Một số vấn đề về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc

CÁC CHỮ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN NSTW: Ngân sách Trung ương NSĐP: Ngân sách địa phương NSNN: Ngân sách Nhà nước SXKD: Sản xuất kinh doanh XDCB: Xây dựng cơ bản GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestec product) USD: Đô la Mỹ UBND: Uỷ ban nhân dân HĐND: Hội đồng nhân dân XHCN: Xã hội chủ nghĩa CHLB: Cộng hoà liên bang DT: Dự toán HCSN: Hành chính sự nghiệp DNNN: Doanh nghiệp nhà nước MỤC LỤC Lời mở đầu Chương 1: Sự cần thiết khách quan của quá trình đổi mới quản lý NSN

doc91 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1631 | Lượt tải: 14download
Tóm tắt tài liệu Một số vấn đề về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
N. 1.1-Những vấn đề lý luận chung về NSNN. 1.1.1-Khái niệm NSNN. 1.1.2-Cơ cấu NSNN. 1.1.3-Hệ thống NSNN và phân cấp ngân sách. 1.1.4-Chu trình NSNN. 1.1.5-Chức năng, vai trò của NSNN. 1.2-Yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới quản lý NSNN. 1.2.1-Vai trò của quản lý NSNN. 1.2.2-Yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới quản lý NSNN. 1.3-Một số kinh nghiệm về quản lý ngân sách ở nước ngoài. 1.3.1-Về hệ thống ngân sách và năm ngân sách. 1.3.2-Về trình tự lập ngân sách ở các nước. 1.3.3-Về phân cấp quản lý ngân sách ở các nước. 1.3.4-Một số bài học kinh nghiệm. Chương 2: Thực trạng quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc. 2.1-Đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh phúc. 2.1.1-Đặc điểm tự nhiên. 2.1.2-Đặc điểm kinh tế - xã hội. 2.2-Tình hình thực hiện thu ngân sách nhà nước. 2.3-Tình hình chi NSĐP. 2.4- Thực trạng công tác quản lý thu, chi NSNN. 2.4.1-Công tác phân cấp và điều hành ngân sách. 2.4.2-Công tác quản lý thu NSNN. 2.4.3-Công tác quản lý chi NSĐP. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý NSNN ở tỉnh Vĩnh phúc. 3.1-Phương hướng đổi mới quản lý NSNN. 3.2-Những giải pháp chủ yếu tiếp tục đổi mới quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh phúc. 3.2.1- Phân cấp quản lý ngân sách. 3.2.2- Đổi mới chu trình NSNN 3.2.3- Công tác quản lý thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách địa phương 3.2.4-Tiếp tục đổi mới công tác quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn. 3.2.5-Đổi mới bộ máy quản lý NSNN đi đôi với nâng cao năng lực trình độ cán bộ quản lý. Kiến nghị và kết luận Danh mục tài liệu tham khảo Phần phụ lục 4 7 7 9 12 15 16 19 19 22 24 24 25 27 28 31 31 32 35 42 51 51 55 58 62 68 68 69 71 77 79 82 86 89 LỜI MỞ ĐẦU 1- Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống tài chính quốc gia ngân sách nhà nước là khâu chủ đạo, là điều kiện vật chất quan trọng để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước. Đồng thời NSNN là công cụ quan trọng của Nhà nước để điều chỉnh vĩ mô đối với toàn bộ đời sống kinh tế xã hội và đảm bảo an ninh quốc gia. NSNN được quản lý thống nhất theo nguyên tắc tập trung dân chủ nhằm huy động cao nhất mọi nguồn lực của nền kinh tế xã hội để phục vụ chiến lược phát triển kinh tế xã hội. Trong những năm qua, cùng với quá trình đổi mới quản lý kinh tế, quản lý NSNN đã có những đổi mới và mang lại những kết quả bước đầu rất quan trọng, tuy nhiên thực tiễn đời sống kinh tế xã hội cũng đang đặt ra những yêu cầu mới, đòi hỏi công tác quản lý ngân sách phải được tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hơn nữa. Vĩnh Phúc là một tỉnh mới được tái lập từ 01/01/1997, chủ yếu là thuần nông, nguồn thu ngân sách rất hạn chế trong khi nhu cầu chi đòi hỏi cao, công tác quản lý NSNN càng phải được chú trọng để khơi dậy, khai thác nguồn thu, phân bổ hợp lý đáp ứng yêu cầu chi nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Vì vậy chúng tôi chọn đề tài "Một số vấn đề về đổi mới quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc" làm luận văn nghiên cứu với mong muốn được đóng góp phần nhỏ vào các vấn đề trên. 2- Tình hình nghiên cứu Đã có một số công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến chủ đề quản lý NSNN như: - Ngân sách nhà nước của tác giả Lê Văn Ái, Nxb Thống kê, Hà Nội; 1992. - Ngân sách nhà nước trong sự phát triển nền kinh tế hàng hóa ở nước ta hiện nay. Luận án PTS khoa học kinh tế của tác giả Trần Văn Ngọc - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội; 1994. - Đổi mới ngân sách nhà nước của tác giả Tào Hữu Phùng, Nguyễn Công Nghiệp, Nxb Thống kê, Hà Nội; 1992. - Các chủ trương và giải pháp tài chính, ngân sách nhằm kìm chế và đẩy lùi lạm phát năm 1995 của tác giả Tào Hữu Phùng, Tạp chí Tài chính số 3/1995... Các công trình nghiên cứu đó đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về quản lý NSNN. Tuy nhiên chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu đổi mới quản lý ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. 3-Mục đích nghiên cứu của đề tài Luận án đặt ra 3 mục đích cơ bản sau: -Hệ thống hoá một số lý luận chung về quản lý NSNN, nghiên cứu kinh nghiệm quản lý ngân sách ở một số nước, qua đó rút ra bài học thực tiễn và sự cần thiết phải tiếp tục đổi mới quản lý NSNN ở Vĩnh Phúc. -Phân tích thực trạng quản lý NSNN hiện nay trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, làm rõ tính đặc thù và những mặt tích cực, mặt yếu kém, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm trong công tác quản lý NSNN ở Vĩnh Phúc. -Đề xuất giải pháp đổi mới quản lý NSNN ở tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần đổi mới cơ chế chính sách quản lý NSNN toàn quốc nói chung. 4-Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về phân cấp quản lý và điều hành ngân sách trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Về thời gian; Luận án tập trung nghiên cứu từ khi tái lập tỉnh đến nay (1997 - 1999). 5-Phương pháp nghiên cứu Luận án sử dụng những phương pháp chung như duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Trong quá trình tổng hợp, phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý NSNN, luận án dùng phương pháp điều tra, phân tổ, thống kê kinh nghiệm, tổng hợp và phân tích hệ thống để làm sáng tỏ những vấn đề nghiên cứu. 6-Những đóng góp của Luận án Luận án góp phần tổng hợp và làm rõ những vấn đề lý luận về NSNN, sự cần thiết khách quan phải đổi mới NSNN. Từ những nét chung về công tác quản lý ngân sách ở nước ngoài, rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc tăng cường và hoàn thiện quản lý NSNN ở nước ta. Khái quát thực trạng quản lý NSNN ở tỉnh Vĩnh Phúc, những mặt được và những mặt còn chưa được. Tìm nguyên nhân để có biện pháp xử lý phù hợp. Đề xuất những giải pháp đổi mới công tác quản lý thu, chi NSNN ở Vĩnh Phúc. 7-Kết cấu của luận án Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án gồm 3 chương. Chương 1 SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN CỦA QUÁ TRÌNH ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1.1.1-Khái niệm ngân sách nhà nước Lịch sử phát triển của xã hội trải qua nhiều phương thức sản xuất khác nhau. Trong buổi bình minh của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh mẽ, giai cấp tư sản cần một không gian kinh tế tài chính thông thoáng để tự do sản xuất kinh doanh. Sự cản trở bởi những quy định về thể chế tài chính của giai cấp phong kiến đang suy tàn, nhất là chế độ thuế khoá vô lý, chế độ chi tiêu không rõ ràng đã gây nên phản ứng mạnh mẽ đối với giai cấp tư sản. Họ đấu tranh để có một chế độ thuế khoá theo luật định và chế độ chi tiêu tách bạch giữa chi tiêu chung của nhà nước và chi tiêu của gia đình các vua chúa. Kết quả cuộc đấu tranh đó đã đưa đến những thay đổi lớn trong quản lý tài chính của nhà nước và thuật ngữ NSNN được dùng từ đó. Như vậy, khái niệm NSNN xuất hiện sau khái niệm nhà nước. Khi nhà nước ra đời đòi hỏi phải có nguồn tài lực để đáp ứng các khoản chi tiêu của mình, hay nói cách khác đó là điều kiện cần để xuất hiện NSNN. Song khái niệm NSNN ra đời trong lịch sử chỉ khi quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh. Đó chính là điều kiện đủ để xuất hiện NSNN. Ngày nay thuật ngữ NSNN được dùng phổ biến trong đời sống kinh tế xã hội, song cho đến nay chưa có một quan niệm thống nhất về khái niệm NSNN. Luật NSNN được Quốc hội khoá IV kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 20.3.1996, công bố ngày 3.4.1996 quy định: “NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong 1 năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước” {17; 6}. Theo giáo trình tài chính học của trường Đại học Tài chính Kế toán Hà nội : “NSNN được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ của nhà nước - quỹ ngân sách - để phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà nước” {15, 39}. Giáo trình kinh tế chính trị của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh có ghi: “NSNN là khâu tài chính tập trung nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính và có tính chất quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng Xã hội chủ nghĩa” {14, 188}. Từ những định nghĩa trên có thể hiểu NSNN trên các khía cạnh: Thứ nhất: NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản, hay rõ hơn là bản dự toán thu, chi tài chính của nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định. Thứ hai: NSNN giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính. Thứ ba: NSNN là quỹ tiền tệ của nhà nước hay còn gọi là quỹ ngân sách- phục vụ việc thực hiện chức năng của nhà nước. Các quan niệm trên đã thể hiện được mặt cụ thể, mặt vật chất của NSNN, nhưng chưa thể hiện được nội dung kinh tế, xã hội của NSNN. Trong thực tế, hoạt động NSNN nhìn bề ngoài là hoạt động thu, chi tài chính của nhà nước. Hoạt động này rất đa dạng, phong phú, được tiến hành trên hầu hết các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế-xã hội. Tuy vậy chúng cũng có những đặc điểm chung: -Các hoạt động thu chi của NSNN luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nước, được nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định. -Những hoạt động thu-chi tài chính đó đều chứa đựng nội dung kinh tế-xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định. Với quyền lực tối cao của mình nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết. Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể là các thành viên trong xã hội, mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế đó. Nghĩa là nhà nước không thể dựa vào quyền lực của mình để huy động sự đóng góp của xã hội dưới bất kỳ hình thức nào, bằng mọi giá mà phải có giới hạn hợp lý, đó chính là việc giải quyết một cách hài hoà giữa lợi ích nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội. Nếu chỉ chú trọng đến lợi ích của nhà nước mà không chú ý đến lợi ích của xã hội thì quan hệ giữa nhà nước và xã hội trở nên căng thẳng, sản xuất đình trệ, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân. Do đó việc khẳng định NSNN thể hiện các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và xã hội có ý nghĩa quan trọng không chỉ đơn thuần về mặt lý luận mà còn thực sự cần thiết trong quá trình quản lý và điều hành NSNN. Mọi hoạt động thu chi của NSNN đều nhằm tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội: Đó là mối quan hệ giữa phần nộp vào NSNN và phần để lại cho các chủ thể kinh tế. Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước và phục vụ các nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội nói chung. Từ những đặc điểm hoạt động thu chi của NSNN và sự phân tích trên, có thể hiểu NSNN một cách khái quát như sau: NSNN là một phạm trù kinh tế, phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do nhà nước tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính quốc gia nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng của nhà nước. 1.1.2- Cơ cấu NSNN NSNN được cấu thành bởi hai phần: Phần thu thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào NSNN. Phần chi thể hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động được vào việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. 