Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam

Lời mở đầu Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân của mỗi nước. ở Việt Nam nông nghiệp giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì nhiều lẽ: gần 80% dân số sống ở nông thôn, nguồn sống chính dựa vào nông nghiệp; trong cơ cấu kinh tế quốc dân, GDP do nông nghiệp tạo ra vẫn chiếm vị trí quan trọng; trên 50% giá trị xuất khẩu là từ nông sản, thủy sản. Sự tăng trưởng của nông nghiệp có tác động lớn đến quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc dân nói chung. Song muố

doc44 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 1145 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n có tăng trưởng, phải có đầu tư thoả đáng. Nhiều học thuyết kinh tế hiện đại đã kết luận rằng: đầu tư là chìa khoá trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân nói chung, kinh tế ngành nói riêng của mỗi nước. Một nền kinh tế muốn giữ tốc độ tăng trưởng trung bình, ổn định thì nhất thiết phải đảm bảo tỷ lệ đầu tư trên GDP thoả đáng. Quan hệ này đối với nông nghiệp vẫn là chuẩn mực. Không có đầu tư thoả đáng thì không có tốc độ tăng trưởng mong muốn, dù có các yếu tố về cơ chế chính sách, thị trường và các yếu tố tinh thần khác. Từ trước tới nay, nông nghiệp nước ta luôn gắn với hình ảnh nông thôn. Hiện nay, tuy bộ mặt xã hội đang thay đổi từng ngày thì hình ảnh đó vẫn như vậy, một phần có nguyên nhân từ việc khoa học kỹ thuật lạc hậu nên chúng ta chưa có những vùng sản xuất nông nghiệp kỹ thuật cao để tách ra khỏi hình ảnh nông thôn. Chính mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ này mà nhiệm vụ phát triển nông nghiệp không thể tách rời khỏi phát triển nông thôn. Trong những năm qua Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm, chú trọng đến đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn. Bên cạnh những thành tựu đó vẫn còn nhiều vấn đề nổi cộm cần được phân tích và có giải pháp cụ thể. Vì vậy em mạnh dạn chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam”. Trong quá trình làm đề tài do trình độ và thời gian có hạn do vậy không thể tránh khỏi những thiếu xót. Rất mong thầy cô xem xét, góp ý để đề tài của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! Phần 1. lý luận về đầu tư và đầu tư trong nông nghiệp, nông thôn I. Lý luận chung về đầu tư phát triển 1. Khái niệm đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo ra việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. 2. Vai trò của đầu tư phát triển Đầu tư phát triển là nhân tố quan trọng để phát triển kinh tế, là chìa khoá của sự tăng trưởng. Trên giác độ toàn bộ nền kinh tế của đất nước vai trò này được thể hiện như sau: a. Đầu tư vừa tác động đến tổng cung, vừa tác động đến tổng cầu - Về mặt cầu: Với tổng cung chưa kịp thay đổi, sự tăng lên của đầu tư làm cho tổng cầu tăng (đường D dịch chuyển sang đường D’) kéo sản lượng cân bằng tăng theo từ Qo - Q1 và giá cả của các đầu vào của đầu tư tăng từ Po – P1 . Điểm cân bằng dịch chuyển từ Eo – E1. - Về mặt cung: Khi thành quả của đầu tư phát huy tác dụng, các năng lực mới đi vào hoạt động thì tổng cung, đặc biệt là tổng cung dài hạn tăng lên (đường S dịch chuyển sang S’), kéo theo sản lượng tiềm năng tăng từ Qo – Q1 và do đó giá cả sản phẩm giảm từ Po – P1. Sản lượng tăng, giá cả giảm cho phép tăng tiêu dùng. Tăng tiêu dùng đến lượt mình lại tiếp tục kích thích sản xuất hơn nữa. Sản xuất phát triển là nguồn gốc cơ bản để tăng tích luỹ, phát triển kinh tế xã hội, tăng thu nhập cho người lao động, nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội. E0 D’ Q2 Q1 Q0 E2 D S’ S E1 P0 P Q P0 P2 P1 b. Đầu tư có tác động hai mặt đến sự ổn định kinh tế. Chẳng hạn, khi tăng đầu tư, cầu của các yếu tố của đầu tư tăng làm cho giá của các hàng hoá có liên quan tăng (giá chi phí vốn, giá công nghệ, lao động, vật tư) đến một mức độ nào đó dẫn đến tình trạng lạm phát. Đến lượt mình, lạm phát làm cho sản xuất đình trệ, đời sống của người lao động gặp nhiều khó khăn do tiền lương ngày càng thấp hơn, thâm hụt ngân sách, kinh tế phát triển chậm lại. Mặt khác, tăng đầu tư làm cho cầu của các yếu tố có liên quan tăng, sản xuất của các ngành này phát triển, thu hút thêm lao động, giảm tình trạng thất nghiệp, nâng cao đời sống người lao động, giảm tệ nạn xã hội. Tất cả các tác động này tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế. Khi giảm đầu tư cũng dẫn đến tác động hai mặt, nhưng theo chiều hướng ngược lại so với các tác động trên đây. c. Đầu tư với việc tăng cường khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá. Đầu tư là điều kiện tiên quyêt của sự phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của nước ta hiện nay. Chúng ta đều biết rằng có hai con đường cơ bản để có công nghệ là tự nghiên cứu phát minh ra công nghệ và nhập công nghệ từ nước ngoài. Dù là sự nghiên cứu hay nhập từ nước ngoài đều cần phải có tiền, cần phải có vốn đầu tư. Mọi phương án đổi mới công nghệ không gắn với nguồn vốn đầu tư sẽ là những phương án không khả thi. d. Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế Kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy con đường tất yếu có thể tăng trưởng nhanh tốc độ mong muốn (từ 9 – 10%) là tăng cường đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do những hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng từ 5 – 6% là rất khó khăn. Như vậy, chính đầu tư quyết định quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các quốc gia nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế. Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triên giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị… của những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển. e. Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế. Kết quả nghiên cứu của các nhà kinh tế cho thấy: Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt được từ 15 – 20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước. Vốn đầu tư vốn đầu tư ICOR = = GDP do vốn tạo ra GDP Từ đó suy ra: Vốn đầu tư Mức tăng GDP = ICOR Nếu ICOR không đổi, mức tăng GDP chỉ phụ thuộc vào vốn đầu tư. Chỉ tiêu icor của mỗi nước phụ thuộc vào nhiều nhân tố, thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế và cơ chế chính sách trong nước. Kinh nghiệm các nước cho thấy, chỉ tiêu icor phụ thuộc mạnh vào cơ cấu kinh tế và hiệu quả đầu tư trong các ngành, các vùng lãnh thổ cũng như phụ thuộc vào hiệu quả của chính sách kinh tế nói chung. Thông thường icor trong nông nghiệp thấp hơn trong nông nghiệp, icor trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế chủ yếu do tận dụng năng lực. Do đó, ở các nước đang phát triển, tỷ lệ đầu tư thấp thường dẫn đến tốc độ tăng trưởng thấp. 3. Những đặc điểm của đầu tư phát triển Hoạt động đầu tư phát triển có các đặc điểm khác biệt với các loại hình đầu tư khác, đó là: - Hoạt động đầu tư phát triển đòi hỏi một số vốn lớn và nằm khê đọng trong suốt quá trình thực hiện đầu tư. Đây là cái giá phải trả khá lớn của đầu tư phát triển. - Thời gian để tiến hành một công cuộc đầu tư cho đến khi các thành quả của nó phát huy tác dụng thường đòi hỏi nhiều năm tháng với nhiểu biến động xảy ra. - Thời gian cần hoạt động để có thể thu hồi đủ vốn đã bỏ ra với các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất kinh doanh thường đòi hỏi nhiều năm tháng và do đó không tránh khỏi sự tác động hai mặt tích cực và tiêu cực của các yếu tố không ổn định về tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế… - Các thành quả của hoạt động đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài, có khi hàng trăm, hàng ngàn năm thậm trí tồn tại vĩnh viễn như các công trình kiến trúc nổi tiếng thế giới ( Kim Tự