Kế hoạch Xuất khẩu hàng dệt may trong Thương Mại Quốc Tế Việt Nam

MỤC LỤC LỜI MỞ ĐẦU PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN I.Vai trò của kế hoạch xuất khẩu đối với phát triển kinh tế xã hội 1. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu đối với phát triển kinh tế xã hội 1.1. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá 1.2. Kế hoạch xuất khẩu hàng hoá 1.3. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng hoá 2.Vai trò của kế hoạch xuất khẩu dệt may 2.1.Vai trò của dệt may xuất khẩu 2.2. Ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam 2.2.1. Đặc trưng của ngành dệt may xuất khẩu Việt N

doc38 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 492 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Kế hoạch Xuất khẩu hàng dệt may trong Thương Mại Quốc Tế Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
am 2.2.2. Những cơ hội và thách thức của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế 2.3. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may 3. Nội dung của kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2006-2010 3.1. Mục tiêu chung cho hoạt động xuất khẩu 3.2. Nhiệm vụ cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may 3.3. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may 3.4. Cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu 3.5. Thị trường xuất khẩu chủ yếu CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY Ở VIỆT NAM I. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2001-2005 1. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 2. Tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may 2.1. Những thành tựu đạt được 2.2. Những hạn chế 2.2.1. Về sản xuất hàng dệt may xuất khẩu 2.2.2. Về năng lực cạnh tranh 3. Đánh giá bài học kinh nghiệm II. Kế hoạch xuất khẩu hàng hàng dệt may Việt Nam giai đoạn 2006-2010 1. Tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may năm 2006 2. Tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may 9 tháng đầu năm 2007 2.1. Tổng quan về ngành dệt may 9 tháng đầu năm 2.2. Kết quả hoạt động xuất khẩu hàng dệt may 9 tháng đầu năm của Tập đoàn dệt may Việt Nam CHƯƠNG III: CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN KẾ HOẠCH XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY VIỆT NAM 1. Xu hướng phát triển của thị trường hàng dệt may xuất khẩu 2. Giải pháp 2.1. Giải pháp cho việc sản xuất hàng dệt may xuất khẩu 2.2. Giải pháp về nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may xuất khẩu PHẦN 3: KẾT LUẬN PHẦN MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết nghiên cứu đề tài Thương mại quốc tế có vai trò quan trọng và đóng góp ngày càng to lớn đến sự phát triển chung của nền kinh tế. Trong tiến trình mở cửa nền kinh tế hội nhập kinh tế thế giới thương mại quốc tế đặt ra cho chúng ta nhiều vấn đề cần phải nhận thức được đó là những cơ hội cũng như những thách thức do thương mại quốc tế mang lại. Trong thời gian qua, nhất là trong việc thực hiện thành công kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2001-2005 các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế của nước ta đã không ngừng được mở rộng. Hoạt động xuất khẩu duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao và thực sự là động lực phát triển của nền kinh tê; chất lượng hàng xuất khẩu từng bước được nâng lên.Tuy nhiên lĩnh vực xuất khẩu vẫn còn nhiều khó khăn điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có nhiều biện pháp hơn nữa để thúc đẩy hoạt động này phát triển đúng hướng và bền vững. Trong những nghành có tác động lớn đến hoạt động xuất khẩu ta phải kể đến ngành dệt may, đó là ngành luôn chiếm một trị giá rất lớn trong kim ngạch. Với những biến động lớn của hàng dệt may hiện nay, khi hàng dệt may vượt dầu thô để đứng lên vị trí dẫn đầu trong kim ngạch xuất khẩu, thì rất có thể nó sẽ tạo lên một sự bứt phá mạnh mẽ hơn nữa. Chính những yếu tố này đã thúc đẩy em lựa chọn đề tài “Kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may trong thương mại quốc tế Việt Nam” cho bài viết đề án môn học của mình. Do sự phức tạp của vấn đề và các thông tin còn hạn chế lên bài viết của em chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được những lời nhận xét, đánh giá của các thầy cô để bài viết của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn! PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG CHƯƠNG MỘT: CƠ SỞ LÝ LUẬN I. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng hoá đối với phát triển kinh tế xã hội 1. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng hóa đối với phát triển kinh tế xã hội 1.1. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá Xuất khẩu hàng hoá có vai trò rất quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế ở các nước. xét với các nước đang phát triển như Vịêt Nam thì vai trò của nó càng được thể hiện rõ nét trong việc thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hoá đất nước và góp phần vào giải quyết các vấn đề xã hội. Trước hết, xuất khẩu tạo ra khả năng xây dựng cơ cấu kinh tế mới, năng động, sự phát triển của các ngành công nghiệp trực tiếp xuất khẩu đã tác động đến các ngành công nghiệp cung cấp đầu vào theo các ngành xuất khẩu tạo ra “mối liên hệ ngược” thúc đẩy sự phát triển của các ngành này. Bên cạnh đó, khi vốn tích luỹ của nền kinh tế được nâng cao thì sản phẩm thô sẽ tạo lên “mối liên hệ xuôi” là nguyên liệu cung cấp đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến và “mối liên hệ xuôi” này lại tiếp tục được mở rộng. Sự phát triển của tất cả các ngành này sẽ tăng thu nhập của những người lao động, tạo ra “mối liên hệ gián tiếp” cho sự phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng. Thứ hai, xuất khẩu tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước ngày càng lớn mạnh, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Bởi vì chính xuất khẩu làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc vào thị trường quốc tế nhiều hơn là thị trường trong nước. Do vậy, các nhà doanh nghiệp muốn đứng vững trong cạnh tranh phải nắm vững các tiêu chuổn quốc tế. Thời kì đầu có thể có sự trợ giúp của nhà nước,song muốn tiếp tục tồn tại thì phải tự khẳng định được vị trí của mình. Mặt khác, thị trường thế giới rộng lớn sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp thu được hiệu quả nhờ quy mô sản xuất lớn. Thứ ba, xuất khẩu còn tạo ra nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể cho đất nước. Nguồn thu nhập này vượt xa các nguồn thu nhập khác, kể cả vốn vay là đầu tư của nước ngoài. Đối với các nước đang phát triển, nguồn vốn này đã trở thành nguồn tích luỹ vốn chủ yếu trong giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hoá. Nguồn ngoại tệ có được từ xuất khẩu hàng hoá tạo khả năng nhập khẩu công nghệ, máy móc thiết bị và nguyên liệu cần thiết cho sự phát triển các ngành công nghiệp. 1.2. Kế hoạch xuất khẩu hàng hoá Kế hoạch xuất khẩu là một bộ phận trong hệ thống kế hoạch hoá phát triển, nó xác định các mục tiêu về quy mô, tốc độ xuất khẩu sản phẩm, danh mục sản phẩm xuất khẩu chủ lực, cơ cấu sản phẩm xuất khẩu và các thị trường xuất khẩu chủ yếu. Để xác định quy mô, tốc độ xuất khẩu ta phải dựa vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và sự biến động trên thị trường thế giới. Để định hướng danh mục sản phẩm xuất khẩu, ta phải dựa vào lợi thế so sánh của đất nước .Các nước dựa vào lợi thế so sánh của mình để từ đó quyết định danh mục sản phẩm sao cho nó mang lại hiệu quả tốt nhất. Như ở nước ta trong giai đoạn trước mắt lợi thế so sánh vẫn là tài nguyên và lao động. Do đó, hàng xuất khẩu chủ lực của chúng ta cần tập trung vào các ngành hàng khai thác có lợi thế. Lợi thế về tài nguyên là các sản phẩm: Dầu thô, thuỷ sản, cà phê, rau quả…; lợi thế về lao động là các ngành : Dệt may, giày da, điện tử, thủ công mỹ nghệ…Để hoạt động xuất khẩu trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vấn đề đặt ra đối với các ngành hàng này là phải gia tăng chế biến đối với sản phẩm thô và tăng tỉ lệ nội địa hoá đối các sản phẩm sử dụng nhiều lao động. Và cuối cùng là định hướng thị trường xuất khẩu đây được coi là vấn đề quan trọng có ý nghĩa quyết định đến