1.1.2.1-Thu ngân sách nhà nước -Thu NSNN thực chất là sự phân chia nguồn tài chính quốc gia giữa nhà nước và các chủ thể kinh tế dựa trên quyền lực nhà nước nhằm giải quyết hài hoà lợi ích kinh tế. Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan xuất phát từ yêu cầu tồn tại và phát triển của bộ máy nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện chức năng kinh tế-xã hội của nhà nước. Đối tượng phân chia là nguồn tài chính quốc gia - kết quả do lao động sản xuất trong nước tạo ra được thể hiện dưới hình thức tiền tệ. Thu ngân sách Nhà nước gồm: -Thuế, phí, lệ phí do các tổ chức và cá nhân nộp theo quy định của pháp luật; -Các khoản thu từ hoạt động kinh tế của nhà nước: +Lợi tức từ vốn góp của nhà nước vào các cơ sở kinh tế; +Tiền thu hồi vốn của nhà nước vào các cơ sở kinh tế; +Thu hồi tiền cho vay của nhà nước (cả gốc và lãi). -Thu từ hoạt động sự nghiệp; -Thu hồi quỹ dự trữ nhà nước; -Tiền sử dụng đất: thu từ hoa lợi công sản và đất công ích; -Các khoản huy động đóng góp của các tổ chức, cá nhân để đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng cơ sở; -Các khoản đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước; -Các khoản di sản nhà nước được hưởng; -Thu kết dư ngân sách năm trước; -Tiền bán hoặc cho thuê tài sản thuộc sở hữu nhà nước tại các đơn vị hành chính, sự nghiệp; -Các khoản tiền phạt, tịch thu; -Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật; -Các khoản viện trợ không hoàn lại bằng tiền, bằng hiện vật của Chính phủ các nước, các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài; -Các khoản vay trong nước, vay nước ngoài của Chính phủ để bù đắp bội chi và khoản huy động vốn đầu tư trong nước của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là tỉnh) quy định tại khoản 3 điều 8 của Luật NSNN được đưa vào cân đối ngân sách {17;196}. Việc phân phối các khoản thu NSNN có ý nghĩa thiết thực trong việc phân tích đánh giá và quản lý các nguồn thu NSNN. Dựa vào nội dung kinh tế và tính chất các khoản thu có thể chia thu ngân sách thành hai nhóm: Nhóm thu thường xuyên có tính chất bắt buộc bao gồm thuế, phí và lệ phí, các khoản thu từ hoạt động kinh tế nhà nước. Nhóm thu không thường xuyên gồm các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân, các khoản do nhà nước vay để bù đắp bội chi. Ngoài ra còn có các khoản thu vay và viện trợ của nước ngoài. 1.1.2.2-Chi ngân sách nhà nước Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp nhằm trang trải cho chi phí bộ máy nhà nước và thực hiện các chức năng kinh tế-xã hội mà nhà nước đảm nhận theo những nguyên tắc nhất định. Chi ngân sách nhà nước gồm: -Chi thường xuyên về: +Các hoạt động sự nghiệp giáo dục, đào tạo, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục - thể thao, sự nghiệp khoa học, công nghệ và môi trường và các sự nghiệp khác; +Các hoạt động sự nghiệp kinh tế; +Quốc phòng, an ninh và trật tự - an toàn xã hội; +Hoạt động của các cơ quan Nhà nước; +Hoạt động của Đảng cộng sản Việt Nam; +Hoạt động của Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên đoàn lao động Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu chiến binh Việt Nam, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội nông dân Việt Nam; +Trợ giá theo chính sách của nhà nước; +Các chương trình quốc gia; +Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội theo quy định của Chính phủ; +Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; +Tài trợ cho các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp theo quy định của pháp luật; +Trả lãi tiền do nhà nước vay; +Viện trợ cho các Chính phủ và tổ chức nước ngoài; +Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. -Chi đầu tư phát triển: +Đầu tư xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; +Đầu tư và hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp nhà nước; góp vốn cổ phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước theo quy định của pháp luật; +Chi cho quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển đối với chương trình, dự án phát triển kinh tế; +Dự trữ nhà nước; +Cho vay của Chính phủ để đầu tư phát triển. -Chi trả nợ gốc tiền do nhà nước vay. -Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính" {17, 197}. Có nhiều cách phân loại các khoản chi như căn cứ vào mục đích kinh tế-xã hội hay căn cứ vào lĩnh vực chi, nhưng theo thông lệ quốc tế, các khoản chi được phân thành: Chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển và chi khác. Chi thường xuyên là các khoản chi cho tiêu dùng hiện tại gồm tiêu dùng cá nhân và tiêu dùng của các tổ chức, sự nghiệp. Các khoản chi đầu tư là các khoản chi cho tiêu dùng trong tương lai, các khoản chi này có tác dụng làm tăng cơ sở vật chất của quốc gia và góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế. 1.1.3- Hệ thống ngân sách nhà nước và phân cấp ngân sách 1.1.3.1- Hệ thống NSNN: là tổng thể các cấp ngân sách gắn bó hữu cơ với nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ thu chi của mỗi cấp ngân sách. Hệ thống NSNN của nước ta được xây dựng trên các nguyên tắc: Một là, Đảm bảo tính thống nhất của nền tài chính quốc gia. Đó là điều kiện quan trọng để đưa mọi hoạt động thu chi của NSNN ở các cấp đi đúng quỹ đạo quản lý kinh tế, tài chính của nhà nước, tạo nên mối liên hệ gắn bó hữu cơ giữa các cấp ngân sách làm cho hoạt động ngân sách phù hợp với sự vận động của các phạm trù kinh tế tài chính khác. Hai là, Quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong hệ thống NSNN, vừa phát huy sức mạnh của cả hệ thống vừa đảm bảo tính năng động sáng tạo của mỗi cấp cơ sở trong việc xử lý các vấn đề của ngân sách. Trong hệ thống NSNN, ngân sách trung ương đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh tế-xã hội trên phạm vi toàn quốc. Hoạt động thu chi của NSTW có ảnh hưởng lớn đến các mặt cân đối lớn trong đời sống kinh tế-xã hội của đất nước. Ngân sách địa phương là công cụ tài chính quan trọng giúp chính quyền địa phương thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội, khai thác tốt các thế mạnh của địa phương đồng thời là công cụ góp phần thực hiện sự giám sát của nhà nước đối với các mặt hoạt động kinh tế-xã hội trên một vùng lãnh thổ nhất định. Theo luật NSNN mỗi cấp chính quyền đều có ngân sách nên tương ứng với 4 cấp chính quyền là 4 cấp ngân sách: +Ngân sách Trung ương +Ngân sách cấp tỉnh +Ngân sách cấp huyện +Ngân sách cấp xã Cả 4 cấp ngân sách này hợp chung thành NSNN, trong đó ngân sách Trung ương giữ vai trò chủ đạo; ngân sách cấp tỉnh, ngân sách cấp huyện, ngân sách cấp xã lồng ghép vào nhau và hợp chung lại thành ngân sách địa phương. Như vậy, NSNN của Việt Nam bao gồm ngân sách trung ương và ngân sách địa phương. Theo Hiến pháp năm 1992 của Việt Nam thì Quốc hội quyết định và phân bổ NSNN, tức là quyết định cả ngân sách trung ương và ngân sách các cấp chính quyền địa phương. Đây là điểm khác biệt cần lưu ý so với nhiều nước trên thế giới và cũng là điểm khó khăn trong việc quyết định và phân bổ ngân sách hàng năm. 1.1.3.2-Phân cấp ngân sách: Phân cấp ngân sách thực chất là việc giải quyết mối quan hệ giữa các cấp chính quyền trong việc sử dụng NSNN. Cụ thể là: -Giải quyết mối quan hệ quyền lực giữa các cấp chính quyền trong việc ban hành các chính sách, chế độ thu chi quản lý ngân sách. -Giải quyết mối quan hệ vật chất trong quá trình phân giao nhiệm vụ chi, nguồn thu và cân đối ngân sách giữa các cấp chính quyền. -Giải quyết mối quan hệ trong chu trình ngân sách. Muốn thực hiện được những nội dung trên, phân cấp ngân sách phải đảm bảo các nguyên tắc: Thứ nhất: Phân cấp ngân sách phải được tiến hành đồng thời với phân cấp kinh tế và tổ chức bộ máy hành chính. Tuân thủ nguyên tắc này tạo điều kiện thuận lợi trong việc giải quyết mọi quan hệ vật chất giữa các cấp chính quyền, xác định rõ nguồn thu trên địa bàn và quy định nhiệm vụ chi của các cấp chính quyền một cách chính xác. Thứ hai: Đảm bảo thực hiện vai trò chủ đạo của ngân sách trung ương và vị trí độc lập của ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN thống nhất. Thứ ba: Đảm bảo nguyên tắc công bằng trong phân cấp ngân sách: Thể hiện qua việc giao nhiệm vụ thu chi cho địa phương phải căn cứ vào yêu cầu cân đối chung trong cả nước, nhưng cố gắng hạn chế thấp nhất sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá, xã hội do hậu quả của phân cấp nảy sinh giữa các vùng lãnh thổ. Việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi của mỗi cấp ngân sách được quy định cụ thể trong Luật. Nguồn thu cấp nào quản lý có hiệu quả hơn sẽ phân cho cấp đó. Những nhiệm vụ chi trọng yếu ảnh hưởng đến toàn bộ quốc gia hoặc những khu vực rộng lớn sẽ do NSTW đảm nhiệm. Những nhiệm vụ ổn định, mang tính thường xuyên và có tính xã hội rộng rãi phân cấp cho chính quyền địa phương. Đồng thời tuỳ theo yêu cầu, nhiệm vụ và năng lực quản lý của từng cấp để phân định cho phù hợp. Nguồn thu của mỗi cấp ngân sách gồm 2 loại sau đây: +Các khoản thu 100%: Ngân sách các cấp đều có các khoản thu 100% như: ngân sách trung ương có khoản thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu, các khoản thu từ dầu khí,... Ngân sách cấp tỉnh có khoản: tiền cho thuê đất của các doanh nghiệp, tiền cho thuê nhà và bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;... Ngân sách cấp huyện: thuế môn bài của các hộ kinh doanh và các doanh nghiệp nhà nước trên địa bàn. +Các khoản thu phân chia: Do điều kiện kinh tế xã hội và dân số giữa các địa phương phát triển không đều nên số thu và yêu cầu chi ở mỗi địa phương cũng rất khác nhau, vì vậy ngoài khoản thu từng cấp được hưởng 100%, Luật NSNN đã quy định một số khoản thu được phân chia theo tỷ lệ phần trăm (%) giữa ngân sách các cấp và đây chính là "cái van" điều chỉnh nguồn thu giữa các địa phương - địa phương nào giàu (có nguồn thu lớn) thì tỷ lệ này thấp và ngược lại, địa phương nào quá nghèo thì tỷ lệ phân chia có thể được mở đến 100%. 1.1.4- Chu trình ngân sách nhà nước Chu trình NSNN là quá trình từ khi hình thành ngân sách cho tới khi kết thúc để chuyển sang ngân sách mới. Quá trình này bao gồm các khâu: Hình thành ngân sách (dự toán), chấp hành ngân sách, quyết toán ngân sách. 1.1.4.1-Hình thành ngân sách là quá trình bao gồm các công việc: Lập ngân sách, phê chuẩn ngân sách và thông báo ngân sách -Lập ngân sách là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của quá trình quản lý ngân sách. Lập ngân sách thực chất là dự toán các khoản thu chi của ngân sách trong một năm ngân sách. Việc dự toán thu chi đúng đắn, có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn sẽ có tác dụng quan trọng đối với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội nói chung và việc thực hiện ngân sách nói riêng. -Phê chuẩn ngân sách là việc Quốc hội thực hiện thông qua dự toán ngân sách chính thức do Chính phủ trình. -Thông báo ngân sách là bước cuối cùng của quá trình hình thành ngân sách được thực hiện sau khi có nghị quyết phê chuẩn ngân sách của Quốc hội. Chính phủ ra quyết định và Bộ Tài chính giao hướng dẫn nhiệm vụ thu chi ngân sách cho các Bộ, Ngành, địa phương để thực hiện. 1.1.4.2-Chấp hành NSNN: Sau khi ngân sách được phê chuẩn và năm ngân sách bắt đầu thì việc thực hiện ngân sách được triển khai. Nội dung của quá trình này là tổ chức thu NSNN và bố trí cấp kinh phí NSNN cho các nhu cầu đã được phê chuẩn. Việc chấp hành NSNN thuộc về tất cả pháp nhân và thể nhân dưới sự điều hành của Chính phủ trong đó Bộ Tài chính có vị trí quan trọng. 