Hoàn thiện chính sách thương mại Xuất khẩu dưới góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình Việt Nam gia nhập AFTA

Lời mở đầu Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Các quốc gia trên thế giới phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ kinh tế, không có quốc gia nào phát triển mà không mở rộng mối quan hệ kinh tế đối ngoại, đặc biệt là ngoại thương. Xu hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá càng thể hiện một cách rõ nét chẳng hạn như sự lớn mạnh của các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới: WTO, EU, ASEAN, APEC ... với những thành tựu và khả năng ứng dụng của công nghệ thông tin trên thế giới diễn

doc124 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 597 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện chính sách thương mại Xuất khẩu dưới góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình Việt Nam gia nhập AFTA, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ra hết sức sôi động và phát triển như vũ bão. Sự phát triển của khoa học công nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới. Chính vì vậy, ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự phát triển đi lên của mỗi quốc gia. Toàn cầu hoá và hội nhập là xu hướng được khởi xướng từ các nước phát triển, nhưng cho đến nay nó đã và đang cuốn tất cả các nước, kể cả những nước chậm phát triển nhất, vào quỹ đạo của mình như một tất yếu. Nó đang thiết định những nguyên tắc mới cho “cuộc chơi” trên thế giới, chung cho tất cả các nước mà không phân biệt lớn hay nhỏ, phát triển hay kém phát triển. Đối với Việt Nam, với bước chuyển sang hệ thống kinh tế thị trường có điều tiết vĩ mô theo định hướng xuất khẩu, xu hướng này cũng đang tác động rất mạnh, có ảnh hưởng to lớn và toàn diện đến tất cả các khía cạnh của đời sống kinh tế–chính trị–xã hội. Hiện nay, càng tiến sâu vào quá trình hội nhập quốc tế, chúng ta càng cảm nhận rõ hơn những mặt tích cực lẫn tiêu cực của tác động này. Chính điều này là cơ sở đòi hỏi chúng ta phải xây dựng một chính sách thương mại phù hợp với xu hướng này tạo điều kiện cho sự phát triển KT-XH trong tình hình mới. Thực tiễn cho thấy trong những năm vừa qua việc Việt Nam gia nhập ASEAN (07/1995) đánh dấu một bước khởi đầu trong tiến trình hội nhập với các tổ chức kinh tế trên thế giới. Là thành viên của ASEAN, Việt Nam đã cam kết thực hiện CEPT/AFTA. Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) đặt ra cho Việt Nam những cơ hội như tăng khả năng thâm nhập vào thị trường mới từ đó làm tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước và những thách thức mới do việc hội nhập đòi hỏi phải tuân thủ các nguyên tắc và luật chơi điều tiết thương mại quốc tế mà điều cơ bản là phải mở cửa thị trường hơn nữa cho sự cạnh tranh công bằng và bình đẳng của hàng hoá và dịch vụ nước ngoài với nguyên tắc có đi có lại, trong khi hệ thống chính sách kinh tế–thương mại chưa hoàn chỉnh, sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ Việt Nam còn kém và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp. Cạnh đó yêu cầu của hội nhập buộc Việt Nam phải cắt giảm thuế quan sẽ là một nhân tố làm giảm nguồn thu ngân sách nhà nước nó yêu cầu phải thay đổi cơ cấu nguồn thu ngân sách nhà nước để tăng thu ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối giữa thu và chi NSNN trong tình hình mới. Do vậy việc có một chính sách thương mại hợp lí đáp ứng đầy đủ được những yêu cầu của hội nhập kinh tế là rất cần thiết. Xuất phát từ những nhận thức nói trên với nhiệm vụ và thực tế của đợt thực tập trong năm cuối bậc Đại học chúng tôi chọn đề tài “Hoàn thiện chính sách thương mại xuất khẩu dưới góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình Việt Nam gia nhập AFTA” cho luận văn tốt nghiệp của mình. Với mục đích hệ thống hoá một số vấn đề lí luận cơ bản về chính sách thương mại xuất nhập khẩu từ góc độ các chỉ tiêu tài chính vĩ mô trong điều kiện hội nhập. Và từ sự phân tích thực trạng của chính sách thương mại xuất khẩu của Việt Nam trong lộ trình hội nhập AFTA, sẽ là cơ sở đánh giá các mặt ưu nhược điểm trong chính sách thương mại xuất khẩu của Việt Nam. Qua đó đề xuất một số biện pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách thương mại xuất khẩu trong thời gian tới nhằm thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp của Việt Nam đảm bảo cho họ có thể cạnh tranh trên thị trường trong nước và ngoài nước từ đó làm tăng thu ngân sách cho nhà nước và cải thiện đời sống kinh tế xã hội trong nước. Đối tượng, pham vi nghiên cứu của đề tài là một số công cụ và quá trình thực hiện của chính sách thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu hiện nay của Đảng và nhà nước ta, cùng với những quy định của hiệp định chung về thuế quan CEPT-AFTA đối với thương mại hàng hoá trong lộ trình Việt Nam hội nhập hoàn toàn vào AFTA. Đây là một đề tài phức tạp đòi hỏi giải quyết đồng bộ nhiều yếu tố, lĩnh vực khác nhau vận dụng nhiều kiện thức từ nhiều môn học như chiến lược và chính sách thương mại, kinh tế thương mại cùng nhiều môn học chuyên ngành khác. Mặc dù đã cố gắng để có thể bao hàm các nội dung và yêu cầu đặt ra, nhưng do gặp nhiều khó khăn nhất định về điều kiện thu thập thông tin, thời gian cũng như năng lực nghiên cứu nên không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các cán bộ công tác tại Bộ Tài Chính, các thầy cô, các nhà khoa học và các bạn để có thể hoàn chỉnh cho bài luận văn được tốt hơn. Đề tài này sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng trong quá trình nghiên cứu và quán triệt đẩy đủ đường lối và chủ trương của Đảng và nhà nước Việt Nam. Bên cạnh đó còn có các phương pháp cụ thể như nghiên cứu theo tài liệu, biểu hình hoá, sơ đồ hoá, phương pháp sử dụng các chỉ số trong phân tích, tổng hợp, so sánh. Đề tài này có kế thừa một số kết quả nghiên cứu trước đó. Kết cấu đề tài ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục luận văn của tôi được chia làm ba chương: Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản của hoàn thiện chính sách thương mại XNK từ góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình hội nhập AFTA. Chương 2: Thực trạng CSTM xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập CEPT-AFTA. Chương 3: Phương hướng và biện pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách thương mại xuất khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA dưới góc độ các chỉ tiêu tài chính. Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản của hoàn thiện chính sách thương mại XNK từ góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình hội nhập AFTA 1.1 Chính sách thương mại XNK trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay. 1.1.1 Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước . * Khái niệm về chính sách thương mại: Chính sách thương mại là hệ thống các nguyên tắc và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng để điều chỉnh hoạt động thương mại trong một thời kỳ nhất định phù hợp với lợi ích chung của xã hội. Nó là một bộ phận quan trọng của chính sách kinh tế - xã hội của đất nước. Có quan hệ chặt chẽ và phục vụ cho sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến quá trình tái sản xuất, cải tiến cơ cấu kinh tế, đến quy mô và phương thức của nền kinh tế quốc dân tham gia vào phân công lao động và thị trường quốc tế. * Vai trò quản lý kinh tế của nhà nước: trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước thì nhà nước luôn đóng một vai trò rất quan trọng trong quản lý kinh tế đó là ổn định và phát triển kinh tế của đất nước, điều tiết kinh tế cả về vi mô và vĩ mô để đưa nền kinh tế nước nhà đi đúng hướng. * Chính sách thương mại XNK : Chính sách thương mại XNK là một hệ thống các nguyên tắc, công cụ và biện pháp thích hợp mà nhà nước áp dụng quản lý, điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định nhằm đạt được các mục đích đã định trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trong một quốc gia. Việc tham gia mạnh mẽ vào phân công lao động quốc tế và mậu dịch quốc tế, đang đưa lại nhiều lợi ích to lớn nhưng với nhiều lý do khác nhau, mỗi quốc gia có chủ quyền đều có chính sách thương mại quốc tế cũng như chính sách thương mại XNK riêng thể hiện ý chí và mục tiêu của nhà nước đó trong việc can thiệp và điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK có liên quan đến nền kinh tế quốc gia. Chính sách thương mại XNK của một quốc gia có ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Bởi vậy nó chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên tắc nhằm chống lại sự phân biệt đối sử, đảm bảo sự có đi có lại cho các bên tham gia hợp tác và buôn bán quốc tế. Do môi trường kinh tế thế giới đang còn bị chi phối và tác động bởi vì mối quan hệ chính trị và các mục tiêu phi kinh tế khác cho nên chính sách thương mại quốc tế và chính sách thương mại XNK của mỗi quốc gia cùng phải đáp ứng với nhiều mục tiêu cụ thể khác nhau của từng thời kỳ. Những mục tiêu chung của chính sách thương mại XNK là nhằm điều chỉnh các hoạt động thương mại XNK theo chiều hướng có lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia trong điều kiện mở rộng và phát triển các quan hệ hợp tác và phân công lao động quốc tế. Nội dung của chính sách thương mại XNK. Chính sách XNK bao gồm nhiều nội dung khác nhau của hoạt động xuất nhập khẩu như xuất khẩu các hàng hoá hữu hình (như nông lâm hải sản, hàng hoá công nghiệp, khoáng sản .v.v.) và các hàng hoá vô hình (các sản phẩm dịch vụ như dịch vụ viễn thông, du lịch .v.v.), tạm nhập để tái xuất hay tạm xuất để tái nhập, quá cảnh hàng hoá, chuyển giao sử dụng công nghiệp, gia công chế biến hàng hoá xuất khẩu, đầu tư cho xuất khẩu, thuê nước ngoài gia công chế biến, đại lí bán hàng hoá, uỷ thác hoặc nhận uỷ thác xuất khẩu, nhập khẩu và XNK trực tiếp .v.v. đi cùng với chính sách này là một loạt các công cụ hỗ trợ cho hoạt động XNK này là các chính sách như : Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng. Chính sách thuế xuất nhập khẩu Chính sách phi thuế quan Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán Chính sách tài trợ xuất khẩu Chính sách kỹ thuật thực thi nhập khẩu Chính sách điều chỉnh về thể chế thương mại Chính sách điều chỉnh về khuôn khổ luật pháp Chính sách điều chỉnh về hệ thống kinh doanh phục vụ ................................................. * Chính sách quản lý xuất nhập khẩu là: Nhà nước quản lý và điều tiết hoạt động thương mại quốc tế thông qua công cụ rất quan trọng là chính sách quản lý. Chính sách quản lý thương mại quốc tế của nhà nước là các nghị định, quyết định, quy định của chính phủ và các cơ quan của chính phủ về lĩnh vực thương mại quốc tế đó là các chính sách quản lý xuất nhập khẩu . Nội dung của chính sách quản lý xuất nhập khẩu bao gồm: Chính sách quản lý về mặt hàng xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cơ chế giá cả,chính sách quản lý về quota và giấy phép xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về tỷ giá hối đoái, chính sách quản lý về đối tượng kinh doanh xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về thuế xuất nhập khẩu, chính sách quản lý về cán cân thương mại và cán cân thanh toán quốc tế, chính sách quản lý về tài trợ và bảo hiểm xuất khẩu. 1.1.2 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thương mại XNK. 1.1.2.1 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng. a) Chính sách thị trường đây là chính sách có tầm quan trọng đặc biệt với sự phát triển kinh tế của một quốc gia và với mục đích đề ra là khai thông những cản trở của thị trường. Chính sách này chia thị trường thành hai loại như sau : -Với thị trường trong nước chính sách đưa ra định hướng cho tập trung