Kiểm nghiệm một số chỉ tiêu của vacxin nhược độc dịch tả vịt sản xuất tại xí nghiệp thuốc thú y trung ương và ứng dụng phòng, can thiệp dịch

Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... i BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO TRƯỜNG ðẠI HỌC NƠNG NGHIỆP HÀ NỘI ------------------ NGUYỄN THỊ KIM DUNG KIỂM NGHIỆM MỘT SỐ CHỈ TIÊU CỦA VACXIN NHƯỢC ðỘC DỊCH TẢ VỊT SẢN XUẤT TẠI XÍ NGHIỆP THUỐC THÚ Y TRUNG ƯƠNG VÀ ỨNG DỤNG PHỊNG, CAN THIỆP DỊCH LUẬN VĂN THẠC SĨ NƠNG NGHIỆP Chuyên ngành : THÚ Y Mã số : 60.62.50 Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN BÁ HIÊN HÀ NỘI - 2010 Trường ðại học Nơn

pdf106 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 2105 | Lượt tải: 11download
Tóm tắt tài liệu Kiểm nghiệm một số chỉ tiêu của vacxin nhược độc dịch tả vịt sản xuất tại xí nghiệp thuốc thú y trung ương và ứng dụng phòng, can thiệp dịch, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
g nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... i LỜI CAM ðOAN Tơi xin cam đoan đây là cơng trình nghiên cứu của riêng tơi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai cơng bố trong bất kì cơng trình nào khác. Tơi xin cam đoan rằng các thơng tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc. Mọi sự giúp đỡ đã được cảm ơn. Tác giả luận văn Nguyễn Thị Kim Dung Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... ii LỜI CÁM ƠN ðể hồn thành luận văn này ngồi sự cố gắng của bản thân tơi luơn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường, bạn bè đồng nghiệp. Trước tiên tơi xin chân thành cám ơn sự giúp đỡ quý báu của các thầy cơ giáo bộ mơn Vi sinh - Truyền nhiễm, các thầy cơ giáo khoa Thú y, khoa Sau ðại học- Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội đã dành nhiều thời gian và cơng sức giúp đỡ tơi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài. Tơi xin bày tỏ lịng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Bá Hiên người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tơi trong quá trình thực hiện và hồn thành luận văn. Tơi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương, cán bộ, cơng nhân viên phịng Kiểm nghiệm siêu trùng của Xí nghiệp cùng bạn bè đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ động viên tơi hồn thành chương trình học tập cao học và hồn thành Luận văn tốt nghiệp. Xin chân thành cảm ơn! Hà Nội, tháng 11 năm 2010 Tác giả luận văn Nguyễn Thị Kim Dung Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... iii MỤC LỤC Lời cam đoan i Lời cám ơn ii Mục lục iii Danh mục các chữ viết tắt trong báo cáo v Danh mục các bảng vi Danh mục các hình viii 1 ðẶT VẤN ðỀ i 1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1 1.2 Mục đích của đề tài 2 1.3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. 2 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3 2.1 Bệnh dịch tả vịt 3 2.2 Virus gây bệnh dịch tả vịt 19 2.3 Miễn dịch chống virus dịch tả vịt 25 3 NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33 3.1 Nội dung nghiên cứu 33 3.2 ðối tượng nghiên cứu 33 3.3 ðịa điểm nghiên cứu 33 3.4 Nguyên liệu 34 3.5 Phương pháp nghiên cứu 34 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41 4.1 Kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật của vacxin 41 4.1.1 Kết quả kiểm tra hiệu giá virus (liều gây nhiễm 50% phơi: EID50) của 3 lơ vacxin nhược độc dịch tả vịt đơng khơ 43 4.1.2 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vơ trùng của vacxin 45 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... iv 4.1.3 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu an tồn của vacxin 51 4.1.4 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực của vacxin 54 4.2. Kết quả đánh giá độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin bằng phương pháp cơng cường độc ở các thời điểm nhất định 59 4.3 Kết quả kiểm tra độ dài bảo quản của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C sau thời gian lưu kho 67 4.3.1 Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt sau thời gian bảo quản 9 tháng, 12 tháng và 18 tháng 67 4.3.2 Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt sau thời gian bảo quản 24 tháng và 25 tháng 69 4.4 Tình hình bệnh dịch tả vịt tại 2 huyện thuộc ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận 73 4.4.1 Tình hình chăn nuơi vịt ở 2 huyện ngoại thành Hà Nội và tỉnh lân cận 73 4.4.2 Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuơi ở 2 huyện thuộc địa bàn thuộc Hà Nội và vùng phụ cận 78 4.4 Kết quả ứng dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong phịng bệnh và can thiệp dịch 82 4.4.1 Kết quả ứng dụng vacxin trong phịng bệnh 82 4.4.2 Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong can thiệp dịch tại một số địa phương 84 5 KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 89 5.1 Kết luận 89 5.2 ðề nghị 90 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... v DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG BÁO CÁO CPE : Cytopathic pathogene effect Cs : cộng sự DEF : Duck Embryo Fibroblast DEV : Duck enteritis virus DNA : Dezoxy ribonucleic acid DVE : Duck virus enteritis ELD50 : 50 percent Embryo Lethal Dose EID50 : 50 percent Embryo Infective Dose FAO : Food and Agriculture Organization LD50 : 50 percent Lethal Dose NI : Neutralization Index OIE : Office International des Epizooties PBS : Phosphate Buffered Saline PCR : Polymerase chain reaction p.p : pages RNA : Ribonucleic acid Tr : trang VN : Virus Neutralization Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... vi DANH MỤC CÁC BẢNG STT Tên bảng Trang 2.1 Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số nước châu Á từ năm 1996-2004 6 4.1 Kết quả xác định hiệu giá virus vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C (3 mẫu vacxin lơ 1) 44 4.2 Kết quả xác định hiệu giá virus vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C của 3 lơ vacxin 1,2,3 45 4.3 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu vơ trùng của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C 47 4.5 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu an tồn của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C 52 4.6 Kết quả kiểm tra chỉ tiêu hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C 55 4.7 Kết quả đánh giá độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin 7 ngày, 14 ngày, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng bằng phương pháp cơng cường độc 61 4.8 Kết quả đánh giá độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin 12 và 13 tháng bằng phương pháp cơng cường độc. 63 4.9 Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt sau thời gian bảo quản 9 tháng, 12 tháng và 18 tháng bằng phương pháp cơng cường độc. 68 4.10 Kết quả kiểm tra hiệu lực của vacxin nhược độc dịch tả vịt sau thời gian bảo quản 24 tháng và 25 tháng bằng phương pháp cơng cường độc. 71 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... vii 4.11 Kết quả điều tra tình hình chăn nuơi vịt ở 2 huyện thuộc địa bàn Hà Nội và vùng lân cận 75 4.12 Tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt thuộc địa bàn điều tra 79 4.13 Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C vào phịng bệnh cho vịt ở một số địa phương 83 4.14 Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong can thiệp dịch tại một số địa phương 85 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... viii DANH MỤC CÁC HÌNH STT Tên hình Trang 4.1 Tĩm tắt quy trình sản xuất vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C 42 4.2 ðường biểu diễn độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin dịch tả vịt nhược độc chủng C. 66 4.3 ðường biểu diễn độ dài bảo quản của vacxin sau thời gian lưu kho. 70 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 1 1. ðẶT VẤN ðỀ 1.1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là nước cĩ 80% dân số sống chủ yếu phụ thuộc vào nơng nghiệp (trồng trọt, chăn nuơi), vịt là lồi thuỷ cầm được chăn nuơi nhiều nhất. Trên thế giới hàng năm cĩ khoảng 550 đến 600 triệu vịt được chăn nuơi, trong đĩ ở châu Á chiếm tới 80 - 86% tổng đàn vịt. Nước ta hàng năm đàn vịt sản xuất khoảng 30.000 đến 40.000 tấn vịt; 0,8 đến 1 tỷ quả trứng và khoảng 1000 đến 1500 tấn lơng (Trịnh Quang Khuê, Nguyễn Văn Vinh, 2003) [24]. Theo số liệu thống kê của FAO (2006) [39]: Tổng số vịt của Việt Nam là 60 triệu con, đứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc. Một trong những bệnh quan trọng nhất và gây thiệt hại nặng nề cho ngành chăn nuơi vịt là bệnh dịch tả vịt. Căn bệnh là một loại DNA virus thuộc họ Herpesvirideae nhĩm Herpesvirus. Bệnh gây nên tình trạng bại huyết, xuất huyết cho vịt với tỷ lệ chết cao lên đến 90%. Theo Quyết định số 63/2005/Qð - BNN [4] và Quyết định số 64/2005/Qð - BNN [5] được Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn ban hành ngày 13/10/2005 thì bệnh dịch tả vịt được coi là bệnh nguy hiểm của động vật, phải áp dụng các biện pháp phịng bệnh bắt buộc. Bệnh dịch tả vịt là một trong 7 bệnh phải tiêm phịng bắt buộc và yêu cầu tỷ lệ tiêm phịng phải đạt 100%. Nhận thức được tầm quan trọng của việc phịng chống bệnh dịch tả vịt, đã cĩ nhiều nghiên cứu về bệnh dịch tả vịt và virus gây bệnh dịch tả vịt được tiến hành. Nhiều loại vacxin dịch tả vịt đã được sản xuất và lưu hành trên thị trường Việt Nam. Song việc sử dụng vacxin chủ yếu lại do người chăn nuơi quyết định. Hơn nữa do khâu chăn nuơi chưa hợp lý, vệ sinh phịng bệnh chưa triệt để đã ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả bảo hộ của vacxin. Xí nghiệp Thuốc Thú y Trung ương đã và đang sản xuất vacxin dịch tả vịt nhược độc, các chỉ tiêu vơ Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 2 trùng, an tồn và hiệu lực của vacxin này đối với đàn vịt nuơi ở Việt Nam đã cho kết quả rất tốt. Theo quy định, bất cứ một loại vacxin nào sau khi sản xuất đều phải tiến hành kiểm tra các chỉ tiêu vơ trùng, an tồn và hiệu lực. Ngồi ra cịn định kỳ kiểm tra độ dài bảo quản và độ dài miễn dịch của vacxin đối với động vật thí nghiệm. ðể khẳng định chất lượng của vacxin nhược độc dịch tả vịt sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương, cung cấp thêm cơ sở khoa học về tình hình bệnh, gĩp phần vào việc phịng chống và can thiệp bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam đạt hiệu quả cao. Chúng tơi tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Kiểm nghiệm một số chỉ tiêu của vacxin nhược độc dịch tả vịt sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương và ứng dụng phịng, can thiệp dịch”. 1.2. Mục đích của đề tài - Kiểm tra một số chỉ tiêu của vacxin nhược độc dịch tả vịt sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương: ngồi đánh giá 3 chỉ tiêu vơ trùng, an tồn, hiệu lực cịn đánh giá độ dài miễn dịch và độ dài bảo quản của vacxin. - Xác định thực trạng bệnh dịch tả vịt trên các đàn vịt nuơi tại ngoại thành Hà Nội và vùng phụ cận, xác định được hiệu lực vacxin trên thực địa. 1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. - Là cơ sở đề ra biện pháp phịng trị bệnh dịch tả vịt cĩ hiệu quả cao. - ðánh giá được độ dài miễn dịch của vịt sau khi tiêm vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C, từ đĩ xây dựng được quy trình sử dụng và bảo quản vacxin hợp lý giúp cho Xí nghiệp thuốc thú y, các Chi cục, Trạm thú y cĩ kế hoạch định hướng sản xuất, lưu trữ, tiêm phịng hợp lý nhất mang lại nguồn lợi kinh tế cao. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 3 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1. Bệnh dịch tả vịt Dịch tả vịt (Pestisanatum) là một bệnh truyền nhiễm cĩ tính lây lan mạnh của lồi thuỷ cầm do một loại Herpesvirus thuộc họ Herpesvirideae gây ra với đặc điểm là xuất huyết nội tạng và ỉa chảy nặng nề (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]. 2.1.1. Lịch sử và phân bố bệnh * Lịch sử bệnh Bệnh dịch tả vịt xuất hiện vào năm 1923 tại Hà Lan với triệu chứng ủ rũ, khát nước và chết sau 1 ngày. Baudet (1923) [33] khi nghiên cứu về bệnh này và đi đến kết luận cĩ thể nguyên nhân do một loại virus. Năm 1930, tại Hà Lan, De Zeeuw mơ tả một trường hợp bệnh tương tự xảy ra ở một đàn vịt 150 con. Năm 1942, dịch lại tái phát ở đất nước này làm chết 2600 trong tổng số 5700 vịt. Vịt ốm ỉa phân xanh, mổ khám khi vịt chết thấy xuất huyết cơ tim, dạ dày tuyến, tá tràng; viêm kiểu bạch hầu ở cuống họng và lỗ huyệt. Lần này, Boss (1943) [34] đã phân lập ra virus và cấy truyền 18 đời trên vịt, đặt tên là” duck plague”. Năm 1949, tại Hội nghị Thú y thế giới lần thứ XIV, căn cứ vào những kết quả nghiên cứu của mình về chủng virus do Boss (1943) [34] phân lập được, Jansen và Kunst đã đề nghị gọi tên bệnh là Duck virus enteritis (DVE) (OIE, 2000) [51]. Bệnh dịch tả vịt cịn cĩ các tên gọi khác nhau như: Pest du canard (Pháp), Enteupest (ðức) (Nguyễn Xuân Bình và cs, 2006) [8]. * Phân bố bệnh Tại Châu Âu, do sự lan rộng của virus cúm gia cầm nên chính phủ các nước châu Âu, đặc biệt là ðức đã đề cao biện pháp cách ly thuỷ cầm bằng lưới Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 4 trong khoảng thời gian từ 20/10/2005-15/12/2005. Tuy nhiên tỷ lệ chết đã tăng đột biến trong những ngày này. Tổng cộng cĩ 17/124 (14%) lồi chim trưởng thành và 149/184 (81%) lồi chim 1 năm tuổi bị chết. Phản ứng trung hồ sử dụng kháng huyết thanh dịch tả vịt đã phát hiện vịt và các lồi chim chết do bệnh dịch tả vịt (Kaleta E.F. & cs, 2007) [46]. Tại Châu Mỹ, vụ dịch đầu tiên xảy ra trên đàn thuỷ cầm hoang ở Mỹ xuất hiện vào tháng 1 và 2 năm 1973, tại hồ Andes, miền nam Dakota làm gần 40% của 100.000 lồi thuỷ cầm trú đơng, hầu hết là vịt trời đã bị chết. Vào thời kỳ cao điểm của dịch, mỗi ngày chết hơn 1000 chim, tất cả những lồi thuỷ cầm đại diện tại hồ Andes đều bị nhiễm bệnh bao gồm ngỗng Canada, vịt trời, vịt đen, vịt lai nhọn đuơi, vịt trời Mỹ, vịt gỗ, vịt mỏ nhọn Mỹ đầu đỏ mắt vàng, vịt Nga và vịt Bắc Kinh. Những lồi chim cịn sống sau vụ dịch ở hồ Andes đã phân tán rộng khắp vùng Bắc Mỹ. Những mẫu máu được lấy từ những vịt sống sĩt ở hồ Andes đã chỉ ra rằng cĩ tới 30 % số vịt đã bị phơi nhiễm virus. Tại tiểu bang Michigan (Mỹ) bệnh dịch tả vịt đã được báo cáo vào năm 1979 trên vịt nga và vịt trời; Brand C.J. and D.E.Docherty (1984) [36] đã xác nhận bệnh dịch tả vịt xảy ra ở Mỹ. Năm 1993 bệnh dịch tả vịt lại tái phát ở hồ Finger (Mỹ). Tại Châu Á, năm 1944 bệnh xảy ra ở Ấn ðộ và tái phát vào năm 1963. Năm 1968, Jansen cơng bố bệnh xảy ra ở Trung Quốc. Khi nghiên cứu về bệnh này, Mukerji xác nhận chủng virus của Ấn ðộ và chủng virus của Hà lan cĩ cùng tính kháng nguyên. Năm 1976, 1977 bệnh đã phát ra ở Thái Lan gây thiệt hại tới 650.000 vịt (Voxapeer Suwathanaviroij, 1978) [58]. Năm 1979, đã cĩ báo cáo về sự xuất hiện bệnh dịch tả vịt ở đàn vịt trời và vịt Muscovy. * Bệnh dịch tả vịt ở Việt Nam Năm 1963, tại Cao Bằng, bác sỹ thú y ðặng Trần Dũng cho biết bệnh dịch tả vịt đã xuất hiện làm thiệt hại trên 3000 vịt. Tháng 5/1969, trong vịng 3 tháng bệnh dịch tả vịt đã làm thiệt hại tới Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 5 15000 vịt ở 4 huyện ngoại thành Hà Nội. Chính từ ổ dịch này đã phân lập ra virus và cĩ thể nuơi cấy virus này trên màng niệu và xoang niệu phơi vịt 10 ngày tuổi (Trần Minh Châu, 1980) [9]. Qua nghiên cứu thấy virus gây bệnh điển hình cho vịt và khơng cĩ đặc tính ngưng kết hồng cầu gà. Vũ ðình Tiếu và Mai Anh cho biết dùng vacxin dịch tả vịt để tiêm cho vịt cĩ thể ngăn chặn được dịch. Từ đĩ bệnh dịch tả vịt chính thức được cơng nhận cĩ tại Việt Nam. Tiếp theo, dịch đã phát ra ở Hà Nội, Thanh Hố, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Tây (cũ), Nam Hà (cũ), Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Cao Bằng, Hải Hưng (cũ). Năm 1971, dịch lại phát ra ồ ạt ở các tỉnh Ninh Bình, Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hà Bắc ( cũ) và thành phố Hải Phịng. Nhờ cĩ tiêm phịng vacxin nên diện dịch bị thu hẹp lại, chỉ cịn rải rác ở một số cơ sở chăn nuơi phân tán. Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh (1989) [31] cho biết đàn vịt của Phú Khánh trong những năm 1980-1986 thường phát ra bệnh và lây lan nhanh ở nhiều nơi. Các tác giả đã tiến hành phân lập virus dịch tả vịt trên đàn vịt ở Phú Khánh. Nguyễn ðức Hiền (1999) [19] đã chẩn đốn xác định virus gây bệnh dịch tả vịt ở Cần Thơ và theo kết quả chẩn đốn lâm sàng thì trên 1.176 vịt bệnh được mổ khám cĩ 455 vịt được chẩn đốn là mắc bệnh dịch tả vịt. Tác giả cũng nghiên cứu về vacxin dịch tả vịt kết luận phương pháp nhỏ mắt hoặc tiêm bắp hoặc kết hợp cả hai đều cho đáp ứng miễn dịch tương đối giống nhau và đạt tỷ lệ bảo hộ hơn 70%. Theo thống kê của OIE (2006) [52]; Việt Nam là một trong những nước bị bệnh dịch tả vịt gây thiệt hại nặng nề nhất. Năm 1999, bệnh đã làm chết 51.752 trong tổng số 123.851 vịt. Năm 2000, cĩ 2.964 vịt chết vì bệnh dịch tả vịt trong tổng số 6.747 vịt. Năm 2001 phát hiện cĩ 24.478 vịt chết trong 46.993 vịt. Năm 2002, bệnh xảy ra ở 33.831 vịt gây chết 15.680 con và năm 2004 số vịt chết vì bệnh dịch tả vịt là 22.447 (xem bảng 2.1). Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 6 Bảng 2.1. Tình hình bệnh dịch tả vịt ở một số nước châu Á từ năm 1996-2004 (nguồn: Annual animal disease status) Năm Quốc gia Số vịt mắc bệnh (con) Số vịt chết (con) Malaysia 138.400 22.430 Singapore 3.000 400 1996 Trung Quốc 2.000 1.100 Ấn ðộ 424 17 1997 Malaysia 770 770 1998 Malaysia 100 100 Ấn ðộ 1.215 119 Malaysia 2.500 50 Nepal 100 74 1999 Việt Nam 123.851 51.752 Ấn ðộ 141 85 2000 Việt Nam 6.747 2.964 Ấn ðộ 1.434 396 Malaysia 790 790 Thái Lan 1.414 998 2001 Việt Nam 46.993 24.478 Ấn ðộ 1.660 681 2002 Việt Nam 33.831 15.680 Ấn ðộ 2.430 888 2003 Thái Lan 3.693 1.121 Ấn ðộ 2.857 879 Thái Lan 4.500 4.120 2004 Việt Nam 41.762 22.447 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 7 2.1.2. Truyền nhiễm học 2.1.2.1. Lồi mắc bệnh Bệnh dịch tả vịt là bệnh của nhiều lồi vịt: vịt trời, vịt mỏ nhọn, vịt đầu đỏ, … Các lồi thuỷ cầm khác như ngan, ngỗng, thiên nga và một số lồi chim hoang dã cũng cảm nhiễm bệnh (Friend M. and G.L. Pearson, 1973) [41], (Docherty D.E. & Franson C.J., 1992) [38]. Vịt là lồi cảm nhiễm nhất, các giống vịt ở mọi lứa tuổi đều cĩ thể mắc. Tỷ lệ vịt mắc và chết cĩ thể lên đến 100%. Mức độ cảm nhiễm cĩ thể khác nhau tuỳ theo giống vịt. Lồi vịt nhọn đuơi cĩ thể coi là ít cảm nhiễm nhất đối với bệnh (Sandhu T.S & Leibovitz L, 2003) [56]. Theo Vandorssen, C.A., and H . Kunst (1955) [57], thì trong họ Anatideae chỉ lồi vịt xám được coi là đề kháng với bệnh . Các động vật khác như bồ câu, cơng và động vật cĩ vú khơng cảm thụ với bệnh. Kaleta E.F & cs (2007) [46] cho biết tại vụ dịch ở châu Âu vào năm 2005, ngồi 34 lồi thuộc Anseriformes cịn cĩ thêm 14 lồi thuỷ cầm cảm nhiễm với bệnh dịch tả vịt. Trong phịng thí nghệm, vịt con là động vật thí nghiệm cảm nhiễm nhất đối với bệnh. Virus cĩ khả năng nhân lên ở gà nhỏ hơn 2 tuần tuổi (Jansen, 1968) [45]. 2.1.2.2. Mùa vụ phát bệnh Bệnh dịch tả vịt xảy ra nhiều nhất vào tháng 4-6 . Sự bùng nổ dịch bệnh phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa sinh sản của vịt và ảnh hưởng của nhân tố stress (Sarmah R & Sarmah A.K., 1996) [53]. Theo Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thiện (2002) [25], ở Việt Nam, bệnh dịch tả vịt xảy ra quanh năm nhưng phát triển mạnh vào thời vụ chăn nuơi và cùng với thời vụ thu hoạch lúa: vụ chiêm tháng 5-6, vụ mùa tháng 9-10. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 8 2.1.2.3.Lứa tuổi mắc bệnh Bệnh xảy ra ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên vịt từ 15 ngày trở đi bị nhiễm nhiều nhất ( Nguyễn Xuân Bình và cs, 2006) [8]. 2.1.2.4.Chất chứa virus Ở vịt bị nhiễm bệnh , virus cĩ trong máu, các cơ quan phủ tạng , nhiều nhất ở gan, lách và ĩc. Tại Việt Nam đã nghiên cứu sự nhân lên của virus ở cơ thể vịt bị gây nhiễm nhân tạo. Sau khi gây nhiễm virus 24 giờ, virus đã nhân lên, xâm nhập vào máu nhưng số lượng cịn ít. ðến 48 giờ, virus đã xuất hiện trong nước mắt, nước mũi. Và đến 72 giờ, khi vịt bị bệnh nặng, bắt đầu ỉa chảy thì tế bào niêm mạc đường tiêu hố do tác động của virus bị huỷ hoại, trĩc ra cùng với dịch tiết cĩ nhiều virus, theo phân bài xuất ra ngồi (Trần Minh Châu, 1987) [11]. Vịt bệnh mang virus rất lâu và cĩ thể tái phát bệnh ở thể ẩn tính. Người ta cĩ thể phát hiện bệnh bằng kiểm tra nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi vịt. Shawky S., Schat K.A. (2002) [55], cho biết virus dịch tả vịt cĩ thể tiềm tàng trong cơ thể vịt và cĩ khả năng tái hoạt động trở lại. Sau 3 tuần gây nhiễm khơng tìm thấy virus dịch tả vịt trong lỗ huyệt nhưng sau 7-9 tuần gây nhiễm , bằng phản ứng PCR, tác giả đã phát hiện thấy DNA virus dịch tả vịt trong thần kinh trung ương, hạch lâm ba ngoại vi, lách, tuyến ức và túi Bursa. 2.1.2.5.. ðường xâm nhập và cách lây lan Trong thí nghiệm, cĩ thể gây bệnh bằng cách tiêm dưới da, bắp thịt, tiêm tĩnh mạch hoặc nhỏ mũi. Trong tự nhiên, đường xâm nhập chủ yếu của virus dịch tả vịt là đường tiêu hố. Jansen (1964) [44] cho biết, nguồn nước và các động vật thuỷ sinh trong đĩ cũng đĩng vai trị nhất định trong việc lây truyền căn bệnh . Khi dịch xảy ra , việc bán chạy vịt bệnh, mổ vịt thịt ốm đều làm cho bệnh lan đi rất nhanh và xa. Bệnh lây lan nhanh, mạnh theo phương thức truyền lây gián tiếp nhưng Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 9 phương thức truyền lây trực tiếp từ mẹ sang con cũng cĩ thể xảy ra (Burgess E.C & T.M Yuill, 1981) [35]. 