1.1.4.3-Quyết toán NSNN: Đây là khâu cuối cùng trong chu trình NSNN. Thông qua quyết toán NSNN có thể cho ta thấy bức tranh toàn cảnh về hoạt động kinh tế-xã hội của nhà nước trong thời gian qua, hình dung được hoạt động NSNN với tư cách là công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước. Từ đó rút ra kinh nghiệm trong việc quản lý điều hành ngân sách của nhà nước. 1.1.5-Chức năng, vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường 1.1.5.1-Chức năng của NSNN: Theo quan niệm truyền thống NSNN có hai chức năng là phân phối và giám đốc. Nhưng trong quá trình đổi mới đã nảy sinh tư duy mới về NSNN. Xuất phát từ điều kiện tồn tại và hai đặc điểm cơ bản của hoạt động NSNN có thể cho rằng NSNN có 2 chức năng cơ bản sau: Chức năng thứ nhất là huy động vốn, phân phối nguồn thu tập trung của NSNN. Bất cứ một nhà nước nào muốn tồn tại đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình. Muốn vậy nhà nước phải huy động bằng nhiều cách, song đều từ 2 nguồn: Trong nước và ngoài nước. Nguồn huy động trong nước chủ yếu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu ngoài thuế. Nguồn huy động từ nước ngoài gồm viện trợ, vay nợ và chênh lệch xuất nhập khẩu. Mức huy động phải phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và đời sống dân cư trong từng thời kỳ. Phân phối của NSNN luôn gắn chặt với chủ thể phân phối là nhà nước. Nhà nước sử dụng NSNN là công cụ phân phối một bộ phận tổng sản phẩm quốc dân, cùng các nguồn tài chính khác nhằm hình thành quỹ tích luỹ và tiêu dùng trong phạm vi toàn xã hôị. Phân phối của NSNN mang tính chất không hoàn trả trực tiếp, dựa trên quyền lực kinh tế chính trị của nhà nước. Phân phối đúng đắn phù hợp sẽ thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế-xã hội. Ngược lại sẽ kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế. Vì vậy phải phát triển mạnh mẽ kinh tế hàng hoá-thị trường, nâng cao vai trò điều hành và quản lý kinh tế-xã hội của nhà nước để phát huy mặt tích cực của chức năng phân phối. Chức năng thứ hai là chức năng giám đốc. Giám đốc NSNN được thực hiện trong quá trình tập trung, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước - quỹ ngân sách trên nhiều lĩnh vực và gắn với tính hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Hai chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của ngân sách. Từ đó phát huy vai trò tích cực của NSNN đối với quá trình tổ chức quản lý vĩ mô nền kinh tế, bổ sung hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách nhằm làm cho hoạt động của ngân sách phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế - xã hội của nhà nước. 1.1.5.2-Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường Sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quản lý tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã làm thay đổi căn bản vai trò của NSNN. Nếu như trước đây NSNN được coi là công cụ tài chính quan trọng để nhà nước “làm kinh tế” thì ngày nay nó được coi là công cụ tài chính quan trọng để giúp nhà nước thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh tế. Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hoá - tiền tệ phát triển ở giai đoạn cao. Sản xuất, trao đổi hàng hoá trên thị trường chịu sự tác động chủ yếu của quy luật giá trị, quy luật cung cầu và quy luật lưu thông tiền tệ. Từ đó dẫn đến những ưu thế và khuyết tật của kinh tế thị trường. Kinh tế thị trường một mặt thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động xã hội, đẩy mạnh quá trình xã hội hoá sản xuất, tăng nhanh quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo ra tính năng động và tự điều chỉnh của nền kinh tế. Mặt khác tạo ra sự độc quyền trong nền kinh tế làm cho giá cả không phản ánh được quan hệ cung cầu đích thực, hạn chế sản lượng sản xuất hàng hoá, từ đó dẫn đến thất nghiệp, cung cầu lao động mất cân đối. Mục tiêu cao nhất của các chủ thể kinh doanh trong kinh tế thị trường là chạy theo lợi nhuận, không chú ý đến quyền lợi chung dẫn đến hiện tượng phân cực giàu, nghèo, phát triển; tự phát, thiếu hụt hàng hoá dịch vụ công cộng, tàn phá môi trường... Có thể nói những khuyết tật đó, bản thân kinh tế thị trường không thể khắc phục được mà cần có sự can thiệp của nhà nước thông qua các công cụ chủ yếu như pháp luật, kế hoạch, tổ chức, tài chính, tiền tệ... Trong các công cụ đó NSNN được coi là công cụ quan trọng nhất, điều đó thể hiện: Một là, tác động của NSNN đối với sự tăng trưởng kinh tế bền vững. Như trên đã nói NSNN là khâu tài chính tập trung quan trọng nhất, là kế hoạch tài chính cơ bản, tổng hợp của nhà nước. Nó giữ vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính, có tính quyết định sự phát triển của nền kinh tế quốc dân theo định hướng xã hội chủ nghĩa. NSNN lành mạnh là tiền đề phát triển kinh tế. Một mặt NSNN là kết quả của hoạt động kinh tế-xã hội, mặt khác nó có tác dụng tích cực đối với việc phát triển kinh tế. Thông qua phân phối NSNN có thể điều chỉnh cơ cấu, ưu tiên cho những lĩnh vực quan trọng, cân bằng những vấn đề kinh tế-xã hội, môi trường như thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, làm thay đổi bộ mặt xã hội cả thành thị và nông thôn, tăng thu nhập bình quân và nâng cao đời sống nhân dân. Chi cho phát triển kinh tế là khoản chi có tính chất tích luỹ, tái sản xuất ra của cải vật chất, sản xuất mở rộng và hình thành các trung tâm tích tụ mới, tạo ra nhiều công ăn việc làm và hạ thấp tỷ lệ thất nghiệp. Hai là, NSNN góp phần bình ổn giá cả, kiềm chế lạm phát. Trong kinh tế thị trường, sự biến động giá cả có nguyên nhân từ sự mất cân đối cung cầu. Thông qua thuế và chính sách chi tiêu của NSNN, nhà nước có thể tác động vào khía cạnh cung hoặc cầu để bình ổn giá cả. Đặc biệt sự hình thành quỹ dự phòng và quỹ dự trữ từ kinh phí NSNN để đối phó sự biến động của thị trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong bình ổn giá cả. Lạm phát là căn bệnh đối với nền kinh tế. Lạm phát xảy ra khi mức chung của giá cả và chi phí tăng. Để giảm lạm phát tất yếu phải dùng các biện pháp để hạ thấp giá, hạ thấp chi phí. Bằng biện pháp thu chi của ngân sách, nhà nước có thể nâng đỡ cung, giảm bớt cầu, nghĩa là khi xảy ra lạm phát một mặt nhà nước có thể tăng thuế tiêu dùng, giảm thuế đối với đầu tư phát triển, đồng thời thắt chặt các khoản chi tiêu của NSNN. Ba là, vai trò của nhà nước đối với công bằng xã hội. Thông qua hoạt động thu chi, NSNN thực hiện tái phân phối thu nhập đảm bảo sự công bằng của xã hội. Cụ thể qua các hoạt động thu NSNN dưới hình thức kết hợp thuế gián thu và thuế trực thu để điều tiết thu nhập, điều tiết tiêu dùng đảm bảo thu nhập chính đáng của người lao động, hạn chế thu nhập bất chính. Qua hoạt động chi dưới hình thức trợ cấp để thực hiện các chính sách dân số, chính sách việc làm, chính sách bảo trợ xã hội. Trong điều kiện NSNN còn eo hẹp, chi phí giải quyết các vấn đề xã hội rất lớn, việc giải quyết các vấn đề xã hội phải triệt để thực hiện phương châm nhà nước và nhân dân cùng chăm lo. Những khoản chi để giải quyết các vấn đề xã hội phải tiết kiệm, hiệu qủa, đúng đối tượng. Có như vậy mới góp phần công bằng xã hội, hạn chế những khiếm khuyết vốn có của thị trường. Từ đó ta thấy NSNN có vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền tài chính quốc gia, nó tác động đến mọi hoạt động kinh tế-xã hội. NSNN là cân đối tài chính tiền tệ quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển kinh tế, công bằng xã hội và điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. 1.2-YÊU CẦU KHÁCH QUAN PHẢI TIẾP TỤC ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Luật NSNN ra đời là một bước tiến mới trong công tác quản lý NSNN. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện cùng với những kết quả đạt được còn nhiều vấn đề vướng mắc cần phải tháo gỡ, nhất là trong công tác quản lý NSNN. 1.2.1-Vai trò của quản lý NSNN Quản lý NSNN là sự tác động của nhà nước vào hoạt động của các đối tượng có thu nhập và các đối tượng sử dụng một phần thu nhập đó bằng các công cụ quản lý vĩ mô của mình để th._.ực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Nội dung quản lý NSNN bao gồm chính sách ngân sách và cơ chế quản lý ngân sách. 1.2.1.1-Chính sách ngân sách là phương hướng cơ bản về sử dụng ngân sách như là một công cụ quản lý kinh tế, xã hội của nhà nước trong từng thời kỳ nhất định, phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội và những nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho nhà nước ở từng thời kỳ đó. Chính sách ngân sách bao gồm: -Chính sách động viên, tập trung các nguồn tài chính vào quỹ tập trung của nhà nước - quỹ ngân sách. -Chính sách phân phối sử dụng quỹ ngân sách cho các mục tiêu kinh tế - xã hội và thực hiện các nhiệm vụ của bộ máy nhà nước. -Những định hướng cơ bản về tổ chức, xây dựng và quản lý hệ thống ngân sách nhà nước. Chính sách ngân sách là sản phẩm chủ quan của nhà nước nhằm dùng công cụ ngân sách góp phần điều chỉnh tình hình kinh tế tài chính trong từng thời kỳ nhất định. Là sản phẩm chủ quan, chính sách ngân sách có thể tác động đến quá trình hoạt động kinh tế, xã hội theo hướng tích cực hay theo hướng tiêu cực. Một chính sách ngân sách được coi là tích cực phải là một chính sách góp phần làm tăng trưởng nền kinh tế, tạo nên sự vận động đúng đắn của các phạm trù giá trị trong nền kinh tế, không gây ách tắc đối với sản xuất, lưu thông, giảm được lạm phát, nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, góp phần giải quyết các vấn đề xã hội của đất nước. Có thể nói, chính sách ngân sách là bộ phận cực kỳ quan trọng có vai trò dẫn đường trong chính sách tài chính quốc gia. Nó ràng buộc, vạch ranh giới những bộ phận của các nguồn tài chính được phép và có thể tập trung vào quỹ ngân sách. Đồng thời chính sách ngân sách là nhân tố tác động đến các bộ phận khác trong chính sách tài chính quốc gia. Vì vậy, khi hoạch định chính sách ngân sách đòi hỏi phải nghiên cứu các mối liên hệ ảnh hưởng qua lại giữa nó với các chính sách kinh tế, xã hội, chính sách giá cả, tiền lương, thu nhập, tín dụng và tiền tệ. Chính sách ngân sách dù đúng đắn bao nhiêu cũng không thể thực hiện được trong đời sống kinh tế, xã hội, nếu không có một cơ chế quản lý ngân sách đúng đắn, thích hợp, quán triệt đầy đủ tư tưởng chỉ đạo của chính sách ngân sách. 1.2.1.2-Cơ chế quản lý ngân sách được coi là công cụ để thực hiện chính sách ngân sách trong đời sống kinh tế - xã hội. Cũng như chính sách ngân sách, cơ chế quản lý ngân sách là sản phẩm chủ quan nhưng mang tính cụ thể hơn. Cơ chế quản lý ngân sách được coi là tổng thể các hình thức, phương pháp hình thành, tập trung, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính thuộc quỹ ngân sách. Nếu quan niệm theo nghĩa hẹp, cơ chế quản lý ngân sách là tổng hợp các hình thức, phương pháp điều hành quỹ ngân sách trong hệ thống ngân sách. Tức là cơ chế quản lý ngân sách được nhìn nhận từ góc độ bên trong của hệ thống ngân sách và gồm các bộ phận chủ yếu sau: -Kế hoạch hoá ngân sách. -Các quy định về ranh giới thu, chi giữa các cấp ngân sách. -Các hình thức tổ chức bộ máy điều hành ngân sách. -Luật ngân sách và hệ thống văn bản pháp quy về điều hành ngân sách. Nếu quan niệm theo nghĩa rộng, cơ chế quản lý ngân sách được coi là tổng thể các hình thức và phương pháp hình thành, tập trung, phân phối và sử dụng quỹ ngân sách. Với quan niệm này, rõ ràng cơ chế quản lý ngân sách không chỉ bao gồm các yếu tố liên hệ chặt chẽ với các yếu tố bên ngoài của hệ thống ngân sách. Đó là các hình thức và phương pháp thu, chi ngân sách, cầu nối liền cơ chế quản lý ngân sách với các bộ phận cơ chế quản lý tài