Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội

1 Bộ giáo dục và đào tạo Tr−ờng đại học nông nghiệp I -------------------------------------- đào duy minh Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn hà nội Luận văn Thạc sỹ kinh tế Chuyên ngành : Kinh tế Nông nghiệp M∙ số : 5.02.01 Ng−ời h−ớng dẫn khoa học: TS. Quyền đình hà - Hà nội 2005 - 2 Lời cam đoan Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong l

pdf119 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1280 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phẩn và giải pháp hỗ trợ các công ty cổ phần thuộc sở nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
uận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào. Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đ−ợc cám ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc. Tác giả luận văn Đào Duy Minh 3 Lời cám ơn Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ về mặt chuyên môn của tập thể Thầy- Cô giáo Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Tr−ờng Đại học Nông nghiệp I. Tôi xin đ−ợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Tiến sỹ Quyền Đình Hà, ng−ời trực tiếp h−ớng tôi hoàn thành luận văn. Xin đ−ợc trân trọng cảm ơn đến các Phòng (Ban) chức năng thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội; các Đơn vị thành viên thuộc Sở; bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ cũng nh− hỗ trợ, tạo điều kiện để tôi thực hiện luận văn này. Hà nội, ngày tháng năm 2005 Ng−ời thực hiện Đào Duy Minh 4 Mục lục Trang Lời cam đoan i Lời cám ơn ii Mục lục iii Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu vi Danh mục các bảng vii Danh mục các sơ đồ viii 1. Mở đầu 1 1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 3 1.3. Đối t−ợng nghiên cứu 4 1.4. Phạm vi nghiên cứu 4 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ DOANH NGHIệP nhà n−ớc sau cổ phần hoá 6 2.1. Cơ sở khoa học định h−ớng cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà n−ớc 2.1.1. Công ty cổ phần và sự cần thiết phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc 6 2.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà n−ớc về cổ phần hoá 22 2.1.3. Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá 24 2.2. Thực trạng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc 25 2.2.1. Tình hình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc trên thế giới 25 2.2.2. Tình hình thực hiện cổ phần hoá tại Việt Nam trong thời gian qua 33 2.2.3. Các công trình nghiên cứu có liên quan 44 3. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và ph−ơng pháp nghiên cứu 46 3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 46 5 3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội Thành phố Hà Nội 46 3.1.2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội 47 3.2. Ph−ơng pháp nghiên cứu 50 3.2.1. Ph−ơng pháp chọn địa bàn nghiên cứu 50 3.2.2. Ph−ơng pháp chọn đối t−ợng nghiên cứu 51 3.2.3. Ph−ơng pháp điều tra thu thập số liệu 51 3.2.4. Ph−ơng pháp tổng hợp xử lý số liệu 52 3.2.5. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 53 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1. Tình hình thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội trong thời gian qua 54 4.1.1. Thực trạng doanh nghiệp nhà n−ớc khi cổ phần hoá 54 4.1.2. Tình hình thực hiện cổ phần hoá 56 4.2. Tình hình sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp sau cổ phần hoá 57 4.2.1. Tình hình sản xuất kinh doanh qua khảo sát một số công ty cổ phần 57 4.2.2. Những vấn đề nảy sinh sau cổ phần hoá 70 4.3. Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá 80 4.3.1. Sự cần thiết phải có các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá 80 4.3.2. Một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá 84 5. Kết luận và kiến nghị 99 Danh mục tài liệu tham khảo 102 6 Danh mục chữ viết tắt AFTA Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam á- ASEAN Free Trade Area APEC Diễn đàn hợp tác Châu á- Thái Bình D−ơng- ASIA Paciffic Economic Forum ASEAN Hiệp hội các n−ớc Đông Nam á- Association of South- East ASIA Nations CNXH Chủ nghĩa xã hội CPH Cổ phần hoá DN Doanh nghiệp DNNN Doanh nghiệp nhà n−ớc TBCN T− bản chủ nghĩa UBND Uỷ ban nhân dân USD Đồng đôla Mỹ- United State Dollar XHCN Xã hội chủ nghĩa WTO Tổ chức th−ơng mại thế giới- World Trade Organization 7 Danh mục bảng sử dụng trong đề tài Bảng Tên bảng Trang 2.1. Quy mô doanh nghiệp nhà n−ớc đ−ợc sắp xếp lại qua các năm 36 2.2. Doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc diện sắp xếp lại 36 2.3. Một số chỉ tiêu tài chính công ty cổ phần hoạt động từ 1 năm trở lên 41 3.1. Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong đề tài 53 4.1. Tình hình sản xuất kinh doanh các đơn vị thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội 55 4.2. Tình hình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến hết 31/12/2004 57 4.3. Tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty tr−ớc khi cổ phần 59 4.4. Số vòng quay của vốn 60 4.5. Tình hình sử dụng vốn kinh doanh của Công ty Phúc Thịnh tr−ớc khi cổ phần hoá. 61 4.6. Kết qủa sản xuất kinh doanh sau cổ phần hoá tại Công ty cổ phần Phúc Thịnh 63 4.7. Tình hình sản xuất kinh doanh Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch 65 4.8. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công ty Cổ phần dịch vụ Trúc Bạch. 67 4.9. Một số chỉ tiêu sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần hoá Công ty Cổ phần dịch vụ Hồ Tây. 69 8 Danh mục sơ đồ sử dụng trong đề tài Sơ đồ Tên sơ đồ Trang 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần 13 2.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần 17 4.1. Tổ chức bộ máy quản lý sản xuất kinh doanh của công ty Phúc Thịnh tr−ớc khi cổ phần hoá 58 4.2. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Công ty cổ phần Phúc Thịnh 62 9 1. Mở đầu 1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Từ năm 1991, Đảng và Nhà n−ớc ta đã thực hiện nhiều chủ tr−ơng, biện pháp tích cực nhằm đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà n−ớc. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới cũng nh− trong khu vực đang diễn ra cạnh tranh quyết liệt và nền kinh tế n−ớc ta còn nhiều khó khăn, doanh nghiệp nhà n−ớc đã v−ợt lên nhiều thử thách, đứng vững và không ngừng phát triển, các doanh nghiệp đã đóng góp đáng kể cho ngân sách nhà n−ớc, bảo đảm việc làm cho nhiều lao động. Các doanh nghiệp đã đảm trách những ngành kinh tế x−ơng sống, mũi nhọn, có vốn đầu t− cao nh− xi măng, dầu khí, hàng không, thông tin, nông nghiệp,… góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội và có vai trò quyết định vào thành tựu to lớn của sự nghiệp đổi mới và phát triển chung của đất n−ớc. Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức sản xuất tiến bộ trong nền kinh tế thị tr−ờng. ở nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, việc sắp xếp chuyển đổi một số doanh nghiệp nhà n−ớc thành công ty cổ phần, tiến lên hình thành các tập đoàn công ty đa quốc gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị tr−ờng trong n−ớc và v−ơn ra thị tr−ờng quốc tế là con đ−ờng hữu hiệu để đổi mới khu vực kinh tế nhà n−ớc. ở n−ớc ta, cổ phần hoá là một chủ tr−ơng lớn của Đảng và Nhà n−ớc, một bộ phận cấu thành quan trọng của quá trình cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc. Thực tiễn hơn m−ời năm thực hiện chủ tr−ơng cổ phần hoá ở Việt Nam đã khẳng định rằng, cổ phần hoá là quá trình đa dạng hoá chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà n−ớc nhằm thu hút các nguồn vốn và kinh nghiệm tổ chức 10 sản xuất, kinh doanh từ các nhà đầu t− và ng−ời lao động, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ quả lý và phân phối sản phẩm, tạo động lực mới, phát huy quyền tự chủ kinh doanh, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế. Cổ phần hoá n−ớc ta không phải là t− nhân hoá, không biến các công ty cổ phần thành công ty của số ít các cổ đông hay của một số các cá nhân mà làm cho đông đảo những ng−ời lao động đều có cổ phần, trở thành những ng−ời chủ thực sự của công ty. Cổ phần hoá cũng không phải làm suy yếu nền kinh tế nhà n−ớc, mà chính là một giải pháp quan trọng để nền kinh tế nhà n−ớc mạnh lên, phát huy vai trò chủ đạo thực sự của nó trong nền kinh tế thị tr−ờng định h−ớng xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban chấp hành Trung Ương khoá IX (8-2001) chỉ rõ: “Mục tiêu cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc là nhằm tạo ra loại hình doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, trong đó có đông đảo ng−ời lao động, để sử dụng có hiệu quả vốn, tài sản của nhà n−ớc và huy động thêm vốn xã hội vào phát triển sản xuất kinh doanh, tạo động lực mạnh mẽ và phát triển năng động, có hiệu quả cho doanh nghiệp nhà n−ớc; phát huy vai trò làm chủ thực sự của ng−ời lao động, của cổ đông và tăng c−ờng giám sát của xã hội đối với doanh nghiệp, đảm bảo hài hoà lợi ích của nhà n−ớc, doanh nghiệp và ng−ời lao động. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc không đ−ợc biến thành t− nhân hoá doanh nghiệp nhà n−ớc” [28]. Kết quả đạt đ−ợc trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở n−ớc ta về cơ bản là tích cực. Qua đó, giảm bớt số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả; hình thành đ−ợc nhiều doanh nghiệp có nhiều hình thức sở hữu; huy động thêm nguồn vốn của xã hội vào sản xuất- kinh doanh. Đến nay đã có trên 3.400 doanh nghiệp đ−ợc sắp xếp lại, trong đó có trên 2.500 doanh nghiệp nhà n−ớc đ−ợc cổ phần hoá, chiếm 67% tổng số doanh nghiệp nhà n−ớc [2]. 11 Tuy nhiên, trong thời gian qua, bên cạnh những thành tích đạt đ−ợc rất khích lệ, ch−ơng trình cổ phần hoá so với yêu cầu và kế hoạch đề ra, diễn ra còn chậm. Khu vực doanh nghiệp nhà n−ớc còn những tồn tại, yếu kém nh− hoạt động kém hiệu quả, khả năng cạnh tranh thấp, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý của cán bộ, trình độ tay nghề của ng−ời lao động trong doanh nghiệp nhà n−ớc còn thấp. Quá trình triển khai thực hiện đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp nhà n−ớc còn gặp nhiều khó khăn, v−ớng mắc, nhất là trong cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, việc sắp xếp lại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc đã trở thành xu h−ớng tất yếu trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà n−ớc. Những năm qua, thực hiện chủ tr−ơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc, nhiều Bộ, Ngành, địa ph−ơng đã chú trọng đến công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc. Một số lớn doanh nghiệp cổ phần đi vào hoạt động mang lại hiệu quả kinh tế cao, tháo gỡ đ−ợc các v−ớng mắc tr−ớc cổ phần. Tuy nhiên, các công ty cổ phần cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tiếp cận với môi tr−ờng làm việc mới trong khi những ý thức hệ trong kinh doanh vẫn còn nặng tính bao cấp ỷ lại. Đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong ngành nông nghiệp. Nhằm tháo gỡ sự bức xúc đó, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh sau khi cổ phần và giải pháp hỗ trợ công ty cổ phần thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà nội” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ. 1.2. Mục tiêu nghiên cứu 1.2.1. Mục tiêu chung Nghiên cứu các giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội. 12 1.2.2. Mục tiêu cụ thể (1) Góp phần hệ thống hoá những lý luận và thực tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá. (2) Đánh giá thực trạng doanh nghiệp nhà n−ớc thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội sau khi cổ phần hoá, các yếu tố tác động, các nguyên nhân ảnh h−ởng phát triển doanh nghiệp sau cổ phần hoá. (4) Đề xuất một số giải pháp góp phần hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội. 1.3. Đối t−ợng nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận và giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội. 1.4. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 1.4.1. Phạm vi về nội dung Nội dung cơ bản của cổ phần hoá đ−ợc nghiên cứu thông qua phần kinh nghiệm cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở trong n−ớc và một số quốc gia trong khu vực. Điều đó cho phép vừa làm rõ đ−ợc nội dung cổ phần hoá vừa học hỏi kinh nghiệm từ các khu vực và các n−ớc, vừa tránh trùng lặp nội dung trong trình bày đề tài. 1.4.2. Phạm vi về không gian 13 Đề tài tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp nhà n−ớc trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội trên địa bàn thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, do thời gian có hạn tôi chỉ tập trung nghiên cứu chọn ba đơn vị mang tính đại diện nhất cho các doanh nghiệp nông nghiệp nhà n−ớc của Hà Nội đã thực hiện cổ phần hoá. 1.4.3. Phạm vi về thời gian (1) Thời gian nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng công tác cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc bắt đầu từ khi có chủ tr−ơng của nhà n−ớc đến nay. (2) Thời gian thực hiện đề tài: Đề tài đ−ợc thực hiện từ tháng 12/2004 đến tháng 12/2005. 14 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá 2.1. Cơ sở khoa học định h−ớng cho quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà n−ớc 2.1.1. Công ty cổ phần và sự cần thiết phải cổ phần hoá DNNN 2.1.1.1. Công ty cổ phần a. Lịch sử hình thành phát triển công ty cổ phần Để hiểu đ−ợc lịch sử hình thành và phát triển hình thái Công ty cổ phần, chúng ta sẽ bắt đầu từ việc xem xét hình thái sơ khai của nó là doanh nghiệp có một chủ sở hữu t− nhân độc lập và theo dõi sự vận động của nó trong sự phát triển của nền kinh tế thị tr−ờng. Dựa trên tiêu thức về sở hữu, chúng ta có thể chia ra ba hình thái phát triển doanh nghiệp chủ yếu, mặc dù biểu hiện trung gian của chúng là hết sức linh hoạt và đa dạng [14]. (1) Hình thái kinh doanh một chủ Hình thái kinh doanh một chủ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp, trong đó sở hữu của ng−ời chủ t− nhân đ−ợc duy trì và phát triển bằng lao động của bản thân hoặc thuê m−ớn với vốn liếng sẵn có và tự tính toán của doanh nghiệp trên những đòi hỏi của thị tr−ờng. Đây là hình thái phổ biến thống trị trong nền sản xuất nhỏ và trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa t− bản cạnh tranh tự do. Hình thái kinh doanh này bao gồm hai loại hình chủ yếu: Kinh doanh theo ph−ơng thức sản xuất hàng hoá nhỏ và kinh doanh theo ph−ơng thức t− bản chủ nghĩa. Giữa chúng tuy có sự khác nhau về đặc 15 điểm và mục đích kinh doanh, nh−ng lại là sự kế tiếp khách quan, tất yếu của cùng một quá trình phát triển dựa trên sở hữu t− nhân. Trong bộ “T− bản”, Mác đã trình bày và lý giải sự ra đời và phát triển của ph−ơng thức kinh doanh t− bản chủ nghĩa, kế thừa hay thay thế ph−ơng thức kinh doanh của những ng−ời sản xuất nhỏ nh− thế nào. Trong phạm vi nghiên cứu, chúng ta chỉ đề cập hết sức cô đọng sự phát triển hình thái kinh doanh này [14],[31]. Quá trình xã hội hoá sở hữu t− nhân nhờ hai tác nhân chủ yếu là trao đổi và tín dụng thì về mặt lịch sử trong quá trình chuyển hoá ấy phải kể đến hai yếu tố hết sức quan trọng, có tác dụng phân giải nền kinh tế của những ng−ời sản xuất nhỏ và thúc đẩy quá trình hình thành nền kinh tế thị tr−ờng t− bản chủ nghĩa, đó là t− bản th−ơng nghiệp và t− bản cho vay nặng lãi. Trong quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá, với sự trợ giúp của t− bản th−ơng nghiệp và t− bản cho vay nặng lãi, dựa trên chế độ tín dụng đang ngày càng phổ biến, hình thái kinh doanh một chủ đã có sự chuyển biến về chất từ ph−ơng thức kinh doanh xé lẻ ruộng đất và phân tán những t− liệu sản xuất của những ng−ời t− bản nhỏ sang ph−ơng thức kinh doanh theo lối t− bản chủ nghĩa bằng quá trình tích tụ, tập trung ruộng đất và t− liệu sản xuất vào tay một số ít ng−ời. Chế độ t− hữu có đ−ợc nhờ lao động của bản thân, gắn chặt ng−ời lao động cá thể độc lập với những điều kiện lao động của ng−ời đó đã dần dần bị thay thế bằng chế độ t− hữu t− bản chủ nghĩa dựa trên lao động làm thuê. Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng phát triển theo những quy luật kinh tế nội tại của nền sản xuất t− bản chủ nghĩa thì quy mô tích tụ và tập trung t− bản ngày càng lớn. Với mục đích kinh doanh là thu đ−ợc lợi nhuận ngày càng cao và bị chi phối bởi hai cực cạnh tranh và độc quyền, 16 quá trình trên đã làm cho các t− bản nhỏ lần l−ợt bị t− bản đánh bại và bị thu hút vào tay những kẻ chiến thắng. Mác viết: “ở nơi này, t− bản có thể lớn lên tới quy mô khổng lồ ở trong tay một ng−ời là vì ở nơi khác, nó đã rơi khỏi tay của nhiều ng−ời riêng biệt”[28]. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hoá, thị tr−ờng thế giới ngày càng lớn, các nhà t− bản cá biệt không thể tự mình đáp ứng đ−ợc nữa. Do đó, để có thể đứng vững trong cạnh tranh và đáp ứng đ−ợc nhu cầu của thị tr−ờng, các hình thức kinh doanh chung vốn lần l−ợt ra đời và phát triển. Hình thái kinh doanh một chủ ngày càng rút khỏi những ngành chủ yếu và lùi dần về những ngành công nghiệp có cấu tạo hữu cơ thấp, các ngành nông nghiệp, dịch vụ buôn bán lẻ, cần ít vốn đầu t− và thu hồi vốn nhanh. (2) Hình thái kinh doanh chung vốn Việc hình thành các loại hình kinh doanh chung vốn, xét về mặt lịch sử, đó là b−ớc tiến hoá trong chế độ tín dụng từ ph−ơng thức kinh doanh chủ yếu dựa vào vay m−ợn sang ph−ơng thức kinh doanh chủ yếu dựa vào góp vốn. Vì vậy, xét về mặt sở hữu, hình thái Công ty chung vốn là điểm xuất phát của hình thái Công ty cổ phần với t− cách là sự chung vốn của nhiều ng−ời cùng tham gia kinh doanh, cùng chia sẻ lợi nhuận và rủi ro theo tỷ lệ vốn góp. Trên thực tế, có rất nhiều hình thức và mức độ chung vốn để kinh doanh trong th−ơng nghiệp và sản xuất công nghiệp theo công việc hoặc giai đoạn nhất định. Chúng ta chỉ xem xét hình thái kinh doanh chung vốn chủ yếu nh− một giai đoạn quá độ để hình thành Công ty cổ phần. Trong lịch sử, hình thái kinh doanh này có hai loại hình, đó là: Hợp tác xã và Công ty chung vốn. 17 Hợp tác xã, hình thái kinh doanh của những ng−ời sản xuất hàng hoá nhỏ nhằm chống lại quá trình tan vỡ và phá sản của họ tr−ớc ph−ơng thức kinh doanh t− bản chủ nghĩa. Sự phát triển của chế độ tín dụng đã thúc đẩy những hình thức tự cấp vốn cho nhau bằng “chơi họ” sơ khai chuyển dần thành các hợp tác xã tín dụng, nhằm chống lại sức ép của t− bản cho vay nặng lãi. T−ơng tự, các hợp tác xã cung tiêu cũng lần l−ợt ra đời để chống lại sức ép của t− bản th−ơng nghiệp. Từ chỗ thống nhất về vốn liếng, về mua và bán sản phẩm, dần dần loại hình hợp tác xã xâm nhập vào trong sản xuất hình thành nên hình thái kinh doanh hợp tác xã nh− là sự thống nhất của quá trình tái sản xuất: Từ sản xuất đến l−u thông và huy động vốn. Trên cơ sở góp chung t− liệu sản xuất, vốn liếng và sức lao động, các hợp tác xã tiến hành kinh doanh theo nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng trong việc h−ởng lợi và chịu rủi ro. Đứng trên mảnh đất của nền kinh tế thị tr−ờng và chịu ảnh h−ởng ngày càng lớn của hình thức kinh doanh t− bản chủ nghĩa, hình thái kinh doanh hợp tác xã ngày càng bị chi phối bởi chế độ tín dụng do ph−ơng thức đó sinh ra và trở thành vật phụ thuộc vào quan hệ kinh tế t− bản chủ nghĩa. Thêm vào đó, quy mô hợp tác xã với một nhóm những ng−ời sản xuất hàng hoá nhỏ cùng chung vốn làm ăn nên th−ờng bó hẹp trong một hoạt động kinh doanh nhất định; Hoạt động của hợp tác xã với tính chất tập thể, tự nguyện lỏng lẻo, ít chấp nhận mạo hiểm vì trách nhiệm pháp lý vô hạn của xã viên, nên ít khi kinh doanh quy mô lớn và luôn có nguy cơ tan vỡ mỗi khi công việc kinh doanh gặp khó khăn [14],[31]. Vì vậy, hình thái kinh doanh hợp tác xã ngày càng lùi b−ớc dần khỏi các ngành công nghiệp, và chỉ còn trụ đ−ợc trong tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ, đại lý bán buôn bán lẻ. 18 Công ty chung vốn, ngoài hình thái kinh doanh hợp tác xã của những ng−ời sản xuất nhỏ còn có hình thái kinh doanh Công ty chung vốn của các nhà t− bản với ba loại hình phổ biến: Công ty dân sự, Công ty hợp doanh và Công ty hợp t− đơn giản. Đặc điểm chung của các loại hình công ty này là góp vốn thiên về thân nhân (đối nhân), trách nhiệm pháp lý vô hạn và cơ cấu pháp lý gọn nhẹ đơn giản. Trong ba loại trên, dạng Công ty hợp doanh là phổ biến hơn cả vì nó hoạt động d−ới hình thái Công ty th−ơng mại cả về pháp lý và hình thức; Loại Công ty dân sự th−ờng mang tính chất gia đình cùng quản lý một tài sản (bất động sản hoặc động sản) hay một nhóm những ng−ời cùng nghề nh− nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thầy thuốc,... Còn loại Công ty hợp t− đơn giản chủ yếu dành cho các tầng lớp có vốn (nh−ng do quy chế chuyên môn không đ−ợc phép kinh doanh nh− thầy tu, quan toà, quý tộc,...) hùn lại cho một ng−ời hay một số ng−ời có chuyên môn và đủ t− cách pháp nhân đứng ra kinh doanh. Trong thời đầu của sự phát triển ph−ơng thức sản xuất t− bản chủ nghĩa khi mà cạnh tranh còn đang thống trị, thì sự ra đời của các loại hình công ty này là một b−ớc tiến của chế độ tín dụng để đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh, cũng nh− giảm sức ép của tín dụng ngân hàng và các hình thức vay m−ợn khác. Tuy nhiên, càng về sau, những hình thức này càng ít đ−ợc −a chuộng và th−a thớt dần, nh−ờng chỗ cho các Công ty vô danh và Công ty trách nhiệm hữu