Tháp cổ Ai Cập, Nhà thờ La Mã ở Rôm, Vạn Lý Trường Thành ở Trung Quốc, Ăng Cô Vát của Campuchia…). Điều này nói lên giá trị lớn của các thành quả đầu tư phát triển. - Các thành quả của hoạt động đầu tư là các công trình xây dựng sẽ hoạt động ở ngay nơi mà nó được tạo dựng nên. Do đó, các điều kiện địa lý, địa hình tại đó có ảnh hưởng lớn đến quá trình thực hiện đầu tư cũng như các tác dụng sau này của các kết quả đầu tư. Thí dụ: Quy mô đầu tư để xây dựng nhà máy sàng tuyển than ở khu vực có mỏ than tuỳ thuộc rất nhiều vào trữ lượng than của mỏ. Nếu trữ lượng than của mỏ ít thì quy mô nhà máy sàng tuyển cũng không nên lớn để đảm bảo cho nhà máy hàng năm hoạt động hết công suất với số năm tồn tại của nhà máy theo dự kiến trong dự án. - Mọi thành quả và hậu quả của quá trình thực hiện đầu tư chịu ảnh hưởng nhiều của các yếu tố không ổn định theo thời gian và điều kiện địa lý của không gian. Để đảm bảo cho công cuộc đầu tư đem lại hiệu quả kinh tế xã hội cao đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị. Sự chuẩn bị này được thể hiện trong việc soạn thảo các dự án đầu tư (lập dự án đầu tư), có nghĩa là phải thực hiện đầu tư theo dự án được soạn thảo với chất lượng tốt. II. Một số vấn đề về nông nghiệp nông thôn 1. Khái niệm Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất, là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, chăn nuôi và ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp theo nghĩa rộng nó còn bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thuỷ sản. 2. Vị trí, vai trò của nông nghiệp nông thôn Nông nghiệp là ngành sản xuất hết sức quan trọng của nền kinh tế nói chung và kinh tế nông thôn nói riêng. Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là một hệ thống sinh học – kỹ thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng sinh học – cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải pháp tác động tích cực với chúng. Nông thôn có phát triển được hay không trước tiên phụ thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp, dù đó là nông thôn của các nước đang phát triển hay nước phát triển. Vai trò của nông nghiệp và nông thôn: - Thứ nhất: nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết các nước, nhất là các nước đang phát triển. ở những nước nghèo, đại bộ phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học – công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. - Thứ hai: nông nghiệp sản xuất ra nguyên liệu cho hàng loạt ngành công nghiệp phát triển, như công nghiệp chế biến thực phẩm, công nghiệp dệt, may, công nghiệp giấy, đồ gỗ… mà nếu không phát triển tốt sẽ ảnh hưởng nhiều đến xuất khẩu và hàng tiêu dùng. Thông qua công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến, giá trị của sản phẩm nông nghiệp nâng lên nhiều lần, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản hàng hoá, mở rộng thị trường… - Thứ ba: khu vực nông nghiệp góp phần vào việc tăng thu nhập và tích luỹ của nền kinh tế quốc dân. Điều này đặc biệt quan trọng với các nước đang phát triển, đi lên từ nông nghiệp. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá thì đây là khu vực lớn nhất, xét cả về lao động và sản phẩm quốc dân. Nguồn vốn từ nông nghiệp có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như tiết kiệm của nông dân đầu tư vào các hoạt động phi nông nghiệp, thuế nông nghiệp, ngoại tệ thu được do xuất khẩu nông sản… trong đó thuế có vị trí rất quan trọng. Việc huy động vốn từ nông nghiệp để đầu tư phát triển công nghiệp là cần thiết và đúng đắn trên cơ sở việc thực hiện bằng cơ chế thị trường, chứ không phải bằng sự áp đặt của Chính phủ. Những điển hình về sự thành công của sự phát triển các nước đều đã sử dụng tích luỹ từ nông nghiệp để đầu tư cho công nghiệp. Tuy nhiên số vốn tích luỹ từ nông nghiệp chỉ là một trong những nguồn cần thiết phát huy, phải coi trọng các nguồn vốn khác nữa để khai thác hợp lý, đừng quá cường điệu vai trò tích luỹ vốn từ nông nghiệp. - Thứ tư: nông nghiệp và nông thôn là nơi có nguồn lao động dồi dào, mà qua tăng năng suất lao động có thể giải phóng được lao động phục vụ cho các ngành công nghiệp khác. Nông nghiệp đặc biệt là nông nghiệp của các nước đang phát triển là khu vực dự trữ và cung cấp lao động cho phát triển công nghiệp và đô thị. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hoá, phần lớn dân cư sống bằng nông nghiệp và tập trung sống ở khu vực nông thôn. Vì thế khu vực nông nghiệp nông thôn thực sự là nguồn dự trữ nhân lực dồi dào cho sự phát triển công nghiệp và đô thị. Quá trình công nghiệp hoá và đô thị hoá, một mặt tạo ra nhu cầu lớn về lao động, mặt khác năng suất lao động nông nghiệp không ngừng được tăng lên, lực lượng lao động từ nông nghiệp được giải phóng ngày càng nhiều. Số lao động này dịch chuyển, bổ sung cho phát triển công nghiệp và đô thị. - Thứ năm: nông nghiệp nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp. ở hầu hết các nước đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất được tiêu thụ chủ yếu dựa vào thị trường trong nước mà thị trường trong nước, trước hết là khu vực nông nghiệp nông thôn. Sự thay đổi về cầu trong khu vực nông nghiệp, nông thôn sẽ có tác động trực tiếp đến sản lượng ở khu vực phi nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho dân cư nông nghiệp, làm tăng sức mua từ khu vực nông thôn sẽ làm cho cầu về sản phẩm công nghiệp tăng, thúc đẩy công nghiệp phát triển, từng bước nâng cao chất lượng có thể cạnh tranh với thị trường thế giới. - Thứ sáu: nông nghiệp còn được coi là ngành đem lại nguồn thu nhập ngoại tệ lớn. Các loại nông, lâm, thuỷ sản dễ dàng gia nhập thị trường quốc tế hơn so với các hàng hoá công nghiệp. Vì thế ở các nước đang phát triển, nguồn xuất khẩu để có ngoại tệ chủ yếu dựa vào các loại nông, lâm, thuỷ sản. xu hướng chung ở các nước trong quá trình công nghiệp hoá, ở giai đoạn đầu giá trị xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu và tỷ trọng đó sẽ giảm dần cùng với sự phát triển cao trong nền kinh tế. - Thứ bẩy: nông nghiệp và nông thôn có vai trò to lớn, là cơ sở trong sự phát triển bền vững của môi trường. Nông nghiệp sử dụng nhiều hoá chất như phân bón hóa học, thuốc trừ sâu bệnh… sẽ làm ô nhiễm đất và nguồn nước. Trong quá trình canh tác dễ gây ra xói mòn ở các triền dốc thuộc vùng đồi núi và khai hoang mở rộng diện tích đất rừng… Vì thế, trong quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giải pháp thích hợp để duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi trường. Tóm lại, nông nghiệp và nông thôn có vị trí, vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế và đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tuy nhiên cần chú trọng phát triển nông nghiệp nông thôn bền vững, tức là gắn với việc bảo vệ môi trường sinh thái. III. Nội dung đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn 1. Đầu tư xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn: điện, đường, trường học, trạm y tế… Đầu tư xây dựng và nâng cấp hệ thống thuỷ lợi: kênh mương, cầu cống, các trạm bơm tưới tiêu… cụ thể là đầu tư cho nạo vét kênh mương, xây dựng các trạm bơm đầu mối, kiên cố hoá hệ thống kênh mương nội đồng, xây dựng hệ thống tưới tiêu hiện đại ở các vùng chuyên môn hoá cao. Xây dựng hệ thống đập ngăn nước hay thoát lũ. Đầu tư phát triển mạng lưới giao thông nông thôn trong cả nước: xây dựng đường xá nông thôn, nâng cấp các tuyến đường đã có, từng bước cứng hoá mặt đường, xây dựng cầu, cống vĩnh cửu, phục vụ cho vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân. Đầu tư phát triển hệ thống điện: trạm biến áp, tuyến cáp ngầm, hệ thống đường dây tải điện nhằm cung cấp có hiệu quả chất lượng cao điện cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt ở nông thôn. Đối với các vùng không có điều kiện cấp điện lưới quốc gia, Nhà nước có chính sách đầu tư, hỗ trợ phát triển các nguồn điện năng tại chỗ. Đầu tư phát triển các thị tứ, thị trấn, xây dựng chợ trên địa bàn nông thôn để thực hiện chức năng trung tâm công nghiệp, ngành nghề, dịch vụ văn hoá xã hội; hỗ trợ cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Đầu tư cho giáo dục - đào tạo, đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống giáo dục, y tế phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội. 2. Đầu tư phát triển khoa học công nghệ trong nông nghiệp Đầu tư vào nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao khoa học, công nghệ cho sản xuất, coi đây là một khâu đột phá quan trọng nhất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Nhà nước dành kinh phí để nhập khẩu công nghệ cao, thiết bị hiện đại, các loại giống tốt. Đồng thời đầu tư hiện đại hoá hệ thống viện, trường, nâng cao năng lực đào tạo cán bộ khoa học, nghiên cứu và tiếp thu khoa học, công nghệ tiên tiến. ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiêp như: chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp, sản xuất rau sạch, đổi mới cơ cấu giống cây trồng vật nuôi theo hướng xuất khẩu có giá trị cao, mở rộng diện tích cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu cao, trồng rừng theo phương pháp công nghiệp, nuôi trồng thuỷ hải sản theo phương pháp công nghiệp, tăng năng lực đánh bắt hải sản xa bờ, ứng dụng công nghệ vi sinh… 3. Đầu tư vào lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản - Về nông nghiệp: Đầu tư vào giống cây trồng vật nuôi, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn công nghiệp, thú y và kiểm tra chất lượng sản phẩm, sử dụng các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt phù hợp với yêu cầu thị trường. Trong chăn nuôi, đầu tư phát triển chăn nuôi theo hướng công nghiệp, theo hình thức trang trại có trang thiết bị hiện đại đạt yêu cầu chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Đầu tư phát triển sản xuất và chế biến các loại nông sản hàng hoá xuất khẩu có lợi thế của từng vùng, nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm này (như lúa gạo, cà phê hạt điều, hồ tiêu, chè, cao su, rau quả, thịt…) trên thị trường trong nước và quốc tế. - Về lâm nghiệp: Mở rộng diện tích rừng, cung ứng đủ giống có chất lượng cho trồng rừng. Đầu tư cho công tác bảo vệ rừng. - Về thuỷ sản Đầu tư cho các hoạt động nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản: đầu tư giống, thức ăn, kỹ thuật nuôi trồng, tàu bè đánh bắt xa bờ. Đồng thời chú trọng đến khâu chế biến thuỷ sản theo phương châm gắn nuôi trồng, khai thác với chế biến phục vụ nhu cầu trong nước và cho xuất khẩu. 4. Đầu tư phát triển các ngành nghề nông thôn, ngành nghề mới, tạo ra các sản phẩm mới Đầu tư khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn như nghề mộc, mây tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ, nghề gốm, sứ… Đồng thời còn chú trọng phát triển các ngành nghề mới, tạo ra các sản phẩm mới ở nông thôn như: nuôi trồng nấm, nuôi cá cảnh, nuôi đà điểu…. Thay đổi các tập quán sinh hoạt mới như làm nhà trên cọc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, chăn nuôi gia súc, gia cầm xa nhà ở vùng miền núi phía bắc, sử dụng khí sinh học trong đun nấu… 5. Đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn Đó là đầu tư xây dựng, nâng cấp, hoàn thiên các nhà máy sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc thú y, các loại hoá chất phục vụ nông nghiệp xây dựng, các nhà máy sản xuất máy móc cho nông nghiệp, phương tiện vận tải ở nông thôn, các nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi. Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích phát triển mạnh các ngành công nghiệp ở nông thôn, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản và các ngành sử dụng nguyên liệu tại chỗ, cần nhiều lao động như sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp khai thác mỏ, dệt may, da giày, cơ khí lắp ráp… Hình thành các khu công nghiệp ở nông thôn, gắn kết ngay từ đầu lợi ích kinh tế giữa người sản xuất nguyên liệu với các nhà máy chế biến công nghiệp. Ngoài các nội dung đầu tư ở trên thì đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn còn có một số nội dung khác: Đầu tư cho việc hoạch định các chính sách, đầu tư phát triển thị trường nông thôn, đầu tư xoá đói giảm nghèo… Phần II. Thực trạng và những vấn đề đặt ra trong đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam trong thời gian qua I. Tình hình thực hiện vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn trong thời gian qua Xuất phát từ vị trí, vai trò của nông nghiệp nông thôn trong xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội đất nước trong thời kỳ mới, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định rõ ràng: Đặc biệt coi trọng phát triển nông nghiệp nông thôn, đặc biệt phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thực tế trong những năm qua, vấn đề đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn được các ngành các cấp quan tâm toàn diện cả về cơ chế, chính sách và nguồn lực tài chính. Nhà nước đã tập trung đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn trong 10 năm 1991 – 2000 gần 70 nghìn tỷ đồng (giá 1995), tương đương với 6 tỷ USD... tốc độ tăng bình quân hàng năm gần 23% (bình quân chung cả nước là 19,1%).Tỷ trọng vốn đầu tư cho nông nghiệp (kể cả lâm nghiệp và thủy sản) và nông thôn trong tổng vốn đầu tư xã hội bình quân 1991 –2000 là 10,2% (1991 – 1995 là 8,5%; 1996 – 2000 là 11,2%), năm 2001, 2002 khoảng 11%. Quy mô và tốc độ đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn ngày càng lớn. Trong 5 nguồn vốn đầu tư cho khu vực này (ngân sách, tín dụng, đầu tư nước ngoài, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và các hộ dân cư), vốn ngân sách Nhà nước là quan trọng và lớn nhất chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và chiếm gần 1/4 tổng vốn đầu tư ngân sách cả nước. Mặc dù đã được chú trọng, coi phát triển nông nghiệp là mặt trận hàng đầu nhưng vốn đầu tư cho nông nghiệp trong những năm qua tăng không đều về số lượng và có xu hướng chậm lại. Vốn đầu tư phát triển nông nghiệp thời kỳ 1996 – 2003 theo giá thực tế như sau: Bảng 1: Vốn đầu tư phát triển nông nghiệp nông nghiệp thời kỳ 1997 – 2003 (giá thực tế) Đơn vị: Tỷ đồng Năm Tổng vốn đầu tư toàn xã hội Vốn đầu tư phát triển nông nghiệp Nông nghiệp và lâm nghiệp Thủy sản 1997 108.370,0 11.398,6 10.770,9 627,7 1998 117.134,0 14.199,2 13.162,3 1.036,9 1999 131.170,9 14.970,3 13.223,1 1.747,2 2000 145.333,0 18.556,0 15.642,8 2.913,2 2001 163.543,0 20.933,7 17.218,2 3.715,5 2002 183.800,0 17.900,0 15.100,0 2.800,0 2003 219.675,0 19.400,0 16.500,0 2.900,0 Số lượng vốn đầu tư cho nông nghiệp trong những năm qua tăng không đều và có xu hướng giảm từ năm 2001: năm 1996 = 9.614,3 tỷ đồng; năm 2000 = 11.398,6 tỷ đồng; năm 2001 = 20.933,7 16.141,8 tỷ đồng; năm 2002 giảm xuống còn 17.900 tỷ đồng, năm 2003=19.400 tỷ đồng. Vốn đầu tư cho thuỷ sản tăng dần từ năm 1996 đến năm 2001 và giảm dần từ năm 2002, vốn đầu tư cho nông nghiệp và lâm nghiệp vẫn có xu hướng tăng: năm 1996 vốn đầu tư cho nông nghiệp và lâm nghiệp là 9.082 tỷ đồng, cho thuỷ sản là 532,3 tỷ đồng, năm 2000 tương ứng là 17.218,2 và 3.715,5 tỷ đồng, từ năm 2001 tỷ lệ này giảm xuống còn 13.628,6 và 2.513,2 tỷ đồng, năm 2002 là 15.100 và 2.800,0; sơ bộ năm 2003 là 16.500,0 và 2.900. Trong điều kiện tổng nguồn vốn ngân sách còn hạn chế, Nhà nước phải đầu tư hàng loạt công trình trọng điểm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đảm bảo quốc phòng, an ninh và giải quyết các vấn đề xã hội