chính, chịu sự tác động của các bộ phận trong chính sách kinh tế, tài chính. Nhận rõ cơ cấu bên trong và bên ngoài của cơ chế quản lý ngân sách có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận. Nó cho phép chúng ta nhìn nhận tính biến động của cơ chế quản lý ngân sách trong sự biến động cuả hoàn cảnh kinh tế xã hội, sự biến động của chính sách ngân sách. Trên cơ sở đó, phải không ngừng hoàn thiện cơ chế quản lý ngân sách, làm cho nó thích ứng với sự biến động trong chính sách ngân sách. Một cơ chế quản lý ngân sách được coi là hợp lý khi các bộ phận trong cơ chế đó mang tính hệ thống đồng bộ, không triệt tiêu lẫn nhau làm hạn chế tác dụng tích cực của cơ chế. Qua phân tích nội dung chủ yếu của quản lý NSNN, ta thấy vai trò quản lý NSNN rất quan trọng, thể hiện: Thứ nhất, làm cho chính sách ngân sách đúng đắn hợp lý, khi có chính sách ngân sách đúng đắn và phù hợp với chính sách phát triển kinh tế xã hội sẽ động viên các nguồn tài chính chủ yếu như thuế, phí và lệ phí vào quỹ ngân sách một cách hợp lý. Thông qua phân phối, sử dụng quỹ ngân sách vừa nuôi dưỡng nguồn thu, vừa bảo đảm mức động viên GDP vào NSNN cao nhất, đảm bảo quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, ưu tiên đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho sản xuất và thực hiện các nhiệm vụ của bộ máy nhà nước. Thứ hai, làm cho cơ chế quản lý ngân sách có hiệu quả, thể hiện qua phân cấp ngân sách, thực hiện chu trình ngân sách và tổ chức bộ máy quản lý NSNN. Thứ ba: Khi phân cấp ngân sách đúng đắn và thích hợp, một mặt đảm bảo ngân sách TW giữ vai trò chủ đạo trong nền tài chính quốc gia, mặt khác vừa đảm bảo cho NSĐP xử lý các vấn đề trên địa bàn, vừa phát huy tính chủ động, khuyến khích tính năng động sáng tạo của NSĐP. Thứ tư, thực hiện chu trình ngân sách một cách chặt chẽ, tuân theo đúng quy định từ khâu lập ngân sách đến chấp hành ngân sách và quyết toán ngân sách sẽ giúp cho NSNN được quản lý sát thực và đúng pháp luật. Giải quyết tốt vấn đề thu chi NSNN nếu như việc thực hiện các giai đoạn trong chu trình ngân sách không đạt hiệu quả. Vì vậy việc thực hiện các giai đoạn trong quản lý NSNN đòi hỏi phải xử lý tổng hoà các biện pháp và được tiến hành ở mọi cấp, mọi ngành, mọi lĩnh vực. Thứ năm: Tổ chức bộ máy NSNN tinh giản, gọn nhẹ, điều hành có hiệu lực và hiệu quả, điều đó có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện chính sách ngân sách. Đội ngũ cán bộ công chức giữ vai trò quyết định sự thành công hay thất bại của quản lý NSNN. 1.2.2. Yêu cầu khách quan phải tiếp tục đổi mới quản lý NSNN Quản lý NSNN có vai trò quyết định đến kết quả hoạt động của NSTW và NSĐP. Thời gian qua công tác quản lý NSNN đã đạt được những thành tựu nhất định trong việc huy động các nguồn thu cho NSNN để phân phối, sử dụng nhằm đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội theo chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong từng giai đoạn. Nhưng nhìn chung chính sách NSNN, cơ chế quản lý NSNN còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được tiến trình phát triển của nền kinh tế quốc dân. Thể hiện trên các mặt sau: 1.2.2.1-Công tác phân cấp quản lý ngân sách: Chế độ phân cấp quản lý ngân sách ở nước ta ra đời từ năm 1967 (nghị định 108/CP) tới nay đã qua nhiều lần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của từng giai đoạn lịch sử nhất định. Năm 1996 Luật NSNN được ban hành đã xác định rõ vị trí, vai trò, chức năng nhiệm vụ của ngân sách trung ương và ngân sách địa phương trong hệ thống NSNN, đề ra nguồn thu, nhiệm vụ chi của ngân sách các cấp, nhưng trong quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc dẫn đến chưa khai thác hợp lý nguồn thu, một số khoản chi ngân sách cấp tỉnh còn chồng chéo hoặc chưa quan tâm do đó chưa phát huy được tính năng động của địa phương. 1.2.2.2- Thực hiện chu trình ngân sách nhà nước: Việc lập, chấp hành và quyết toán NSNN hàng năm đã được thực hiện theo Luật NSNN nhưng còn mang tính hình thức, chiếu lệ. 1.2.2.3- Bộ máy quản lý NSNN: Trình độ cán bộ công chức ngành tài chính nói chung và cán bộ quản lý ngân sách nói riêng không đồng đều, chưa đáp ứng yêu cầu quản lý. Do có những hạn chế đó cần phải tiếp tục đổi mới quản lý NSNN với các yêu cầu sau: Một là, chính sách ngân sách cần phải được tiếp tục thay đổi theo hướng lành mạnh phù hợp với chính sách tài chính quốc gia và thông lệ của kinh tế thị trường, tức là chính sách thu chi NSNN, phải huy động được mọi nguồn vốn cho đầu tư phát triển, triệt để tiết kiệm trong chi tiêu nhằm mục tiêu tạo nên một nền kinh tế phát triển và tăng trưởng bền vững. Trong đó phải coi trọng đổi mới chính sách thuế theo hướng đơn giản, ổn định, công bằng, khuyến khích làm ăn công khai, hợp pháp vừa đảm bảo thu thuế hợp lý vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp, dân cư tích luỹ để phát triển. Hai là, tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý NSNN: Phân cấp ngân sách phải đảm bảo vừa tập trung nguồn thu vào NSTW để NSTW đảm nhiệm các nhiệm vụ chi lớn, vừa khuyến khích tính năng động, sáng tạo của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho chính quyền địa phương các cấp hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Thực hiện chu trình ngân sách một cách nghiêm minh đúng luật định. Cụ thể: Lập dự toán ngân sách trước hết phải dựa vào phương hướng, chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng của Đảng và nhà nước. Từ đó xác định mục tiêu và nhiệm vụ cần động viên khai thác nguồn thu cũng như việc phân phối và sử dụng quỹ ngân sách có trọng tâm, trọng điểm đảm bảo yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả. Lập dự toán ngân sách còn phải dựa vào các chỉ tiêu của kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của nhà nước trong niên độ kế hoạch và dựa vào hệ thống các chính sách chế độ, tiêu chuẩn định mức thu chi của NSNN. Chấp hành NSNN phải thực hiện tốt việc chấp hành dự toán thu và chấp hành dự toán chi. Thu ngân sách phải trên cơ sở không ngừng bồi dưỡng phát triển nguồn thu, động viên khai thác để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Chi ngân sách phải tiết kiệm và đạt hiệu quả cao. Quyết toán NSNN phải bảo đảm tính chính xác, trung thực và kịp thời để từ đó có thể rút ra những kinh nghiệm trong công tác quản lý và điều hành NSNN. 1.3-MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC Ở NƯỚC NGOÀI Việc nghiên cứu về quản lý NSNN ở nước ngoài của nước ra còn rất hạn chế, hầu như chỉ giới hạn ở một số cuộc hội thảo, thông tin chuyên đề hay một số bài viết trên các tạp chí chuyên ngành chứ chưa có những ấn phẩm có hệ thống nói về kinh nghiệm quản lý NSNN ở nước ngoài. Do vậy những ý kiến chúng tôi trình bày dưới đây được lựa chọn trên cơ sở tổng hợp những thông tin từ những tài liệu được đăng tải dưới dạng báo cáo chuyên đề, những bài nghiên cứu trên các tạp chí chuyên ngành và các tài liệu giới thiệu về Luật ngân sách của các nước. 1.3.1-Về hệ thống ngân sách và năm ngân sách Hiện nay ở các nước tư bản chủ nghĩa có hai mô hình tổ chức quản lý nhà nước. Đó là mô hình Nhà nước Liên bang (Đức, Mỹ, Ca na đa, Malaisia...) và mô hình Nhà nước không Liên bang (Anh, Pháp, Nhật, In đônêxia...). Ứng với mỗi hệ thống hành chính đều tổ chức một hệ thống ngân sách phù hợp, nghĩa là mỗi cấp chính quyền là một cấp ngân sách, tự lập, xét duyệt và tự quản lý ngân sách của mình. Tuy nhiên ở tất cả các nước, NSTW (được gọi là ngân sách nhà nước) luôn đóng vai trò chủ đạo, khi cần thiết đều trợ cấp cho các ngân sách cấp dưới (NSĐP), mặt khác NSTW cũng chia sẻ một số khoản thu với NSĐP. Năm ngân sách đều được các nước quy định là 12 tháng, song thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở mỗi nước có khác. Thậm chí trong cùng một quốc gia, như ở Mỹ, thời điểm bắt đầu và kết thúc năm ngân sách ở một số địa phương hoàn toàn khác TW. Cụ thể là: năm ngân sách Liên bang bắt đầu từ 1/10 năm trước và kết thúc vào 30/9 năm sau, nhưng ở một số thành phố năm ngân sách bắt đầu 1/7 và kết thúc vào 30/6 năm sau. Ví dụ: hệ thống ngân sách của Cộng hoà Pháp gồm 4 cấp: NSNN, ngân sách khu, ngân sách tỉnh và ngân sách xã. Năm ngân sách bắt đầu từ 1/1 và kết thúc vào 31/12 cùng năm. NSNN hàng năm được đưa ra theo Luật tài chính và được Quốc hội phê chuẩn. Toàn bộ thu chi của NSNN được tập trung vào một quỹ do Kho bạc trực tiếp quản lý. Các khoản thu, chi được phản ánh vào NSNN, không một khoản nào nằm ngoài ngân sách. Chẳng hạn tại một thời điểm nào đó Bộ Nông nghiệp bán nông sản thu tiền về, đồng thời có nhu cầu mua máy móc thiết bị nông nghiệp thì không được phép giữ lại tiền bán nông sản để mua máy móc mà phải nộp toàn bộ số tiền thu được vào Kho bạc và thực hiện chi thông qua hệ thống kế toán Kho bạc. Hệ thống ngân sách của Cộng hoà liên bang Đức có 3 cấp đó là ngân sách liên bang, ngân sách các bang và ngân sách các khu đô chính. Mỗi cấp ngân sách có nhiệm vụ riêng, có quyền độc lập về tài chính của mình và không can thiệp vào công việc của nhau. Năm ngân sách của Cộng hoà liên bang Đức bắt đầu vào 30/3 và kết thúc vào 1/4 năm sau. 1.3.2- Về trình tự lập NSNN ở các nước Ở các nước, lập NSNN là nhiệm vụ của cơ quan hành pháp. Đại diện cơ quan hành pháp làm việc này ở đa số nước là Bộ Tài chính, ở một vài nước là Kho bạc nhà nước, riêng ở Mỹ là cơ quan hành chính ngân sách trực thuộc Tổng thống. Lập ngân sách là một công đoạn quan trọng trong toàn bộ quy trình ngân sách. Ở đây, các vấn đề thu, chi nhà nước, chính sách thuế khoá, tiền tệ, vay nợ, lãi suất và chính sách xã hội được rà soát rất kỹ và thận trọng các khâu cho đến Quốc hội, sau đó mới được quyết định. Do đó thời hạn lập NSNN thường kéo dài. Ví dụ ở Mỹ là 18 tháng trước khi ngân sách có hiệu lực; ở Pháp 14 tháng; ở Đức là trên 1 năm. Hàng năm tới thời gian quy định, lệnh lập ngân sách được phát ra và gửi cho các Bộ và cơ quan ngang Bộ cùng với bản thông báo số liệu kiểm tra về khả năng kinh phí, đối tượng được ưu tiên cấp kinh phí và tiết kiệm chi ngân sách trong năm tới và yêu cầu các Bộ, cơ quan ngang Bộ căn cứ vào đó cũng như vào nhu cầu công việc của mình để lập dự trù kinh phí năm sau gửi Bộ Tài chính. Căn cứ vào nhu cầu kinh phí của các nơi và khả năng tài chính của đất nước, Bộ Tài chính tổng hợp và lập thành bản dự toán thu, chi NSNN, trình văn phòng Thủ tướng xem xét, sau khi chấp nhận dự toán này được chuyển cho bên lập pháp để xem xét, phê chuẩn. Đó là những nguyên tắc chung về quá trình lập NSNN ở các nước có nền kinh tế tiên tiến, còn ở từng nước quy trình lập ngân sách còn phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nước như: Theo Hiến pháp của Pháp, việc lập NSNN hàng năm là nhiệm vụ của bộ máy hành pháp. Thủ tướng chỉ đạo việc lâp ngân sách. Người thực hành trực tiếp là Bộ trưởng Bộ Tài chính. Giúp việc cho Bộ trưởng là Vụ ngân sách và một số Vụ hữu quan như Tổng cục thuế, Kho bạc nhà nước và Vụ pháp chế. Hàng năm vào tháng giêng, Vụ ngân sách căn cứ vào các dự kiến phát triển kinh tế - xã hội của năm tới mà tính toán đưa ra số liệu dự kiến về thu chi ngân sách cho năm tới, trình Nội các xét duyệt. Sau đó Thủ tướng Nội các gửi công văn cho các Bộ, ngành về điệu kiện ngân sách của năm tới và yêu cầu các Bộ gửi cho Bộ Tài chính (Vụ ngân sách) bản dự kiến thu chi của mình. Đồng thời Bộ Tài chính có văn bản hướng dẫn lập dự toán thu chi theo mẫu và quy định thời hạn gửi về Bộ Tài chính nhà nước, Bộ Tài chính tổng hợp thành dự toán NSNN, sau đó Bộ Tài chính triệu tập hội nghị dự thảo kinh phí lần thứ nhất để thoả thuận với các Bộ. Nếu không thống nhất được thì người quyết định cuối cùng là Thủ tướng và kết thúc bằng việc Thủ tướng gửi cho các Bộ, ngành bản thông báo hạn mức kinh phí, yêu cầu