Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá

Bộ GIáO DụC Và ĐàO TạO TRƯờNG ĐạI HọC NÔNG NGHIệP Hà NộI ---------------------------- đào ngọc đức BáO CáO TIếN Độ LUậN VĂN THạC Sĩ NÔNG NGHIệP Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá Chuyên ngành : QUảN Lý ĐấT ĐAI Mã Số : 60.62.16 Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. đào châu thu Hà NộI - 2009 1. Mở đầu 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Đất là một bộ phận hợp thành quan trọng của môi trường sống, không chỉ là tài nguyên thiên nhiên

doc58 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 987 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
mà còn là nền tảng để định cư và tổ chức hoạt động kinh tế, xã hội, không chỉ là đối tượng của lao động mà còn là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế trong sản xuất nông – lâm nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp là hợp thành của chiến lược phát triển nông nghiệp bền vững và cân bằng sinh thái. Do sức ép của đô thị hoá và sự gia tăng dân số, đất nông nghiệp đang đứng trước nguy cơ suy giảm về số lượng và chất lượng. Con người đã và đang khai thác quá mức mà chưa có biện pháp hợp lý để bảo vệ đất đai. Hiện nay, việc sử dụng đất đai hợp lý, xây dựng một nền nông nghiệp sạch, sản xuất ra nhiều sản phẩm chất lượng đản bảo môi trường sinh thái ổn định và phát triển bền vững đang là vấn đề mang tính toàn cầu. Thực chất của mục tiêu này chính là vừa đem lại hiệu quả kinh tế, vừa đem lại hiệu quả xã hội và môi trường. Đứng trước thực trạng trên, nghiên cứu tiềm năng đất đai, tìm hiểu một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá mức độ thích hợp của các loại hình sử dụng đất đó làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất hợp lý, hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết của Quốc gia và của từng địa phương. Hoằng Hoá là một huyện nông nghiệp nằm ở cửa ngõ phía Đông Bắc của thành phố Thanh Hoá với tổng diện tích tự nhiên là 22.453,87 ha (theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2007), trong đó diện tích đất nông nghiệp chiếm 64,88% (14.568,41 ha), có vùng sinh thái đa dạng mang đặc thu của vùng đất đồng bằng ven biển, có điều kiện kinh tế phát triển nông nghiệp hàng hoá. Trong những năm qua, nền sản xuất nông nghiệp của huyện đã được chú trọng đầu tư phát triển mạnh theo hướng sản xuất hàng hoá. Năng suất, sản lượng không ngừng tăng lên, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Song trong nền sản xuất nông nghiệp của huyện còn tồn tại nhiều yếu điểm đang làm giảm sút về chất lượng do quá trình khai thác sử dụng không hợp lý: trình độ khoa học kỹ thuật, chính sách quản lý, tổ chức sản xuất còn hạn chế, tư liệu sản xuất giản đơn, kỹ thuật canh tác truyền thống, đặc biệt là việc độc canh cây lúa ở một số nơi đã không phát huy được tiềm năng đất đai mà còn có xu thế làm cho nguồn tài nguyên đất có xu hướng bị thoái hoá. Nghiên cứu đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại, đánh giá đúng mức độ của các loại hình sử dụng đất để tổ chức sử dụng đất hợp lý có hiệu quả cao theo quan điểm bền vững làm cơ sở cho việc đề xuất quy hoạch sử dụng đất và định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện Hoằng Hóa là vấn đề có tính chiến lược và cấp thiết. Xuất phát từ thực tiễn trên, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS. Đào Châu Thu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá thực trạng và đề xuất sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá”. 1.2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 1.2.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài - Đánh giá hiện trạng các loại hình sử dụng đất nhằm phát hiện những thuận lợi, khó khăn của việc phát triển các loại hình sử dụng đất thích hợp. - Đề xuất các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thành Hoá. 1.2.2. Yêu cầu của đề tài - Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội của huyện Hoằng Hoá, phát hiện những tiềm năng và tồn tại trong sử dụng đất sản xuất nông nghiệp. - Điều tra, xác định các loại hình sử dụng đất hiện tại và đánh giá tiềm năng các loại hình sử dụng đất chính, phát hiện các yếu tố hạn chế của các các loại hình sử dụng đất hiện tại. - Trên cơ sở đánh giá yêu cầu sử dụng đất và hiệu quả của các loại hình sử dụng đất, đề xuất các giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thành Hoá. 2. TổNG QUAN Về VấN Đề NGHIÊN CứU 2.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 2.1.1. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới Đất nông nghiệp là nhân tố vô cùng quan trọng đối với sản xuất nông nghiệp. Trên thế giới, mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nước phát triển không giống nhau nhưng tầm quan trọng đối với đời sống con người thì quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết các nước coi sản xuất nông nghiệp là cơ sở nên tảng của sự hát triển. Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lương thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn. Để đảm bảo an ninh lương thực loài người phải tăng cường các biện pháp khai hoang đất đai. Do đó, đã phá vỡ cân bằng sinh thái của nhiều vùng, đất đai bị khai thác triệt để và không còn thời gian nghỉ, các biện pháp gìn giữ độ phì nhiêu cho đất chưa được coi trọng. Kết quả là hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá trên phạm vi toàn thế giới qua các hình thức bị mất chất dinh dưỡng và chất hữu cơ, bị xói mòn, bị nhiễm mặn và bị phá hoại cấu trúc của tầng đất... Người ta ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra [34]. Theo P.Buringh [44], toàn bộ đất có khả năng nông nghiệp của thế giới chừng 3,3 tỷ ha (chiếm 22% tổng diện tích đất liền); khoảng 78% (xấp xỉ 11,7 tỷ ha) không dùng được vào nông nghiệp. Đất trồng trọt là đất đang sử dụng, cũng có loại đất hiện tại chưa sử dụng nhưng có khả năng trồng trọt. Đất đang trồng trọt của thế giới có khoảng 1,5 tỷ ha (chiếm xấp xỉ 10,8% tổng diện tích đất đai và 46% đất có khả năng trồng trọt). Như vậy, còn 54% đất có khả năng trồng trọt chưa được khai thác [44]. Đất đai trên thế giới phân bố ở các châu lục không đều. Tuy có diện tích đất nông nghiệp khá cao so với các Châu lục khác nhưng Châu á lại có tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp trên tổng diện tích đất tự nhiên thấp. Mặt khác, châu á là nơi tập trung phần lớn dân số thế giới, ở đây có các quốc gia dân số đông nhất nhì thế giới là Trung Quốc, ấn Độ, Indonexia. ở Châu á, đất đồi núi chiếm 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước trời nói chung là khá lớn khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và khoảng 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam á. Phần lớn diện tích này là đất dốc và chua; khoảng 40-60 triệu ha trước đây vốn là đất rừng tự nhiên che phủ, nhưng đến nay do bị khai thác khốc liệt nên rừng đã bị phá và thảm thực vật đã chuyển thành cây bụi và cỏ dại. Đất canh tác của thế giới có hạn và được dự đoán là ngày càng tăng do khai thác thêm những diện tích đất có khả năng nông nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu về lương thực thực phẩm cho loài người. Tuy nhiên, do dân số ngày một tăng nhanh nên bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người ngày một giảm. Đông Nam á là một khu vực đặc biệt. Từ số liệu của UNDP năm 1995 [22] cho ta thấy đây là một khu vực có dân số khá đông trên thế giới nhưng diện tích đất canh tác thấp, trong đó chỉ có Thái Lan là diện tích đất canh tác trên đầu người khá nhất, Việt Nam đứng hàng thấp nhất trong số các quốc gia ASEAN. 