hạn. Sở dĩ các hình thức này càng bị thu hẹp vì trách nhiệm pháp lý không hạn chế trong kinh doanh chung vốn làm cho nó mang tính mạo hiểm quá cao, do đó, rất khó khăn trong việc huy động những số vốn lớn. Thêm nữa, sự tồn tại ràng buộc của nó hết sức lỏng lẻo dễ bị giải tán bất kỳ lúc nào nếu một ng−ời chung vốn muốn rút lui, trong khi đó, về mặt pháp lý rất khó khăn để đảm bảo duy trì nó. Tất cả những hạn chế đó làm cho những hình thức này ngày nay có xu h−ớng thu 19 về những kinh doanh nhỏ trong nông nghiệp, dịch vụ bán lẻ, đại lý cho các hãng và th−ờng là các nhóm có tính chất gia đình. Với những bất lợi trên, hình thái kinh doanh chung vốn chỉ tồn tại trong một giai đoạn ngắn của sự phát triển và ngày càng nh−ờng chỗ cho các hình thái Công ty cổ phần d−ới hai hình thức: Công ty trách nhiệm hữu hạn và Công ty cổ phần. (3) Hình thái Công ty cổ phần Sự ra đời và phát triển của chế độ tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình tập trung t− bản bằng việc đẩy nhanh quá trình tuần hoàn và chu chuyển các loại vốn, tăng nhanh quy mô sản xuất và thúc đẩy quá trình xã hội hoá sở hữu trong nền kinh tế thị tr−ờng t− bản chủ nghĩa. Sự ra đời và phát triển của hệ thống ngân hàng đã làm cho hoạt động tín dụng (bao gồm tín dụng th−ơng nghiệp và tín dụng ngân hàng) chuyển biến một cách cơ bản. Cùng với sự phát triển của th−ơng nghiệp thế giới, quy mô tích luỹ và tái sản xuất của t− bản công nghiệp tăng lên, ngoài các loại kỳ phiếu th−ơng nghiệp thông qua ngân hàng đã hình thành và l−u thông các loại chứng khoán có giá khác nh− cổ phiếu, hối phiếu, trái phiếu, tín phiếu kho bạc, các văn tự cầm cố, giấy tờ sở hữu bất động sản... Tín dụng và ngân hàng ngày càng mở rộng và ăn sâu trong các hoạt động kinh doanh thì các loại chứng khoán này ngày càng phát triển và cấu thành một thị tr−ờng mà lúc đầu có những kẻ môi giới, đầu cơ tranh thủ kiếm lời, cho đến khi hình thành các cơ sở giao dịch, trong đó các ngân hàng đóng vai trò chính [31]. Nh− vậy, sự phát triển của chế độ tín dụng đã tạo cơ sở cho việc hình thành thị tr−ờng vốn đầu t− và thông qua hoạt động của hệ thống ngân hàng đã góp phần tạo tiền đề cho sự ra đời Công ty cổ phần. Sự hình thành và phát triển thị tr−ờng chứng khoán đã giúp cho các công ty mở rộng và xâm nhập 20 ngày càng mạnh mẽ ra hầu hết các lĩnh vực của nền kinh tế thị tr−ờng t− bản chủ nghĩa. Có thể nói, thị tr−ờng chứng khoán là trung tâm phản ánh trạng thái hoạt động của các công ty trong một nền kinh tế thị tr−ờng. Sự ra đời và phát triển loại hình Công ty cổ phần đánh dấu sự chuyển h−ớng nền kinh tế từ trạng thái vay m−ợn chủ yếu qua ngân hàng hoặc chung vốn sang huy động vốn trên thị tr−ờng tài chính. Các Công ty cổ phần là nguồn cung cấp sản phẩm cho sự phồn vinh của thị tr−ờng này. Đổi lại, sự thịnh v−ợng của thị tr−ờng tài chính đã tạo điều kiện cho các Công ty cổ phần sinh sôi nảy nở. Ngay từ thời kỳ phát triển ban đầu của sở giao dịch và thị tr−ờng chứng khoán, Ăng-ghen đã nhận định: “Ngày nay, sở giao dịch có một tầm quan trọng lớn hơn nhiều và ngày càng tăng; Những sự thay đổi ấy, trong sự phát triển về sau của chúng, có xu thế tích tụ vào tay những nhà giao dịch chứng khoán toàn bộ nền sản xuất công nghiệp cũng nh− nông nghiệp và toàn bộ l−u thông- cả những ph−ơng tiện giao thông liên lạc cũng nh− chức năng trao đổi; Nh− vậy, sở giao dịch trở thành ng−ời đại biểu nổi bật nhất của nền sản xuất t− bản chủ nghĩa”[28],[35],[36]. Sự mở rộng của thị tr−ờng thế giới bằng việc chinh phục các thuộc địa làm cho khối l−ợng tín dụng đ−ợc huy động theo ph−ơng thức truyền thống ngày càng không đáp ứng đủ so với yêu cầu tăng nhanh về quy mô th−ơng mại và sản xuất. Tình hình đó đã khiến cho các hình thức Công ty cổ phần trong th−ơng mại và ngân hàng lần l−ợt ra đời nh− là kết quả của sự phát triển tín dụng th−ơng nghiệp và tín dụng ngân hàng. Nhờ đó, nó tạo ra cơ sở tín dụng cần thiết cho sự hình thành Công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp mà tr−ớc hết là các ngành cần khối l−ợng vốn đầu t− rất lớn nh− chế tạo máy, hoá chất, khai khoáng, dầu khí. Có thể nói, chế độ tín dụng dựa trên sự phát triển hệ thống ngân hàng cổ phần và có sự tiếp sức của các Công ty th−ơng mại cổ 21 phần đã duy trì đ−ợc sự hoạt động hiệu quả của thị tr−ờng tài chính và góp phần thúc đẩy các Công ty cổ phần trong các ngành công nghiệp ra đời, hoạt động và phát triển [dẫn theo 22]. Do những −u điểm của nó, hình thái Công ty cổ phần vừa mới ra đời đã lần l−ợt chiếm lĩnh hết ngành này sang ngành khác từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác. Trải qua thời gian, hình thái Công ty cổ phần ngày càng đ−ợc hoàn thiện, phát triển và đa dạng hoá. Có thể nói Công ty cổ phần là một phát minh quan trọng nhất trong lịch sử phát triển các hình thái tổ chức doanh nghiệp kể từ cuộc cách mạng trong công nghiệp của t− bản chủ nghĩa, chứ không đơn thuần chỉ là sản phẩm thụ động của sự phát triển nền kinh tế thị tr−ờng [dẫn theo 22]. Nh− vậy, các hình thái công ty cổ phần đ−ợc tổng hợp trong sơ đồ sau: Sơ đồ 2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần Hình thái kinh doanh 1 chủ Hình thái KD chung vốn Hình thái công ty cổ phần 22 b. Vai trò và đặc điểm của Công ty cổ phần (1) Vai trò của Công ty cổ phần Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp phổ biến trong nền kinh tế thị tr−ờng, có vai trò to lớn trong nền kinh tế, góp phần hoàn thiện cơ chế thị tr−ờng với những vai trò sau: • Là sản phẩm của quá trình xã hội hoá sở hữu, phản ánh quá trình tích tụ và tập trung t− bản. Công ty cổ phần ra đời đã góp phần đẩy nhanh quá trình này về tốc độ và quy mô, tạo nên các công ty, các tập đoàn đầu t− với quy mô lớn mà các t− bản riêng lẻ không thể làm đ−ợc. • Là kết quả của sự vận động tách biệt hai mặt của sở hữu thể hiện ở mối quan hệ giữa quyền sở hữu và quyền quản lý, kinh doanh, tạo điều kiện đẩy nhanh quá trình xã hội hoá sản xuất, làm cho cả xã hội quan tâm đến sự tồn tại và phát triển của nó thông qua thị tr−ờng chứng khoán. • Xây dựng hệ thống t− bản xã hội đối lập với t− bản t− nhân, là tiền đề cho việc xây dựng và phát triển “t− bản nhà n−ớc” để quản lý, phát triển và điều tiết nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị tr−ờng. (2) Đặc điểm của Công ty cổ phần Về mặt pháp lý, Công ty cổ phần là một tổ chức kinh doanh có t− cách pháp nhân mà vốn kinh doanh do nhiều ng−ời đóng góp d−ới hình thức cổ phần. Khác với doanh nghiệp chung vốn, các cổ đông- ng−ời cấp vốn cho công ty- chỉ có trách nhiệm với các cam kết tài chính của công ty trong giới hạn số tiền mà họ đóng góp d−ới hình thức mua cổ phiếu, nghĩa là các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số tiền mà họ đã bỏ ra. Trong tr−ờng hợp công ty bị phá sản thì họ cũng chỉ mất số tiền đã đầu t− vào 23 công ty mà thôi, không chịu trách nhiệm vô hạn nh− hình thức kinh doanh một chủ hoặc chung vốn. Xét về mặt huy động vốn, sự có mặt của Công ty cổ phần đã tạo điều kiện cho mọi tổ chức, cá nhân có cơ hội để đầu t− một cách có lợi và an toàn những khoản vốn nhỏ nh−ng gộp lại sẽ trở thành rất