phân bổ vào khoản mục phù hợp. Sau khi thống nhất lần cuối cùng, Bộ Tài chính hoàn tất trình Quốc hội xem xét và thông qua vào tháng 11 - 12 của năm trước năm ngân sách được thực thi. Ở Cộng hoà liên bang Đức khâu cơ bản của hệ thống tài chính nhà nước là ngân sách Liên bang. Hàng năm, sau khi nhận được công văn hướng dẫn lập dự toán thu, chi của Bộ Tài chính, chậm nhất là tháng giêng của năm trước năm kế hoạch các Bộ, cơ quan ngang Bộ phải gửi dự toán của mình cho Bộ Tài chính. Bộ Tài chính xem xét nếu cần thì bổ sung, sửa đổi số kinh phí xin cấp với sự thoả thuận của Bộ liên bang, có tham khảo ý kiến của Hội đồng kế hoạch hoá tài chính. Hội đồng làm nhiệm vụ điều phối hoạt động tài chính của liên bang, các bang và các khu đô chính. Sau khi được Nội các xét duyệt, dự án được trình Thượng nghị viện và Hạ nghị viện đến khi Tổng thống Liên bang ký xác nhận, thì dự án ngân sách mới trở thành Luật để thi hành và có hiệu lực từ 1/4 năm trước đến 30/3 năm sau. Trình tự này cũng được áp dụng đối với ngân sách bang và ngân sách các địa phương khác. 1.3.3-Về phân cấp quản lý ngân sách ở các nước Theo cách phân loại ngân sách của các nước thì ngân sách TW còn được gọi là NSNN. Ngân sách của chính quyền các cấp dưới TW được gọi là NSĐP. Các NSĐP đều độc lập với nhau và với NSTW, sự độc lập này cũng mang tính tương đối vì ở các nước chính quyền TW đều phải trợ cấp cho NSĐP và ngược lại, đều có quyền điều tiết một phần thu nhập về các loại thuế thuộc diện ăn chia giữa các cấp ngân sách theo Luật định. Độc lập ở đây có nghĩa là ngân sách cấp nào cấp ấy tự lập, tự xét duyệt và tự quản lý, sử dụng trong quá trình thực hiện ngân sách của mình. Như vậy ngân sách tổng hợp của cả nước gồm NSTW và các NSĐP. Ở những nước quản lý Nhà nước theo kiểu Liên bang thì NSĐP gồm ngân sách các bang và ngân sách các khu đô chính (xã); còn ở những nước quản lý đất nước theo kiểu bang thì NSĐP gồm ngân sách tỉnh, quận (huyện, xã). Ở các nước này ứng với mỗi cấp chính quyền là một cấp ngân sách nghĩa là đi đôi với quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp ở mỗi địa bàn phải giao cho họ các khoản thu nhất định để làm tròn trách nhiệm kinh tế xã hội của mình. Theo phân cấp ngân sách ở các nước, thông thường có hai cách phân cấp nguồn thu giữa TW và ĐP: Cách loại trừ và cách không loại trừ, cả hai cách này đều được Luật hoá trong Hiến pháp và trong các văn bản pháp quy khác của nhà nước. Theo cách loại trừ thì loại thuế nào giao cho địa phương quản lý, sử dụng thì trung ương không thu. Cách này được áp dụng ở Bỉ, Hà Lan, Anh... Cách không loại trừ thì ngược lại, có những loại thuế cả trung ương và địa phương đều tham gia chia phần theo tỷ lệ nhất định. Hiện nay nhiều nước kết hợp cả hai cách này trong việc thu thuế như Mỹ, Pháp, Đức... Thu của NSĐP được hình thành từ ba nguồn lớn. Nguồn thu chính của NSĐP là thuế. Hệ thống thuế địa phương ở các nước khá phức tạp, gồm nhiều loại thuế khác nhau, việc có nhiều loại thuế như vậy là do Luật pháp các nước cho phép chính quyền địa phương được quy định các loại thuế mới hay được phép tăng giảm mức thuế suất hàng năm trong khung thuế suất quy định. Nguồn thu lớn thứ hai của NSĐP là trợ cấp của NSTW; nguồn thu thứ ba của NSĐP là thu không từ thuế. Đây là các khoản tiền vay và lệ phí địa phương được phép thu theo chế độ quy định như lệ phí câu cá, săn bắn, tiền phạt, tài sản không người thừa nhận, tiền đóng góp công ích do địa phương quy định trong khuôn khổ luật pháp cho phép. Chi NSĐP là chi cho bộ máy quản lý của địa phương, chi cho sự nghiệp y tế, giáo dục và cho các hoạt động công ích, an ninh trật tự, đảm bảo xã hội, giao thông địa phương. 1.3.4-Một số bài học kinh nghiệm Từ những kinh nghiệm về quản lý ngân sách ở các nước, có thể rút ra một số điểm sau: Thứ nhất, sự cần thiết phải có Luật NSNN, như chúng ta đã biết cùng với sự xuất hiện của nhà nước, NSNN ra đời một mặt để đảm bảo các điều kiện hoạt động của bộ máy nhà nước. Mặt khác nhà nước điều hành các hoạt động của xã hội bằng luật pháp. Vì vậy nhất thiết phải có Luật NSNN để thống nhất các hoạt động của NSNN. Sau những năm nghiên cứu, trao đổi học tập kinh nghiệp của các nước, Luật NSNN của nước ta đã được ban hành và có hiệu lực từ 1/1/1997. Thứ hai, sự thống nhất của hệ thống ngân sách nhà nước và năm ngân sách. Bất cứ một nhà nước, dù tổ chức theo thể chế hành chính nào cũng đều phải xây dựng một hệ thống ngân sách phù hợp với hệ thống hành chính bao gồm các cấp ngân sách ứng với các cấp chính quyền địa phương nhằm đảm bảo các hoạt động kinh tế - xã hội của từng địa phương. Năm ngân sách nên thực hiện trong vòng một năm để thuận lợi cho việc tổng hợp quyết toán NSNN và điều chỉnh các nhu cầu chi theo kế hoạch phát triển kinh tế xã hội. Thứ ba, phải thực hiện nghiêm túc về chu trình ngân sách trong đó lập ngân sách là khâu quan trọng nhất, thực hiện theo đúng quy trình "hai xuống một lên". Chấp hành ngân sách là việc thực hiện dự toán ngân sách được duyệt và quyết toán ngân sách là khâu cuối cùng để tổng hợp các khoản thu chi NSNN làm tiền đề cho việc lập dự toán ngân sách năm sau. Thứ tư, trong phân cấp quản lý ngân sách phải đảm bảo vai trò chủ đạo của NSTW, coi NSTW là ngân sách của cả nước, hoạt động trên phạm vi cả nước. Do đó NSTW phải đảm nhận các nhiệm vụ chi lớn tập trung các nguồn thu quan trọng có tính chất quốc gia, đồng thời tạo điều kiện cho chính quyền địa phương các cấp chủ động, sáng tạo để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Thứ năm, trong việc phân giao nhiệm vụ, quyền hạn giữa các cơ quan nhà nước, Quốc hội là cơ quan lãnh đạo cao nhất của nhà nước có thẩm quyền quyết định về dự toán và quyết toán NSNN hàng năm. Các cơ quan hành pháp có trách nhiệm thực thi dự toán đó. Nhưng để phát huy vai trò của Quốc hội trong việc quyết định và phân bổ NSNN phải có đủ thông tin cho các đại biểu quốc hội và dành thời gian thích đáng cho việc thảo luận NSNN, tránh tình trạng như ở một số nước quyết định của Quốc hội còn mang nặng tính hình thức. Các cơ quan nhà nước phải có sự phối hợp trong việc lập dự toán NSNN, đảm bảo phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước. Trong tiến trình đổi mới kinh tế - xã hội của cả nước, càng cần phải coi trọng đổi mới hoạt động NSNN, nhất là công tác quản lý NSNN. Những bài học kinh nghiệm nêu trên đối với nước ta, mới triển khai thực hiện Luật NSNN là rất cần thiết. Quá trình thực hiện còn nhiều vướng mắc cần phải sửa đổi, hoàn thiện. Việc vận dụng những kinh nghiệm của các nước phù hợp đối với nước ta sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, tiến tới xây dựng một nước Việt Nam giàu đẹp, văn minh và công bằng xã hội. Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC (1997-1999) 2.1- ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN - KINH TẾ-XÃ HỘI TỈNH VĨNH PHÚC 2.1.1 - Đặc điểm tự nhiên Vĩnh Phúc là tỉnh mới được tái lập từ đầu năm 1997, là tỉnh đồng bằng trung du, phía Đông giáp tỉnh Thái Nguyên, phía Đông Nam giáp thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây Nam giáp tỉnh Hà Tây và phía Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang. Với vị trí địa lý này, Vĩnh Phúc có thể mở rộng phát triển kinh tế với thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận phía Bắc tổ quốc. Tỉnh Vĩnh Phúc có tổng diện tích là 1.370,2km2 gồm 7 đơn vị hành chính trực thuộc, đó là các huyện Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Tam Dương, Vĩnh Tường, Lập Thạch và thị xã Vĩnh Yên. Địa hình được chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, hồ đầm và đồi núi, với dãy Tam Đảo trải dài và bốn con sông chảy qua địa phận của tỉnh, có Đầm Vạc nổi tiếng bao quanh thị xã Vĩnh yên - Trung tâm tỉnh lỵ; hồ Đại Lải thuộc huyện Mê Linh, cách thủ đô Hà Nội khoảng 40km về phía Bắc, đây là những điều kiện hứa hẹn nhiều tiềm năng du lịch cho tỉnh. Tổng diện tích tự nhiên là 135.220,39 ha, trong đó đất nông nghiệp là chủ yếu với 62.828,84ha, đất lâm nghiệp là 25.382,9ha, đất chuyên dùng là 14.790,08ha, đất ở là 4.650,18ha và đất chưa sử dụng là 27.568,08ha. Đất đai được phù sa của các con sông bồi đắp, do đó rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp, nhất là cây lúa nước, nguồn đảm bảo an toàn lương thực cho toàn tỉnh. Về khí hậu: Vĩnh Phúc là tỉnh nằm ở khu vực nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 240C, lượng mưa trong năm khoảng 1.384mm nhưng được phân bổ không đều, chỉ tập trung vào mùa hè, độ ẩm trung bình là 83,4%. Từ đặc điểm đó cho phép Vĩnh Phúc phát triển đa dạng các loại sản phẩm nông nghiệp. Song cũng không tránh khỏi tình trạng úng lụt vào mùa mưa hoặc hạn hán vào mùa hanh khô làm ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Với đặc điểm tự nhiên trên, Vĩnh Phúc có tiềm năng trong việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Đây cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thu chi NSNN trên địa bàn tỉnh. 2.1.2- Đặc điểm kinh tế-xã hội -Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) theo giá thực tế năm 1998 là 2.847 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu người năm 1998 là 230USD so với bình quân chung của cả nước chỉ đạt 75%. -Cơ cấu kinh tế 2 năm 1997 - 1998 như sau: Cơ cấu kinh tế Năm 1997 Năm 1998 Nông, lâm, thuỷ sản 43,77% 38,54% Công nghiệp, xây dựng 19,52% 29,78% Dịch vụ 36,71% 31,68% -Về dân số và lao động: Tính đến cuối năm 1998 dân số toàn tỉnh là 1.112.024 người, mật độ dân số là 822,38 người/1km2.Tổng số lao động nhà nước có đến 31/12/1998 trong toàn tỉnh là 23.150 người, trong đó khu vực quản lý nhà nước là 2.850 người. Cụ thể trên các mặt: 2.1.2.1- Sản xuất nông nghiệp Vĩnh Phúc là một tỉnh sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, trong vài năm trở lại đây tuy gặp nhiều khó khăn về thiên tai nhưng có sự chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh, sự sáng tạo của các ngành các cấp trong việc ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi mùa vụ cây trồng nên đã đạt được kết quả khá, đời sống nhân dân khu vực sản xuất nông nghiệp được cải thiện. Giá trị sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản năm 1998 (theo giá cố định năm 1994) đạt trên 1.224 tỷ đồng tăng xấp xỉ 4,4% so với năm 1997, trong đó tỷ trọng giá trị chăn nuôi và thuỷ sản chiếm 27,1%. Về lâm nghiệp trồng rừng, tổng diện tích rừng tập trung ước đạt 2.351 ha trong đó địa phương trồng được 1.710ha. Trong năm 1998 trồng mơí đạt 524ha, tập trung ở các huyện Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên. Công tác bảo vệ rừng có tiến bộ, ngăn chặn được hiện tượng đốt phá rừng, kết quả cho thấy số vụ vi phạm giảm hơn so với năm 1997. Hoàn thành việc đắp đê đúng kế hoạch về khối lượng và thời gian, công tác phòng chống bão lụt được triển khai sớm tới các cấp, các ngành, có giải pháp xử lý kịp thời vùng bãi bị sạt lở ở vùng ven sông Hồng, có 30km kênh mương được xây dựng kiên cố với số vốn đầu tư 4,1 tỷ đồng. Có 200/308 hợp tác xã đã hoàn thành chuyển đổi đăng ký hoạt động lại theo Luật hợp tác xã. Toàn tỉnh có 73 xã thực hiện dồn ghép ruộng đất và có 15 xã cơ bản đã hoàn thành. Năm 1998: Diện tích gieo trồng cây lương thực: 103,6 ngàn ha.Sản lượng lương thực quy thóc bình quân đầu người: 237,2kg/năm. 2.1.2.2- Sản xuất công nghiệp Bước đầu thích nghi với cơ chế thị trường, một số doanh nghiệp nhà nước được sắp xếp lại, đầu tư đổi mới trang thiết bị, chuyển đổi mặt hàng dần dần đi vào ổn định. Tuy quy mô còn nhỏ bé, hiệu quả sản xuất kinh doanh chưa cao, nhưng doanh nghiệp nhà nước đã góp phần đáng kể vào giải quyết công ăn việc làm, cung cấp một phần quan trọng sản phẩm cho sản xuất và đời sống, đảm bảo đóng góp cho NSNN. Công nghiệp ngoài quốc doanh