Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai

Tài liệu Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai: ... Ebook Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai

doc116 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1806 | Lượt tải: 12download
Tóm tắt tài liệu Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Từ cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nhân loại đã bước sang kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của cách mạng khoa học và công nghệ (KH & CN) hiện đại. Đến nay, KH & CN đã trở thành động lực phát triển hàng đầu và đóng góp phần rất lớn vào tăng trưởng kinh tế ở nhiều quốc gia. KH & CN tác động mạnh mẽ và sâu rộng đến mọi mặt đời sống của con người, sản xuất, xã hội, chính trị, văn hoá, khả năng an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế của các quốc gia trên thế giới. Nhiều nước coi phát triển KH & CN là "đầu tư cho tương lai". Nhận rõ vai trò to lớn của KH & CN, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đưa ra những định hướng và biện pháp nhằm thúc đẩy phát triển KH & CN trong cả nước. Nhờ đó, hoạt động KH & CN trong cả nước có bước chuyển biến đáng kể, trình độ công nghệ của nền kinh tế được nâng cao. Tuy vậy, so với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong điều kiện mới cũng như so với các nước trong khu vực thì trình độ KH & CN của nước ta còn thấp. Đến nay, Việt Nam vẫn là nước có thu nhập thấp, KH & CN kém phát triển, thuộc nhóm 80 nước tụt hậu về KH & CN với chỉ số năng lực KH & CN xếp thứ 94/ 150 nước. Là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (KTTĐPN), Đồng Nai có nhiều tiềm năng và lợi thế để phát triển KT-XH. Tỉnh đã tích cực và chủ động trong việc phát triển KH & CN như thu hút công nghệ tiên tiến thông qua đầu tư nước ngoài, hình thành các KCN để hỗ trợ cho các doanh nghiệp, thực hiện chính sách đào tạo nhân lực... Những nỗ lực đó đã mang lại những kết quả không nhỏ trong phát triển KH & CN trên địa bàn, đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết những vấn đề xã hội, môi trường, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2001 - 2004 trên 12% năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2004 khoảng 700 USD - gấp hơn 1,5 lần so với mức trung bình cả nước. Bên cạnh những thành tựu đạt được, hoạt động KH & CN và quản lý KH & CN còn nhiều bất cập. Hiện còn nhiều hạn chế, trở ngại trong quy hoạch, chính sách, bộ máy, cán bộ KH & CN và việc quản lý điều hành trên thực tế. Trình độ KH & CN trên địa bàn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH trong điều kiện mới. Mức độ nội địa hóa công nghệ nước ngoài chưa cao. Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, việc phát triển KT-XH nói chung và công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH) nói riêng đang đặt ra yêu cầu lớn và bức xúc về tiếp tục đẩy mạnh KH & CN. Điều đó đòi hỏi tiếp tục đổi mới căn bản và toàn diện quản lý nhà nước (QLNN) về KH & CN trên địa bàn. Do vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện QLNN để thúc đẩy phát triển KH & CN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai là vấn đề thiết thực và cấp bách, vừa có tính cơ bản, lâu dài cả về lý luận và thực tiễn đối với địa phương. Đó cũng là lý do chủ yếu của việc lựa chọn đề tài: "Hoàn thiện quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở tỉnh Đồng Nai". 2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Do KH & CN có vai trò quan trọng và phát triển rộng khắp trên thế giới nên việc nghiên cứu nhằm thúc đẩy phát triển lĩnh vực này đã được chú trọng từ lâu ở nhiều nước. Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về KH & CN và phát triển KH & CN của các nhà khoa học, các tổ chức. Chẳng hạn, công trình "Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ" của Trung tâm Chuyển giao công nghệ Châu Á - Thái Bình Dương (APCTT) với 6 cuốn sách, trong đó làm rõ những vấn đề chung về công nghệ và đánh giá công nghệ. Một số tác giả khác đi sâu vào hoạt động nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ như Morries Low (2000), B. Bowonder (1989), Ramanathan (1990), hoặc nghiên cứu một số kinh nghiệm về ứng dụng công nghệ ở một số nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc... Điều đáng chú ý là phần lớn các công trình này chỉ tập trung nghiên cứu KHCN và các biện pháp phát triển KH & CN. Còn QLNN về KH & CN chỉ được xem xét dưới từng khái cạnh, từng vấn đề như chiến lược, chính sách mà chưa được nghiên cứu dưới giác độ tổng thể, toàn diện. Ở Việt Nam, quản lý KH & CN đã được nghiên cứu nhiều ở dạng phương pháp luận chung nhất để dạy ở các trường đại học, các học viện hoặc được nghiên cứu ở tầm quốc gia do Bộ Khoa học và Công nghệ, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội thực hiện dưới dạng đề tài cấp Nhà nước, một vài tỉnh miền Bắc cũng có đề tài về KH & CN. Ở Đồng Nai, Tỉnh ủy, UBND Tỉnh đã tổ chức tổng kết hoạt động KH & CN và môi trường giai đoạn 1996-2000. Năm 2003, Tỉnh đã ban hành quy hoạch phát triển KH & CN và bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai đến năm 2010, có tầm nhìn đến năm 2020. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề QLNN về KH & CN trên địa bàn Tỉnh. Vì vậy, những mặt hạn chế của QLNN cũng như việc đề xuất các giải pháp để tăng cường QLNN về KH & CN trên địa bàn Tỉnh trong tình hình hiện nay- đổi mới để hội nhập kinh tế quốc tế chưa được làm rõ. 3. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU Mục đích nghiên cứu đề tài là trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận chung và phân tích thực trạng QLNN về KH & CN trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học, phù hợp, khả thi tiếp tục đổi mới QLNN về KH & CN ở địa phương nhằm góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH, góp phần phát triển KT-XH của Tỉnh. Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn: - Làm rõ cơ sở lý luận về KH & CN và QLNN về KH & CN đối với phát triển KH & CN trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế hiện nay. - Phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động KH & CN và QLNN về KH & CN ở tỉnh Đồng Nai, rút ra những thành tựu, hạn chế để từ đó làm rõ hơn các vấn đề cần giải quyết. - Kiến nghị, đề xuất các giải pháp khả thi để đổi mới QLNN về KH & CN, góp phần tích cực trong việc thúc đẩy phát triển KH & CN trên địa bàn Tỉnh. 4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu đề tài là những vấn đề cơ bản của QLNN về KH & CN, bao gồm từ việc hình thành bộ máy quản lý, đến xây dựng và vận hành cơ chế, chính sách, khung pháp luật cũng như việc thực hiện các chức năng cơ bản như kiểm soát hoạt động KH & CN. Phạm vi nghiên cứu đề tài chủ yếu tập trung làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn của QLNN về KH & CN ở cấp tỉnh trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, có so sánh và tìm hiểu trong phạm vi cả nước. Về thời gian nghiên cứu, chủ yếu từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới, nhưng trọng tâm là từ năm 1996 đến nay và dự định đổi mới đến năm 2010. 5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, trên cơ sở quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Ngoài ra, để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, trong luận văn sử dụng nhiều phương pháp chuyên ngành như phương pháp toán học, lôgíc học, thống kê, xã hội học, tiếp cận hệ thống. Trong đó, các phương pháp nghiên cứu cụ thể được chú trọng sử dụng như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, mô hình hoá, nội - ngoại suy, khảo sát thực tế và phương pháp kinh nghiệm. 6. ĐÓNG GÓP KHOA HỌC CỦA LUẬN VĂN - Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản của QLNN về KH & CN, góp phần nhỏ vào cơ sở dữ liệu khoa học của Tỉnh. - Đánh giá đúng thực trạng QLNN về KH & CN trên địa bàn và đề xuất được các giải pháp làm cơ sở khoa học cho các nhà quản lý tham khảo để đưa ra các quyết sách phù hợp về quản lý và phát triển KH & CN ở tỉnh Đồng Nai. - Kết quả nghiên cứu có thể làm tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý của Tỉnh, nhất là cán bộ công chức của Sở KH & CN. Qua đó, góp phần nâng cao nhận thức, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý và tác nghiệp cho cán bộ để có hiệu quả cao hơn. 7. KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1. KHÁI NIỆM, VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.1.1. Một số khái niệm cơ bản về khoa học và công nghệ 1.1.1.1. Khái niệm và phân loại khoa học Khoa học (science) ra đời bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của con người với tự nhiên nhằm làm chủ cuộc sống. Nó lý giải, tìm kiếm nguyên nhân của các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, xã hội và tư duy để trả lời câu hỏi “Tại sao?” của con người. Khoa học là một loại hình hoạt động xã hội đặc biệt nhằm đạt tới những hiểu biết mới và vận dụng những hiểu biết đó vào sản xuất và đời sống trong những điều kiện KT-XH nhất định. Khoa học là một dạng hoạt động đặc biệt của con người với những đặc điểm riêng về nội dung, về phương thức hoạt động, về quy luật phát triển và chức năng xã hội. Luật khoa học và công nghệ (2000) của Việt Nam nêu rõ: “Khoa học là hệ thống tri thức về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy”.[37, tr 2] Có rất nhiều cách phân loại khoa học. Theo Luật KH & CN thì có nhiều cách để tiếp cận việc phân chia khoa học, phổ biến nhất là hai cách sau đây: Một là, tiếp cận đối tượng. Theo cách này, khoa học gồm 2 loại: - Khoa học tự nhiên: Nghiên cứu các sự vật, hiện tượng, quá trình trong tự nhiên, phát hiện các quy luật, xác định các phương thức chinh phục và cải tạo nó. - Khoa học xã hội: Nghiên cứu các hiện tượng, quá trình và quy luật vận động, phát triển của xã hội, làm cơ sở để thúc đẩy tiến bộ xã hội và phát triển nhân tố con người. Hai là, tiếp cận từ cách thức tổ chức nghiên cứu khoa học. Theo cách phân chia này, khoa học gồm hai loại: - Khoa học cơ bản: Xác định những quy luật, phương hướng và phương pháp để triển khai khoa học ứng dụng. - Khoa học ứng dụng: Xác định những nguyên tắc, quy tắc và phương pháp cụ thể để ứng dụng khoa học cơ bản vào hoạt động cải biến các đối tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. 1.1.1.2. Khái niệm về công nghệ Trước đây, người ta hay dùng khái niệm kỹ thuật với ý nghĩa là công cụ, giải pháp và kiến thức được dùng trong sản xuất thay vì là khái niệm công nghệ (technology). Ngay cả khi mới xuất hiện, khái niệm công nghệ có nghĩa là trật tự các giải pháp kỹ thuật trong một dây chuyền sản xuất. Ngày nay, theo đúng nghĩa của nó, công nghệ được hiểu là phương tiện và hệ thống phương tiện dùng để thực hiện quá trình sản xuất, nhằm biến đổi đầu vào và cho đầu ra là các sản phẩm và dịch vụ mong muốn. Nói đến kỹ thuật là nhấn mạnh đến yếu tố phần cứng (thiết bị, phương tiện, máy móc), còn nói đến công nghệ là bao gồm cả phần cứng và phần mềm; trong đó, muốn nhấn mạnh đến yếu tố phần mềm (bí quyết, kinh nghiệm, quy trình, phương pháp…). Nói công nghệ tức là đề cập đến vấn đề “làm như thế nào?”. Công nghệ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ, phương tiện để biến đổi các nguồn lực thành các sản phẩm, dịch vụ mong muốn. Công nghệ bao gồm 4 yếu tố tác động qua lại lẫn nhau và cùng thực hiện quá trình sản xuất như sau: + Công cụ hay còn gọi là phần cứng (kỹ thuật), gồm: trang thiết bị, khí cụ, nhà xưởng. + Con người: gồm kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, tay nghề, kinh nghiệm, thói quen… + Thông tin (các bí quyết, quy trình, quy tắc), phương pháp, dữ liệu, bản thiết kế… + Tổ chức, quản lý: thể hiện trong bố trí sắp xếp, điều động, quản lý các yếu tố trên. 1.1.1.3. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ Khoa học và công nghệ có mối quan hệ biện chứng với nhau. Mối quan hệ này là biểu hiện của quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, trong đó: - Khoa học tạo cơ sở lý thuyết và phương pháp cho ứng dụng, triển khai công nghệ mới vào sản xuất và đời sống. Nếu khoa học cơ bản vạch ra những nội dung cơ bản, chủ yếu của công nghệ thì khoa học ứng dụng có vai trò cụ thể hóa lý luận của khoa học cơ bản vào phát triển công nghệ, đưa lại hiệu quả KT-XH trực tiếp. - Khoa học càng gần với hoạt động sản xuất và đời sống thì việc ứng dụng triển khai công nghệ càng mang tính trực tiếp nhiều hơn. - Công nghệ là cơ sở để khái quát hóa thành những nguyên lý khoa học. Công nghệ còn tạo ra phương tiện làm cho khoa học có bước tiến dài. Khoa học không chỉ thụ động mô tả, khái quát công nghệ mà còn tác động trở lại mở đường cho sự phát triển của công nghệ. Mối quan hệ giữa khoa học và công nghệ được thể hiện qua các giai đoạn phát triển lịch sử như sau: - Trước thế kỷ XIX, khoa học thường đi sau và giải thích cho sự phát triển của công nghệ Sản xuất ↔ Công nghệ ↔ Khoa học - Cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX: Khoa học mới tiếp cận kỹ thuật, công nghệ. Mỗi khó khăn của công nghệ là sự gợi ý cho nghiên cứu khoa học. - Từ những năm 50 của thế kỷ XX đến nay: Khoa học có bước nhảy vọt về chất, có vị trí dẫn đường và trở thành động lực quan trọng, trực tiếp nhất của sự phát triển công nghệ. Khoa học ↔ Công nghệ ↔ Sản xuất Tóm lại, quan hệ giữa khoa học và công nghệ là mối quan hệ nhân quả, tác động qua lại lẫn nhau và là nhân tố quan trọng hàng đầu thúc đẩy quá trình phát triển KT-XH của quốc gia, từng địa phương và toàn thế giới. 1.1.1.4. Hoạt động khoa học và công nghệ Theo Luật KH & CN thì hoạt động KH & CN gồm: nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ KH & CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất và các hoạt động khác nhằm phát triển KH & CN. - Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu khoa học gồm nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng. - Phát triển công nghệ là hoạt động nhằm tạo ra và hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới. Phát triển công nghệ bao gồm: triển khai thực nghiệm và sản xuất thử nghiệm. + Triển khai thực nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả nghiên cứu khoa học để làm thực nghiệm nhằm tạo ra công nghệ mới, sản phẩm mới. + Sản xuất thử nghiệm là hoạt động ứng dụng kết quả, triển khai thực nghiệm để sản xuất thử ở quy mô nhỏ nhằm hoàn thiện công nghệ mới, sản phẩm mới trước khi đưa vào sản xuất và đời sống. - Dịch vụ KH & CN là các hoạt động phục vụ việc nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; các hoạt động liên quan đến sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, các dịch vụ về thông tin, tư vấn, đào tạo, bồi dưỡng, phổ biến, ứng dụng tri thức KH & CN vào thực tiễn. 1.1.2. Vai trò của khoa học và công nghệ đối với sự phát triển kinh tế-xã hội nước ta hiện nay KH & CN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của nhân loại cũng như của mỗi quốc gia dân tộc. KH & CN là một nguồn lực không thể thiếu được đối với quá trình CNH, HĐH để phát triển KT-XH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay. Vai trò quan trọng của KH & CN được thể hiện ở những mặt sau: a) Mở rộng khả năng sản xuất của nền kinh tế - Dưới tác động của KH & CN, các nguồn lực của sản xuất được phát hiện, khai thác và đưa vào sử dụng ngày càng nhiều và có hiệu quả hơn - Nguồn lao động biến đổi theo hướng tiến bộ, nâng cao chất lượng, năng suất và hiệu quả hơn gấp nhiếu lần - Khả năng huy động và sử dụng tập trung các nguồn vốn có hiệu quả hơn thông qua các quá trình hiện đại hóa các tổ chức tín dụng, ngân hàng, các hệ thống thông tin liên lạc, giao thông vận tải… b) Chuyển nền kinh tế từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu Khoa học mở đường cho kinh tế phát triển, con người cùng với các phương tiện kỹ thuật hiện đại đã cho ra đời nhiều công nghệ mới. Nhanh chóng chuyển hướng nền kinh tế phát triển dựa vào trong thiên nhiên, sức lao động sang nền kinh tế tri thức. KH & CN là phương tiện để chuyển dịch nền kinh tế có đặc tính nông nghiệp, khai khoáng sang chế tạo, chế biến, tổng hợp, tái sinh, trong đó, tốc độ phát triển nhanh lao động trí tuệ là những đặc tính nổi bật c) Thúc đẩy quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế Sự phát triển mạnh mẽ của KH & CN không chỉ đẩy nhanh tốc độ phát triển của các ngành mà còn làm cho phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc, đưa đến sự phân chia các ngành; làm xuất hiện nhiều ngành, nhiều lĩnh vực kinh tế mới có liên hệ gắn bó hữu cơ với nhau. Cùng với quá trình phát triển của KH & CN, cơ cấu của nền kinh tế quốc dần biến đổi theo hướng: - Các ngành sản xuất vật chất (công nghiệp và nông nghiệp) đều tăng lên về sản lượng tuyệt đối, tỷ trọng GDP của ngành công nghiệp đều tăng dần và ngành nông nghiệp giảm dần. - Cơ cấu kinh tế trong nội bộ mỗi ngành cũng biến đổi theo hướng ngày càng tăng mạnh quy mô sản xuất ở các ngành có hàm lượng kỹ thuật, công nghệ cao. Vai trò của lao động trí tuệ trong các ngành kinh tế ngày càng được coi trọng và trở thành đặc trưng của sự phát triển KH & CN. d) Nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế trong nền kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, KH & CN không chỉ được coi là phương tiện có hiệu quả nhất trong việc đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, tạo ra sức cạnh tranh của một doanh nghiệp mà còn tạo ra nhu cầu mới thông qua việc cho ra những sản phẩm mới cung ứng cho thị trường để kích thích và mở rộng cầu. Nhờ đó mà mở rộng quy mô sản xuất của doanh nghiệp và tăng thêm sức cạnh tranh về hàng hóa của doanh nghiệp. Có thể nói, tiến bộ KH & CN là bí quyết của cạnh tranh về hàng hóa để một doanh nghiệp tồn tại và phát triển. Đối với nền kinh tế, việc ứng dụng KH & CN sẽ tiết kiệm được thời gian sản xuất, tiết kiệm lao động và mở rộng khả năng sản xuất. Từ đó, làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn. Đặc biệt, đối với những nước đang phát triển như nước ta, việc phát triển kinh tế thị trường, rút ngắn khoảng cách lạc hậu so với các nước phát triển chỉ có thể0 thực hiện được thông qua việc nhận thức và xử lý đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa vai trò của KH & CN với kinh tế thị trường. e) Thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế KH & CN không chỉ đưa ra những công cụ lao động mới mà còn đưa đến những phương pháp sản xuất mới, mở ra những khả năng mới về kết quả sản xuất và tăng năng suất lao động, làm tăng nhanh khối lượng sản phẩm, và vì thế, phần đóng góp của nó trong GNP, GDP ngày càng tăng lên. Ngày nay, KH & CN đã trở thành thước đo đánh giá trình độ phát triển kinh tế của mỗi nước. f) Góp phần tích cực phục vụ tiến bộ, công bằng xã hội KH & CN đã và đang trở thành công cụ mạnh mẽ làm biến đổi sâu sắc bộ mặt văn hóa, giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường, giúp con người có điều kiện phát triển về mọi mặt, mở rộng khả năng đáp ứng nhu cầu tri thức, nghiên cứu khoa học và lao động của con người… Hay nói cách khác, KH & CN cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ tiến bộ xã hội. Nhờ có KH & CN mà kinh tế phát triển, tích lũy xã hội tăng lên tạo điều kiện thuận lợi để xóa đói, giảm nghèo và giải quyết tốt các chính sách xã hội, rút ngắn khoản cách giữa người giàu và người nghèo đem lại xã hội công bằng, văn minh. KH & CN ngày nay là biểu hiện sức mạnh của trí tuệ loài người, là cơ sở và động lực quan trọng nhất cho sự phát triển KT-XH của các quốc gia. Nó có khả năng tạo ra những ngành kinh tế mới, những cách thức sáng tạo ra của cải mới, những đối tượng lao động mới cũng như các cơ hội mới cho sự phát triển của mỗi con người và quốc gia. 1.2. QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở VIỆT NAM 1.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1.2.1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Quản lý là hoạt động có chủ đích, được tiến hành bởi một chủ thể quản lý nhằm tác động lên đối tượng quản lý để thực hiện các mục tiêu xác định của công tác quản lý. Trong mỗi chu trình quản lý, chủ thể quản lý tiến hành những hoạt động theo các chức năng quản lý như hoạch định mục tiêu, các đường lối thực hiện mục tiêu, tổ chức, chỉ huy, điều hòa, phối hợp, kiểm tra và sử dụng các nguồn lực cơ bản như nhân lực, vật lực, tài lực, tin lực để thực hiện các mục tiêu tổng quát trong một thời gian nhất định. Quản lý nhà nước là sự quản lý của Nhà nước đối với xã hội và công dân và là dạng quản lý xã hội đặc biệt: Đó là sự chỉ huy, điều hành để thực thi quyền lực nhà nước; là tổng thể về thể chế, pháp luật, quy tắc, về tổ chức và cán bộ của bộ máy nhà nước; do tất cả các cơ quan nhà nước - lập pháp, hành pháp và tư pháp - có tư cách pháp nhân công pháp tiến hành bằng các văn bản quy phạm pháp luật , tổ chức, điều hành và kiểm tra, kiểm soát để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhà nước đã giao cho trong quá trình tổ chức và điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân. Quản lý KH & CN là quản lý hoạt động KH & CN trong xã hội. Hoạt động KH & CN có thể được định nghĩa như tất cả các hoạt động có hệ thống liên quan chặt chẽ tới việc sản xuất, nâng cao, truyền bá và ứng dụng các kiến thức KHCN trong thực tiễn sản xuất và đời sống. KH & CN nói ở đây bao gồm cả khoa học tự nhiên, kỹ thuật, công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn. Chính trong hoạt động KH & CN mà các kiến thức KH & CN được sản xuất ra, được thu thập, truyền bá, được sửa đổi, thích nghi cho phù hợp với nhu cấu và cho việc sử dụng. Nó bao gồm một diện rộng các hoạt động từ nghiên cứu cho đến dịch vụ KH & CN trong sản xuất, đào tạo kỹ năng vận hành công nghệ phục vụ cho việc phát triển công nghệ. Quản lý nhà nước về KH & CN đề cập ở đây là quản lý công tác KH & CN, nó bao gồm một nội dung rộng lớn và đa dạng hơn nhiều so với quản lý nghiên cứu khoa học với nghĩa hẹp. Quản lý nghiên cứu, trong thực tế hay gọi là nghiên cứu - triển khai, hoặc nghiên cứu - phát triển, là quản lý đối với công tác nghiên cứu khoa học và những họat động triển khai kỹ thuật, chỉ là một khâu trong hoạt động KH & CN nói trên. Trên thực tế, QLNN về KH & CN diễn ra ở nhiều tầng, nhiều lớp khác nhau. Trong phạm vi luận văn chỉ đề cập về quản lý nhà nước ở cấp tỉnh cụ thể ở Đồng Nai. 1.2.1.2. Nội dung của quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ QLNN về KH & CN là sự tác động của Nhà nước tới mọi hoạt động KH & CN của đất nước. Như vậy, hoạt động KH & CN là đối tượng quản lý của Nhà nước. Mục đích của QLNN về KH & CN là đảm bảo cho hoạt động KH & CN diễn ra theo chiến lược phát triển KT-XH và phục vụ cho chiến lược đó đạt hiệu quả cao, khơi dậy mọi tiềm năng KH & CN của đất nước để xây dựng đất nước giàu mạnh. Do đó nội dung QLNN về KHCN bao gồm: - Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH & CN để từ đó hình thành hệ thống các chương trình đề tài, dự án KH & CN. - Tổ chức, sắp xếp các tổ chức hoạt động KH & CN bao gồm các trung tâm, viện nghiên cứu và triển khai từ trung ương đến các địa phương và cơ sở. - Hoạch định và thực hiện các chính sách, thể chế về KH & CN và cơ chế quản lý KH & CN. - Tổ chức hệ thống quản lý nhà nước về KH & CN từ trung ương đến cơ sở, đặc biệt xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý KH & CN và hệ thống thanh tra, kiểm tra về KH& CN Nói tóm lại, nội dung QLNN về KH & CN là những hoạt động của Nhà nước về quyết sách, kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, điều tiết và điều khiển đối với hoạt động KHCN nhằm đạt hiệu quả nhất về KT-XH và môi trường sinh thái của một quốc gia trong một giai đoạn nhất định. 1.2.