến tư tưởng và việc lựa chọn con đường phát triển của các quốc gia, dân tộc. Những năm gần đây, tại châu Mỹ la tinh, sự thắng cử của lực lượng cánh tả diễn ra ở một loạt nước. Đó là các nước có chế độ dân tuý “mang tính chất dân chủ phong trào” như Veneduela, Bolivia, Ecuadov và các nước dựa vào các đảng truyền thống trong khuôn khổ chế độ nghị viện thống nhất như Chilê, Uruguay, Brazin, Áchentina. Nguyên nhân thắng lợi của những người cánh tả Mỹ la tinh bắt nguồn từ tình trạng bất bình đẳng quá lớn về mặt xã hội và chính sách kinh tế sai lầm đã tồn tại mấy thập kỷ ở các nước này. Sự thống nhất giữa các chính phủ cánh tả Mỹ la tinh được thể hiện trên ba lĩnh vực: chính sách kinh tế, chính sách xã hội và chính sách đối ngoại. Trong chính sách kinh tế, hầu hết các nước theo quan điểm của chủ nghĩa thực dụng thận trọng trong các quyết định kinh tế trọng tâm. Trong chính sách xã hội, có sự gia tăng rõ rệt về các khoản trợ cấp xã hội, đặc biệt là Veneduela. Về chính sách đối ngoại, các nước này (trừ Chilê) có thái độ phê phán (tới mức thù địch) với Mỹ về các vấn đề khu vực Mỹ la tinh. Triển vọng những năm tới về quyền lực của “những người cánh tả mới” là rất tích cực. Triển vọng đó được gặt hái từ sự gia tăng về nguồn năng lượng lớn và những tiến bộ trong chính sách về kinh tế, xã hội. Mặc dù còn phải có sự kiểm nghiệm trong thực tế về tính bền vững của những cải cách, đổi mới, song sự xuất hiện những mô hình chế độ xã hội mang tính “xã hội chủ nghĩa” ở các nước Mỹ la tinh là một hướng đi mới tác động đến xu hướng vận động của các nước thuộc châu Mỹ, châu Phi. Bên cạnh đó, trào lưu xã hội dân chủ đang phản kích quyết liệt nhằm phủ định lý luận Mác - Lênin, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân. Trào lưu xã hội dân chủ đang thịnh hành ở nhiều nước Châu Âu. Những thập niên gần đây, nhờ gặt hái được những thành tựu kinh tế - xã hội, “Con đường xã hội dân chủ” đang trở thành trào lưu tư tưởng hấp dẫn. Một bộ phận giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả một số người cộng sản đã ngả theo khuynh hướng đó. Do đó, cuộc đấu tranh ngăn ngừa, loại bỏ trào lưu xã hội dân chủ để bảo vệ, giữ vững hệ tư tưởng Mác - Lênin là một thách thức, một khó khăn rất lớn đối với các Đảng Cộng sản cầm quyền. Cùng với các trào lưu tư tưởng mới, chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng là yếu tố tác động đến tư tưởng và công tác tư tưởng của Đảng ta. Những thập niên gần đây, nhân loại phải chứng kiến và lo ngại trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan. Chủ nghĩa dân tộc cực đoan đã và đang làm bùng lên những cuộc xung đột dân tộc, sắc tộc đẫm máu. Nhiều thành quả lao động sáng tạo của các dân tộc đã bị tàn phá, một số nước đang bị đẩy xuống vực thẳm của sự khốn cùng. Tận dụng cơ hội này, các nước đế quốc và các lực lượng phản động tiến hành can thiệp làm cho các nước ấy càng lệ thuộc vào chủ nghĩa tư bản hiện đại. Tình hình đó đặt ra cho các Đảng Cộng sản cầm quyền phải lãnh đạo cuộc đấu tranh ngăn ngừa và chống lại chủ nghĩa dân tộc cực đoan, xây dựng ý thức dân tộc chân chính theo lập trường của giai cấp công nhân, xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Ngoài ra, vấn đề tôn giáo, đặc biệt là sự xuất hiện các phần tử cực đoan ở một số quốc gia có đạo hồi đã đe doạ hoà bình, ổn định của thế giới. Từ sau vụ khủng bố 11-9-2001 tại Mỹ, chủ nghĩa khủng bố đã hình thành và ngày càng phát triển gây hoang mang, dao động cho nhân dân toàn thế giới, đặt nhân loại trước nguy cơ của một cuộc “chiến tranh huỷ diệt” bởi vũ khí hoá học và vũ khí hạt nhân. Thực trạng đó, đòi hỏi tất cả các quốc gia dân tộc phải đoàn kết lại và kịp thời đề ra những đối sách nhằm ngăn chặn các vụ khủng bố và ổn định tư tưởng cho các tầng lớp nhân dân. 1.2.2. Tình hình trong nước Trong những năm tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước ta đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội , khoa học - công nghệ, quốc phòng - an ninh… Những thành tựu đạt được đã củng cố vững chắc thêm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng và chế độ; nâng cao lòng tự hào dân tộc, tự hào về Đảng và Bác Hồ vĩ đại; cổ vũ tinh thần hăng hái sáng tạo của đông đảo các tầng lớp nhân dân. Đó là những nhân tố tích cực tạo nên sức mạnh nội lực bền vững rất cơ bản cho sự phát triển. Tuy nhiên, trên lĩnh vực tư tưởng đã xuất hiện những vấn đề phức tạp. Việc thực hiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước ngoặt quan trọng trong tiến trình cách mạng ở nước ta. Kinh tế thị trường đã và đang làm biến đổi sâu sắc nhận thức tư tưởng của mọi tầng lớp trong xã hội, tạo bước chuyển quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Từ nền kinh tế trì trệ, kém phát triển chuyển sang nền kinh tế năng động, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, củng cố niềm tin của nhân dân vào đường lối đổi mới của Đảng. Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường đã và đang tác động tiêu cực trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó đáng quan tâm là văn hoá, đạo đức và lối sống. Thực tế cho thấy, kinh tế thị trường đang làm biến đổi các bậc thang giá trị xã hội, làm sói mòn những giá trị văn hoá, đạo đức, truyền thống; nó đang tạo ra tư tưởng, lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, coi đồng tiền cao hơn nhân phẩm, đạo lý, kéo theo đó là sự tha hoá về phẩm chất đạo đức, lối sống và các tệ nạn xã hội như: mại dâm, ma tuý… gây nhức nhối cho xã hội. Kinh tế thị trường cũng đang tạo ra sự phân hoá giàu nghèo, không chỉ trong xã hội mà ngay trong các cấp lãnh đạo, trong nội bộ Đảng. Cuộc đấu tranh ngăn chặn những mặt trái của kinh tế trị trường để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, giữ vững các giá trị truyền thống của dân tộc, giữ vững bản chất cách mạng của Đảng Cộng sản được đặt ra như là một trong những nội dung quan trọng của công tác tư tưởng hiện nay. - Với quan điểm “Đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế” . Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb.CTQG, Hà Nội, 2001, tr. 42. , Đảng cũng đồng thời phải chấp nhận cuộc đấu tranh chống lại mọi mưu đồ lợi dụng hợp tác, đầu tư để chống phá nước ta toàn diện cả kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Thực tiễn trong quan hệ đối ngoại vừa qua cho thấy, bên cạnh những đối tác chân chính, đã có không ít kẻ lợi dụng con đường hợp tác, đầu tư để chống phá ta. Bằng con đường hợp tác đầu tư để tiến tới thao túng nền kinh tế Việt Nam, hòng chuyển hoá chế độ, bản sắc văn hoá, đạo đức, lối sống… theo lập trường tư sản. Tính chất phức tạp, quyết liệt của cuộc đấu tranh để giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, giữ vững những giá trị truyền thống dân tộc diễn ra ngay trong quá trình hợp tác, đầu tư phát triển kinh tế. - Cơ chế, chính sách chưa hoàn thiện và sự yếu kém trong quản lý Nhà nước là môi trường thuận lợi cho chủ nghĩa cá nhân phát triển, nảy sinh tệ quan liêu tham nhũng; làm suy giảm vai trò, sức mạnh của bộ máy Nhà nước. Thực trạng đó tác động tiêu cực đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm tư tình cảm, ý chí, niềm tin của một bộ phận không nhỏ trong các tầng lớp nhân dân. Mối liên hệ mật thiết giữa quần chúng nhân dân với Đảng và Nhà nước ở một số nơi bị suy giảm. Để giữ vững trận địa tư tưởng, củng cố niềm tin, phát huy năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dân… tất yếu Đảng phải lãnh đạo cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng và những hiện tượng tiêu cực trong bộ máy Đảng, Nhà nước nhằm nâng cao bản chất cách mạng, phát huy hiệu lực của bộ máy. Đó cũng chính là nội dung cơ bản có tính thời sự của công tác tư tưởng, lý luận hiện nay. - Xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện cơ chế thị trường là yếu tố chủ quan tác động đến tư tưởng và công tác tư tưởng. Xây dựng Đảng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong cơ chế thị trường đang đặt ra nhiều vấn đề về quan điểm, lý luận. Để giải đáp những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, Đảng phải đấu tranh với những tư tưởng bảo thủ trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, phê phán, ngăn chặn mọi sự do dự, dao động, ngả nghiêng nhằm xây dựng ý chí, niềm tin, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Xây dựng Đảng trong cơ chế thị trường, thực chất là xây dựng sự đoàn kết thống nhất trong Đảng về nhận thức, tư tưởng và hành động trong điều kiện có sự phân hoá giàu nghèo, sự cạnh tranh trên thương trường là cuộc đấu tranh cực kỳ khó khăn, quyết liệt trong nhận thức tư tưởng nhằm củng cố giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng, sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mới. Trước sự tác động của tình hình quốc tế và trong nước, tình hình tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân ta hiện nay đang tồn tại: “Mặt tích cực và tiêu cực đan xen nhau, trong đó mặt tích cực là cơ bản, đã và đang quyết định chiều hướng phát triển của xã hội, là nhân tố quan trọng tạo nên thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước; tuy vậy mặt tiêu cực có lúc, có nơi cũng rất nghiêm trọng, thực sự là nguy cơ tiềm ẩn, liên quan đến sự mất còn của Đảng, của chế độ ta”. 1.3 Tình hình tư tưởng và những vấn đề đặt ra với công tác tư tưởng trong thời kỳ mới Trước tác động của tình hình thế giới và trong nước, trong thời kỳ đổi mới, tình hình tư tưởng trong Đảng và xã hội nổi lên những vấn đề cơ bản: 1.3.1 Mặt tích cực: 1 - Trong quá trình tiến hành sự nghiệp đổi mới, đại đa số cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tin tưởng vào chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; tích cực phấn đấu thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nhận thức ngày càng đúng đắn hơn về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta và những vấn đề cốt yếu của cách mạng. Sự nhất trí của các cấp uỷ Đảng và cán bộ, đảng viên với đường lối của Đảng ngày càng tăng. Trước những diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường, từng chi bộ, đảng bộ đến toàn Đảng đã thống nhất tư tưởng và hành động, ngăn ngừa, khắc phục “4 nguy cơ”, tiếp tục thực hiện công cuộc đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong quá trình lãnh đạo, các cấp uỷ và tổ chức Đảng cũng như các cán bộ, đảng viên có bước trưởng thành và vận dụng lý luận, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phù hợp với điều kiện thực tế, bảo đảm sự nghiệp đổi mới đạt kết quả, góp phần hoàn thành hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Những biểu hiện xa rời định hướng của Đảng, làm sai trái pháp luật, gây hậu quả xấu được phê phán, xử lý. Tính năng động, chủ động, sáng tạo của nhiều cán bộ, đảng viên trên nhiều lĩnh vực được phát huy. Số đông đảng viên thực hiện được vai trò tiên phong, gương mẫu. Nhiều cán bộ, đảng viên tích cực đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; giữ vững truyền thống, bản chất tốt đẹp của Đảng, của dân tộc. Việc chấp hành Điều lệ Đảng và những quy định của Đảng, Nhà nước nhất là các Pháp lệnh về cán bộ, công chức; về chống tham nhũng; về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; quy định về “Những điều đảng viên không được làm” đã có chuyển biến bước đầu, nhất là trong việc sử dụng tài sản công, tiếp khách, tổ chức việc cưới, việc tang và tình trạng ăn chơi hoang phí của cán bộ, đảng viên có chiều hướng giảm xuống. 2 - Niền tin của các tầng lớp nhân dân đối với đường lối đổi mới và sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ngày càng tăng lên, nhất là khi đất nước giữ vững được sự ổn định kinh tế sau cuộc khủng khoảng kinh tế tài chính tiền tệ (1997-1999) ở khu vực và sau sự kiện 11-9-2001 ở Mỹ. Theo kết quả thăm dò dư luận trong tháng 11-2000 của Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội (Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương), trong số 2.994 người được hỏi, có 68% cho rằng tình hình kinh tế - xã hội năm 2001 sẽ tốt hơn năm 2000; 68% khẳng định công tác xoá đói, giảm nghèo, khắc phục thiên tai, đạt kết quả tốt; 64% cho rằng cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt kết quả . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hoá toàn quốc năm 2000, Hà Nội, 2001, tr. 48-51. . Nhiều nét mới trong giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành. Tính năng động, tích cực và mọi tiềm năng của nhân dân trong xã hội được phát huy. Không khí dân chủ trong xã hội tăng lên thể hiện qua các ý kiến đóng góp của nhân dân với Đảng và các cơ quan quyền lực nhà nước, nhất là các ý kiến về các giải pháp chống tham nhũng với sự tham gia của đông đảo cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới, có ý chí vươn lên lập thân, lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân đối với đường lối, chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách và sự quản lý, điều hành của Nhà nước tiếp tục được củng cố. Theo kết quả điều tra của Trung tâm Nghiên cứu dư luận xã hội, sau gần 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của tổ chức Đảng và Chính phủ, 50% và 41% cho rằng tốt hơn nhiều; 37% và 39% cho rằng tốt hơn chưa nhiều. 3 - Trong xã hội, nhiều giá trị tốt đẹp của con người Việt Nam được đề cao. Theo kết quả điều tra xã hội học năm 1997 của Viện Văn hoá - Nghệ thuật Việt Nam và Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin ở 3.062 người về những phẩm chất đáng quý của con người, kết quả như sau: 57,11% chọn thông minh, sáng tạo; 49,93% chọn lao động chuyên cần; 46,70% chọn chính trực, thật thà; 44,08% chọn trọng chữ tín, giữ lời hứa; 27,56% chọn tiết kiệm, giản dị… Kết quả điều tra xã hội học ở 1.120 công nhân là: 49,28% chọn lao động chuyên cần; 55,26% chọn thông minh, sáng tạo; 48,48% chọn chính trực thật thà; 26,62% chọn tiết kiệm, giản dị. Kết quả điều tra xã hội học ở 498 người nông dân cho thấy: 62,85% chọn lao động chuyên cần; 47,38% chọn thông minh, sáng tạo; 46,58% chọn chính trực, thật thà; 31,12% chọn tiết kiệm, giản dị . Viện Văn hoá - Nghệ thuật Việt Nam và Trung tâm Công nghệ thông tin (Bộ Văn hoá - Thông tin): Báo cáo điều tra xã hội học về thực trạng tư tưởng - văn hoá, Hà Nội, 1997, tr. 17-19. . Kết quả điều tra xã hội học năm 1998 của Đề tài KHXH-04.03 về lối sống, đạo đức chuẩn giá trị xã hội mới cho thấy, sự chuyển đổi định hướng giá trị trong xã hội đang diễn ra mạnh mẽ. Trong số 1.342 người được hỏi về sự chuyển đổi đạo đức, lối sống, chuẩn giá trị xã hội có: 76,75% đánh giá là tích cực; 73,55% cho rằng vừa tích cực, vừa tiêu cực; 79,73% khẳng định là năng động, cởi mở. Tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái trong các tầng lớp nhân dân ngày càng chặt chẽ. Theo kết quả điều tra dư luận xã hội: năm 2002 là 48%, năm 2003 là 53% và năm 2004 là 58% số người được hỏi cho rằng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đã đạt được những kết quả phấn khởi; và tương ứng: 53%, 53%, 58% cho rằng phong trào “xoá đói giảm nghèo” đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi . Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương: Tài liệu học tập kết luận Hội nghị Trung ương lần thứ 12 khoá IX về tăng cường công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay, Nxb CTQG, Hà Nội, 2005, tr. 58. . 4 - Lòng yêu nước, ý thức tự tôn, tự hào về lịch sử, truyền thống cách mạng của dân tộc; về bản sắc và những giá trị văn hoá, truyền thống tốt đẹp của dân tộc được giữ gìn và phát huy. Những việc làm thiết thực hướng về cuội nguồn, về lịch sử oai hùng của dân tộc, về các anh hùng, các danh nhân văn hoá đã trở thành phong trào quần chúng rộng rãi. Các phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn”, “Ủng hộ đồng bào bão lụt”, “Ủng hộ các quỹ trẻ em nghèo vượt khó”…trở thành những cử chỉ đẹp và hành động tự nguyện của nhiều người dân. 1.3.2 Mặt tiêu cực Bên cạnh những mặt tích cực trên, trong Đảng và ngoài xã hội nổi lên những vấn đề tư tưởng - những tiêu cực ảnh hưởng đến công cuộc đổi mới. Một là, một số cán bộ, đảng viên suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, cụ thể là: Trong Đảng xuất hiện hiện tượng xa rời, phai nhạt lý tưởng cách mạng, tính cá nhân chủ nghĩa và tư tưởng cơ hội, thực dụng có chiều hướng phát triển. Hiện tượng quan liêu, mất dân chủ gây bất bình trong nhân dân diễn ra ở nhiều nơi, làm xáo trộn đời sống chính trị - xã hội nông thôn, điển hình là vụ việc Thái Bình 1997; tệ quan liêu, tham nhũng ngày càng phát triển gây bức xúc trong nhân dân. Năm 2000, Trung tâm Nghiên cứu Dư luận xã hội thuộc Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương tiến hành khảo sát, kết quả: 78% số người được hỏi cho rằng nạn tham nhũng là vấn đề gây bức xúc nhất; 48% tệ quan liêu, mất dân chủ. Tỷ lệ số người coi tham nhũng là vấn đề bức xúc nhất trong năm 2000 là cán bộ hưu trí và đảng viên (tương ứng 84% và 85%). Tỷ lệ số người coi tệ quan liêu, mất dân chủ là vấn đề bức xúc nhất xúc nhất cũng là cán bộ hưu trí và đảng viên (tương ứng là 63% và 57%) . Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương: Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng - văn hoá toàn quốc năm 2000, Hà Nội, 2001, tr. 49-50. . Đến năm 2006 và 2007, số người được hỏi cho rằng nạn tham nhũng là vấn đề bức xúc nhất vẫn chiếm 89% và 83% . Ban Tuyên giáo Trung ương: Báo cáo tổng kết công tác Tuyên giáo năm 2007, Hà Nội, 2-2008, tr. 15. . Theo báo cáo của Uỷ ban Kiểm tra Trung ương, từ ngày 15-5-1999 đến hết tháng 3-2001, tổng số cán bộ, đảng viên bị xử lý kỷ luật là: số cán bộ do Trung ương quản lý: 53, trong đó có 10 Uỷ viên Trung ương Đảng, 8 cán bộ bị kỷ luật do tham nhũng, nhận hối lộ; số cán bộ do tỉnh, thành uỷ, huyện uỷ và cấp tương đương quản lý: 19.029, trong đó có 2.211 cán bộ, đảng viên bị kỷ luật về tham nhũng, hối lộ . Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2), Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII về đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí, Lưu hành nội bộ, Hà Nội, 2005, tr. 201-202. . Sự suy thoái về đạo đức trở thành mối lo của toàn xã hội. Theo kết quả điều tra xã hội học năm 1997 của Viện Văn hoá - Thông tin và Trung tâm Công nghệ thông tin thuộc Bộ Văn hoá - Thông tin đối với 3.062 người về thực trạng đạo đức xã hội cho thấy: 20,86% đánh giá tốt; 23,15% khẳng định là không tốt; 55,99% cho là vẫn bình thường. Tổng hợp theo nghề nghiệp: 19,64% công nhân cho là tốt; 26,25% cho là không tốt; 54% cho là bình thường. Đối với nông dân: 25,50% cho là tốt; 56,42% đánh giá là không tốt; 18% cho là bình thường. Với câu hỏi: So với cách đây 5-10 năm, đạo đức xã hội thế nào? Kết quả như sau: 43,07% cho rằng sa sút; 40,16% khẳng định là khá hơn; 16,77% cho là vẫn thế. Tổng hợp theo nghề nghiệp: 40,44% số công nhân được hỏi cho rằng đạo đức sa sút; 39,0% khẳng định khá hơn; 19,73% cho._. triển lý luận là sự tiếp cận, phát hiện con người từ nhiều bình diện phức tạp, là sự phân tích, đánh giá xã hội dưới những hệ quy chiếu, trong những mối quan hệ hết sức phức tạp, phong phú và sinh động. Vì thế, muốn đổi mới phương pháp tư duy, nghiên cứu lý luận, trước hết cần tạo ra bầu không khí dân chủ trong tổ chức thực hiện nghiên cứu khoa học, trong việc đưa ra các ý kiến để tranh luận, thảo luận, tìm ra chân lý, hình thành môi trường khoa học dân chủ, cởi mở để các nhà khoa học mạnh dạn trình bày quan điểm của mình. Trong quá trình tranh luận, cần lắng nghe các quan điểm khác nhau, tiếp nhận những ý kiến mới về phương pháp tiếp cận, coi trọng những ý kiến phản biện để tiếp tục nghiên cứu, tìm ta những quan điểm đúng đắn, khoa học. Trong quá trình tranh luận cần có những có chế, quy định để các nhà khoa học tự do phát biểu ý kiến, tránh thái độ độc đoán, một chiều; định kiến, chụp mũ, quy kết chính trị đối với những ý kiến không thuận chiều. Chú trọng xây dựng cơ chế, mối quan hệ hợp lý giữa lãnh đạo chính trị và nghiên cứu lý luận khoa học. Lãnh đạo chính trị đối với nghiên cứu lý luận là vạch ra yêu cầu, phương hướng, mục tiêu nhiệm vụ cho công tác lý luận. Tăng cường lãnh đạo chính trị để đảm bảo định hướng đúng đắn cho công tác lý luận. Lý luận hướng vào việc tìm ra những căn cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối chính trị, xây dựng cơ sở khoa học cho các quan điểm chính trị, lý giải và dự báo những vấn đề thực tiễn cách mạng đặt ra. Có cơ chế để mọi quyết sách của Đảng, Nhà nước dựa trên những luận cứ khoa học, những cơ sở thực tế đúng đắn, hợp lý. Mặt khác, lãnh đạo chính trị đối với công tác lý luận là phải tạo môi trường dân chủ, cởi mở, tôn trọng ý kiến để mọi nhà khoa học phát huy hết năng lực trí tuệ của mình trong việc tìm tòi, phát hiện chân lý về sự nghiệp cách mạng của Đảng. Ba là, Đổi mới cơ chế, chính sách, chế độ trong nghiên cứu, phát triển lý luận Xây dựng hệ thống cơ chế, chính sách nhằm tạo ra môi trường, điều kiện thuận lợi cho công tác nghiên cứu lý luận, phát huy tiềm năng trí tuệ của các cơ quan khoa học, của đội ngũ những cán bộ khoa học hoạt động trên lĩnh vực lý luận. Thực hiện cơ chế dân chủ trong hoạt động lý luận và trong công tác quản lý, điều hành hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận. Cơ chế thực hiện dân chủ trong nghiên cứu lý luận phải bảo đảm tự do tư tưởng, phát huy tiềm năng sáng tạo của các cơ quan, của những người làm công tác nghiên cứu lý luận. Việc xây dựng cơ chế này đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa hệ thống điều hành, quản lý công tác lý luận với tập thể các cơ quan khoa học nghiên cứu, phát triển lý luận với từng cán bộ nghiên cứu lý luận, giữa cơ quan nghiên cứu với từng nhà khoa học. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ của tổ chức, tập thể và cá nhân, thể chế hoá, quy chế hoá các mối quan hệ đó thành văn bản. Trong thực tế, một số nghị quyết, chỉ thị của Đảng đã đề cập vấn đề dân chủ như là một điều kiện của công tác nghiên cứu, phát triển lý luận. Tuy nhiên, những quan điểm ấy chưa được thể chế hoá, chậm được đưa vào các chế định cụ thể. Vì thế, các nhà nghiên cứu lý luận vẫn e dè khi đưa ra những ý kiến, quan điểm mới, nhất là những ý kiến có sự khác biệt với những quan điểm đang được coi là chính thức. Thể chế hoá cơ chế quản lý công tác nghiên cứu, phát triển lý luận bao gồm cả việc dân chủ hoá trong các khâu của hoạt động nghiên cứu lý luận từ việc xây dựng các chương trình đấu thầu, giao nhận các chương trình, đề tài… đến việc tổ chức thực hiện, nghiệm thu, đánh giá, khen thưởng, phổ biến các kết quả nghiên cứu, phát triển lý luận… Hình thành một chế độ bắt buộc trong nghiên cứu khoa học để đưa ra được những căn cứ cần thiết và tin cậy trước khi xây dựng một chính sách, một dự án kinh tế - xã hội. Xây dựng những chế định mới về tài chính phù hợp với thực tế công tác nghiên cứu, phát triển lý luận. Trước hết là xác định lại hệ thống các tiêu chí, định mức chi phí tài chính, bảo đảm tương xứng với tính chất của lao động khoa học, với yêu cầu của từng loại công việc, từng công đoạn của quá trình tổ chức, triển khai hoạt động nghiên cứu. Cùng với chế độ, định mức chi phí, cần xây dựng một cơ chế kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả nghiên cứu thật chặt chẽ. Hình thành cơ chế thu hút và phát huy tiềm năng nghiên cứu, phát triển lý luận. Thông qua cơ chế để thu hút nhân tài, khơi dậy các khả năng sáng tạo đang tiềm ẩn trong đội ngũ cán bộ khoa học và các cơ quan, đơn vị làm công tác lý luận. Việc xây dựng cơ chế kích thích tiềm năng nghiên cứu lý luận cần tuân thủ các nguyên tắc như xuất phát từ yêu cầu khách quan, cấp thiết của thực tiễn; tôn trọng tính độc lập, tự chủ, sáng tạo; kết hợp hài hoà lợi ích vật chất với tinh thần; bảo đảm tính công bằng, đúng mức và công khai. Nếu có cơ chế, chính sách phù hợp sẽ khai thác được các tiềm năng tương đối lớn đang tiềm ẩn trong các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu lý luận để tạo thành một nguồn lực tích cực cho việc nghiên cứu, phát triển lý luận trong thời gian tới. Xây dựng một hệ thống chính sách như: chính sách tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lý luận và cán bộ quản lý hoạt động lý luận; chính sách về tiền lương; chính sách đãi ngộ ưu đãi đối với những nhà lý luận đầu đàn; chính sách khen thưởng đối với những công trình nghiên cứu lý luận có giá trị; chính sách đối với việc nghiên cứu thực tế; chính sách hợp tác quốc tế về nghiên cứu, phát triển lý luận… 3.2.2 Đối với công tác tuyên truyền, cổ động - Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị + Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, của Trung ương, trước hết là của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đối với công tác tư tưởng nói chung, công tác tuyên truyền nói riêng trong tình hình mới. Ban hành quy chế và kiểm tra việc thực hiện qui chế về nhiệm vụ thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền của các cấp uỷ đảng. Hàng năm phải lập chương trình, kế hoạch chỉ đạo công tác tuyên truyền, chủ động nắm bắt, đánh giá, dự báo diễn biến tư tưởng trong nhân dân. Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ làm công tác tuyên truyền. Khẩn trương xây dựng qui hoạch đội ngũ này từ nay đến năm 2015. Kết hợp chặt chẽ việc tổ chức học tập, đào tạo trong trường với rèn luyện trong thực tiễn công tác, để cán bộ được đào tạo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ hiểu biết về thực tiễn, có năng lực tổng kết và truyền đạt những vấn đề do thực tiễn đặt ra. Các cấp uỷ đảng đẩy mạnh việc nắm bắt, phân tích tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội của các giai tầng trên địa bàn; góp phần giải quyết có hiệu quả vấn đề khiếu kiện của dân, đình công của công nhân, thực hiện tốt Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng và Quy chế dân chủ ở cơ sở. + Tăng cường tuyên truyền giáo dục, thuyết phục làm cho toàn Đảng thống nhất cao những vấn đề có tính lý luận trong các văn kiện Đại hội X, đặc biệt là khẳng định quan điểm kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, đó là chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời tạo nên sự thống nhất cao trong toàn Đảng và sự đồng thuận trong xã hội đối với đường lối, chính sách và sự lãnh đạo của Đảng. + Triển khai đồng bộ các hình thức tuyên truyền: tuyên truyền công khai, tuyên truyền nội bộ, tuyên truyền tập trung và tuyên truyền đơn lẻ. Sử dụng các kênh tuyên truyền qua báo chí, xuất bản, phát thanh, truyền hình, bản tin nội bộ, cổ động trực quan, văn hoá văn nghệ, tuyên truyền miệng qua hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên, các đội thông tin lưu động nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân về bản chất âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch và tính nguy hiểm của “diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hoá. + Tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân ta ở trong nước cũng như kiều bào ở nước ngoài hiểu sâu sắc lịch sử vẻ vang và vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong gần 80 năm qua, đặc biệt là thành tựu to lớn qua hơn 20 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới. + Tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy được âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch để đủ sức đề kháng” “tự bảo vệ mình”. Đẩy mạnh việc giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng cho học sinh, sinh viên. Sớm xây dựng hệ thống bài giảng chống “diễn biến hoà bình” trong môn học giáo dục công dân ở các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông. + Cải tiến, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các loại hình tuyên truyền của công tác tư tưởng, trong đó đặc biệt chú trọng chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền miệng. Thông qua đội ngũ báo cáo viên từ cấp Trung ương đến cơ sở, kịp thời định hướng, thông tin cho cán bộ, đảng viên và nhân dân những vấn đề quan trọng trong nước và trên thế giới. Hàng năm, tổ chức rà soát, kiện toàn và tập huấn cho đội ngũ báo cáo viên ở các cấp. Công tác tuyên truyền cần triển khai sát đối tượng, phù hợp với trình độ, nhu cầu của từng đối tượng đặc biệt quan tâm cán bộ hưu trí, cựu chiến binh; coi trọng đối thoại, thảo luận, trao đổi cung cấp thông tin hai chiều… để nâng cao tính dân chủ, sức thuyết phục. + Đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục lý luận trong hệ thống các trường chính trị, các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp trong cả nước; khắc phục sự lạc hậu của chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, hiện đại và phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Tăng cường đào tạo, đào tạo lại, nâng cao trình độ khoa học, bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, giảng dạy các bộ môn khoa học Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; chú trọng phát hiện và bồi dưỡng đội ngũ chuyên gia đối với các chuyên ngành nghiên cứu, giảng dạy lý luận. Đổi mới cách đánh giá chất lượng đào tạo, đảm bảo thực chất, chống bệnh thành tích và chủ nghĩa hình thức. - Đổi mới mạnh mẽ hoạt động thông tin đối ngoại + Nâng cao nhận thức của cấp uỷ, chính quyền các cấp, của doanh nghiệp và nhân dân về vai trò của công tác thông tin đối ngoại đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; về sự cần thiết phải đổi mới công tác này trong bối cảnh hội nhập quốc tế và những cơ hội cũng như những thách thức đặt ra trong tình hình mới. + Tiếp tục đổi mới nội dung thông tin đối ngoại cho phù hợp với tình hình mới. Theo đó, công tác thông tin đối ngoại cần tập trung xây dựng và quảng bá hình ảnh một Việt Nam hoà bình, hữu nghị, đổi mới, phát triển và hội nhập thành công; đồng thời xây dựng nội dung lập luận nhằm đấu tranh phản bác những thông tin sai trái về đất nước ta. + Không ngừng đổi mới phương thức thông tin đối ngoại trong thời gian tới. Sự phát triển của công nghệ thông tin đòi hỏi phải có phương thức thông tin đối ngoại phù hợp. Trong đó, chú trọng sử dụng hiệu quả các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin nhằm tăng thời lượng phát thanh truyền hình, báo điện tử và chuyển tải nhiều hơn thông tin, sản phẩm văn hoá có nội dung tốt đến đồng bào ta ở nước ngoài và bạn bè quốc tế. Đồng thời, tăng cường việc thể hiện thông tin bằng tiếng nước ngoài, nâng cao nội dung và tính hấp dẫn về hình thức của các ấn phẩm thông tin đối ngoại. Bên cạnh đó, các hình thức thông tin đối ngoại như thông qua đoàn ra, đoàn vào, các hoạt động giao lưu văn hoá, trao