có năng động hơn. Riêng công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được đầu tư khá góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và tỷ trọng công nghiệp trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Trong 3 năm từ 1997 đến 1999, tỉnh đã sát nhập 2 doanh nghiệp, giải thể và tổ chức lại 3 doanh nghiệp, thực hiện cổ phần hoá Khách sạn Tam Đảo thuộc Công ty du lịch và công ty vận tải ô tô Vĩnh Phúc. Tuy vẫn còn có 11 doanh nghiệp làm ăn thua lỗ làm cho tổng số lãi của các doanh nghiệp quốc doanh giảm xuống 5,3%; năm 1998 tổng số nộp ngân sách 5,8 tỷ đồng, giải quyết cho 5.547 người lao động tăng 1.361 người so với năm trước. Đến nay, toàn tỉnh có 10 dự án đầu tư nước ngoài đi vào sản xuất có sản phẩm và đạt giá trị sản xuất là 2.126 tỷ đồng, tăng 3,8 lần so với năm 1997. Vốn ODA và NGO đã vận động thu hút được 11 triệu USD trong đó năm 1998 đã thực hiện giải ngân đựơc 29,3 tỷ đồng vốn ODA và 9,7 tỷ đồng vốn NGO. 2.1.2.3- Hoạt động thương mại và dịch vụ Các hoạt động thương mại và dịch vụ được củng cố và phát triển, năm 1998 so với năm 1997 tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tăng 18,8%, giá trị hàng xuất khẩu đạt 15,8 triệu USD, tăng 7,8%. Về du lịch giá trị chỉ đạt 4,3 tỷ đồng, giảm 4% so với năm 1997. Doanh thu vận tải hàng hoá tăng 17,6%, vận tải hành khách tăng 4,4%, số lượng phương tiện vận tải tăng 420 phương tiện so với năm 1997. Bưu điện viễn thông trong năm 1998 đã lắp đặt thêm 3.200 máy điện thoại, tăng số máy điện thoại xấp xỉ 1 máy/100 dân, doanh thu bưu chính viễn thông đạt 29,6 tỷ đồng. Cung ứng điện: Sản lượng bán ra năm 1998 đạt 130,7 triệu Kw, doanh thu 65 tỷ đồng; trong đó tiêu dùng trong công nghiệp chiếm 18%, khu vực nông nghiệp chiếm 60%, điện cho ánh sáng đô thị và các hoạt động khác 22%. 2.1.2.4- Sự nghiệp y tế Năm 1998 toàn tỉnh có 8 bệnh viện đa khoa, 1 bệnh viện điều dưỡng, 9 phòng khám khu vực và 148 trạm y tế xã phường với tổng số giường bệnh toàn tỉnh là 1.865 giường và 1.928 cán bộ y tế. Cơ sở vật chất trang thiết bị ngành y tế được đầu tư nâng cấp. Hầu hết các bệnh viện tuyến tỉnh đều được trang bị máy móc hiện đại phục vụ việc chẩn đoán, chữa bệnh. Các trạm y tế xã được nâng cấp theo chương trình mục tiêu của trung ương cũng như của tỉnh, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân. Các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, sốt rét, bướu cổ, các bệnh xã hội được tỉnh quan tâm. 2.1.2.5- Sự nghiệp giáo dục Sự nghiệp giáo dục đào tạo đã sắp xếp lại mạng lưới và đa dạng hoá các loại hình đào tạo, loại hình trường lớp như quốc lập, bán công, lớp ghép... đáp ứng các nhu cầu về học tập cho mọi tầng lớp nhân dân, nhất là học sinh phổ thông tăng nhanh, số học sinh bỏ học giảm hẳn. Chất lượng giáo dục có nhiều tiến bộ, số lượng học sinh giỏi tăng lên, học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở đạt 97,3%, phổ thông trung học đạt 85,3%, hệ thống giáo dục chuyên nghiệp được củng cố, kiện toàn đáp ứng nhu cầu đào tạo trong tỉnh. -Năm học 1996-1997 toàn tỉnh có: +Tiểu học:157 trường, 4.193 lớp, 154.032 học sinh và 4.435 giáo viên. +Trung học cơ sở: 133 trường, 1.972 lớp, 86.643 học sinh và 3.007 giáo viên. +Phổ thông trung học: 22 trường, 401 lớp với 20.908 học sinh và 731 giáo viên. -Năm học 1997-1998 toàn tỉnh có: +Tiểu học:164 trường, 4.221 lớp,150.331 học sinh và 4.796 giáo viên. +Trung học cơ sở: 145 trường, 2.100 lớp 93.091 học sinh và 3.213 giáo viên . +Phổ thông trung học: 20 trường, 498 lớp với 26.532 học sinh và 681 giáo viên. -Năm học 1998-1999 toàn tỉnh có: +Tiểu học:172 trường, 4.202 lớp,142.017 học sinh và 4.847 giáo viên. +Trung học cơ sở: 145 trường, 2.249 lớp 97.164 học sinh và 3.514 giáo viên. +Phổ thông trung học: 21 trường, 613 lớp với 32.888 học sinh và 856 giáo viên. 2.1.2.6- Văn hoá, xã hội Các vấn đề văn hoá, xã hội được quan tâm giải quyết tích cực. Đời s._.ưởng ngân sách. 3.2.3-Đổi mới công tác quản lý thu NSNN và chi NSĐP 3.2.3.1 -Đổi mới công tác quản lý thu NSNN -Tiếp tục công tác tuyên truyền pháp luật trong lĩnh vực tài chính - ngân sách đến các cơ quan đơn vị, các tổ chức kinh tế - xã hội, các tầng lớp dân cư để mọi tổ chức,công dân hiểu và tự giác thực hiện nghĩa vụ với NSNN. -Tăng cường công tác quản lý, khai thác và nuôi dưỡng nguồn thu cho NSNN mà trước hết là các khoản thuế vì thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN. Thuế là hình thức thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể nhà nước và các thành phần kinh tế trong xã hội thông qua việc đóng góp một phần thu nhập cho NSNN. Thuế là đòn bẩy kích thích sản xuất kinh doanh phát triển, bảo hộ hàng sản xuất trong nước, thực hiện công bằng xã hội. -Tiếp tục cải cách hệ thống thuế theo hướng giảm thuế suất, mở rộng diện thu, đơn giản các sắc thuế; có chính sách thuế khuyến khích mạnh mẽ đầu tư và tích luỹ trong nước để tăng thu trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đảm bảo nuôi dưỡng nguồn thu, khai thác và quản lý chặt chẽ nguồn thu, chống thất thu có hiệu quả. Trước mắt cần thực hiện những biện pháp cụ thể như: +Hướng dẫn cho đối tượng nộp thuế thực hiện nghiêm túc các quy định về quản lý và sử dụng hoá đơn chứng từ, mở sổ sách kế toán hạch toán kế toán các loại thuế mới, đăng ký thuế, kê khai tính thuế, nộp thuế. +Tổ chức sắp xếp lại sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp; trong công tác quản lý vật tư, tiền vốn, chi phí, giá thành,... để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế với nhà nước.Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá, bán, khoán doanh nghiệp theo quy định của Chính phủ. +Ngăn chặn các trường hợp cho tư nhân kinh doanh núp bóng doanh nghiệp nhà nước; các trường hợp khoán trắng cho mậu dịch viên, khoán số tiền nộp theo đầu phương tiện... để thực hiện tính thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp sát đúng. +Kiên quyết xử lý đối với các trường hợp vi phạm luật thuế của nhà nước, xâm tiêu tiền thuế, thoả thuận thuế... nhằm chấn chỉnh và lập lại kỷ cương trên lĩnh vực thuế, khắc phục những trường hợp vì lợi ích cá nhân, xem nhẹ lợi ích nhà nước, coi thường pháp luật. -Đổi mới hoạt động thu NSNN, chú trọng xây dựng nguồn thu mới, lâu dài, vững chắc kết hợp với khai thác tốt các nguồn thu hiện có trên cơ sở phát huy thế mạnh điều kiện tự nhiên của từng vùng và tiềm năng của từng lĩnh vực để tạo nguồn thu cho NSNN. Cụ thể: +Trong lĩnh vực giao thông vận tải và xây dựng: Đầu tư xây dựng các tuyến đường giao thông quan trọng một mặt tăng cường giao lưu kinh tế giữa các vùng, mặt khác thu hút các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Quy hoạch tổng thể xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp tập trung ở những nơi có mặt bằng rộng, dân cư thưa tạo môi trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. +Trong lĩnh vực thương mại du lịch: Đầu tư xây dựng khu nghỉ mát Tam đảo, khu du lịch Đại lải, Đầm vạc, di tích đền Quốc mẫuTây thiên thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. +Trong lĩnh vực công nghiệp: Khuyến khích phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng ở huyện Mê linh, Bình xuyên, công nghiệp giầy da, may mặc ở huyện Mê linh tận dụng tối đa lợi thế vị trí địa lý, khơi dậy huy động nguồn lực tại chỗ giải quyết việc làm cho nhiều lao động. +Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp: Đầu tư phát triển một số làng nghề để sản xuất hàng xuất khẩu, mỹ nghệ. Mặt khác do chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp cần phải đầu tư một số ngành nghề thủ công tạo việc làm cho người lao động. -Ban hành một số khoản thu phí và lệ phí phù hợp với quy định của pháp luật trên địa bàn tỉnh nhằm tăng thu cho NSNN. Đặc điểm của khoản thu này là phạm vi, đối tượng thu rộng, công tác tổ chức thu khó khăn nhưng nếu khai thác triệt để sẽ tạo được khoản thu lớn. Từ đó có điều kiện đầu tư lại phục vụ hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước và tăng cường cơ sở vật chất. -Nâng cao vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền đối với các cơ quan chức năng trong việc thực hiện thu đúng, thu đủ, kịp thời, đúng đối tượng, quản lý và bao quát các nguồn thu, chống thất thu phát sinh trên địa bàn. -Tăng cường phối kết hợp giữa các ngành, các cấp trong việc quản lý tổ chức thu thuế. -Nâng cao năng lực tổ chức và quản lý của bộ máy thu thuế, trong đó chú ý bồi dưỡng phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ thuế. -Phát hiện, đề xuất những yếu tố bất hợp lý trong quá trình tổ chức thực hiện thu thuế để nhà nước từng bước hoàn thiện luật thuế. 3.2.3.2- Đổi mới công tác quản lý chi NSĐP Trước hết cần thực hiện nghiêm chế độ, định mức, tiêu chuẩn và dự toán. Không được chi cho việc khác ngoài dự toán được duyệt, bảo đảm nguyên tắc tiết kiệm của Đảng và nhà nước trong mọi việc chi tiêu. *Đối với chi đầu tư phát triển: Phải căn cứ và chỉ tiêu, nguồn vốn được giao để bố trí chi. Chi phải đảm bảo đúng các công trình, hạng mục đã được duyệt, không tự ý điều chỉnh cho các hạng mục công trình khác. Sở Kế hoạch và đầu tư là cơ quan kiểm tra rà soát các danh mục công trình, nếu công trình không có khả năng hoàn thành phải có phương án điều chỉnh vốn kịp thời tránh tình trạng để ứ đọng vốn. Chi đầu tư xây dựng cơ bản từ một số nguồn được để lại theo nghị quyết của Quốc hội như thuế sử dụng đất nông nghiệp, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thu từ xổ số kiến thiết được điều hành chi theo nguyên tắc tập trung theo từng chương trình cụ thể. Phần vượt thu NSĐP được hưởng chỉ dành chi cho đầu tư phát triển, không dành chi tiêu dùng. Việc thẩm định quyết toán các dự án đầu tư XDCB hoàn thành từ nguồn vốn XDCB tập trung hay nguồn vốn sự nghiệp địa phương phải được thực hiện đúng theo quy định Nhà nước tại nghị định 52/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 và nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 của Chính phủ. Kiên quyết xuất toán các khoản chi không đúng quy định các khoản chi phát sinh ngoài dự toán thiết kế được duyệt, tránh thất thoát trong quản lý chi XDCB. Chú trọng chi đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn trong đó chú ý đầu tư xây dựng, sửa chữa và bê tông hoá các công trình thuỷ lợi, kênh mương nội đồng, hệ thống đê, kè... *Đối với chi thường xuyên: Cấp phát ưu tiên theo thứ tự trước hết phải đảm bảo chi lương và các khoản có tính chất lương. Quản lý cấp phát phải đúng nội dung công việc, theo tiến độ hoàn thành có lưu ý đến tính mùa vụ của một số khoản chi như chống lụt bão, phục vụ đắp đê, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi... Mọi khoản chi ngân sách chỉ được thực hiện khi có đủ 3 điều kiện: -Đã có trong dự toán ngân sách được duyệt. -Đúng chế độ, tiêu chuẩn định mức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định. -Đã được thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được uỷ quyền chuẩn chi. Thực hiện chế độ kiểm soát trước, trong và sau khi chi ngân sách, thông qua cơ chế phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan tài chính, cơ quan kho bạc nhà nước và cơ quan thụ hưởng ngân sách. Thực hiện nguyên tắc chi trả trực tiếp từ kho bạc nhà nước cho người cung cấp hàng hoá, dịch vụ, không chi qua người được hưởng ngân sách, thực hiện “người được chi tiêu nhưng không được cầm tiền”, đảm bảo mọi khoản chi phải có chứng từ hợp lệ và được sự kiểm soát của cơ quan tài chính. Nghiêm túc thực hiện pháp lệnh thực hành tiết kiệm và chống lãng phí, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả kinh phí từ NSNN. Quyết định số 122/1999/QĐ-TTg ngày 10/5/1999 của Chính phủ về tiêu chuẩn định mức sử dụng xe ô tô trong cơ quan HCSN và DNNN. Chỉ thị số 32/1999/CT-TTg