lớn. Hình thức cổ phần hoá có sức hấp dẫn riêng mà các hình thức khác không thể thay thế đ−ợc: Thứ nhất, việc mua cổ phần không những đem lại cho cổ đông lợi tức cổ phần (bằng hoặc cao hơn lãi suất tiền gửi ngân hàng) mà còn hứa hẹn mang đến cho cổ đông những khoản thu nhập “ngầm” nhờ việc gia tăng trị giá cổ phiếu khi Công ty làm ăn có hiệu quả. Thứ hai, các cổ đông có quyền tham gia quản lý theo điều lệ của công ty và đ−ợc pháp luật bảo đảm, điều đó làm cho quyền sở hữu của cổ đông trở nên cụ thể hơn và có sức hấp dẫn hơn. Thứ ba, cổ đông có quyền đ−ợc −u đãi trong việc mua các cổ phiếu mới phát hành của công ty tr−ớc khi đem bán rộng rãi cho công chúng. Về quản lý, hình thái Công ty cổ phần đã thực hiện đ−ợc việc tách quan hệ sở hữu khỏi quá trình kinh doanh, tách quyền sở hữu với quyền quản lý và sử dụng, tạo nên một hình thái xã hội sở hữu đông đảo công chúng ở một bên, còn bên kia là tầng lớp các nhà quản trị kinh doanh chuyên nghiệp sử dụng t− bản xã hội cho các công cuộc kinh doanh quy mô lớn. Thông qua Luật doanh nghiệp và Điều lệ của công ty cổ phần, việc tổ chức quản lý, điều hành đ−ợc thực hiện thông qua Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban giám đốc điều hành và Ban kiểm soát. Hệ thống tổ chức này vừa đảm bảo thực hiện đ−ợc quyền tham gia quản trị của các cổ đông vừa khẳng định đ−ợc sự độc lập của các nhà quản trị trong việc điều hành. Hệ thống tổ chức này phản ánh sự tách biệt hợp lý giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh, do đó, nó đáp ứng đ−ợc một cách khá lý t−ởng 24 những yêu cầu của kinh doanh quy mô lớn. Ngày nay, sự tồn tại và phát triển của một Công ty cổ phần ngày càng ít dựa vào mối quan hệ sở hữu của các cổ đông mà tuỳ thuộc ngày càng nhiều vào nhân tố chủ yếu ở hiệu năng quản trị và điều hành công ty. Samuelson kết luận: “các doanh nghiệp ngày nay do thị tr−ờng chứ không do các cổ đông kiểm soát” và cho rằng một cuộc cách mạng về quản lý công ty ra đời thay thế “ng−ời chỉ huy thời x−a của nền công nghiệp, với tất cả tài năng sáng tạo và khả năng tính toán những rủi ro cần thiết để xây dựng một xí nghiệp lớn, th−ờng có đôi chút đặc tính của kẻ phiêu l−u và thái độ bất chấp công chúng bằng đội ngũ những ng−ời quản lý chuyên nghiệp có tầm quan trọn._.g ngày càng tăng” [31]. Về đảm bảo quyền của ng−ời sở hữu, các cổ phiếu và trái phiếu thông th−ờng của Công ty cổ phần có thể đ−ợc chuyển nh−ợng dễ dàng trên thị tr−ờng chứng khoán. Các cổ đông có thể rút lại vốn của mình để đầu t− vào một công cuộc kinh doanh khác bằng cách bán cổ phiếu, trái phiếu và mua các cổ phiếu, trái phiếu ở các công ty mà mình muốn. Mặc khác, các cổ phiếu của một Công ty cổ phần chỉ đ−ợc thanh lý khi Công ty cổ phần phá sản, vì thế bất kể có bao nhiêu cổ đông bán cổ phiếu hoặc chết đi và bất kể cổ phiếu đ−ợc chuyển chủ bao nhiêu lần do bán hoặc thừa kế, cuộc sống của doanh nghiệp vẫn tiếp tục một cách bình th−ờng mà không bị ảnh h−ởng. Có thể nói, Công ty cổ phần và thị tr−ờng chứng khoán vừa duy trì đ−ợc sự ổn định của doanh nghiệp đồng thời vừa tạo nên sự di chuyển linh hoạt của các luồng vốn trong xã hội. Với những vai trò và đặc điểm nêu trên, các công ty cổ phần đã thực sự đóng vai trò tổ chức trong nền kinh tế theo những yêu cầu của thị tr−ờng. Ngày nay, hàng ngàn tập đoàn công ty khổng lồ đ−ợc tổ chức theo dạng công ty cổ phần có tính chất quốc gia hoặc quốc tế đã và đang góp phần tạo nên sức mạnh kinh tế của từng quốc gia và của toàn thế giới. 25 Đối với n−ớc ta, để xây dựng, phát triển và hội nhập với nền kinh tế khu vực và quốc tế chúng ta cần từng b−ớc phát triển loại hình công ty cổ phần không những để huy động mọi tiềm năng về vốn là lao động, chất xám của toàn xã hội cho việc phát triển kinh tế mà còn xây dựng đ−ợc thị tr−ờng chứng khoán và một số doanh nghiệp có tổ chức, hệ thống quản lý, điều hành kinh doanh phù hợp với mô hình của các n−ớc, phục vụ cho quá trình thu hút đầu t− và chuyển giao công nghệ thông qua việc bán cổ phiếu của các công ty này cho n−ớc ngoài. Đây cũng sẽ là một trong những điều kiện quan trọng cho tiến trình hội nhập quốc tế của đất n−ớc. Cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần phản ánh rất rõ đặc điểm về sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý kinh doanh. Quyền sở hữu tối cao đối với công ty thuộc về đại hội cổ đông, th−ờng đ−ợc tổ chức mỗi năm một lần để lựa chọn và bãi miễn hội đồng quản trị, quyết định sửa đổi điều lệ công ty, phân chia lợi nhuận, phát hành cổ phiếu bầu ban kiểm soát, còn toàn bộ hoạt động quản lý kinh doanh thuộc về Ban giám đốc điều hành, tổng giám đốc (giám đốc) có thể là ng−ời của công ty hoặc ng−ời đ−ợc thuê từ bên ngoài, giám đốc không làm việc theo nhiệm kỳ mà làm việc theo hợp đồng ký kết với hội đồng quản trị [dẫn theo 22]. 26 Sơ đồ 2.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần 2.1.1.2. Tính tất yếu khách quan phải cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc không phải là một khái niệm mới đ−ợc đặt ra ở n−ớc ta. Các học giả n−ớc ngoài khi xem xét vấn đề này th−ờng đặt nó trong một quá trình rộng hơn, đó là t− nhân hoá. T− nhân hoá có thể hiểu theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp. Liên hợp quốc có đ−a Đại hội cổ đông Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Giám đốc(hoặc tổng giám đốc điều hành) Phó giám đốc (Giám đốc điều hành) Phó giám đốc (Giám đốc điều hành) Phó giám đốc (Giám đốc điều hành) Phòng ban chuyên môn TCHC Phòng ban chuyên môn TV Phòng ban chuyên môn KHTH Các Xí nghiệp trực thuộc Các Xí nghiệp trực thuộc 27 ra định nghĩa về t− nhân hoá theo nghĩa rộng “T− nhân hoá là sự biến đổi t−ơng quan giữa nhà n−ớc và thị tr−ờng trong đời sống kinh tế của một n−ớc theo h−ớng −u tiên thị tr−ờng”. Theo cách hiểu này thì toàn bộ những chính sách, luật lệ, thể chế nhằm khuyến khích mở rộng và phát triển khu vực kinh tế t− nhân hay thành phần kinh tế khác ngoài quốc doanh, đề cao vai trò điều tiết của nền kinh tế thị tr−ờng, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của nhà n−ớc vào hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế. Theo nghĩa hẹp, t− nhân hoá đ−ợc dùng để chỉ quá trình giảm bớt quyền sở hữu nhà n−ớc hoặc sự kiểm soát của chính phủ trong một doanh nghiệp. Quá trình này có thể đ−ợc tiến hành thông qua nhiều biện pháp và ph−ơng thức khác nhau, trong đó cổ phần hoá là một biện pháp quan trọng phổ biến và đem lại hiệu quả [2],[14]. Nh− vậy cổ phần hoá không phải là chuyển các doanh nghiệp nhà n−ớc thành các Công ty của t− nhân mà là chuyển các doanh nghiệp nhà n−ớc sang hình thức Công ty cổ phần. Công ty cổ phần là dạng công ty mà chủ sở hữu vốn không phải của một chủ duy nhất mà là chủ sở hữu hỗn hợp do vốn của nhiều chủ sở hữu góp lại. Quá trình cổ phần hoá dẫn đến việc chuyển doanh nghiệp nhà n−ớc hoặc một bộ phận của doanh nghiệp nhà n−ớc thành Công ty cổ phần, trong đó cổ đông là nhà n−ớc, công nhân lao động trong doanh nghiệp, các thể nhân, pháp nhân trong và ngoài doanh nghiệp. Nhà n−ớc có thể giữ lại một tỷ lệ vốn nhất định tại doanh nghiệp và cùng với các cổ đông khác là những