2.1.3. Triệu chứng và bệnh tích 2.1.3.1. Triệu chứng Thời gian nung bệnh đối với bệnh dịch tả vịt là 3-4 ngày, cĩ thể dài hơn hoặc ngắn hơn phụ thuộc vào bệnh lần đầu tiên xảy ra hay đã từng xảy ra đối với đàn vịt. Ở đàn vịt, nhiều con tự nhiên lờ đờ, rớt lại sau đàn. Ở đàn vịt đẻ khi bệnh xuất hiện sản lượng trứng giảm xuống hoặc ngừng đẻ. Vịt bệnh thường ủ rũ, bỏ ăn, đứng một chân, đầu rúc vào cánh. Vịt thường sưng mi mắt, niêm mạc mắt đỏ. Lúc đầu chảy nhiều nước mắt, sau nước mắt đặc lại cĩ màu vàng như mủ đĩng đầy khoé mắt. Vịt bệnh cĩ khi khĩ thở, tiếng thở khị khè. Từ mũi chảy ra chất niêm dịch lúc đầu trong, sau đặc lại. Nhiều con đầu sưng to, sờ nắn cĩ cảm giác mềm như quả chuối chín. Hầu, cổ cũng cĩ thể sưng do tổ chức liên kết dưới da bị phù thũng. Lúc mới bị bệnh, vịt khát nên uống nhiều nước. Sau vài ngày vịt ỉa chảy, phân rất lỗng, cĩ mùi khắm và cĩ màu trắng xanh. Hậu mơn bẩn, lơng dính bết đầy phân (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]. Ngồi ra, bệnh dịch tả vịt cịn cĩ một số triệu trứng khác đáng chú ý như: vịt sợ ánh sáng, cĩ biểu hiện thần kinh, tì mỏ xuống đất, vịt đực bị sa dương vật, niêm mạc cĩ những vết loét. Vịt đẻ giảm sản lượng trứng mạnh (Phạm Quang Hùng, 2003) [22]. Sau khi xuất hiện triệu chứng được 4-5 ngày, vịt bệnh gầy rạc , tứ chi liệt nằm một chỗ, rũ cánh, thân nhiệt giảm dần rồi chết. 2.1.3.2. Bệnh tích Xác chết gầy, da vùng đầu, cổ, ngực, bụng, đùi lấm tấm xuất huyết. Tổ chức kiên kết dưới da vùng đầu cổ thuỷ thũng, cĩ dịch trong suốt cĩ dịch hơi Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 10 hồng hoặc hơi vàng. Mổ khám các cơ quan nội tạng như: gan, lách, thận, cơ tim thì thấy các cơ quan này đều biểu hiện bệnh tích sưng, tụ huyết hoặc xuất huyết, gan cĩ những điểm hoại tử màu trắng đục, to bằng đầu đinh ghim hoặc hơn (Trần Kim Anh, 2004) [2]. Bệnh tích của bệnh dịch tả vịt đặc trưng là ở đường tiêu hố cĩ những chấm xuất huyết, nhiều nhất là ở cuống mề và trực tràng, bên trên phủ lớp màng giả khĩ bĩc. Ruột non xuất huyết thành những vịng nhẫn nhìn từ ngồi vào thấy cĩ màu nâu hoặc tím rất đặc trưng (Trần Minh Châu, 1996) [12]. Phạm Quang Hùng (2003) [22], cho biết ở mỗi lứa tuổi vịt, bệnh lại thể hiện những đặc trưng riêng: vịt bố mẹ bệnh tích chủ yếu lại ở tuyến ức, xuất huyết mơ và tổn thương bộ máy sinh sản, cịn vịt con thì bệnh tích chủ yếu ở các Lymphoid. 2.1.4. Chẩn đốn 2.1.4.1. Chẩn đốn lâm sàng Dựa vào dịch tễ, triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh. Bệnh xảy ra ở vịt, ngan, ngỗng mọi lứa tuổi; bệnh lây lan nhanh và trầm trọng khoảng 2-3 ngày. Vịt bệnh biểu hiện giảm ăn, mất thăng bằng, ỉa phân lỗng, xù lơng. Mắt vịt cĩ dử, mí mắt sưng, sợ ánh sáng, chảy nước mũi. Kiểm tra bệnh tích: vịt trưởng thành cĩ hiện tượng gan bị bạc màu. Con đực trưởng thành cĩ thể xảy ra hiện tượng dương vật bị thay đổi vị trí.Ở con cái quan sát thấy các nang trứng bị xuất huyết, mạch máu bị tổn thương, tổn thương hệ bạch huyết, thối hố nhu mơ, ống tiêu hố cĩ nhiều chất nhờn. Trong quá trình chẩn đốn, cần phân biệt với một số bệnh khác ở vịt: Bệnh viêm gan do virus: bệnh xảy ra ở vịt dưới sáu tuần tuổi, chủ yếu tập trung ở vịt con từ 1-3 tuần tuổi. Gan xuất huyết thành điểm, thành vệt, ít cĩ hiện tượng hoại tử. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 11 Bệnh tụ huyết trùng và phĩ thương hàn: do Pasteurella và Salmonella gây nên. ðây là những vi khuẩn thường trú trong cơ thể vịt, ngay cả ở vịt khoẻ. Cho nên bệnh dịch tả vịt dễ ghép với hai bệnh này và gây khĩ khăn cho cơng việc chẩn đốn. Tuy nhiên, nếu là ổ dịch tụ huyết trùng hoặc phĩ thương hàn đơn thuần thì khi điều trị bằng kháng sinh đặc hiệu cĩ thể nhanh chĩng dập tắt dịch. 2.1.4.2. Chẩn đốn virus học a. Phát hiện virus - Mẫu gan, lách, thận được xử lý thành huyễn dịch 10% với PBS (Phosphate Buffered Saline) cĩ chứa 200 UI/ml Penicillin và 200 mg/ml Streptomycin. - Ly tâm 2.000 vịng/15phút. Lấy dịch trong ở trên - Kiểm tra vơ trùng: Trên mơi trường nước thịt BHI, hoặc trên mơi trường thạch máu. b. Phân lập virus * Phân lập trên vịt con: Tiêm huyễn dịch bệnh phẩm đã được xử lý như trên cho vịt (0,7-1 kg) với liều 0,5 ml/con vào dưới da hay bắp lườn. Nếu bệnh phẩm cĩ virus dịch tả vịt, vịt sẽ biểu hiện triệu chứng, bệnh tích đặc trưng của bệnh dịch tả vịt giống như đã mơ tả ở phần 2.1.3. * Phân lập trên trứng vịt cĩ phơi: Tiêm 0,2ml huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý vào xoang niệu mơ hoặc màng nhung niệu phơi vịt 11-12 ngày: 5 phơi/mẫu bệnh phẩm. Trứng được ấp tiếp ở 370C. Soi trứng, loại bỏ những phơi chết trước 24 giờ sau khi tiêm. Virus dịch tả vịt gây chết phơi sau 4-10 ngày với bệnh tích đặc trưng: xuất huyết lan rộng. Thu hoạch gan phơi và nước niệu để phân lập virus. * Phân lập trên tế bào xơ phơi vịt (Duck Embryo Fibroblast-DEF) - Cấy tế bào DEF trên các lọ nuơi cấy T25 hoặc đĩa nuơi cấy, sau 2-3 ngày tế bào mọc thành thảm (khoảng 70%) thì gây nhiễm huyễn dịch bệnh phẩm đã xử lý: 500µl/lỗ hoặc lọ. Việc cấy chuyển hai lần là cần thiết trong quá trình phân lập. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 12 - Quan sát bệnh tích tế bào (CPE: Cytopathic patogene effect): đặc trưng với đám tế bào co trịn và trở nên hoại tử sau 2-4 ngày sau đĩ. - Thu hoạch hỗn dịch tế bào, đơng tan, ly tâm và thu phần nước trong cho giám định virus. c. Phương pháp giám định virus * Phương pháp trung hồ trên trứng vịt cĩ phơi (VN-Virus Neutralization). - Chuẩn bị: + Pha lỗng virus phân lập: nồng độ 10-1 - 10-9 với dung dịch PBS. + Lơ đối chứng dương: trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha lỗng theo tỷ lệ 1:1. + Lơ đối chứng âm: trộn kháng huyết thanh âm tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha lỗng theo tỷ lệ 1:1. + Ủ hỗn hợp trên ở nhiệt độ 370C/1h. - Tiến hành: + Tiêm hỗn hợp trên vào xoang niệu mơ phơi trứng vịt (0,2ml/phơi), 5 phơi/nồng độ. + Phơi được ấp tiếp ở tủ ấp 370C trong 10 ngày. Loại bỏ những phơi chết trước 24h. + Phơi chết trong 4-10 ngày, cĩ bệnh tích cịi cọc, xuất huyết lan rộng. - ðánh giá kết quả: + Tính tốn chỉ số trung hồ (NI – Neutralization Index). Nếu kết quả phân lập và giám định dương tính với kháng huyết thanh chuẩn (bằng phương pháp trung hồ – VN), kết luận cĩ virus dịch tả vịt. * Phương pháp trung hồ trên tế bào xơ phơi vịt (DEF): Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 13 - Chuẩn bị: + Tế bào DEF trên đĩa nuơi cấy tế bào 96 lỗ đã nuơi cấy được 2-3 ngày. + Pha lỗng virus phân lập: nồng độ 10-1 - 10-9 với mơi trường nuơi cấy MEM. + Lơ đối chứng dương: trộn kháng huyết thanh dương tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha lỗng theo tỷ lệ 1:1. + Lơ đối chứng âm: trộn kháng huyết thanh âm tính dịch tả vịt với các nồng độ virus đã pha lỗng theo tỷ lệ 1:1. - Tiến hành: + Gây nhiễm hỗn hợp trên vào đĩa đã nuơi cấy tế bào DEF (đĩa 96 lỗ), 100 µl/lỗ. + Tiếp tục ủ đĩa nuơi cấy ở tủ ấm CO2 37 0C. + Quan sát bệnh tích tế bào (CPE) trong 3-7 ngày với biểu hiện tế bào co trịn, tụ lại thành đám, thời gian lâu cĩ hiện tượng tế bào bị hoại tử. - ðánh giá kết quả: + Tính tốn chỉ số trung hồ NI (Neutralization Index). Nếu thuỷ cầm chưa tiêm phịng, phát hiện cĩ kháng thể dịch tả vịt ( bằng phương pháp trung hịa-VN), kết luận thuỷ cầm đã nhiễm virus dịch tả vịt. 2.1.4.3. Chẩn đốn bằng phương pháp PCR (Polymerase Chain Reaction) Phương pháp Polymerase chain reaction (PCR) hay phản ứng chuỗi polymerase do Karl Mullis và cộng sự phát minh năm 1985. ðây là phương pháp tạo dịng invitro, khơng cần sự hiện diện của tế bào. PCR là một phản ứng sinh hố phụ thuộc nhiệt độ, dựa trên nguuyên tắc sử dụng đoạn mồi chuyên biệt để tổng hợp nên một mạch DNA mới bổ sung với đoạn DNA khuơn mẫu. Kỹ thuật PCR được phát triển từ các tổ hợp đang tồn tại và được cải tiến, dựa nhiều vào các đặc điểm nhiệt động học của các cặp gốc AT và GC (Hồ Huỳnh Thuỳ Dương (2003) [15]; Lê Thanh Hồ (2002) [23]. Phản ứng PCR gồm một chuỗi nhiều chu kỳ nối tiếp nhau. Mỗi chu kỳ Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 14 gồm 3 bước (ba giai đoạn): + Bung liên kết của DNA (giai đoạn biến tính): thực hiện ở nhiệt độ 900C - 980C trong vài giây đến vài phút, các phân tử DNA xoắn kép sẽ bị tách ra, tạo nên các sợi đơn dùng để làm khuơn cho các đoạn mồi bám vào và enzym DNA polymerase xúc tác tổng hợp. + Mồi bám (giai đoạn lai): hạ nhiệt độ xuống 370C - 680C, để các đoạn mồi bám vào với các trình tự bổ sung tương ứng trên các phân tử DNA làm khuơn. + Tổng hợp (giai đoạn kéo dài): nâng nhiệt độ lên 680C - 720C trong vài chục giây đến vài chục phút, các sợi DNA vừa được tổng hợp xoắn vào nhau tạo nên DNA sợi kép, chính là sản phẩm PCR. Ba bước trong chu kỳ này được lặp đi lặp lại nhiều lần. Cứ như vậy, phản ứng xảy ra trong 25-35-40 chu kỳ. Sau chu kỳ cuối cùng, cĩ một chu kỳ bổ sung được duy trì ở nhiệt độ 720C trong 5-10 phút sao cho tất cả các sợi DNA mới xoắn lại, tạo nên sản phẩm PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép DNA. Cuối cùng, nhiệt độ hạ xuống 40C để bảo quản sản phẩm. Kết quả từ một đoạn DNA bất kỳ cĩ thể được nhân lên nhanh chĩng hàng tỷ lần (2n sau n chu kỳ) mà khơng cầ._.n đến tế bào sinh vật. Sản phẩm của PCR là hỗn hợp các chuỗi xoắn kép DNA được kiểm tra bằng cách chạy điện di trên thạch agrose nồng độ 0,8%-2% và DNA được nhìn thấy rõ dưới tia cực tím, sau khi đã nhuộm Ethidium Brommid (một loại hố chất cĩ khả năng bám và làm hiển thị DNA). ðộ dài DNA sản phẩm được tính bằng cách so sánh với chỉ thị DNA (DNA Marker), hay sử dụng DNA của thực khuẩn thể Lamda cắt bằng enzym giới hạn HindIII (Lê Thanh Hồ, 2002) [23]. Ứng dụng trong cơng tác chẩn đốn bệnh dịch tả vịt, với đoạn mồi được xác định trước là của chủng virus dịch tả vịt chuẩn trên thế giới cĩ trong ngân hàng gen. Khi đưa mẫu bệnh phẩm cần chẩn đốn vào và tiến hành phản ứng PCR, đoạn mồi nĩi trên sẽ làm một đoạn DNA của virus dịch tả vịt (nếu cĩ trong bệnh Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 15 phẩm) nhân lên nhanh chĩng với số lượng lớn. Sản phẩm này được phát hiện khi chạy điện di trên thạch agrose nồng độ 0,8%-2%. ðể xác định trình tự các nucleotid của vùng gen cần nghiên cứu, cĩ thể lấy sản phẩm PCR để xác định trực tiếp trình tự trên máy giải trình tự động (automated sequencer), nếu sản phẩm PCR tốt và đơn nhất. Nguyên lý của dịng hố là đưa DNA sản phẩm của PCR gài vào trong hệ gen của một vịng DNA đã được thiết kế trước, gọi là plasmid (hay plasmid dẫn truyền, cloning vecter). Sau đĩ plasmid chứa DNA ngoại lai này được chuyển nạp vào tế bào chủ thích ứng để nuơi cấy với số lượng lớn và tách DNA plasmid chứa đoạn PCR nĩi trên (plasmid tái tổ hợp), nhằm thu được một số lượng lớn bản sao DNA một cách chính xác nhất. ðể thực hiện tạo dịng, phải cĩ các thành phần sau: DNA ngoại lai (DNA của PCR nhân vùng gen mong muốn), vector dẫn truyền (plasmid mang) và dịng tế bào chủ thích ứng (vi khuẩn, nấm mem hay tế bào động vật). ðầu tiên, DNA ngoại lai được nối vào vector nằm tạo ra vector tái tổ hợp. Vector sử dụng là plasmid thích ứng của vi khuẩn E.coli. Sau đĩ vector tái tổ hợp chuyển nạp vào tế bào chủ và tế bào chủ được cấy trong mơi trường thích hợp để vi khuẩn nhân lên nhiều lần, tế bào chủ ở đây là vi khuẩn E.coli. Cuối cùng qua các bước chiết tách DNA, người ta sẽ thu được một số lượng lớn DNA của plasmid tái tổ hợp. Quá trình tạo dịng gồm các bước: 1) Chọn và xử lý vector 2) Xử DNA cần tạo dịng 3) Tạo vector tái tổ hợp vào tế bào chủ 4) Phát hiện dịng cần tìm. Tác giả Vũ Minh Thục (2004) [32] cho biết: nhược điểm chính của phương pháp PCR là sự nhạy cảm khác thường của chúng, làm cho chúng cĩ kết quả “dương tính sai” và thường diễn ra bởi một số lượng nhỏ DNA bị nhiễm Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 16 chéo trong phịng thí nghiệm. Tuy nhiên, riêng với bệnh dịch tả vịt, Hansen (1999) [41] khẳng định sự đặc trưng của đoạn mồi đã được kiểm tra với bộ gen khuơn mẫu của các loại Herpesvirus gây bệnh ở các gia cầm khác như đại bàng, chim, bồ câu, gà,... Kết quả cho thấy sự khuếch đại vẫn khơng cho sản phẩm. ðiều này cĩ nghĩa là phản ứng này đặc hiệu rất cao cho DNA của virus dịch tả vịt. Với hai đoạn mồi sẽ cĩ khả năng phát hiện 1 fg của DNA từ virus dịch tả vịt và phản ứng PCR được đánh giá nhạy bén hơn gấp 20 lần so với việc chẩn đốn bệnh dịch tả vịt bằng nuơi cấy tế bào. SƠ ðỒ CHẨN ðỐN BỆNH DỊCH TẢ VỊT Kết luận bệnh (+) (-) Giám định (VN) Phân lập virus PCR (+) (-) ðặc điểm dịch tễ học Phát hiện kháng thể (SN) Phát hiện virus Lấy mẫu bệnh phẩm Kiểm tra lâm sàng Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 17 2.1.5. Biện pháp can thiệp và phịng bệnh dịch tả vịt 2.1.5.1. Biện pháp can thiệp Bệnh dịch tả vịt là bệnh khơng chữa được. Tuy nhiên với đàn vịt mới chớm mắc vài con thì cĩ thể can thiệp bằng cách dùng vacxin nhược độc cho tồn đàn. Những vịt chưa bị nhiễm virus nặng sẽ được bảo hộ bằng hiện tượng cản nhiễm. Nếu tiêm sớm và kết hợp với chăm sĩc đàn vịt tốt thì cĩ thể cứu được tới 90% vịt (Trần Minh Châu, 1980) [9]. Nên tăng cường thêm các biện pháp chăm sĩc bồi dưỡng nhằm tăng cường sức đề kháng cho vịt (sử dụng chất điện giải và vitamin). Theo Archie Hunter (2002) [3] nếu cĩ ổ dịch xảy ra, vịt khoẻ mạnh cĩ tiếp xúc với mầm bệnh phải được tiêm phịng vì vịt sản sinh kháng thể chỉ trong một ngày sau khi tiêm phịng. 