ngày 29/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về cải tiến nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả, triệt để thực hành tiết kiệm trong tổ chức các cuộc họp và hội nghị và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính. *Đối với các khoản kinh phí do NSTW uỷ quyền ( kể cả chi các chương trình mục tiêu) -Cần có sự phân giao cụ thể đối với nhiệm vụ chi của ngân sách TW uỷ quyền NSĐP cho phù hợp và sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý chuyên ngành với các cơ quan tài chính địa phương. Thống nhất giao nhiệm vụ chi kinh phí uỷ quyền NSTW qua Sở Tài chính Vật giá để gắn trách nhiệm cấp phát và quyết toán kinh phí uỷ quyền với ngân sách cấp trên. -Chỉ giao uỷ quyền đối với kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia (7 chương trình) trên địa bàn tỉnh, còn các chương trình khác nên cân đối cho ngân sách địa phương để chủ động bố trí điều hành ngân sách như chương trình nâng cấp trang thiết bị y tế, chương trình giáo dục, chương trình văn hoá, ...Cần phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để giải quyết dứt điểm theo từng chương trình. Thực hiện tiết kiệm, chống lãng phí trong chi ngân sách, kể cả chi thường xuyên, chi đầu tư xây dựng cơ bản và quản lý chặt chẽ tài sản công. Thường xuyên kiểm tra việc chi tiêu theo mục đích, nội dung công việc của các đơn vị thụ hưởng ngân sách để tránh tình trạng chi sai mục đích như cấp kinh phí để mua sắm tài sản lại dùng để đi thăm quan..., hay việc tự ý bố trí chi trước rồi mới dự toán kinh phí sau gây khó khăn trong công tác quản lý chi ngân sách. Đối với các khoản chi phát sinh ngoài dự toán cần phải được xem xét kỹ, nếu thấy cần thiết phải chi thì phải tính đến nguồn đảm bảo hoặc phải cắt giảm các khoản khác tương ứng, tránh tình trạng duyệt phát sinh tuỳ tiện không tính đến nguồn đảm bảo. 3.2.3.3- Đổi mới việc tổ chức huy động đa dạng các nguồn lực tài chính *Tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân cư, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế -Trong điều kiện đầu tư từ NSNN có hạn, việc thực hiện chính sách huy động các nguồn lực từ dân, từ các tổ chức xã hội, các tổ chức kinh tế góp phần vào sự nghiệp chung của đất nước là cần thiết, là đúng với tinh thần chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm. +Đối với các khoản huy động đóng góp của dân cư để xây dựng cơ sở hạ tầng của xã, thị trấn phải đảm bảo quy tắc dân chủ, tự nguyện, huy động phải phù hợp với khả năng đóng góp của nhân dân, quản lý và sử dụng có hiệu quả, minh bạch các khoản đóng góp đó. Trên cơ sở quy định chung của Bộ Tài chính, Tỉnh phải có văn bản hướng dẫn cụ thể về đối tượng huy động, mức đóng góp, phương thức tổ chức huy động, quản lý và sử dụng sao cho có hiệu quả. Thực hiện công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn thu từ các khoản đóng góp của nhân dân để nhân dân được biết, từ đó tạo được sự tin tưởng, ủng hộ của nhân dân hơn nữa. +Việc huy động sự đóng góp của các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và các cá nhân trong việc khuyến khích tạo lập các quỹ xã hội phải được công khai cho người đóng góp biết rõ mục đích huy động, mức đóng góp và việc sử dụng các nguồn huy động đó. *Huy động vốn đầu tư phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội Việc đa dạng hoá hình thức huy động nguồn lực tài chính từ xã hội đối với phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo, y tế, văn hoá, xã hội phải được tiến hành từng bước và có giải pháp phù hợp từng lĩnh vực. Về giáo dục tỉnh đã cho phép mở các trường bán công, dân lập nhưng nhà nước cần có quy chế hỗ trợ ban đầu về cơ sở vật chất , tạo điều kiện hoạt động cho các cơ sở này. Về y tế cần khuyến khích mở bệnh viện tư, dân lập, phát triển y tế cộng đồng, y tế cổ truyền... Nhà nước đổi mới chính sách viện phí, bảo hiểm y tế. Phân định rõ nhiệm vụ đảm bảo của ngân sách và nhiệm vụ đảm bảo từ các nguồn tài chính bảo hiểm y tế, viện phí, học phí... cho các đối tượng sử dụng. -Có chính sách đảm bảo cho vùng sâu, vùng xa, những người thuộc diện chính sách. Chính sách huy động phải chống bình quân chủ nghĩa, huy động theo sự phân tầng thu nhập trong xã hội, theo nguyên tắc người có thu nhập cao, người giàu phải đóng góp tương xứng khả năng và những dịch vụ công cộng được hưởng. + Đối với chi chương trình mục tiêu: Cần quản lý chặt chẽ các chương trình mục tiêu, tránh trùng lắp, đảm bảo tính hiệu quả, giảm bớt khó khăn trung gian, tránh lãng phí. Ngoài ra trên cơ sở các quy định của nhà nước, tỉnh nên cho phép mở rộng các quan hệ giao lưu với nước ngoài tạo nguồn vay ODA và các nguồn viện trợ không hoàn lại. Có chính sách động viên Việt kiều ở nước ngoài dưới các hình thức chuyển vốn về đầu tư liên doanh, hoặc nhận đỡ đầu học sinh, lập các tổ chức hoặc các quỹ từ thiện... 3.2.4 Tiếp tục đổi mới công tác quản lý ngân sách xã, phường, thị trấn Theo Luật NSNN, ngân sách xã là một cấp ngân sách tương ứng với cấp chính quyền cơ sở gần dân nhất. Mọi hoạt động thu chi NSNN phát sinh tại xã, cho đến nay vẫn chưa được phản ánh đầy đủ vào NSNN. Mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành chế độ kế toán ngân sách nhưng trong thực tế nhiều khoản thu chi không hạch toán vào sổ sách kế toán, theo dõi như một cuốn "sổ chợ". Cán bộ kế toán ngân sách xã yếu về trình độ, thường xuyên thay đổi qua mỗi kỳ bầu cử thực sự khó khăn để tiếp thu chế độ chính sách và thực hiện công tác kế toán NSX theo đúng Luật. Tỉnh Vĩnh phúc có 150 xã, phường, thị trấn trong đó có 39 xã miền núi. Nguồn thu tại xã rất nhỏ, không đáp ứng nhu cầu chi cho nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, hầu hết các xã đều phải nhận bổ sung từ ngân sách cấp trên. Do đó phải có sự quan tâm đúng mức của ngân sách cấp trên thông qua cơ chế, chính sách để phát triển kinh tế - xã hội, tạo nguồn vốn đầu tư, xây dựng nguồn thu lâu dài cho ngân sách xã. Phải căn cứ vào tình hình thực tế mà tổ chức các hình thức và biện pháp thu thích hợp, hiệu quả. Trong chi tiêu trước hết phải đảm bảo chi đúng chế độ, kịp thời các khoản lương và sinh hoạt phí của cán bộ xã, các khoản nghiệp vụ phí rồi mới mua sắm, sửa chữa... Chú trọng những biện pháp đầu tư phát triển nông nghiệp nông thôn mới như chi đầu tư kiên cố hoá kênh mương theo chủ trương của Chính phủ... Có thể đa dạng hoá nguồn lực tại chỗ bằng cách huy động ngày công, vật tư, kinh phí giao cho đội xây dựng của xã thực hiện. Như vậy vừa gắn quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong xã với công việc. Nhà nước cần ban hành định mức chi tiêu cho ngân sách cấp xã để đảm bảo thực hiện thống nhất trong cả nước tránh tình trạng chi tiêu tuỳ tiện như hiện nay. Theo báo cáo của các huyện, thị số nợ tồn đọng của ngân sách xã tính đến 31/12/1999 là 37.869 triệu đồng trong đó nợ XDCB là 26.605triệu đồng, nợ sinh hoạt phí là 3.984 triệu đồng. Đây là khoản công nợ chưa có nguồn để thanh toán, Sở Tài chính Vật giá và Kho bạc nhà nước tỉnh đã có văn bản hướng dẫn trước mắt cần khoanh nợ cũ lại, các xã chủ động lập phương án trả nợ bằng cách tăng thu hàng năm để trả nợ từng bước. Từ năm 2000 phải thực hiện chi trả lương cán bộ xã hàng tháng theo nghị quyết HĐND tỉnh. Thực hiện nghiêm túc công tác quản lý thu, chi ngân sách xã trực tiếp qua Kho bạc nhà nước theo Luật NSNN và quyết định 827 của Bộ Tài chính. Tóm lại: Đổi mới công tác quản lý ngân sách xã phải từ ngay nhận thức của cán bộ chính quyền cấp xã trong việc quản lý và điều hành ngân sách xã. Phải tôn trọng dự toán được phê chuẩn, mọi khoản chi phải đảm bảo đủ điều kiện chi theo quy định. Phải tổ chức thực hiện công khai dự toán ngân sách, công khai các khoản chi tiêu và quyết toán ngân sách xã để tăng cường vai trò kiểm tra giám sát của HĐND xã, các tổ chức đoàn thể và nhân dân trong xã, đảm bảo quản lý, sử dụng ngân sách xã chặt chẽ, hiệu quả. Thực hiện tốt công tác kế toán NSX theo thông tư 01 của Bộ Tài chính, chấp hành đúng, đủ chế độ kế toán, chứng từ, sổ sách, báo cáo kế toán để có thể phản ảnh một cách đầy đủ, liên tục, chính xác mọi hoạt động thu chi ngân sách xã giúp lãnh đạo xã có thông tin đầy đủ trong quản lý điều hành ngân sách giúp cho các cấp, ngành có cơ sở đáng tin cậy trong việc nghiên cứu định ra chính sách phù hợp đối với NSX. Trong phân cấp ngân sách: Đối với các khoản thu theo tỷ lệ % giữa NSX, huyện và NS tỉnh nhất là các khoản thu được dùng để bố trí chi XDCB theo nguồn hình thành như thu cấp quyền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền sử dụng đất nông nghiệp, mở rộng hơn nữa tỷ lệ đối với NSX để tăng cường trách nhiệm thu và chủ động điều hành đối với NSX. 3.2.5-Đổi mới bộ máy quản lý NSNN đi đôi với nâng cao năng lực trình độ cán bộ quản lý NSNN 3.2.5.1- Tiếp tục đổi mới bộ máy quản lý NSNN - Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy quản lý NSNN ở các cơ quan tài chính, kho bạc nhà nước và kế toán các đơn vị dự toán các cấp theo hướng gọn nhẹ, có hiệu lực và hiệu quả, tạo ra mối quan hệ ăn khớp giữa các cơ quan này, bảo đảm NSNN thực sự là một công cụ quan trọng của nhà nước trong quản lý vĩ mô nền kinh tế. - Bộ máy quản lý NSNN vừa là chuyên ngành và đa ngành, một mặt cần quy định trách nhiệm, quyền hạn trong hệ thống dọc cơ cấu bộ máy; mặt khác cần quy định quan hệ phối hợp trong quan hệ ngang với mục tiêu chung là quản lý có hiệu quả NSNN. Đổi mới các thủ tục trên cơ sở đổi mới chế độ làm việc bao gồm quy chế, phong cách và phương pháp làm việc, quan trọng nhất là gắn quyền hạn với trách nhiệm của mọi tổ chức và cá nhân trong việc ra quyết định và điều hành công việc, nâng cao chất lượng và hiệu quả của các quyết định quản lý. Đồng thời, xây dựng, bố trí đội ngũ viên chức nhà nước có phẩm chất, năng lực và tinh thần trách nhiệm, kiên quyết chống tham nhũng và loại trừ các phần tử thoái hoá biến chất ra khỏi bộ máy quản lý NSNN. -Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết cho bộ máy quản lý NSNN hoạt động. Tỉnh cần trang bị đồng bộ thiết bị tin học đối với bộ máy quản lý NSNN các cấp và các đơn vị thụ hưởng NS để thực hiện tin học hoá trong quản lý hệ thống NSNN, đảm bảo hệ thống thông tin nhanh nhạy, kịp thời, hệ thống dữ liệu đầy đủ, đáng tin cậy làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và các quyết định về xử lý và điều hành một cách đúng đắn và thông suốt. Đó cũng là điều kiện để hợp lý hoá các khâu, giảm bớt các thủ tục phiền hà trong quản lý. 3.2.5.2- Nâng cao năng lực trình độ của các cán bộ quản lý NSNN Về công tác cán bộ, Báo cáo chính trị tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII có ghi: “Cán bộ lãnh đạo và quản lý phải có tri thức được đào tạo có hệ thống và trải qua rèn luyện trong thực tiễn, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết nội bộ, có năng lực tổ chức quản lý, điều hành” và “Tiến tới xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức nhà nước có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng nghề nghiệp cao, có ý thức giác ngộ chính trị, tinh thần trách nhiệm, tận tâm với công việc được giao”. Một người cán bộ muốn hoàn thành tốt công việc được Đảng và nhân dân giao phó phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề nghiệp, trung thực và hiểu biết về công tác được giao và phải có sức khoẻ tốt. Đó cũng chính là tiêu chuẩn tối thiểu của người cán bộ nói chung. Đối với cán bộ quản lý tài chính ngân sách – là người chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện đường lối chính sách của Đảng và nhà nước trong ngành và của địa phương mình thì những tiêu chuẩn đó càng phải được chú trọng, nâng lên thành bản lĩnh của mình. Nghĩa là: -Về phẩm chất đạo đức: +Lập trường tư tưởng chính trị vững vàng, luôn quán