ng−ời mua cổ phần của doanh nghiệp cổ phần hoá hợp thành những ng−ời chủ thực sự của doanh nghiệp cổ phần mới đ−ợc hình thành [31]. Cổ phần hoá là chủ tr−ơng nhằm đa dạng hoá hình thức sở hữu, phát huy quyền làm chủ thực sự của doanh nghiệp, th−ơng mại hoá mọi hoạt động của doanh nghiệp. Cổ phần hoá giúp xoá bỏ sự chỉ đạo doanh nghiệp bằng 28 mệnh lệnh hành chính cũng nh− sự can thiệp sâu của cơ quan quản lý nhà n−ớc vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, xoá bỏ cơ quan chủ quản của doanh nghiệp. Trong khuynh h−ớng vận động của nền kinh tế thế giới theo xu thế thị tr−ờng, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc là sự tất yếu khách quan. Sự tất yếu khách quan này xuất phát từ bản chất của nền kinh tế thị tr−ờng với thực tế rằng từ những năm 1970 đến nay, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc đã thành hiện t−ợng phổ biến ở các n−ớc có nền kinh tế thị tr−ờng. Một số lý do khiến các n−ớc buộc phải cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà n−ớc khi chuyển đổi sang cơ chế thị tr−ờng: Một là, xuất phát từ mục tiêu kinh doanh của các doanh nghiệp trong điều kiện kinh tế thị tr−ờng là phải thu đ−ợc nhiều lợi nhuận. Những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, muốn chiếm −u thế để tồn tại và phát triển, cạnh tranh trong cơ chế thị tr−ờng phải cùng nhau góp vốn tạo ra doanh nghiệp có quy mô lớn hơn. Vì với quy mô lớn hơn, doanh nghiệp mới có −u thế để tiến hành đổi mới quy trình công nghệ, cải tiến kỹ thuật, ứng dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất và quản lý nhằm nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, bảo đảm kinh doanh có lãi trong cơ chế thị tr−ờng và điều kiện cạnh tranh. Đối với những doanh nghiệp có quy mô lớn, muốn hạn chế rủi ro trong kinh doanh cũng phải mua cổ phần của các doanh nghiệp hoặc nhận vốn góp cổ phần của các doanh nghiệp khác. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp đ−ợc san sẻ bớt rủi ro trong kinh doanh, nhằm đảm bảo có đ−ợc lợi nhuận tối thiểu ngang bằng lợi nhuận bình quân trong ngành. Do đó hạn chế đ−ợc những bất lợi trong quá trình cạnh tranh [2]. 29 Hai là, sự phát triển tràn lan các doanh nghiệp nhà n−ớc một cách quá mức, từ đầu những năm 1930 của tr−ờng phái Keynes, các n−ớc có nền kinh tế thị tr−ờng đã đề cao vai trò can thiệp của nhà n−ớc vào các quá trình kinh tế nhằm tạo ra một thực lực kinh tế mạnh mẽ làm công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Các doanh nghiệp nhà n−ớc đ−ợc chú ý điều tiết phát triển không chỉ ở các lĩnh vực, các ngành then chốt của nền kinh tế mà còn ở các ngành khác mà lẽ ra nhà n−ớc không cần nắm giữ. Sự phát triển tràn lan đó làm cho tình hình thị tr−ờng xấu và ảnh h−ởng đến năng suất chung của sản xuất xã hội. Yêu cầu của việc lợi dụng các yếu tố tăng tr−ởng theo chiều sâu, của việc tạo lập môi tr−ờng cạnh tranh hiệu quả đòi hỏi phải sắp xếp lại cơ cấu hệ thống doanh nghiệp nhà n−ớc. Ba là, trong điều kiện nền kinh tế- xã hội phát triển, chính nền kinh tế thị tr−ờng đã làm bộc lộ sự hoạt động kém hiệu quá của doanh nghiệp nhà n−ớc, làm cho các doanh nghiệp này ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc dân. Bốn là, sự thay đổi quan điểm về vai trò nhà n−ớc trong nền kinh tế thị tr−ờng. Từ giữa những năm 1970 trở lại đây, cùng với t− t−ởng tự do kinh tế ng−ời ta buộc phải xem xét lại vai trò của nhà n−ớc theo ph−ơng châm thị tr−ờng nhiều hơn, tự do kinh doanh nhiều hơn. Nhà n−ớc cần quản lý doanh nghiệp bằng một cơ chế phù hợp hơn. Từ đó đòi hỏi phải kiện toàn, sắp xếp lại cơ cấu khu vực kinh tế nhà n−ớc theo xu h−ớng giảm dần cơ chế “trói buộc” của nhà n−ớc. Năm là, xét từ hiệu quả kinh tế trong sản xuất kinh doanh, nhiều thập kỷ qua ng−ời ta thấy rằng các doanh nghiệp nhà n−ớc nói chung hoạt động kém hiệu quả hơn so với các doanh nghiệp phi nhà n−ớc (tuy nhiên trong những điều kiện và giai đoạn lịch sử nhất định kinh tế quốc doanh vẫn hoạt động có lãi). Chính xuất phát từ sự kém hiệu quả đó nhà n−ớc th−ờng phải tài trợ, bao cấp 30 thông qua cấp vốn, trợ giá, giảm nộp ngân sách,… để duy trì hoạt động của doanh nghiệp nhà n−ớc, duy trì sở hữu nhà n−ớc. Sáu là, xuất phát từ những −u điểm của công ty cổ phần so với doanh nghiệp nhà n−ớc, những mặt −u điểm này quyết định đến tính hiệu quả trong quản lý và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [14]. Có thể nêu ra một số −u điểm của công ty cổ phần nh− sau: • Trách nhiệm vật chất và quyền hạn của từng thành viên rõ ràng, phân phối công bằng, sòng phẳng trên cơ sở tỷ lệ vốn đóng góp. • Quyền sở hữu và quyền kinh doanh đ−ợc tách bạch không bị ảnh h−ởng của sự can thiệp trực tiếp có tính chất hành chính của chính quyền các cấp váo hoạt động kinh doanh của công ty. • Khắc phục đ−ợc tính “vô chủ sở hữu” và do đó cũng khắc phục đ−ợc tính vô trách nhiệm trong quản lý kinh doanh, xoá bỏ đ−ợc lối phân phối bình quân,… bất hợp lý; đồng thời tăng hiệu quả kinh doanh và thu nhập của ng−ời lao động. • Cơ chế quản lý của công ty cổ phần đặc biệt là cơ chế quản lý tài chính vừa thông thoáng, vừa rõ ràng theo luật định. Điều này sẽ giảm bớt đ−ợc nhiều sự trói buộc đối với công ty, quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần đ−ợc nâng cao so với doanh nghiệp nhà n−ớc. Với những lý do đó, quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở các n−ớc trên thế giới đã đ−ợc thực hiện nh− một tất yếu khách quan trong hơn hai thập kỷ qua. 31 2.1.2. Quan điểm của Đảng và Nhà n−ớc về cổ phần hoá DNNN Trong tình hình kinh tế- xã hội có nhiều khó khăn, Đảng, nhà n−ớc và nhân dân ta đã triển khai công cuộc đổi mới trên nhiều mặt đời sống xã hội, nhất là kinh tế. Trọng tâm của công cuộc đổi mới kinh tế do Đảng đề ra và tổ chức thực hiện là chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị tr−ờng, có sự quản lý của nhà n−ớc theo định h−ớng xã hội chủ nghĩa. Đây là một vấn đề hết sức quan trọng và mới mẻ, ch−a có tiền lệ trong lịch sử phát triển của các n−ớc xã hội chủ nghĩa cũng nh− ở Việt Nam. Công cuộc đổi mới và thách thức đòi hỏi chúng ta phải vừa làm, vừa tìm tòi, thử nghiệm và rút ra những bài học kinh nghiệm [28]. Trong đà phát triển của cả n−ớc, nhiều thành phần kinh tế đang thực hiện những b−ớc chuyển mình. Trong đó phải kể đến thành phần kinh tế nhà n−ớc với xu h−ớng thực hiện cổ phần hoá nhằm sản xuất kinh doanh có hiệu quả hơn. Chủ tr−ơng của Đảng về cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà n−ớc ngày càng đ−ợc cụ thể hoá về mục tiêu và giải pháp. Mục tiêu nhất quán cổ phần hoá một bộ phận doanh nghiệp nhà n−ớc là để huy động vốn, tạo điều kiện để ng−ời lao động đ−ợc làm chủ thực sự trong doanh nghiệp, tạo động lực bên trong, thay đổi ph−ơng thức quản lý nhằm nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời làm tăng tài sản nhà n−ớc và thay đổi cơ cấu doanh nghiệp. Ph−ơng châm chỉ đạo của Đảng là đẩy mạnh cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc một cách tích cực, vững chắc, phải phân loại doanh nghiệp nhà n−ớc, xác định rõ loại doanh nghiệp nhà n−ớc giữ 100% vốn, loại doanh nghiệp nhà n−ớc không