2.1.2 Tình hình sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam Đất sản xuất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp… [30]. Theo kết quả kiểm đất đai năm 2007, Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.115.039,62 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 9.420.276,14 ha, dân số là 85.154,9 nghìn người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 1106,25 m2/ người. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về sản phẩm nông nghiệp đang trở thành vấn đề cáp bách luôn được các nhà quản lý và sử dụng đất quan tâm. Thực tế cho thấy, trong những năm qua do tốc độ công nghiệp hoá cũng như đô thị hoá diễn ra khá mạnh mẽ ở nhiều địa phương trên phạm vi cả nước làm cho diện tích đất nông nghiệp ở Việt Nam có nhiều biến động, theo những tư liệu của Tổng cục Thống kê và Bộ Tài nguyên và Môi trường thì biến động về số lượng đất nông nghiệp của nước ta trong những năm gần đây được thể hiện ở bảng 2.1. Bảng 2.1. Biến động về diện tích đất sản xuất nông nghiệp và diện tích đất trồng cây hàng năm ở Việt Nam Năm Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp (1000ha) Tổng diện tích đất trồng cây hàng năm (1000ha) Dân số (1000 người) Bình quân diện tích đất sản xuât nông nghiệp người/m2 2000 12.644,3 10.540,3 77.635,4 1.628,68 2005 9.415,57 6.370,02 83.119,9 1.132,77 2006 9.436,16 6.348,15 84.155,8 1.121,27 2007 9.420,28 6.309,62 85.154,9 1.106,25 Nguồn: Kiểm kê, thống kê đất đai các năm 2000, 2005, 2006, 2007; Niên giám thống kê 2008 - [11]. Theo Nguyễn Đình Bồng (2002) [5] đất sản xuất nông nghiệp của chúng ta chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử dụng. Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để có thể khai thác được diện tích đất nói trên phục cho các mục đích khác nhau. So với một số nước trên thế giới, nước ta có tỷ lệ đất dùng vào nông nghiệp rất thấp. Là một nước có đa phần dân số làm nghề nông thì bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người nông dân rất thấp và manh mún là một trở ngại to lớn. Để vượt qua, phát triển một nền nông nghiệp đủ sức cung cấp lương thực thực phẩm cho toàn dân và có một phần xuất khẩu cần biết cách khai thác hợp lý đất đai, cần triệt để tiết kiệm đất, sử dụng đất có hiệu quả cao trên cơ sở phát triển một nền nông nghiệp bền vững. 2.2. Đánh giá hiệu quả và tính bễn vững trong sử dụng đất nông nghiệp 2.2.1. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Thế giới đang sử dụng khoảng 1,5 tỷ ha đất cho sản xuất nông nghiệp. Tiềm năng đất nông nghiệp của thế giới khoảng 3-5 tỷ ha. Nhân loại đã làm hư hại khoảng 1,4 tỷ ha đất và hiện nay mỗi năm có khoảng 6 -7 triệu ha đất nông nghiệp bị bỏ do xói mòn và thoái hoá. Để giải quyết nhu cầu về sản phẩm nông nghiệp của con người phải thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng và mở rộng diện tích đất nông nghiệp [43]. Việc điều tra, nghiên cứu đất đai để nắm vững số lượng và chất lượng đất bao gồm điều tra lập bản đồ đất, đánh giá hiện trạng sử dụng đất, đánh giá phân hạng đất và quy hoạch sử dụng đất hợp lý là vấn đề quan trọng mà các quốc gia đang rất quan tâm. Để ngăn chặn những suy thoái tài nguyên đất đai do sự thiếu hiểu biết của con người, đồng thời nhằm hướng dẫn những quyết định về sử dụng và quản lý đất đai, sao cho nguồn tài nguyên này có thể được khai thác tốt nhất mà vẫn duy trì được sức sản xuất của nó trong tương lai, cần thiết phải nghiên cứu thật đầy đủ về tính hiệu quả trong sử dụng đất, đó là sự kết hợp hài hoà cả 3 lĩnh vực hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và bảo vệ môi trường trên quan điểm quản lý sử dụng đất bền vững. 2.2.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng tới việc sử dụng đất nông nghiệp * Điều kiện tự nhiên Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố như dất đai, khí hậu thời tiết, nước…có ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất nông nghiệp bởi vì đây là cơ sở để sinh vật sinh trưởng, phát triển và tạo sinh khối. Đánh giá đúng điều kiện tự nhiên là cơ sở xác định cây trồng vật nuôi phù hợp và định hướng đầu tư thâm canh đúng. Mặt khác khi sử dụng đất ngoài bề mặt không gian cần thích ứng với điều kiện tự nhiên và các yếu tố hình thành đất như khí hậu, địa hình, đá mẹ…Trong nhân tố điều kiện tự nhiên, điều kiện khí hậu là nhân tố quan trọng, sau đó là điều kiện đất đai, nguồn nước và các nhân tố khác. - Điều kiện khí hậu: các yếu tố khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất nông nghiệp và điều kiện sinh hoạt của con người. Tổng tích ôn, nhiệt độ bình quân, sự sai khác nhiệt độ ánh sáng, về thời gian và không gian.....trực tiếp ảnh hưởng tới sự phân bố, sinh trưởng và phát triển của cây trồng, cây rừng và thực vật thuỷ sinh,... lượng mưa, bốc hơi có ý nghĩa quan trọng trong việc giữ nhiệt độ, độ ẩm của đất, cũng như khả năng đảm bảo cung cấp nước cho sinh trưởng của cây trồng, gia súc, thuỷ sản [43]. - Điều kiện đất đai: Đất đai vùng đồng bằng được hình thành chủ yếu do sự bồi tụ phù sa của hệ thống các sông lớn theo những loại hình tam giác châu hoặc đồng bằng ven biển.Với các đặc điểm là địa hình tương đối bằng phẳng, có nguồn nước tưới thuận lợi, đất đai màu mỡ phì nhiêu đồng bằng đã và đang là những vựa lúa lớn càng ngày càng phong phú theo sự phát triển của của giống và hệ thống canh tác mới.Tại những vùng đất cao hoặc chủ động tưới tiêu nông dân đã trồng thêm cây vụ đông hoặc cây họ đậu vừa để có thêm thu nhập vừa có tác dụng cải tạo đất. Với tính chất đất và sự thích nghi rộng nên ở nhiều vùng đất phù sa còn phát triển nhiều laọi cây khác đặc biệt là những cây ăn quả có giá trị cao như vải, nhãn, cam… Tuy nhiên với sự khác biệt về vị trí địa lý, trình độ thâm canh cũng như tính chất đất đai được thể hiện qua độ phì nhiêu đất đối với cây trồng cụ thể sẽ quyết định đến năng suất tự và hiệu quả sử dụng đất. *Biện pháp kỹ thuật canh tác Biện pháp kỹ thuật canh tác là các tác động của con người vào đất đai, cây trồng, vật nuôi nhằm tạo nên sự hài hoà giữa các yếu tố của quá trình sản xuất để hình thành, phân bố và tích luỹ năng suất kinh tế. Theo tác giả Đường Hồng Dật, (1995) [11] thì biện pháp kỹ thuật canh tác là những tác động thể hiện sự hiểu biết sâu sắc của con người về đối tượng sản xuất, về thời tiết,về điều kiện môi trường và thể hiện những dự báo thông minh và sắc sảo. Lựa chọn các tác động kỹ thuật, lựa chọn chủng loại và cách sử dụng đầu vào phù hợp với các quy luật tự nhiên của sinh vật nhằm đạt mục tiêu đề ra. Theo Frank Ellis và Douglass C.North [39], ở các nước phát triển, khi có tác động tích cực của kỹ thuật, giống mới, thuỷ lợi, phân bón tới hiệu quả thì cũng đặt ra yêu cầu đói với tổ chức sử dụng đất. Có nghĩa là ứng dụng công nghệ sản xuất tiến bộ là một đảm bảo vật chất cho kinh tế nông nghiệp tăng trưởng nhanh. Cho đến giữa thế kỷ XXI, trong nông nghiệp Việt Nam, quy trình kỹ thuật có thể góp phần đến 30% của năng suất kinh tế [11]. Như vậy nhóm các biện pháp kỹ thuật đặc biệt có ý nghĩa quan trọng trong quá trình khai thác đất theo chiều sâu và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. * Nhân tố kinh tế - xã hội Nhân tố kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố về chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý chính sách, môi trường và chính sách đất đai, yêu cầu quốc phòng, sức sản xuất và trình độ phát triển kinh tế hàng hoá, cơ cấu kinh tế và phân bố sản xuất, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, trình độ quản lý sử dụng lao động, điều kiện trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực. Trong đó các nhân tố xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo về việc sử dụng đất đai nói chung, sử dụng đất nông nghiệp nói riêng. Phương thức sử dụng đất nông nghiệp được quyết định bởi yêu cầu của xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định. Chế độ sở hữu tư liệu sản xuất và chế độ kinh tế xã hội khác nhau đã tác động đến việc quản lý của xã hội về sử dụng đất nông nghiệp, khống chế phương thức và hiệu quả sử dụng đất. Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất nông nghiệp khác nhau. Nền kinh tế và khoa học kỹ thuật nông nghiệp càng phát triển thì khả năng sử dụng đất nông nghiệp của con người càng được nâng cao. ảnh hưởng của các điều kiện kinh tế xã hội góp phần tạo ra năng suất kinh tế trong nông nghiệp và được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp liên quan đến lợi ích kinh tế của người sử dụng đất nông nghiệp. Tuy nhiên, nên có chính sách ưu đãi để tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng đất theo kiểu bóc lột đất đai. Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận cũng dẫn đến tình trạng đất bị sử dụng không hợp lý, thậm chí hủy hoại đất. Vì vậy, cần phải dựa vào quy luật tự nhiên và quy luật kinh tế-xã hội để nghiên cứu mối quan hệ giữa các yếu tố tự nhiên, kinh tế-xã hội trong việc sử dụng đất nông nghiệp. Căn cứ vào những yêu cầu thị trường của xã hội xác định sử dụng đất nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ yêu cầu sử dụng với ưu thế tài nguyên của đất đai, để đạt tới cơ cấu hợp lý nhất, với diện tích đất nông nghiệp có hạn để mang lại hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và sử dụng đất được bền vững. Trong các nhóm nhân tố chủ yếu tác động đến việc sử dụng đất được trình bày ở trên, từ thực tế từng vùng, từng địa phương có thể nhận biết thêm những nhân tố khác tác động đến hiệu quả sử dụng đất, trong đó có những yếu tố thuận lợi và những yếu tố hạn chế. Đối với những yếu tố thuận lợi cần khai thác hết tiềm năng của nó, những nhân tố hạn chế phải có những giải pháp để khắc phục dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Vấn đề mấu chốt là tìm ra những nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng đất, để có những biện pháp thay đổi cơ cấu sử dụng đất nhằm nâng cao hiệu quả. 2.2.3. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới, ổn định, bền vững và hợp lý. Trong đó đánh giá hiệu quả sử dụng đất là một nội dung hết sức quan trọng. Vậy hiệu quả sử dụng đất là gì? Theo các nhà khoa học kinh tế Smuel-Norhuas; “Hiệu quả không có nghĩa là lãng phí. Nghiên cứu hiệu quả sản xuất phải xét đến chi phí cơ hội. Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng số lượng một loại hàng hoá này mà không cắt giảm số lượng một loại hàng hoá khác”.(Dẫn theo Vũ Phương Thuỵ-[39]) Theo Trung tâm từ điển ngôn ngữ [40], hiệu quả chính là kết quả cũng như yêu cầu của việc làm mang lại. Theo khái niệm trên thì hiệu quả sử dụng đất phải là kết quả của quá trình sử dụng đất. Trong đó ta quan tâm nhiều tới kết quả hữu ích, một đại lượng vật chất tạo ra do mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định. Do tính chất mâu thuẫn giữa nguồn tài nguyên đất đai là hữu hạn với nhu cầu ngày càng tăng của con người mà ta phải xem xét kết quả sử dụng đất được tạo ra như thế nào? Chi phí bỏ ra để tạo ra kết quả đó là bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Chính vì thế khi đánh giá hoạt động sản xuất nông nghiệp không chỉ dừng lại ở việc đánh giá kết quả mà còn phải đánh giá chất lượng các hoạt động sản xuất tạo ra sản phẩm đó. Đánh giá chất lượng của hoạt động sản xuất là nội dung đánh giá hiệu quả. Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi phù hợp là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới [46]. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là sự mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp. Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Đó là một trong những điều kiện vô cùng quan trọng để phát triển nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá vừa mang tính ổn định vùa đảm bảo sự bền vững. Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và những nhận thức lí luận của lí thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được xem xét trên 3 mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường [39]. * Hiệu quả kinh tế: Theo Các Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao động theo các ngành sản xuất khác nhau.. Theo các nhà khoa học Đức (Stenien, Hanau, Rusteruyer, Simmerman-1995): Hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm chi phí trong một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích của xã hội [39]. Như vậy hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa 2 đại lượng đó. Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh tế. Từ những vấn đề trên có thể kết luận rằng: Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là: trên một diện tích đất nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng tăng về vật chất của xã hội. Xuất phát từ lý do này mà trong quá trình đánh giá đất nông nghiệp cần phải chỉ ra được loại hình sử dụng đất có hiệu quả kinh tế cao. * Hiệu quả xã hội Theo Nguyễn Thị Vòng và các cộng sự (2001) [46] thì hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông nghiệp. [42], Từ những quan niệm trên đây của các tác giả cho ta thấy giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết với nhau, chúng là tiền đề của nhau và là một phạm trù thống nhất, phản ánh mối quan hệ giữa kết quả sản xuất và các lợi ích xã hội mang lại Trong giai đoạn hiện nay việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là nội dung được nhiều nhà khoa học quan tâm. * Hiệu quả môi trường Hiệu quả môi trường là môi trường được sản sinh do tác động của hoá học, sinh học, vật lý... chịu ảnh hưởng tổng hợp của các yếu tố môi trường của các loại vật chất trong môi trường. Hiệu quả môi trường phân theo nguyên nhân gây nên gồm: hiệu quả hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh vật môi trường. Hiệu quả sinh vật môi trường là hiệu quả khác nhau của hệ thống sinh thái do sự phát sinh biến hoá của các loại yếu tố môi trường dẫn đến. Hiệu quả hoá học môi trường là hiệu quả môi trường do các phản ứng hoá học giữa các vật chất chịu ảnh hưởng của điều kiện môi trường dẫn đến. Hiệu quả vật lý môi trường là hiệu quả môi trường do tác động vật lý dẫn đến [45]. Như vậy hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính lâu dài. Hiệu quả môi trường vừa đảm bảo lợi ích trước mắt vì phải gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng đất vừa đảm bảo lợi ích lâu dài là bảo vệ tài nguyên đất và môi trường sinh thái. Khi hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của một loại hình sử dụng đất nào đó được đảm bảo thì hiệu quả môi trường càng cần được quan tâm. 2.2.3. Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. * Đặc điểm đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Trong quá trình khai thác, sử dụng đất nông nghiệp con người luôn mong muốn thu được nhiều sản phẩm nhất trên một đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất. Điều đó khẳng định khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trước hết phải được xác định bằng kết quả thu được trên một đơn vị diện tích cụ thể thường là một ha, tính trên một đồng chi phí, một lao động đầu tư. Như vậy một trong những đặc điểm để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là hiệu quả kinh tế. Theo Đường Hồng Dật và các cộng sự (1994) [11] thì hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Chính vì vậy khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải quan tâm đến những tác động của sản xuất nông nghiệp đến các vấn đề xã hội bao gồm giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nông thôn. Đây thực chất là đề cập đến hiệu quả xã hội khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Ngoài ra cũng theo tác giả này thì phát triển nông nghiệp chỉ có thể thích hợp được khi con người biết cách làm cho môi trường phát triển, điều này đồng nghĩa với việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp phải quan tâm tới những ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp tới môi trường xung quanh [11]. Tóm lại, để đánh giá một cách toàn diện hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần phải đề cập tới cả hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường. *Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Theo tác giả Vũ Thị Phương Thuỵ (2000) [39] thì tiêu chuẩn cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu dài của hiệu quả. Đối với đát nông nghiệp thì tiêu chuẩn để đánh giá là mức độ đạt được các mục tiêu kinh tế xã hội môi trường do xã hội đặt ra và cụ thể là: tăng năng suất cây trồng, vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thoả mãn tốt nhu cầu nông sản cho thị trường trong nước và tăng xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái nông nghiệp bền vững. Theo quan điểm của tổ chức FAO (1990) đưa ra có ba tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững là bền vững về mặt kinh tế, bền vững về mặt môi trường và bền vững về mặt xã hội, Nghĩa là định hướng sự thay đổi về kỹ thuật và tổ chức sản xuất nhằm đảm bảo thoả mãn liên tục các nhu cầu của con người thuộc các thế hệ hôm nay và mai sau [53]. Như vậy tiêu chuẩn chung để đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp ngày nay không chỉ dừng lại ở hiệu quả kinh tế mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường nữa Để đảm bảo cho nền nông nghiệp của ta phát triển bền vững khi dánh giá đất cần căn cứ vào các tiêu chuẩn trên. 2.2.4. Quan điểm sử dụng đất bền vững 2.2.4.1. Quan điểm sử dụng đất bền vững. Đất đai ngày càng thể hiện vai trò vô cùng quan trọng của nó không chỉ trong hiện tại mà cả tương lai. Khi dân số trên trái đất còn ít thì đất đai có thể đáp ứng một cách dễ dàng nhu cầu của con người về số lượng cũng như chất lương. Trong điều kiện ấy con người cũng ít có tác động lớn đến tài nguyên quí báu này. Một vài thập kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh kéo theo những nhu cầu về lương thực, thực phẩm, chỗ ở...tăng lên tạo nên một sức ép vô cùng lớn đến vấn đề sử dụng đất. Những diện tích đất đai màu mỡ ngày càng bị thu hẹp trước những nhu cầu công nghiệp hoá, đô thị hoá...dẫn đến con người phải tìm cách khai thác những vùng đất ít thích hợp cho sản xuất và hậu quả của quá trình này là đất đai bị thoái hoá, rửa trôi, xói mòn nghiêm trọng làm một diện tích lớn đất đai trên thế giới bị suy kiệt, ngoài ra còn ảnh hưởng đến môi trường sống của con người và nhiều loài động thực vật khác. Theo kết quả điều tra của UNDP và Trung tâm thông tin nghiên cứu đất quốc tế (ISRIC) đã cho thấy cả thế giới có khoảng 13,4 tỷ ha đất thì đã có 2 tỷ ha bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau trong đó Châu á và Châu Phi là 1,24 tỷ ha chiếm 62% tổng diện tích đất bị thoái hoá của thế giới [15], [21]. Những số liệu trên cho thấy sự thoái hoá đất đai tập trung vào các vùng, quốc gia đang phát triển, nơi mà nhu cầu về lương thực, thực phẩm...còn thiếu hụt lớn. Đất đai có những tác dụng to lớn đối với hệ sinh thái nói chung và với cuộc sống của con người nói riêng. Theo E.R De Kimpe và B.P Warkentin (1998) [48] thì đất có 5 chức năng chính: một là duy trì vòng tuần hoàn sinh hoá học và địa hóa học, hai là phân phối nước, ba là dự trữ và phân phối vật chất, bốn là tính đệm và năm là phân phối năng lượng. Những chức năng này đảm bảo cho khả năng điều chỉnh sự cân bằng của hệ sinh thái tự nhiên trước những thay đổi. Tuy nhiên, các tác động của con người đã làm cho hệ sinh thái biến đổi nhiều khi vượt quá khả năng điều chỉnh của đất. Là một hệ sinh thái một phần do con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ con người nên hệ sinh thái nông nghiệp chịu những tác động của con người mạnh mẽ nhất. Con người đã không chỉ tác động vào đất đai mà còn tác động cả vào khí quyển, nguồn nước để tạo ngày một nhiều hơn lương thực, thực phẩm và hậu quả là đất đai cũng như các nhân tố tự nhiên khác bị thay đổi theo chiều hướng ngày một xấu đi. Ngày nay những vùng đất đai màu mỡ đã giảm sức sản xuất một cách rõ rệt và có nguy cơ thoái hoá nghiêm trọng, không những thế sự suy thoái đất đai còn kéo theo sự suy giảm nguồn nước, những hiện tượng thiên tai bất thường...Trước những biểu hiện nói trên, nhằm đảm bảo cho cuộc sống của con người trong hiện tại và tương lai cần phải có những chiến lược về sử dụng đất để không chỉ duy trì những khả năng hiện có của đất mà còn khôi phục những khả năng đã mất. Thuật ngữ “sử dụng đất bền vững” ra đời trên cơ sở của những mong muốn trên. Việc tìm kiếm các giải pháp sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững luôn là mong muốn của con người trong suốt cả thời gian. Nhiều nhà khoa học và các tổ chức quốc tế đã đi sâu nghiên cứu vấn đề sử dụng đất một cách bền vững trên nhiều vùng của thế giới, trong đó có Việt Nam. Việc sử dụng đất bền vững là sử dụng đất với tất cả những đặc trưng vật lý, hoá học, sinh học có ảnh hưởng đến khả năng sử dụng đất. Thuật ngữ đất đai được đề cập đến ở đây gồm thổ nhưỡng, địa hình, khí hậu, thuỷ văn, thực vật và động vật, kể cả vấn đề cải thiện các biện pháp quản lý đất đai. Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) sử dụng thuật ngữ “chất lượng đất đai” trong sử dụng đất bền vững bao gồm các nhân tố ảnh hưởng đến sự bền vững của tài nguyên đất khi sử dụng cho các mục đích nhất định, chất lượng đất đai có thể khác nhau trên nhiều phương diện như khả năng cung cấp nước tưới, khả năng cung cấp chất dinh dưỡng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, khả năng chống chịu xói mòn, sức sản xuất tự nhiên và phân bố địa hình ảnh hưởng đến khả năng có giới hoá...[50]. Để duy trì được sự bền vững của đất đai, Smyth A.J và Julian Dumanski (1993) [49] đã xác định 5 nguyên tắc có liên quan đến sự sử dụng đất bền vững là: -Duy trì hoặc nâng cao các hoạt động sản xuất. -Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất. -Bảo vệ tiềm năng của các nguồn tài nguyên tự nhiên, chống lại sự thoái hoá chất lượng đất và nước. -Khả thi về mặt kinh tế. -Được xã hội chấp nhận. Như vậy, theo các tác giả, sử dụng đất bền vững không chỉ thuần tuý về mặt tự nhiên mà còn cả về mặt môi trường, lợi ích kinh tế và xã hội. Năm nguyên tắc trên đây là trụ cột của việc sử dụng đất bền vững, nếu trong thực tiễn đạt được cả._. 