triệt và chấp hành tốt mọi chủ trương đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước. +Cán bộ quản lý NSNN phải là người trung thực với chính bản thân mình và với cấp trên. Có như vậy mới hạn chế được tệ tham nhũng tiền của nhà nước. +Có tinh thần trách nhiệm trong công việc được giao từ khâu lập dự toán ngân sách đến chấp hành ngân sách và quyết toán NSNN. +Có lối sống giản dị, trong sáng, lành mạnh. -Về năng lực chuyên môn: +Phải hiểu biết sâu sắc công việc quản lý tài chính ngân sách, nắm vững trình độ chuyên môn của cán bộ dưới quyền; biết sử dụng và tập hợp các chuyên gia giỏi, có kiến thức về kinh tế thị trường và kiến thức chuyên ngành khác có liên quan. Thường xuyên nghiên cứu học tập để bổ sung những kiến thức mới trong lĩnh vục tài chính ngân sách. Phải biết và sử dụng được một ngoại ngữ thông dụng vì đó là phương tiện làm giàu tiềm năng tri thức và là điều kiện để tiếp thu áp dụng những kinh nghiệm tiên tiến về quản lý tài chính ngân sách trên thế giới nhằm phát triển và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế về tài chính ngân sách. +Có tinh thần phối hợp nhiệm vụ với các ngành có liên quan để hoàn thành tốt hơn nhiệm vụ được giao. +Có năng lực tổ chức triển khai công việc: Biết và hiểu công việc một cách thấu đáo, phân giao nhiệm vụ một cách khoa học, sử dụng đúng người, đúng việc, xây dựng mối quan hệ đúng đắn trong nội bộ, gương mẫu tôn trọng và giữ nghiêm kỷ luật. Xuất phát từ tiêu chuẩn trên đòi hỏi việc lựa chọn và đào tạo đội ngũ cán bộ ngành tài chính nói chung và quản lý ngân sách nói riêng phải: -Đủ trình độ, chuyên môn hoá theo ngành nghề, bám sát đặc điểm ngành nghề đồng thời có quan điểm toàn diện. Tạo điều kiện môi trường, hành lang hấp dẫn cho việc chuyên môn hoá cán bộ, tích tụ kinh nghiệm lâu dài từ thực tiễn. -Nâng cao trình độ tổng hợp toàn diện của người cán bộ tài chính, rèn luyện phẩm chất chính trị, bản lĩnh đấu tranh cách mạng, nhiệt tình đi sâu công việc, dám đấu tranh giữ vững chính sách và cơ chế quản lý tài chính, bảo đảm cho thể chế tài chính của nhà nước được chấp hành nghiêm túc. -Xây dựng đội ngũ cán bộ tài chính có năng lực, phẩm chất, đạo đức lối sống lành mạnh, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không vướng vào tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, có ý thức tổ chức kỷ luật, gần gũi quần chúng. -Đào tạo gắn với tiêu chuẩn hoá từng chức danh viên chức ngành tài chính và yêu cầu sử dụng cán bộ. -Đầu tư thích đáng cho việc đào tạo cán bộ tài chính - kế toán trong toàn ngành. Đó là khâu quyết định việc quán triệt và thực hiện có kết quả đường lối chủ trương chính sách cuả Đảng và nhà nước. KIẾN NGHỊ VÀ KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ Để thực hiện tốt các giải pháp trên chúng tôi kiến nghị: *Đối với Trung ương -Cần phân cấp mạnh mẽ hơn nữa cho địa phương để nâng cao tính chủ động sáng tạo của địa phương, cụ thể: +Quốc hội chỉ quyết định ngân sách Trung ương. HĐND quyết định dự toán ngân sách cấp mình. Đảm bảo độc lập hơn cho các cấp chính quyền địa phương. +Trường hợp Quốc hội vẫn quyết định NSNN thì chỉ thực hiện ở năm đầu thời kỳ ổn định, các năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định Trung Ương không giao dự toán thu chi cho địa phương mà chỉ tổng hợp ngân sách địa phương đã được HĐND quyết định báo cáo Quốc hội. +Mở rộng tỷ lệ điều tiết đối với các khoản thu phân chia giữa các cấp ngân sách và ổn định trong 5 năm để phù hợp với kế hoạch trung hạn phát triển kinh tế xã hội. -Giao việc phân định nguồn thu và nhiệm vụ chi cho các cấp chính quyền địa phương cho tỉnh quyết định. Mở rộng hơn nữa tỷ lệ điều tiết một số khoản thu cho ngân sách cấp dưới để tạo điều kiện cho chính quyền cấp dưới chủ động khai thác nguồn thu và bố trí chi. -Đối với ngân sách cấp xã cần phân loại xã để xây dựng mô hình tổ chức quản lý ngân sách xã cho phù hợp. Đối với những xã có điều kiện về nguồn thu và trình độ cán bộ quản lý tốt nên phân cấp cụ thể, còn đối với những xã nghèo nhất là các xã miền núi, điều kiện giao dịch với Kho bạc nhà nước khó khăn, trình độ cán bộ hạn chế nên chuyển thành đơn vị dự toán của ngân sách huyện để vừa đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chi tại xã vừa đảm bảo yêu cầu quản lý. *Đối với Tỉnh -Xây dựng cơ chế phân cấp quản lý điều hành ngân sách ổn định trong khoảng thời gian 5 năm. Mạnh dạn phân cấp các nguồn thu và tỷ lệ phân chia cao hơn đối với ngân sách cấp dưới nhằm khuyến khích tính năng động sáng tạo của cơ quan cấp dưới trong việc bồi dưỡng, khai thác nguồn thu để tăng thu cho NSNN. Đồng thời căn cứ vào điều kiện cụ thể của từng địa phương để phân cấp cho phù hợp. -Thực hiện thí điểm cơ chế khoán chi thường xuyên đối với một số đơn vị HCSN đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý tài chính, trên cơ sở xác định biên chế đầy đủ để hoàn thành tốt nhiệm vụ chuyên môn, có tính đến yếu tố đặc thù của đơn vị hoặc ngành. Khoán chi phải đảm bảo các nguyên tắc sau: +Đơn vị được khoán chi phải hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao. +Kinh phí khoán chi cho đơn vị là trọn gói, không bổ sung (trừ trường hợp bất khả kháng). Đơn vị chủ động bố trí và thực hiện dự toán chi theo đúng quy định của Luật NSNN và tự chịu trách nhiệm trong việc điều hành chi. Kinh phí tiết kiệm được hoặc không chi hết được phép thành lập quỹ phúc lợi của đơn vị. +Dự toán giao chi thường xuyên hàng năm được tính trên cơ sở biên chế đầy đủ theo yêu cầu nhiệm vụ nhân với định mức tính trên đầu biên chế/năm (không tính chi mua sắm tài sản cố định, xây dựng mới). +Đơn vị được khoán chi có thể xây dựng khoán trực tiếp tới từng biên chế trong đơn vị với mức chi cho từng cán bộ, công chức nhưng phải được hội nghị toàn thể cán bộ, công chức tham gia và cụ thể hoá thành nghị quyết. -Tăng cường công tác kiểm tra phát hiện những sai sót trong qúa trình quản lý NSNN, lắng nghe ý kiến của các đơn vị cơ sở để từ đó có những kiến nghị, đề xuất nhằm quản lý ngày càng hiệu quả nguồn vốn NSNN. KẾT LUẬN Từ những nội dung được nghiên cứu trong luận án, có thể rút ra những kết luận sau: 1-Ngân sách nhà nước có vị trí đặc biệt quan trọng đối với nền tài chính quốc gia nhất là trong điều kiện hiện nay, nước ta đang trong tiến trình hội nhập quốc tế và các nước trong khu vực. Sự ổn định vững chắc của NSNN quyết định sự phát triển nền kinh tế - xã hội, công bằng xã hội và có tính chất điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế. Chính vì vậy quản lý NSNN luôn là vấn đề cần được coi trọng và ngày càng được hoàn thiện nhằm sử dụng nguồn vốn NSNN một cách tiết kiệm, hiệu quả để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước tiến tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh". 2-Quản lý ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc đã đạt được những kết quả nhất định. Là một trong những tỉnh mới tái lập có tốc độ đầu tư phát triển cao so với các tỉnh bạn, kinh tế xã hội phát triển, thu nhập và đời sống dân cư được nâng cao, bộ mặt nông thôn Vĩnh Phúc đang được đổi mới. Song vẫn còn những tồn tại cần phải khắc phục và thực hiện tốt hơn nữa trong công tác quản lý NSNN theo hướng vừa phát huy tính năng động sáng tạo của chính quyền địa phương, vừa bảo đảm những nguyên tắc cơ bản của quản lý NSNN. 3-Những phương hướng, giải pháp và những kiến nghị tiếp tục đổi mới quản lý NSNN trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc là một hệ thống giải pháp từ khâu xây dựng dự toán NSNN đến quyết toán NSNN trên cơ sở xác định mục tiêu, yêu cầu đạt được. Các biện pháp cụ thể trong công tác quản lý thu, chi NSNN nhằm tổ chức huy động các nguồn thu và bố trí chi hiệu quả và nâng cao hơn nữa trình độ, năng lực quản lý của cán bộ quản lý NSNN. Những định hướng và giải pháp trình bày trong luận án vừa tuân thủ những yêu cầu chung cho cả nước, nhưng khi áp dụng ở Vĩnh Phúc cần được vận dụng cụ thể cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương. Đề tài đổi mới quản lý NSNN là một đề tài có phạm vi nghiên cứu rộng và phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn tổ chức NSNN, nâng cao năng lực bộ máy quản lý NSNN, bảo đảm dân chủ, công khai trong hoạt động quản lý tài chính. Chúng tôi rất mong sẽ nhận được nhiều ý kiến đóng góp từ các nhà khoa học và quản lý quan tâm đến đề tài./. DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1-Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XII. 2-Báo cáo quyết toán thu, chi NSNN năm 1997, 1998, Sở Tài chính Vật giá Vĩnh Phúc. 3-Báo cáo quyết toán chi các chương trình mục tiêu năm 1997, 1998, Sở Tài chính Vật giá Vĩnh Phúc. 4-Báo cáo tình hình thực hiện thu- chi ngân sách từ năm 1997-1999, Sở Tài chính Vật giá Vĩnh Phúc. 5-Các công cụ tài chính trong kinh tế thị trường. Viện khoa học tài chính - Bộ Tài chính, NXB thông tin chuyên đề; 1993. 6-Các văn bản pháp luật về thuế. Tổng cục thuế. Nhà in tài chính; 1993. 7-Các văn bản pháp luật hiện hành về phí và lệ phí. NXB Thành phố Hồ Chí Minh; 1993. 8-Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. NXB Sự thật, Hà Nội, 1991. 9-Chỉ thị của Thủ tướng chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội và dự toán NSNN năm 2000. 10-Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp nông thôn. NXBNN; 1993. 11-Đánh giá quá trình ngân sách địa phương và các kiến nghị cải tiến. Viện khoa học tài chính. Bộ Tài chính; 1995. 12-Đổi mới chính sách và cơ chế quản lý tài chính. Viện khoa học tài chính. NXB chính trị quốc gia. 1993; 13-Đổi mới quản lý vốn đầu tư. Viên khoa học tài chính - Vụ đầu tư XDCB Bộ Tài chính. NXB thông tin. 14-Giáo trình kinh tế chính trị, chương trình cao cấp. NXB Tư tưởng văn hoá, Hà nội 1992. 15-Giáo trình tài chính học. NXB tài chính. Hà nội 1998. 16-Frederic. S. Mishkin: Tiền tệ, Ngân hàng, thị trường tài chính. NXB khoa học kỹ thuật; 1994. 17- Luật NSNN. NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998. 18-Hiến pháp Nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 1992. 19-Hệ thống hoá văn bản pháp luật về quản lý kinh tế - các văn bản về tài chính; 1996. 20-Hệ thống hoá các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế - các văn bản về tài chính; 1997. 21-Hệ thống văn bản pháp luật về đất đai nhà ở và thuế nhà đất. NXB chính trị quốc gia; 1995. 22-Lịch sử tài chính Việt Nam. Viện khoa học tài chính - Bộ Tài chính. NXB chính trị quốc gia; 1993. 23-Luật NSNN. NXB chính trị quốc gia; 1996. 24-Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân. 25- Mấy vấn đề về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn trong tình hình hiện nay - Bùi Nghĩa 26-Nghị quyết của Bộ chính trị về một số chuyên đề phát triển nông nghiệp và nông thôn. NXB chính trị quốc gia. 27-Nguyễn Công Nghiệp - Tào Hữu Phùng: Đổi mới ngân sách Nhà nước. NXB thống kê, Hà Nội, 28-Nguyễn Công nghiệp: Thực trạng và xu hướng cải cách ngân sách Nhà nước và ngân sách địa phương ở các nước tư bản phát triển; 1991. 29-Niên giám thống kê tỉnh Vĩnh phúc 1997, 1998. 30-Phân cấp quản lý ngân sách. Viện KHTC - Bộ Tài chính 1994. 31-GS - TS Tào Hữu Phùng; PTS Nguyễn Đình Tỳ: Cơ chế mới và chế độ quản lý ngân sách. NXB Thống kê, Hà nội; 1993. 32-Tài chính trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Viện nghiên cứu tài chính - Bộ Tài chính - Thông tin chuyên đề 1996. 33-Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính phục vụ mục tiêu tăng trưởng - Viện nghiên cứu tài chính, NXB Bộ Tài chính; 1992. 34-Văn bản hướng dẫn thực hiện Luật NSNN. NXB Bộ Tài chính, 1997. 35-Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII.NXB chính trị quốc gia - 1996. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS0097.DOC
  • docBIA.DOC
Tài liệu liên quan