tính khả thi của kế hoạch. Việc có được thị trường xuất khẩu có nghĩa là xác định được nhu cầu của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Nguyên tắc chung đối với vấn đề này là đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, giữ vững và mở rộng thị trường truyền thống, đồng thời tích cực tìm thêm thị trường mới.Trước năm 1990 thị trường xuất khẩu của nước ta chủ yếu là các nước Đông Âu. Nhưng từ năm 1991, thị trường này giảm mạnh cả về kim nghạch tuyệt đối và tỷ trọng tổng kim ngạch xuất khẩu. Bù lại thị trường châu Á phát triển mạnh, đặc biệt, đặc biệt là các nước châu Á- Thái Bình Dương. Tỉ trọng hàng xuất khẩu sang các nước EU cũng tăng nhanh. Thị trường châu Mỹ tăng khá nhất là Mỹ. 1.3. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng hoá Xuất phát từ vai trò quan trọng của xuất khẩu hàng hoá đối với phát triển kinh tế xã hội .Ta nhận thấy rằng, để có thể nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu và tạo tiền đề cho sự phát triển này bền vững thì ta phải có kế hoạch để định hướng và hướng dẫn hoạt động này: Xác định quy mô và tốc độ hoạt động xuất khẩu bảo đảm phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và tiến trình hội nhập của đất nước. Đồng thời thông qua mức gia tăng của kim ngạch xuất khẩu sẽ phản ánh khả năng phát triển và vai trò của xuất khẩu đóng góp vào sự phát triển kinh tế. Xác định danh mục sản phẩm xuất khẩu chủ yếu để từ đó tạo ra được sản phẩm chủ lực. Đây là những sản phẩm có lợi thế so sánh, có khả năng nâng cao năng suất và có tác dụng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành. Định hướng phát triển thị trường xuất khẩu sản phẩm. Từ đó thúc đẩy phát triển sản xuất sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường và nâng cao được năng lực cạnh tranh của sản phẩm. 2. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may 2.1.Vai trò của dệt may xuất khẩu Công nghiệp dệt may thường được gắn với giai đoạn phát triển ban đầu của nền kinh tế và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa ở nhiều nước. Trong đó dệt may xuất khẩu đóng một vai trò rất to lớn như: tạo việc làm cho người lao động, tăng thu lợi nhuận để tích luỹ làm tiền đề phát triển các ngành công nghiệp khác, góp phần nâng cao mức sống và ổn định tình hình kinh tế xã hội. Trong điều kiện buôn bán hàng hoá quốc tế. Xuất khẩu hàng dệt may đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn để mua máy móc thiết bị, hiện đại hoá sản xuất, làm cơ sở cho nền kinh tế cất cánh. Bên cạnh đó ở nước ta hiện nay sản xuất hàng dệt may xuất khẩu đang góp phần phát triển nông nghiệp và nông thôn thông qua tăng trưởng sản xuất bông, đay, tơ tằm và là phương tiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp. Với sự xuất hiện của các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu sẽ thu hút rất nhiều lao động làm việc phục vụ cho hoạt động của nó. Vô hình chung nó đã có vai trò giải quyết việc làm cho rất nhiều lao động, vì bản chất của ngành này là sử dụng lượng lao động rất lớn. Dệt may xuất khẩu phát triển, doanh thu sản xuất tăng sẽ làm tăng thu nhập của người lao động. Từ đó ngành này góp phần vào việc ổn định tình hình kinh tế xã hội. Tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế của đất nước. 2.2. Ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam Dệt may được coi là một trong những ngành trọng điểm của nền công nghiệp Việt Nam, là ngành sản xuất mũi nhọn, có tiềm lực phát triển khá. Việt Nam là nước có tiềm năng lớn về dệt may. Với trên 80 triệu dân, đa số là dân số trẻ, giá nhân công rẻ, chi phí thấp, có nguồn nguyên liệu tại chỗ... là lợi thế cạnh tranh lớn so với các quốc gia khác. Việt Nam hiện có hàng ngàn nhà máy dệt may, thu hút gần 2 triệu lao động, chiếm trên 22% tổng số lao động trong toàn ngành công nghiệp. Sản lượng sản xuất hàng năm đều tăng với tốc độ trên hai con số. Trong Chiến lược phát triển ngành dệt may Việt đến năm 2010, đã được Chính phủ phê duyệt, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 10 tỷ đô la Mỹ, thu hút từ 4 đến 4,5 triệu lao động, tỷ lệ giá trị sử dụng