5 nguyên tắc trên thì sự bền vững sẽ thành công, ngược lại sẽ chỉ đạt được ở một vài bộ phận hay sự bền vững có điều kiện. Tại Việt Nam, theo ý kiến của Đào Châu Thu và Nguyễn Khang (1998) [44], việc sử dụng đất bền vững cũng dựa trên những nguyên tắc trên và được thể hiện trong 3 yêu cầu sau: -Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao và được thị trường chấp nhận -Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất bảo vệ được đất đai, ngăn chặn sự thoái hoá đất, bảo vệ môi trường tự nhiên. -Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được nhiều lao động, đảm bảo đời sống người dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Tóm lại, hoạt động sản xuất nông nghiệp của con người diễn ra hết sức đa dạng trên nhiều vùng đất khác nhau và cũng vì thế khái niệm sử dụng đất bền vững thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên từng vùng đất xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người. Đất đai trong sản xuất nông nghiệp chỉ được gọi là sử dụng bền vững trên cơ sở duy trì các chức năng chính của đất là đảm bảo khả năng sản xuất của cây trồng một cách ổn định, không làm suy giảm về chất lượng tài nguyên đất theo thời gian và việc sử dụng đất không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người và sinh vật. 2.2.4.2. Khung đánh giá sử dụng đất bền vững Vào năm 1991, ở Nairobi đã tổ chức Hội thảo về “Khung đánh giá quản lý đất bền vững ” đã đưa ra định nghĩa: “ Quản lý bền vững đất đai bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt động nhằm liên hợp các nguyên lý kinh tế xã hội với các quan tâm môi trường để đồng thời: - Duy trì, nâng cao sản lượng (hiệu quả sản xuất); - Giảm rủi ro sản xuất (an toàn) - Bảo vệ tiếm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái hoá đất và nước (bảo vệ). - Có hiệu quả lâu dài (lâu bền). - Được xã hội chấp nhận (tính chấp nhận) [19]. Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và là những mục tiêu cần phải đạt được, nếu thực tế diễn ra đồng bộ, so với các mục tiêu cần phải đạt được. Nếu chỉ đạt một hay một vài mục tiêu mà không phải tất cả thì khả năng bền vững chỉ mang tính bộ phận. Vận dụng nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được xem là bền vững phải đạt 3 yêu cầu sau: - Bền vững về kinh tế: cây trồng cho hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận. Hệ thống sử dụng đất phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình quân vùng có cùng điều kiện đất đai. Năng suất sinh học bao gồm các sản phẩm chính và phụ (đối với cây trồng là gỗ, hạt, củ, quả...và tàn dư để lại). Một hệ bền vững phải có năng suất trên mức bình quân vùng, nếu không sẽ không cạnh tranh được trong cơ chế thị trường. Về chất lượng: sản phẩm phải đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và xuất khẩu, tùy mục tiêu của từng vùng. Tổng giá trị sản phẩm trên đơn vị diện tích là thước đo quan trọng nhất của hiệu quả kinh tế đối với một hệ thống sử dụng đất. Tổng giá trị trong một giai đoạn hay cả chu kỳ phải trên mức bình quân của vùng, nếu dưới mức đó thì nguy cơ người sử dụng đất sẽ không có lãi, hiệu quả vốn đầu tư phải lớn hơn lãi suất tiền vay vốn ngân hàng. - Bền vững về mặt xã hội: thu hút được lao động, đảm bảo đời sống và phát triển xã hội. Đáp ứng nhu cầu của nông hộ là điều quan tâm trước, nếu muốn họ quan tâm đến lợi ích lâu dài (bảo vệ đất, môi trường..). Sản phẩm thu được cần thoả mãn cái ăn, cái mặc, và nhu cầu sống hàng ngày của người nông dân. Nội lực và nguồn lực địa phương phải được phát huy. Về đất đai, hệ thống sử dụng đất phải được tổ chức trên đất mà nông dân có quyền hưởng thụ lâu dài, đất đã được giao và rừng đã được khoán với lợi ích các bên cụ thể. Sử dụng đất sẽ bền vững nếu phù hợp với nền văn hoá dân tộc và tập quán địa phương, nếu ngược lại sẽ không được cộng đồng ủng hộ. - Bền vững về môi trường: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất, ngăn chặn thoái hoá đất và bảo vệ môi trường sinh thái. Giữ đất được thể hiện bằng giảm thiểu lượng đất mất hàng năm dưới mức cho phép. Độ phì nhiêu đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với quản lý sử dụng bền vững. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái (>35%). Đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài (đa canh bền vững hơn độc canh, cây lâu năm có khả năng bảo vệ đất tốt hơn cây hàng năm ...). Ba yêu cầu bền vững trên là để xem xét và đánh giá các loại hình sử dụng đất hiện tại. Thông qua việc xem xét và đánh giá các yêu cầu trên để giúp cho việc định hướng phát triển nông nghiệp ở vùng sinh thái [19]. Tóm lại: khái niệm sử dụng đất đai bền vững do con người đưa ra được thể hiện trong nhiều hoạt động sử dụng và quản lý đất đai theo các mục đích mà con người đã lựa chọn cho từng vùng đất xác định. Đối với sản xuất nông nghiệp việc sử dụng đất bền vững phải đạt được trên cơ sở đảm bảo khả năng sản xuất ổn định của cây trồng, chất lượng tài nguyên đất không suy giảm theo thời gian và việc sử dụng đất không ảnh hưởng xấu đến môi trường sống của con người, của các sinh vật. 2.3. Một số phương pháp đánh giá đất trên thế giới 2.2.1. Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) Phương pháp đánh giá đất đai của Liên Xô (cũ) được hình thành từ đầu năm 1950 và sau đó được hoàn thiện vào năm 1986, nhằm mục đích: - Xác định hiệu quả kinh tế sử dụng đất - Đánh giá và so sánh hoạt động kinh doanh của các xí nghiệp - Dự kiến số lượng và giá thành sản phẩm - Hoàn thiện kế hoạch sản xuất và xây dựng các đồ án quy hoạch. Đánh giá đất được thực hiện theo hai hướng: đánh giá chung và đánh giá riêng, chỉ tiêu đánh giá là: - Năng suất - giá thành sản phẩm - Mức hoàn vốn - Địa tô cấp sai (phần lãi thuần tuý) Lấy cây trồng làm gốc để đánh giá và nhất thiết phải là cây ngũ cốc và cây họ đậu. Đơn vị đánh giá là các chủng đất [10]. 2.3.2. Phương pháp đánh giá đất đai ở mỹ ở Mỹ việc đánh giá đất được áp dụng rộng rãi theo 2 phương pháp: - Phương pháp đánh giá đất tổng hợp: lấy năng suất cây trồng trong nhiều năm làm tiêu chuẩn và chú ý đi sâu vào phân hạng đất đai cho từng loại cây trồng. Phương pháp này chia lãnh thổ thành các tổ hợp đất (đơn vị đất đai) và tiến hành đánh giá đất đai theo năng suất bình quân của cây trồng trong nhiều năm (thường là lớn hơn 10 năm) và chú ý đánh giá cho từng loại cây trồng (thường chọn lúa mì là đối tượng chính). Qua đó các nhà nông học xác định các mối tương quan giữa đất và các giống lúa mì để đề ra các biện pháp tăng năng suất. - Phương pháp đánh giá đất theo từng yếu tố: bằng cách thống kê các yếu tố tự nhiên và kinh tế để so sánh, lấy lợi nhuận tối đa là 100 điểm hoặc 100% để làm mốc so sánh lợi nhuận ở các loại đất khác nhau [15]. 2.3.3. Phương pháp đánh giá đất ở Anh Đánh giá đất đai ở Anh được áp dụng theo hai phương pháp dựa vào việc thống kê sức sản xuất tiềm năng và sức sản xuất thực tế của đất [22]. - Phương pháp thứ nhất, xác định khả năng trồng cây nông nghiệp của đất phụ thuộc vào ba nhóm nguyên nhân chính sau đây: + Những nguyên nhân hoàn toàn không phụ thuộc vào người sử dụng đất. + Những nguyên nhân đòi hỏi các biện pháp đầu tư lớn mới khắc phục được như các công trình tưới, tiêu, thau chua, rửa mặn. + Những nguyên nhân đòi hỏi người sử dụng đất thực hiện các biện pháp thông thường hàng năm là có thể khắc phục được như: cải tạo độ chua, cung cấp chất dinh dưỡng cho đất. - Theo phương pháp thứ hai, việc đánh giá đất đai căn cứ hoàn toàn vào năng suất thực tế trên đất được lấy làm tiêu chuẩn, lấy năng suất bình quân nhiều nằm ở trên đất tốt nhất hoặc đất trung bình so sánh với năng suất trên đất tiêu chuẩn. Tuy nhiên, phương pháp này gặp khó khăn vì sản lượng năng suất còn phụ thuộc vào cây trồng được chọn và khả năng của người sử dụng [22]. 2.3.4. Đánh giá đất ở Canada. Canada đánh giá đất theo các tính chất tự nhiên của đất và năng suất ngũ cốc nhiều năm. Các chỉ tiêu thường được lưu ý là thành phần cơ giới, cấu trúc đất, mức độ độ dốc trong đất, xói mòn và đá lẫn. Trên cơ sở đó, đất Canada được chia làm 7 nhóm rất chi tiết và thích nghi cao tới không gian sản xuất được [17]. 