2.1.5.2. Phịng bệnh * Vệ sinh phịng bệnh Ở những nơi chưa cĩ bệnh tốt nhất nên tự túc con giống. Khi tạo đàn khơng nên tập trung nhiều đàn nhỏ lại. Lị ấp trứng cũng khơng nên ấp trứng quá nhiều đàn. Sau mỗi lần ấp trứng, cần tẩy uế lị ấp rồi sát trùng kỹ bằng hơi formol (Nguyễn Vĩnh Phướcvà cs, 1978) [28]. Lê Hồng Mận (2005) [27] khuyến cáo: khơng chăn vịt, ngan, ngỗng từ nơi cĩ nhiều nguồn nước chảy tới để đề phịng sự lây nhiễm qua nguồn nước. Phạm Quang Hùng (2003) [22] nêu một số nguyên tắc phịng bệnh bằng vệ sinh như sau: - Chuồng trại vịt cách xa khu dân cư. Cổng trại phải cĩ hố sát trùng (thường sát trùng bằng Cloramin 3%). Hạn chế người đi lại, người ra vào trại phải sát trùng giày dép, tay chân. - ðiều kiện nuơi dưỡng tốt, máng ăn, máng uống phải sạch sẽ. Thức ăn, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 18 nước uống phải vệ sinh. Thực hiện tiêu độc, sát trùng dụng cụ, chuồng trại giữa hai lứa vịt. Chú ý tiêu diệt chuột và các lồi gặm nhấm quanh khu vực trại. - Vịt mới mua về phải nuơi cách ly ít nhất 3 tuần. * Tiêm phịng bằng vacxin - Vacxin để phịng bệnh dịch tả vịt cĩ hai loại là vacxin vơ hoạt và vacxin nhược độc. + Vacxin vơ hoạt: ðể vơ hoạt virus dịch tả vịt, trước đây thường dùng hố chất là formol, gần đây sử dụng chất BPC (β propiolactone). Tại Việt Nam đã chế thử vacxin vơ hoạt như: vacxin dịch tả vịt gan máu glyxerin tím, vacxin formol gan. Theo OIE (2000) [51] vacxin vơ hoạt tạo được miễn dịch cho đàn vịt nhưng hiệu lực thấp hơn so với vacxin nhược độc, hiện nay vacxin vơ hoạt chỉ sử dụng trong phịng thí nghiệm, chưa được áp dụng trong sản xuất. + Vacxin nhược độc: Ngày nay người ta thường sử dụng chủng virus vacxin là virus nhược độc dịch tả vịt thích nghi trên phơi vịt do Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương sản xuất; virus dịch tả vịt nhược độc chủng Jansen thích nghi trên phơi gà và nuơi trên tế bào Fibroblast phơi gà một lớp. ðây là 2 loại vacxin cĩ độ an tồn cao và hiệu lực tốt, thời gian miễn dịch dài, sau khi tiêm vacxin 9 tháng vịt vẫn cịn miễn dịch. Vacxin sử dụng an tồn với cả vịt con một ngày tuổi. Vacxin được chế biến dưới 2 dạng vacxin tươi và vacxin đơng khơ (Lê Hồng Mận 1999) [26]. + Với đàn vịt ở vùng dịch bị uy hiếp, cần tiêm phịng cho vịt con ngay sau khi vịt nở. + Vịt nuơi thịt chỉ cần tiêm phịng 1 lần. Ở nơi khơng bị dịch uy hiếp, cĩ thể tiêm phịng cho vịt vào lúc vịt từ 2-3 tuần tuổi. + ðối với vịt đẻ và vịt giống, lịch tiêm phịng yêu cầu chặt chẽ hơn. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 19 + ðối với trường hợp đàn vịt bố mẹ được tiêm phịng vacxin phịng bệnh dịch tả vịt, Nguyễn Xuân Bình và cs, (2006) [8] cho rằng khơng cần tiêm cho vịt con trước 2 tuần tuổi. Do trong thời gian này vịt con vẫn cịn tồn tại kháng thể do kháng thể được truyền qua lịng đỏ trứng nên cĩ khả năng xảy ra phản ứng trung hồ làm giảm hiệu lực của vacxin. + Theo Quyết định số 63/2005/Qð-BNN của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển Nơng thơn [4] việc tiêm phịng vacxin bắt buộc đối với bệnh dịch tả vịt gồm: ðối tượng tiêm phịng: Vịt, ngan các lứa tuổi. Phạm vi tiêm phịng: Các cơ sở chăn nuơi tập trung, chăn nuơi hộ gia đình trong phạm vi cả nước. Tiêm phịng định kỳ mỗi năm 2 lần, tuỳ theo lứa tuổi. Liều lượng, đường tiêm, gia cầm trong diện tiêm theo sự hướng dẫn của nhà sản xuất vacxin. 2.2. Virus gây bệnh dịch tả vịt Virus gây bệnh dịch tả vịt là loại DNA virus thuộc họ Herpesviridae nhĩm Herpesvirus. Virus chỉ cĩ một serotyp được biết đến nhưng cĩ nhiều chủng cĩ độc lực khác nhau tồn tại trong tự nhiên (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [29]. Theo Li H & cs (2006) [49] virus gây bệnh dịch tả vịt cĩ thể được phân loại vào phân họ Alphaherpesvirinae trong họ Herpesviridae. 2.2.1. Virus nhĩm Herpes Virus Herpes được phát hiện trong dịch thể nốt phồng Herpes ở người bằng cách dùng thể này gây bệnh cho thỏ vào giác mạc đã được rạch sẵn. Các virus nhĩm Herpes được xếp vào nhĩm virus cĩ dạng cấu trúc phức tạp, cĩ kích thước từ 120-200 nm, là loại cĩ kích thước trung bình. Herpesvirus cĩ kiểu đối xứng khối, được tạo thành từ 4 thành phần cấu trúc: vỏ, teguenzymt, capxit và nhân. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 20 Vỏ bọc capxit của virus này cĩ đường kính trung bình từ 110-150 nm, gồm 160 capsome hình lăng kính. Trung tâm của virus là một nhân đậm đặc chứa DNA mạch đơi, xoắn thẳng cĩ trọng lượng phân tử 150.106. Tỷ lệ guanin và xytozin khơng giống nhau giữa các virus trong nhĩm. (Gaidamovich ,1970). Herpesvirus khơng bền với nhiệt, nhạy cảm với ete và chloroform. Tuy nhiên, chúng tương đối bền với sự thay đổi pH mơi trường (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978) [28]. Virus cĩ khả năng nhân lên trên tế bào nuơi. Khi nhiễm trùng tự nhiên hay thực nghiệm trên súc vật, trong các mơ nhiễm phát hiện ra các hạt vùi kiểu A theo Crowdy (trên cơ sở đĩ mà Andrew đề nghị gọi là nhĩm Nitavirus, tức Nuclear inclution type A). Các kiểu tổn thương mà virus gây nên đối với tế bào bị xâm nhiễm cĩ thể là: tế bào đa nhân khổng lồ với các hạt vùi trong nhân; tương bào bị khơng bào hố; tế bào nhân sáng hơn do ít chất nhiễm sắc; cĩ những hạt virus đang hình thành ở các giai đoạn khác nhau (Trần Minh Châu, 1987) [11]. Quá trình tổng hợp DNA của Herpes virus xảy ra trong nhân: sau khi virion xâm nhập vào nguyên tương bào do sự hồ màng thì diễn ra sự cởi vỏ và phức hợp DNA - protein di chuyển vào nhân tế bào. DNA sao mã thành RNAm trong nhân tế bào, cịn protein tổng hợp ở nguyên tương. Sự tổng hợp DNA của virus ở trong tế bào nuơi cĩ thể bị ức chế bởi chất 5 - iod-zdesoxyuridin. Dựa vào đây, người ta cĩ thể phân loại các virus trong nhĩm này và đây cũng chính là nguyên nhân để xếp virus vào nhĩm DNA virus (Nguyễn Thị Chính, Lê Tiến Hiển, 2001) [13]. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 21 2.2.2. Virus dịch tả vịt 2.2.2.1. Hình thái, kích thước Virus dịch tả vịt cĩ hình thái gần trịn, cĩ lớp vỏ bọc bên ngồi và cĩ một lõi ở giữa. Virus hồn chỉnh (cĩ màng nhân bao quanh) đường kính trung bình 60nm. Virus chưa hồn chỉnh (khơng cĩ màng nhân bao quanh) đường kính trung bình là 100nm. Virus cĩ đường kính tăng dần khi cấu trúc dần được hồn thiện. Ở những tế bào được gây nhiễm virus, sau 24h thấy các hạt vùi trong nhân và nguyên sinh chất. ðĩ là những tập hợp khơng cĩ hình thù, trơng giống như bụi. Trong nhân, hạt virus cĩ đường kính là 93,5 nm; trong nguyên sinh chất cĩ đường kính là 136 nm và thành thục ở khơng bào với đường kính 250 nm. Theo Trần Minh Châu (1987) [11]., ở Việt Nam, virus cường độc dịch tả vịt chủng 769 cĩ hình thái và cấu trúc giống như virus mà Brixo, Dardini & Hess, (1968) [37] và Proctor S.M and cs, (1975) [48]đã mơ tả. Virus dịch tả vịt qua được lọc Chamberland, Berkefeld nhưng khơng qua được màng lọc Seitz. Bằng phương pháp lọc qua màng lọc, Dardini & Hess, (1968) [37] đã nhận xét, virus nhược độc chủng Jansen và virus cường độc cĩ kích thước 150-250 nm. 2.2.2.2.Sức đề kháng Với nhiệt độ, theo nghiên cứu của Dardini & Hess, (1968) [37], ở 220C virus giảm dần tính gây nhiễm đến 30 ngày thì chết. Virus bị mất hoạt tính ở 500C sau 2 giờ 30 phút. Nếu được sấy khơ bằng CaCl2 thì sau 9 ngày virus bị chết. Tác giả Nguyễn Vĩnh Phước và cs, (1978) [28] cho biết: ở 00C-40C virus khơng bảo quản được 3 tháng nhưng nếu ngâm trong dung dịch Glyxerin 50% thì virus giữ được độc lực trong thời gian trên. Theo Trần Minh Châu và lê Thị Thiện, (1986) [10] thì virus dịch tả vịt đề kháng kém với nhiệt độ, ở nhiệt độ cao virus bị chết nhanh cịn ở nhiệt độ thấp hơn thì tính gây nhiễm của virus giảm dần. Ngồi ra, Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [29] khẳng định: virus mất khả Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 22 năng gây nhiễm ở 300C sau 2 giờ, 700C trong 20 phút, 800C virus chết sau 5 phút. Trong điều kiện lạnh từ -100C đến -200C, virus cĩ thể tồn tại rất lâu. Làm đơng khơ các chất chứa virus khơng những cĩ thể giữ virus nhiều năm mà cịn khơng làm mất độc lực của virus. Với pH mơi trường: virus ổn định ở pH từ 5-10 và bị bất hoạt khi pH < 3 hoặc >10. Với một số nhân tố hố học, virus dịch tả vịt rất nhạy cảm với ete và chloroform. Dưới tác dụng của 2 chất này, virus bị phá huỷ. Kunst (1967) [47] cho rằng: Natri lauryl sulfate, Natridesoxycholate, Zephizol, Saponin cĩ ảnh hưởng tới virus. Theo Nguyễn Thát (1975) [30]; Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [29] thì cồn 700 diệt virus trong 5-30 phút, acid phenic 0,5% diệt virus sau 30 phút. NaOH 2% và NH4OH 0,5% ở 22 oC cũng giết chết virus sau 30 phút. Với một số enzym, Dardini & Hess, (1968) [37] cho biết virus dịch tả vịt bị các men Trypsin, Chimotrypsin, Lypase của tuỵ phá huỷ. Ở mơi trường ngồi, với điều kiện nhiệt độ phịng thí nghiệm, virus cĩ thể tồn tại tới 30 ngày (OIE, 2006) [52]. Trong điều kiện tự nhiên, virus cĩ thể tồn tại một thời gian khá dài, 5 ngày kể từ khi con vật cuối cùng chết vẫn cĩ thể làm lây lan bệnh cho vịt khoẻ nếu nhốt chúng vào chuồng cũ (Trần Minh Châu, 1987) [11]. 2.2.2.3. ðộc lực Cho đến nay, người ta đã xác định được một số chủng virus dịch tả vịt cĩ độc lực khác nhau như sau: - Hà lan cĩ chủng O độc lực mạnh nhất, sau đĩ đến các chủng W59, W60, N (Jansen, 1968) [45]. - Việt nam cĩ 769, 880 cĩ độc lực mạnh nhất, sau đĩ là các chủng NH, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 23 NB, C, T (Trần Minh Châu, 1987) [11].. Nguyễn ðức Hiền (2005) [20] phân lập chủng virus gây bệnh dịch tả vịt ở Cần Thơ và cho biết chủng này cĩ độc lực cao, cĩ khả năng gây bệnh và gây chết vịt ở phịng thí nghiệm khi tiêm bắp với liều 103ELD50/ml. Năm 2005, tác giả Nguyễn Ngọc ðiểm (2005) [17] cũng đã phân lập thành cơng chủng virus cường độc dịch tả vịt VG-2004. 