nguyên phụ liệu nội địa ở sản phẩm dệt may xuất khẩu đạt trên 75% là hoàn toàn có khả năng thực hiện được. Tuy nhiên, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, đặc biệt sau khi gia nhập WTO thì ngành dệt may Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều thách thức. Dệt may Việt phải cạnh tranh ngang bằng với các cường quốc xuất khẩu lớn, đặc biệt từ phía Trung Quốc. Hạn ngạch dệt may của Trung Quốc vào thị trường EU hết hạn. Hàng rào bảo hộ tại thị trường nội địa sẽ không còn. Thuế XNK hàng dệt may từ các nước ASEAN vào Việt Nam cũng sẽ giảm từ 40-50% xuống tối đa còn 5% nên hàng dệt may Việt phải cạnh tranh quyết liệt với hàng nhập từ các nước trong khu vực ngay tại thị trường nội địa.   Giá sản phẩm phải giảm liên tục do áp lực cạnh tranh, trong khi giá nguyên liệu lại tăng cao. Hàng trốn lậu thuế, hàng cũ… từ nước ngoài tràn vào từ nhiều nguồn, giá rất rẻ đã làm cho sản xuất trong nước bị ảnh hưởng. Mặt khác, hệ thống bán buôn, bán lẻ hàng vải sợi may mặc trong nước chưa có tổ chức, để thả nổi cho một số tư thương. Quy mô ngành dệt may Việt còn nhỏ bé, thiết bị và công nghệ khâu kéo sợi và dệt vải lạc hậu, chỉ đáp ứng dược một phần công suất dệt, không cung cấp được vải cho khâu may xuất khẩu; chủ yếu làm gia công, nguyên liệu hầu như hoàn toàn nhập khẩu từ nước ngoài... 2.2.1. Đặc trưng của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam So với nhiều nghành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành công nghiệp truyển thống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Từ khi đổi mới ngành công nghiệp dệt may không ngừng phát triển cả về quy mô, năng lực sản xuất, trình độ công nghệ trang thiết bị, ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm. Cho đến nay, sản phẩm dệt may Việt Nam đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu trong nước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính như: EU, Nhật Bản, Bắc Mỹ… Việc xuất khẩu hàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rất đáng kể để đổi mới và nâng cấp toàn bộ trang thiết bị công nghệ của ngành dệt may. Trong thời gian qua kim ngạch xuất khẩu của ngành này tuy thấp hơn dầu thô nhưng luôn đứng đầu tất cả các ngành chế biến trong cả nước. Ngành dệt may không chỉ đem lại nguồn tích luỹ cho đất nước mà còn góp phần quan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cao cho người lao động, tạo sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội. Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào, người Việt Nam lại có truyền thống cần cù sang tạo. Mặt khác, gía cả sinh hoặt thấp, chi phí lao động hạ, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng dệt may có ưu thế cạnh tranh. Đặc điểm của ngành dệt may không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, quay vòng vốn nhanh, đội ngũ công nhân lành nghề có thể sản xuất được những sản phẩm chất lượng cao nếu được đào tạo tốt. Hơn nữa, Việt Nam còn có vị trí địa lý và cửa khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá bằng đường biển nên giảm được chi phí vận tải.Bên cạnh đó Việt Nam nằm trong khu vực các nước xuất khẩu lớn hàng dệt may như: Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan, nên ngành công nghiệp Việt Nam đang là một thị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Như vậy có thể nói, phát triển ngành hàng dệt may Việt Nam là phát huy tối đa những lợi thế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá- hiện đại hoá đất nước. Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam có ba phương thức xuất khẩu chủ yếu là: Thứ nhất, là phương thức gia công xuất khẩu, đây là phương thức kinh doanh mà theo đó bên đặt gia công( các khách hàng nước ngoài) chịu trách nhiệm cung cấp toàn bộ vải và phụ liệu cho bên nhân gia công theo định mức tiêu hao nguyên liệu; còn bên nhận gia công( là các doanh nghiệp may Việt Nam) có nghĩa vụ tiến hành sản xuất để giao lại sản phẩm và được nhận một khoản tiền công theo hợp đồng thoả thuận. Trong những năm 1995-2002 hoạt động kinh doanh xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tiến hành