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ Hệ thống QLNN về KH & CN bao gồm cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp. 1.2.2.1. Cơ quan lập pháp Cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước là Quốc hội, có quyền ban hành các văn bản pháp luật về KH & CN như Luật KH & CN, các Pháp lệnh về quản lý KH & CN như Pháp lệnh Đo lường, Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa, Pháp lệnh an toàn và kiểm soát bức xạ. Có quyền quyết định những vấn đề hệ trọng đến KH & CN như xây dựng các nhà máy thuỷ điện quan trọng, các nhà máy điện hạt nhân, các dự án KH & CN trọng điểm; có quyền giám sát tối cao về KH & CN. Để giúp Quốc hội thực hiện chức năng QLNN về KH & CN , trong Quốc hội có Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường chuyên trách nghiên cứu thẩm định các văn bản pháp luật về KH & CN và phản biện các dự án Luật về KH & CN để trình Quốc hội thông qua. 1.2.2.2. Cơ quan hành pháp: Chính phủ thống nhất QLNN về KH & CN. Hàng năm, Chính phủ báo cáo với Quốc hội về việc thực hiện các chính sách, biện pháp để phát triển KH & CN; việc sử dụng ngân sách Nhà nước đầu tư phát triển KH & CN; kết quả hoạt động KH & CN. * Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ trong quản lý KH & CN [42,tr 10] - Thống nhất quản lý và phát triển hoạt động KH & CN; chỉ đạo thực hiện chính sách, kế hoạch phát triển KH & CN; - Quyết định chính sách cụ thể về KH & CN để bảo đảm phát triển về KH & CN là quốc sách hàng đầu, ưu tiên đầu tư cho những hướng KH & CN hiện đại, công nghệ cao, chú trọng công nghệ thông tin, công nghệ sinh học; đa dạng hóa và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư phát triển KH & CN; - Thống nhất quản lý các tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, hệ thống thông tin KH & CN; sử dụng có hiệu quả các thành tựu KH & CN; - Thống nhất quản lý tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ; 1.2.2.3. Bộ Khoa học và Công nghệ Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện QLNN về KH & CN trong phạm vi cả nước, có nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Chính phủ. * Vị trí và chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ: Bộ Khoa học và Công nghệ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng QLNN về hoạt động KH & CN, phát triển tiềm lực KH & CN; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm, hàng hóa; sở hữu trí tuệ, năng lượng nguyên tử; an toàn bức xạ và hạt nhân; QLNN các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc Bộ quản lý. Thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn Nhà nước thuộc Bộ quản lý theo quy định của pháp luật. 1.2.2.4. Hội đồng Nhân dân, Ủy ban Nhân dân các cấp Trách nhiệm QLNN về KH & CN của HĐND, UBND các cấp: UBND các cấp thực hiện QLNN về KH & CN ở địa phương theo quy định của pháp luật * Cấp tỉnh:[38, tr10] - Nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND cấp tỉnh (điều 13-Luật Tổ chức HĐND và UBND đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26/11/2003): 1. Quyết định chủ trương, biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng tiến bộ KH & CN để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương. 2. Quyết định biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. - Nhiệm vụ và quyền hạn của UBND cấp tỉnh (điều 91-Luật Tổ chức HĐND và UBND): 1. Chỉ đạo và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch cụ thể phát triển KH & CN …, thực hiện các biện pháp khuyến khích việc nghiên cứu, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng các tiến bộ KH & CN phục vụ sản xuất và đời sống; 2. Quản lý các chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học cấp tỉnh hoặc được cấp trên giao; quản lý hoạt động chuyển giao công nghệ, tham gia giám định nhà nước về công nghệ đối với các dự án đầu tư quan trọng ở địa phương. 3. Chỉ đạo, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm; an toàn và kiểm soát bức xạ; sở hữu công nghiệp; việc chấp hành chính sách, pháp luật về KH & CN…, ở địa phương; ngăn chặn việc sản xuất, lưu hành hàng giả và bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. * Cấp huyện: [38, tr 18] - Nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp huyện: 1. Quyết định biện pháp ứng dụng tiến bộ KH & CN, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống của nhân dân ở địa phương 2. Quyết định các biện pháp thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương, bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. - Nhiệm vụ, quyền hạn của UBND cấp huyện: 1. Thực hiện các biện pháp ứng dụng tiến bộ KH & CN phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân ở địa phương 2. Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về tiêu chuẩn, đo lường và chất lượng sản phẩm, kiểm tra chất lượng sản phẩm và hàng hóa trên địa bàn huyện, ngăn chặn việc sản xuất và lưu hành hàng giả, hàng kém chất lượng tại địa phương. 1.2.2.5. Sở Khoa học và Công nghệ Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND Tỉnh, giúp UBND Tỉnh thực hiện chức năng QLNN về hoạt động KH & CN, phát triển tiềm lực KH & CN trên tất cả các lĩnh vực KT-XH; tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng sản phẩm; sở hữu trí tuệ (không bao gồm quyền tác giả về văn học, nghệ thuật và nhãn hiệu hàng hóa); an toàn bức xạ và hạt nhân trên địa bàn Tỉnh theo quy định của Pháp luật (theo Thông tư Liên tịch số 15/2003/TTLT-BKHCN-BNV ngày 15/07/2003 của liên Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn giúp UBND QLNN về KH & CN ở địa phương) thì Sở Khoa học và Công nghệ có 16 nhiệm vụ và quyền hạn cụ thể được nêu tương đối chi tiết. 1.2.2.6. Cơ quan chuyên môn cấp Huyện Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN; Tùy tình hình địa phương, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ chủ trì phối hợp với Giám đốc Sở Nội vụ xây dựng phương án tổ chức trình UBND Tỉnh quyết định hình thức tổ chức cơ quan chuyên môn thực hiện nhiệm vụ QLNN về KH & CN trên địa bàn huyện. Cơ quan chuyên môn giúp UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc Tỉnh QLNN về KH & CN có 9 nhiệm vụ được hướng dẫn tại mục II.1 của Thông tư Liên tịch số 15. 1.3. KINH NGHIỆM TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1.3.1. Kinh nghiệm của một số nước trong quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ 1.3.1.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc [40]: Từ năm 1985, Trung quốc tiến hành cải cách hệ thống khoa học và kỹ thuật, thiết lập cơ chế liên kết giữa khoa học với sản xuất và áp dụng một loạt các biện pháp nhằm nâng cao trình độ công nghệ và tính cạnh tranh của các doanh nghiệp. - Thực hiện những hợp đồng nghiên cứu: 7.469 Hợp đồng chuyển giao công nghệ đã được ký kết trong giai đoạn 1985-1998 giữa cơ quan nghiên cứu và các doanh nghiệp. - Chương trình đốm lửa: Đây là chương trình chiến lược đầu tiên nhằm tăng cường phát triển kinh tế nông thôn, chương trình ra đời từ năm 1986 nhằm ứng dụng khoa học - kỹ thuật và huy động các nguồn lực của nông thôn cho các làng thị trấn. Chương trình này do Nhà nước phát động với sự tham gia của địa phương và các chủ trang trại. Chương trình bao gồm việc nhập, hấp thụ và mở rộng công nghệ, kết hợp với những cải cách và chuyển đổi kinh tế từ bao cấp sang kinh tế thị trường. Chủ trì chương trình là Ủy ban Khoa học và Công nghệ ở từng cấp tương ứng. Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước là cơ quan cao nhấ._.t có trách nhiệm đưa ra những những hướng dẫn và chính sách. Nhiều nguồn vốn được huy động để tham gia tài trợ cho chương trình: trợ giúp của Chính phủ, Ngân hàng, Quỹ tăng trưởng doanh nghiệp, vốn huy động trong dân… - Thành lập các Trung tâm dịch vụ công nghệ mới và công nghệ cao Các Trung tâm này chủ yếu được thành lập ở các Khu Công nghệ cao để chuyển giao các kết quả nghiên cứu cho các cơ sở sản xuất. Từ năm 1987, 70 Trung tâm ươm công nghệ đã được thành lập. Các Trung tâm, xí nghiệp trong các Khu Công nghệ cao được hưởng nhiều điều kiện ưu đãi. Những Trung tâm này tạo thành phần quan trọng cho “Chương trình bó đuốc” tại các tỉnh, thành phố. - Vùng phát triển công nghệ cao-“Chương trình bó đuốc” “Chương trình bó đuốc” do Ủy ban Khoa học và Công nghệ Nhà nước khởi xướng vào tháng 8/1988 nhằm phát triển những sản phẩm mới và công nghệ cao trên cơ sở kết hợp chặt chẽ với các trường Đại học, Viện Nghiên cứu. Nội dung của chương trình là thành lập những vùng phát triển công nghệ cao để xây dựng những Xí nghiệp công nghệ mới. Nhiều chính sách ưu đãi được áp dụng ở các vùng công nghệ cao như thuế ưu đãi, trợ giúp đặc biệt cho các doanh nghiệp công nghệ mới, nhất là đối với các lĩnh vực như công nghệ sinh học, vật lý năng lượng cao và điện tử, vật liệu, máy tính….Chương trình đã giúp thương mại hóa những sản phẩm công nghệ mới và công nghệ cao từ kết quả nghiên cứu của những chương trình quốc gia, làm thích ứng những công nghệ nhập, nhiều nguồn vốn được huy động cho chương trình, vốn mạo hiểm ban đầu được cấp cho doanh nghiệp công nghệ mới… 1.3.1.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc [40]: Để thích ứng với sự phát triển năng động của nền kinh tế tri thức, Hàn Quốc quyết tâm xây dựng chính sách KH & CN tiên tiến trong thế kỷ XXI để có thể đạt được lợi ích lớn nhất mà tiềm năng đất nước mới có thể đem lại. Chính sách KH & CN của Hàn Quốc được xác định: Thứ nhất, đánh giá và quản lý các chương trình R&D cấp Nhà nước một cách hiệu quả hơn. Hiện tại, hàng năm Chính phủ dành khoảng 3 tỷ USD cho các chương trình R&D cấp Nhà nước. Vì vậy, Chính phủ đang tập trung nỗ lực để nâng cao hiệu quả các chương trình này. Hội đồng KH & CN quốc gia là các vị Bộ trưởng, giới khoa học, công nghiệp liên quan giúp Chính phủ điều phối, đánh giá phân tích và quản lý tất cả các chương trình R&D cấp Nhà nước về liên kết giữa khoa học và sản xuất. Ngay từ những năm 80, Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã nhận thấy hiệu quả sự hợp tác giữa Viện Nghiên cứu với các doanh nghiệp nên đã hình thành sự liên kết dọc để đưa những kết quả nghiên cứu vào sản xuất và áp dụng công nghệ mới; đồng thời tiến hành liên kết ngang giữa các cơ quan R&D để tạo ra thị trường công nghệ. Bộ Khoa học và Công nghệ đã lập ra hệ thống nghiên cứu hỗn hợp, qua đó các doanh nghiệp có thể tham gia vào các đề án do Bộ giao cho các viện nghiên cứu. Chính phủ cũng mở rộng nghiên cứu và phát triển cho các doanh nghiệp tư nhân. Tuy nhiên, sự liên kết giữa các cơ quan R&D không đủ để thương mại hóa, Hàn Quốc đã áp dụng một chiến lược hỗn hợp: Kết hợp công nghệ ngoại nhập, làm phù hợp với nhu cầu hoàn thiện công nghệ trong nước để đáp ứng sự cạnh tranh trên thị trường. Năm 1992, Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập Trung tâm Thương mại hóa R&D nhằm tăng cường việc chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các công nghệ mới từ các trường đại học và các cơ quan nghiên cứu. Chính phủ đảm bảo 80-90% đầu tư cho R&D của các cơ quan R&D đối với các chương trình, đề án về phát triển công nghệ công nghiệp, công nghệ biến đổi năng lượng của Nhà nước, hỗ trợ tới 50% chi phí cho việc thương mại hóa các công nghệ mới cho doanh nghiệp tư