cấp bách, vẫn tăng cường đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Số vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước Trung ương dành cho nông nghiệp nông thôn không ngừng tăng lên về số tuyệt đối. Vốn đầu tư từ ngân sách Trung ương tập trung chủ yếu vào xây dựng và nâng cấp các công trình thuỷ lợi, hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, nhất là giao thông nông thôn, điện, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư… Ngoài vốn ngân sách Trung ương, các tỉnh thành phố còn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn từ ngân sách địa phương với quy mô ngày càng lớn. Cùng với nguồn vốn ngân sách đầu tư trực tiếp cho các công trình trọng điểm, Nhà nước còn đầu tư qua các chương trình và dự án quốc gia như: Chương trình 327, sau đó là chương trình trồng mới 5 triệu hécta rừng, chương trình đánh bắt hải sản xa bờ, chương trình nước sạch nông thôn, xoá đói, giảm nghèo, chương trình 135… Vốn ngân sách Nhà nước dành cho phát triển nông nghiệp và nông thôn chiếm tỷ trọng khoảng 10 %– 14% tổng đầu tư vốn ngân sách Nhà nước. Tính chung 5 năm 1996 – 2000 tổng chi ngân sách Nhà nước cho khu vực nông nghiệp nông thôn là 35.955 tỷ đồng, bình quân một năm là 7.191 tỷ đồng. Năm 2001, chi sản xuất nông nghiệp là 9.658 tỷ đồng, chi cho lâm nghiệp là 1.056 tỷ đồng, chi cho thuỷ sản là 515 tỷ đồng, chi cho diêm nghiệp là 213 tỷ đồng. Bảng 2: Chi ngân sách Nhà nước Trung ương cho nông nghiệp, nông thôn thời kỳ 1996 – 2001 Thời kỳ 1996 - 2000 2001 Tổng số (tỷ đồng) B/q 1 năm (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Tổng số (tỷ đồng) Cơ cấu (%) Tổng chi cho NN, NT Chia ra: + Chi cho NN, thuỷ lợi và phát triển nông thôn + Chi cho lâm nghiệp + Chi cho thuỷ sản + Chi cho diêm nghiệp 35.955 29.236 3.618 2.221 638 7.191 5.896 724 444 128 100,0 82,0 10,1 6,2 1,8 11.472 9.658 1.056 515 213 100,0 84,2 9,2 4,8 1,8 Phương thức đầu tư gián tiếp qua ngân hàng thương mại, chủ yếu là ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng người nghèo được áp dụng với cơ chế thoáng, thủ tục đơn giản hơn đã hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp kinh doanh vật tư nông nghiệp hoặc chế biến, xuất khẩu nông sản với lãi suất ưu đãi hoặc không lãi để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể như bù giá vật tư, phân bón, mua dự trữ lúa gạo, cà phê của hộ nông dân để đảm bảo người sản xuất có lãi trong mọi tình huống. Theo tính toán, nguồn vốn nhà nước đầu tư gián tiếp qua tín dụng ưu đãi cho nông nghiệp, nông thôn hiện nay đạt mức bình quân từ 25 – 27 nghìn tỷ đồng/năm. Cùng với nguồn vốn của Nhà nước là vốn tự có của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và của hộ nông dân. Nguồn vốn của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào nông nghiệp nông thôn đã và đang đóng góp phần quan trọng tạo ra các điều kiện vật chất, kỹ thuật phát triển sản xuất hàng hoá và chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chế biến nông, lâm, thuỷ sản. Phương thức đầu tư chủ yếu là hỗ trợ kỹ thuật, giống cây, con, ứng trước vốn đầu tư cho nông dân mua vật tư, phân bón, thâm canh cây trồng, vật nuôi, bao tiêu sản phẩm, nâng cấp cơ sở hạ tầng nông thôn, nhất là vùng nguyên liệu cho công nghiệp. Nguồn vốn hộ nông thôn đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn là một bộ phận quan trọng, nguồn vốn này đã và đang tăng lên khá nhanh trong những năm gần đây do tác động tích cực của cơ chế và chính sách mới của Nhà nước. Theo kết quả điều tra vốn trong dân của Tổng cục thống kê, mức vốn đầu tư bình quân một hộ nông dân năm 1999 là 1 triệu đồng; năm 2001 là 3,5 triệu đồng. Cả nước có trên 14 triệu hộ nông thôn, như vậy số vốn đầu tư của khu vực kinh tế hộ đã tăng từ 14 nghìn tỷ đồng năm 1999 lên 49 nghìn tỷ đồng năm 2002, trong đó hơn 50% đầu tư cho phát triển sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản, gần 50% cho xây dựng nhà cửa, mua sắm tư liệu sản xuất. Vốn đầu tư của hộ nông thôn chủ yếu đầu tư vào các hướng chủ yếu là phát triển mô hình kinh tế trang trại gia đình, lấy sản xuất hàng hoá làm mục tiêu. Đến năm 2002, cả nước có 60.758 trang trại, tăng 4.906 trang trại so với năm 2000, vốn đầu tư 8.294 tỷ đồng, bình quân một trang trại là 136,5 triệu đồng, sử dụng 369 nghìn ha đất nông, lâm nghiệp và mặt nước nuôi tròng thuỷ sản, tạo việc làm cho 374 nghìn lao động và tạo ra 5.361 tỷ đồng giá trị sản phẩm, trong đó 93% là hàng hoá. Không chỉ các trang trại mà hộ nông thôn cũng tích luỹ vốn đầu tư vào các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, mở rộng ngành nghề và dịch vụ phi nông nghiệp để tạo công ăn việc làm tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm. ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, 10 năm cải tạo Đồng Tháp Mười (1988 – 1997) các hộ nông dân đã đầu tư trên 200 tỷ đồng cho khai hoang, làm thuỷ lợi cùng Nhà nước cải tạo 626 nghìn ha đất chua phèn chỉ làm một vụ lúa ăn chắc. Nông dân vùng Tây Nguyên, Đông Nam Bộ đã đầu tư hàng năm hàng trăm tỷ đồng khai hoang, trồng mới hàng trăm nghìn ha cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, biến vùng đất đỏ bazan thành vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn nhất nước ta. Nông dân vùng đồng bằng sông Hồng đầu tư vào phát triển làng nghề truyền thống và xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Nông dân các vùng khác đầu tư cải tạo vườn tạp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu lao động nông thôn từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp… Nguồn vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) vào nông nghiệp và nông thôn tuy còn ít nhưng cũng tăng dần qua các năm: 1989 có 5 dự án với số vốn đầu tư 2,8 triệu USD; năm 1997: 225 dự án với số vốn là 1,5 tỷ USD. Đến tháng 8/2002 có 455 dự án với số vốn 2338 triệu USD. Trong đó số dự án đã triển khai có số vốn 467 triệu USD; riêng ngành chăn nuôi chỉ có hai dự án với tổng số vốn đầu tư 196,4 triệu USD. Các dự án FDI tập trung vào lĩnh vực trồng và chế biến cao su, cà phê, chè, mía đường, mì chính, lúa gạo, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ sản, chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đến nay, số vốn FDI trong nông nghiệp và nông thôn có trên 2,3 tỷ USD, góp phần quan trọng trong phát triển sản xuất và xây dựng nông thôn mới. Nguồn vốn vay, viện trợ, hợp tác khoa học – kỹ thuật của các nước và các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn có xu hướng tăng dần trong những năm gần đây, góp phần hỗ trợ nông dân phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo, nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn (đường giao thông, nước sạch, thuỷ lợi nhỏ, dân số – kế hoạch hoá gia đình, bảo vệ tài nguyên, môi trường… ). Ước tính, tổng nguồn vốn khu vực này đến nay đã lên tới trên 1 tỷ USD và tiếp tục được bổ sung bằng các dự án lớn, nhỏ. Trong những năm qua, vốn đầu tư của các nguồn vốn trong và ngoài nước cho nông nghiệp và nông thôn tăng lên đáng kể, nhờ đó mà bộ mặt nông thôn đã có nhiều nét đổi mới, tạo ra sức tăng trưởng cao cho nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng tiến bộ. II. Một số thành tựu và hạn chế trong đầu tư phát triển nông nghiệp và nông thôn 1. Những thành tựu đạt được Trong những năm qua do n._.hững đổi mới về cơ chế chính sách trong đầu tư nên đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn đã đạt được những kết quả chủ yếu sau: 1.1. Nông nghiệp phát triển toàn diện và đạt mức tăng trưởng khá Về nông nghiệp: Trong những năm qua Nhà nước đã đầu tư cho công tác thuỷ lợi, sử dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp tạo ra nhiều giống mới, giống lai có năng suất, chất lượng cao, cung