chủ yếu qua phương pháp này. Cụ thể hơn, phương thức này chiếm gần 80% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt hàng năm. Thứ hai, là phương thức xuất khẩu trực tiếp còn gọi là “ tự doanh” hay “mua đứt bán đoạn” là phương thức chiến lược của ngành dệt may Việt Nam trong giai đoạn 2000-2010. Hiện nay phương thức này chỉ chiếm hơn 20% kim ngạch xuất khẩu hàng năm. Các doanh nghiệp Việt Nam đang cố gắng tăng dần tỷ trọng của phương thức xuất khẩu này. Phương thức thứ ba, là xuất khẩu gián tiếp là hình thức giao dịch qua trung gian tức là mọi việc kiến lập quan hệ giữa người bán và người mua và việc quy định các điều kiện mua bán phải thông qua người thứ ba. Trong các trường hợp ở đó đại lý hoặc môi giới xuất khẩu nắm quyền sở hữu hàng hoá, doanh nghiệp không phải chịu rủi ro đối với hoạt động xuất khẩu và phải mất thời gian chờ đợi. Xuất khẩu với hình thức này được so sánh như bán hàng ở trong nước. 2.2.2. Những cơ hội và thách thức của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế Việt Nam đã và đang tích cực tham gia vào xu thế hội nhập, từng bước kí kết các hiệp định thương mại song phương và đa phương. Đến nay, nước ta đã là thành viên của các tổ chức: AFTA, APEC, WTO. Chúng ta đã ký kết hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ, các quan hệ thương mại với Nhật Bản, EU, Nga, Trung Quốc…tiếp tục được mở rộng. Trong điều kiện nền kinh tế mở, hội nhập thì các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và doanh nghiệp dệt may nói riêng sẽ có thêm nhiều cơ hội mới để phát triển, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có không ít những thách thức mà chúng ta phải vượt qua. * Những cơ hội Hội nhập quốc tế tạo khả năng mở rộng thị trường ra nước ngoài trên cơ sở các hiệp định thương mại đã ký kết với các nước. Từ năm 2020, hàng rào thuế quan của các nước APEC sẽ được dỡ bỏ, đây là cơ hội cho ngành dệt may xuất khẩu sản phẩm sang các nước thành viên APEC. Hội nhập kinh tế là con đường khai thông thị trường nước ta với khu vực và thế giới, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, có hiệu quả. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ mang vốn và công nghệ vào nước ta, sử dụng lao động và tài nguyên sẵn có của chúng ta làm ra các sản phẩm trên thị trường khu vực và thế giới. Đây là cơ hội để ngành dệt may huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Hơn nữa, sự đầu tư nước ngoài vào Việt Nam giúp ngành dệt may có thể tranh thủ được kỹ thuật, công nghệ tiên tiến của các nước phát triển nhằm phát triển năng lực kỹ thuật công nghệ của chính ngành mình và của cả quốc gia. Nếu ngành dệt may tận dụng tốt cơ hội này họ sẽ khắc phục được hạn chế, đổi mới công nghệ, vươn lên cạnh tranh tốt với các đối thủ khác. Thông qua hội nhập, chúng ta có cơ hội mở rộng giao lưu nguồn lực của nước ta với các nước khác. Chúng ta có thể xuất khẩu lao động hoặc sử dụng lao động thông qua các hợp đồng gia công chế biến hàng xuất khẩu đồng thời nhập khẩu lao động có kỹ thuật cao, các công nghệ mới, các phát minh sáng chế mà nước ta chưa có. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu đầu vào rẻ hơn khắc phục được khó khăn do khan hiếm nguyên liệu cho sản xuất. Ngành dệt may Việt Nam sẽ trải qua quá trình sang lọc tự nhiên thông qua cạnh tranh quốc tế. Những doanh nghiệp xưa nay làm ăn thua lỗ nhưng vẫn được trợ cấp sẽ nhanh chóng bị thay thế bởi những doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp trong nước có đủ khả năng cạnh tranh. Nhờ đó, sản phẩm xuất khẩu trong nước sẽ hiệu quả hơn và thích ứng nhanh hơn với các điều kiện thay đổi quốc tế. Trên cơ sở đó từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Như vậy, hội nhập sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh công bằng, nhà nước chỉ tác động bằng công cụ chính sách, đồng thời hội nhập cũng làm tăng sức cạnh tranh cho ngành, mở ra cơ hội kinh doanh trên thị trường quốc tế. Tuy nhiên với năng lực còn non kém của mình, ngành dệt may xuất khẩu của chúng ta phải đương đầu với không ít những thách thức. * Những thách thức Thách thức trước