nguồn lực để tổ chức sản xuất hàng hoá sao cho phù hợp với nhu cầu của sản xuất và của thị trường, đồng thời nó đưa ra những quy hoạch và cơ cấu lại các vùng chuyên canh một cách hợp lí và nâng cao hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp. Đảm bảo cho hệ thống lưu thông hàng hoá thông suốt giữa các vùng, các địa phương và đảm bảo cho sản xuất, lưu thông và tiêu dùng hàng hoá cân đối tránh những khủng hoảng và bất ổn trên thị trường. Bên cạnh đó chính sách thị trường đưa ra để hình thành đồng bộ các loại thị trường và thực hiện chính sách nhất quán, ổn định để các chủ thể chủ động với các tình thế trên thị trường -Với thị trường ngoài nước: nó bao hàm những chính sách thúc đẩy xuất khẩu và đa dạng hoá thị trường xuất khẩu như để đa dạng hoá thị trường xuất khẩu thì cụ thể cần có chính sách cung cấp các thông tin thị trường cho các nhà xuất khẩu. +Chính sách thị trường nước ngoài yêu cầu tập trung chú trọng phát triển những thị trường truyền thống đồng thời tiếp cận và phát triển thị trường mới do vậy nhà nước đưa ra những chính sách khuyến khích động viên các doanh nghiệp tìm kiếm thị trường xuất khẩu, tìm kiếm đối tác nước ngoài của doanh nghịêp như chính sách thưởng cho những doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng từ 20% trở lên hoặc đưa ra chính sách hỗ trợ tăng cường tổ chức các cuộc gặp gỡ tiếp xúc giữa doanh nghiệp trong nước và nước ngoài . +Trong chính sách việc tập trung hoạt động nghiên cứu thị trường và công tác thông tin về thị trường có ý nghĩa hết sức quan trọng ảnh hưởng lớn đến khả năng thành công trong công tác XNK của các doanh nghiệp cũng như lợi nhuận của họ. Vì vậy cần nâng cao hiệu quả của công tác nghiên cứu dự báo thị trường hiệu quả đảm bảo thông tin thường xuyên, thông suốt, nhiều chiều và các thông tin dự báo về tình hình thị trường trong nước và quốc tế. Kết hợp chặt chẽ mạng lưới thu thập thông tin chuyên ngành và đa ngành đồng thời ta cũng cần phải thấy được vai trò của các tham tán và tuỳ viên thương mại trong việc cung cấp thông tin tìm kiếm thị trường nước ngoài. b) Chính sách mặt hàng: Chính sách mặt hàng là nền tảng của chính sách thương mại quốc gia nói chung cũng như chính sách thương mại XNK nói riêng, nó là cơ sở để xác định đầu tư và cơ cấu lại sản xuất một cách hợp lí. Chính sách mặt hàng bao gồm: Chính sách mặt hàng cấp quốc gia đưa ra danh mục mặt hàng được đưa vào cân đối của nhà nước, được nhà nước quản lí tập trung. Đây là những mặt hàng quan trọng đối với nền kinh tế của một nước như vũ khí, các mặt hàng công nghệ cao...Danh mục mặt hàng cấp quốc gia gồm tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng có ảnh hưởng tới an ninh quốc gia; những mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn và những mặt hàng cạnh tranh cấp quốc gia. Trong chính sách này cần xây dựng cơ cấu những mặt hàng xuất khẩu chủ lực (mũi nhọn) đó là những mặt hàng có khả năng phát triển sản xuất trong nước và đưa nhanh sản xuất lên cao, có hiệu quả kinh tế nhiều hơn so với loại hàng khác, có thị trường tiêu thụ rộng rãi, ổn định, vững chắc và lâu dài. Những mặt hàng chủ lực cần thoả mãn được 3 điều kiện; Một là phải chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu hàng xuất khẩu, có khối lượng lớn, có giá trị cao trong kim ngạch XK, nếu là nguyên liệu sản suất thì phải có khả năng đảm bảo cung cấp thường xuyên cho nhu cầu xuất khẩu, có phẩm chất và giá cả ổn định trong thời gian dài, nếu là hàng tiêu dùng thì phải có số lượng lớn và phẩm chất ổn định, gây thói quen cho người tiêu dùng. Hai là phải có điều kiện thuận lợi để sản xuất trong nước với chi phí thấp nhất và ngày càng tiến bộ về công nghệ sản xuất. Ba là phải có thị trường tiêu thụ vững chắc và lâu dài, tạo thế chủ động trong việc trao đổi quốc tế. Nếu thiếu một trong 3 điều kiện này thì không thể coi là hàng xuất khẩu chủ lực. Chính sách mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu và chính sách xuất khẩu là những măt hàng mà sản xuất trong nước đã đáp ứng được nhu cầu. Đó là những mặt hàng dựa trên lợi thế tài nguyên quốc gia, lao động, công nghệ ví dụ như Hà Lan xuất khẩu hoa, Việt nam XK gạo, Mĩ XK các mặt hàng có hàm lượng công nghệ cao như con chip điện tử .v.v. Lúc đầu nhà nước đưa ra chính sách mặt hàng thay thế nhập khẩu sau đó khi năng lực sản xuất đã có, đáp ứng tốt được nhu cầu tiêu dùng trong nước thì tiến tới xuất khẩu cùng với những mặt hàng mà trong nước có lợi thế. 1.1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu Thuế quan là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất nhập khẩu hoặc quá cảnh như vậy là thuế quan bao gồm cả thuế xuất khẩu và thuế nhập khẩu . Thuế nhập khẩu là loại thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng nhập khẩu, theo đó người mua trong nước phải trả cho những hàng hoá nhập khẩu một khoản lớn hơn mức mà người xuất khẩu ngoại quốc thu được. Khác với thuế nhập khẩu thuế xuất khẩu là thuế đánh vào mỗi đơn vị hàng hoá xuất khẩu.Thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu đều tác động đến giá hàng hoá có liên quan nhưng thuế xuất khẩu khác thuế nhập khẩu ở hai điểm: Một là, nó đánh vào hàng hoá xuất khẩu chứ không phải hàng hoá nhập khẩu; Hai là, nó làm cho giá cả quốc tế của hàng hoá bị đánh thuế vượt quá xa giá cả trong nước (chứ không phải ngược lại), hay nói cách khác nó hạ thấp tương đối mức giá cả trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu xuống so với mức giá cả quốc tế. Điều đó sẽ làm cho sản lượng trong nước của hàng hoá có thể xuất khẩu giảm đi và sản xuất trong nước sẽ thay đổi bất lợi cho mặt hàng này (trong một số trường hợp việc đánh thuế xuất khẩu không làm cho khối lượng xuất khẩu giảm đi nhiều mà vẫn có lợi nhiều cho nước xuất khẩu). Vì vậy mà các nước công nghiệp phát triển hiện nay hầu như không áp dụng thuế xuất khẩu cho nên thuế quan ở những nước này thường đồng nhất với thuế nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được áp dụng phổ biến ở các nước, tuy rằng mức thuế có khác nhau. Đương nhiên, kết quả kinh tế của thuế nhập khẩu là làm cho giá trị hàng hoá trong nước vượt cao hơn mức giá nhập khẩu và chính người tiêu dùng trong nước phải trang trải cho gánh nặng thuế quan này. Bởi vậy, việc quy định tỷ lệ thuế nhập khẩu luôn là đề tài quan tâm từ nhiều phương diện. Thuế quan được chia làm 3 loại: thuế quan tính theo giá trị, thuế quan tính theo số lượng và thuế quan hỗn hợp nhưng đa số các nước người ta dùng phương pháp tính thuế quan theo giá trị hàng hoá thương mại đây là một loại thuế đánh theo bằng tỉ lệ phần trăm theo giá trị của hàng hoá thương mạ. Phần lớn nội dung các hiệp định thương mại quốc tế đều dùng phương pháp này để tính thuế, trong hiệp định CEPT-AFTA cũng vậy. Thuế quan được biết đến từ lâu như một hình thức lâu đời nhất của chính sách thương mại và là một công cụ mang tính chất truyền thống làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế xuất nhập khẩu tác động đến hoạt động xuất khẩu trong hai trường hợp sau: Thuế nhập khẩu: Xem xét trong trường hợp một nước nhỏ áp dụng thuế đối với nhập khẩu để giảm sức cạnh tranh của hàng hoá nhập khẩu với hàng hoá sản xuất trong nước. Tại mức giá thế giới Pw, khi không có thuế, nước này sẽ sản xuất ở mức So nhu cầu tiêu dùng ở mức Do, do vậy cần phải nhập khẩu một khối lượng là Do-So (hình a). Khi chính phủ đánh thuế nhập khẩu, giá hàng hoá trong nước sẽ tăng lên tới Pw(1+t), cầu tiêu dùng trong nước sẽ giảm xuống D1, sản xuất trong nước sẽ tăng lên S1 và khối lượng hàng nhập khẩu sẽ giảm xuống còn D1-S1. Như vậy là đánh thuế nhập khẩu giúp cho sản xuất trong nước tăng lên làm giảm lượng cầu về hàng hoá trên thị trường nội địa và tăng thu ngân sách nhà nước phân phối lại thu nhập từ những người tiêu dùng trong nước cho những người sản xuất trong nước (tức là chuyển một phần tiềm năng sản xuất hàng hoá có hiệu quả sang duy trì sản xuất một hàng hoá không hiệu quả). Thuế xuất khẩu: Khi đánh thuế xuất khẩu, giá cả trong nước sẽ thấp hơn giá cả quốc tế. Sản xuất trong nước sẽ giảm từ S0 xuống S1, tiêu dùng trong nước sẽ tăng từ Do lên D1, do vậy xuất khẩu sẽ giảm từ So-Do xuống còn S1-D1 (xem hình b). Thuế xuất khẩu đã làm giảm khả năng xuất khẩu của hàng hoá trong nước vì vậy mà hiện nay người ta ít áp dụng thuế xuất khẩu trừ một số trường hợp đánh vào các hàng hoá truyền thống nhằm thu được giá sao hơn và tăng lợi ích quốc gia. Sơ đồ: Tác động của thuế xuất nhập khẩu đến hoạt động xuất khẩu. P E PW(1+t) D1 So S1 S1 So Dd PW Sd Do D1 Hình a. Hình b. P Dd Sd PW PW(1+t) 0 D0 Q 0 Q 1.1.2.3 Chính sách phi thuế quan Sau chiến tranh thế giới thứ 2 vai trò của thuế quan đã bị suy giảm đặc biệt ở các nước công nghiệp, ngày nay mức thuế quan trung bình không quá 10% trên các hàng hoá công nghiệp, xu hướng ngày nay của các nước là chuyển từ hình thức thuế quan sang các hình thức phi thuế quan để bảo vệ sản xuất trong nước. Hạn ngạch là trở ngại phi thuế quan quan trọng nhất nó là hình thức hạn chế lượng trực tiếp đối với hàng hoá nhập khẩu hay xuất khẩu, nó ấn định mức nhập khẩu hay xuất khẩu cao nhất của một hàng hoá trong một thời kì nhất định thông thường qua hình thức cấp giấy phép xuất nhập khẩu. Trên thế giới quản lý bằng hạn ngạch thường chỉ đặt ra đối với hàng nhập khẩu, hạn ngạch nhập khẩu có thể mang tính chất chung nhằm quy định số lượng (hoặc giá trị) nhập khẩu đối với từng nước nhằm bảo vệ thị trường nội địa và cải thiện cán cân thanh toán hoặc là điều kiện để mặc cả trong các cuộc thương lượng buôn bán. Hạn ngạch nhập khẩu là một trong những biện pháp đầu tiên được đề cập đến trong các cuộc đàm phán thương mại, nhất là khi cần thiết phải có một quyết định nhanh chóng vẫn đảm bảo tính hiệu quả và việc vận dụng hạn ngạch nhập khẩu tương đối đơn giản và dễ dàng hơn vì những quy định khá rõ ràng về lượng hàng và thời gian. ở các nước phát triển hạn ngạch nhập khẩu là hình thức quan trọng nhất nhằm bảo vệ ngành công nghiệp của họ còn đối với các nước đang phát triển hạn ngạch nhập khẩu cũng có một vị trí quan trọng không kém nhằm thực hiện chiến lược thay thế hàng nhập khẩu và giải quyết các vấn đề về cán cân thanh toán. Cũng như thuế quan, hạn ngạch xuất khẩu ít được sử dụng hơn so với hạn ngạch nhập khẩu. Biện pháp này thường được áp dụng trong những trường hợp sau: Đối với những mặt hàng thiết yếu cần đảm bảo an toàn cho thị trường trong nước( chẳng hạn mặt hàng gạo đối với Việt Nam). Những mặt hàng xuất sang các thị trường mà ở đó có quy định hạn ngạch (như hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU và Canada) nhằm tránh tình trạng “cung vượt quá cầu” và bị ép giá. -Nhìn chung, hạn ngạch có một số tác động tương tự như thuế quan nhưng giữa chúng có một số điểm khác biệt, thể hiện: +Hạn ngạch cho biết trước số lượng hàng hoá xuất khẩu, còn thuế quan thì không. +Hạn ngạch không đem lại thu nhập cho chính phủ và không có tác dụng hỗ trợ các loại thuế khác. +Hạn ngạch có thể biến một doanh nghiệp trong nước trở thành nhà độc quyền (trong trường hợp chỉ có doanh nghiệp đó là người duy nhất nhận được hạn ngạch). Bên cạnh hạn ngạch nhập khẩu, ngày nay các quốc gia trên thế giới áp dụng một loạt các biện pháp hạn chế thương mại khác ngoài thuế quan gọi là hàng rào thương mại phi thuế quan(Nontariff trade bariers-NBT) .Thuộc NBT có rất nhiều hình thức hạn chế xuất nhập khẩu như: -Hạn chế xuất khẩu tình nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu mà ở đó một quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế bớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách “ tình nguyện” nếu không họ sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết -Những quy định về kỹ thuật, quản lý và các quy định khác là những