cấp phân bón, thuốc trừ sâu... đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Do vậy nông nghiệp đã đạt được thắng lợi ngoạn mục đó là sản xuất lương thực phát triển toàn diện, tăng trưởng nhanh và vượt xa mục tiêu đề ra: năm 2000 sản lượng lương thực quy ra thóc đạt 35,64 triệu tấn, vượt mục tiêu đề ra từ 11% đến 18% (3,64 đến 5,64 triệu tấn) tăng 6,42 triệu tấn so với năm 1996, bình quân mỗi năm tăng 1,28 triệu tấn (4,2%). Lương thực bình quân đầu người tăng dần qua các năm: Từ 357 kg năm 1996, 398 kg năm 1997, 408 kg năm 1998, 444 kg năm 1999 và 455 kg năm 2000. Không chỉ thoả mãn nhu cầu tiêu dùng trong nước mà lương thực sản xuất còn dư thừa để xuất khẩu (gạo) với số lượng ngày càng lớn, từ 1,98 triệu tấn 1995 tăng lên 3 triệu tấn 1996, 3,6 triệu tấn năm 1997, 3,7 triệu tấn năm 1998, 4,6 triệu tấn năm 1999 và 3,6 triệu tấn năm 2000. Từ năm 1998 đến nay 2000 Việt Nam giữ vững vị trí thứ 2 về xuất khẩu gạo của thế giới, chỉ đứng sau Thái Lan, thành tựu này đã được cả thế giới công nhận. Nhà nước có cơ chế chính sách đầu tư đa dạng hoá cây trồng, xoá dần thế độc canh cây lúa. Đó là nét mới, nét tiến bộ khá rõ trong 5 năm 1996 –2000. Nếu năm 1996, tỷ trọng diện tích gieo trồng cây lương thực chiếm 75,2% tổng diện tích gieo trồng và 87,2% diện tích gieo trồng cây hàng năm, thì đến năm 2000 hai tỷ lệ tương ứng là 72,2% và 84,7%. Tỷ trọng diện tích cây lâu năm tăng từ 11,6% lên 15,3% trong thời gian tương ứng. Diện tích trồng cây ăn quả được mở rộng ngay cả ở những vùng đất trước đây cấy lúa, xoá dần thế độc canh. Do sản xuất phát triển nhanh nên sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu ngày càng nhiều đặc biệt là cà phê và cao su. Đến năm 2000 Việt Nam là nước có sản lượng cà phê xuất khẩu lớn thứ hai thế giới sau Brazin. Còn cao su đã xuất khẩu sang thị trường 30 nước và vùng lãnh thổ, có giá trị ngoại tệ nhiều thứ 3 sau gạo và cà phê. Bảng 3: Xuất khẩu cà phê, cao su Việt Nam 1996 –2000 Đơn vị: 1996 1997 1998 1999 2000 SL cà phê 283,7 391,6 382,0 482,0 698,0 SL cao su 199,5 194,2 191,0 265,0 280,0 Trong ngành chăn nuôi Nhà nước đầu tư theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi trong ngành nông nghiệp. Do vậy chăn nuôi đã phát triển nhanh và toàn diện theo hướng hàng hoá.So với năm 1996 bình quân đàn bò tăng 18,5%, đàn lợn tăng 26%, đàn gia cầm tăng 41%, sản lượng thịt hơi xuất chuồng tăng 35%, sản lượng trứng tăng 33%. Năm 2000, đàn lợn đạt 19,52 triệu con, sản lượng thịt hơi xuất chuồng là 1,4 triệu tấn, tăng 67% và gấp 2,3 lần so với năm 1986. Đặc biệt đàn bò sữa tăng khá nhanh, năm 2000 đạt gần 50 ngàn con, trong đó thành phố Hồ Chí Minh 25 ngàn con, tăng 8000 con so với năm 1995, trong đó có 11951 con cho sữa, sản lượng 37 ngàn tấn sữa tươi. Nét đổi mới của chăn nuôi trong thời gian này là chăn nuôi theo trang trại, phát triển theo hướng hàng hoá như nuôi bò sữa, nuôi ong, nuôi gà công nghiệp, vịt siêu thịt, siêu trứng, ngan giống ngoại, lợn hướng nạc… Tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi trong những năm 1999, 2000 đã cao hơn trồng trọt khoảng 2%, tạo tiền đề để tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp. Về lâm nghiệp: Do được quan tâm đầu tư phát triển lâm nghiệp theo chương trình, dự án: phủ xanh đất trống đồi núi trọc, khoán rừng... giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng bình quân mỗi năm 0,4%. Giá trị trồng và nuôi rừng tăng và chiếm 20% tổng giá trị sản xuất. Giá trị lâm sản khai thác từ rừng trồng tăng dần. Bảng 4: Tình hình khai thác gỗ thời kỳ 1996 – 2000 ĐVT 1996 1997 1998 1999 2000 Gỗ khai thác 10000 m3 2833 2480 2216,8 2122,5 2375 Trong đó: Từ rừng trồng % - 22,1 47,4 56,8 62,4 Sản lượng khai thác gỗ bình quân mỗi năm 2,4 triệu m3. Diện tích rừng trồng tập trung có nhiều tiến bộ. Từ năm 1990 đến năm 2000 cả nước trồng được 1904,8 nghìn ha, bình quân một năm trồng được 176,2 nghìn ha. Riêng hai năm đầu thực hiện chương trình trồng 5 triệu ha (1999 – 2000) bình quân một năm trồng được 231 nghìn ha, tăng 65,0% so với thời k ỳ 1990 – 1995. Về thuỷ sản: Ngành thuỷ sản và các địa phương đã đầu tư mua sắm tàu thuyền đánh bắt xa bờ, mở rộng diện tích nuôi trồng nên thủy sản tăng trưởng với tốc độ cao, nhất là thuỷ sản nuôi trồng. Phong trào nuôi tôm giống, tôm thịt, nuôi cá nước ngọt, nước lợ phát triển mạnh từ Nam ra Bắc, nhất là vùng ven biển, vùng đồng bằng Nam Bộ. Các phương thức nuôi các ruộng, cá ao, cá bè, cá lồng, nuôi nghêu, sò huyết, ba ba tiếp tục được mở rộng ở nhiều địa phương. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng các loại tăng từ 389 ngàn tấn năm 1996 lên 480 ngàn tấn năm 1999 và trên 589 ngàn tán năm 2000. Hoạt động khai thác thuỷ sản trên biển, trên sông có nhiều chuyển biến tích cực. Năm 2000, cả nước có 299,9 nghìn hộ ngư dân được trang bị 8150 tàu thuyền đánh cá cơ giới với tổng công suất 2,76 triệu CV, trong đó có 4000 tàu có công suất trên 90 CV. Nhờ vậy sản lượng thuỷ sản khai thác năm 2000 đạt 1,67 triệu tấn. Sản lượng thuỷ sản năm 2000 đạt hơn 2,2 triệu tấn, tăng gấp 2,7 lần so với năm 1986, tăng 70 vạn tấn so với năm 1995. Thực hiện phương châm gắn nuôi trồng với khai thác và chế biến. Từ năm 1996 đến năm 2000 ngành thuỷ sản và các địa phương đã đầu tư xây dựng và trang bị thêm máy móc, thiết bị để nâng cao năng lực chế biến thủy sản. Đến năm 2000 cả nước đã có 200 nhà máy thuỷ sản đông lạnh, trong đó có 40 doanh nghiệp chế biến thuỷ sản được xếp vào danh sách nhóm 1 đủ tiêu chuẩn xuất khẩu sang thị trường khó tính Châu Âu, Bắc Mỹ. Cơ cấu mặt hàng và cơ sở chế biến thuỷ sản cũng được đa dạng hoá gắn với yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu. Với chương trình đánh bắt xa bờ, trong 4 năm 1997 – 2000 Nhà nước đã đầu tư 1300 tỷ đồng vốn tín dụng ưu đãi cho người vay đóng mới 1000 tàu công suất trên 90 CV, làm tăng 265 nghìn CV, góp phần tăng 54 nghìn tấn sản lượng hải sản, trong đó đã xuất khẩu đạt giá trị 15,26 triệu USD trong năm 1999. Năm 2000 giá trị thuỷ sản xuất khẩu đạt 1,47 tỷ, tăng gấp 5 lần năm 1990 và 11 lần năm 1986. Đó là thành tựu to lớn của ngành thuỷ sản trong thời gian qua. 1.2. Bộ mặt nông thôn có nhiều đổi mới, hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được nâng cấp và hoàn thiện Trong thời gian qua, nhờ Nhà nước đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn nên hệ thống cơ sở hạ tầng nông thôn được xây dựng mới và nâng cấp nhất là điện, đường, trường, trạm, các cơ sở y tế, trường học. Điện nông thôn đã được toả sáng ở khắp các bản làng: Nếu năm 1994 cả nước mới có 60,4% số xã, 50% số nông thôn và 53% số hộ có điện thì đến năm 2001 đã có 89,7% số xã, 77% số thôn có điện và tỷ lệ hộ nông thôn có điện đã lên tới 79%. Vùng đồng bằng sông Hồng đạt tỷ lệ cao nhất 99,9%, tiếp đến là vùng đồng bằng sông Cửu Long 99%. Một số tỉnh miền núi cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được nhà nước ưu tiên đầu tư nên số xã có điện tăng rất nhanh: Lai Châu tăng 12,5 lần, Hoà Bình 2,3 lần, Kon Tum 3,4 lần, Đắk Lắk 2,4 lần trong 7 năm tương ứng. Số nông thôn (ấp, bản) có điện tăng từ 49,6% lên 77,2%. Số hộ dùng điện tăng từ 53,2% lên 79,0% trong thời gian tương ứng. Đáng chú ý là, cùng với sự nâng cấp hệ thống điện nông thôn, giá bán điện khu vực này giảm so 1994 là 10,7% ( năm 2001 chỉ còn 675 đồng/1kwh so với 756 đ/kwh năm 1994). Cùng với điện, đường giao thông nông thôn được xây dựng mới và nâng cấp trên phạm vi cả nước. Đến năm 2001, cả nước có 8.415 xã có đường ôtô đến trung tâm xã, chiếm 94,2% số xã, so với năm 1994 tăng 685 xã. Không chỉ tăng lên về số lượng, chất lượng đường cũng được nâng cấp: 2.946 xã có đường liên xã, liên thôn được nhựa hoặc bê tông hoá, chiếm 32,98% số xã. Phong trào làm đường