nhân. Nhà nước hỗ trợ kinh phí cho ngành công nghiệp chủ yếu cho những chương trình R&D có rủi ro cao, công nghệ tốn kém mà ngành công nghiệp không thể một mình triển khai. Trung tâm hợp tác giữa ngành công nghệ với các trường Đại học và Viện Nghiên cứu thuộc Viện chính sách KH & CN của Viện Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc được thành lập nhằm chuyển giao sở hữu tri thức từ các Viện nghiên cứu của Nhà nước cho ngành công nghiệp, tham khảo công nghệ miễn phí và được cung cấp những thông tin đặc biệt. Thứ hai, hình thành các chương trình R&D cấp nhà nước trong các lĩnh vực then chốt. Mục đích là để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh, phát triển các công nghệ hàng đầu, dự báo là sẽ rất cần thiết trong đầu thế kỷ XXI, Bộ Khoa học và Công nghệ Hàn Quốc đã đề ra nhiều chương trình R&D cấp Nhà nước trong các lĩnh vực chuyên môn then chốt như công nghệ thông tin (IT), công nghệ sinh học (BT), công nghệ Nano (NT), công nghệ văn hóa (CT), công nghệ vũ trụ (ST) và công nghệ môi trường (ET). Trong số các lĩnh vực trên, đặc biệt nhấn mạnh 3 lĩnh vực IT, BT và ST, một tỷ lệ lớn khám phá được tập trung cho 3 nhiệm vụ này. Nhằm hỗ trợ cho các nổ lực đã được định hướng này, Chính phủ Hàn Quốc đã tăng kinh phí dành cho R&D năm 2003 lên 3,8 tỷ USD (chiếm 4,6% tổng chi ngân sách của Chính phủ) Thứ ba, nâng cao nhận thức về vai trò của khoa học trong cộng đồng nhân dân. Hàn Quốc hy vọng rằng điều này sẽ tạo ra một sự quan tâm đích thực về khoa học, nuôi dưỡng khoa học và tạo ra một nền văn hóa trong xã hội: + Chương trình chiến dịch sách khoa học (The Science Book Start Campaign), mọi người dân có thể tham gia quyên góp và gửi các loại sách khoa học cho học sinh các cấp sinh sống tại các vùng sâu. + Cuối năm 2003 thành lập Bảo tàng Khoa học quốc gia tầm cỡ thế giới tại Seoul. + Xây dựng một xã hội quan tâm tới khoa học, trong đó, các nhà khoa học nhận được những sự đánh giá trân trọng vì những đóng góp của họ cho đất nước, nhân loại. + Chuyển 16 trường phổ thông trung học thành các trường cho các học sinh năng khiếu khoa học. Năm 2003, đã chuyển đổi 2 trường. Thứ tư, Chính phủ tăng cường đầu tư vào các ngành khoa học cơ bản nhằm nâng cao trình độ khoa học của Hàn Quốc lên tầm thế giới. Đặc biệt đầu tư cho các Trung tâm xuất sắc trong nghiên cứu khoa học cơ bản và hỗ trợ những tài năng có thiên hướng về khoa học cũng như cho các nhà khoa học trẻ có ý tưởng sáng tạo đặc biệt. Cuối cùng, Hàn Quốc nỗ lực toàn cầu hóa các hoạt động KH & CN của mình để kết nối xu hướng đổi mới KH & CN trên thế giới. 1.3.1.3. Kinh nghiệm của Ấn Độ [40]: Từ năm 1984, Ấn Độ đã cấu trúc lại một số các doanh nghiệp để hình thành các doanh nghiệp KH & CN nhằm liên kết nghiên cứu với sản xuất, đặc biệt trong các lĩnh vực điện tử, vi tính, cơ khí chế tạo máy, tự động và điều khiển, hóa học, khoa học vật liệu, công nghệ sinh học và môi trường. Văn phòng quốc gia về phát triển các doanh nghiệp KH & CN có sự tham gia của các cơ quan tài chính, ngân hàng, đầu tư đã được thành lập để điều phối hoạt động của các doanh nghiệp KH & CN. - Chương trình phát triển công nghệ nội địa Chương trình được hình thành do đòi hỏi của công nghiệp cần nhu cầu tiêu thụ và những tư vấn có giá trị. Chương trình thành lập một Ủy ban về thông tin, dự báo và đánh giá công nghệ. Ủy ban này xem xét những công nghệ đã được nghiên cứu trong nước, hướng dẫn, tổ chức đưa vào những ngành công nghệ cần thiết, có khả năng phát triển và thương mại hóa những công nghệ đó. - Chương trình mục tiêu tự liên kết về công nghệ Chương trình nhằm hỗ trợ những cố gắng của ngành công nghiệp trong việc phát triển các công nghệ nội địa và hấp thụ những công nghệ ngoại nhập. Chương trình cung cấp một phần tài chính cho các dự án nghiên cứu phát triển, thiết kế kỹ thuật, thực hiện việc phối hợp giữa các cơ quan R&D, các trường Đại học với công nghiệp. Thí dụ điển hình về thành công của chương trình là: + Phòng thí nghiệm hóa học quốc gia đã hợp tác với ngành công nghệ dược phẩm, nghiên cứu quy trình công nghệ ổn định chế tạo thuốc B6 và sau đó, công nghệ này đã được công ty đa quốc gia Hoftmann LaRiche của Thụy Sỹ thương mại hóa. + Viện Công nghệ hóa học của Ấn Độ (IICT) đã liên kết với Công ty công nghiệp hóa hữu cơ của Ấn Độ (NOCIL) để phát triển công nghệ sản xuất thuốc trừ sâu Monocrotophos. Hiện nay, Công ty NOCIL và Công ty hóa Sudarhan đang sản xuất theo công nghệ này. 1.3.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ ở một số địa phương trong nước. 1.3.2.1. Một số kinh nghiệm của Hà Nội: [28] Qua 25 năm hoạt động KH & CN, Hà Nội có thể rút ra một số vấn đề về quản lý KH & CN Một là, Thành ủy, HĐND, UBND nghiên cứu và vận dụng sáng tạo tư tưởng định hướng chiến lược phát triển KH & CN mà các Nghị quyết Đại hội Đảng các nhiệm kỳ, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), kết luận Hội nghị TW6 (khóa IX) trong chỉ đạo hoạt động KH & CN Thủ đô. Hai là, Hoạt động KH & CN đã bám sát và phục vụ đắc lực các mục tiêu phát triển KT-XH mà Đại hội Đảng bộ thành phố các nhiệm kỳ đề ra. Ba là, hiệu quả hoạt động KHCN không ngừng được nâng lên. Điều đó do nhiều nguyên nhân mà trong đó có 3 vấn đề có ý nghĩa quyết định: + Ưu tiên phát triển tiềm lực KH & CN. + Đổi mới chính sách đãi ngộ thu hút nhân tài. + Xây dựng cơ chế ứng dụng, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào đời sống. Bốn là, bên cạnh việc phát huy nội lực, vấn đề tiếp thu thành tựu KH & CN của thế giới và tranh thủ sự hợp tác quốc tế và tranh thủ lực lượng KH & CN của Trung ương là nhân tố mang tính quyết định tốc độ phát triển của KH & CN. Tuy nhiên quản lý hoạt động KH & CN ở Hà Nội cũng còn những hạn chế nhất định, chủ yếu do công tác dự báo và kế hoạch hóa KH & CN còn mang nặng tính bao cấp, chưa hình thành thị trường KH & CN và còn những bất cập về cơ chế, chính sách, nhất là chính sách đối với đội ngũ cán bộ KH & CN chậm được đổi mới. 1.3.2.2. Một số kinh nghiệm của Thành phố Hồ Chí Minh [29,34] - Sở Khoa học và Công nghệ thành phố đã thực hiện tốt các nhiệm vụ do Bộ Khoa học và Công nghệ, Thành ủy và UBND thành phố Hồ Chí Minh giao theo kế hoạch hàng năm với sự chủ động, sáng tạo và bám sát vào nhu cầu thực tế về phát triển thành phố, CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. - Hoạt động nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ phục vụ tốt các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, phát triển tiềm lực KH & CN, kinh tế, thể dục-thể thao, an ninh-quốc phòng. Thông qua việc xây dựng và tuân thủ nghiêm túc quy chế quản lý đề tài, dự án triển khai KH & CN (đã được UBND thành phố ban hành); tăng cường các đề tài đặt hàng thông qua tiếp xúc các doanh nghiệp, Ban quản lý các Khu chế xuất và Khu công nghiệp, các cơ sở sản xuất, các Sở, Ngành.. để nâng cao tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu phục vụ có hiệu quả cho phát triển KT-XH thành phố; đẩy mạnh triển khai các kết quả nghiên cứu KH & CN có tính khả thi ứng dụng vào thực tế thông qua việc hỗ trợ chuyển giao kết quả nghiên cứu và hoàn thiện công nghệ trong quá trình ứng dụng. - KH & CN bám sát và phục vụ tốt các chương trình trọng điểm của thành phố: + Tham gia chương trình phát triển nguồn nhân lực thành phố với những dự án, đề tài khoa học về đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược quy hoạch phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của thành phố và vùng; triển khai các dự án xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu đào tạo. + Tham gia chương trình hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng suất và chất lượng-hội nhập với các hoạt động: * Tổ chức các hoạt động tư vấn, tập huấn hỗ trợ nâng cao năng suất, chất lượng hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến; hỗ trợ doanh nghiệp tiết kiệm năng lượng. * Hình thành và vận hành chợ thiết bị-công nghệ trên mạng. * Hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế, đăng ký và bảo hộ 1.000 nhãn hiệu. + Tham gia chương trình phát triển công nghệ thông tin thành phố thông qua tổ chức triển khai và quản lý các dự án ứng dụng công nghệ thông tin và GIS trong quản lý hành chính Nhà nước. 1.3.3. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm quản lý khoa học, công nghệ ở trong và ngoài nước đối với tỉnh Đồng Nai Một là, nhận thức đúng đắn về vai trò của KH & CN trong quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế của các cấp lãnh đạo là yếu tố mang tính quyết định cho sự phát triển KH & CN, qua đó thúc đẩy nhanh phát triển KT-XH. Không ít nơi vẫn tuyên truyền KH & CN là quốc sách nhưng thực tế trong lãnh đạo, chỉ đạo điều hành kém quan tâm, không tập trung đầy đủ nguồn lực, thiếu các định hướng chiến lược, mục tiêu cũng như các giải pháp quan trọng. Hai là, xây dựng chiến lược, sách lược và kế hoạch về KH & CN để thực hiện những mục tiêu trong từng giai đoạn 5 năm với những chương trình tập trung và chính sách hỗ trợ là vô cùng quan trọng. Ba là, đổi mới quản lý theo hướng đưa nhanh ứng dụng KH & CN vào sản xuất và ứng dụng trong cuộc sống, gắn khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thông qua các mô hình liên kết giữa nhà khoa học với doanh nghiệp. Bốn là, ưu tiên đầu tư từ nguồn vốn ngân sách và huy động các nguồn vốn trong xã hội cho phát triển KH & CN. Năm là, quan tâm ươm tạo và phát triển tiềm lực KH & CN đặc biệt là con người. CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Ở TỈNH ĐỒNG NAI 2.1. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ Ở TỈNH ĐỒNG NAI 2.1.1. Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Đồng Nai tác động đến phát triển khoa học và công nghệ của Tỉnh 2.1.1.1. Đặc điểm tự nhiên của tỉnh * Vị trí địa lý kinh tế, hành chính Tỉnh Đồng Nai thuộc miền Đông Nam Bộ. Diện tích tự nhiên là 5894,74km2 (bằng 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% vùng miền Đông Nam Bộ), tỉnh có thành phố Biên Hòa, thị xã Long Khánh và 9 huyện. Về ranh giới hành chính, tỉnh Đồng Nai nằm ở trung tâm của vùng KTTĐPN; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phía Tây giáp thành phố Hồ Chí Minh. Tỉnh Đồng Nai có hệ thống giao thông thủy bộ, đường sắt nối liền các địa phương khác trong cả nước, có sân bay quân sự Biên Hòa; là địa bàn trọng yếu về kinh tế, chính trị, quốc phòng-an ninh, có vị trí quan trọng trong sự phát triển của vùng KTTĐPN, gắn kết vùng Đông Nam Bộ với cả Tây Nguyên, tương đối thuận lợi trong phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ. Hình 2.1: Bản đồ hành chính Tỉnh (sang trang sau) * Về tài nguyên Nguồn tài nguyên của tỉnh Đồng Nai khá dồi dào từ đất đai, khoáng sản, nước, rừng… Điều k0iện tự nhiên ở Đồng Nai nhìn chung rất thuận lợi cho sự phát triển nhanh và bền vững KT-XH của tỉnh và thuận lợi cho ứng dụng các thành tựu KH & CN. 2.1.1.2. Đặc điểm xã hội tỉnh Đồng Nai * Về dân cư Đồng Nai là một trong những địa phương có tốc độ tăng dân số nhanh. Đến năm 2004, dân số trung bình toàn tỉnh là 2.184.704 người. Trong đó, thành thị là 704.690 người, chiếm 31%. Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng nhanh, dự báo vào năm 2010 là 50%, đưa Đồng Nai trở thành một trong những địa phương có tỷ lệ dân đô thị cao trong cả nước. Chất lượng dân số ở Đồng Nai những năm gần đây được nâng lên rõ rệt nhờ thực hiện các chính sách dân số, y tế, xã hội, giáo dục, sự tiếp thu KH & CN tương đối. Tuy nhiên, nhiều vấn đề về dân cư đang đòi hỏi địa phương phải có những giải pháp khoa học, đồng bộ, hợp lý trong quá trình đô thị hóa gắn liền phát triển KT-XH. * Về dân tộc Trên địa bàn tỉnh Đồng Nai hiện có 47 dân tộc đang sinh sống. Người Kinh chiếm 91,3% dân số. Người Hoa xếp thứ hai, với 5,1%. Kế đến là các cư dân bản địa như Châu Ro, Châu Mạ, Stiêng. Phần lớn đồng bào các dân tộc sinh sống chủ yếu ở các vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi, đời sống kinh tế tiếp cận KH & CN gặp nhiều khó khăn. * Về tôn giáo Đồng Nai là một trong những tỉnh có đông tín đồ của những tôn giáo lớn: Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Cao Đài, Hòa Hảo, Hồi giáo… Người theo đạo ở Đồng Nai chiếm khoảng 52% dân số, trong đó Công giáo có số lượng tín đồ trên 30%. Những năm qua, các tổ chức tôn giáo và đồng bào có đạo trong tỉnh có nhiều đóng góp trên các lĩnh vực xây dựng và phát triển KT-XH, họat động KH & CN và an ninh, quốc phòng. * Về nguồn nhân lực Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động đã thay đổi từ 51,8% vào năm 1989 lên 63% năm 2004, trong khi tỷ lệ chung của cả nước là 50%. Tỷ lệ người thất nghiệp giảm nhanh trong điều kiện phát triển kinh tế, nhất là lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ. Năm 2004, có 78% lao động của tỉnh đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Cơ cấu lao động ở Đồng Nai có sự chuyển dịch nhanh trong những năm qua, nhất là ở hai ngành nông-lâm nghiệp và công nghiệp chế biến. Nếu lao động trong ngành nông-lâm nghiệp giảm từ 64,5% năm 1990 xuống 49% năm 2004 thì lao động ở ngành công nghiệp chế biến đã tăng từ 13,6% lên 21,4%. Do vị trí địa lý thuận lợi, nguồn nhân lực luôn được bổ sung, hấp thu, chia sẻ những thành tựu KH & CN từ nhiều nguồn đào tạo và liên tục chuyển dịch, thay đổi và phát triển về số lượng lẫn chất lượng Nguồn nhân lực ở Đồng Nai không những phát triển về số lượng mà chất lượng ngày càng được nâng cao, bên cạnh sự thu hút lao động từ các tỉnh khác kết hợp sự quan tâm giáo dục-đào tạo của địa phương. 2.1.1.3. Đặc điểm kinh tế Trong gần 30 năm, nền kinh tế của tỉnh Đồng Nai đã có những bước phát triển hết sức to lớn. Giai đoạn đổi mới đến nay (1986-2005), kinh tế Đồng Nai có những bước nhảy vọt, tạo nên những chuyển biến tích cực. Tăng trưởng kinh tế hàng năm luôn đạt mức cao 12-13%, thời kỳ 1991-1995 cao nhất GDP bình quân tăng 14%/ năm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao đã góp phần tăng nhanh mức sống dân cư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao vị thế của tỉnh trở thành vùng kinh tế năng động cả nước. Hình 2.2. Tổng sản phẩm nội địa tỉnh Đồng Nai (giá so sánh 1994) Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai a) Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Kinh tế Đồng Nai giai đoạn 1990-2005 không những tăng trưởng với tốc độ cao mà còn tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu mạnh mẽ, từ cơ cấu kinh tế nông nghiệp là chủ yếu sang một nền kinh tế có ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng vượt trội. Cơ cấu kinh tế đã có chuyển hướng tích cực, tỷ trọng công nghiệp từ 18,2% năm 1985 đã tăng lên 38,7% năm 1995 và 57% năm 2005. Trên địa bàn đã hình thành cơ cấu kinh tế mới: Công nghiệp-Dịch vụ-Nông nghiệp, làm thay đổi về chất những điều kiện KT-XH trong những năm tiếp theo. Bảng 2.1. Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế tỉnh Đồng Nai, 1990-2005 Đơn vị:% Khu vực 1990 1995 2000 2005 Nông, lâm, ngư nghiệp 50,12 31,8 22,8 15 Công nghiệp-Xây dựng 20,72 38,7 52,2 57 Dịch vụ 29,16 29,5 25 28 Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong những năm qua ở Đồng Nai đã nâng cao đáng kể hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhất là ở khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Trên 80% doanh nghiệp đầu tư nước ngoài có khả năng xuất khẩu; trong đó, có 68,6% doanh nghiệp đã trực tiếp xuất khẩu, góp phần chuyển giao công nghệ, tạo thêm nhiều việc làm. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch kinh tế thời gian qua có hạn chế ở khu vực dịch vụ, sau một thời gian tăng trưởng nhanh cả về quy mô và tỷ trọng; năm 2000, giảm 4,5% về tỷ trọng so với năm 1995, mặc dù nhịp độ tăng trưởng bình quân vẫn trên 8%, tức cao gấp 2 lần so với mức bình quân chung của cả nước. b) Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế Thực hiện chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước, các thành phần kinh tế trong tỉnh Đồng Nai phát triển mạnh tạo sự chuyển dịch về cơ cấu khá rõ nét. Trong khi kinh tế nhà nước, nhất là các doanh nghiệp nhà nước vẫn tăng trưởng khá thì khu vực kinh tế dân doanh và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tăng trưởng mạnh, góp phần chuyển dịch khá nhanh cơ cấu kinh tế của tỉnh. Bảng 2.2. Chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế tỉnh Đồng Nai 1999- 2005 Đơn vị: % Khu vực 1990 1995 2000 2005 Quốc doanh 37,8 36 31 25,8 Dân doanh 62,2 51 40 38,2 Có vốn đầu tư nước ngoài 0 13 29 36 Nguồn: Cục Thống kê Đồng Nai Sự chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế ở Đồng Nai trong những năm qua cho thấy khu vực kinh tế nhà nước tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, mặc dù tỷ trọng có xu hướng giảm nhưng đã từng bước sắp xếp lại; đầu tư đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế. Mặt khác, doanh nghiệp nhà nước luôn nắm giữ các ngành, khâu quan trọng: thép, điện, phân bón, giấy, tài chính, thông tin… Khu vực kinh tế dân doanh được khuyến khích phát triển đúng hướng nên có sự phát triển nhanh các loại hình doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân) và hộ cá thể, mặc dù tỷ trọng có giảm sút nhưng vẫn chiếm 38,2%. Kinh tế có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã và đang được xem là một bộ phận kinh tế quan trọng thúc đẩy kinh tế trên địa bàn Đồng Nai tăng trưởng nhanh. Đến nay, Đồng Nai trở thành một trong những địa phương có số dự án và vốn đầu tư nước ngoài cao nhất nước. Nhìn chung, sau 15 năm qua (1990-2005), tình hình kinh tế Đồng Nai đã có những chuyển biến tích cực theo hướng CNH, HĐH. Những thành tựu về KH & CN và phát triển KT-XH đã trực tiếp cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện tốt xóa đói giảm nghèo, tăng nhanh khả năng tích lũy cho đầu tư phát triển. Tuy nhiên, nền kinh tế Đồng Nai đã và đang bộc lộ những hạn chế và yếu kém nhất định. Khu vực dịch vụ tuy được chú trọng nhưng phát triển chưa kịp yêu cầu, nhất là trong khi khu vực sản xuất công nghiệp phát triển nhanh. Những vấn đề nảy sinh của quá trình đô thị hóa nhanh đã chậm được khắc phục: trong khi dân số đô thị gia tăng nhanh chóng, hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị chưa được đầu tư tương xứng, nhất là hệ thống nước thải, nhà ở, sự phát triển nhanh của sản xuất công nghiệp đang dẫn đến sự quá tải về môi trường và các dịch vụ xã hội, ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững; đồng thời, tạo sự chênh lệch khá lớn về mức sống giữa nông thôn và thành thị. c) Phát triển các khu công nghiệp của tỉnh Đồng Nai + Thành tựu trong phát triển các KCN của tỉnh Đồng Nai KCN được hình thành từ lâu, khởi đầu là Khu Kỹ nghệ Biên Hòa ra đời từ năm 1963 (nay là KCN Biên Hòa). Đến nay, Đồng Nai là tỉnh có nhiều KCN nhất nước. Các KCN thu hút được 83% dự án có vốn đầu tư nước ngoài (tỷ lệ này ở thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương thấp hơn). Năm 2004, Đồng Nai là địa phương dẫn đầu cả nước về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, với trên 450 doanh nghiệp đã đi vào hoạt động, khu vực này tạo nhiều việc làm, thu hút trên 190.000 lao động, chiếm khoảng 90% kim ngạch xuất khẩu của tỉnh . Năm 2005 lĩnh vực đầu tư nước ngòai tiếp tục tăng. Việc hình thành các KCN không chỉ tạo điều kiện về kết cấu hạ tầng, mặt bằng cho các doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện quản lý tập trung hơn, thúc đẩy thu hút công nghệ tiên tiến, hiện đại từ nước ngoài. 2.1.2. Tiềm lực và thực trạng khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai 2.1.2.1. Tiềm lực khoa học và công nghệ tỉnh Đồng Nai a) Về nguồn nhân lực Theo số liệu điều tra đầu năm 2004, số người đạt trình độ tiến sĩ có 50 người, thạc sĩ có 173 người, đại học và cao đẳng xấp xỉ 29.000 người. Qua điều tra cho thấy, số người có trình độ cao về KH & CN còn thấp, tình trạng lão hóa đội ngũ cán bộ khoa học chủ chốt của Tỉnh tăng nhanh. Đội ngũ này đã và đang phát huy vai trò của mình trong các hoạt động KT-XH của tỉnh và đang thường xuyên nâng lên. Tuy nhiên, nguồn nhân lực Đồng Nai vẫn còn thiếu và yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu CNH, HĐH của Tỉnh. Nhiều ngành, nghề còn thiếu chuyên gia giỏi, kỹ sư đầu đàn, đội ngũ cán bộ kỹ thuật lành nghề, cán bộ lãnh đạo quản lý cũng có nơi có lúc chưa ngang tầm. Đội ngũ tiến sĩ, thạc sĩ tăng nhưng phần lớn không trực tiếp tham gia nghiên cứu, triển khai KH & CN. Trong vòng 5-10 năm tới nếu không có giải pháp tích cực để giải quyết nguồn nhân lực thì sự thiếu hụt cán bộ KH & CN chủ chốt, cán bộ đầu đàn, chuyên gia giỏi sẽ dẫn tới khủng hoảng về nguồn nhân lực chất lượng cao b) Về cơ sở vật chất - kỹ thuật Tiềm lực cơ sở vật chất - kỹ thuật cho KH & CN của Tỉnh thể hiện ở đầu tư và trang bị cho hệ thống các Trung tâm, Trạm, Trại cấp tỉnh và cấp huyện, các cơ sở đào tạo chuyên nghiệp tham gia nghiên cứu, tổ chức, chuyển giao công nghệ, các bệnh viện, trường học, hệ thống thông tin KH & CN, hệ thống quản lý KH & CN. Hoạt động và mức độ trang bị của các tổ chức này có vai trò quan trọng trong chuyển giao công nghệ, khuyến nông, khuyến lâm, Trung tâm tuyển chọn và nhân giống, phổ biến giống mới; là cơ sở đào tạo chuyên môn KH & CN sâu về các lĩnh vực sản xuất dịch vụ, sản phẩm chủ yếu của Tỉnh. Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ, trên địa bàn Tỉnh có 17 cơ sở trạm, trại, trung tâm và viện nghiên cứu, số lượng và thực lực còn yếu, chưa được nâng cấp để đáp ứng cơ bản yêu cầu của CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. c) Các tổ chức KH & CN - Các tổ chức có thực hiện hoạt động nghiên cứu KH & CN trên địa bàn tỉnh gồm 6 trung tâm, 9 bệnh viện, 1 nhà bảo tàng, 1 vườn quốc gia. - Các hội và hiệp hội KH & CN bao gồm 1 liên hiệp và 19 hội nghề nghiệp thuộc các lĩnh vực: khoa học – kỹ thuật, kinh tế, luật, sử học, tin học, hóa học, y - dược, xây dựng, kiến trúc, làm vườn. - Các tổ chức quản lý KH & CN gồm các cơ quan chủ yếu: Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Công nghiệp, Sở Nông nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường; Sở Y tế; Giáo dục và Đào tạo; Cục Thống kê. - Các tổ chức đào tạo KH & CN gồm 1 trường chính trị, 1 trường đại học, 1 phân hiệu trường đại học, 3 trường cao đẳng, 3 trường công nhân kỹ thuật và đào tạo nghề. - Các tổ chức ứng dụng KH & CN: là các công ty, nhà máy, xí nghiệp trên địa bàn, hơn 500 doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. 