quy định hoặc tập quán của các quốc gia làm cản sự lưu thông tự do hàng hoá, dịch vụ và các yếu tố sản xuất giữa các nước. -Những cartels quốc tế là một tổ chức của các nhà cung ứng về một hàng hoá nào đó, phân bố ở các quốc gia khác nhau (hay một nhóm khác chính phủ) đồng ý hạn chế sản xuất và xuất khẩu với mục đích cực đại hoá hay tăng lợi tức của tổ chức đó. - Bán phá giá (dumping) là xuất khẩu một hàng hoá nào đố thấp hơn giá nội địa làm chiếm lĩnh thị trường thế giới. Hai điều kiện để các nhà độc quyền bán phá giá là thị trường cạnh tranh không hoàn toàn và bị chia cắt. Thông thường bán phá giá chia làm ba loại: bền vững, chớp nhoáng và không thường xuyên. - Trợ cấp xuất khẩu là một hình thức khuyến khích xuất khẩu do các chính phủ tiến hành trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà xuất khẩu quốc gia hay những nhà xuất khẩu có năng lực. Bên cạch đó, chính phủ còn thực hiện một khoản cho vay ưu đãi đối với những bạn hàng nước ngoài để họ có điều kiện nhập khẩu các hàng hoá xuất khẩu từ quốc gia. Như vậy, trợ cấp xuất khẩu cũng có thể được coi như là một hình thức của bán phá giá. 1.1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. Đây là hình thức nhà nước đòi hỏi tất cả các khoản thu chi ngoại tệ phải được thực hiện qua hệ thống ngân hàng hoặc cơ quan quản lý ngoại hối. Trên cơ sở đó nhà nước có thể kiểm soát được các nghiệp vụ thanh toán ngoại tệ của các đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu để qua đó điều tiết hoạt động ngoại thương. Ví dụ nhà nước hạn chế việc rút ngoại tệ ở tài khoản để thanh toán hàng nhập khẩu với các mặt hàng hạn chế nhập khẩu và tạo điều kiện thanh toán nhanh, đơn giản các mặt hàng khuyến khích xuất khẩu. -Tỷ giá hối đoái danh nghĩa (The nominal exchange rate - NER):Tỷ giá hối đoái có thể định nghĩa theo nhiều cách. Cách định nghĩa đơn giản nhất, tỷ giá hối đoái danh nghĩa (NER) là giá đồng nội tệ của một đơn vị ngoại tệ. Cách định nghĩa khác, NER là tỷ lệ trao đổi tiền tệ hay tỷ lệ mà hai đồng tiền trao đổi với nhau. Một đồng tiền được coi là giảm (tăng) giá trị khi tăng (giảm) đơn vị nội tệ được mua bởi một đơn vị ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa có thể được xác định chính thức hoặc không chính thức. Do vậy, ở trên thị trường không được thừa nhận chính thức hoặc không có một thị trường tương tự. Điều này có nghĩa là tỷ giá hối đoái danh nghĩa không nhất thiết phải là duy nhất. Thông thường, có thể có hai tỷ giá danh nghĩa hoặc nhiều hơn cùng được xác định. -Tỷ giá hối đoái thực tế (The real exchange rate - RER): Tỷ giá hối đoái thực tế được sử dụng để đo tỷ lệ trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa nền kinh tế trong nước và nước ngoài. Nó được xác định bởi sự điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa theo giá trong nước và nước ngoài. RER = Ro(Pw/Pd) Trong đó: RER là tỷ giá hối đoái thực tế, Ro là tỷ giá hối đoái danh nghĩa, Pw là chỉ số giá quốc tế, Pd là chỉ số giá trong nước, hoặc chỉ số giá cả tiêu dùng. Khi tỷ giá thực tế tăng, đồng tiền nội tệ giảm giá, và khi tỷ giá thực tế giảm, đồng tiền nội tệ tăng giá. Tỷ giá hối đoái danh nghĩa giảm dẫn đến sự giảm giá đồng tiền nội tệ, nhưng nếu giá trong nước tăng nhanh hơn giá quốc tế, đồng tiền nội tệ sẽ tăng giá. Tỷ giá thực tế cũng có thể được áp dụng cho hàng hoá phi thương mại mà được đo bằng đơn vị của hàng hoá thương mại. Trong ngắn hạn, mối quan hệ giữa tỷ giá thực tế và lợi nhuận của khu vực xuất khẩu và nhập khẩu được giải thích bởi Montiel. Xem xét một nền kinh tế bao gồm 3 khu vực: xuất khẩu (X) , nhập khẩu (Z) và hàng hoá phi thương mại (N). Hoạt động sản xuất cần có lao động và vốn, nhưng trong ngắn hạn , vốn đã được xác định. Lợi nhuận cũng như mức sản lượng đầu ra tỷ lệ nghịch với chi phí sản phẩm trong từng khu vực. Theo Montiel, tỷ giá thực tế giảm làm giảm chi phí sản phẩm trong khu vực xuất khẩu, do vậy làm tăng lợi nhuận ngắn hạn của khu vực xuất khẩu và khuyến khích đầu tư phát triển sản xuất xuất khẩu. Hơn nữa, chi phí cận biên của khu vực này tăng, việc duy trì tỷ giá hối đoái thực tế giảm sẽ làm tăng đầu tư và do vậy mở rộng quy mô sản xuất xuất khẩu trong dài hạn (độ co giãn xuất khẩu trong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn, do vậy cần thiết phải mở rộng quy mô khu vực xuất khẩu). Tỷ giá hối đoái được coi là một công cụ tác động tới thương mại quốc tế, mà trước hết là tác động tới xuất nhập khẩu, trong hai trường hợp: nâng giá hoặc giảm đồng nội tệ. 1.1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán Cán cân thương mại: Cán cân kim ngạch xuất nhập khẩu vừa phản ánh “độ mở” của nền kinh tế sự tiến triển của quốc tế công nghiệp hoá, vừa phản ánh “thể trạng sức khoẻ của nền kinh tế” quốc gia. Tuy nhiên vấn đề không chỉ đơn thuần là xuất siêu hay nhập siêu mà là những mục tiêu phát triển dài hạn. Ví dụ như Hàn Quốc, Đài Loan những năm 60, Trung Quốc thập kỷ 80 - khi mà các nước này mới bắt đầu tiến hành công nghiệp hoá đều ở trong tình trạng nhập siêu nhưng chỉ ít năm sau trên cơ sở nhập siêu trong trạng thái “nóng” của nền kinh tế nên các nước này đã cân bằng được xuất nhập và chuyển sang xuất siêu (Hàn quốc, Đài Loan đầu thập kỷ 70 Trung quốc đầu thập kỷ 90). Rõ ràng chấp nhận nhập siêu trong tương lai là phương hướng chiến lược và là vấn đề phương pháp luận của việc sử lý cán cân thương mại của nước ta hiện nay. Cố nhiên để thực hiện được phương hướng đó thì phải có điều kiện và những biện pháp đồng bộ. Cán cân thanh toán quốc tế: Cán cân thanh toán là một bản trình bày ngắn gọn các nguyên tắc, những giao dịch của dân cư một quốc gia với một quốc gia khác trong một thời kì nhất định thường là một năm. Hay cán cân thanh toán quốc tế là một bản kết toán tổng hợp toàn bộ các luồng hàng hoá, dịch vụ, vốn giữa các quốc gia và các nước khác trên thế giới. Cán cân thanh toán phản ánh vị trí của quốc gia trên thế giới. Tài liệu cán cân thanh toán biểu hiện một cách chính xác, rõ ràng về tài chính, tiền tệ và chính sách thương mại của quốc gia. Đồng thời thông qua nguồn tài liệu của cán cân thanh toán giúp chính phủ đề ra những chính sách kinh tế, đối ngoại phù hợp. Ngoài ra cácn cân thanh toán cần thiết cho ngân hàng. Công ty, cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế trong qua trình kinh doanh của mình. Tuy vậy là một bảng ngắn gọn nên cán cân thanh toán tập hợp tất cả các hình thức thương mại hàng hoá vào một vài khoản mục chính. Có nghĩa là cán cân thanh toán không chia thương mại quốc tế thành những tiêu thức nhỏ cũng như vậy tất cả các luồng vốn vào ra của một quốc gia cũng chỉ được phản ánh trong một khoản mục của cán cân thanh toán. Cán cân thanh toán giúp đánh giá được luồng ngoại tệ ra hoặc vào của một quốc gia với các quốc gia khác trên giới. Cho chúng ta thấy được mối quan hệ về kinh tế giữa hai hay nhiều quốc gia. Cán cân thanh toán quốc tế bao gồm: - Cán cân thanh toán vãng lai (trao đổi hàng hoá về dịch vụ) ghi chép các luồng buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như các khoản thu nhập ròng khác từ nước ngoài. - Cán cân vốn (trao đổi vốn) ghi chép các giao dịch, trong đó tư nhân hoặc chính phủ cho vay và đi vay và phần lớn thực hiện dưới dạng mua hay bán tài sản – tài sản tài chính hoặc tài sản thực. Tổng hợp các cán cân thanh toán vãng lai và cán cân vốn là cán cân thành toán quốc tế. Khi dòng ngoại tệ ra lớn hơn dòng vào gọi là thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế. Trong trường hợp ngược lại gọi đó là thặng dư cán cân thanh toán. Cán cân vãng lai là tổng hợp các giao dịch về hàng hoá và dịch vụ được thực hiện giữa nước ta với nước ngoài, bao gồm tất cả các hoạt động xuất nhập khẩu chênh lệch xuất nhập khẩu chỉ là một thành phần của cán cân vãng lai nhưng là phần quan trọng nhất. Hiện nay tất cả các nước, các tổ chức quốc tế đều chú trọng biến động của cán cân thanh toán vãng lai. 1.2 Lộ trình hội nhập AFTA và những yêu cầu hoàn thiện chính sách thương mại XNK của nước ta. 1.2.1 Khái quát về ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA. 1.2.1.1 Khái quát về ASEAN. * Lịch sử hình thành và phát triển. - Ngày 8 tháng 8 năm 1967 tại Băng Cốc. Bộ trưởng ngoại giao nước Inđônêsia, Malaysia, Philipines và Thái Lan đã ký bản tuyên bố thành lập ASEAN (hay còn gọi là tuyên bố Băng Cốc) chính thức thành lập hiệp hội các quốc gia Đông ._.Nam á gọi tắt là ASEAN. Tháng 1 năm 1984 ASEAN kết nạp thêm Brunei Darusalam, tháng 7 năm 1995 Việt Nam trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN. Đến nay Lào, Camphuchia và Myanmar đều đã được công nhận là thành viên chính thức của ASEAN. * Tôn chỉ mục đích và nguyên tắc hoạt động. - Tuyên bố thành lập ASEAN năm 1967 đã nêu rõ 7 mục tiêu thành lập hiệp hội, nhưng tựu trung lại có 3 mục tiêu cơ bản sau đây: + Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hoá trong khu vực thông qua các chương trình hợp tác. + Bảo vệ ổn định chính trị và kinh tế trong khu vực, chống lại sự thù địch của các thế lực bên ngoài. + Diễn đàn giải quyết những tranh chấp và xung đột trong khu vực - Hiệp ước thân thiện hợp tác và hợp tác Đông Nam á ký tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ nhất tại Bali (Inđônêsia) năm 1976 đã nêu rõ sáu nguyên tắc cơ bản điều chỉnh các quan hệ giữa các thành viên và giữa ASEAN với các tổ chức bên ngoài như sau: + Cũng tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc dân tộc của tất cả các quốc gia. + Quyền của các quốc gia tồn tại và không có can thiệp, lật đổ hoặc áp bức của bên ngoài. + Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. + Giải quyết bất đồng hoặc tranh chấp bằng biện pháp hoà bình. + Không sử dụng vũ lực hoặc đe doạ sử dụng vũ lực. + Hợp tác với nhau một cách có hiệu quả. - Hiệp định khung về tăng cường hợp tác kinh tế của ASEAN được ký kết tại hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư tại Singapore năm 1992 đã bổ xung thêm ba nguyên tắc cơ bản về hợp tác kinh tế xã hội: + Các quốc gia thành viên sẽ tăng cường nỗ lực hợp tác kinh tế với quan điểm hướng ngoại sao cho sự hợp tác đó đóng góp vào việc thúc đẩy tự do hoá thương mại toàn cầu. + Các quốc gia thành viên sẽ tuân thủ nguyên tắc cùng có lợi trong việc thực hiện các biện pháp hoặc sáng kiến nhằm tăng cường hợp tác ASEAN. + Tất cả các quốc gia thành viên sẽ tham gia vào các thoả thuận kinh tế trong ASEAN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện các thỏa thuận nếu các quốc gia thành viên khác chưa sẵn sàng. - Trong hoạt động của ASEAN còn có hai nguyên tắc quan trọng là: + Nguyên tắc nhất trí (Consensus) nghĩa là mọi quyết định về các vấn đề quan trọng chỉ được coi là của ASEAN khi được tất cả các nước thành viên nhất trí thông qua. + Nguyên tắc bình đẳng nghĩa là: Thứ nhất, các nước ASEAN không kể lớn hay nhỏ, giàu hay nghèo đều bình đẳng với nhau trong nghĩa vụ đóng góp cũng như chia sẻ quyền lực, Thứ hai hoạt động của tổ chức ASEAN được duy trì trên cơ sở luân phiên giữa các nước chủ toạ các hội nghị và địa điểm họp theo vần A, B, C của tiếng anh. - Tuy nhiên ngoài ra, còn có một số nguyên tắc không có trong các văn bản, những cũng đã và đang được hình thành trên thực tế như nguyên tắc có đi có lại, không đối đầu, thân thiện, không tuyên truyền đề cao nhau trên các phương diện thông tin đại chúng, giữ gìn đoàn kết và bản sắc ASEAN. * Mục tiêu cơ bản của hợp tác kinh tế ASEAN là: nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xoá bỏ nghèo đói, bệnh tật, mù chữ và cải thiện đời sống của nhân dân làm nền tảng xây dựng một khu vực hoà bình, thịnh vượng và công bằng xã hội. Hội nghị thượng đỉnh lần thứ 4 tại Singapore năm 1992 đã xác định những mục tiêu và nội dung hợp tác kinh tế ASEAN trong thập kỷ 