2.2.2.4. ðặc tính nuơi cấy Virus dịch tả vịt khơng cĩ khả năng gây ngưng kết hồng cầu, khơng hấp thụ hồng cầu. Trong tế bào phơi gà, vịt bị nhiễm virus, virus hình thành tiểu thể bao hàm. Trong mơi trường nuơi cấy tế bào, virus cĩ khả năng hình thành Plague. Khi cĩ mặt bổ thể, kháng thể dịch tả vịt cĩ khả năng làm tan tế bào xơ phơi vịt bị nhiễm virus. * Nuơi cấy trên phơi Jansen (1968) [45] cho biết: virus dịch tả vịt sau khi đã tiêm truyền trên phơi vịt sẽ dễ dàng thích nghi trên phơi gà. Tuy vậy, khi nuơi cấy trên phơi vịt, tỷ lệ chết của phơi khơng cao và theo kinh nghiệm thì virus dịch tả vịt của Việt Nam cĩ vẻ như khĩ nuơi cấy trên phơi gà (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978) [28]. Nghiên cứu về khả năng nhân lên trên phơi của virus dịch tả vịt, Trần Minh Châu, (1987) [11] cho rằng màng nhung niệu là đường tiêm truyền tốt nhất. Theo Nguyễn Như Thanh và cs, (2001) [29] khi nuơi cấy virus trên màng niệu đệm hoặc xoang niệu mơ của thai vịt ấp 12 ngày, thai sẽ chết sau 4-6 ngày với bệnh tích: xuất huyết trên da vùng lưng, đầu, rìa cánh, gan và quả tối cĩ điểm xuất huyết và hoại tử. Một số phơi cĩ biểu hiện phù, màng nhung niệu sưng dày. Virus dịch tả vịt cĩ thể cảm nhiễm với phơi ngỗng ấp 12 ngày tuổi và giết Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 24 chết phơi sau 3-5 ngày. Virus dịch tả vịt ít mẫn cảm ở những lần đầu tiên trên phơi gà. ðối với phơi gà 9-10 ngày tuổi phải tiếp truyền virus ít nhất sau 12 đời liên tiếp virus mới thích nghi. Qua nhiều lần cấy truyền virus trên phơi vịt, phơi gà, độc lực virus sẽ giảm dần với vịt. Người ta sử dụng những chủng virus nhược độc này qua phơi gà, phơi vịt để chế tạo vacxin. * Nuơi cấy trên tế bào Virus dịch tả vịt cĩ thể nuơi cấy trên mơi trường tế bào phơi vịt, phơi gà một lớp và gây ra biến đổi bệnh lý tế bào (Jansen, 1968) [45]. Burgess E.C & T.M. Yuill, (1981) [35] cơng bố virus dịch tả vịt cĩ khả năng nhân lên trên các loại tế bào: xơ phơi vịt, xơ phơi gà, xơ phơi ngan, gan phơi ngan. Theo Ronald Atllanasio, (1989) thì khơng quan sát thấy biến đổi bệnh lý tế bào khi nuơi cấy virus trên tế bào thận lợn PK15, tế bào WI-38, RD Hela, Hep-2, Vero, LleMK, BGM và BD (Trần Minh Châu, 1987) [11]. Ở Việt Nam, khi nghiên cứu nuơi cấy virus cường độc trên tế bào xơ phơi vịt, sau 36 giờ cĩ hiện tượng tế bào co trịn, thối hố và rụng khỏi thành bình tạo thành khoảng trống, xung quanh là những hợp bào (synciticum) như những dải đăng ten. Lớp tế bào này sẽ bị phá huỷ hồn tồn vào ngày thứ 4. trong các bình nuơi cấy virus ở nồng độ lỗng, cĩ thể phát hiện được plague (những tế bào bị virus gây thối hố) bằng cách nhuộm lớp tế bào với dung dịch fushin kiềm hoặc đỏ trung tính hoặc tím kết tinh (Nguyễn Lân Dũng và cs, 1972) [14]. Nếu nhuộm fushin kiềm trong vài giây, sẽ quan sát thấy plague hiện ra trên nền đỏ, hình trịn, bờ khơng gọn và cĩ đường kính là 1-2mm (Trần Minh Châu, 1987) [11]. Theo Dardini & Hess (1968) [37] Plague của virus dịch tả vịt cường độc hình trịn, to nhỏ khơng đều, cĩ đường kính từ 1-8 mm. Plague của virus dịch tả vịt nhược độc thì đều hơn, cĩ bờ gọn sáng, đường kính từ 3-4 mm. Nguyễn Như Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 25 Thanh và cs, (2001) [29] cũng mơ tả, với các chủng virus nhược độc, Plague đều gọn và sáng rõ; ở ngày thứ 3 cĩ đường kính 3 mm, sau 6 ngày là 4-7 mm và sau 14 ngày sẽ là 10 mm. Về sự nhân lên của virus ở tế bào nuơi cấy, qua nghiên cứu thấy rằng: 12 giờ sau khi cấy virus vào tế bào đã tìm thấy virus ở trong nhân tế bào. ðến 24 giờ virus đã cĩ mặt trong nguyên sinh chất vào lúc 60 giờ thì virus cĩ hàm lượng cao nhất. Sự xuất hiện Plague trên các mơi trường nuơi cấy khác nhau là khác nhau. Virus cường độc thì nhân lên nhanh và hình thành các Plague đẹp theo thứ tự các mơi trường như sau: tế bào xơ phơi ngan và uyên ương, xơ phơi vịt Bắc Kinh, vịt đen, vịt đầu đỏ; cịn Plague trên tế bào xơ phơi vịt mốc và vịt bãi là kém nhất. Virus dịch tả vịt nhược độc của Hà Lan lại cĩ thứ tự các mơi trường thích hợp khác: tế bào xơ phơi vịt Bắc Kinh, tế bào xơ phơi gà, trĩ Mơng Cổ, cun cút (Ronald Atlanansio, Robert Olson, James. C. Johnson, 1980) (Trần Minh Châu, 1987) [11]. ðối với virus nhược độc chủng Jansen, virus rất thích ứng trên mơi trường xơ phơi gà. Chỉ sau 24 giờ cấy virus, tế bào đã bắt đầu cĩ hiện tượng huỷ hoại, tế bào bị biến dạng, co trịn, phình to ra, tập trung thành từng đám và cĩ thể nhìn rõ dưới kính hiển vi quang học (nghiên cứu của bộ mơn VSV – TN trường ðHNN Hà Nội). * Nuơi cấy trên động vật cảm thụ Cĩ thể dùng vịt con 1 ngày tuổi để nuơi cấy virus, 3-12 ngày sau vịt chết với triệu chứng, bệnh tích điển hình của bệnh. Ngồi vịt con cĩ thể dùng ngan con, ngỗng con và gà con mới nở để gây bệnh. 2.3. Miễn dịch chống virus dịch tả vịt 2.3.1. ðáp ứng miễn dịch khơng đặc hiệu Khả năng đáp ứng miễn dịch khơng đặc hiệu của vịt đối với virus dịch tả vịt thể hiện bằng sự sản sinh các chất miễn dịch khơng đặc hiệu nhằm chống lại Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 26 sự xâm nhập và nhân lên của virus. Các chất đĩ bao gồm: * Interferon: Là họ protein, một chất do tế bào sinh ra, là nguồn thơng tin ngoại lai, cĩ tác dụng ức chế sự nhân lên của virus bằng cách giải thốt khống chế sự tổng hợp protein kháng virus. Protein này cĩ khả năng khống chế sự phiên dịch các thơng điệp của virus ở Ribosome của tế bào (Nguyễn ðường và cs, 1990) [16]. Khi nghiên cứu về vai trị Interferon và hiện tượng cản nhiễm, Jansen (1968) [45] đã chứng minh vacxin cịn phát huy tác dụng ngay cả khi vịt đã nhiễm virus cường độc trước khi tiêm vacxin. Nếu nhiễm virus cường độc dịch tả vịt trước 4 giờ can thiệp bằng vacxin thì trong 10 vịt sẽ cứu sống được 8 con, nếu trước 8 giờ thì trong 15 vịt phát bệnh chỉ cĩ 3 vịt được cứu sống. Nếu vịt bị nhiễm bệnh từ 16 giờ trở lên, dù tiêm vacxin vịt vẫn khơng được bảo hộ. Như vậy, interferon cĩ vai trị quan trọng trong việc chống lại sự nhân lên của virus và hiện tượng cản nhiễm là cơ sở khoa học cho việc can thiệp vacxin vào ổ dịch để nhanh chĩng dập tắt dịch. * Tế bào NK: tăng cường hoạt động diệt những tế bào đã bị nhiễm virus do chúng cĩ một phần tử KIR (Killer cell Inhibitory Receptor) cĩ tác dụng giúp chúng tiếp xúc với tế bào đích (tế bào bị nhiễm virus) làm ức chế tín hiệu hoạt hố và dung giải tế bào đích (Vũ Triệu An, 1997) [1]. * Các loại bổ thể cĩ vai trị khởi phát viêm và opsonin hố các yếu tố gây bệnh. Từ đĩ tạo điều kiện cho các tế bào thực bào bắt nuốt, tiêu diệt và trình diện kháng nguyên. 2.3.2. ðáp ứng miễn dịch đặc hiệu 2.3.2.1. Sự hình thành kháng thể kháng virus dịch tả vịt * Miễn dịch chủ động tự nhiên: Sau khi vịt mắc bệnh dịch tả vịt và đã khỏi bệnh thì vịt sẽ cĩ kháng thể Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 27 kháng virus dịch tả vịt trong cơ thể. Theo kết quả nghiên cứu của một số tác giả thì vịt khỏi bệnh cĩ thể bị mắc trở lại. Bệnh tái phát thường ở thể ẩn, khơng cĩ triệu chứng rõ. Nếu khám vịt ốm, chỉ thấy bên dưới lưỡi cĩ nốt rộp, từ nốt rộp cĩ tác giả đã phân lập được virus dịch tả vịt. Do mang đặc tính của một virus Herpes, nên khi gặp điều kiện thuận lợi, virus lại tiếp tục phát triển và gây bệnh làm thành nốt rộp mới. Tác giả đã đề xuất phương pháp kiểm tra bệnh tích dịch tả vịt ẩn tính bằng cách khám nốt rộp ở mặt dưới của lưỡi (Trần Minh Châu, 1987) [11]. *Miễn dịch chủ động nhân tạo: Vịt cĩ được khả năng miễn dịch này nhờ được tiêm vacxin. Hiệu lực và độ dài đáp ứng miễn dịch phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loại vacxin, đường đưa vacxin vào cơ thể, ... Trên thực tế, khả năng đáp ứng miễn dịch của đàn vịt khi sử dụng vacxin dịch tả vịt vơ hoạt thấp hơn khi dùng vacxin nhược độc. Việc tiêm nhắc lại nhiều lần hoặc tiêm nhắc lại với số lượng lớn kháng nguyên làm sản sinh ra một lượng kháng thể lớn hơn (Fenner & cs, 1974) [40]. Về đường đưa vacxin, Shawky S.A và Shandhu T.S (1997) [54] cho rằng: đường đưa vacxin vào cơ thể tốt nhất là tiêm bắp hoặc tiêm dưới da; phương pháp nhỏ mắt, nhỏ mũi địi hỏi nhiều thời gian mà hầu như khơng gây được miễn dịch . Tuy nhiên tại Việt Nam, nghiên cứu về hiệu lực phịng bệnh của vacxin dịch tả vịt khi áp dụng quy trình tiêm chủng khác nhau trong sản xuất, Nguyễn ðức Hiền (1999) [19] cho biết với phương pháp nhỏ mắt hay tiêm bắp hoặc phối hợp cả hai phương pháp trên đều đáp ứng miễn dịch khơng khác nhau nhiều. Tuổi tiêm chủng đầu tiên là 14 ngày tuổi thì cĩ ảnh hưởng tốt đến hiệu quả sử dụng vacxin. * Miễn dịch bị động tự nhiên: Kháng thể của vịt mẹ được truyền cho vịt con qua lịng đỏ trứng. Ở những vịt con một ngày tuổi, hàm lượng kháng thể dịch tả vịt trong máu xấp xỉ bằng hàm lượng kháng thể trong lịng đỏ. Theo thời gian, hàm lượng kháng thể sẽ giảm dần Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 28 và chỉ tồn tại ở vịt con tối đa là tới ngày 21. Dù vịt con cĩ được hưởng kháng thể từ vịt mẹ, nhưng nếu bị nhiễm nhiều virus thì vẫn cĩ thể bị chết vì bệnh dịch tả vịt. Như vậy, kháng thể do vịt mẹ truyền cho chỉ bảo vệ được vịt con trong những ngày đầu sau khi nở nếu chúng bị nhiễm một lượng virus rất ít (Fenner & cs, 1974) [40], (Leibovitz, 1991) [48]. * Miễn dịch bị động nhân tạo: Là trường hợp can thiệp vào đàn vịt (đã bị mắc bệnh dịch tả vịt tự nhiên) bằng kháng thể dịch tả vịt. Tuy nhiên, việc tạo miễn dịch dạng này khơng tồn tại lâu trong cơ thể và cũng khơng mang lại nhiều ý nghĩa trong thực tiễn. 2.3.2.2. Các loại kháng thể chống virus dịch tả vịt. ðể chống virus dịch tả vịt, cĩ 2 loại kháng thể được sản sinh ra là kháng thể dịch thể và kháng thể tế bào * Kháng thể dịch thể: là các globulin miễn dịch hoạt động chủ yếu khi virus cịn trong máu. Chúng phong bế sự hấp thụ virus lên bề mặt tế bào, ngăn cản sự hồ màng vỏ virus vào màng tế bào, ngăn cản virus phá vỡ màng của hốc thực bào hoặc phá màng phân tử vỏ của virus, ngăn cản sự tái sao của chúng (Vũ Triệu An, 1997) [1]. Trong miễn dịch dịch thể, hàm lượng kháng thể sinh ra nhiều hay ít phụ thuộc vào loại kháng nguyên được sử dụng, số loại kháng nguyên, số lần được kích thích và khả năng đáp ứng miễn dịch của con vật. ðối với bệnh dịch tả vịt, lượng kháng thể dịch thể được sinh ra trong những trường hợp vịt bị nhiễm bệnh tự nhiên thường thấp và chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn (Trần Minh Châu, 1987) [11]. *Kháng thể tế bào: đáp ứng miễn dịch tế bào là phương thức bảo vệ chính của cơ thể chống lại virus thơng qua những tế bào lympho độc Tc (hay CTL: Cytotoxic T Lymphocite). ða số các tế bào này mang dấu ấn CD8+ (Cluster of Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 29 Differenciation 8+: glucoprotein bề mặt tế bào thường cĩ trên tế bào Tc nhận biết phân tử MHC lớp I trên tế bào đích) và hoạt động theo cơ chế cĩ hạn bởi MHC (Major Histocompatibility Complex: phức hợp mơ – những phân tử cĩ mặt trên tế bào làm nhiệm vụ trình diện kháng nguyên) nghĩa là chúng chỉ cĩ tác dụng khi tế bào bị nhiễm mang cùng phân tử MHC I. Hầu hết các tế bào trong cơ thể đều cĩ MHC I nghĩa là cĩ thể bị Tc tấn cơng khi bị nhiễm virus. Cơ chế hoạt động của CTL là gây chết tế bào bị nhiễm theo chương trình (apoptosis) đồng thời tiết cytokin như IFN (Interferon), TNF (tumoz necrosin factor: yếu tố hoại tử u) để ức chế virus tái sao và hoạt hố những tế bào khác tăng biểu lộ các phân tử MHC. Nhưng chính cơ chế này trong một số trường hợp lại gây ra sự phá huỷ tế bào rộng lớn hơn. Trong nhiều trường hợp, sự phối hợp của cả hai đáp ứng miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào là nguyên nhân của trạng thái bệnh lý nặng nề. Guiping Y & cs (2007) [42], bước đầu nghiên cứu về khả năng chết theo chương trình (apoptosis) của tế bào lympho ở vịt đã gây ra bởi sự tiêm truyền virus dịch tả vịt dẫn đến sự phân huỷ tế bào lympho. Sự chết theo chương trình của tế bào lympho cĩ thể đĩng vai trị quan trọng trong sinh bệnh học của bệnh dịch tả vịt. ðáp ứng miễn dịch tế bào cĩ vai trị quan trọng trong miễn dịch của cơ thể với virus dịch tả vịt (Dardini, A.H., and W. R. Hess, 1968) [37]. Qua kết quả nghiên cứu của Jansen thấy rằng: một số vịt sau khi được tiêm vacxin cĩ hàm lượng kháng thể dịch thể rất thấp nhưng khi đem thử thách với virus dịch tả vịt cường độc thì vẫn được bảo hộ. Jansen cho rằng trường hợp này cĩ vai trị đáng kể của kháng thể tế bào và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc dùng virus cường độc để thử hiệu lực vacxin. 