đổi nghệ thuật… cần được tích cực phát huy. + Quan tâm hơn nữa đến công tác đào tạo, bồi dưỡng và khuyến khích sự nỗ lực phấn đấu của lực lượng cán bộ trên mặt trận thông tin đối ngoại nhằm không ngừng nâng cao năng lực chuyên môn, bản lĩnh chính trị và trình độ tác nghiệp để có thể đáp ứng được những yêu cầu mới đặt ra đối với công tác thông tin đối ngoại trong thời gian tới. - Đẩy mạnh hoạt động báo chí, xuất bản + Xây dựng chiến lược truyền thông quốc gia, phát triển đồng bộ, có quy hoạch, kế hoạch và hiện đại hoá các phương tiện truyền thông đại chúng để phục vụ tích cực, hiệu quả hơn nữa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đến năm 2010 hoàn thành cơ bản việc phổ cập các phương tiện phát thanh, truyền hình đến mỗi gia đình. Mở rộng quan hệ trao đổi và giao lưu về báo chí, nhất là xuất nhập khẩu sách, báo, các ấn phẩm thông tin với các nước trong khu vực và trên thế giới. Tiếp tục hoàn thiện các chính sách đối với báo chí. Nhà nước quy hoạch tổng thể chính sách quốc gia với sự nghiệp phát triển và các hoạt động báo chí đến năm 2020. + Các cấp uỷ, tổ chức đảng, trước hết tổ chức đảng trong cơ quan báo chí và cơ quan chủ quản phải đảm bảo cơ quan báo chí của mình hoạt động đúng định hướng chính trị của Đảng. Chủ động và tích cực góp phần vào việc tuyên truyền quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; bám sát thực tiễn đất nước, góp phần tổng kết, phổ biến những kinh nghiệm điển hình tiên tiến; tích cực và chủ động góp phần vào cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh lý luận; làm tốt công tác thông tin đối ngoại… + Trên cơ sở sắp xếp lại hệ thống báo chí, tổ chức tốt sự phối hợp giữa các tổ chức đảng, các cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân trong việc lãnh đạo, quản lý và hỗ trợ báo chí, thực hiện đúng phương châm “Phát triển đi đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng. Khắc phục khuynh hướng “thương mại hoá” trong hoạt động báo chí, xuất bản. Đồng thời “Khắc phục những biểu hiện lệch lạc trong hoạt động báo chí, xuất bản, văn hoá, vì lợi ích vật chất cá nhân, cục bộ”. + Tăng cường quản lý đào tạo, bồi dưỡng các nhà báo và cán bộ quản lý báo chí. Đẩy mạnh công tác kiểm tra của đảng tập trung vào nội dung chính trị tư tưởng, sự lãnh đạo của các cấp uỷ, sự quản lý của Nhà nước và trách nhiệm cơ quan chủ quản báo chí. - Chú trọng chất lượng và hiệu quả hoạt động văn học - nghệ thuật + Tạo điều kiện thuận lợi cho văn học, nghệ thuật phát triển phong phú, mạnh mẽ, đa dạng. Đồng thời, chú ý khuyến khích cho dòng mạch chính trong sự nghiệp phát triển đa dạng đó để có nhiều tác phẩm xuất sắc về tư tưởng và nghệ thuật, lấy chủ nghĩa yêu nước và ý chí tự cường làm cốt lõi cho tinh thần dân tộc, lấy tinh thần đổi mới làm cốt lõi cho tinh thần dân tộc, lấy tinh thần đổi mới làm động lực cho khát vọng sáng tạo của văn học, nghệ thuật. Đặc biệt coi trọng hiệu quả xã hội, thẩm mỹ của văn học, nghệ thuật, phát huy tối đa sức ảnh hưởng của văn học, nghệ thuật đến đông đảo quần chúng nhân dân trong việc khẳng định cái mới, cái tích cực và phê phán không khoan nhượng những cái tiêu cực, xấu xa cản trở sự phát triển của đất nước. + Tiếp tục đổi mới và nâng cao năng lực, trình độ lãnh đạo của Đảng đối với văn học, nghệ thuật, xây dựng cơ chế lãnh đạo, quản lý phù hợp, chấm dứt hiện tượng can thiệp thô bạo, mất dân chủ đối với việc đánh giá, thẩm định các giá trị văn học, nghệ thuật, mặt khác, lại phải tránh buông lỏng, thả nổi, không phê phán những sản phẩm văn hoá độc hại, ảnh hưởng xấu đến sự nghiệp cách mạng. + Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về văn học, nghệ thuật. Sớm hoàn thành cơ bản việc thể chế hoá các quan điểm, đường lối, định hướng của Đảng về văn học, nghệ thuật; xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển dài hạn các lĩnh vực văn học, nghệ thuật; rà soát, bổ sung và xây dựng các chế độ, chính sách đối với văn học, nghệ thuật; có kế hoạch đầu tư xây dựng các công trình văn học, nghệ thuật tầm cỡ lớn mang tính hiện đại… + Đối với lý luận văn học, nghệ thuật, cần khẳng định vai trò chủ đạo của lý luận văn nghệ mác - xít, quán triệt đường lối văn nghệ của Đảng, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng, tiếp tục nghiên cứu, đổi mới, phát triển và hoàn thiện hệ thống lý luận phù hợp với thực tiễn Việt Nam, làm cho lý luận có khả năng soi sáng và đủ sức giải đáp những vấn đề quan trọng trong đời sống văn học, nghệ thuật nước nhà. Mặt khác, tiếp tục nghiên cứu lý luận và mỹ học phương Đông, trong đó lý luận truyền thống của dân tộc trên tinh thần đổi mới, tiếp tục dịch và giới thiệu một cách có hệ thống, có chọn lọc lý luận và mỹ học phương Tây hiện đại để làm phong phú thêm đời sống lý luận văn học, nghệ thuật nước ta. Đối với phê bình văn học, nghệ thuật, cần phải kiên trì, nâng cao chất lượng khoa học, tư tưởng và thẩm mỹ của tác phẩm phê bình. Nhanh chóng xây dựng hệ thống chuẩn mực đánh giá, tạo dựng không khí phê bình dân chủ, tôn trọng tính đối thoại và chấp nhận những ý kiến khác nhau, theo đúng tinh thần văn hoá khoan dung. Lý luận, phê bình tham gia trực tiếp vào quá trình chọn lọc, thẩm định để đưa ra các tác phẩm văn học,nghệ thuật vào cuộc sống. Xây dựng chế tài, nâng cao trách nhiệm trong việc thẩm định, đánh giá, quyết định, công bố, trình diễn, truyền bá các tác phẩm văn học, nghệ thuật. + Tập trung nâng cao chất lượng các trường đào tạo văn học, nghệ thuật, bổ sung các chế độ, chính sách đối với công tác đào tạo đặc thù này, có kế hoạch đào tạo ở nước ngoài các năng khiếu và tài năng văn học, nghệ thuật. Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong đó chú trọng cơ chế lựa chọn, bố trí, xây dựng tiêu chuẩn đảm bảo cán bộ có đủ năng lực, trình độ và phẩm chất để đảm đương công việc có đặc thù và nhạy cảm này. + Củng cố, đổi mới hoạt động, kiện toàn tổ chức các hội văn học, nghệ thuật ở Trung ương và địa phương. Các hội văn học, nghệ thuật là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của nhà nước, được đầu tư chăm lo phát triển để hội viên nâng cao ý thức trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, say mê sáng tạo và cống hiến cho đất nước nhiều tác phẩm nghệ thuật xuất sắc. Chính phủ cần sớm xây dựng nghị định về các hội văn học, nghệ thuật theo định hướng của Bộ Chính trị. - Tích cực, chủ động đấu tranh với các quan điểm sai trái, các luận điệu thù địch và các phần tử cơ hội và âm mưu diễn biến hoà bình của các thế lực thù địch + Tiến hành thường xuyên việc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, đồng thời đấu tranh không khoan nhượng với các phần tử cơ hội chính trị, chống đối ở trong nước. Một mặt thường xuyên đăng tải các bài viết với nội dung sâu sắc, có tính khoa học, đấu tranh trực diện với các quan điểm sai trái. Mặt khác đẩy mạnh các hình thức đối thoại, thuyết phục, đấu tranh lôi kéo những người có nhận thức lệch lạc cô lập những kẻ cơ hội, thù địch để họ từ bỏ hành động chống phá Đảng, chống phá cách mạng. + Sử dụng tổng hợp các biện pháp: giáo dục, thuyết phục, dùng áp lực của quần chúng để đấu tranh khi cần thiết. Đối với một số người có quan điểm sai trái cần có sự đánh giá, phân hoá và có hình thức xử lý thích hợp. Đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật và ngoan cố chống đối phải kiên quyết xử lý theo pháp luật, ngăn chặn kịp thời để tránh tình trạng vô chính phủ, phản ứng dây chuyền dẫn đến mất ổn định về chính trị. + Phối hợp có hiệu quả các lực lượng, binh chủng trong việc bảo vệ an ninh tư tưởng – văn hoá để có biện pháp xử lý nhanh các tình huống, đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tư tưởng – văn hoá của các lực lượng thù địch và bọn cơ hội chính trị. + Tích cực đấu tranh chống địch lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống phá ta. Tiếp tục tranh thủ các nước, nhất là những nước đồng thuận với Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền để đấu tranh chống các hoạt động xuyên tạc của các thế lực thù địch vu cáo ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. + Đối với các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài cần có thái độ kiên quyết đấu tranh triệt để. Tăng cường kết hợp giữa các lực lượng công an, quân đội, ngoại giao, cơ quan đại diện Nhà nước ta ở nước ngoài trong việc đấu tranh phá tan âm mưu thù địch của các tên cầm đầu trong các tổ chức phản động. Đồng thời, chú trọng sử dụng quần chúng, kiều bào tích cực hoặc có thiện cảm với chế độ, để đấu tranh, phân hoá kẻ thù. + Đẩy mạnh đấu tranh chống lợi dụng việc hợp tác, ngoại giao hòng mua chuộc cán bộ, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ. Có quy chế chặt chẽ đảm bảo quyền chủ động của các cơ quan chức năng trong việc lựa chọn người vào làm việc cho cơ quan, văn phòng đại diện tham gia dự án của các tổ chức phi Chính phủ (NGO) nước ngoài tại Việt Nam và cử cán bộ đi học tập, nghiên cứu, đào tạo, tham quan ở nước ngoài, có biện pháp bảo vệ hữu hiệu các công dân của ta, nhất là số trí thức, văn nghệ sĩ, sinh viên, đề phòng địch móc nối lôi kéo. Tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh các hoạt động giáo dục, khoa học, văn học, nghệ thuật để chống các khuynh hướng phi chính trị, thương mại hoá, phương Tây hoá dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng thực hiện các ý đồ của chúng. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO Trần Đức Anh (2006), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác tư tưởng, đấu tranh chống diễn biến hoà bình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (3). Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (lần 2) (2005), Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII về đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, chống tham nhũng, lãng phí. Lưu hành nội bộ. Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (1996), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 1995 (Phần phụ lục), Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (1997), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 1996 (Phần phụ lục), Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (1998), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu quán triệt Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (1999), Báo cáo tổng kết công tác tư tưởng – văn hoá năm 1998, phương hướng, nhiệm vụ năm 1999, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2000), Báo cáo tổng kết công tác tư tưởng – văn hoá năm 1999, phương hướng, nhiệm vụ năm 2000, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2000), Một số văn kiện của Đảng về công tác tư tưởng – văn hoá, tập 2 (1986-2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (2003), 72 năm truyền thống công tác tư tưởng - văn hoá của Đảng, Lưu hành nội bộ, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2001), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2000, Hà Nội Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2001), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2001, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2002), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2002, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2003), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2003, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2004), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2004, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2005), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2005, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2006), Kỷ yếu Hội nghị công tác tư tưởng – văn hoá toàn quốc năm 2006, Hà Nội. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Kỷ yếu Hội nghị công tác tuyên giáo toàn quốcnăm 2007, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2001), Sơ thảo lược sử công tác tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam (1930-2000), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương, Bộ Văn hoá - Thông tin, Hội nhà báo Việt Nam (2002), Tiếp tục thực hiện Chỉ thị 22-CT/TW của Bộ Chính trị khoá VIII về đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo, quản lý công tác báo chí, xuất bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2001), Tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2006), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng – văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam (1954-1975), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương (2006), Lịch sử biên niên công tác tư tưởng – văn hoá của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976-2004), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Báo cáo tóm tắt Tổng kết 30 năm thực hiện Chỉ thị 14-CT/TW của Bna Bí thư Trung ương khoá IV và 10 năm thực hiện Thông báo 71-TB/TW của Thường vụ bộ Chính trị khoá VIII. Tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Trung ương. Nguyễn Đức Bình (1995), “Đề cương báo cáo Nghị quyết 09 của Bộ Chính trị trình bày tại Hội nghị cán bộ toàn quốc ngày 20 và 21-5. Nguyễn Đức Bình (1995), “Một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng của ta hiện nay”, Thông tin công tác tư tưởng, (3). Nguyễn Đức Bình (2001), Một số vấn đề về công tác lý luận tư tưởng và văn hoá, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Thanh Bình (2004), Quản lý và phát triển báo chí, xuất bản, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Bộ Văn hoá - Thông tin (1997), Văn bản pháp quy về văn hoá - thông tin, tập 4 (1987-1996), Nxb Văn hoá - thông tin, Hà Nội. Chỉ thị số 17-CT/TW của Ban Bí thư (2007) “về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới”, ngày 15-10. Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (11). Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đỗ Quý Doãn (2008), “Hoạt động báo chí, xuất bản và công tác quản lý nhà nước vè báo chí, xuất bản hiện nay”, Cộng sản, (6). Đỗ Quý Doãn (2008), “Báo chí cách mạng Việt Nam qua 20 năm đổi mới”, Báo cáo viên, (5). Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế – xã hội đến năm 2000, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1993), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VII, Lưu hành nội bộ, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1994), Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, Lưu hành nội bộ, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 18-2 của Bộ Chính trị Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1995), Chỉ thị số 64-CT/Trung ương ngày 25-12 của Ban bí thư Trung ương Đảng Về tăng cường lãnh đạo, quản lý, lập lại kỷ cương trong các hoạt động văn hoá và dịch vụ văn hoá, đẩy mạnh bài trừ một số tệ nạn xã hội nghiêm trọng, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2004), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006), Lưu hành nội bộ, Hà Nội. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Lê Doãn Hợp (2007), “Quản lý báo chí trong sự nghiệp đổi mới đất nước hiện nay”, Cộng sản, (6). Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2006), Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5 (1995), Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, Nxb CTQG, Hà Nội. Lưu Văn Kiều (2002), “Báo chí công cụ sắc bén của công tác tư tưởng”, Cộng sản, (18). Trần ngọc Linh (2003), “Quan điểm của V.I.Lênin về công tác tư tưởng, lý luận với công cuộc đổi mới của chúng ta”, Cộng sản, (11). Trường Lưu (2007), “Về các giải pháp nhằm đổi mới công tác nghiên cứu, phát triển lý luận”, Cộng sản, (6). Nông Đức Mạnh (2007), “Cần có những đột phá về lý luận, tạo cơ sở vững chắc cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ mới”, Cộng sản, Nông Đức Mạnh (2007), “Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, phục vụ sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (4). Phạm Quang Nghị (2005), “Ngành Văn hoá thông tin lớn lên cùng cách mạng”, Văn hoá nghệ thuật, (9). Phạm Quang Nghị (2006), “Phát huy vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng – văn hoá”, Văn hoá Nghệ thuật, (2). Lê Khả Phiêu (1996), “Tiếp tục đổi mới nâng cao chất lượng toàn diện công tác tư tưởng – văn hoá trong tình hình mới”, Báo chí và tuyên truyền, (3). Phùng Hữu Phú (2007), “Những nội dung mới của Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương khoá X”, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (8). Nguyễn Trọng Phúc (2008), “ Vũ khí lý luận và nhu cầu phát triển lý luận của Đảng Cộng sản, Lý luận chính trị, (2). Tô Huy Rứa (2005), Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tô Huy Rứa (2005), Nhìn lại quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng 1986-2005, tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. Tô Huy Rứa (2006), “Phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu của công tác tư tưởng trong tình hình hiện nay”, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (9). Tô Huy Rứa (2007), “Đổi mới phương thức nghiên cứu, quán triệt và thực hiện có hiệu quả các nghị quyết Trung ương 5 khoá X”, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (10). Tô Huy Rứa (2007), “Công tác tư tưởng trước yêu cầu và nhiệm vụ mới”, Thông tin công tác tư tưởng, lý luận, (9). Trần Trọng Tân (1996), Góp phần đổi mới công tác lý luận tư tưởng, Nxb CTQG, Hà Nội. Tạ Ngọc Tấn (2007), “Một số vấn đề về phát triển báo chí nước ta hiện nay”, Cộng sản, (5) Hữu Thọ (1997), Một số vấn đề về công tác tư tưởng cần chú ý trong năm 1998, Bài phát biểu với cán bộ Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương , ngày 15-12. Thông báo Kết luận của Ban Bí thư sơ kết việc thực hiện Chỉ thị 23-CT/TW về Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, gioá dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới, tài liệu lưu tại Ban tuyên giáo Trung ương. Nguyễn Viết Thông (2007), “Quá trình đổi mới công tác tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam qua hơn 20 năm đổi mới”, Thông tin công tác tư tưởng, (10). Trần Hữu Tiến (1995), Đổi mới công tác tuyên truyền chính trị trong điều kiện hiện nay, Đề tài khoa học cấp bộ, Học viện CTQG Hồ Chí Minh, Hà Nội. Trần Đăng Tuấn (2007), “Một số vấn đề về lãnh đạo, quản lý báo chí trong tình hình hiện nay”, Cộng sản, (6). ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docDTKH010.doc
Tài liệu liên quan