90 như sau: - Thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). - Tăng cường đầu tư, liên kết và bổ xung công nghiệp thông qua việc áp dụng các biện pháp và hình thức hợp tác mới. - Củng cố và phát triển hơn nữa sự hợp tác trong các lĩnh vực thị trường vốn tạo điều kiện dễ dàng cho chu chuyển tự do vốn và các nguồn tài chính khác. - Phát triển mạng lưới hạ tầng cơ sở vận tải và thông tin an toàn kể cả hệ thống viễn thông và bưu chính: phát triển hợp tác du lịch, năng lượng. - Thúc đẩy buôn bán các sản phẩm nông nghiệp; - Phát triển hợp tác tiểu vùng giữa các quốc gia ASEAN, giữa ASEAN và các nước ngoài ASEAN cũng như các tổ chức khu vực và quốc tế khác; - Đẩy mạnh hợp tác giữa các khu vực tư nhân. Việc phát triển quan hệ với các nước khác trong vùng Đông Nam á đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của ASEAN. Tháng 7 năm 1995 ASEAN kết nạp Việt Nam làm thành viên thứ 7 của khối. Campuchia, Lào, Myanma đã trở thành quan sát viên của ASEAN. Cả ba nước này đã ký hiệp ước thân thiện và hợp tác Đông Nam á. Sau gần 30 năm hình thành và phát triển, với sức mạnh kinh tế tiếp tục gia tăng và vai trò nòng cốt của các diễn đàn an ninh, chính trị, kinh tế của khu vực Đông Nam á nói riêng và Châu á - Thái bình dương nói chung, ASEAN đã và đang trở thành một tổ chức khu vực có ảnh hưởng trên bản đồ chính trị và kinh tế thế giới. Tuy về mặt hội nhập kinh tế khu vực, ASEAN mới chỉ bắt đầu những bước đi đầu tiên. Cho dù đến nay khi mà việc thiết lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) được hoàn tất thì khu vực mậu dịch tự do đó mới chỉ hạn chế chủ yếu trong lĩnh vực hàng công nghiệp và chế biến chứ chưa bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ. Con đường tiến tới một Liên minh kinh tế khu vực ASEAN còn dài và có nhiều khó khăn do trình độ phát triển của các quốc gia trong khu vực còn thấp và rất chênh lệch nhau: do còn có sự khác biệt giữa các quốc gia và dân tộc, tôn giáo, hệ tư tưởng… song những thành công ban đầu của hợp tác khu vực và của khu mậu dịch tự do ASEAN là rõ ràng: tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước ASEAN vào hàng cao nhất thế giới: các vấn đề xã hội, môi trường… được chú ý giải quyết đã làm tăng tính bền vững của tăng trưởng; độ tin cậy và hiểu biết lẫn nhau tăng lên, đảm bảo tốt hơn cho sự ổn định của khu vực; tín nhiệm và ảnh hưởng của ASEAN trên trường quốc tế ngày càng tăng… Có thể có cơ sở để tin rằng trong thời gian tới, với phạm vi được mở rộng bao gồm tất cả 10 nước Đông Nam á và với tốc độ tăng trưởng kinh tế tiếp tục ở mức cao, ASEAN sẽ phát triển thành một cực trong thế giới đa cực, đa trung tâm đang hình thành. 1.2.1.2 Quá trình thành lập và các quy định chung về AFTA. a. Quá trình thành lập và hoạt động của AFTA. Vào đầu những năm 1990, môi trường chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực đã có những thay đổi quan trọng do chiến tranh lạnh kết thúc. ở kỷ nguyên hậu chiến tranh lạnh này, vị trí của ASEAN trong chiến lược khu vực và quốc tế của các cường quốc đã bị hạ thấp. Điều này có nghĩa là Hoa Kỳ, Trung quốc, Nga sẽ giảm bớt cam kết an ninh và giúp về kinh tế cho ASEAN. Chính sách mới của các cường quốc và những biến đổi trên bán đảo Đông Dương đã đưa lại cho các nước ASEAN những cơ hội và thách thức mới. ở thời kỳ hậu chiến tranh lạnh kinh tế các nước ASEAN đứng trước những thách thức lớn lao khiến cho các nước ASEAN không dễ vượt qua nếu không có sự cố gắng chung của toàn hiệp Hội. Sự xuất hiện của các tổ chức hợp tác khu vực như EU, NAFTA có thể là những trở ngại cho sự thâm nhập của các hàng hoá ASEAN. Mặc dù kinh tế ASEAN đã tăng trưởng với nhịp độ cao nhưng nền kinh tế của các nước này vẫn phụ thuộc nặng nề vào nguồn vốn bên ngoài. Vào những năm cuối thập niên 80, ASEAN là địa bàn hấp dẫn nhất Châu á đối với các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư Nhật bản và các nền kinh tế mới công nghiệp hoá (NIES) ở Đông Bắc á. Vào những năm 1990, với chính sách mở cửa và ưu đãi lớn đối với các nhà đầu tư ngoại quốc, với lợi thế so sánh về tài nguyên thiên nhiên và nguồn nhân lực, Trung quốc ở Châu á, Nga và các nước Đông âu ở Châu âu đã trở thành những thị trường đầu tư hấp dẫn hơn nếu so sánh với ASEAN. Nhằm đối phó với những thách thức trên, các nước ASEAN đã quyết định đã hợp tác kinh tế của ASEAN lên một trình độ mới. Hội nghị thượng đỉnh ASEAN họp tại Singapo năm 1992 đã quyết định thành lập một khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) theo sáng kiến của Thái Lan. Vào tháng giêng năm 1992, Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) ra đời. Những mục tiêu kinh tế trực tiếp của AFTA là: * Tự do hoá thương mại ASEAN thông qua việc loại bỏ các hàng rào thuế quan trong nội bộ khu vực và sau đó là các hàng rào phi thuế quan. * Thu hút các nhà đầu tư nước ngoài vào khu vực bằng việc đưa ra một khối thị trường thống nhất. * Tạo điều kiện để ASEAN thích nghi với những điều kiện kinh tế quốc tế đang thay đổi, đặc biệt là việc phát triển các thoả thuận thương mại khu vực (RTA) trên thế giới. Trong ba mục tiêu trên, mục tiêu đầu tiên không phải là mục tiêu quan trọng nhất của AFTA bởi vì thị trường của ASEAN không lớn vì nguồn cung các sản phẩm chế tạo nằm ngoài khu vực. Hơn nữa, mặc dù có tốc độ tăng trưởng cao, song phần lớn các nước trong khu vực vẫn là các nước đang phát triển cho nên vẫn phụ thuộc nhiều vào đầu tư, công nghệ, bí quyết quản lý của nước ngoài. Mục tiêu thu hút đầu tư nước ngoài là mục tiêu trung tâm của AFTA. Điều này chủ yếu là do áp lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài của các nước. Khi AFTA trở thành một cơ sở sản xuất thống nhất, quá trình chuyên môn hoá sản xuất nội bộ khu vực và khai thác các thế mạnh của các nền kinh tế khác nhau trở nên hợp lý hơn. Mục tiêu thứ ba của gắn với các yếu tố không thuận lợi của môi trường thương mại. Các nước phát triển trên thế giới thiên về phát triển các thoả thuận thương mại khu vực để bảo hộ thị trường đối với các sản phẩm của các nước Đông á. Sự ra đời của AFTA đáp lại khuynh hướng tăng lên của chủ nghĩa khu vực trên thế giới. Theo xu hướng mở rộng liên kết giữa các nước, đặc biệt là sức ép của các tổ chức thương mại khác như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á - Thái Bình Dương (APEC) đã đẩy nhanh tốc độ thực hiện của AFTA và chắc chắc sẽ đưa AFTA tiến tới cấp độ liên kết kinh tế quốc tế cao hơn theo đúng quy luật vận động kinh tế quốc tế. b. Các quy định chung về AFTA. Khu vực mậu dịch tự do AFTA được hình thành thông qua các yếu tố sau đây: * Chương trình ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT - The Common Effective Preferential Tariff). * Thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hoá giữa các nước thành viên. * Công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất hàng hoá của nhau. * Xoá bỏ những quy định hạn chế đối với ngoại thương. * Hoạt động tư vấn kinh tế vĩ mô. Để thực hiện thành công Khu vực mậu dịch tự do AFTA, Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế các nước ASEAN (AEM) đã quyết định ký chương trình thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) vào năm 1992. Trong một thời kỳ 15 năm kể từ 1/1/1993, thuế xuất - nhập khẩu giữa các nước trong khu vực đã được giảm xuống còn 0-5% và các hàng rào phi thuế quan đã được loại bỏ đối với một diện rộng các sản phẩm chế tạo. Vào năm 1994, ASEAN đã quyết định đẩy nhanh kế hoạch cắt giảm thuế quan này ở mức 0-5% vào năm 2003. Như vậy, công cụ chính để thực hiện AFTA là cắt giảm thuế quan trong thương mại nội bộ khu vực xuống còn 0-5%. Gắn với việc cắt giảm thuế quan, việc loại bỏ các hàng rào thương mại và việc hợp tác trong lĩnh vực hải quan cũng đóng vai trò quan trọng khí xây dựng một khu vực mậu dịch tự do. Điểm cần lưu ý ở đây là AFTA không phải là một liên minh hải quan, vì vậy từng nước trong khu vực vẫn có quyền tự do thực hiện chính sách thuế của mình đối với phần còn lại của thế giới. Nội dung chính của việc thành lập AFTA bao gồm các vấn đề sau: Vấn đề về thuế quan. Có thể nói rằng hiệp định CEPT-AFTA áp dụng với hầu hết các sản phẩm, kể cả sản phẩm nông sản chưa qua chế biến, ngoại trừ các sản phẩm được các nước đưa vào danh mục loại trừ hoàn toàn theo Điều 9 của Hiệp định (Hiệp định CEPT ban đầu loại trừ sản phẩm nông sản chưa chế biến ra khỏi Chương trình CEPT). Hiệp định sửa đổi năm 1994 đã quyết định đưa loại sản phẩm này vào Chương trình CEPT). Một trong các nội dung cơ bản của Chương trình CEPT là các nước thành viên đưa ra các danh mục các sản phẩm và tiến trình giảm thuế quan theo kế hoạch của CEPT. Các danh mục này bao gồm: - Danh mục các sản phẩm giảm thuế ngay - Danh mục các sản phẩm tạm thời chưa giảm thuế - Danh mục loại trừ hoàn toàn - Danh mục sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm Cơ chế trao đổi nhượng bộ của CEPT. Những nhượng bộ khi thực hiện CEPT của các quốc gia được trao đổi trên nguyên tắc có đi có lại. Muốn được hưởng nhượng bộ về thuế quan khi xuất khẩu hàng hoá trong khối, một sản phẩm cần có đủ 3 điều kiện sau: Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục cắt giảm thuế của cả nước xuất khẩu và nước nhập khẩu; và phải có mức thuế quan (nhập khẩu) bằng hoặc thấp hơn 20%. Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua. Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức phải thoả mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN ( hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%. Vấn đề loại bỏ các hạn chế định lượng và các rào cản phi thuế quan khác. Bên cạnh việc giảm thuế quan, các nước ASEAN còn cần tiến hành dần loại bỏ các hạn chế định lượng và các hàng rào phi thuế quan khác. Việc loại bỏ các hạn chế định lượng, phụ thu ... có thể được tiến hành tương đối đơn giản vì chúng được xác định một cách rõ ràng. Tuy nhiên, một số rào cản khác như tiêu chuẩn chất lượng hàng hoá lại khó có thể bị loại bỏ vì chúng liên quan đến các vấn đề an ninh, sức khoẻ, môi trường ....Vì vậy, Hiệp định CEPT đã quy định việc loại bỏ các rào cản phi thuế quan như sau: -Các nước thành viên sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về số lượng đối với các sản phẩm trong CEPT trên cơ sở hưởng ưu đãi áp dụng cho sản phẩm đó. -Các hàng rào phi thuế quan khác sẽ được xoá bỏ dần dần trong vòng 5 năm sau khi sản phẩm được hưởng ưu đãi. -Các hạn chế ngoại hối các nước đang áp dụng sẽ được ưu tiên đặc biệt đối với các sản phẩm thuộc CEPT. -Tiến tới thống nhất các tiêu chuẩn chất lượng, công khai chính sách và thừa nhập các chứng nhận chất lượng của nhau. -Trong trường hợp khẩn cấp (số lượng hàng nhập khẩu gia tăng đột ngột gây phương hại đến sản xuất trong nước hoặc đe doạ cán cân thanh toán), các nước có thể áp dụng các biện pháp phòng ngừa để hạn chế hoặc dừng việc nhập khẩu. 1.2.1.3 Cơ cấu tổ chức của AFTA. Để phối hợp và đánh giá việc thực hiện Hiệp định CEPT, Hội nghị thượng đỉnh ASEAN lần thứ tư đã quyết định thành lập hội đồng AFTA (AFTA Council). Hội đồng là một cơ quan bao gồm đại diện là các bộ trưởng từ các nước thành viên và tổng thư ký ASEAN. Hội đồng nhóm họp khi cần thiết nhưng ít nhất một năm một lần. Hội đồng có trách nhiệm báo cáo lên Hội nghị các Bộ trưởng kinh tế ASEAN (AEM). Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN (SEOM) có nghĩa vụ giúp Hội đồng thực hiện nhiệm vụ này. SEOM họp thường kỳ hàng quý để phối hợp thực hiện Hiệp định CEPT tại mỗi nước thành viên. Dưới SEOM là nhóm công tác lâm thời về CEPT để thực hiện AFTA (ITƯG). Nhóm công tác này đã được Hội nghị Hội đồng AFTA lần thứ 8 tại Băng Cốc đổi lại thành Uỷ ban điêù phối CEPT để thực hiện AFTA (CCCA). Thành viên của Uỷ ban này gồm đại diện từ các cơ quan Chính phủ khác nhau liên quan trực tiếp đến việc thực hiện Hiệp định CEPT. Ban thư ký ASEAN có chức năng hỗ trợ cho Hội đồng AFTA, SEOM và CCCA trong việc thực hiện Hiệp định CEPT. Để thực hiện chức năng này, Ban thư ký ASEAN giám sát tiến trình và ảnh hưởng của việc thực hiện Chương trình CEPT. Mặt khác, Ban thư ký ASEAN cũng làm nhiệm vụ tập hợp tất cả các tài liệu liên quan đến việc thực hiện Chương trình CEPT. Khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia vào thực hiện CEPT/AFTA thông qua Phòng thương mại và Công nghiệp ASEAN (ASEAN - CCI). Hội nghị các Bộ trưởng Kinh tế ASEAN (AEM) lần thứ 26 đã quyết định thành lập Vụ AFTA tại Ban thư ký ASEAN và các Cơ quan AFTA Quốc gia tại các nước thành viên nhằm tạo ra một mô hình tổ chức, kênh liên lạc nối Ban thư ký ASEAN và các nước thành viên, giữa các nước thành viên với nhau đảm bảo chương trình CEPT thực hiện được thuận tiện. Cơ cấu tổ chức bộ máy Khu mậu dịch tự do AFTA được trình bày ở sơ đồ sau. Hội nghị Bộ trưởng Kinh tế các nước ASEAN (AEM) Hội đồng AFTA (AFTA Council) Hội nghị các quan chức cấp cao ASEAN (SEOM) Uỷ ban điều phối CEPT để thực hiện AFTA (CCCA) Ban thư ký ASEAN (ASEAN Secretariat) Phòng thương mại và công nghiệp ASEAN (ASEAN - CCI) 1.2.2 Lộ trình tham gia của Việt Nam vào ASEAN-AFTA. Trong điều kiện của Việt Nam, lộ trình tham gia vào ASEAN cần được cụ thể hoá thành những bước đi cụ thể và thành những nhiệm vụ trong từng giai đoạn nhất định. Các bước tham gia vào ASEAN của Việt Nam là: Đánh giá lại những lợi thế của Việt Nam trong quá trình tham gia vào khu vực mậu dịch tự do AFTA. Việt nam nên chú trọng khai thác lợi thế so sánh tĩnh thông qua chính sách khai thác nguồn lao động rẻ, nguồn tài nguyên rừng, biển, khoáng sản và xuất nhập khẩu sản phẩm chế biến ở trình độ thấp. Lựa chọn cơ cấu mặt hàng tham gia vào thương mại khu vực thích hợp trong từng thời kỳ. Cơ cấu mặt hàng tham gia của Việt Nam vào AFTA cần được cân nhắc cả trước mắt và lâu dài theo chương trình cắt giảm thuế quan có hiêụ lực chung, tuy nhiên việc cắt giảm mặt hàng nào vào năm nào cần được xem xét cụ thể để tránh gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và tiêu dùng trong nước. Cải cách hệ thống thuế xuất nhập khẩu là cơ sở để điều chỉnh trực tiếp các quan hệ thương mại giưã các nước và thực thi chính sách liên kết kinh tế trên thực tế. Việc cải cách hệ thống thuế là “hòn đá tảng” của việc thực hiện các quan hệ khác. Cải cách hệ thống doanh nghiệp để phát huy hiệu quả của chúng trong quá trình tham gia liên kết. Việc cải cách hệ thống doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế là cơ sở để nâng cao hiệu quả cạnh tranh của các doanh nghiệp trong quá trình tham gia vào khu vực mậu dịch tự do AFTA. Các doanh nghiệp cần phải được sắp xếp, phân loại hoặc cho sát nhập, phá sản theo cách thích thích hợp để chúng có thể phát huy được tác dụng trong quá trình liên kết. Các chính sách của Nhà nước nên tạo ra môi trường hoạt động cho các doanh nghiệp một cách bình đẳng bao gồm chính sách giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế, các chính sách áp dụng cho các ngành, các chính sách áp dụng cho các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài và các chính sách trước mắt và lâu dài cũng như các chính sách của Nhà nước và các địa phương. Sự phát triển ổn định của khu vực doanh nghiệp là cơ sở kinh tế bên trong đối với quá trình cạnh tranh quốc tế khu vực. Đối với các doanh nghiệp nhà nước, qúa trình cổ phần hoá cần được coi trọng để gia tăng hiệu quả hoạt động của chúng trong cơ chế cạnh tranh với các doanh nghiệp trong các nước AFTA. Đối với các doanh nghiệp tư nhân, để có thể hoạt động có hiệu quả vấn đề là phải chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh của chúng theo định hướng phát triển chung cần có biện pháp để loại bỏ dần tình trạng các doanh nghiệp tư nhân kinh doanh không đúng pháp luật, buôn lậu, trốn thuế. Lộ trình tham gia của Việt Nam vào AFTA được minh hoạ ở sơ đồ: Sơ đồ lộ trình tham gia của Việt Nam vào AFTA. Đánh giá lại lợi thế của Việt Nam Lựa chọn cơ cấu mặt hàng tham gia hợp lý Cải cách hệ thống thuế xuất nhập khẩu Sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp 1.2.3 Những yêu cầu và nguyên tắc quản lí nhà nước đối với CSTM xuất nhập khẩu của nước ta trong lộ trình thực hiện AFTA. 1.2.3.1 Những yêu cầu đối với CSTM xuất nhập khẩu của nước ta . - CSTM XNK phải quán triệt đầy đủ và đúng đắn quan điểm và đường lối đối ngoại của Đảng nhà nước. - Xây dựng chính sách thương mại mở cửa nhưng phải góp phần bảo vệ sản xuất trong nước tăng cường khả năng cạnh tranh của hàng nội địa và quốc tế . - Chính sách thương mại xuất nhập khẩu được xây dựng phải phù hợp với lộ trình tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.Trong quá trình xây dựng và thực thi CSTM XNK cần nghiên cứu kinh nghiệm của các nước và rút kinh nghiệm các thời kì trước để đảm bảo đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới . - Chính sách thương mại XK phải đảm bảo không kiềm chế các hoạt động thương mại của quốc gia và đảm bảo góp phần tạo ra một cơ cấu xuất khẩu dài hạn, hợp lí đồng thời cải tiến được cơ cấu xuất khẩu hiện tại. Đảm bảo nhanh chóng tạo ra những mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mũi nhọn để thay đổi cán cân thương mại và tạo thế vững chắc cho hàng hoá Việt nam trên thị trường quốc tế. - Cần thường xuyên đánh giá lại các chính sách thương mại để sửa đổi bổ xung và hoàn thiện cho phù hợp với tình hình thức tiễn. 1.2.3.2 Nguyên tắc quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu Trong quá trình nhà nước quản lí hoạt động XNK thì cần phải tuân thủ những nguyên tắc sau: -Thống nhất hoạt động quản lí ngoại thương có chính sách mở rộng giao lưu hàng hoá và tôn trọng chủ quyền quốc gia. - Quản lí thương mại quốc tế theo hướng đa phương hoá đa dạng hoá. - Khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia sản xuất hàng xuất khẩu và xuất khẩu theo quy định của pháp luật. - Có chính sách ưu đãi trong đẩy mạnh xuất khẩu, tạo ra mặt hàng xuất khẩu có sức cạnh tranh cao (đặc biệt là trong xuất khẩu dịch vụ). - Hạn chế nhập khẩu những mặt hàng trong nước đã sản xuất được và bảo hộ hợp lí sản suất trong nước. - Tuân thủ luật pháp và những chính sách liên quan về sản xuất, lưu thông, quản lí phân phối . - Tôn trọng các cam kết với nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế - Đảm bảo quyền tự chủ kinh doanh của các doanh nghiệp - Nhà nước có những khuyến khích và hỗ trợ với việc phát triển và mở rộng thị trường cho các doanh nghiệp. - Nhà nước quy định Bộ thương mai là cơ quan thực hiện chức năng quản lí nhà nước về hoạt động XK và Bộ thương mại thực thi các nhiệm vụ sau : + Nghiên cứu xây dựng chiến lược ngoại thương để có đối sách cho từng khu vực thị trường, mặt hàng xuất khẩu. + Đây là nơi kiểm tra việc chấp hành luật pháp trong hoạt động xuất nhập khẩu. - Các bộ, các UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có trách nhiệm phối hợp với Bộ thương mại thực hiện các nhiệm vụ sau: + Hướng đẫn và chỉ đạo thực hiện chính sách và quy định của nhà nước về hướng dẫn XNK trong phạm vi địa phương. + Các bộ, các địa phương, các ngành phải phối hợp kiến nghị điều chỉnh các chính sách, biện pháp quản lí hoạt động xuất nhập khẩu. 1.3 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả triển khai chính sách thương mại XNK dưới tác động của hội nhập. 1.3.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK. Ngày nay việc đảm bảo không ngừng nâng cao hiệu quả kinh tế là mối quan tâm hàng đầu của bất kì nền kinh tế nào nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng. Hiệu quả kinh tế chủ yếu được thẩm định bởi thị trường, là tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương hướng hoạt động XNK. Nhưng hiệu quả là gì ? Như thế nào là có hiệu quả ?... Thật khó mà đánh giá mức độ hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK hay của doanh nghiệp XNK khi mà bản thân phạm trù này chưa chưa được định rõ bản chất và những biểu hiện của nó.Vì vậy mà hiểu đúng bản chất hiệu quả kinh tế ngoại thương cũng như đảm bảo hiệu quả kinh tế của mỗi thời kì là vấn đề có ý nghĩa thiết thực không những về mặt lí luận - thống nhất quan niệm về bản chất của hiệu quả kinh tế ngoại thương– mà còn cẩn thiết cho hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này. Hiểu đúng bản chất hiệu qủa kinh tế ngoại thương là cơ sở để xác định các tiêu chuẩn và các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế ngoại thương, xác định đòi hỏi với việc đề ra mục tiêu và biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế ngoại thương. Trước tiên chúng ta cần phân định rõ sự khác nhau và mối quan hệ giữa “kết quả” và “hiệu quả”. Mỗi hành động của con người nói chung và trong sản xuất, kinh doanh thương mại, dịch vụ nói riêng là phấn đấu đạt hiệu quả, nhưng không phải hiệu quả bất kì mà phải là kết quả có mục tiêu và lợi ích cụ thể nào đó. nhưng kết qua có được ở mức độ nào, với giá nào chính là vấn đề cần xem xét vì nó là chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả. Vì vậy, đánh giá hoạt động XNK không chỉ là đánh giá kết quả, mà còn là đánh giá chất lượng của hoạt động để tạo ra kết quả đó. Vấn đề ở đây không phải chỉ là chúng ta đã đạt được kim ngạch xuất khẩu bao nhiêu tỷ đồng hàng hoá và dịch vụ, mà còn là với chi phí bao nhiêu để có được kim ngạch xuất khẩu như vậy. Mục đích hay bản chất của hoạt động kinh tế là với chi phí nhất định có thể tạo ra được nhiều sản phẩm nhất. Chính mục đích đó nảy sinh vấn đề phải xem xét lựa chọn cách nào để đạt được kết quả lớn nhất. Cho nên, lầm lẫn giữa kết quả và hiệu quả là không thấy hết xuất xứ của phạm trù, của yêu cầu tiết kiệm. Từ cách nhìn nhận trên cho ta thấy các chỉ tiêu lượng hàng hoá xuất nhập khẩu thức hiện... là những chỉ tiêu thể hiện kết quả của hoạt động buôn bán, chứ không thể coi là hiệu quả kinh tế của hoạt động ngoại thương được, nó chưa thể hiện kết quả đó được tạo ra với chi phí nào. Kết quả đầu ra Hiệu quả KT XNK = Chi phí đầu vào Ta có công thức: Nếu chỉ dừng lại ở đây thì còn rất trừu tượng và chưa chính xác. Điều cốt lõi là chi phí gì, bao nhiêu và kết quả được thể hiện như thế nào bởi thực tế đang tồn tại nhiều loại chi phí như chi phí sản xuất cá biệt và chi phí lao động xã hội, chi phí trong nước và chi phí quốc tế. Và cũng có nhiều hình thức biểu hiện kết quả như lượng hàng hoá xuất khẩu, kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu, tăng thu nhập quốc dân, lợi nhuận, mức đóng góp vào ngân sách nhà nước ... XNK là một hình thức để một nước tham gia vào phân công lao động quốc tế. Khi sản xuất các hàng hoá xuất khẩu các nước bỏ ra những chi phí nhất định. Các hàng hoá xuất khẩu này không tham gia vào lưu thông trong nước mà đưa ra ngoài biên giới quốc gia. Các nước thu được một lượng ngoại tệ nhất định do việc xuất khẩu hàng hoá đó. Các tỉ lệ trao đổi được hình thành trên cơ sở giá cả quốc tế, khác vưới giá cả trong nội bộ một nước. Sản phẩm nhập khẩu tham gia vào lưu thông hàng hoá trong nước và tham gia vào quá trình tái sản xuất xã hội, thực tế không được sản xuất ở nước đó. Sản phẩm nhập khẩu dường như là hình thức thay đổi của sản phẩm xuất khẩu nhưng về khối lượng chúng không bằng nhau. Các tỉ lệ trao đổi của giá cả quốc tế ảnh hưởng đến tương quan về khối lượng đó. Kết quả tài chính thể hiện bằng tiền là biểu hiện bên ngoài của kết quả vật chất của lưu thông hàng hoá đối ngoại. Và qua đòn bẩy giá cả, nó phân phối lại theo những tỉ lệ nhất định giữa người sản xuất, tiêu thụ, cũng như giữa các tổ chức XNK. Những hình thức biểu hiện kết quả cụ thể đó không thể trả lời được rằng kết quả vật chất đó xuất hiện ở đâu và