2.3.2.3. ðộ dài miễn dịch Khi đưa vacxin vào cơ thể, kháng thể chưa sinh ra ngay lập tức mà phải sau một thời gian tiềm tàng, dài hay ngắn phụ thuộc vào kháng nguyên chứa trong vacxin và sự xâm nhập của kháng nguyên vacxin lần đầu hay lần thứ hai, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 30 thứ ba,...Sau đĩ kháng thể mới được sinh ra, lượng kháng thể tăng dần, đạt mức cao nhất 2-3 tuần rồi giảm dần và mất đi sau vài tháng hoặc vài năm. Sử dụng vacxin lần đầu đáp ứng miễn dịch được gọi là sơ cấp hay tiên phát. Sử dụng vacxin lần hai đáp ứng miễn dịch được gọi là thứ cấp hay thứ phát. Trong đáp ứng miễn dịch thứ phát, thời gian tiềm tàng ngắn hơn, lượng kháng thể sinh ra nhiều hơn và thời gian xuất hiện kháng thể sớm hơn. Sự khác biệt của đáp ứng miễn dịch sơ cấp và thứ cấp là do vai trị của các tế bào nhớ miễn dịch. Trong đáp ứng miễn dịch thứ cấp, các tế bào này phát triển nhanh và mạnh, tạo ra một lớp tế bào sản xuất kháng thể nhanh và nhiều hơn nên kháng thể xuất hiện sớm, hàm lượng nhiều hơn rõ rệt. Nếu cách lần dùng vacxin đầu tiên 3-4 tuần, sử dụng tiếp lần thứ hai thì đáp ứng miễn dịch sẽ nhanh hơn, mạnh hơn, cĩ thể gấp hàng trăm lần và thời gian miễn dịch dài hơn. ðây là cơ sở khoa học cho việc tiêm phịng vacxin nhắc lại tạo mức độ miễn dịch cao cho cơ thể. Khi kiểm tra hàm lượng kháng thể trong cơ thể đã sử dụng vacxin kết hợp với phương pháp cơng cường độc, người ta nhận thấy rằng: khơng phải kháng thể cứ xuất hiện trong máu là con vật được bảo vệ khỏi sự tấn cơng của mầm bệnh cường độc mà lượng kháng thể phải đạt đến một trị số nhất định thì cơ thể mới cĩ mức độ miễn dịch bảo vệ. Trị số kháng thể này được gọi là ngưỡng bảo hộ. Hàm lượng kháng thể càng cao hơn ngưỡng bảo hộ thì mức độ miễn dịch của cơ thể càng cao và ngược lại. Mỗi loại vacxin khi đưa vào cơ thể sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch và trạng thái miễn dịch ở động vật được duy trì một thời gian nhất định gọi là độ đài miễn dịch. Tuỳ từng loại vacxin mà thời gian này daì hay ngắn khác nhau, khi hết thời gian đĩ, cơ thể khơng cịn khả năng chống lại mầm bệnh nữa, vì vậy người ta phải tiến hành tái chủng. Như vậy, để duy trì đáp ứng miễn dịch và nâng cao khả năng miễn dịch, Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 31 cứ khoảng một thời gian nhất định nên tái chủng vacxin một lần cho động vật tuỳ theo loại vacxin, tuỳ theo động vật và tình hình dịch tễ. Vacxin vơ hoạt, nhất là vacxin vi khuẩn thường cĩ thời gian miễn dịch ngắn, 3-9 tháng. Vacxin nhược độc, nhất là vacxin virus thường cho đáp ứng miễn dịch mạnh, ổn định và thời ._.i dân chăn nuơi nhiều hơn so với xã Tân Lập, tổng số hộ chăn nuơi vịt của xã là 23 hộ trong đĩ cĩ 19 hộ chăn nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 82,6%; 2 hộ chăn nuơi từ 200 đến 500 con; 2 hộ chăn nuơi trên 500 chiếm tỷ lệ 8,7%. - Tại xã Thọ An, cĩ 17 hộ nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 89,4%; 1 hộ nuơi từ 200 đến 500 con; 1 hộ nuơi trên 500 con; đều chiếm tỷ lệ 5,3%. Trong Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 74 19 hộ điều tra, số lượng vịt thịt là 3233 con và số lượng vịt đẻ là 400 con. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 75 Bảng 4.11:Kết quả điều tra tình hình chăn nuơi vịt ở 2 huyện thuộc địa bàn Hà Nội và vùng lân cận ðịa điểm Quy mơ chăn nuơi 500 TT Huyện Xã Số hộ chăn nuơi Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%) Số hộ Tỷ lệ (%) Số lượng vịt thịt (con) Số lượng vịt đẻ (con) Tổng số vịt (con) Tân Lập 15 12 80 2 13,3 1 6,7 2550 355 2905 Thọ Xuân 23 19 82,6 2 8,7 2 8,7 4235 439 4674 Thọ An 19 17 89,4 1 5,3 1 5,3 3233 400 3633 Thượng Mỗ 31 25 80,6 3 9,7 3 9,7 5935 750 6685 1 ðan Phượng - Hà Nội Hạ Mỗ 37 28 75,7 5 13,5 4 10,8 7575 876 8451 Phú Mỹ 55 52 94,5 3 5,5 0 0 8840 2000 10840 Lệ Mỹ 46 44 95,7 2 4,3 0 0 7320 650 7970 Liên Hoa 18 15 83,3 1 5,6 2 11,1 2725 550 3275 Trung Giáp 42 40 95,2 2 4,8 0 0 6755 606 7361 2 Phù Ninh - Phú Thọ Tiên Phú 47 44 93,6 1 2,1 2 4,3 6732 334 7066 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 76 3 Tổng hợp 333 296 87,06 22 7,28 15 5,66 55900 6960 62860 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 77 - Tại xã Thượng Mỗ, là xã cĩ số hộ chăn nuơi vịt nhiều hơn so với các xã trên với tổng số hộ chăn nuơi trong xã là 31 hộ. Tổng số lượng vịt thịt là 5935 con và tổng số lượng vịt đẻ là 750 con. Tuy nhiên số hộ nuơi dưới 200 con vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất, chiếm 80,6%; cĩ 3 hộ nuơi từ 200con đến 500 con, chiếm tỷ lệ 9,7% và cũng cĩ 3 hộ nuơi trên 500 con, chiếm tỷ lệ 9,7%. - Xã Hạ Mỗ, xã cuối cùng chúng tơi điều tra của huyện ðan phượng. Theo kết quả điều tra thì xã này cĩ số hộ chăn nuơi vịt nhiều nhất với 37 hộ; 28 hộ nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 75,7%; 4 hộ nuơi trên 500 con, chiếm tỷ lệ là 10,8%. * Huyện Phù Ninh – Phú Thọ - Là huyện cĩ số hộ chăn nuơi vịt trên một xã là tương đối nhiều, người dân thu nhập chủ yếu dựa vào trồng trọt và chăn nuơi. - Tại xã Phú Mỹ, tổng số vịt là 10840 con được nuơi ở 55 hộ, trong đĩ cĩ 8840 vịt thịt và 2000 vịt đẻ; tập trung chủ yếu vào 52 hộ nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 94,5%; 3 hộ nuơi từ 200 – 500 con, chiểm 5,5%. - Tại xã Lệ Mỹ, chúng tơi điều tra cĩ 44 hộ chăn nuơi dưới 200 con, chiểm tỷ lệ 95,7%; 2 hộ nuơi từ 200 – 500 con, chiếm tỷ lệ 4,3%; khơng cĩ hộ nuơi trên 500 con. - Tại xã Liên Hoa, ở đây cĩ tổng số hộ chăn nuơi là 18, trong đĩ 15 hộ nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 83,3%; 1 hộ nuơi từ 200 con đến 500 con, chiểm tỷ lệ 5,6%; cịn lại là 2 hộ nuơi trên 500 con, chiếm tỷ lệ 11,1%. - Xã Trung Giáp, chia theo quy mơ chăn nuơi thì cĩ 40 hộ nuơi dưới 200 con, chiếm tỷ lệ 95,2% và cĩ 2 hộ nuơi từ 200 – 500 con, chiếm tỷ lệ 4,8%. Tổng số 42 hộ chăn nuơi cĩ 6755 con vịt thịt, 606 con vịt đẻ. - Xã cuối cùng của huyện Phù Ninh chúng tơi tiến hành điều tra là Tiên Phú. Tổng số vịt nuơi ở đây là 7066 con được nuơi ở 47 hộ với 6732 con vịt thịt và 334 con vịt đẻ. Tổng kết lại số vịt được nuơi tại 2 huyện chúng tơi điều tra cho thấy: Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 78 cĩ 333 hộ chăn nuơi trên 10 xã với tổng số vịt là 62860 con trong đĩ cĩ 55900 con vịt thịt và 6950 con vịt đẻ. Số hộ chăn nuơi dưới 200 vịt là 296, chiếm tỷ lệ 87,06%; số hộ nuơi từ 200 con đến 500 con là 22 hộ, chiếm tỷ lệ 7,28% và 15 hộ nuơi trên 500 con, chiếm tỷ lệ 5,66%. Trong quá trình điều tra chúng tơi nhận thấy: vịt được chăn nuơi mang tính chất thời vụ, tập trung nhiều vào thời gian thu hoạch lúa chiêm ( tháng 5,6) và thời gian thu hoạch lúa mùa (tháng 9,10), vì vậy số lượng vịt thịt là chủ yếu do thời gian chăn nuơi ngắn, nhanh chĩng được xuất bán. Về quy mơ chăn nuơi, đa số các hộ chăn nuơi đều tập trung ở quy mơ nhỏ. Số hộ chăn nuơi dưới 200 con chiểm tỷ lệ dao động từ 75,7% đến 95,7%. Trong khi đĩ, số hộ chăn nuơi từ 200 con đến 500 con khơng nhiều, chiếm tỷ lệ 2,1% - 13,5% số hộ chăn nuơi tại xã. Số hộ chăn nuơi trên 500 con chiếm tỷ lệ thấp nhất, dao động từ 0 – 11,1%. Vốn đầu tư ít, việc đầu tư xây dựng chuồng nuơi vịt ở các hộ chăn nuơi cịn hạn chế, vấn đề phịng bệnh cho đàn vịt chưa được quan tâm đúng mức, chủ yếu là phịng bệnh cho vịt đẻ, việc vệ sinh tiêu độc chuồng trại cũng chưa được chú trọng. Chính vì những nguyên nhân trên mà tình hình dịch bệnh vẫn thường xuyên xảy ra, trong đĩ cĩ bệnh dịch tả vịt và các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác. 4.4.2. Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuơi ở 2 huyện thuộc địa bàn thuộc Hà Nội và vùng phụ cận. Mặc dù đã cĩ vacxin để phịng bệnh dịch tả vịt rất cĩ hiệu quả nhưng do nhiều nguyên nhân dịch bệnh vẫn xảy ra: do người chăn nuơi chưa quan tâm sâu sát đến cơng tác tiêm phịng, vệ sinh tiêu độc sát trùng kém... Vì vậy, hàng năm vẫn xảy ra rất nhiều vụ dịch gây thiệt hại lớn về kinh tế cho người chăn nuơi. Chúng tơi đã tiến hành điều tra tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên một số xã ở hai huyện: ðan Phượng - Hà Nội và Phù Ninh - Phú Thọ. Kết quả điều tra được trình bày ở bảng 4.12: Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 79 Bảng 4.12: Tình hình mắc bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt thuộc địa bàn điều tra ðịa điểm Kết quả điều tra Vịt thịt Vịt đẻ TT Huyện Xã Tổng số đàn vịt nuơi Số đàn mắc Tổng số vịt (con) Số vịt chết Tỷ lệ chết (%) Số đàn mắc Tổng số vịt (con) Số vịt chết Tỷ lệ chết (%) Tân Lập 15 1 180 87 48,3 0 0 0 0 Thọ Xuân 23 2 415 195 47 1 130 19 14,6 Thọ An 19 1 283 125 44,2 1 253 25 9,9 Thượng Mỗ 31 3 760 459 60,4 2 420 38 9 1 ðan phượng Hạ Mỗ 37 4 1258 655 52 2 375 46 12,3 Phú Mỹ 55 2 350 195 55,7 2 300 41 13,7 Lệ Mỹ 46 2 300 134 44,7 1 175 26 14,9 Liên Hoa 18 1 300 142 47,3 0 0 0 0 Trung Giáp 42 3 1055 710 67,3 1 120 15 12,5 2 Phù Ninh Tiên Phú 47 12 1985 1116 56,2 2 455 43 9,5 3 Tổng hợp 333 31 6886 3818 55,4 12 2228 253 11,4 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 80 *Huyện ðan Phượng - Hà nội - Tại xã Tân lập: Trong tổng số 15 đàn vịt nuơi cĩ 1 đàn vịt thịt bị mắc bệnh dịch tả vịt, với tổng số vịt 180 con, chết 87 con, chiếm tỷ lệ 48,3%; khơng cĩ đàn vịt đẻ nào bị mắc bệnh dịch tả vịt trong thời gian chúng tơi điều tra. - Tại xã Thọ Xuân: cĩ 3 đàn bị mắc bệnh dịch tả vịt trong tổng số 23 đàn vịt nuơi, trong đĩ vịt thịt 2 đàn bị mắc bệnh với số vịt chết là 195 con trong tổng số 415 vịt, chiếm tỷ lệ 47%; 1 đàn vịt đẻ bị mắc bệnh , tổng số vịt là 130 con, chết 19 con, chiếm tỷ lệ 14,6%. - Tại xã Thọ An: trên tổng số 19 đàn vịt nuơi cĩ 1 đàn vịt thịt mắc bệnh dịch tả vịt, trong số 283 con cĩ 125 con chết, chiếm tỷ lệ 44,2%; 1 đàn vịt đẻ mắc bệnh cĩ 25 con chết trong tổng đàn là 253 con, chiếm tỷ lệ 9,9%. - Tại xã Thượng Mỗ: cĩ 5 đàn vịt mắc bệnh trên tổng số 31 đàn nuơi ở xã. Trong đĩ cĩ 3 đàn vịt thịt, tổng số 760 con, chết 459 con, chiếm tỷ lệ 60,4% và 2 đàn vịt đẻ bị bệnh, chết 38 con trong tổng số 420 vịt đẻ, tỷ lệ chết 9%. - Cuối cùng là xã Hạ Mỗ: tổng số đàn vịt nuơi trong xã là 37 đàn cĩ 4 đàn vịt thịt mắc bệnh, tổng