2.3.5. ở ấn Độ và các nước vùng nhiệt đới ẩm châu Phi. Thường áp dụng phương pháp tham biến, có tính đến sự phụ thuộc của một số tính chất đất đai với sức sản xuất, các tác giả đi sâu phân tích về đặc trưng thổ nhưỡng có ảnh hưởng đến sức sản xuất như sự phân tầng, cấu trúc của đất, màu sắc đất, độ chua, độ no bazơ, hàm lượng mùn…Các đặc tính, các mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện dưới dạng phương trình toán học. Kết quả phân hạng đánh giá đất được thể hiện dưới dạng % hoặc cho điểm. 2.3.6. Quan điểm và nội dung chính phương pháp đánh giá đất theo chỉ dẫn của FAO * Quan điểm đánh giá đất theo chỉ dẫn của FAO Năm 1976, FAO đã đề xuất định nghĩa về đánh giá đất như sau (Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998) [23]. “Đánh giá đất là quá trình so sánh, đối chiếu những tính chất vốn có của vạt, khoanh đất cần đánh giá với những tính chất đất đai mà loại yêu cầu sử dụng đất cần phải có”. Việc đánh giá đất cho các vùng sinh thái hoặc lãnh thổ khác nhau là nhằm tạo ra một sức sản xuất mới ổn định, bền vững và hợp lý. Vì vậy, khi đánh giá đất, đất đai được nhìn nhận như là một vạt đất xác định về mặt địa lý, là một diện tích bề mặt trái đất với những thuộc tính tương đối ổn định hoặc thay đổi có tính chất chu kỳ có thể dự đoán được của môi trường bên trên hoặc bên dưới nó như không khí, loại đất, điều kiện địa chất, thuỷ văn, động vật, thực vật, những hoạt động từ trước và hiện tại của con người ở chừng mực mà những thuộc tính này có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng vạt đất đó trong hiện tại và tương lai (Theo Christian, Stewart- 1968, Brinkman, Smyth- 1973) [33]. Như vậy, đánh giá đất đai theo FAO phải được xem xét trên phạm vi rất rộng, bao gồm cả không gian, thời gian, tự nhiên, kinh tế và xã hội. Đặc điểm đánh giá đất đai của FAO là những đặc tính đất đai có thể đo lường được [23]. Mục đích của đánh giá đất theo FAO là nhằm tăng cường nhận thức, hiểu biết về phương pháp đánh giá đất đai trong khuôn khổ quy hoạch sử dụng đất, trên quan điểm tăng cường lương thực cho một số nước trên thế giới và giữ gìn nguồn tài nguyên đất đai không bị thoái hoá, sử dụng đất được lâu bền. * Những yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO. Yêu cầu chính trong đánh giá đất theo FAO là gắn liền đánh giá đất và quy hoạch sử dụng đất, coi đánh giá đất là một phần của quá trình quy hoạch sử dụng đất. Vì vậy những yêu cầu cần phải đạt được là: - Thu thập được những thông tin phù hợp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu. - Đánh giá được khả năng thích hợp của vùng đất đó với các mục tiêu sử dụng khác nhau và theo nhu cầu của con người. - Phải xác định được mức độ chi tiết đánh giá đất theo quy mô và phạm vi quy hoạch toàn quốc, tỉnh, huyện hoặc cơ sở sản xuất. - Mức độ thực hiện đánh giá đất đai phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ. * Nội dung chính của đánh giá đất đai theo FAO (Theo Đào Châu Thu và Nguyễn Khang 1998 ) [23]. - Xác định chỉ tiêu xây dựng bản đồ đơn vị đất đai. - Xác định và mô tả các loại hình sử dụng đất và yêu cầu sử dụng đất. - Hệ thống cấu trúc và phân hạng đất đai. - Phân hạng thích hợp đất đai. * Các bước chính trong đánh giá đất theo FAO gồm: 1 2 3 5 6 7 8 9 Xác định mục tiêu Thu thập tài liệu Xác định loại hình sử dụng đất (LUT) Đánh giá khả năng thích hợp Xác định hiện trạng KT - XH và môi trường Xác định loại hình sử dụng đất thích hợp nhất Quy hoạch sử dụng đất áp dụng của việc đánh giá đất 4 Xác định đơn vị đất đai Tóm lại, phương pháp đánh giá đất của FAO có những ưu điểm vượt trội so với các phương pháp đánh giá đất của các nước nêu trên vì có sự kế thừa, phối hợp điểm mạnh của hai phương pháp đánh giá đất của Liên Xô (cũ) và Mỹ, đồng thời có sự bổ sung hoàn chỉnh về phương pháp đánh giá thích hợp đất đai cho các mục đích sử dụng đất khác nhau. * Loại hình sử dụng đất. Trong đánh giá đất, FAO đã đưa ra những khái niệm về loại hình sử dụng đất, đưa vào nội dụng các bước đánh giá đất và coi loại hình sử dụng đất là một đối tượng dùng trong đánh giá đất. Loại hình Sử dụng đất (Land Use Types-LUT): Là bức tranh mô tả thực trạng sử dụng đất của mỗi vùng với những phương thức sản xuất và quản lý sản xuất trong điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và kỹ thuật được xác định [38]. Theo khung đánh giá việc quản lý đất đai của Hội thảo quốc tế 1991 ở Nairobi có 5 nguyên tắc chính là nền tảng cho việc sử dụng đất bền vững: - Duy trì nâng cao sản lượng; - Giảm tối thiểu mức rủi ro trong sản xuất; - Bảo vệ tiềm năng tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất; - Có thể tồn tại về mặt kinh tế; - Có thể chấp nhận được về mặt xã hội. Từ những nguyên tắc trên, ở Việt Nam một loại hình sử dụng đất được coi là bền vững phải đạt được 3 yêu cầu sau: - Bền vững về mặt kinh tế: Cây trồng có hiệu quả kinh tế cao, được thị trường chấp nhận; - Bền vững về mặt môi trường: Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được độ màu mở của đất, ngăn chặn thoái hóa đất và bảo vệ môi trường sinh thái; - Bền vững về mặt xã hội: Thu hút được lao động và đảm bảo đời sống xã hội phát triển. Yêu cầu các LUT là những đòi hỏi về đặc điểm và tính chất đất đai để bảo vệ mỗi LUT phát triển bền vững. Đó là những yêu cầu sinh trưởng, quản lý, chăm sóc, các yêu cầu bảo vệ đất và môi trường [31]. Có thể liệt kê một số LUT khá phổ biến trong nông nghiệp hiện nay, như: - Chuyên trồng lúa, có thể canh tác nhờ nước mưa hay có tưới chủ động, trồng 1 vụ, 2 vụ hay 3 vụ trong năm; - Kết hợp trồng lúa với cây trồng cạn, thực hiện những công thức luân canh nhiều vụ trong năm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm để đáp ứng nhu cầu cuộc sống con người, đồng thời còn có tác dụng cải tạo độ phì của đất. Cũng có thể nhằm khắc phục những hạn chế về điều kiện tưới không chủ động một số tháng trong năm, nhất là mùa khô; - Chuyên trồng màu, thường được áp dụng cho những vùng đất cao thiếu nước tưới, đất có thành phần cơ giới nhẹ; - Đất trồng cỏ chăn nuôi; - Nuôi trồng thủy sản; - Trồng rừng. Tùy theo mức độ nghiên cứu; khái quát, bán chi tiết và chi tiết mà các loại hình sử dụng đất dựa trên sự phân cấp phù hợp với quy mô từng vùng hay khu vực đánh giá. 2.4. Tình hình đánh giá đất Việt Nam theo chỉ dẫn của FAO. Phương pháp đánh giá đất của FAO đã được nhiều nhà khoa học đất Việt Nam bước đầu vận dụng thử nghiệm và đã có những kết quả đóng góp để hoàn thiện từng bước. Từ năm 1990 đến nay, nhiều công trình nghiên cứu đã đánh giá đất trên phạm vi toàn quốc với 9 vùng sinh thái của cả nước ở tỷ lệ 1/25.000 và ở nhiều vùng chuyên canh theo các dự án đầu tư. Kết quả bước đầu đã xác định được tiềm năng đất đai của các vùng và khẳng định việc vận dụng nội dung và phương pháp đánh giá đất của FAO theo điều kiện Việt Nam là phù hợp trong hoàn cảnh hiện nay. Năm 1995, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tổ chức hội thảo về đánh giá đất đai và quy hoạch sử dụng đất trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững. Hội nghị đã tổng kết, đánh giá việc ứng dụng quy trình đánh giá đất của FAO vào thực tiễn ở Việt Nam, nêu những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để đưa kết quả đánh giá vào công tác quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả. Thông qua việc đánh giá khả năng thích hợp của đất đai để thấy tiềm năng đa dạng hoá của nông nghiệp, khả năng tăng vụ, lựa chọn hệ thống sử dụng đất, loại hình sử dụng đất phù hợp để tiến tới sử dụng đất hợp lý và có hiệu quả cao hơn [2]. Trong công trình nghiên cứu "Kết quả bước đầu đánh giá tài nguyên đất Việt Nam", các tác giả đã xác định được toàn Việt Nam có 340 đơn vị đất đai trong đó miền Bắc có 144 đơn vị đất đai và miền Nam có 196 đơn vị đất đai. Toàn quốc có 90 loại hình sử dụng đất chính trong đó 28 loại hình sử dụng đất được lựa chọn (Nguyễn Khang, Phạm Dương Ưng, 1995). Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã góp phần đặt nền móng cho việc nghiên cứu và sử dụng đất theo quan diểm sinh thái lâu bền, bước đầu hoàn thiện quy trình về đánh giá đất theo FAO và đưa ra những kết quả mang tính khái quát. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu phần lớn mới chỉ dừng ở mức vĩ mô, những nghiên cứu chi tiết hơn còn chưa được thực hiện nhiều. Việc đánh giá đất theo quan điểm sinh thái phục vụ mục tiêu phát triển nông nghiệp theo hướng đa dạng hoá sản phẩm cho cấp huyện mới chỉ có một số công trình nghiên cứu như: Vũ Thị Bình (1995); Đoàn Công Quỳ (1997, 2001); Đỗ Nguyên Hải, Đào Châu Thu (1990), Đỗ Nguyên Hải, Đào Châu Thu (2000); Nguyễn ích Tân (2004). Năm 2003, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung sử dụng phương pháp đánh giá đất theo FAO để thực hiện đề tài: “Điều tra đánh giá thực trạng đất gò đồi chưa sử dụng làm căn cứ quy hoạch nông nghiệp vùng Duyên Hải Nam trung bộ”. Kết quả đánh giá toàn vùng có 47 đơn vị đất đai và đề xuất mở rộng đất nông lâm nghiệp 79.710 ha trong đó mức thích hợp cao 17.230 ha, mức ít thích hợp 49.600 ha [12]. Năm 2003, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp miền Nam, thực hiện phương án quy hoạch sử dụng đất cấp huyện, có tiến hành đánh giá đất đai, các yếu tố lựa chọn trong đánh giá đất bao gồm: loại đất, thành phần cơ giới, độ dốc, địa hình, tầng dày, và khả năng tưới. Ví dụ như huyện EaKar tỉnh Đắk Lắk, theo kết quả đánh giá này toàn huyện có 58 đơn vị đất đai. Các loại hình sử dụng đất chính được lựa chọn trong đánh giá đất của huyện: lúa, mầu, mía, cà phê, điều, cây ăn quả, lâm nghiệp. Kết quả đánh giá đã hình thành 15 kiểu thích nghi [13]. Theo một số tài liệu về điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai tỷ lệ 1/25.000 - 1/50.000 phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng cấp huyện của Viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp (2006): tại huyện Đông Triều - Quảng Ninh có 48 đơn vị đất đai và 30 kiểu thích nghi đất đai trên diện tích 30.116,34 ha; tại huyện Lục Ngạn - Bắc Giang có 105 đơn vị đất đất đai, 25 kiểu thích nghi. Đã lựa chọn được 12 hệ thống sử dụng đất, tập trung vào các loại hình 2 vụ lúa, lúa + 1 vụ màu, chuyên màu + cây CNNN , và cây ăn quả. Từ kết quả điều tra, đánh giá tình hình sử dụng đất và phân hạng thích nghi đất đai, đã bước đầu đề xuất sử dụng hợp lý tài nguyên đất của huyện; tại huyện Cẩm Xuyên - Hà Tĩnh xác định được 72 đơn vị đất đai, 39 kiểu thích nghi đất đai cho 9 loại hình sử dụng đất chính để đánh giá. Đã lựa chọn được 9 hệ thống sử dụng đất trên địa bàn huyện. Cũng theo, Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung (2006) tại huyện Điện Bàn - Quảng Nam có 42 đơn vị đất đai được phân thành 20 kiểu vùng thích hợp cây trồng với tổng diện tích 13.590 ha; Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Nam (2006) tại huyện Châu Thành - Long An, trên cơ sở trồng xếp 9 loại bản đồ đơn tính của 9 yếu tố đất đai, gồm: nhóm đất, thành phần cơ giới, độ sâu xuất hiện tầng phèn hoạt động và tiềm tàng, địa hình tương đối, độ sâu và thời gian ngập, thời gian xâm nhập mặn và điều kiện tưới, đã xác định được 14 đơn vị đất đai, 7 kiểu thích nghi. Mỗi đơn vị đất đai được xem như một mô hình sinh thái Nông - Lâm - Ngư nghiệp Năm 2007, báo cáo của Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra bổ sung, xây dựng bản đồ đất và đánh giá thích nghi đất đai tỷ lệ 1/25.000 phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện Hải Hậu tỉnh Nam Định xác định được 68 đơn vị đất đai với tổng diện tích các đơn vị đất 16.364 ha, toàn huyện có 17 kiểu thích hợp cho 7 loại hình sử dụng đất chính [31]. Báo cáo của Phân viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp miền Trung (2007) về ”Điều tra bổ sung xây dựng bản đồ đất và bản đồ thích nghi đất đai phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng huyện Eakar tỉnh Đắk Lắk”: toàn huyện có 239 đơn vị đất đai, 13 loại hình được lựa chọn. Kết quả đánh giá cho thấy đất đai trong vùng có phạm vi thích hợp khá rộng với nhiều loại hình sử dụng đất khác nhau. Đặc biệt trong điều kiện có tưới có thể trồng các loại cây lâu năm như cà phê, tiêu, câu ăn quả, điều, cao su... các loại cây trồng cạn hàng năm, chuyên canh lúa hoặc luân canh lúa màu. Trên cơ sở thích hợp của từng loại hình sử dụng đất đã tổng hợp nên 65 kiểu thích nghi đất đai. Đây là cơ sở khoa học để bố trí, chuyển đổi cơ cấu cây trồng cho phù hợp quỹ tài nguyên thiên nhiên của địa phương. Tóm lại, các tài liệu nghiên cứu trên đều được tiến hành theo phương pháp thống nhất, là cơ sở khoa học, góp phần tích cực trong việc thống kê số lượng, chất lượng, đất đai theo từng mức độ thích hợp ở cấp huyện nhằm phục vụ cho quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng, lựa chọn cây trồng mục tiêu, cơ cấu nông lâm nghiệp nói riêng và phục vụ yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn nói chung mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao. Các công trình nghiên cứu của các trung tâm, các viện và các tác giả đã góp phần đặt nền móng cho việc nghiên cứu và sử dụng đất theo quan điểm sinh thái lâu bền, bước đầu hoàn thiện quy trình về đánh giá đất theo FAO và đưa ra những kết quả mang tính khái quát. Việc đánh giá nguồn tài nguyên đất ở cấp độ nhỏ hơn (huyện, xã) là một yêu cầu cấp thiết được đặt ra hiện nay nhằm cụ thể hoá kết quả của công tác đánh giá đất, làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng sử dụng đất hiện tại cũng như trong tương lai. 3. ĐốI TƯợNG, PHạM VI, NộI DUNG Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU 3.1. Đối tượng nghiên cứu - Các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội chi phối đến khả năng sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Hoằng Hoá. - Các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại huyện Hoằng Hoá. 3.2. Phạm vi nghiên cứu Tập trung vào các loại đất sản xuất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất nông nghiệp của huyện Hoằng Hoá. 3.3. Nội dung nghiên cứu 3.3.1. Điều tra, nghiên cứu các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Hoằng Hoá. 3.3.2. Điều tra, xây dựng các loại hình sử dụng đất chính của huyện. 3.3.3. Xác định các yêu cầu sử dụng đất chính của các loại hình sử dụng đất (LUT) có triển vọng. 3.3.4. Đánh giá hiệu quả của các loại hình sử dụng đất có triển vọng. 3.3.4.1. Đánh giá hiệu quả về kinh tế. 3.3.4.2. Đánh giá hiệu quả về môi trường. 3.3.4.3. Đánh giá hiệu quả về xã hội. 3.3.5. Đề xuất một số giải pháp sử dụng đất nông nghiệp hợp lý trên cơ sở kết quả nghiên cứu đánh giá LUT của huyện Hoằng Hoá. 3.4. Phương pháp nghiên cứu 3.4.1. Phương pháp điều tra số liệu thứ cấp Thu thập các tài liệu, số liệu đã có tại các cơ quan trong tỉnh và địa phương: Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường, phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn, phòng Tài nguyên và Môi trường. Tham khảo ý kiến từ những chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài. 3.4.2. Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp Điều tra tình hình sử dụng đất, tình hình sản xuất, mức độ đầu tư thâm canh, kết quả sản xuất … trên các loại hình sử dụng đất khác nhau bằng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có người dân tham gia (Particpatory rural appraisal, PRA). 