2.1.2.2. Về tiềm năng hợp tác, liên kết KH & CN - Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung 20 trường Đại học, 40 Viện, phân Viện và trên 60 Trung tâm nghiên cứu, triển khai KH & CN, là nơi hội tụ đông đủ các nhà khoa học, các chuyên gia chỉ cách tỉnh lỵ Đồng Nai khoảng 30 km, là tiềm lực KH & CN vô cùng to lớn để hợp tác, liên kết, phát huy tiềm lực KH & CN nội sinh của đất nước mà tỉnh Đồng Nai có điều kiện thuận lợi để khai thác và hợp tác. - Các tiền đề KH & CN được tạo ra trên địa bàn Đồng Nai trong những năm qua sẽ được tiếp tục nhân rộng và phát huy hiệu quả trong giai đoạn tiếp theo, đó là những mô hình sản xuất tiên tiến, những câu lạc bộ năng suất cao, sản xuất giỏi, những trung tâm học tập cộng đồng, những điểm thông tin KH & CN, những mô hình phát triển KT-XH tổng hợp theo hướng CNH, HĐH. 2.1.2.3. Thực trạng công nghệ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai Trình độ công nghệ của tỉnh Đồng Nai đối với các sản phẩm hàng hóa bao gồm lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, may mặc, giày dép, gốm sứ, thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến, thiết bị điện tử, tin học, cơ khí, hóa chất… Thực trạng công nghệ qua khảo sát 543 doanh nghiệp vào cuối năm 2004 cho thấy hiện trạng trình độ công nghệ của từng doanh nghiệp và của các nhóm ngành được xác định và so sánh đánh giá thông qua các hệ số thành phần kỹ thuật Technoware (T), con người Humanware (H), thông tin Infoware (I), tổ chức Orgaware (O), và hệ số đóng góp của công nghệ (TCC). Cụ thể theo các hệ số như sau: - Hệ số kỹ thuật (T): Giá trị của chỉ số này được đánh giá dựa trên các yếu tố như: Tính đồng bộ (GT1), nước sản xuất (GT2), thời kỳ sản xuất (GT3), mức độ tinh xảo (GT4), tình trạng hiện tại (GT5), thời gian còn có thể sử dụng (GT6), ô nhiễm và an toàn lao động (GT7) và xử lý môi trường (GT8). Số liệu điều tra của 543 doanh nghiệp này cho thấy thành phần T có giá trị là 0,7366, cao nhất trong 4 chỉ số công nghệ. - Hệ số về con người (H) là hệ số thấp nhất (0,3662) trong 4 thành phần T, H, I, O. Hệ số này phụ thuộc vào trình độ học vấn (GH1), kinh nghiệm làm việc (GH2), công tác đào tạo (GH3), chuyên gia nước ngoài (GH4), năng lực làm việc (GH5), nghiên cứu triển khai (GH6) và trách nhiệm xã hội (GH7) - Hệ số về thông tin (I): Thành phần thông tin có giá trị cao 0,7026, thành phần này phụ thuộc các yếu tố cơ sở vật chất thông tin (GI1), sử dụng máy tính (GI2), nguồn gốc thông tin (GI3), sử dụng thông tin (GI4), lưu trữ, tìm kiếm, trao đổi cập nhật (GI5) - Hệ số về tổ chức (O): Thành phần tổ chức chỉ đạt mức trung bình 0,5823. Thành phần này phụ thuộc chiến lược, mục đích, tôn chỉ của doanh nghiệp (GO1), khen thưởng (GO2), công tác kiểm tra đánh giá kết quả (GO3), tuyển dụng (GO4), phương pháp quản lý (GO5), hiệu lực của công tác quản lý (GO6) và chứng chỉ chất lượng (GO7) Như vậy, hiện trạng công nghệ tỉnh Đồng Nai được đánh giá thông qua các hệ số thành phần T, H, I, O và hệ số đóng góp của công nghệ (TCC) được ho với kết quả sau trên mẫu khảo sát là 543 doanh nghiệp. Hình 2.3. Chỉ số công nghệ TCC, T, H, I, O toàn tỉnh 2.1.3. Tình hình nghiên cứu ứng dụng khoa học và công nghệ trong một số lĩnh vực trên địa bàn tỉnh Đồng Nai 2.1.3.1. Lĩnh vực công nghiệp Từ năm 1975, với 33 nhà máy ở Khu Kỹ nghệ Biên Hòa cũ, hoạt động cầm chừng, thiếu nguyên liệu, vật tư, phụ tùng thay thế. Đến nay, sản xuất công nghiệp đã không ngừng tăng lên cả về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm, đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng và tham gia xuất khẩu, nâng cao được sức cạnh tranh trên thị trường. Việc đầu tư, đổi mới thiết bị và công nghệ, ứng dụng các thành tựu KH & CN có tác dụng mạnh mẽ trong việc xác lập các ngành công nghiệp chủ lực, có tính chất nền tảng và mũi nhọn (điện, luyện kim, kỹ thuật điện-điện tử, hóa chất, vật liệu xây dựng, giấy, may mặc…), góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu và tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Từ năm 1996, ngoài các đề tài, sáng kiến về kỹ thuật, công nghệ được ứng dụng vào sản xuất tại các doanh nghiệp, các công trình nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ chiến lược cho từng giai đoạn phát triển xã hội cũng bắt đầu được triển khai thực hiện và có hiệu quả. Đến năm 2000, có nhiều kỹ thuật công nghệ mới được đưa vào sản xuất như: Chuyển từ lò nung bằng củi sang lò Tuynen nung bằng gas, dầu; đưa 10 dây chuyền công nghệ mới vào sản xuất gạch men; sử dụng công nghệ sản xuất bình ắc quy khô của Châu Âu đạt chất lượng ISO 9002; đưa dây chuyền sản xuất cáp điện thoại của Mỹ với vốn đầu tư 70 tỷ đồng làm tăng sản lượng lên gấp 3 lần. Hoàn thiện công nghệ đúc khuôn cát và hoàn chỉnh dây chuyền lắp ráp máy nổ thế hệ mới, hình thành dây chuyền lắp ráp máy nổ chất lượng cao RV 12,5, sản xuất hàng xuất khẩu; chế tạo máy cuốn tôn._.hững lĩnh vực còn thiếu, yếu cho hiện tại và theo quy hoạch phát triển các ngành KT-XH của Tỉnh. - Tạo điều kiện để đội ngũ cán bộ KH & CN được đào tạo và đào tạo lại thường xuyên thông qua các lớp tập huấn, các khóa học chuyên ngành và các hình thức đào tạo thuận lợi qua mạng. - Đẩy mạnh xã hội hóa đào tạo cán bộ KH & CN cho Tỉnh: Mở rộng các hình thức đào tạo: đào tạo tại chức, đào tạo từ xa, đào tạo theo chương trình, đào tạo kèm cặp, cử cán bộ chuyên gia về địa phương…bên cạnh đào tạo chính quy; tạo điều kiện và khuyến khích các trường tăng cường liên kết đào tạo để mở các lớp đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộ kỹ thuật trên địa bàn; - Phối hợp các ngành, các Hội và đoàn thể để phát động các hội thi nhằm nâng cao tay nghề cho đội ngũ cán bộ KH & CN như thi giáo viên giỏi, nông dân giỏi, trái cây chất lượng cao, hội thi sáng tạo kỹ thuật, thi robot, tin học trẻ không chuyên…qua đó khuyến khích mọi công dân không ngừng học tập và sáng tạo trong môi trường mình đang hoạt động. c) Quy định các chủ trương, biện pháp chính sách cụ thể hóa đối với cán bộ KH & CN - Tập trung đầu tư tài chính và có chính sách hỗ trợ cho các chương trình đào tạo sau đại học, chương trình năng khiếu, chương trình khuyến học, các lớp năng khiếu …, tạo điều kiện cho học sinh, cán bộ công chức, người lao động có điều kiện nâng cao trình độ để phát triển nguồn nhân lực về lượng và chất. Bên cạnh các biện pháp tài chính, hành chính nêu trên, biện pháp thi đua được mở rộng trong các lĩnh vực cũng góp phần phát triển nhân lực, thúc đẩy nhân tài phát triển như các hội thi tay nghề, hội thi tin học, hội thi robot, hội thi sáng tạo kỹ thuật. Giải pháp vật chất cũng cần quan tâm đúng mức về tinh thần thông qua công tác thông tin tuyên truyền, quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng với các chương trình phong phú, hấp dẫn như những buổi giao lưu với những học sinh giỏi, những nhà KH & CN đóng góp thành quả cho xã hội, tôn vinh nhân tài qua các hình thức báo công tại Nhà Văn Miếu Tỉnh. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về vai trò cán bộ KH & CN trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, xây dựng xã hội văn hóa học tập, khoa học. 3.2.3.2. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động KH & CN Xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn để định ra những chương trình, dự án trọng điểm của Tỉnh về KH & CN như KCN công nghệ cao, chương trình công nghệ thông tin, chương trình công nghệ sinh học để từ đó có kế hoạch, dự án đầu tư tập trung giúp cho hoạt động KH & CN có bước đột phá mới về chất, chú trọng ứng dụng khoa học hiện đại, chuyển giao công nghệ tiên tiến vào các dự án công trình KT - XH lớn của Tỉnh để xây dựng nên những công trình hiện đại, đáp ứng tốt phát triển KT-XH của Tỉnh. - Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao KH & CN. Bên cạnh việc củng cố phát triển mạng lưới các đơn vị, tổ chức ứng dụng triển khai các tiến bộ KH & CN nhà nước cần tiếp tục đầu tư cho các Phòng Thí nghiệm, các Trạm, Trại, các Trung tâm và các vườn thực nghiệm để những nơi này có điều kiện cung cấp, quảng bá cho người dân những sản phẩm có hàm lượng KH & CN cao, các giống cây con đem lại năng suất, chất lượng tốt. Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho các đơn vị, trung tâm thẩm định kiểm nghiệm những phương tiện kiểm tra hiện đại để quản lý nhà nước có hiệu quả cao như: Trung tâm Quan trắc và Kỹ thuật môi trường, Trung tâm kiểm định đo lường, Trung tâm Y tế Dự phòng, Trung tâm Kiểm tra An toàn bức xạ… - Xây dựng chính sách để khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia nghiên cứu và ứng dụng KH & CN hiện đại vào dịch vụ, sản xuất, quản lý nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các doanh nghiệp trong nước, các trung tâm nghiên cứu và ứng dụng KH & CN. - Xây dựng quỹ phát triển KH & CN của Tỉnh để thu hút các nguồn vốn đa dạng hóa các nguồn đầu tư cho KH & CN và tạo điều kiện để phát triển tiềm lực KH & CN, ứng dụng và nhân nhanh các kết quả KH & CN. 3.2.3.3. Phát triển các mạng lưới, các tổ chức KH & CN, quản lý và phục vụ KH & CN, đa dạng hóa các tổ chức hoạt động KH & CN Ưu tiên phát triển các tổ chức KH & CN thuộc dạng nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ phục vụ sản xuất kinh doanh: Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm nông nghiệp Hưng Lộc thuộc Viện khoa học Việt Nam bên cạnh kinh phí của Viện, địa phương cần quan tâm xây dựng cơ chế phối hợp theo chương trình dự án để Trung tâm có điều kiện đóng góp trực tiếp vào các dự án phát triển giống cây, giống con ở địa phương; Công ty giống cây trồng mặc dù đã chuyển sang Công ty TNHH 1 thành viên nhưng Nhà nước cần có cơ chế đặt hàng để khai thác, phát huy hơn 100 ha đất và đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật của công ty nhằm cung cấp được những giống mới đạt chất lượng cho nông dân; Trung tâm khuyến nông và lực lượng khuyến nông của Tỉnh cần có chương trình đào tạo lại hàng năm và định kỳ có tổ chức hội thảo chuyên đề để kịp thời cập nhật thông tin KH & CN mới và những thông tin có liên quan trực tiếp đến sản xuất tiêu thụ sản phẩm của người dân. - Trung tâm khuyến công mới được thành lập cần được quan tâm đầu tư để Trung tâm có điều kiện triển khai chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình hội nhập, sớm có xưởng thực nghiệm giúp triển khai chương trình ươm mầm doanh nghiệp. - Phòng nuôi cấy mô của Sở KH & CN cần được đầu tư phát triển để cung cấp nhiều chủng loại giống cây quý đạt chất lượng cao cho các vùng chuyên canh như bưởi, mía, lan, nấm các loại. .. - Xây dựng chính sách khuyến khích các công ty có Phòng thí nghiệm, phòng nuôi cấy mô, xưởng thực nghiệm, trại thực nghiệm, phòng R & D. Giới thiệu và mở rộng các mô hình coi trọng KH & CN trong chiến lược phát triển của đơn vị như Công ty DonaTechno, Công ty DonaFoods, Công ty mía đường Trị An. - Phối hợp các tổ chức nghề nghiệp để xây dựng các dự án, chương trình phối hợp các doanh nghiệp với các tổ chức hoạt động KH & CN trên địa bàn: + Sở KH & CN phối hợp với Hội làm vườn, Trung tâm khuyến nông để hướng dẫn hình thành các câu lạc bộ năng suất cao, các hợp tác xã tiên tiến; + Sở KH & CN phối hợp với Hội tin học để triển khai các Trung tâm công nghệ thông tin ở huyện, các điểm thông tin KH & CN ở cấp xã; + Sở KH & CN phối hợp với Sở Y tế và các Hội y học, để triển khai các nhiệm vụ KH & CN trong lĩnh vực y tế có hiệu quả; 3.2.3.4. Tăng cường công tác thông tin và thống kê KH & CN - Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu về các hoạt động KH & CN như cơ sở dữ liệu dự án, đề tài đã triển khai trên địa bàn Đồng Nai, qua đó để đánh giá lại hiệu quả ứng dụng và đề xuất các giải pháp trong quản lý, tích hợp cơ sở dữ liệu về các dự án, đề tài của cả nước đã nghiệm thu đạt kết quả cao, có khả năng ứng dụng và nhân rộng trên địa bàn Đồng Nai; số hóa 100.000 câu hỏi đáp về KH & CN để cung cấp kiến thức cho người dân. Tập hợp và xây dựng cơ sở dữ liệu về các phim KH & CN, các quy trình sản xuất, các nhà khoa học, các mô hình, các điểm sáng về ứng dụng KH & CN để cung cấp cho các điểm thông tin KH & CN xã, phường. - Phổ biến, tuyên truyền nhân rộng các thành quả KH & CN qua các báo, tạp chí do Sở KH & CN phát hành, qua phương tiện thông tin đại chúng của Tỉnh, qua các điểm thông tin KH & CN, các trung tâm học tập cộng đồng và hệ thống khuyến nông, khuyến công. - Điều tra thu thập và thường xuyên cập nhật các thông tin quản