số vịt 1258 con, chết 655 con, tỷ lệ chết 52%; 2 đàn vịt đẻ mắc bệnh cĩ 46 con chết trong tổng số 375 con, chiếm tỷ lệ 12,3%. * Huyện Phù Ninh - Phú Thọ: - Tại xã Phú Mỹ: tổng số đàn vịt nuơi của xã là 55 đàn, cĩ 2 đàn vịt thịt mắc bệnh với số vịt là 350 con, chết 195 con, chiếm tỷ lệ là 55,7%; 2 đàn vịt đẻ mắc bệnh tổng số 300 con, chết 41 con, chiếm tỷ lệ 13,7%. - Tại Xã Lệ Mỹ: cĩ 3 đàn mắc bệnh trong tổng số 46 đàn nuơi; trong đĩ cĩ 2 đàn vịt thịt 300 con, bị chết 134 con, tỷ lệ 44,7% và 1 đàn vịt đẻ mắc bệnh, tổng số vịt là 175 con, chết 26 con, chiếm 14,9%. - Tại xã Liên Hoa: tồn xã cĩ 18 đàn vịt, chỉ cĩ 1 đàn vịt thịt mắc bệnh, tổng cả đàn là 300 con, chết 142 con, tỷ lệ 47,3%; Khơng cĩ đàn vịt đẻ nào Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 81 mắc bệnh trong thời gian điều tra. - Tại xã Trung Giáp: tỷ lệ vịt thịt chết nhiều hơn cả 67,3% trong 3 đàn mắc bệnh với số vịt chết 710 con trong tổng số 1055 con; 1 đàn vịt đẻ mắc bệnh, tổng số 120 con cĩ 15 con chết, chiếm 12,5%. - Tại xã Tiên Phú: trên tổng số 47 đàn vịt nuơi trong xã cĩ 12 đàn vịt thịt mắc bệnh dịch tả vịt, tổng số vịt là 1985 con, chết 1116 con, chiếm tỷ lệ 56,2% và cĩ 43 con chết trong 455 con của 2 đàn vịt đẻ mắc bệnh, tỷ lệ chết là 9,5%. Như vậy, qua 10 xã điều tra của 2 huyện ðan Phượng - Hà Nội và Phù Ninh - Phú Thọ, theo dõi 333 đàn vịt chúng tơi thấy: - Vịt thịt: cĩ 31 đàn mắc bệnh dịch tả vịt, số vịt chết là 3818 con trên tổng số 6886 con, chiếm tỷ lệ 55,4%. - Vịt đẻ: cĩ 12 đàn mắc bệnh, số vịt chết là 253 con trong tổng số 2228 con, tỷ lệ 11,4%. Trong quá trình điều tra chúng tơi nhận thấy: những đàn vịt đẻ ở xã Tân Lập và xã Liên Hoa khơng mắc bệnh dịch tả vịt, nguyên nhân do người dân ở đây đã cĩ ý thức hơn trong cơng tác phịng bệnh bằng vacxin dịch tả vịt, cơng tác vệ sinh chuồng trại tốt. Hầu hết tỷ lệ chết của vịt đẻ thấp hơn vịt thịt, do chủ yếu đàn vịt được tiêm phịng bằng vacxin. Người dân cĩ suy nghĩ rằng: vịt đẻ nuơi lâu hơn nên phải dùng vacxin để phịng bệnh. Như vậy, qua kết quả điều tra thấy bệnh dịch tả vịt gây ra tỷ lệ chết cao (67,3%) chủ yếu ở vịt thịt, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm cho người chăn nuơi bị thiệt hại lớn về kinh tế nhưng họ thực sự chưa cĩ ý thức trong cơng tác tiêm phịng vacxin cho đàn vịt. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 82 4.4. Kết quả ứng dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong phịng bệnh và can thiệp dịch 4.4.1. Kết quả ứng dụng vacxin trong phịng bệnh Hàng năm Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương sản xuất hàng trăm triệu liều vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C chế trên phơi vịt gĩp phần vào cơng tác phịng bệnh dịch tả vịt ở các địa phương trên cả nước. Trong nghiên cứu của đề tài này, vacxin sau khi kiểm tra các chỉ tiêu vơ trùng, an tồn và hiệu lực đạt kết quả tốt. Chúng tơi tiến hành sử dụng vacxin phịng bệnh cho một số địa phương, mỗi vịt được tiêm 1 liều vacxin sử dụng ( 104EID50/con), vị trí tiêm dưới da. Các số liệu về kết quả sử dụng vacxin trong cơng tác phịng bệnh và các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu đã phần nào chứng tỏ vacxin dịch tả vịt chủng C là rất tốt. Bảo hộ được 100% đàn vịt qua thời gian theo dõi 90 ngày sau tiêm.. Kết quả thu được trình bày ở bảng 4.13. Trong tổng số 60000 vịt ở các lứa tuổi khác nhau tại các địa phương mà chúng tơi tiêm phịng, sau 90 ngày khơng thấy đàn nào phát dịch. Trong khi đĩ cũng tại các khu vực này cĩ những đàn khơng được tiêm vacxin dịch tả vịt thì vẫn bị mắc bệnh. Kết quả chúng tơi thu được là tồn bộ số đàn vịt được tiêm phịng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C khơng xảy ra dịch sau khi tiêm. Như vậy một lần nữa khẳng định chắc chắn rằng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C là vacxin cĩ chất lượng tốt, sử dụng an tồn, dùng để tiêm phịng bệnh dịch tả vịt trên diện rộng nhằm làm giảm thiệt hại kinh tế do bệnh dịch tả vịt gây ra. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 83 Bảng 4.13. Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C vào phịng bệnh cho vịt ở một số địa phương Kết quả ðịa điểm ∑số vịt (con) Loại vịt Nồng độ vacxin (EID50) Liều tiêm (ml) Vị trí tiêm Thời gian theo dõi sau tiêm (tháng) Số vịt phát bệnh dịch tả vịt (con) Tỷ lệ bảo hộ (%) ðan Phượng - Hà Nội 6500 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Hồi ðức - Hà Nội 5500 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Phúc Thọ - Hà Nội 7000 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Phú Xuyên - Hà Nội 8000 Vịt đẻ 104 0,5 Dưới da 3 0 100 Thường Tín - Hà Nội 9000 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Việt Trì - Phú Thọ 3000 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Phù Ninh - Phú Thọ 9000 Vịt đẻ 104 0,5 Dưới da 3 0 100 Gia Lâm - Hà Nội 7500 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Văn Giang - Hưng Yên 4500 Vịt thịt 104 0,2 Dưới da 3 0 100 Tổng hợp 60000 0,2-0,5 3 0 100 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 84 4.4.2. Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong can thiệp dịch tại một số địa phương Bệnh dịch tả vịt khơng cĩ phương pháp chữa trị, biện pháp hạn chế dịch bệnh hiệu quả nhất vẫn là vệ sinh phịng bệnh và sử dụng vacxin. Jansen (1964) [28] cho biết, vacxin nhược độc dịch tả vịt cĩ khả năng tạo miễn dịch nhanh khi sử dụng. Khi dịch bệnh xảy ra, dùng vacxin tiêm thẳng vào ổ dịch cĩ thể cứu sống được nhiều vịt. Tuy nhiên tỷ lệ cứu sống cao hay thấp cịn tuỳ thuộc vào thời gian can thiệp vacxin sớm hay muộn, đàn vịt cĩ bị ghép bệnh khác hay khơng và điều kiện cách ly tiêu độc nơi xảy ra dịch bệnh như thế nào. ðể xác định khả năng can thiệp dịch của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C, chúng tơi dùng vacxin với liều lượng gấp 3 lần liều vacxin sử dụng tiêm thẳng cho đàn vịt bệnh và theo dõi đàn vịt sau tiêm. Kết quả trình bày ở bảng 4.14. Tại ðan Phượng -Hà Nội, đàn vịt 3000 con bị mắc bệnh dịch tả vịt ở ngày đầu tiên, cĩ 34 con chết. Số cịn lại 2966 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 2885 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 97,3 %. Thời gian dập tắt dịch 4 ngày. Tại Hồi ðức - Hà Nội, đàn vịt 2500 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 3 ngày, cĩ 22 con chết. Số cịn lại 2478 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 2250 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 90,8%. Thời gian dập tắt dịch 4 ngày. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 85 Bảng 4.14. Kết quả sử dụng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong can thiệp dịch tại một số địa phương Trước khi can thiệp Sau khi tiêm vacxin ðịa điểm Loại vịt Số lượng (con) Thời gian bệnh (ngày) Số con ốm Số con chết Số con tiêm vacxin Thời gian dập dịch (ngày) Số con cịn sống Tỷ lệ bảo hộ (%) ðan Phượng - Hà Nội Vịt thịt 3000 1 57 34 2966 4 2885 97,3 Hồi ðức - Hà Nội Vịt thịt 2500 3 53 22 2478 4 2250 90,8 Phúc Thọ - Hà Nội Vịt thịt 2300 2 34 30 2270 4 2180 96 Phú Xuyên - Hà Nội Vịt đẻ 3500 2 65 55 3445 3 3255 94,5 Thường Tín - Hà Nội Vịt thịt 4500 2 50 35 4465 3 4275 95,7 Việt Trì - Phú Thọ Vịt thịt 1800 2 42 21 1779 3 1705 95,8 Phù Ninh - Phú Thọ Vịt đẻ 5000 3 80 65 4935 4 4655 94,3 Gia Lâm - Hà Nội Vịt thịt 2500 2 45 33 2467 3 2280 92,4 Văn Giang - Hưng Yên Vịt thịt 3500 3 79 60 3440 3 3120 90,6 Tổng hợp 28600 2-3 505 355 28245 3-4 26605 94,2 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 86 Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 87 Tại Phúc Thọ - Hà Nội, đàn vịt 2300 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 2 ngày, cĩ 30 con chết. Số cịn lại 2270 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 2180 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 96%. Thời gian dập tắt dịch 4 ngày. Tại Phú Xuyên - Hà Nội, đàn vịt đẻ 3500 con bị mắc bệnh dịch tả vịt 2 ngày, cĩ 55 con chết. Số cịn lại 3445 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 3255 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 94,5%. Thời gian dập tắt dịch 3 ngày. Tại Thường Tín - Hà Nội, đàn vịt 4500 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 3 ngày, cĩ 35 con chết. Số cịn lại 4465 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 4275 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 95,7%. Thời gian dập tắt dịch 3 ngày. Tại Việt Trì - Phú Thọ, đàn vịt 1800 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 2 ngày, cĩ 21 con chết. Số cịn lại 1779 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 1705 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 95,8%. Thời gian dập tắt dịch 3 ngày. Tại Phù Ninh - Phú Thọ, đàn vịt đẻ 5000 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 3 ngày, cĩ 65 con chết. Số cịn lại 4935 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 4655 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 94,3%. Thời gian dập tắt dịch 4 ngày. Tại Gia Lâm - Hà Nội, đàn vịt 2500 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 3 ngày, cĩ 33 con chết. Số cịn lại 2467 con được tiêm vacxin. Theo dõi đàn vịt sau khi tiêm thấy 2280 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 92,4 %. Thời gian dập tắt dịch 3 ngày. Tại Văn Giang - Hưng Yên, đàn vịt 3500 con bị mắc bệnh dịch tả vịt đã 3 ngày, cĩ 60 con chết. Số cịn lại 3440 con được tiêm vacxin. Theo dõi Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 88 đàn vịt sau khi tiêm thấy 3120 vịt cịn sống sĩt, chiếm tỷ lệ 90,6%. Thời gian dập tắt dịch 4 ngày. Theo dõi các đàn vịt bệnh được can thiệp trực tiếp bằng vacxin cho thấy tỷ lệ bảo hộ chung đạt 94,2%. Các đàn vịt được can thiệp sớm bằng vacxin cho tỷ lệ sống sĩt cao hơn so với những đàn vịt can thiệp muộn. Trần Minh Châu (1987) [11] cho biết khả năng cứu sống vịt khi can thiệp trực tiếp vacxin vào ổ dịch là do vai trị của Interferon do virus nhược độc tác động đến tế bào tạo ra. Nếu can thiệp sớm cĩ thể cứu được tới 90% số lượng vịt. Như vậy, vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C thích nghi trên phơi vịt cĩ khả năng phịng bệnh tốt, khi dịch xảy ra cĩ thể sử dụng vacxin can thiệp trực tiếp vào ổ dịch và cứu sống được nhiều vịt. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 89 5. KẾT LUẬN VÀ ðỀ NGHỊ 5.1. Kết luận Vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C đã và đang được Xí nghiệp thuốc thú y sản xuất hàng năm theo quy trình sản xuất vacxin trên trứng vịt ấp 12 ngày tuổi, để cung cấp cho cơng tác phịng, chống bệnh dịch tả vịt của quốc gia. Căn cứ vào các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu luận văn, chúng tơi đưa ra một số kết luận sau đây: 1. Kết quả kiểm nghiệm vacxin Các lơ vacxin đều đạt 3 chỉ tiêu kiểm tra theo tiêu chuẩn ngành 10 TCN 183 - 93: - Vơ trùng trên các mơi trường nuơi cấy cơ bản gồm cĩ: thạch máu, nước thịt, nước thịt gan yếm khí và thạch nấm. - An tồn đối với vịt con và vịt trưởng thành - Hiệu lực: tỷ lệ bảo hộ 100% đối với vịt nuơi thí nghệm và 96% -98% đối với vịt nuơi thực địa khi cơng cường độc với liều 100 LD50/con. 2. - Vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C sau khi tiêm cho vịt 7 ngày đã bảo hộ được vịt khỏi sự tấn cơng của virus cường độc, tỷ lệ bảo hộ 100%. - Vacxin sau khi tiêm 12 tháng vẫn bảo hộ được vịt khi cĩ sự tấn cơng của virus cường độc. ðiều này chứng tỏ vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương khi sử dụng cho đàn vịt cĩ khả năng tạo miễn dịch bảo hộ sớm và kéo dài. - Theo chúng tơi, để đảm bảo chắc chắn và tránh ảnh hưởng của các yếu tố khác nên tái chủng chủ yếu cho đàn vịt đẻ mũi thứ 2 cách mũi thứ nhất Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 90 là 9 tháng. 