giữ 100% vốn thì tổ chức cổ phần hoá, trong đó phải quy định các lĩnh vực nhà n−ớc cần giữ cổ phần chi 32 phối. Đối t−ợng bán cổ phần bao gồm mọi cá nhân trong và ngoài doanh nghiệp, các tổ chức pháp nhân khác để huy động vốn cho đầu t− phát triển. Nh−ng chú trọng tạo điều kiện cho cán bộ công nhân viên trong doanh nghiệp có sở hữu cổ phần, nhằm tạo động lực trực tiếp bên trong thúc đẩy doanh nghiệp phát triển. Để thực hiện tốt quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc theo Nghị quyết Đại hội Đảng IX đề ra, Bộ Chính trị đã yêu cầu cấp uỷ đảng và chính quyền phải quán triệt và tuyên truyền, giải thích trong nhân dân chủ tr−ơng, chính sách của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc trên cơ sở: (1) Cổ phần hoá phải xuất phát từ yêu cầu phát triển của doanh nghiệp nhà n−ớc, nhằm huy động thêm vốn của cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp để đầu t− mở rộng ngành nghề, hiện đại hoá công nghệ, tạo thêm việc làm, phân công lại lao động, phát triển sản xuất, tăng thêm khả năng cạnh tranh, tích luỹ cho doanh nghiệp, đóng góp cho ngân sách và thu nhập của ng−ời lao động. (2) Cổ phần hoá phải làm cho tiềm lực kinh tế của nhà n−ớc ngày càng tăng lên, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp ngày càng cao, góp phần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n−ớc theo định h−ớng xã hội chủ nghĩa. (3) Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc phải gắn liền với đổi mới cơ chế quản lý để tạo động lực, phát huy mạnh hơn vai trò làm chủ và tính năng động, sáng tạo của ng−ời lao động trong quản lý doanh nghiệp. (4) Cổ phần hoá phải có chính sách khuyến khích cán bộ và công nhân trong doanh nghiệp mua cổ phần, nh−ng không để chênh lệch quá lớn giữa lãnh đạo doanh nghiệp và ng−ời lao động. Có chính sách hỗ trợ 33 cho công nhân nghèo mua đ−ợc một số cổ phần cần thiết nhằm tạo động lực, góp phần xoá đói, giảm nghèo và thực hiện công bằng xã hội. Có chính sách −u đãi cho ng−ời lao động trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, tuỳ theo thời gian cống hiến của mỗi ng−ời. Có cơ chế để hàng năm gọi thêm cổ phần nhằm tăng thêm vốn cho phát triển sản xuất, đồng thời tạo điều kiện cho ng−ời lao động mới vào xí nghiệp đ−ợc mua cổ phần. Có chính sách khuyến khích các cổ đông dành lợi nhuận, tăng tích luỹ để phát triển sản xuất. Khi yêu cầu vốn phát triển, doanh nghiệp có thể bán một số cổ phần cho thị tr−ờng chứng khoán mới thành lập, hoặc thông qua các trung tâm giao dịch đ−ợc thành lập để giúp các cổ đông mua bán cổ phiếu thuận tiện [28],[35],[36]. 2.1.3. Vấn đề hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá ở đây “hỗ trợ” không có nghĩa là thực hiện sự giúp đỡ không có tính th−ơng mại mà hỗ trợ doanh nghiệp có nghĩa là giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, thanh toán và đầu t−. Và mục đích của hỗ trợ đó là: tạo mối quan hệ giữa nhà n−ớc và doanh nghiệp, từng b−ớc giúp đỡ doanh nghiệp đứng vững khi bắt đầu b−ớc vào hoạt động sản xuất kinh doanh độc lập thông qua các cơ chế chính sách phù hợp [dẫn theo 32]. B−ớc đầu đi vào hoạt động theo mô hình của công ty cổ phần, tách khỏi sự quản lý của nhà n−ớc, cần thiết phải có các chế tài, hỗ trợ cho doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. Nhất là đối với công ty cổ phần xuất phát điểm từ doanh nghiệp nhà n−ớc, vốn sẵn quen “dựa dẫm” vào nhà n−ớc từ vốn đến các cơ chế −u tiên. Bên cạnh đó, để đảm bảo cho công ty cổ phần hoạt động tốt hơn trong “những ngày đầu”, bắt buộc nhà n−ớc phải xem xét và cân nhắc đến các chính sách đối với công ty cổ phần. 34 Hỗ trợ doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần là việc định ra những chế tài nhằm giúp đỡ doanh nghiệp cổ phần ổn định sản xuất kinh doanh, hoà nhịp vào vòng quay của nền kinh tế thị tr−ờng, đảm bảo sự công bằng giữa các thành phần kinh tế [dẫn theo 32]. Một trong những vấn đề gây nhiều tranh luận hiện nay là nhà n−ớc sẽ hỗ trợ doanh nghiệp nh− thế nào để doanh nghiệp từng b−ớc tách ra khỏi sự nâng đỡ của nhà n−ớc, từng b−ớc đứng vững trên “đôi chân” của mình. Hầu hết các doanh nghiệp nhà n−ớc tại Việt Nam từ lâu đã quen với chỗ dựa là nhà n−ớc, do đấy, sức ỳ lớn, không chủ động trong sản xuất kinh doanh, hoạt động theo cơ chế thị tr−ờng những luôn trong trạng thái “xin-cho”, nếu sản xuất kinh doanh lỗ thì xin nhà n−ớc giãn nợ, hoặc xoá nợ. Tuy nhiên, trong ngày hai, doanh nghiệp từng b−ớc đi vào hoạt động tự chủ trong kinh doanh không thể ngay một lúc có thể đạt hiệu quả kinh doanh tối đa, đồng thời việc xác định sự công bằng giữa doanh nghiệp nhà n−ớc và công ty cổ phần cũng đang là một vấn đề đáng bàn. Điều này thực sự phải có “bàn tay” của nhà n−ớc điều tiết để hỗ trợ doanh nghiệp sau cổ phần hoá từng b−ớc ổn định sản xuất kinh doanh, tự chủ về tài chính. 2.2. thực trạng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc 2.2.1. Tình hình cổ phần hoá DNNN trên thế giới 2.2.1.1. Cổ phần hoá DNNN ở một số n−ớc trên thế giới Ch−ơng trình chuyển đổi sở hữu trong tiến trình cải cách DNNN trên thế giới đã diễn ra mạnh mẽ sôi động ngay từ đầu thập kỷ 80 với xuất phát điểm là n−ớc Anh và sau đó lan rộng sang các n−ớc khác. ở các n−ớc Đông Âu, phong trào cổ phần hoá và đa dạng sở hữu DNNN đ−ợc phát động ngày từ đầu thập niên 90 và hiện vẫn đang tiếp diễn khá sôi động. Mỗi quốc gia khi tiến 35 hành cổ phần hoá đều đặt ra những tham vọng riêng cho mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội. Vì vậy, kết quả thu đ−ợc ở mỗi quốc gia đều có những thành công và v−ớng mắc khác nhau, nh−ng đều có những điểm chung về mục tiêu, hình thức và đều phải có sự trợ giúp của chính phủ đề đẩy mạnh quá trình chuyển đổi chủ sở hữu, đặc biệt là hệ thống chính sách tài chính [dẫn theo 34]. a. Về mục tiêu Hầu hết các n−ớc đều cho rằng, mục tiêu chính của ch−ơng trình cổ phần hoá DNNN là nhằm nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Qua đó, góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Đồng thời làm giảm thiểu số DNNN làm ăn thua lỗ, tối đa hoá các đơn vị làm ăn có lãi và các khoản thu cho ngân sách nhà n−ớc, tạo nguồn để giải quyết các vấn đề xã hội khác. Ngoài ra, công tác cổ phần hoá, hầu hết chính phủ các n−ớc đều muốn chuyển một số lĩnh vực ngành nghề mà các khu vực kinh tế khác có thể đảm nhận, giảm bớt gánh nặng và thâm hụt cho ngân sách, cân đối khả năng thanh toán nợ n−ớc ngoài; phát triển thị tr−ờng vốn trong n−ớc [34]. b. Tổ chức bộ máy chỉ đạo Kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, chính phủ các n−ớc có ch−ơng trình cổ phần hoá thành công th−ờng giao cho Bộ Tài chính hoặc Bộ Ngân khố, thậm chí thành lập riêng một bộ chuyên trách chỉ đạo thực hiện nh− Hungary. Các cơ quan này có nhiệm vụ chỉ đạo thực hiện cổ phần hoá những DNNN có đủ điều kiện; chịu trách nhiệm nắm giữ cổ phần của nhà n−ớc ở các DNNN chuyển đổi sở hữu thông qua một cơ quan quản lý tài sản hoặc một công ty tài chính của nhà n−ớc. Với cách tổ chức nh− trên, ch−ơng trình cổ phần hoá sẽ nhất quán, rõ ràng với sự tham gia của đông đảo nhân dân trong n−ớc, hạn chế tối đa sự lạm dụng hoặc