giao thông nông thôn phát triển mạnh ở các địa phương với sự hỗ trợ của Nhà nước, thông qua các dự án quốc gia và quốc tế. Phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm đường giao thông nông thôn đã phát huy tác dụng tích cực kể cả các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa. Hệ thống trường học ở nông thôn đã có nhiều khởi sắc: 99,9% số xã có trường tiểu học, 84,4% số xã có trường trung học cơ sở (năm 1994 là 76,6%), 8,5% số xã có trường trung học phổ thông (năm 1994 là 7%). Các cơ sở nhà trẻ, mẫu giáo vẫn được duy trì và mở rộng đến nay có 36,3% số xã có lớp mẫu giáo, 85,7% số xã có nhà trẻ. Tỷ lệ trường học được kiên cố hoá đạt khá cao, trường tiểu học 94,5%, trung học cơ sở 95,8%, trung học phổ thông 98,2%. Sự khởi sắc của các trường học nông thôn thể hiện rõ nét nhất ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa: Vùng Tây Bắc, Tây Nguyên. Nguyên nhân chủ yếu là do có sự đầu tư của Nhà nước cả về vốn và cơ chế chính sách phát triển giáo dục, ưu tiên đặc biệt cho vùng sâu vùng xa. Hệ thống y tế nông thôn phát triển nhanh: Đến năm 2001, cả nước có 99,45% số xã đã có trạm y tế, tăng 696 xã so với năm 1994, chủ yếu ở các vùng miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Bình quân một trạm y tế xã có 2,65 y sỹ, tăng 1,29 lần; 0,51 bác sỹ, tăng 2,99 lần. Hầu hết các xã đồng bằng đều có bác sỹ. Cả nước có 1.594 bác sỹ mới được tăng cường cho các trạm y tế xã, chiếm 35,1% tổng số bác sỹ đang công tác tại các tuyến xã. Mạng lưới thông tin, văn hoá nông thôn trong những năm qua đã có sự phát triển mạnh, góp phần đáp ứng yêu cầu của CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn và cải thiện đời sống vật chất cũng như tinh thần của nhân dân. Có 7503 UBND xã chiếm 83,8% có máy điện thoại, đặc biệt số hộ nông thôn có điện thoại năm 2001 là 704,4 ngàn hộ, gấp 30 lần so với năm 1994, 56,9% số xã có điểm bưu điện văn hoá xã, 14% số xã có nhà văn hoá. Thuỷ lợi hoá, cơ giới hoá nông nghiệp có nhiều khởi sắc. Nhiều trạm bơm, hồ đập thuỷ lợi được xây dựng, phong trào kiên cố hoá kênh mương phát triển khắp cả nước, thêm nhiều diện tích được tưới tiêu chủ động, góp phần nâng cao năng suất, sản lượng cây trồng. So với năm 1994 số trạm bơm do xã quản lý tăng 3,9%, số trạm bơm do Nhà nước quản lý tăng 36,4%. Nhờ xây dựng thêm trạm bơm, hồ chứa nên diện tích đất trồng cây hàng năm được tưới tiêu bằng công trình thuỷ lợi ngày càng mở rộng. Cả nước có 2,73 triệu ha cây hàng năm được tưới tiêu chủ động, tăng 36,4% (tăng 728 nghìn ha) so với năm 1994. Năm 1994 hầu hết kênh mương chưa được kiên cố hoá, đến năm 2001 cả nước đã kiên cố hoá được 24,008 km kênh mương, đạt tỷ lệ 12,4% tổng chiều dài, trong đó đồng bằng sông Hồng đạt 5,8%, vùng núi Đông Bắc 23,3%, riêng Tuyên Quang 41,3%, Thái Nguyên 47,8%, vùng Bắc Trung Bộ 33,4% trong đó Thanh Hoá 61,2%. Cơ giới hóa nông nghiệp tiếp tục phát triển nhanh, diện tích đất được cày, bừa bằng máy ngày càng nhiều. So với năm 1994 tỷ lệ diện tích trồng cây hàng năm được cày, bừa bằng máy tăng từ 1,63 triệu ha lên 2,98 triệu ha, đưa tỷ lệ diện tích cày, bừa máy từ 33,8% lên 52,5%. ở hai vùng lúa chủ yếu tốc độ cơ giới hoá rất nhanh: Đồng bằng sông Hồng tăng 2,8 lần, đồng bằng sông Cửu Long tăng 42,9%, tăng 0,5% triệu ha. 1.3. Khôi phục và phát triển các làng nghề, làng nghề truyền thống: nghề mộc, mây tre đan, hàng thủ công mỹ nghệ, gốm, sứ… Nhờ chính sách đổi mới của Nhà nước, có hướng đầu tư vốn và công nghệ vào phát triển các làng nghề nên nhiều ngành nghề, sản phẩm truyền thống một thời bị mai một cũng dần dần được khôi phục. Đến cuối năm 2000 cả nước đã có 1.450 làng nghề, trong đó có 300 làng nghề truyền thống. Bao gồm 40.500 cơ sở (doanh nghiệp Nhà nước chiếm 14,1% hợp tác xã chiếm 5,8%, doanh nghiệp tư nhân chiếm 80,1%), tổng số các cơ sở nói trên thu hút hơn 10 triệu lao động, chiếm 29% lực lượng lao động nông thôn. Các cơ sở này đã sản xuất một khối lượng hàng hoá lớn, đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu. Chỉ tính riêng năm 2000 đã đạt giá trị sản lượng khoảng 40.000 tỷ đồng và tốc độ tăng trưởng khoảng 9%/năm. Thu nhập bình quân của một lao động làng nghề bằng 3 đến 4 lần so với lao động thuần nông nghiệp ở nông thôn. Nhiều làng nghề đã thu hút trên 60% lao động vào các hoạt động ngành nghề như gốm sứ Bát Tràng, đồ gỗ Đồng Kỵ, giấy dó Đông Khê, chiếu cói Nga Sơn... giá trị sản lượng ở những làng quê này thường chiếm trên 70% tổng giá trị sản lượng và có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế – xã hội địa phương. 1.4. Cơ cấu kinh tế trong nông thôn chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Do hướng đầu tư trong thời gian qua là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: Tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong khu vực nông thôn, giảm tỷ trọng nông nghiệp đã làm cho tỷ trọng giá trị công nghiệp và dịch vụ trong GDP khu vực nông thôn tăng lên từ 14,7% và 13,7% năm 1996 đến 16,4% và 13,8% năm 2000 . Nông nghiệp tuy vẫn tăng giá trị tuyệt đối nhưng tỷ trọng sẽ giảm dần do tốc độ tăng trưởng của nó chậm hơn công nghiệp và dịch vụ. Bảng 5: Cơ cấu GDP của cả nước và khu vực nông thôn thời kỳ 1996 – 2000 Đơn vị: % Cơ cấu GDP cả nước GDP nông thôn 1996 1997 1998 1999 2000 1996 1997 1998 1999 2000 Công nghiệp 29,70 32,08 32,7 34,5 36,6 14,7 15,5 15,9 16,1 16,4 Nông nghiệp 27,80 25,77 25,98 25,4 24,3 71,5 70,8 70,3 70,2 70,0 Dịch vụ 42,50 42,15 41,32 40,1 39,1 13,8 13,7 13,8 13,7 13,6 Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp năm 1996 (theo giá so sánh) là14,5%, năm 1997 là 12,6%, năm 1998 là 8,3% và năm 1999 là 7,7%, năm 2000 là 10,1%. Trong khi đó tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp trong 5 năm tương ứng là 4,4%, 4,35%, 3,5%, 5,2%, 4,6%. Công nghiệp nông thôn và ngành nghề dịch vụ phi nông nghiệp tiếp tục phát triển và mở rộng, nhất là ở các vùng nông thôn ngoại ô thành phố, thị xã, khu công nghiệp, khu chế xuất gắn với công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ảnh hưởng rõ nhất là vùng Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Trong ngành nông nghiệp, cơ cấu giữa trồng trọt và chăn nuôi trong nhiều thập kỷ qua vẫn giữ tỷ lệ 78%/18%, song trong những năm gần đây đã có thay đổi theo hướng giảm tỷ trọng trồng trọt và tăng tỷ trọng chăn nuôi, trong khi giá trị tuyệt đối của mỗi ngành đều tăng. Bảng 6: Cơ cấu trồng trọt – chăn nuôi trong giá trị sản xuất nông nghiệp 1997- 2002 Đơn vị : % 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Toàn ngành 100 100 100 100 100 100 Trồng trọt 77,9 79,7 79,2 78,2 77,8 77,7 Chăn nuôi 19,4 17,8 18,5 19,3 19,5 19,7 Trong ngành trồng trọt, cơ cấu cây trồng đã có sự chuyển biến theo hướng đa dạng hoá cây trồng, xoá dần tính độc canh cây lương thực để tăng hiệu quả sử dụng đất. Trong ngành chăn nuôi đã có sự thay đổi trong cơ cấu đàn gia súc và gia cầm theo hướng tăng số lượng và tỷ trọng gia súc nuôi lấy thịt, sữa, giảm gia súc cày, kéo. Trong ngành thuỷ sản, chuyển từ đánh bắt sang nuôi trồng. 