giai đoạn nào của sản xuất kinh doanh. Để trả lời câu hỏi này chúng ta sẽ nghiên cứu cơ chế xuất hiện hiệu quả kinh tế XNK. Theo cơ chế này bất kì nước nào khi tham gia phân công lao động quốc tế, có thể phát triển sản xuất hàng hoá với chi phí thấp để đáp ứng nhu cầu của bản thân và để xuất khẩu. Đồng thời nước đó có thể nhập khẩu những sản phẩm mà nước đó cần thiết mà chi phí thấp hơn sản xuất trong nước. Kết quả là các chi phí chung để sản xuất ra một khối lượng hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước sẽ thấp hơn khi ta tự bố trí sản xuất chủ yếu bằng sức lực riêng. Nói cách khác chi phí sản xuất trong nước là nền tảng của hiệu quả kinh tế XNK. Trong thực tế hiệu quả này xuất hiện do có sự khác nhau về điều kiện địa lí- tự nhiên, về kinh tế và các sự khác nhau khác tồn tại giữa các quốc gia, các vùng kinh tế. Chính sự khác nhau đó đã tạo cơ sở cho trao đổi ngoại thương. Từ sự phân tích trên ta thấy hiệu quả kinh tế XNK được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất và được thực hiện qua trao đổi ngoại thương.Trong điều kiện thuận lợi, giá cả quốc tế cho phép tăng tiền thu xuất khẩu và do đó tạo điều kiện tăng nhập khẩu và nhờ đó tiết kiêm được lao động xã hội. Sự phát triển của thương mại làm cho lao động, đất đai của các nước được sử dụng triệt để hơn để làm ra các sản phẩm xuất khẩu. Nhờ XNK mà các nước “thoát khỏi tình trạng các tiềm năng không được khai thác” như Adam Smith đã nói. Như vậy hiệu quả kinh tế XNK không tồn tại một cách biệt lập với sản xuất. Những kết quả do XNK mang lại tác động nhiều mặt của nó đến nền kinh tế cần được đánh giá và đo lường thông qua và trên cơ sở các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế liên quan đến toàn bộ quả trình sản xuất. Chỉ tiêu đó là năng xuất lao động xã hội, nghĩa là sự tiết kiệm lao động xã hội trên quy mô nền kinh tế của một nước. Đấy chính là tiêu chuẩn hiệu quả kinh tế XNK mà khoa học kinh tế đã xác nhận. Ta có thể kết luận rằng nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế ngoại thương là góp phần thúc đẩy tăng nhanh năng xuất lao động xã hội, nghĩa là sự tiết kiệm lao động xã hội và tăng thu nhập quốc dân có thể sử dụng, qua đó tạo thêm nguồn tích luỹ cho sản xuất và nâng cao mức sống ở trong nước. Việc xác định hiệu quả của kinh tế ngoại thương sẽ tạo cơ sở cho việc đánh giá hiệu quả của việc triển khai chính sách thương mại XNK bởi chính sách XNK được đưa ra chỉ nhằm nâng cao hiệu của hoạt động ngoại thương. Đặc điểm trong hoạt động XNK: XNK là quan hệ trao đổi giữa những quốc gia khác nhau, muốn duy trì phải đảm bảo lợi ích chính đáng của nhau. Các nước có sự khác nhau về nguồn lực, điều kiện sản xuất cũng như hao phí lao động và giá thành khác nhau do vậy để trao đổi được phải dựa và giá trị quốc tế của hàng ( giá cả quốc tế của hàng ). XNK là một bộ phận của quá trình tái sản xuất trong nước đo vậy phải phục vụ cho sản xuất trong nước ( như phát triển nền kinh tế quốc dân đồng thời chú ý đến lợi ích của các bạn hàng). Từ những sự phân tích ở trên ta kết luận bản chất hiệu quả kinh tế XNK hay kinh tế ngoại thương đó là tiết kiệm lao động xã hội và đảm bảo lợi ích cần thiết của xã hội bởi hàng hoá là sự thống nhất không thể tách rời giữa giá trị và giá trị sử dụng. 1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK. Sự phân loại này nhằm mục đích để quản lí hoạt động XNK và là cơ sở để xác định chỉ tiêu đánh giá mức độ hiệu quả của chính sách thương mại XNK và xác định các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động XNK. Người ta thường phân theo 3 cách sau: 1.3.2.1 Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả KT-XH. Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động XNK của từng doanh nghiệp XK, NK nó được biểu hiện ở doanh lợi mà từng doanh nghiệp thu được. Hiệu quả kinh tế xã hội là hiệu quả thu được từ hoạt động XNK mang lại cho nền kinh tế giúp tăng thu ngoại tệ, cải thiện đời sống, giải quyết việc làm, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tăng thu ngân sách. Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả KT-XH có mối quan hệ mật thiết với nhau. Các doanh nghiệp XNK phải quan tâm đến hiệu quả KT-XH vì ._.hu nhập dầu mỏ, nhưng hầu như chưa có quan hệ thương mại với Việt Nam. Do vậy, trong tương lai khi các quy chế AFTA được sử dụng thì Brunei là thị trường nhập khẩu lớn mà Việt Nam nên chú trọng khai thác. Ba thành viên mới gia nhập là Lào, Myanma (2000) và Campuchia (2002) thực tế có trình độ phát triển thấp hơn ta một chút. Lào là nước thường xuyên tiến hành nhập khẩu từ Việt Nam nhiều loại mặt hàng mà chủ yếu là nông, thủy sản. Kim ngạch buôn bán giữa Việt Nam và ba nước thành viên này còn quá nhỏ bé. Song Việt Nam đã xem xét tính đến và coi đây là những thị trường tiềm năng trong tương lai gần. Thứ hai, sự khác nhau về tỷ trọng các mặt hàng công nghiệp trong cơ cấu xuất khẩu giữa Việt Nam với các nưóc ASEAN. Các nước ASEAN đã thực hiện chiến lược "phát triển công nghiệp hướng về xuất khẩu" được hơn mươi hai năm nên nhiều nước đã đạt trình độ công nghệ cao. Tỷ trọng các mặt hàng công nghiệp của các nước ASEAN như sau: - Indonesia: 63% - Malaysia: 83% - Philipin: 76% - Thái Lan: 74% - Singapore: 87% Nhiều nước đã chuyển từ ngành sử dụng nhiều lao động sang các ngành công nghiệp cần nhiều vốn, công nghệ cao như: Singapore, Malaysia, Thái Lan. Các mặt hàng công nghệ như điện tử, máy móc, thiết bị vận tải, viễn thông càng chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu của các nước này. Trong khi đó, tỷ lệ các mặt hàng công nghiệp trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam mới đạt 28% trong những năm gần đây. Các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu của ta chủ yếu là các sản phẩm chế biến nông lâm, ngư nghiệp, dệt may, còn các mặt hàng công nghiệp chế tạo công nghệ chưa đáng kể. Thứ ba, các mặt hàng chủ lực của các nước ASEAN có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn hơn nhiều so với Việt Nam. Phụ lục 3: Cơ cấu hàng hoá và dịch vụ xuất khẩu 1. Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu: 1.1 Với nhóm nguyên nhiên liệu: Hiện nay nhóm này, với 2 mặt hàng chính là dầu thô và than đá, đang chiếm khoảng trên 20% kim ngạch XK của nước ta. Sau khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, lượng dầu thô XK sẽ giảm dần. Dự kiến váo năm 2005 lượng dầu thô XK chỉ còn khoảng gần 12 triệu tấn (hiện nay là 16 triệu tấn).Tới năm 2010 có hai phương án, tuỳ thuộc vào lượng khai thác: Nếu khai thác 14-16 triệu tấn thì sẽ sử dụng trong nước khoảng 12 triệu tấn, XK 2-4 triệu tấn. Nếu khai thác 20 triệu tấn thì có khả năng XK khoảng 8 triệu tấn. Dù theo phương án nào thì kim ngạch dầu thô cũng sẽ giảm đáng kể vào năm 2010 (theo phương án 1 thì tỷ trọng dầu thô trong giá trị XK dự kiến sẽ chỉ còn dưới 1% so với 22% hiện nay; theo phương án 2 thì tỷ lệ đó sẽ còn khoảng 3%). Thị trường XK chính vẫn là úc, Singapore, Nhật Bản và Trung Quốc, có thể thêm Hoa Kỳ. Việc giảm XK dầu thô sẽ đi đôi với việc giảm NK sản phẩm xăng, dầu từ nước ngoài. Dự kiến đến năm 2010 sản xuất trong nước sẽ đáp ứng được gần 80% nhu cầu về sản phẩm dầu và khí, tức là khoảng 13 triệu tấn sản phẩm/năm, trị giá trên 3 tỷ USD. NK xăng dầu vào năm 2010 chỉ còn khoảng 4 triệu tấn, giảm 50% so với 8 triệu tấn hiện nay; nếu tính theo thời gian hiện nay thì sẽ giảm khoảng 850-900 triệu USD. Khả năng XK các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu hụt của dầu thô là rất hạn chế. Cho đến năm 2010, quặng Apatit khai thác ra chỉ có thể đáp ứng một phần nhu cầu sản xuất phân bón, chưa có khả năng tham gia NK. Khả năng sản xuất và XK alumin sẽ tuỳ thuộc vào việc triển khai dự án (nếu có thì chỉ từ sau 2005). Quăng sắt khó có khả năng XK với số lượng lớn bởi nhu cầu trong nước sẽ tăng mạnh, khả năng khai thác quặng Thạch Khê còn chưa rõ nét. Đất hiếm tuy chưa có nhưng trữ lượng thương mại không nhiều, việc XK rất khó khăn do công nghệ chế biến phức tạp, cung cầu thế giới đã ổn định. Các loại quặng khác trữ lượng đều không đáng kể. Như vậy, tới năm 2005, nhóm nguyên nhiên liệu có khả năng chỉ còn đóng góp được khoảng 9% kim ngạch XK (2,5 tỷ USD) so với trên 20% hiện nay; đến năm 2010, tỷ trọng của nhóm này sẽ giảm xuống chưa đầy 1% (dưới 500 triệu USD) hoặc 3,5% (khoảng 1,75 tỷ USD), tuỳ theo phương án khai thác dầu thô. Vì vậy, việc tìm ra mặt hàng mới để thay thế là một thách thức lớn đối với việc gia tăng XK. 1.2 Với nhóm hàng nông, lâm, thuỷ sản: Hiện nay nhóm này đang chiếm gần 25% kim ngạch XK với những mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, chè, rau quả, thuỷ sản, hạt tiêu và nhân điều (trừ mặt hàng chè, tất cả các mặt hàng khác đều đạt kim ngạch trên 100 triệu USD/năm). Do sản xuất nông nghiệp phải chịu những hạn chế mang tính cơ cấu (như diện tích có hạn, khả năng khai thác và đánh bắt có hạn…) và thời tiết nên theo dự thảo. Chiến lược chung, tốc độ tăng trưởng của nhóm này sẽ chỉ ở mức 4%/năm trong toàn kỳ 2001-2010. Bên cạnh đó, nhu cầu của thị trường thế giới cũng có hạn, giá cả lại không ổn định. Vì vậy, dù kim ngạch tuyệt đối vẫn tăng nhưng tỷ trọng của nhóm sẽ giảm dần xuống còn 22% (tương đương 5,85 tỷ USD) vào năm 2005 và 17,2% (tương đương 8-8,6 tỷ USD) vào năm 2010. Hạt nhân tăng trưởng của nhóm sẽ là thuỷ sản bởi tiềm năng khai thác và nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thị trường thế giới tăng khá ổn định, thuế suất thấp. Năm 1985 XK thuỷ sản thế giới mới đạt 17,2 tỷ USD, tới năm 1995 đã đạt 52 tỷ USD, tức là tăng bình quân mỗi năm trên 13%. Điều nay liên quan tới xu thế tiêu dùng của thế giới là giảm tiêu thụ thịt, tăng tiêu thụ thuỷ sản. Với sản lượng dự kiến đạt 3,7 triệu tấn, kim ngạch XK thuỷ sản của ta sẽ đạt 2,5 tỷ USD vào năm 2005 và 3,2-3,5 tỷ USD vào năm 2010, chiếm 40% tổng kim ngạch của nhóm nông lâm hải sản. Thị trường chính sẽ là Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Trung Quốc… Để đảm bảo tốc độ tăng trưởng ổn định cho mặt hàng này, cần tiếp tục chú trọng đầu tư để phát triển đánh bắt xa bờ và nuôi trồng, chuyển từ quảng canh sang thâm canh, phát triển những mặt hàng có kim ngạch cao như tôm, nhuyễn thể. Bên cạnh thuỷ sản là các mặt hàng chủ lực như gạo, nhân điều và các rau quả khác, thịt…cũng được quan tâm. Ngoài ra, một loạt sản phẩm còn có thể phát triển để thay thế NK hoặc góp phần XK như cây họ đậu, cây có dầu, tơ tằm, bông… Đối với toàn bộ nhóm nông thuỷ sản rất cần chú trọng khâu cải tạo giống cây trồng vật nuôi, chế biến, bảo quản, vệ sinh thực phẩm, chuyên chở, đóng gói, phân phối để có thể đưa thẳng tới khâu tiêu dùng, từ đó nâng cao giá trị gia tăng. Nhìn chung: kim ngạch của nhóm nguyên nhiên liệu và nông lâm hải sản tổng cộng sẽ đạt từ 10-10,35 tỷ USD vào năm 2010, chiếm khoảng 20-21% kim ngạch XK so với trên 40% hiện nay theo hướng gia tăng chất lượng và giá trị gia tăng. Phần còn lại là các mặt hàng chế biến và chế tạo. Đây là bài toán chủ yếu cho hoạt động XNK trong thời gian 10 năm tới. 1.3 Với sản phẩm chế biến và chế tạo: Hiện nay kim ngạch của nhóm này đã đạt trên 4 tỷ USD, tức là trên 30% kim ngạch XK. Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là 20-21 tỷ USD, tăng hơn 5 lần so với hiện nay và chiếm khoảng 40% kim ngạch XK. Hạt nhân của nhóm cho tới năm 2010, vẫn là hai mặt hàng dệt may và giầy dép. Là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động. Kim ngạch của mỗi mặt hàng phải đạt khoảng 7-7,5 tỷ USD. Như vậy, dệt may sẽ phải tăng bình quân 14%/năm, giầy dép tăng bình quân 15-16%/năm. Nay đã ký được hiệp định Thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ thì mục tiêu tăng trưởng trên là khả thi. Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục mở thêm thị trường Trung Đông và Đông Âu. Sau các thoả thuận đạt được với Hoa Kỳ và EU, Trung Quốc sẽ trở thành thành viên của WTO; khả năng cạnh tranh của hàng hoá Trung quốc, trong đó có dệt may và giầy dép, vốn đã rất mạnh, sẽ được nâng lên do được hưởng những ưu đãi mới trên thi trường rộng lớn như Hoa Kỳ và EU, gây khó khăn không nhỏ cho hàng hoá của ta. Để khắc phục khó khăn, đẩy mạnh XK, hướng phát triển cơ bản của hai ngành dệt may và giầy dép trong 10 năm tới là gia tăng nỗ lực thâm nhập các thị trường mới, đặc biệt là thị trường Mỹ, Trung Đông và Châu Đại Dương; ổn định và tăng thị phần trên các thị trường quen thuộc như EU, Nhật Bản đặc biệt là Nhật Bản bởi đây là thị trường phi quota; chuyển dần từ hình thức gia công là chính sang nội địa hoá trên cơ sở tăng cường đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu đầu vào, tạo nhãn hiệu có uy tín; chuyển mạnh sang bán FOB; thu hút mạnh đầu tư nước ngoài, nhất là đầu tư từ EU, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, ĐàI Loan… để tăng cường năng lực thâm nhập trở lại các thị trường này và đi vào các thị trường khác. Chính sách thương mại của Nhà nước, mà cụ thể là chính sách thuế, chính sách thị trường, cần hỗ trợ đắc lực cho tiến trình này. Do mục tiêu kim ngạch của toàn nhóm chế biến, chế tạo vào năm 2010 là trên 20 tỷ USD nên ngoài dệt mayvà giầy dép cần nỗ lực tiếp cận thị trường quốc tế, dự báo nhu cầu của người tiêu dùng để từ đó cố gắng tạo ra những ngành hàng mới. 1.4 Sản phẩm hàm lượng công nghệ và chất xám cao: Đây là ngành hàng mới xuất hiện nhưng đã mang lại kim ngạch XK khá lớn, hơn 1 tỷ USD vào năm 2002. Hạt nhân là hàng điện tử và tin học. Với xu thế phân công lao động theo chiều sâu trên thế giới hiện nay, ta hoàn toàn có khả năng phát triển hơn nữa những mặt hàng này, trước mắt là gia công rồi tiến tới nội hoá dần. Vấn đề cốt lõi là có cơ chế chính sách khuyến khích, phát triển nguồn nhân lực. Mục tiêu kim ngạch XK đặt ra cho ngành là 2,5 tỷ USD vào năm 2005 (riêng phần mềm Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường dự kiến là 350-500 triệu USD) và 6-7 tỷ USD vào năm 2010 (riêng phần mềm là 1 tỷ USD). Về thị trường thì nhằm vào các nước công nghiệp phát triển (phần mềm) và các nước đang phát triển (phần cứng). Cần coi đây là khâu đột phá trong 5 năm cuối của thời kỳ 2001-2010. 2. Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu 2.1 Xuất khẩu lao động: Trong nhiều năm qua XK lao động là ngành thu ngoại tệ quan trọng. Bình quân giai đoạn 1996-2000, mỗi năm nước ta đưa ra nước ngoài khoảng 2 vạn lao động với thời hạn hợp đồng từ 3-5 năm, riêng năm 2000 dự kiến là 3 vạn lao động. Hiện nay số người Việt Nam đang lao động tại nước ngoài vào khoảng 9 vạn người. Với thu nhập bình quân đầu người khoảng 5 ngàn USD/năm. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thì mục tiêu phấn đấu năm 2005 là XK 150-200 ngàn lao động và đến năm 2010 là 1 triệu lao động. Nếu thực hiện được mục tiêu này, kim ngạch dự kiến sẽ đạt khoảng 1,5 tỷ USD vào năm 2005 và 4,5-6 tỷ USD vào năm 2010. 2.2 Du lịch: Du lịch là một ngành dich vụ có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng. Trong những năm qua, ngành du lịch đã đạt được nhiều bước tiến đáng ghi nhận. Tuy nhiên tiềm năng của ngành còn rất lớn nếu biết khai thác và phát huy tốt những thế mạnh sẵn có. Theo Tổng cục Du lịch, năm 2002 sẽ có khoảng 2,5 triệu khách du lịch quốc tế tới Việt Nam với doanh thu ngoại tệ khoảng 700 triệu USD. Theo chiến lược phát triển của ngành thì tới năm 2005 sẽ phấn đấu thu hút được 3 triệu khách quốc tế với doanh thu xấp xỉ 1 tỷ USD, năm 2010 thu hút 4,5 triệu khách đạt 1,6 tỷ USD. 2.3 Vận tải Biển và dịch vụ cảng, giao nhận: Hiện đa số các DN của ta lựa chọn điều kiện giao hàng là CIF hoặc C&F đối với hàng NK và FOB đối với hàng XK. Do vậy hàng năm ta phải chi một lượng ngoại tệ khá lớn để NK dịch vụ vận tải của nước ngoài, đồng thời lại để tuột mất cơ hội thu ngoại tệ khi XK. Nguyên nhân khách quan một phần là do tập quán của DN khi ký kết hợp đồng, nhưng nguyên nhân chính vẫn là nước ta chưa có một đội tàu đủ mạnh, hoạt động rộng trên nhiều tuyến và cước phí chưa cạnh tranh. Vì vậy trong thời gian tới cần tăng cường đẩu tư phát triển hệ thống cảng biển, đi đôi với việc gia tăng đội tàu, tận dụng thế mạnh về vị trí địa lý, hạ giá thành vận chuyển để nâng cao kim ngạch XK. Giảm kim ngạch NK tiết kiệm ngoại tệ cho đất nước. Nếu cước phí vận tải chỉ chiếm 1% trong tổng kim ngạch hàng hoá Việt Nam XK và ngành dịch vụ vận tải nước ta đảm đương được thì kim ngạch XK của ngành vận tải biển đã là trên dưới 250 triệu USD năm 2005 và 500 triệu USD năm 2010. Các ngành dịch vụ khác (ngân hàng, vận tải hàng không, bưu chính viễn thông, xây dựng, Y tế, Giáo dục…). Hiện nay, do các Bộ, ngành còn đang thu thập số liệu về XNK dịch vụ liên quan tới ngành mình nên Bộ Thương mại chưa tổng hợp được số liệu chính xác. Tuy nhiên, có thể sơ bộ ước tính kim ngạch XK của nhóm này sẽ đạt xấp xỉ 1 tỷ USD năm 2000 trong đó chiếm tỷ trọng lớn là dịch vụ ngân hàng (thanh toán quốc tế, chuyển tiền, kiều hối), bưu chính viễn thông và vận tải hàng không. Dự kiến kim ngạch của nhóm này sẽ tăng khoảng 10%/năm thời kỳ 2001-2010, đạt 1,6 tỷ USD năm 2005 và 2,6 tỷ USD năm 2010. Có thể hình dung ngành dịch vụ phát triển nhiều nhất vào thời kỳ 2001-2010 sẽ là xuất khẩu lao động, du lịch, bưu chính viễn thông, vận tải và ngân hàng. Định hướng phát triển các ngành cụ thể được tóm tắt qua bảng dưới đây: Ngành dịch vụ Kim ngạch 2005 (triệu USD) Kim ngạch 2010 (triệu USD) XK lao động. Du lịch. Một số ngành khác (ngân hàng, bưu chính viễn thông, vận tải…). Tổng kim ngạch XKDV. 1.500 1.000 1.600 4.100 4.500 1.600 2.000-2.500 8.100-8.600 Tóm lại: tới năm 2010, kim ngạch và cơ cấu XK được dự kiến như sau: Nhóm hàng Kim ngạch 2010 (triệu USD) Tỷ trọng (%) 2000 2010 Nguyên nhiên liệu Nông sản, hải sản Chế biến, chế tạo Công nghệ cao Hàng khác Tổng kim ngach hàng hoá Tổng kim ngạch dịch vụ 1.750 8.000-8.600 20.000-21.000 7.000 12.500 48.000-50.000 8.100-8.600 20,1 23,3 31,4 5,4 19,8 3-3,5 16-17 40-45 12-14 23-25 100 Phụ Lục 4: Đánh giá chung về hệ thống thuế quan hiện nay của ta: Thứ nhất, chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam được xây dựng trên nguyên tắc bảo hộ sản xuất trong nước. Nếu ngành sản xuất nào thuộc diện bảo hộ, trong nước sản xuất được thì thuế quan đối với sản phẩm của ngành đó sẽ được nâng lên. Đây cũng chính là quy định của WTO về công cụ bảo hộ duy nhất thông qua thuế quan. Tuy nhiên, hiện nay do ta còn thiếu căn cứ phân tích kinh tế nên hiện nay chúng ta đang gặp khó khăn trong việc xác định mức thuế suất nên dễ gây ra hiện tượng bảo hộ tràn lan, không mang tính chọn lọc. Mức độ bảo hộ không được phân định theo những ngành sản xuất dựa trên lợi thế cạnh tranh, những ngành Nhà nước tập trung đầu tư để phát triển. Đồng thời, ta cũng chưa có chiến lược phát triển các ngành kinh tế, những ngành sản xuất có tiềm năng trong tương lai nên rất khó cho ta trong việc lựa chọn ngành bảo hộ và cấp độ bảo hộ. Ngoài ra, theo quy định của AFTA và WTO cũng như các tổ chức khác thì thuế quan được quy định là công cụ duy nhất để bảo hộ, đồng thời phải loại bỏ các trở ngại phi thuế khác. Đặc biệt không được dùng các biện pháp phi thuế nhằm mục đích bảo hộ. So sánh với thực trạng của ta thì thuế quan chỉ là một trong những bộ phận cấu thành chính sách bảo hộ của Việt Nam. Đối với nhiều mặt hàng, công cụ để bảo hộ được sử dụng lại là biện pháp phi thuế. Đặc biệt trong chính sách thương mại của Việt Nam hiện nay thì đối với một số loại hàng hoá, thuế nhập khẩu để tiêu dùng được bảo hộ không đáng kể, mà việc bảo hộ chủ yếu được thực hiện thông qua các biện pháp phi quan thuế khác đặc biệt là các biện pháp hạn chế về số lượng. Điều này thể hiện rõ nhất đối với những mặt hàng thuộc loại hàng hoá nằm trong diện cân đối lớn của nhà nước như phân bón, thép xây dựng, giấy, đường, kính xây dựng....Những mặt hàng này là đầu vào của nhiều ngành kinh tế không thể để mức thuế nhập khẩu quá cao. Trong thời gian tới cần tập trung điều chỉnh chính sách bảo hộ này có chọn lọc hơn, theo như đúng định hướng xây dựng chính sách hội nhập đã đề ra. Thứ hai về cơ cấu thuế quan: Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi hiện hành của Việt nam (thực hiện từ 1/1/1999) gồm: + 97 chương và 6247 mặt hàng (chi tiết đến cấp độ 8 chữ số) + 13 mức thuế suất cơ bản + Ngoài ra, còn có các mức thuế áp dụng cho các mặt hàng ghi tại các mục “riêng” của Biểu thuế (6 mức thuế suất này dự kiến sẽ được bỏ dần). + Mức thuế nhập khẩu trung bình đơn giản của Biểu thuế cho tất cả các mặt hàng là 15,9%, cho các mặt hàng có thuế từ 1% trở lên là 23,6%. Nhìn chung, hiện nay biểu thuế của ta vẫn còn nhiều mức thuế suất. Đặc biệt, trong từng nhóm mặt hàng cũng áp dụng nhiều mức thuế suất. Tuy vậy, xét về mức thuế trung bình và thuế suất cụ thể thì thuế suất của ta hiện nay vẫn rất thấp, chưa thể hiện đúng mức độ bảo hộ. Nguyên nhân là do các mặt hàng được bảo hộ có thuế suất thấp thường là đầu vào của các ngành sản xuất chủ lực nên nếu nâng thuế suất lên cũng sẽ gây nhiều khó khăn cho các ngành sản xuất này. Chính vì lý do này mà xét một cách tổng thể thì thuế nhập khẩu trung bình của ta hiện nay vẫn còn thấp hơn nhiều so với mức thuế trung bình của những nước đang phát triển khác. Thứ ba, hiện nay ta đã xây dựng được biểu thuế mới cập nhật theo HS 8 chữ số để bắt đầu áp dụng từ 1/1/1999. Ngoài ra còn quy định bổ sung thêm một loại thuế mới: thuế nhập khẩu bổ sung mà thực chất là thuế đối kháng hay thuế chống bán phá giá. Đây là quy định bước đầu để tạo lập sự rõ ràng cho việc áp dụng chính sách thuế nhập khẩu của Việt Nam và tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi và an toàn cho các doanh nghiệp vào thời điểm thị trường Việt Nam đã mở cửa và hội nhập. Các quy định này đã đánh dấu được một bước tiến trong việc xây dựng chính sách phục vụ hội nhập quốc tế. Trong tương lai, khi thị trường đã được mở cửa và được tự do hoá hoàn toàn. Thuế quan sẽ giảm dần đến 0% và sẽ không còn tồn tại. Trong hoàn cảnh đó, những quy định phòng ngừa bất trắc như trên sẽ là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước trước những sự cố đáng tiếc, không công bằng diễn ra trên thị trường. Tuy nhiên quy định này vẫn còn quá đơn giản về thủ tục điều tra, đánh giá, mức thuế v.v. có thể dẫn đến tình trạng dễ tuỳ tiện vận dụng và gây phản tác dụng. Thứ tư, qua phân tích cho thấy thực trạng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước đều còn rất non trẻ, các doanh nghiệp của ta đều còn đang có những khó khăn, đặc biệt là vốn và công nghệ sản xuất kinh doanh. Do đó chúng ta đã phải lựa chọn một phương án giải quyết mang tính chất quá độ, tạm thời là quy định điều khoản miễn, giảm dẫn đến một số điểm vướng với quy chế đối xử quốc gia tồn tại trong hai luật thuế (Thuế tiêu thụ đặc biệt và VAT). Hiện ta chưa có luật pháp điều chỉnh chung về nguyên tắc đãi ngộ quốc gia nhưng các luật thuế trong nước vẫn đang được điểu chỉnh và xây dựng theo hướng tuân thủ nguyên tắc đãi ngộ quốc gia. Sự phân biệt giữa hàng hoá trong nước và hàng nhập khẩu còn tồn tại như sau: + Phân biệt thuốc lá điếu có đầu lọc sản xuất bằng nguyên liệu nhập khẩu và thuốc lá sản xuất chủ yếu bằng nguyên liệu trong nước. + Phân biệt ôtô nhập khẩu và ôtô sản xuất trong nước. Qua các cải cách trong hệ thống thuế vừa qua, Việt Nam đã xoá bỏ phần nào những quy định hiện hành trong chính sách thuế đang có sự phân biệt giữa hàng hoá nhập khẩu và hàng sản xuất trong nước. Tuy vậy, đây vẫn đang là một vấn đề nan giải trong việc điều chỉnh chính sách hướng tới hội nhập. Về