3. ðộ dài bảo quản của vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C trong điều kiện nhiệt độ từ 20C - 80C, vaxcin bảo quản 18 tháng vẫn đảm bảo chất lượng tốt. 4. Thơng qua kết quả điều tra thấy bệnh dịch tả vịt vẫn thường xuyên lưu hành và gây thiệt hại cho ngành chăn nuơi vịt. Tỷ lệ chết trung bình của vịt mắc bệnh tại địa phương điều tra tới 44,7%. 5. Kết quả phịng bệnh: đã sử dụng vacxin phịng bệnh cho 60000 vịt thấy: - 100% số đàn vịt được tiêm phịng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C sản xuất tại Xí nghiệp thuốc thú y Trung ương qua 3 tháng theo dõi khơng thấy dịch xảy ra. Bên cạnh đĩ những đàn khơng tiêm vacxin vẫn mắc bệnh. - Theo dõi các đàn vịt bệnh được can thiệp trực tiếp bằng vacxin cho thấy: Tỷ lệ bảo hộ chung đạt 94,2%. Các đàn vịt được can thiệp sớm bằng vacxin cho tỷ lệ sống sĩt cao hơn so với những đàn vịt can thiệp muộn. Như vậy, vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C thích nghi trên phơi vịt cĩ khả năng phịng bệnh tốt, khi dịch xảy ra cĩ thể sử dụng vacxin can thiệp trực tiếp vào ổ dịch và cứu sống được nhiều vịt. 5.2. ðề nghị - Xác định hàm lượng kháng thể bị động của vịt con được sinh ra từ vịt mẹ đã được tiêm phịng vacxin nhược độc dịch tả vịt chủng C để định ra thời điểm tiêm mũi 1 thích hợp nhất ở vịt giai đoạn mới nở. - Nghiên cứu các phương pháp thay thế để xác định hiệu lực của vacxin. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 91 TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt 1.Vũ Triệu An (1997), Miễn dịch học, NXB Y học, Hà Nội. 2.Trần Kim Anh (2004), Kỹ thuật chăn nuơi vịt ngan trong nơng hộ, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 3.Archie Hunter (2002), Sổ tay dịch bệnh động vật (Phạm Gia Ninh và Nguyễn ðức Tâm dịch), NXB LD Ringer Thống Nhất, Hà Nội. 4. Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn (2005), Quyết định của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn số 63/2005/Qð - BNN ngày 13 tháng 10 năm 2005 về việc Ban hành Quy định về tiêm phịng bắt buộc vacxin cho gia súc, gia cầm. 5. Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn (2005), Quyết định của Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn số 64/2005/Qð - BNN ngày 13 tháng 10 năm 2005 về việc Ban hành Danh mục các bệnh phải cơng bố dịch, các bệnh nguy hiểm của động vật, các bệnh phải áp dụng các biện pháp phịng bệnh bắt buộc. 6. Bộ Nơng nghiệp và Phát triển nơng thơn (1994), Quy trình kỹ thuật kiểm nghiệm vacxin dùng trong thú y, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 7. Danh mục vacxin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hố chất dùng trong Thú y được lưu hành tại Việt Nam (Ban hành kèm theo thơng tư số : 19/2009/TT-BNN PTNT ngày 30 tháng 3 năm 2009. 8. Nguyễn Xuân Bình, Trần Thị Hạnh, Tơ Thị Phấn (2006), 43 bệnh gia cầm và cách phịng trị, NXB Nơng nghiệp, Hà nội. 9. Trần Minh Châu (1980), Chủng virus cường độc 769 và sử dụng vacxin để phịng bệnh, Luận án PTS Khoa học Nơng nghiệp, Trường ðại học Nơng nghiệp I, Hà Nội. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 92 10. Trần Minh Châu, Lê Thị Thiện (1986), “Ảnh hưởng của kháng thể tiếp thu đến sự hình thành miễn dịch chủ động ở vịt con 1 ngày tuổi khi được tiêm vacxin dịch tả vịt nhược độc”, Khoa học và kỹ thuật Thú y 1979- 1984, Viện Thú y, tr 39-40. 11. Trần Minh Châu (1987), Bệnh dịch tả vịt, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 12. Trần Minh Châu (1996), 100 câu hỏi về bệnh trong chăn nuơi gia súc, gia cầm, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 13. Nguyễn Thị Chính, Lê Tiến Hiển (2001), Virus học, NXB ðại học quốc gia, Hà Nội. 14. Nguyễn Lân Dũng, ðồn Xuân Mượu, Nguyễn Phùng Tiến, ðặng ðức Trạch, Phạm Văn Ty (1972), Một số phương pháp nghiên cứu vi sinh vật học, NXB Khoa học Kỹ thuật Hà Nội. 15. Hồ Huỳnh Thuỳ Dương (2003), Sinh học phân tử, NXB Giáo dục, Hà Nội. 16. Nguyễn ðường, Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Khắc Tuấn, Nguyễn Thị Bích Lộc, Nguyễn Bá Hiên (1990), Vi sinh vật học đại cương, NXB Nơng nghiệp Hà Nội. 17. Nguyễn Ngọc ðiểm, (2005), ”Tình hình bệnh dịch tả vịt trên đàn vịt nuơi tại ngoại thành Hà Nội và một số tỉnh lân cận. Phân lập, khảo sát đặc tính sinh học của chủng virus cường độc”, Luân văn thạc sỹ nơng nghiệp, Trường ðại học Nơng nghiệp, Hà Nội. 18. Nguyễn ðức Hiền (1999), “Nghiên cứu hiệu lực miễn dịch phịng bệnh của vacxin dịch tả vịt khi áp dụng quy trình tiêm chủng khác nhau, trong điều kiện sản xuất”, Khoa học và Kỹ thuật Thú y, 5, Hội Thú y Việt Nam, tr. 37-41. 19. Nguyễn ðức Hiền (1999), “Chẩn đốn xác định virus gây bệnh dịch tả vịt ở Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 93 Cần Thơ”, Khoa học và Kỹ thuật Thú y, 4 (1), Hội Thú y Việt Nam, tr. 24-31. 20. Nguyễn ðức Hiền (2005), “Bệnh tích đại thể, vi thể và siêu vi thể của bệnh dịch tả vịt ở thuỷ cầm được gây bệnh thực nghiệm”, Tạp chí KHKT Nơng Lâm nghiệp, số 2 và 3/2005, ðại học Nơng Lâm Tp.Hồ Chí Minh. 21. Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2009), Miễn dịch học ứng dụng, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 22. Phạm Quang Hùng (2003), Con vịt với người nơng dân, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 23. Lê Thanh Hồ (2002), Sinh học phân tử, NXB ðại học Quốc gia Hà nội. 24. Trịnh Quang Khuê, Nguyễn Văn Vinh (2003), Nghề nuơi gia cầm, NXB Giáo dục, Hà Nội. 25. Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Thiện (2002), Một số bệnh mới do virus ở gia súc, gia cầm nhập nội và biện pháp phịng trị, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 26. Lê Hồng Mận (1999), Bệnh của vịt và biện pháp phịng trị, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 27. Lê Hồng Mận (2005), Nuơi ngan vịt siêu thịt, NXB Thanh Hố. 28. Nguyễn Vĩnh Phước, Hồ ðình Chúc, Nguyễn Văn Hanh, ðặng Thế Huynh (1978), Giáo trình bệnh truyền nhiễm gia súc, NXB Nơng nghiệp Hà Nội. 29. Nguyễn Như Thanh, Nguyễn Bá Hiên, Trần Thị Lan Hương (2001), Vi sinh vật thú y, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội. 30. Nguyễn Thát (1975), Bệnh gia cầm, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội. 31. Phạm Thị Lan Thu, Thân Thị Hạnh (1989), “Kết quả bước đầu phân lập virus dịch tả vịt ở Phú Khánh”, Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật thú y (1985-1989), Viện Thú y, NXB Nơng nghiệp, Hà Nội, tr.40-41. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 94 32. Vũ Minh Thục (2004), Một số vấn đề dị ứng và miễn dịch phân tử, NXB Y học, Hà Nội, tr 58-66. Tiếng Anh 33. Baudet A.E.R.F (1923), “Mortality in ducks in the Netherland caused by a filtertable virus, fowl plague”, Tijdschr Diergeneeskd 50, pp 455-459. 34. Boss, A. (1943), “Some new cases of duck plague”, Tijdschr Diergeneeskd 69, pp 372 – 381. 35. Burgess E.C & T.M. Yuill (1981), “Increased cell culture incubation temperatures for duck plague virus isolation”. Avian Dis. 25, pp 222-224. 36. Brand C.J., and D.E. Docherty (1984), “A survay of North American mirgratory waterfowl for duck plague virus”, J Wildl Dis. 20, pp 261 – 266. 37. Dardini, A.H., and W. R. Hess (1968), “ A plague assay for duck plague virus”, Can J Comp Med Sci 32, pp 505 – 510. 38. Docherty D.E. & Franson C.J. (1992). Duck Virus Enteritis. In : Veterinary Diagnostic Virology, Castro A.E. & Heuschele W.P., eds. Mosby Year Book, St Louis, Missouri, USA, 25-28. 39. FAO (2006) 40. Fenner F., Mac Auslan R.R., Minus C.A., Sambrook J., White D. (1974) The biology of animal viruses. Second edition. Academic press New York and London. 41. Friend M. and G.L. Pearson (1973), “Duck plague in wild waterfowl” US Dep Int Sport Fish Wild Bull. Washington D.C. 42. Guiping Y., Anchun C., Mingshu W., Xiaoying H., Yi Z., Fei L. (2007), ”Preliminary study on duck enteritis virus induced lymphocyte apoptosis in vivo”, Avian Dis, 2007 Jun; 51(2): 546-9. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 95 43. Hansen W.R., Brown S.E., Nashold S.W & Knudson D.L. (1999), “Identification of duck plague virus by polymerase chain reaction”, Avian Dis., 43, pp 106-115. 44. Jansen J. (1964) “Duck plague (a concise survey)”, Indian Vet J. 41, pp 309-316. 45. Jansen J. (1968), “Duck plague”, J Am Vet Med Assoc 152, pp 1009-1016. 46. Kaleta E.F., Kuczka A., Kuhnhold A., Bunzenthal C., Bonner B.M., Hanka K., Redmann T., Yilmaz A. (2007), “Outbreak of duck plague (duck herpesvirus enteritis) in numerous species of captive ducks and geese in temporal conjunction with enforced biosecurity (in-house keeping) due to the threat of avian influenza A virus of the subtype Asia H5N1”. Dtsch Tierarztl Wochenschr 2007 Jan; 114(1): 3-11. 47. Kunst H., “Isolation of duck plague virus in tissue cultures”, Tijdchr Diergeneesk, deel 92, afl II, 1967, pp 713 - 714. 48. Leibovitz L. (1991), Duck virus enteritis in disease of poultry, Iowa State University Press, pp 609-618. 49. Li H., Liu S., Kong X. (2006), “Characterization of the genes encoding UL24, TK and gH proteins from duck enteritis virus (DEV): a proof for the classification of DEV”, Virus Genes 2006 Oct; 33(2): 221-7. 50. Proctor S.M, Pearson G.L., Leibovitz L. (1975), “ Duck plague in free flying water fowl observed during the lake Andes epizootic”, Wild life disease (1975) no 67, 59. 51. OIE (2000), Manual of Standards for diagnostic test and vaccines, 52. OIE (2006), Annual animal disease status, 53. Smarh R. & Sarmah A.K. (1996), “Development of interference against duck Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... 96 plague virus”, Avian Dis., 41, 461 – 468. 54. Shawky S.A & Sandhu T.S. (1997), “Inactivated vaccine for protection against duck virus enteritis”, Avian Dis., 41, 461-468. 55. Shawky S., Schat K.A. (2002), “Latency sites and reactivation of duck enterritis virus”, Avian Dis., 2002 Apr-Jun; 46(2): 308-13. 56. Sandhu T.S & Leibovitz L. (2003), ”Duck virus enteritis (duck plague)”, Disease of Poultry, Eleventh Edition, Saif Y.M., Barnes H.J., Glission J.R., Fadly A.M., McDougal, L.R. & Swayne D.E., eds. Twoa State University Press, Ames, Iwoa, USA, pp 354 - 363. 57. Vandorssen, C.A., and H. Kunst (1955), ” Susceptibility of ducks and various other waterfowl to duck plague virus”, Tijdschr Diergeneeskd 80 pp 1286-1295. 58. Voxapeer Suwathanaviroij (1987), Report at Poultry disease workshop in Kualalumpur Malaysia. 59. Woolcock P.R. and J. Fabricant (1991), Diseases of Poultry Nainth, Iwoa State University Press, Ames, Iwoa. USA. Trường ðại học Nơng nghiệp Hà Nội – Luận văn thạc sĩ kinh tế nơng nghiệp ............... i ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfCH2716.pdf
Tài liệu liên quan