2. Những hạn chế trong đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn Bên cạnh những thành tựu to lớn và cơ bản đã đạt được trong thời gian qua, đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn Việt Nam còn nhiều nhược điểm, hạn chế và xuất hiện những mâu thuẫn mới. 2.1. Nông nghiệp chưa phát triển hết tiềm năng và có nguy cơ ngày càng tụt hậu so với công nghiệp. Nông nghiệp Việt Nam được phát triển trên nền tảng của một xã hội chủ yếu là sản xuất lâu đời, có truyền thống và kinh nghiệm. Nông nghiệp có điều kiện thuận lợi để phát triển: khí hậu nhiệt đới gió mùa, đất đai phì nhiêu màu mỡ, diện tích mặt nước lớn, lao động dồi dào, có kinh nghiệm truyền thống, quỹ thời gian lớn... Với những thuận lợi như vậy nông nghiệp có khả năng tăng trưởng cao. Song với yêu cầu và tiềm năng, cũng như vị trí của nông nghiệp và nông thôn trong nền kinh tế quốc dân, sự tăng lên của nông nghiệp trong thời gian qua chưa đáp ứng được. Nông nghiệp vẫn tăng trưởng chậm và có nguy cơ ngày càng tụt hậu so với khu vực và thế giới. Bảng 7: Tốc độ tăng trưởng của công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam trong những năm 1996 – 2001 (theo GDP) Đơn vị tính: % 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 4,4 4,3 3,5 5,2 4,6 2,8 Công nghiêp – Xây dựng 14,5 12,6 8,3 7,6 10,7 10,3 Dịch vụ 8,8 7,1 5,0 4,2 5,2 6,1 Tốc độ phát triển của nông nghiệp khoảng 4 – 5%, năm 1996 là 4,4%; năm 1997 là 2000 là 5,4%; năm 2001 là 2,6%; năm 2002 là 6,1% và năm 2003 là 4,1% là còn thấp so với yêu cầu. Bảng 8: Cơ cấu GDP của công nghiệp và nông nghiệp Việt Nam thời kỳ 1996 – 2001 Đơn vị tính: % 1996 1997 1998 1999 2000 2001 Nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 27,8 25,7 25,8 25,4 24,5 23,6 Công nghiêp – Xây dựng 29,7 32,1 32,5 34,5 36,7 37,8 Dịch vụ 42,5 42,2 41,7 40,1 38,8 38,6 Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm từ 27,8% năm 1996 xuống còn 24,5% năm 2000 và 23,6% năm 2001 nhưng giá trị tuyệt đối (theo giá hiện hành) vẫn tăng lên từ 75,5 nghìn tỷ đồng lên 114,4% năm 2001 là xu hướng tiến bộ, phù hợp với quy luật. Nhưng về tốc độ phát triển giữa công nghiệp và nông nghiệp chênh lệch nhau lớn. Theo kinh nghiệm thế giới, tốc độ phát triển nông nghiệp ở các nước đang phát triển khoảng 4 – 5% và công nghiệp tăng 10%, hệ số chênh lệch khoảng từ 2 đến 2,2% là hợp lý, còn nếu chênh lệch này ở cao hơn sẽ dẫn đến sự tụt hậu của nông nghiệp so với công nghiệp, nông thôn so với thành thị. Trong khi đó hệ số chênh lệch này ở Việt Nam là 3 lần (1997) và 3,6 lần (2001). Khoảng cách khá xa về tốc độ tăng trưởng giữa công nghiệp và nông nghiệp ở Việt Nam những năm qua làm cho nông nghiệp vốn đã lạc hậu lại càng tụt hậu xa hơn so với công nghiệp và dịch vụ. 2.2. Sản phẩm nông sản hàng hoá: Chất lượng thấp, chi phí cao, vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, quy cách mẫu mã không phù hợp thị hiếu người tiêu dùng... Do vậy mà sức cạnh tranh còn hạn chế trên thị trường trong nước và xuất khẩu. Nhược điểm này thể hiện rõ trên tất cả các sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi, trong đó rõ nét nhất là: chất lượng còn thấp, chi phí cao, chủng loại đơn điệu, vệ sinh an toàn thực phẩm thấp, quy cách và mẫu mã không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng. Ví dụ cụ thể: lúa gạo là nông sản chủ yếu, tốc độ tăng trưởng rất nhanh nhưng chất lượng lại chưa cao. Tỷ trọng các loại gạo chất lượng thấp còn lớn (trên 60%) và không giảm, gạo có chất lượng cao chiếm tỷ lệ bé và tăng chậm. Đối với gạo xuất khẩu, gạo hạt dài, thơm ngon, không bạc bụng vẫn còn chiếm tỷ trọng khiêm tốn, nên giá trị xuất khẩu vân thấp hơn gạo Thái Lan cùng loại. Cà phê cũng trong tình trạng tương tự, chủ yếu là cà phê vối, trong khi thị trường cần cà phê chè. Thêm vào đó, tỷ trọng nông sản qua chế biến công nghiệp lại rất thấp và tăng chậm: chè 55%, rau quả 5%, thịt 1%, tổn thất sau thu hoạch còn lớn, nông sản xuất khẩu chủ yếu vẫn ở dạng sơ chế. Nguyên nhân của hạn chế trên là do chưa có sự chú trọng đầu tư trong khâu sản xuất theo tiêu chuẩn công nghiệp, nuôi trồng vẫn mang tính chất nhỏ lẻ, cá thể do vậy mà chất lượng không đồng đều, khó thu mua… và điều đáng quan tâm là khâu sử dụng công nghệ sau thu hoạch còn chưa được chú trọng. Vì vậy mà nông sản hàng hoá của nước ta chủ yếu vẫn ở dạng sơ chế, chưa phải là sản phẩm tiêu dùng ngay nên gía bán xuất khẩu thấp, thấp hơn nhiều so với những nước xuất khẩu hàng hoá cùng loại, bị mất thị trường ngay cả thị trường trong nước. 2.3. Cơ sở hạ tầng nông thôn đã được mở rộng nhưng vẫn còn nhiều bất cập đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Bên cạnh những kết quả khả quan, điện khí hoá nông thôn vẫn còn những vấn đề đáng lưu ý là: miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn là những nơi còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ xã có điện còn thấp: vùng Tây Nguyên 75,5%, Tây Bắc 62,6%, các tỉnh Hà Giang 58,4%, Lào Cai 64,6%, Lai Châu 35,5%, Sơn La 65,1%. Số hộ dùng điện ở một số địa phương còn thấp: Hà Giang 36,5%, Lai Châu 28%, Gia Lai 44,8%, Trà Vinh 40,6%, Sóc Trăng 43,8%, Bạc Liêu, Cà Mau dưới 30%. Nhìn chung giá điện nông thôn còn cao. Đến nay còn nhiều tỉnh có giá điện cao hơn700 đồng 1 kwh: Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, , An Giang, Cần Thơ, Sóc Trăng… Đường giao thông tiếp tục được xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện. Tuy nhiên vẫn còn một số xã vùng cao chưa có đường ô tô đến trung tâm, đi lại khó khăn. Lai Châu có 33 xã (23,4%), Sơn La 28 xã (14,8%), Quảng Nam 29 xã (14,0%). Vùng đồng bằng sông Cửu Long do sông ngòi chằng chịt, nên tỷ lệ xã chưa có đường ô tô còn khá cao: Vĩnh Long 37,2%, Sóc Trăng 33,3%, Đồng Tháp 29,2%, Cần Thơ 26,5%, Cà Mau 69,7%, Bạc Liêu 34,2%. Hệ thống y tế, số bác sĩ rên một trạm y tế ở các tỉnh miền núi đạt thấp. Tỷ lệ bác sĩ trên một trạm y tế ở Lào Cai 0,08; Lai Châu 0,03; Hà Giang 0,11; Cao Bằng 0,02; Bắc Cạn 0,1; Sơn La 0,12; Kon Tum 0,08. Số trường học ở miền núi tăng hơn trước nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều khó khăn: số trường học các cấp bằng thanh tre, nứa lá vẫn còn: cấp tiểu học 5,5%, cấp trung học cơ sở 4,2%, cấp trung học phổ thông chỉ có 1,8%. Số trường học tăng hơn nhưng cơ sở vật chất phục vụ cho giáo dục thì còn nghèo nàn: đèn điện, bàn ghế, bảng… Công tác thuỷ lợi được chú trọng phát triển trong cả nước, tuy nhiên phong trào thuỷ lợi phát triển không đồng đều, nhiều địa phương diện tích lúa chưa chủ động tưới tiêu và còn chiếm tỷ trọng lớn (Tây Bắc 75,9%; Lai Châu 90,2%; Tây Nguyên 70,4%; Bình Phước 91,7%; Bến Tre 54,4%). Cơ giới hoá nông nghiệp nông thôn phát triển chưa đều. Máy móc đã được đưa vào sản xuất nông nghiệp ngày càng nhiều: cày, bừa, gặt… Tuy nhiên tốc độ cơ giới hóa nhanh chủ yếu ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, còn ở rất nhiều nơi khác vẫn sử dụng phần nhiều sức người và sức kéo. Trong những năm qua, Nhà nước đã có nhiều hướng đầu tư chú trọng phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn. Tuy nhiên hiệu quả còn thấp nguyên nhân là do vốn đầu tư của Nhà nước còn hạn chế trong khi đó quy hoạch đầu tư còn chưa rõ ràng. Thêm vào đó đầu tư còn mang tính chất dàn trải, thiếu đồng bộ, khâu kiểm tra, giám sát còn yếu để thất thoát một lượng vốn đầu tư lớn của Nhà nước cho cơ sở hạ tầng. Để nông nghiệp nông thôn có thể phát triển thì trong thời gian tới cả nước phải chú trọng hơn nữa trong công tác đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp nông thôn. 2.4. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn hiện nay còn nhiều bất cập Cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đã dịch chuyển theo hướng tiến bộ: giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng lâm nghiệp và thuỷ sản; giảm tỷ trọng trồng trọt, tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi. Tuy nhiên, những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn nhiều và rõ nét, đã và đang hạn chế quy mô và tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn: 2.4.1. Cơ cấu kinh tế nông thôn vẫn mang nặng tính thuần nông Theo kết quả điều tra nông nghiệp nông thôn và thuỷ sản năm 2001 do Tổng cục Thống kế công bố tháng 4/2002 đến nay, khu vực nông thôn cơ 13,2 triệu hộ, trong đó 79,8% số hộ làm việc trong lĩnh vực sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, chỉ có 17% số hộ làm việc trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Như vậy, cơ cấu ngành nghề của hộ nông dân chuyển dịch rất chậm: giảm 0,8% số hộ và lao động khu vực công nghiệp, bình quân 0,11%/năm. Sự bất hợp lý này còn thể hiện ở các chỉ tiêu khác: Cho đến nay 78,6% số hộ nông thôn vẫn lấy nguồn thu nhập chính từ các hoạt động nông nghiệp. 