3.4.3. Phương pháp xử lý số liệu điều tra Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê và sử dụng phần mềm Excel. 3.4.4. Phương pháp xây dựng bản đồ Sử dụng phần mềm tin học Mapinfo và Microstation để xây dựng bản đồ. 3.4.5. Phương pháp tính hiệu quả sử dụng đất * Hiệu quả kinh tế: Để tính hiệu quả sử dụng đất trên 1ha của các LUT, đề tài sử dụng hệ thông các chỉ tiêu sau: - Tổng chi phí: Bao gồm các khoản chi phí được sử dụng trong quá trình sản xuất (chi phí vật chất và chi công lao động) - Tổng thu nhập = Sản lượng x Đơn giá. - Thu nhập hỗn hợp (TNHH) = Tổng thu nhập - Chi phí vật chất - Thu nhập thuần = Tổng thu nhập – Tổng chi phí. - Hiệu quả kinh tế của ngày công lao động = Thu nhập hỗn hợp/ số công lao động. - Hiệu suất đồng vốn = Thu nhập hỗn hợp/ Tổng chi phí. * Hiệu quả xã hội: Đánh giá hiệu quả xã hội là chỉ tiêu khó định lượng, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, do thời gian có hạn, chúng tôi chỉ đề cập đến một số chỉ tiêu sau: - Khả năng phù hợp với hướng thị trường tiêu thụ của các LUT ở thời điểm hiện tại và tương lai. - Khả năng thu hút lao động, giải quyết việc làm cho người sản xuất. - Mối quan hệ cộng đồng của nông dân trong quá trình sản xuất. - Mức độ chấp nhận của người dân thể hiện ở mức độ đầu tư, ý định chuyển đổi cây trồng của hộ. * Hiệu quả môi trường: - Thích hợp với đặc điểm, tính chất đất và nguồn nước của đồng bằng ven biển. - Khả năng duy trì và cải thiện độ phì đất (như khả năng che phủ đất, giữ ẩm, trả lại cho đất tàn dư cây trồng có chất lượng, …) - Chế độ luân canh ảnh hưởng đến khả năng cân đối về dinh dưỡng và cải tạo đất (như khả năng cố định đạm, khả năng hút dinh dưỡng của cây…) - Mức độ sử dụng phân bón và các loại thuốc BVTV 4. Kết quả nghiên cứu 4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội huyện Hoằng Hóa. 4.1.1. Điều kiện tự nhiên 4.1.1.1. Vị trí địa lý. Hoằng Hoá là huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hoá, trung tâm huyện lỵ cách thành phố Thanh Hoá 15 km về phía Đông Bắc. Vị trí địa lý nằm trong tọa độ: Từ 19046' đến 19057' độ vĩ Bắc và từ 105045' đến 105053' độ kinh Đông. - Phía Bắc giáp huyện Hậu Lộc; - Phía Nam giáp thị xã Sầm Sơn, huyện Quảng Xương và thành phố Thanh Hoá;. - Phía Tây giáp huyện Thiệu Hoá, Yên Định và huyện Vĩnh Lộc; - Phía Đông giáp Biển đông. Toàn huyện có 49 đơn vị hành chính (47 xã và 02 thị trấn). Tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 22.453,87 ha. Dân số năm 2007 là 256.878 người, mật độ dân số 1.143 người/km2 (xếp thứ 5 sau Thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, huyện Quảng Xương và Hậu Lộc). Huyện có dân số đông, đất ít, việc quản lý sử dụng đất còn chưa đồng bộ. Hoằng Hóa có 10km đường quốc lộ 1A và song song với nó là 10km đường sắt xuyên bắc nam; có hơn 11km quốc lộ 10; 43km tỉnh lộ; 220km đường giao thông liên huyện, liên xã; 721km đường giao thông liên thôn, liên xóm, có 12km bờ biển, có 81km đường sông với các sông lớn như sông Mã đổ ra cửa biển Lạch Trào, sông Tuần đổ ra cửa biển Lạch Trường, mạng lưới giao thông đường bộ, đường thủy, đường sắt tương đối đồng bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế giữa các xã trong huyện, với các huyện trong và ngoài tỉnh, đặc biệt là giáp ranh với thành phố Thanh Hóa là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học của tỉnh. Ngoài ra, huyện có 2 cửa lạch lớn là điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế. 4.1.1.2. Đặc điểm địa hình, địa mạo Địa hình Hoằng Hóa không bằng phẳng mà có độ nghiêng từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam có đặc trưng của vùng địa hình ven biển là tạo nên những dải đất cát nóng về mùa hè, các bãi đất cao, thấp thường chạy song song với bờ biển, phía Bắc có núi cao chạy dài từ Đông sang Tây. Là huyện có sông và biển bao bọc, lại có những dải đất trũng nên khi mưa nhiều thường bị úng. Nhìn chung, địa hình Hoằng Hóa có thể chia làm 3 vùng: + Vùng 1: (vùng vàn thấp). Địa hình chủ yếu vàn và vàn thấp, gồm 17 xã phía Bắc và Tây Bắc huyện thuộc tả ngạn sông Tuần và sông Mã (Hoằng Giang, Hoằng Xuân, Hoằng Khánh, Hoằng Phượng, Hoằng Phú, Hoằng Quý, Hoằng Kim, Hoằng Trung, Hoằng Trinh, Hoằng Sơn, Hoằng Lương, Hoằng Cát, Hoằng Khê, Hoằng Xuyên, Hoằng Lý, Hoằng Quỳ, Hoằng Hợp). Tổng diện tích 7.181 ha (chiếm 31,97% diện tích tự nhiên toàn huyện). Là vùng đất thích hợp với thâm canh lúa nước (có tên gọi là vùng lúa). + Vùng 2: (vùng vàn cao và vàn). Địa hình chủ yếu là vàn cao và vàn gồm 23 xã nằm giữa và phía Nam huyện thuộc hữu ngạn sông Tuần và tả ngạn sông Mã (Hoằng Phúc, Hoằng Đức, Hoằng Hà, Hoằng Đạt, Hoằng Đồng, Hoằng Vinh, Hoằng Thắng, Hoằng Đạo, Hoằng Long, Hoằng Quang, Hoằng Anh, Hoằng Minh, Hoằng Lộc, Hoằng Thành, Hoằng Trạch, Hoằng Đại, Hoằng Phong, Hoằng Lưu, Hoằng Châu, Hoằng Tân, Hoằng Thịnh, Hoằng Thái, thị trấn Bút Sơn). Tổng diện tích 10.553 ha (chiếm 46,98% diện tích tự nhiên toàn huyện). Đất đai phần lớn là đất cát pha thích hợp với chế độ luân canh lúa - màu cây công nghiệp (có tên gọi là là vùng lúa màu). + Vùng 3: (Vùng biển). Địa hình chủ yếu là cao, vàn cao gồm 8 xã ven biển (Hoằng Ngọc, Hoằng Yến, Hoằng Tiến, Hoằng Hải, Hoằng Trường, Hoằng Thanh, Hoằng Đông, Hoằng Phụ). Tổng diện tích 4.729 ha (chiếm 21,05% diện tích tự nhiên toàn huyện). Đất đai chủ yếu là cát và cát pha, độ phì thấp thích hợp với hoa màu và cây công nghiệp hàng năm. Đây cũng là vùng có các cửa sông, cửa biển nên có điều kiện tập trung phát triển thủy, hải sản của huyện. 4.1.1.3. Đặc điểm khí hậu, thời tiết Theo tài liệu của Đài khí tượng thủy văn khu vực Bắc miền Trung - trên địa bàn Thanh Hóa, Hoằng Hóa nằm trong vùng khí hậu đồng bằng ven biển có các đặc trưng sau: Chế độ nhiệt: Nền nhiệt độ trung bình cao, mùa đông không lạnh lắm. Tổng nhiệt độ năm 85000 - 86000C, biên độ năm 110 - 130, biên độ ngày 50 - 70. Nhiệt độ trung bình tháng 1: 16,50 - 170C, thấp nhất tuyệt đối chưa đến 30C ở vùng ven biển và 20C ở vùng đồng bằng. Nhiệt độ trung bình tháng 7: 28,50 - 29,50C. Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối chưa quá 410C. Có 4 tháng nhiệt độ trung bình 200C (tháng XII - III) và có 5 tháng nhiệt độ trung bình 250C (tháng V- IX). Lượng mưa Lượng mưa trung bình 1.500 - 1.900 mm kéo dài từ tháng V đến tháng X, chiếm 85 - 90% tổng lượng mưa cả năm, mưa tập trung từ tháng VI đến tháng IX, lượng mưa phân bố không đồng đều: Tháng ít mưa nhất là tháng I và tháng II (bình quân mỗi tháng 18 - 22 mm). Tháng mưa nhiều nhất là tháng VIII và tháng IX (bình quân mỗi tháng 400 - 500mm). Có lúc mưa tập trung xảy ra gây úng lụt cục bộ, làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống nhân dân. Lượng bốc hơi trung bình 845mm. Chế độ gió Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Gió mùa Đông Bắc vào mùa đông và gió Đông Nam vào mùa hè. Vùng đồng bằng tốc độ gió trung bình năm 1,5 - 1,8m/s, nhưng ở vùng ven biển là cửa ngõ đón gió bão, tốc độ gió mạnh hơn, trung bình năm là 1,8 - 2,2m/s, tốc độ gió mạnh nhất khi bão là 40m/s và khi gió mùa Đông Bắc là khoảng 25m/s. Ngoài hai hướng gió chính trên, về mùa hè thỉnh thoảng còn xuất hiện các đợt gió Tây Nam khô nóng nhưng chỉ ảnh hưởng đến một số xã vùng đồi, vùng đồng bằng. Độ ẩm không khí Trung bình 85 - 86%, các tháng có độ ẩm không khí cao nhất là tháng 2, tháng 3 (90 - 91%) rất dễ dàng cho sâu bệnh và các mầm mống sâu bệnh phát triển, ảnh hưởng xấu đến cây trồng và động vật. Bảng 4.1. Số liệu khí tượng thuỷ văn các tháng năm 2008 của huyện. Chỉ ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docCHQL09067.doc
Tài liệu liên quan