nguyên tắc, quy chế đối xử quốc gia và tối huệ quốc đòi hỏi phải tạo những điều kiện kinh doanh bình đẳng đối với tất cả các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Điều này bao hàm việc loại bỏ chế độ hai giá cũng như những khác biệt về ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp trong nước so với những doanh nghiệp nước ngoài đang thực hiện tại Việt Nam. Thứ năm, đối với vấn đề xác định trị giá hải quan thì hiện nay Việt Nam xác định trị giá tính thuế hải quan theo hai cách là: + Tính thuế theo giá hợp đồng: quy định rằng “Các mặt hàng có giá ghi trên hợp đồng cao hơn giá quy định tại Bảng giá tối thiểu hoặc các mặt hàng chưa được quy định giá tối thiểu thì giá tính thuế là giá ghi trên hợp đồng hoặc giá tự kê khai (nếu không có hợp đồng hoặc không có hoá đơn mua hàng).” Đây đồng thời cũng là quy định của WTO trong vấn đề xác định trị giá tính thuế. + Xác định theo giá tối thiểu: được áp dụng đối với những mặt hàng không thuộc danh mục mặt hàng Nhà nước quản lý giá tính thuế, không đủ điều kiện áp giá tính thuế theo hợp đồng hoặc có đủ các điều kiện để áp giá theo hợp đồng nhưng giá ghi trên hợp đồng bằng hoặc thấp hơn 80% giá tối thiểu quy định tại bảng giá tối thiểu của Tổng cục Hải quan. Hiện tại vẫn còn 21 nhóm mặt hàng phải xác định giá tính thuế theo cơ chế giá tối thiểu. Đây là một quy định trái với quy định WTO và tập quán quốc tế nói chung. Hiện Việt Nam đang tăng cường hỗ trợ cho cơ quan hải quan về các phương tiện kỹ thuật cũng như nâng cao năng lực của cán bộ hải quan để có thể sớm áp dụng cơ chế tính thuế nhập khẩu theo giá trị giao dịch. Thứ sáu, vấn đề minh bạch hoá chính sách thì hiện nay các văn bản pháp luật của ta vẫn được công bố trên Công báo. Trong một số trường hợp, các cơ quan nhà nước có quyền cho phép hay từ chối cho biết các băn bản pháp luật này. Các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan của Chính phủ ban hành được đăng trên Công báo trong vòng 15 ngày kể từ ngày công bố, ký và yết thị đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Việc cho phép một số quyền để bảo mật thông tin khi cần thiết đôi khi không được nên lạm dụng quá gây nên tình trạng bưng bít thông tin cũng như không kịp thời ban hành các thông tư, và các văn bản hướng dẫn kịp thời khi văn bản đã ban hành gây tình trạng hoang mang, rối loạn đối với các đối tượng trong phạm vi điều chỉnh của văn bản. Đây là những bất cập sẽ cần được điều chỉnh sớm.Tóm lại, thông qua một số sửa đổi trong hệ thống thuế vừa qua, Việt Nam đã có một số điều chỉnh, đổi mới theo hướng phù hợp với các yêu cầu hội nhập về mặt chính sách. Mục lục Chương 1: Một số vấn đề lí luận cơ bản của hoàn thiện chính sách thương mại XNK từ góc độ tiếp cận các chỉ tiêu tài chính trong lộ trình hội nhập AFTA. 1 1.1 Chính sách thương mại XNK trong hội nhập kinh tế khu vực và thế giới hiện nay. 1 1.1.1 Khái niệm về chính sách thương mại, thương mại XNK và vai trò quản lý kinh tế của nhà nước. 1 1.1.2 Một số công cụ chủ yếu điều tiết hoạt động của chính sách thương mại XNK. 2 1.1.2.1 Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng. 3 a) Chính sách thị trường đây. 3 b) Chính sách mặt hàng. 3 1.1.2.2 Chính sách thuế xuất nhập khẩu 4 1.1.2.3 Chính sách phi thuế quan 6 1.1.2.4 Chính sách quản lý ngoại tệ và tỷ giá hối đoái. 8 1.1.2.5 Chính sách cán cân thương mại và cán cân thanh toán. 9 1.2 Lộ trình hội nhập AFTA và những yêu cầu hoàn thiện chính sách thương mại XNK của nước ta . 10 1.2.1 Khái quát về ASEAN và khu vực mậu dịch tự do AFTA. 10 1.2.1.1 Khái quát về ASEAN. 10 1.2.1.2 Quá trình thành lập và các quy định chung về AFTA. 13 a. Quá trình thành lập và hoạt động của AFTA. 13 b. Các quy định chung về AFTA. 14 1.2.1.3 Cơ cấu tổ chức của AFTA. 16 1.2.2 Lộ trình tham gia của Việt Nam vào ASEAN-AFTA. 18 1.2.3 Những yêu cầu và nguyên tắc quản lí nhà nước đối với CSTM xuất nhập khẩu của nước ta trong lộ trình thực hiện AFTA. 19 1.2.3.1 Những yêu cầu đối với CSTM xuất nhập khẩu của nước ta . 19 1.2.3.2 Nguyên tắc quản lí nhà nước đối với hoạt động xuất nhập khẩu 19 1.3 Một số chỉ tiêu phản ánh hiệu quả triển khai chính sách thương mại XNK dưới tác động của hội nhập. 20 1.3.1 Khái niệm và bản chất hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK. 20 1.3.2 Phân loại hiệu quả kinh tế của hoạt động XNK. 23 1.3.2.1 Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả KT-XH. 23 1.3.2.2 Hiệu quả của chi phí bộ phận và tập hợp. 23 1.3.2.3 Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh. 24 1.3.3 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của chính sách thương mại xuất nhập khẩu. 24 1.3.3.1 Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng của hiệu quả. 24 1.3.3.2 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá. 24 a) Chỉ tiêu tổng hợp. 24 b) Các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả cụ thể hoạt động XNK. 25 1.3.4 Phương pháp xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động xuất nhập khẩu. 26 1.3.4.1 Xác định các chỉ tiêu hiệu quả tài chính trong hoạt động XNK. 26 a) Tính đúng tính đủ giá thành xuất khẩu. 26 b) Các chỉ tiêu hiệu quả tài chính trong hoạt động XNK. 26 1.3.4.2 Xác định hiệu quả tài chính của hoạt động XNK trong điều kiện có tín dụng. 28 1.3.4.3 Xác định hiệu quả kinh tế xã hội của hoạt động XNK. 28 a) Sự khác biệt giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả tài chính. 28 b) Các phương pháp xác định hiệu quả KT-XH. 29 Chương 2: Thực trạng CSTM XNK và hoạt động XNK của Việt Nam trong quá trình hội nhập CEPT-AFTA. 30 2.1 Thực trạng chính sách thương mại XNK của Việt nam dưới góc độ các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả CSTM XNK trong lộ trình tham gia AFTA. 30 2.1.1. Khái quát chính sách thương mại XNK của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 30 2.1.2 Chính sách thương mại của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA. 34 2.2 Thực trạng một số công cụ của chính sách thương mại XNK của Việt Nam trong hội nhập AFTA dưới góc độ tài chính. 39 2.2.1 Công cụ chính sách tỉ giá hối đoái. 39 2.2.2 Công cụ chính sách thuế xuất nhập khẩu. 41 2.2.3 Về công cụ cán cân thanh toán và cán cân thương mại. 47 2.2.4 Công cụ chính sách phi thuế quan của Việt Nam từ 1990 đến nay. 49 2.2.4.1 Giấy phép XNK. 49 2.2.4.2 Thủ tục hải quan-XNK hàng hoá. 50 2.2.4.3 Hạn ngạch xuất nhập khẩu. 51 2.2.4.4 Quản lý ngoại tệ. 51 2.3 Thực trạng tác động của chính sách thương mại XNK của Việt Nam tới hoạt động xuất khẩu các mặt hàng chủ yếu sang các nước trong khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA). 52 2.3.1 Thực trạng hoạt động Thương mại XNK của Việt Nam từ năm 1991 đến nay. 52 2.3.1.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu. 52 2.3.1.2 Về cơ cấu hàng hoá xuất khẩu 54 a) Cơ cấu hàng xuất khẩu theo cách tính của Tổng cục thống kê. 54 b) Cơ cấu hàng xuất khẩu tính theo chuẩn SITC(Standard International Trade Classification). 54 c) Cơ cấu hàng xuất khẩu nhìn từ phía sản phẩm sơ chế. 54 2.3.1.3 Về cơ cấu thị trường xuất khẩu. 54 2.3.2 Thực trạng hoạt động xuất khẩu của các mặt hàng chủ yếu của Việt Nam sang các nước trong khu vực AFTA. 56 2.4 Các nhận xét rút ra thông qua phân tích chính sách thương mại XNK của Việt Nam trong lộ trình hội nhập AFTA dưới góc độ các chỉ tiêu tài chính vĩ mô. 56 2.4.1 Đánh giá quan hệ thương mại giữa Việt nam với các nước tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong những năm vừa qua. 57 2.4.2 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam với các nước thành viên AFTA. 59 2.4.3 Nhận xét các ưu và nhược điểm của chính sách thương mại XNK và các chính sách có liên quan của Việt Nam trong quá trình hội nhập AFTA dưới góc độ các chỉ tiêu tài chính vĩ mô. 59 2.4.3.1 Về mặt ưu điểm của chính sách thương mại XNK. 59 2.4.3.2 Những nhược điểm của chính sách và vấn đề thực tiễn đang đặt ra. 61 a. Chính sách thương mại XNK. 61 b. Về công cụ thuế quan. 62 c. Hàng rào phi thuế quan 63 d. Chính sách thị trường và chính sách mặt hàng 64 2.4.3.3 Những thách thức và cơ hội của Việt Nam khi tham gia AFTA 64 a) Cơ hội. 64 b) Thách thức. 65 Chương 3: Phương hướng và biện pháp đổi mới, hoàn thiện chính sách thương mại Xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN dưới góc độ các chỉ tiêu tài chính. 66 3.1 Các chỉ tiêu cơ bản của chính sách thương mại XNK giai đoạn 2001-2010. 66 3.1.1 Về quy mô và tốc độ tăng trưởng. 66 3.1.2 Cơ cấu hàng hoá XNK và cơ cấu dịch vụ 67 3.1.2.1 Cơ cấu hàng hoá XK. 67 3.1.2.2 Cơ cấu dịch vụ XK. 67 3.1.3 Về thị trường XNK. 67 3.2 Quan điểm về hoàn thiện chính sách thương mại XNK của Việt Nam trong quá trình tham gia khu vực mậu dịch tự do ASEAN(AFTA). 70 3.2.1 Quan điểm 1: Việc đổi mới và hoàn thiện chính sách thương mại quốc tế phải phù hợp với tiến trình hội nhập ASEAN-AFTA. 70 3.2.2 Quan điểm 2: chính sách thương mại quốc tế nhằm thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước. 70 3.2.3 Quan điểm 3: Tự do hoá thương mại quốc tế và bảo hộ có chọn lọc: 71 3.2.4 Quan điểm 4: Xây dựng đồng bộ hệ thống chính sách quản lý thương mại quốc tế. 71 3.2.5 Quan điểm 5: tiếp tục kiên trì chủ trương dành ưu tiên cao cho XK. 72 3.3 Phương hướng hoàn thiện chính sách thương mại XNK của Việt Nam trong lộ trình hội nhập AFTA-ASEAN dưới góc độ các chỉ tiêu tài chính. 72 3.3.1 Phương hướng hoàn thiện công cụ chính sách thuế XNK. 73 3.3.2 Phương hướng hoàn thiện công cụ chính sách mặt hàng và chính sách thị trường. 76 3.3.2.1 Đối với chính sách mặt hàng. 76 3.3.2.2. Đối với chính sách thị trường. 77 3.3.3 Phương hướng hoàn thiện công cụ cán cân thanh toán quốc tế và cán cân thương mại. 79 3.3.3.1 Cán cân thanh toán quốc tế. 79 3.3.3.2 Cán cân thương mại. 80 3.3.4 Phương hướng hoàn thiện công cụ chính sách tài trợ và bảo hiểm xuất khẩu. 81 3.3.5 Phương hướng hoàn thiện công cụ chính sách hợp tác đầu tư xuất khẩu. 82 3.3.5.1. Hoàn thiện chính sách đầu tư. 82 3.3.5.2 Hoàn thiện chính sách về thủ tục hành chính. 83 3.3.6 Hoàn thiện công cụ chính sách vốn, tài chính tiền tệ và tỉ giá hối đoái. 83 3.3.6.1 Chính sách vốn. 83 3.3.6.2 Về ngân sách nhà nước. 83 3.3.6.3 Chính sách tài chính tiền tệ và tỉ giá hối đoái. 85 3.4 Biện pháp thực hiện việc hoàn thiện chính sách XNK của Việt Nam trong quá trình hội nhập ASEAN. 85 3.4.1 Các giải pháp tổng thể thực hiện cam kết trong quá trình hội nhập của Việt Nam. 85 3.4.2 Tăng cường xây dựng và thực thi chính sách thương mại quốc tế của nhà nước. 86 3.4.2.1.Chính sách hội nhập ASEAN phải nằm trong chính sách kinh tế chung. 86 3.4.2.2 Các điều kiện để thực hiện chính sách. 87 3.4.3 Tăng cường quản lý và điều tiết vĩ mô của nhà nước trong quá trình thực hiện chính sách thương mại quốc tế. 88 3.4.3.1 Tăng cường chức năng quản lý kinh tế cuả các bộ các ngành. 88 3.4.3.2 Chủ động điều tiết sự phát triển của các ngành các lĩnh vực. 88 3.4.4 Động viên và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam tham gia hội nhập ASEAN bằng các biện pháp tài chính tín dụng. 89 3.4.5 Đẩy mạnh hoạt động Marketing ở nước ngoài. 90 3.4.6 Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ để đáp ứng yêu cầu hội nhập. 91 3.5 Một số kiến nghị giúp nâng cao hiệu quả của việc triển khai thực hiện chính sách thương mại và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam trong hội nhập AFTA-ASEAN. 92 3.5.1 Những kiện nghị đối với việc chỉ đạo điều hành thực hiện các cam kết theo CEPT-AFTA trong chính sách thương mại của Việt Nam trong thời gian tới. 92 3.5.2 Những kiến nghị đối với việc giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam từ đó giúp năng cao hiệu quả thực hiện của chính sách thương mại XNK. 93 ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0541.doc