2.4.2. Cơ cấu sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chuyển dịch chậm và không đều Nhược điểm này thể hiện rõ nét ở cơ cấu sản xuất trong nội bộ khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Bảng 9: Cơ cấu GDP khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 1996 – 2002 (Giá thực tế) Đơn vị tính 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 Tổng GDP khu vực Tỷ lệ Tỷ đồng % 75.510 100,0 80.826 100,0 93.073 100,0 101.723 100,0 108.356 100,0 114.412 100,0 123.268 100,0 GDP nông nghiệp Tỷ lệ Tỷ đồng % 61.048 80,8 65.883 81,5 76.170 81,7 83.335 81,9 87.573 80,8 91.687 80,4 96.428 78,3 GDP lâm nghiệp Tỷ lệ Tỷ đồng % 4.695 6,2 4.813 5,4 5.304 5,7 5.737 5,6 5.913 5,5 6.080 5,3 6.500 5,2 GDP thuỷ sản Tỷ lệ Tỷ đồng % 4.771 13,0 10.130 12,6 11.598 12,6 12.651 12,5 16.906 13,7 16.645 14,6 20.340 16,5 Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP của khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản vẫn giao động trong khoảng từ 80,5% đến 81%. Tỷ trọng lâm nghiệp giảm dần từ 6,2% năm 1996 đến 4,1% năm 2002. Tỷ trọng ngành thuỷ sản tuy có tăng dần nhưng xu hướng chưa ổn định, tính vững chắc chưa cao; năm 2000=13,7%; năm 2001 = 14,6%; năm 2002 còn 13,9%. 2.4.3. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp còn mang nặng tính tự cung, tự cấp, tự túc, phân tán, quy mô nhỏ Trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành sản xuất chính của nông nghiệp theo nghĩa hẹp. Yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất hai ngành này là tăng nhanh tỷ trọng ngành chăn nuôi và giảm tỷ trọng ngành trồng trọt với điều kiện giá trị tuyệt đối mỗi ngành đều tăng dần qua các năm. Nhưng trên thực tế, chăn nuôi vẫn còn là một ngành phụ, tỷ trọng đạt mức dưới 20%. Sự bất cập giữa chăn nuôi và trồng trọt trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp đã kéo dài nhiều năm và là nhược điểm lớn của nông nghiệp nước ta. Sản phẩm chăn nuôi do các trang trại tạo ra chiếm chưa đến 10% tổng sản phẩm toàn ngành, 90% còn lại do các hộ nông dân cung cấp theo phương pháp chăn nuôi truyền thống với quy mô nhỏ lẻ, tận dụng sản phẩm phụ của trồng trọt là chính, lấy công làm lãi. Do vậy chất lượng và chủng loại sản phẩm chăn nuôi hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu, phục vụ nhu cầu tại chỗ là chủ yếu. Những bất cập trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn có nguyên nhân do cơ cấu đầu tư, phương pháp đầu tư không hợp lý, đầu tư không hiệu quả. Những bất cập đó cần phải được giải quyết để phát triển nông nghiệp đạt kết quả tương xứng với yêu cầu và khả năng thực tế. Ngoài những bất cập trên, đầu tư trong nông nghiệp nông thôn còn những hạn chế như: Công nghệ trong nông nghiệp còn lạc hậu, vẫn sử dụng nhiều bằng lao động chân tay, sức gia súc: trâu, bò. Số lượng máy móc dùng trong nông nghiệp còn hạn chế. Công nghệ sử dụng trong sản xuất nông nghiệp còn ít đặc biệt là công nghệ dùng cho thu hoạch, sau thu hoạch nhất là công nghệ bảo quản và chế biến nông, lâm, thuỷ sản chưa đáp ứng yêu cầu cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Những hạn chế này cũng có nguyên nhân từ việc đầu tư chưa thoả đáng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. 3. Nguyên nhân của những hạn chế về đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta trong thời gian qua Nhờ có đầu tư mà nông nghiệp nông thôn đã có những bước tiến vượt bậc. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều vấn đề đặt ra cần được giải quyết: sản phẩm nông sản hàng hoá khả năng cạnh tranh trên thị trường kém, công nghệ sử dụng còn lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn hạn chế, cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm… Nguyên nhân của những hạn chế đó là: Thứ nhất, vốn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn còn thấp so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ. Điều này thể hiện rõ ở tất cả các nguồn vốn. Nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước : tăng về số lượng nhưng giảm về tỷ trọng, mức độ tăng còn hạn chế và chưa đều. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn yêu cầu phát triển nông nghiệp hàng hoá ngày càng cao, trong khi đó tỷ trọng đầu tư vốn ngân sách Nhà nước cho nông nghiệp lại giảm dần: 11% năm 1997 giảm xuống còn 9,9% năm 2001. Tổng chi ngân sách Nhà nước bình quân khoảng 8 tỷ đồng. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều Nghị quyết về nông nghiệp, nông thôn trong đó nhấn mạnh: “tăng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn , trước hết tập trung đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn…”“khuyến khích nhân dân và các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư… mở rộng tín dụng và tăng dần vốn vay trung và dài hạn, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn”. Nhưng thực tế tỷ trọng đầu tư cho khu vực này giảm liên tục trong những năm qua là một nghịch lý. Đối chiếu với học thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa đầu tư với tăng trưởng 4 – 4,5% giá trị tăng thêm (GDP/ năm) thì tỷ trọng đầu tư không những tăng tương ứng mà còn giảm liên tục. Điều này còn mâu thuẫn với học thuyết trao đổi ngang giá trong tái sản xuất xã hội: tỷ trọng đầu tư cho mỗi ngành phải tương ứng với tỷ trọng đóng góp của ngành đó trong GDP. Theo Tổng cục thống kê, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP theo giá thực tế những năm qua như sau: năm 1996 = 27,8%; năm 1997 = 25,8%; năm 1998 = 25,8%; năm 1999 = 25,4%; năm 2000 = 24,5%; năm 2001 = 23,6%; năm 2002 = 23,8%. Trong khi đó, tỷ trọng đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn từ ngân sách Trung ương chưa năm nào đạt 10% kể từ năm 1996 đến nay. Đó cũng là một nguyên nhân quan trọng, nếu không muốn nói là quyết định làm cho tốc độ tăng trưởng của nông nghiệp còn thấp và không ổn định. Vốn Nhà nước thiếu, trong khi đó vốn tự có của các doanh nghiệp và hộ gia đình nông thôn tuy có nhiều hơn trước nhưng vẫn còn hạn chế vì nói chung nông dân còn nghèo, thu nhập và tích luỹ thấp. Theo kết quả tổng điều tra của Tổng cục Thống kê năm, bình quân một hộ nông dân tích luỹ 1 năm 3,1 triệu đồng. Với mức tích luỹ đó, khả năng đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tương tự cũng diễn ra đối với các doanh nghiệp và các chủ trang trại. Thu nhập bình quân của một chủ trang trại 1 năm chỉ có 31,4 triệu đồng, mức tích luỹ khoảng 20 triệu đồng, nên mức đầu tư phát triển sản xuất còn thấp hơn. Trong khi nguồn vốn từ nội bộ nền kinh tế còn hạn chế, thu hút vốn từ bên ngoài trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn lại càng khó khăn. Đến năm 2002 cả nước có 455 dự án với số vốn đăng ký khoảng 2,3 tỷ USD đầu tư vào nông nghiệp, chiếm 6% vốn FDI đang hoạt động ở nước ta. Nhìn chung, các dự án FDI đầu tư vào nông nghiệp vừa ít về số lượng, vừa nhỏ về quy mô và điều quan trọng là hoạt động kém hiệu quả. Đã có 37 dự án đã giải thể với số vốn 146 triệu USD. Những dự án còn hoạt động cũng đã bộc lộ nhiều mặt yếu kém và có nguy cơ thua lỗ. Công ty liên doanh Thanh Sơn, nuôi, lai tạo giống bò sữa và chế biến thức ăn gia súc với tổng số vốn đầu tư 5 triệu USD sau hai năm rưỡi hoạt động đã thua lỗ 3,1 triệu USD, bằng 75,6% vốn pháp định. Theo đánh giá chung của giới chuyên môn, hiện chỉ có 6._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docG0068.doc
Tài liệu liên quan