lý KH & CN là vô cùng cần thiết và định kỳ hàng năm, 5 năm phải có điều tra thu thập để giúp cho các nhà quản lý có quyết sách đúng đắn kịp thời. Cần thực hiện các giải pháp: + Tuyên truyền, phổ biến và có kế hoạch thực hiện Nghị định về thống kê KH & CN khi được ban hành (Sở KH & CN phối hợp với Sở Tư pháp, Cục Thống kê và các ngành, huyện, thị xã, thành phố triển khai); + Hàng năm, Sở KH & CN cần có kế hoạch và dự toán để thực hiện công tác thống kê KH & CN trên địa bàn Tỉnh; + Ký kết hợp đồng với Cục Thống kê để điều tra, cập nhật bổ sung trình độ công nghệ các doanh nghiệp chủ yếu trên địa bàn; + Mỗi kỳ kế hoạch 5 năm, bên cạnh các số liệu chỉ tiêu KT-XH cần có những số liệu về quản lý KH & CN như trình độ công nghệ, đội ngũ cán bộ KH & CN, giá trị gia tăng do KH & CN đem lại. .. - Hiện đại hóa, công khai hóa, kịp thời và chính xác thông tin KH & CN. Các thông tin KH & CN cần được kịp thời chuyển đến người dân với công nghệ hiện đại thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và kênh riêng của thông tin KH & CN. Sở KH & CN tập trung phát triển Trung tâm tin học và thông tin KH & CN, đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật có am hiểu về nghiệp vụ đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội, về thông tin KH & CN, phát triển đội ngũ theo hướng chuyên nghiệp và tăng số lượng cộng tác viên với cơ chế thù lao trả theo chất lượng, số lượng bản tin đáp ứng yêu cầu của khách hang. - Xây dựng chương trình thông tin KH & CN để góp phần nâng cao nhận thức, ứng dụng thành tựu KH & CN, tiến tới xây dựng xã hội học tập, coi trọng khoa học; Để nâng cao nhận thức của mọi người dân nhất là các cấp lãnh đạo, các cấp quản lý về vai trò KH & CN là quốc sách hàng đầu và thực sự xem KH & CN là nền tảng, động lực đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; cần xây dựng chương trình thông tin KH & CN với những mục tiêu, nội dung cụ thể để qua đó lãnh đạo các cấp tập trung nguồn lực và giải pháp trong điều hành. 3.2.4. Đổi mới cơ chế tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ a) Thành lập quỹ phát triển KH & CN để hỗ trợ hoạt động KH & CN - Theo hướng dẫn của Bộ KH & CN, đang trình UBND Tỉnh thành lập quỹ phát triển KH & CN cấp Tỉnh để huy động mọi nguồn lực trong và ngoài Tỉnh cho hoạt động KH & CN, hỗ trợ hoạt động KH & CN cho các tổ chức, cá nhân KH & CN thuộc mọi thành phần kinh tế và qua đó đổi mới phương thức đầu tư tài chính cho các hoạt động KH & CN. - Nguồn thu của quỹ được huy động từ nhiều nguồn trong đó có ngân sách nhà nước, một phần kinh phí sự nghiệp KH & CN. - Hình thức cấp vốn chủ yếu của quỹ phát triển KH & CN là cho vay ưu đãi không lãi, lãi suất thấp, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc cấp phát kinh phí sau đầu tư. Quỹ sẽ cấp hỗ trợ một phần hay toàn bộ kinh phí theo dự toán ban đầu. b) Đổi mới phương thức đầu tư tài chính đối với nguồn vốn ngân sách. - Nhà nước đảm bảo kinh phí cho hoạt động của bộ máy theo cơ chế khoán quỹ lương và chi hành chính cho các tổ chức KH & CN trọng điểm, quan trọng và đối với các tổ chức không thuộc diện tự trang trải kinh phí. - Nhà nước đảm bảo kinh phí đầu tư, xây dựng tiềm lực trang thiết bị, xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ KH & CN trọng điểm. Đối với các tổ chức khác, Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí thông qua các chương trình, đề tài. - Thực hiện các nhiệm vụ KH & CN có hai phương thức cấp phát: + Đối với các nhiệm vụ KH & CN trọng điểm, quan trọng: Cấp phát kinh phí theo hợp đồng đặt hàng qua giao trực tiếp hay đấu thầu; + Đối với các nhiệm vụ KH & CN khác: Nhà nước bảo lãnh để quỹ phát triển KH & CN cho vay hoặc cấp phát theo phương thức thích hợp. - Đổi mới cơ chế tài chính sao cho phù hợp với hoạt động khoa học để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà khoa học trong việc thực hiện nhiệm vụ KH & CN và giảm hình thức thanh quyết toán phức tạp mang tính hình thức như hiện nay, cần mở rộng phương thức khoán kinh phí theo kết quả từng đầu công việc và nhiệm vụ được giao. Cần thành lập các tổ chức đánh giá KH & CN độc lập để đánh giá kết quả thích hợp các nhiệm vụ KH & CN do Nhà nước cấp kinh phí cũng như giúp quỹ phát triển KH & CN trong việc thẩm định, đánh giá các nhiệm vụ KH & CN được quỹ tài trợ, quyết định mức hỗ trợ lãi suất hoặc mức kinh phí sẽ cấp phát. - Đổi mới cơ chế tài chính không chỉ ở khía cạnh quản lý chi tiêu mà tiến hành toàn diện trên tất cả các mặt từ phương thức xét duyệt cấp phát, mối quan hệ trách nhiệm giữa chủ nhiệm đề tài với cơ quan chủ trì, quy trình giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Khoa học và Công nghệ với Sở Tài chính …phải tiến hành đồng bộ với nhau. 3.2.5. Hình thành và phát triển thị trường KH & CN Xây dựng một thị trường KH & CN phát triển trở thành một trong những nhiệm vụ trung tâm của nước ta trong những năm tới. Đại hội IX của Đảng khẳng định “Tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường theo định hướng XHCN”; “Khẩn trương tổ chức thị trường KH & CN, thực hiện tốt bảo hộ Sở hữu trí tuệ, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ về thông tin chuyển giao công nghệ”. Thực tế, thị trường KH & CN nước ta vẫn chưa phát triển. Ở Đồng Nai trong thời gian qua đã có những hoạt động để thúc đẩy thị trường như tổ chức Hội chợ Techmart tại các huyện nhưng nhìn chung mới tạo lập và phát triển sơ khai, chưa đồng bộ thị trường này. Sắp tới để thị trường KH & CN sớm hình thành cần có định hướng và giải pháp tích cực theo các phương hướng sau đây: a) Phát triển thị trường KH & CN phải gắn kết với tạo lập và phát triển đồng bộ các loại thị trường trên địa bàn: Thị trường sức lao động, thị trường dịch vụ, thị trường tài chính - tiền tệ…thị trường KH & CN vừa là mục tiêu vừa là giải pháp tạo động lực phát triển các thị trường khác. b) Phát triển thị trường KH & CN phải gắn với thị trường khu vực và cả nước và gắn với nhiệm vụ phát triển KT-XH của Tỉnh. c) Phát triển thị trường KH & CN phải gắn với việc hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ, sử dụng tiềm lực KH & CN, khuyến khích liên doanh liên kết giữa sản xuất kinh doanh với nghiên cứu KH & CN. d) Hình thành và phát triển các yếu tố cấu thành thị trường KH & CN trên cơ sở tiếp tục phát triển hoạt động KH & CN. Khuyến khích các doanh nghiệp tham gia thị trường KH & CN, tạo nhu cầu, điều kiện để doanh nghiệp đổi mới công nghệ. Từng bước chuyển các tổ chức thực hiện nghiên cứu ứng dụng KH & CN sang cơ chế tự trang trải theo Nghị định 10/ 2002/ NĐ.CP về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu. Tiến tới thành lập các doanh nghiệp hoạt động KH & CN; tạo môi trường liên kết giữa các viện, trường với sản xuất, chú trọng các tổ chức dịch vụ, môi giới, tiếp thị thị trường KH & CN. Để thúc đẩy thị trường KH&CN phát triển, cần chú ý các giải pháp: 1/ Nhóm giải pháp thúc đẩy cung công nghệ a) Phát triển công nghệ trong nước - Thúc đẩy sớm hình thành KCN công nghệ cao tại huyện Nhơn Trạch hoặc Long Thành để có điều kiện thu hút công nghệ cao và qua đó xây dựng, hoạt động ươm tạo công nghệ, ươm tạo doanh nghiệp dựa trên công nghệ hoàn thiện và thương mại hóa kết quả R&D. - Sớm hình thành và vận hành Quỹ phát triển KH & CN của tỉnh, giành tỉ lệ thích đáng để hỗ trợ các hoạt động ươm tạo công nghệ, nghiên cứu những công nghệ có triển vọng, thành lập doanh nghiệp mới nhằm thương mại hóa những công nghệ có triển vọng, hỗ trợ các hoạt động đầu tư mạo hiểm. - Vận dụng chính sách ưu đãi để đẩy mạnh hoạt động ươm tạo công nghệ của các tổ chức và cá nhân trên địa bàn, nhất là đối với công nghệ cao. - Tiếp tục thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới, hỗ trợ 30% kinh phí đầu tư. Nâng tỉ trọng đầu tư từ kinh phí sự nghiệp KH & CN cho các hoạt động sáng tạo, hoàn thiện công nghệ. - Có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mua thiết kế, chuyển giao công nghệ tiên tiến, kết hợp nâng cao năng lực thiết kế, chế tạo công nghệ trong nước. - Có chương trình hỗ trợ doanh nghiệp trong nước để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. b) Tăng cường hợp tác công nghệ với nước ngoài - Khuyến khích các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư cho năng lực R&D tại Đồng Nai. Khuyến khích liên doanh liên kết giữa các tổ chức trong nước với nước ngoài về thành lập các cơ sở nghiên cứu và đào tạo. Ưu đãi đầu tư đặc biệt đối với các công ty thành lập cơ sở về sản xuất, nghiên cứu, thiết kế công nghệ. - Khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài có chương trình đào tạo nghề, kỹ năng, kỹ thuật cho lao động Việt Nam hoặc hỗ trợ về công nghệ, kỹ thuật cho doanh nghiệp trong nước. 2. Nhóm giải pháp kích cầu công nghệ a) Hoàn thiện cơ chế, chính sách QLNN đối với thị trường KH&CN để thúc đẩy cung cầu hàng hoá KH&CN phát triển. Thúc đẩy hình thành môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao: để doanh nghiệp trong nước có giải pháp tích cực trong môi trường cạnh tranh khi hội nhập quốc tế cần sớm cổ phần hóa doanh nghiệp và chỉ giữ tỉ lệ đầu tư của nhà nước ở mức 51% đối với một vài doanh nghiệp mang tính chiến lược, có như vậy mới thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ, áp dụng các giải pháp khoa học tiên tiến trong quản lý. b) Khuyến khích hỗ trợ, thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ của doanh nghiệp để “kích cầu” thị trường KH & CN - Tiếp tục cải cách kinh tế vĩ mô, kiên quyết giảm bao cấp, giảm bảo hộ độc quyền đối với doanh nghiệp nhà nước, tạo môi trường pháp lý kinh doanh cạnh tranh bình đẳng nhằm tạo sức ép cạnh tranh trên thị trường “buộc” doanh nghiệp phải chú ý tới đổi mới công nghệ để nâng cao hiệu quả sản xuất-kinh doanh. - Hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đầu tư đổi mới công nghệ thông qua các hình thức: hỗ trợ vốn để thực hiện các dự án đổi mới công nghiệp của doanh nghiệp; hỗ trợ chuyên gia, thực hiện các dịch vụ như bảo hộ sở hữu trí tuệ…hoặc thực hiện các chương trình đồng bộ hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. - Khuyến khích, ưu đãi đầu tư nước ngoài hướng vào đầu tư đổi mới công nghệ và thực hiện các hoạt động nghiên cứu, triển khai ở Đồng Nai, phát triển các công ty đầu tư mạo hiểm và các doanh nghiệp KH & CN có sự tham gia của phía nước ngoài. - Tăng cường trách nhiệm của quản lý KH & CN ở địa phương đối với việc thúc đẩy đầu tư đổi mới công nghệ, cụ thể là: thực hiện đánh giá trình độ công nghệ, tốc độ đổi mới công nghệ hàng năm của một số lĩnh vực quan trọng có tác động đến kinh tế của tỉnh. Đổi mới cơ chế quản lý KH & CN theo hướng sản phẩm KH & CN phải trở thành hàng hóa. Khen thưởng những đề tài, những ứng dụng KH & CN đem lại hiệu quả KT-XH cao. - Đẩy mạnh thực hiện Nghị định 119/1999/NĐ-CP ngày 18/9/1999 của Chính phủ về các chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho hoạt động KH & CN . - Định kỳ UBND Tỉnh tổ chức đối thoại giữa doanh nghiệp với các cơ quan chức năng để nghe doanh nghiệp phản ánh về các chính sách, qua đó rà soát, điều chỉnh chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp sớm đổi mới công nghệ nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh. - Hình thành, phát triển mạng lưới khuyến nông, khuyến công để tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp về công nghệ. Tiếp tục nhân rộng các mô hình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ. 