hết là sự cạnh tranh gay gắt của các nước xuất khẩu hàng dệt may hiện nay. Đó là Trung Quốc với ưu thế phong phú về chủng loại hàng hoá giá rẻ. Đó còn là Hàn Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Hồng Kông, Inđônêxia, Thái Lan Philippin, những nước xuất khẩu lớn và có sẵn thị trường tiêu thụ. Tuy họ có giá nhân công cao hơn nhưng nhờ họ có ưu thế tự túc được nguyên liệu vải và các phụ kiện may chất lượng cao nên đã góp phần làm giảm giá thành sản phẩm, tạo lên nhiều nhãn hiệu uy tín. Ngoài ra các nước khác ngoài Châu Á như Mêhicô, Ba Lan, Bungari… cũng đang là những quốc gia có điều kiện thuận lợi để gia tăng xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường Bắc Mỹ, EU, Nhật Bản. Họ cũng là đối thủ cạnh tranh khá mạnh trong lĩnh vực này Thách thức thứ hai là tính phức tạp của hệ thống luật quốc tế cũng như luật thương mại Mỹ với những đòi hỏi khắt khe đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Trong khi đó Việt Nam, một nước chậm phát triển đang trong quá trình chuyển đổi, khi tham gia vào thị trường thế giới buộc phải tuân thủ theo các nguyên tắc trên để tự bảo vệ mình. Mặt khác, những nhà hoạch định chính sách của Mỹ vẫn chưa hết những quan niệm cũ về một nươcs Việt Nam mới trong quan hệ hiện nay với chúng ta. Thứ ba là sự quản lý chồng chéo của các bộ hữu quan đối với ngành dệt may khiến cho cơ cấu tổ chức thiếu năng động, dễ tuột mất những cơ hội tốt, những cơ hội ngàn năm cho sự phát triển. Thách thức và cơ hội thường là hai mặt đối lập của quá trình phát triển mà chúng ta phải xem xét một cách toàn diện trong phương pháp tiếp cận. Như vậy đối với nền kinh tế nói chung và dệt may xuất khẩu nói riêng chúng ta cần phải có những biện pháp nhằm tận dụng tốt hơn những cơ hội, đương đầu với thách thức để có thể đưa ngành dệt may xuất khẩu của chúng ra phát triển nhanh và hiệu quả hơn trong khung cảnh kinh tế mở như hiện nay. 2.3. Vai trò của kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, chúng ta đang trên lộ trình thực hiện việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan và trợ cấp đối với các mặt hàng xuất khẩu. Chính những điều đó tạo lên không ít những thuận lợi, khó khăn cho ngành sản xuất hàng dệt may xuất khẩu của chúng ta. Và hơn lúc nào hết kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may càng phải thể hiện rõ nét vai trò của nó để định hướng và hướng dẫn cho các hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Trước hết là trong việc xác định quy mô và tốc độ xuất khẩu hàng dệt may. Phải phản ánh được sự đóng góp to lớn của dệt may xuất khẩu vào kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế. Thể hiện vai trò chủ đạo của mặt hàng này trong cán cân xuất khẩu. “Phấn đấu đến năm 2010 phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thoả mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và trên thế giới.” Kim ngạch xuất khẩu đạt 8000-9000 triệu USD Sau đó là đến vấn đề xác định danh mục sản phẩm hàng dệt may xuất khẩu chủ yếu. Với nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng ở các thị trường nhập khẩu hàng dệt may của chúng ta, kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may đưa ra các chỉ tiêu cho từng loại sàn phẩm chủ yếu và chúng đảm bảo phát huy được lợi thế về nguồn lao động đồng thời phải nâng cao năng suất lao động tăng gía trị tăng thêm trên mỗi đơn vị sản phẩm. Cuối cùng là việc định hướng các thị trường xuất khẩu. Kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may phải có những dự báo về sự biến động ở các thị trường này, xác định thị trường chủ yếu để từ đó chúng ta có những kế hoạch sản xuất đáp ứng tốt nhất nhu cầu ở các thị trường này. 3. Nội dung của kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2006-2010 3.1. Mục tiêu chung cho hoạt động xuất khẩu Phát triển xuất khẩu với tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP. Đẩy mạnh sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng và các sản phẩm dịch vụ có lợi thế cạnh tranh đồng thời tích cực phát triển các mặ hàng khác có tiềm năng thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực mới, theo hướng đẩy mạnh xuất khẩu những mặt hàng có giá trị gia tăng cao; tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, sản phẩm có hàm lượng công nghệ và tri thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô. Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá đạt 68-69 tỷ USD vào năm 2010, và 259 tỷ USD trong 5 năm 2006-2010, gấp 2,3 lần so với 5 năm trước và tốc độ tăng 16%/năm 3.2. Nhiệm vụ cho hoạt động xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của WTO, do đó xuất khẩu dệt may của nước ta ra thị trường thế giới sẽ gặp nhiều thách thức, đặc biệt là cạnh tranh với các nước trong khu vực Châu Á. Để nâng cao sức cạnh tranh của hàng dệt may nước ta, cần thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ, từ hạ giá thành sản xuất, đa dạng hoá kiểu dáng, mẫu mã, cho tới liên kết hợp tác trong ngành, xây dựng thương hiệu, tập trung vào thị trường có lợi thế, hình thành các trung tâm giao dịch, các chợ đầu mối cung cấp nguyên, phụ liệu may. Dự kiến xuất khẩu dệt may 2006-2010 tăng 15,6%/năm, năm 2010 khoảng 10 tỷ USD. 3.2. Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Bảng kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2006-2010 Năm 2006 2007 2008 2009 2010 Tốc độ tăng bình quân(%) Xuất khẩu(triệu USD) 5.400 6.000 7.000 8.000 10.000 15,6 3.2. Cơ cấu sản xuất hàng xuất khẩu Đối với ngành dệt, bao gồm: sản xuất nguyên liệu dệt, sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất: - Kinh tế nhà nước làm nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo; khuyến khích các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài tham gia phát triển lĩnh vực này. - Đầu tư phát triển phải gắn với bảo vệ môi trường; quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp sợi, dệt, in nhuộm hoàn tất ở xa các trung tâm đô thị lớn. - Tập trung đầu tư trang thiết bị hiện đại, công nghệ cao, kỹ thuật tiên tiến, trình độ chuyên môn hoá cao. Chú trọng công tác thiết kế các sản phẩm dệt mới, nhằm từng bước củng cố vững chắc uy tín nhãn mác hàng dệt Việt Nam trên thị trường quốc tế. - Tổ chức lại hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo bước nhảy vọt về chất lượng, tăng nhanh sản lượng các sản phẩm dệt, nhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu. Đối với ngành may: - Đẩy mạnh cổ phần hoá những doanh nghiệp may mà Nhà nước không cần nắm giữ 100% vốn. Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư phát triển ngành may, nhất là ở các vùng đông dân cư, nhiều lao động. - Đẩy mạnh công tác thiết kế mẫu thời trang, kiểu dáng sản phẩm may. Tập trung đầu tư, cải tiến hệ thống quản lý sản xuất, quản lý chất lượng, áp dụng các biện pháp tiết kiệm nhằm tăng nhanh năng suất lao động, giảm giá thành sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm may Việt Nam trên thị trường quốc tế. Đẩy mạnh đầu tư phát triển các vùng trồng bông, dâu tằm, các loại cây có xơ, tơ nhân tạo, các loại nguyên liệu, phụ liệu, hoá chất, thuốc nhuộm cung cấp cho ngành dệt may nhằm tiến tới tự túc phần lớn nguyên liệu, vật liệu và phụ liệu thay thế nhập khẩu. Khuyến khích mọi hình thức đầu tư, kể cả đầu tư nước ngoài, để phát triển cơ khí dệt may, tiến tới cung cấp phụ tùng, lắp ráp và chế tạo thiết bị dệt may trong nước. Phấn đấu đến năm 2010, sản phẩm chủ yếu đạt: Bông xơ 80.000 tấn; xơ sợi tổng hợp 120.000 tấn; sợi các loại 300.000 tấn; vải lụa thành phẩm 1.400 triệu mét vuông; dệt kim 500 triệu sản phẩm; may mặc 1.500 triệu sản phẩm. - Tỷ lệ giá trị sử dụng nguyên phụ liệu nội địa trên sản phẩm dệt may xuất khẩu: Đến năm 2010: Trên 75% 3.3. Thị trường xuất khẩu chủ yếu: Thị trường Mỹ Thị trường EU Thị trường Nhật Các nước Đông Bắc Á khác trừ Nhật Các nước ASEAN Canada Nga CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG DỆT MAY Ở VIỆT NAM I. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2001-2005 1. Tổng quan về hoạt động xuất khẩu giai đoạn 2001-2005 Hoạt động xuất khẩu đã đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, riêng năm 2005, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 32,4 tỷ USD. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá bình quân 5 năm 2001-2005 đạt 17,1%/năm. Trong số 7 mặt hàng xuất khẩu đạt trên 1 tỷ USD thì có 5 mặt hàng công nghiệp. Tỷ trọng xuất khẩu hàng công nghiệp đạt 75,8%, trong đó công nghiệp chế biến đạt trên 50% tổng kim ngạch xuất khẩu. Hàng hoá Việt Nam hiện đã xuất khẩu sang hầu hết các châu lục và có mặt trên thị trường hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Qui mô và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đã được mở rộng và tăng trưởng khá cao, hầu hết đạt và vượt chỉ tiêu đề ra. 2. Tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu hàng dệt may Ngành dệt may Việt Nam trong 5 năm (2001-2005) luôn có tốc độ tăng trưởng cao và liên tục bình quân đạt 20%/năm. Song theo nhận định của nhiều chuyên gia kinh tế, do chưa đột phá được ở lĩnh vực sản xuất vải và nguyên phụ liệu cho may xuất khẩu nhằm tăng tỷ lệ nội địa hoá trong giá trị hàng xuất nên dệt may vẫn mang tiếng là “ngành làm thuê”. 2.1. Những thành tựu đạt được Bảng xuất khẩu hàng dệt may giai đoạn 2001-2005 Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Xuất khẩu(triệu USD) 1.975 2.752 3.689 4.430 4.838 Nguồn: Thời báo kinh tế Việt Nam Năm 2004, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may đã vượt trên con số 4,430 tỷ USD; chiếm 16,35% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam và tiếp tục duy trì được ở vị trí thứ hai trong số các ngành dẫn đầu về kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Năm 2005 đạt 4,838 tỷ USD. Việt Nam đặt chỉ tiêu xuất khẩu đạt khoảng 8-9 tỷ USD vào năm 2010. Từ năm 2001, Hiệp định Thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ đã mở cửa thị trường Mỹ cho hàng dệt may Việt Nam, đồng thời kích thích thêm lượng tiêu thụ mặt hàng này. Theo số liệu của Hải quan Hoa kỳ, năm 2001, khả năng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam vào thị trường Mỹ mới chỉ đứng ở vị trí 70 trong tổng số gần 200 nước xuất khẩu mặt hàng này vào thị trường Mỹ, thì đến năm 2002 đã vượt lên xếp thứ 23; năm 2003 bứt phá mạnh hơn, xếp thứ 8 và năm 2004, xếp ở vị trí thứ 6, vượt 64 bậc sau 3 năm. Năm 2004, ngành dệt may Việt Nam chiếm gần 3,5% thị phần nhập khẩu hàng dệt may vào thị trường Mỹ với đơn giá xuất khẩu bình quân vượt Trung Quốc và trở thành một trong những nước có đơn giá xuất khẩu hàng dệt may vào Mỹ thuộc loại cao nhất trong số các nước xuất khẩu hàng dệt may vào thị trường này. Cụ thể, năm 2001, đơn giá xuất khẩu bình quân là 1,51 USD/m2 sản phẩm, đến năm 2004 tăng lên 3,14 USD/m2 sản phẩm; trong khi Trung Quốc từ 2,96 USD/m2 sản phẩm, tụt xuống còn 1,25 USD/m2 sản phẩm. Nếu tính những chủng loại hàng (cat) nóng nhất trên thế giới hiện xuất khẩu vào thị trường Mỹ thì khả năng cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam cũng rất mạnh; ví dụ như mặt hàng áo sơ mi dệt kim (cat. 388/339) tính trong 9 tháng đầu năm 2004, Việt Nam được xếp vị trí thứ năm trong số các nước xuất khẩu vào Mỹ; đặc biệt là cat. 347/348, Việt Nam xếp thứ hai trong số các nước xuất khẩu vào Mỹ. Mức tăng trưởng của hàng dệt may Việt Nam vào thị trường Mỹ mạnh đến mức có một số nhóm vận động hành lang để Quốc hội Mỹ ban hành qui chế kiểm soát mới (từ năm 2003, Oasinhtơn đã áp dụng qui chế hạn ngạch mới đối với hàng dệt may của Việt Nam). Trong khi đó, các nhóm kinh doanh Mỹ khác, như Hiệp Hội Dệt May Quốc gia (NTA) có trụ sở ở Boston, công khai ủng hộ việc bãi bỏ hạn ngạch đối với hàng dệt may Việt Nam khi chúng ta trở thành thành viên WTO. Năm 2005, theo số liệu của Hiệp hội dệt may Việt Nam, Mỹ dành cho Việt Nam hạn ngạch dệt may trị giá khoảng 1,8 triệu USD. Tính chung, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam sang thị trường Mỹ đạt khoảng 2,6-2,8 tỷ USD trong năm 2005. Trái ngược với Mỹ, EU và Canada chọn giải pháp hoan nghênh hàng dệt may Việt Nam. Năm 2005, hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu sang EU có thể đạt giá trị khoảng 1,33 tỷ USD nếu như tận dụng được hết số lượn._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docA0674.doc
Tài liệu liên quan