3. Nhóm giải pháp phát triển các loại hình trung gian công nghệ a) Xây dựng và hình thành môi trường mua bán thuận lợi - Định kỳ tổ chức chợ công nghệ thiết bị ở cấp huyện để tạo điều kiện đưa công nghệ đến gần nông dân, tổ chức cho các nhà khoa học, doanh nghiệp giới thiệu, chào bán sản phẩm công nghệ. - Hình thành mục tư vấn đầu tư và giới thiệu công nghệ trên trang web của tỉnh. Kết nối trang web của Sở với các trang web ở các điểm thông tin khoa học công nghệ, tiến tới hình thành hình thức thương mại điện tử. b) Phát triển các dịch vụ mua bán,giám định, đánh giá công nghệ và các dịch vụ pháp lý liên quan đến công nghệ và sở hữu trí tuệ - Nhà nuớc đầu tư thỏa đáng cho các trung tâm khuyến công, khuyến nông, các trung tâm ứng dụng tiến bộ KH & CN để các trung tâm này có điều kiện nâng cao năng lực tư vấn, hỗ trợ dịch vụ cho doanh nghiệp, nông dân. - Có chính sách ưu đãi và tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh doanh vào các hoạt động, đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ mang tính chuyên môn hóa. c) Nâng cao hiệu lực thực thi pháp luật để bảo vệ quyền lợi chính đáng của doanh nghiệp về quyền sở hữu trí tuệ: Sở KH & CN phốp hợp với Sở Tư pháp để tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp các luật về sở hữu trí tuệ về chuyển giao công nghệ; tiếp tục thực hiện quy chế phối hợp với các ngành chức năng để giải quyết đúng đắn, kịp thời các tranh chấp về sở hữu trí tuệ. KẾT LUẬN Khoa học và Công nghệ là một trong những vấn đề được nhân loại quan tâm nhất trong thời đại ngày nay. Do đó, vai trò QLNN về KH & CN là vô cùng quan trọng. Đối với Đồng Nai , để đẩy nhanh tiến trình CNH, HĐH , hoàn thiện QLNN về KH & CN là một yêu cầu cấp bách để KH & CN thực sự trở thành động lực thúc đẩy KT-XH phát triển. Đồng Nai với vị trí địa lý, điều kiện thiên nhiên và xã hội, kinh tế thuận lợi, thuộc vùng KTTĐPN trở thành vùng kinh tế động lực của cả nước. Những năm qua, Đồng Nai đã đạt được những thành tựu to lớn, tốc độ tăng trưởng kinh tế và đóng góp cho ngân sách đứng thứ 3 - thứ 4 trong cả nước. Đồng Nai tiếp tục đặt ra những mục tiêu phấn đấu nhằm góp phần xây dựng đất nước Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020. Đối với Việt Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng hiện đang tồn tại mâu thuẫn giữa nhu cầu cấp bách của sự phát triển nhanh KH & CN nhằm đẩy mạnh CNH, HĐH với thực trạng và thực lực còn yếu kém của trình độ KH & CN và QLNN về KH & CN. Vì vậy, cần phải phát huy vai trò của Nhà nước trong quản lý KH & CN để tạo dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển KH & CN, để KH & CN giữ được vai trò làm nền tảng, động lực của CNH, HĐH. Điều kiện tiên quyết để phát triển KH & CN là phải nâng cao mặt bằng dân trí, xã hội hóa tri thức KH & CN; đồng thời phải tập trung đào tạo nhanh nguồn nhân lực KH & CN, tập trung nguồn lực xã hội để tăng cường và phát huy tiềm lực KH & CN của Tỉnh; tăng cường mối liên kết giữa giáo dục - đào tạo, KH & CN với sản xuất, kinh doanh... Ngoài ra, việc tạo lập môi trường văn hóa xã hội, tâm lý xã hội và môi trường hợp tác trong và ngoài nước thuận lợi cho sự phát triển KH & CN cũng là những giải pháp cần thiết để giúp cho hoạt động KH & CN trên địa bàn phát triển ngày một nhanh theo kịp tiến trình CNH, HĐH, đồng thời là động lực thúc đẩy CNH, HĐH nhanh hơn. Hoàn thiện quản lý Nhà nước về KH & CN tỉnh Đồng Nai nhằm giương cao ngọn cờ KH & CN trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước cũng như phát huy được nguồn nội lực quý giá đang có để sớm đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt: Bộ Khoa học và Công nghệ (2002), Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2001, Hà Nội. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Khoa học và Công nghệ Việt Nam 2002, Hà Nội. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Nghị định số 54/2003/NĐ-CP ngày 19/5/2003, Thông tư liên tịch số 15/2003/TTLT-KKHCN-BNV ngày 15/7/2003, Hà Nội. Bộ Khoa học và Công nghệ (2003), Báo cáo tóm tắt một số dự án nông thôn miền núi, Hà Nội. Bộ Khoa học và Công nghệ (2004), Hội nghị toàn ngành triển khai chiến lược phát triển khoa học và công nghệ đến năm 2010, Hà Nội. Bộ Khoa học và Công nghệ, Trung tâm thông tin Khoa học và Công nghệ quốc gia (2004), Khoa học và Công nghệ thế giới-Xu thế và chính sách những năm đầu thế kỷ XXI, Hà Nội. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2001), Khoa học và Công nghệ Việt Nam 1996-2000, Hà Nội. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường-Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai (2001), Kỷ yếu Hội thảo về tổ chức quản lý chương trình Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học công nghệ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi, Biên Hòa. Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Trung tâm Thông tin tư liệu Khoa học và Công nghệ quốc gia (2002), Khoa học và Công nghệ thế giới-Kinh nghiệm và định hướng chiến lược, Hà Nội. Cục Thống kê Đồng Nai (2003), Niên giám thống kê 2003, Nhµ xuÊt b¶n §ång Nai. GS.TS Vũ Đình Cự (1996), Khoa học và Công nghệ lực lượng sản xuất hàng đầu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS.TS Vũ Đình Cự chủ biên (2000), Khoa học và công nghệ hướng tới thế kỷ XXI định huớng và chính sách, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS.TS Vũ Đình Cự (2000), Khoa học và công nghệ quá độ sang thế kỷ XXI và toàn cầu hóa, Tài liệu tập huấn hè 2000. TS Lê Đăng Doanh chủ biên (2003), Đổi mới cơ chế quản lý khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ hai BCH Trung ương (khoá VIII) về định hướng chiến lược phát triển khoa học công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 14 Hội nghị lần thứ năm BCH trung ương Đảng (khoá IX), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội. Trần Khánh Đức (2002), “Nhân lực khoa học-công nghệ trong các lĩnh vực công nghệ ưu tiên ở nước ta”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (3), tr.33-35. PTS Phạm Duy Hải, GS.PTS Lê Hữu Nghĩa (1998), Tư duy khoa học trong giai đoạn cách mạng khoa học công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ môn khoa học luận (1995), Đề cương bài giảng phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Hà Nội. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Kinh tế phát triển (2002), Giáo trình kinh tế học phát triển, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Khoa Quản lý kinh tế (2004), Giáo trình quản lý kinh tế, Nhà xuất bản lý luận chính trị, Hà Nội. Học viện Hành chính quốc gia, Viện nghiên cứu hành chính (2002), Thuật ngữ hành chính, Hà Nội. GS.VS Đặng Hữu chủ biên (2001), Phát triển kinh tế tri thức rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. GS.VS Đặng Hữu (2002), “Thực hiện định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ 5 năm nhìn lại”, Tạp chí Cộng sản, (17). Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2003), “Đổi mới cơ chế quản lý hoạt động khoa học và công nghệ”, Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội và Bộ Khoa học và Công nghệ, Hạ Long. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2004), “Phát triển thị trường khoa học và công nghệ ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp”, Sở Khoa học và Công nghệ và Viện nghiên cứu phát triển KT-XH, Hà Nội. Kỷ yếu Hội thảo khoa học (2005), “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác khoa học và công nghệ địa phương”, Ban Khoa giáo Trung ương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Tp. Hồ Chí Minh. Nguyễn Thị Lan (2002), “Chính sách tài chính phát triển khoa học-công nghệ ở Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng, (8), tr.11-12. Hàn Ngọc Lương (2002), “Kinh nghiệm xây dựng và phổ biến pháp luật khoa học và công nghệ tại Trung Quốc”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (8), tr.36-37. Nguyễn Thế Nghĩa (2002), “Khoa học xã hội và nhân văn trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa miền Đông Nam Bộ”, Tạp chí Cộng sản, (16). Bùi Đường Nghiêu (2002), “Xây dựng cơ chế tài chính đặc biệt phát triển khoa học và công nghệ”, T¹p chÝ Tài chính, tr.34-36. TS Nguyễn Thiện Nhân (2002), “Về một cơ chế sử dụng ngân sách cho nghiên cứu khoa học”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (9), tr.12-14. Trần Nhu (2002), “Khoa học và Công nghệ là lực lượng sản xuất”, Lý luận Chính trị, (5) tr.47-53. Hoàng Đình Phu (1999), Lịch sử kỹ thuật và cách mạng công nghệ đương đại, Nhà xuất bản KHKT, Hµ néi. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2000), Luật Khoa học và Công nghệ, Nhµ xuÊt b¶n ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2003), Luật Tổ chức Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân, Nhµ xuÊt b¶n ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2001), Luật Tổ chức Chính phủ Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhµ xuÊt b¶n ChÝnh trÞ quèc gia, Hµ Néi. Nguyễn Cẩn Ruyện-Vụ Quan hệ Quốc tế, Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (2000), “Thiết lập sự liên kết giữa các cơ quan khoa học và doanh nghiệp: Kinh nghiệm một số nước Châu Á”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (10), tr.33-35. Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Đồng Nai-Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường-Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai (2001), Kỷ yếu Hội thảo về tổ chức quản lý chương trình Xây dựng mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển kinh tế-xã hội nông thôn miền núi, Biên Hòa TS Danh Sơn chủ biên (1999), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế-xã hội trong công nghiệp hóa và hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội. Tỉnh Ủy Đồng Nai (2001), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Đồng Nai lần thứ VII, Nhµ xuÊt b¶n §ång Nai. Nguyễn Thanh Thịnh, Đào Duy Tính, Lê Dũng (1999), Quy hoạch phát triển hệ thống nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm (2003), Khoa học công nghệ với nhận thức, biến đổi thế giới và con người-Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội. Trung tâm chuyển giao công nghệ Châu Á-Thái Bình Dương (APCTT) (1996), Nguyên lý phát triển dựa trên công nghệ - Trung tâm Thông tin tư liệu công nghệ quốc gia dịch và ấn hành, Hà Nội. Trung tâm Thông tin tư liệu khoa học và công nghệ quốc gia (2002), Khoa học và công nghệ thế giới - kinh nghiệm và định hướng, Hà Nội Trần Văn Tùng (2002), “Đổi mới công nghệ và tăng trưởng kinh tế, nghiên cứu trường hợp nền kinh tế Pháp”, Nghiên cứu Châu Âu-European Studies review, 46 (4), tr.28-35. Ủy ban Nhân dân tỉnh Đồng Nai, Quy hoạch phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường tỉnh Đồng Nai đến năm 2010, có tầm nhìn đến năm 2020, Nhµ xuÊt b¶n §ång Nai. 70. Lê Thành Ý (2002), “Mô hình ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ-một phương thức hỗ trợ thiết thực đối với địa bàn nông thôn”, Tạp chí Hoạt động khoa học, (8), tr.10-12. Tiếng Anh: Application of Technology Foresight to the Formulation of S&T Policies: The Korean Experience (1997)- Application of Technology Foresight, Chiangmai Morries Low (2000), Science, Technology and Sciety in Contemporary Japan, Cambridge University Press Science and Technology Policy in Malaysia: an Overview (1997), Application of Technology Foresight, ChiangmaiTechnoloy Foresight and National R&D Programs in China (1997), Application of Technology Foresight, Chiangmai The State of the Science and Technology in the World (2001), UNESCO United Nations Economics and Social Commission for Asia and the Pacific (UN - ESCAP) (1989), A Framework for Technology - based Development, ESCAP, Bangalor - India. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS0017.doc
Tài liệu liên quan