khả năng tổn thất cho nhà n−ớc. Nhiều quốc gia còn 36 ban hành riêng một bộ luật nhằm tạo hành lang pháp lý cao nhất cho quá trình chuyển đổi sở hữu DNNN [34]. c. Tiêu chí lựa chọn doanh nghiệp chuyển đổi Nếu xét về quy mô, b−ớc đầu hầu hết các quốc gia đều tiến hành chuyển đỗi sở hữu các doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả hoạt động trong các lĩnh vực cạnh tranh. Ng−ời Mexico cho đây là bài học thành công. Vì họ coi việc bán các doanh nghiệp nhỏ là để học tập kinh nghiệm, giảm rủi ro tới mức nhỏ nhất. Nếu xét về lĩnh vực thị tr−ờng, các quốc gia th−ờng −u tiên tiến hành cải cách doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có thị tr−ờng đang và sẽ hoạt động tốt. Nh−ng các DNNN lại không có lợi thế về quản lý so với các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nh−: khách sạn, vận tải bằng tàu thuyền loại nhỏ, vận tải ô tô,… Tiếp đó mới đến các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khó khăn hơn về thị tr−ờng. Những lĩnh vực tr−ớc đây nhà n−ớc cần độc quyền hoặc t− nhân ch−a có đủ điều kiện để tham gia. Nhìn chung, việc cải cách từ đâu phụ thuộc vào mối quan tâm của nhà đầu t− và khả năng của chính phủ mỗi n−ớc. Nh−ng đều phải có sự đầu t− mới và thay đổi ph−ơng thức quản lý để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho các doanh nghiệp chuyển đổi [34]. d. Đánh giá và định giá doanh nghiệp Hầu hết các n−ớc đều cho rằng, ph−ơng pháp tốt nhất để thị tr−ờng quyết định giá bán thông qua đấu thầu, cạnh tranh, nhất là các doanh nghiệp nhỏ. Đối với những doanh nghiệp lớn, việc xác định giá bán doanh nghiệp th−ờng đ−ợc thự hiện bằng nhiều ph−ơng pháp để có thể kiểm tra mức độ hợp lý của giá sàn, trên cơ sở đó tổ chức đấu thầu (kèm theo những điều kiện nhất định để thu hút các cổ đông chiến l−ợc) và đấu giá trên thị tr−ờng để có đ−ợc ph−ơng án chuyển đổi tối −u. Nhìn chung, việc định giá doanh nghiệp có quy mô lớn đều 37 khó khăn, nhất là ở các quốc gia phát triển. Qua tìm hiểu, có thể thấy những ph−ơng pháp th−ờng đ−ợc các n−ớc sử dụng là: (1) Ph−ơng pháp xác định theo giá thành tài sản (ph−ơng pháp chi phí) (2) Ph−ơng pháp giá trị tài sản thuần (NAY) (3) Ph−ơng pháp thu nhập (lợi nhuận) (4) Ph−ơng pháp so sánh trực tiếp (giá thị tr−ờng hiện hành) (5) Ph−ơng pháp thặng d− (6) Ph−ơng pháp đấu giá (7) Ph−ơng pháp dòng tiền chiết khấu e. Giải quyết vấn đề tài chính và lao động dôi d− Tr−ớc khi thực hiện chuyển đổi sở hữu, các n−ớc đều tiến hành giải quyết v−ớng mắc về tài chính đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh không hiệu quả hoặc hiệu quả thấp. Kinh nghiệm chỉ ra rằng, các DNNN vừa và nhỏ có tính cạnh tranh có thể và cần đ−ợc bán một cách nhanh chóng thông qua đấu thầu cạnh tranh. Tuy nhiên, để tăng tính hấp dẫn của doanh nghiệp tr−ớc khi bán, các n−ớc th−ờng giải quyết dứt điểm một số vấn đề sau: (1) Giải quyết các khoản nợ dây d−a, khả năng thanh toán thấp vì ng−ời mua không muốn nhận các khoản nợ này, còn chính phủ lại không muốn bỏ thêm tiền để thanh toán hộ doanh nghiệp. (2) Loại bỏ những tài sản, các dự án đầu t− không hiệu quả theo mệnh lệnh hành chính ở các DNNN trong các thời kỳ tr−ớc. Đây là yêu cầu chính đáng của các cổ đông t−ơng lai. 38 (3) Loại bỏ các chất thải không thích hợp để bảo vệ môi tr−ờng. Đây là điều kiện tiên quyết ở các n−ớc Đông Âu, Trung á. (4) Giải quyết vấn đề lao động dôi d− bằng các biện pháp đồng bộ bảo đảm về mặt xã hội, chẳng hạn nh− đào tạo lại, trả trợ cấp thôi việc và bảo hiểm thất nghiệp. Bởi ng−ời mua không muốn kế thừa và giải quyết vấn đề phức tạp này [34,37,39]. 2.2.1.2. Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc Trung Quốc là quốc gia láng giềng với thể chế chính trị, kinh tế, văn hoá- xã hội có nhiều điểm t−ơng đồng với Việt Nam. Trong quá trình cải cách, mở cửa, các DNNN Trung Quốc cũng phải đối đầu với rất nhiều khó khăn trong hoạt động và khả năng cạnh tranh, tạo thế đứng trên thị tr−ờng trong và ngoài n−ớc. Để giải quyết thực trạng này, ngay từ đầu thập niên 80, chính phủ Trung Quốc đã đề cập đến giải pháp cổ phần hoá. Đặc biệt trong thập niên 90, giải pháp này đ−ợc thể chế hoá và đ−ợc coi là biện pháp hữu hiệu trong cải cách DNNN [dẫn theo 27]. a. Quan điểm của Chính phủ Trung Quốc Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị tr−ờng theo định h−ớng XHCN, Chính phủ Trung Quốc coi việc cải cách xí nghiệp và cải cách sở hữu trong các DNNN là trọng tâm của ch−ơng trình cải cách kinh tế. Quá trình cải cách DNNN của Trung Quốc thời gian qua đ−ợc tiến hành theo 2 nội dung chính: Một là, cải cách cơ chế quản lý DNNN trên cơ sở giữ nguyên sở hữu nhà n−ớc (chế độ hợp đồng cho thuê, hợp đồng kế hoạch); Hai là, thực hiện chuyển đổi sở hữu (hình thành các công ty cổ phần, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp t− nhân và các doanh nghiệp có vốn đầu t− n−ớc ngoài). 39 Nh− vậy, cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc là một bộ phận của ch−ơng trình đa dạng hoá sở hữu và là một trong các giải pháp cải cách DNNN. Việc áp dụng giải pháp này đã đ−ợc đề cập rất nhiều trong các văn kiện của Đảng và nhà n−ớc đầu những năm 80. Quan điểm của chính phủ Trung Quốc là “tiến hành chuyển đổi sở hữu từ từ, không nhanh, không chậm và luôn tỉnh táo, thận trọng” [27]. b. Quá trình thực hiện Xuất phát từ quan điểm trên, tiến trình cổ phần hoá của Trung Quốc diễn ra chậm, giai đoạn thí điểm kéo dài và hình thức cổ phần hoá đơn nhất. (1) Giai đoạn thí điểm (từ 1978 đến 1997) Trong các năm từ 1978 đến 1983, công cuộc cải cách DNNN ở Trung Quốc chủ yếu tập trung vào thực hiện nội dung thứ nhất, vấn đề cổ phần hoá mới chỉ trên giấy tờ. Các năm tiếp theo (1984-1988), song song với việc thực hiện nội dung thứ nhất, chính phủ Trung Quốc đã b−ớc đầu thực hiện chuyển đổi sở hữu DNNN. Tuy nhiên việc thí điểm cổ phần hoá chỉ đ−ợc tiến hành d−ới hình thức thành lập Công ty cổ phần mới (cổ đông là nhà n−ớc, tập thể và một số ít cá nhân). Đồng thời trong thời gian này, nhà n−ớc vẫn nắm giữ cổ phần khống chế trong các doanh nghiệp có quy mô lớn và trung bình. Do đó, việc chuyển đổi các DNNN đang hoạt động sang Công ty cổ phần còn hạn chế. Trong khi đó, các xí nghiệp tập thể, t− nhân nông thôn (xí nghiệp h−ơng trấn) lại phát triển rất nhanh ảnh h−ởng không nhỏ đến tiến trình cổ phần hoá. Trong các năm 1988-1991, mâu thuẫn mang tính cơ cấu đã bắt đầu xuất hiện do các xí nghi h−ơng trấn phát triển chững lại, nền kinh tế Trung Quốc xuất hiện hiện t−ợng cung v−ợt cầu. Nh−ng công tác cổ phần hoá vẫn chỉ dừng lại ở tình trạng thí điểm. 40 Từ năm 1992 đến 1997, tr−ớc tình trạng thua lỗ ngày càng gia tăng của các DNNN, chính phủ Trung Quốc đã ban hành nhiều chính sách nhằm đẩy mạnh việc cổ phần hoá DNNN và xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại. Tuy nhiên giai đoạn thí điểm vẫn tiếp tục kéo dài, tính đến năm 1993, các doanh nghiệp thí điểm cổ phần hoá trong cả n−ớc đạt hơn 3.000 doanh nghiệp. Số công ty có cổ phiếu đ−ợc mua bán trên sở giao dịch chứng khoán Th−ợng Hải và Thâm Quyến là 196, trong đó có 33 công ty đã phát hành loại cổ phiếu B, giá trị cổ phiếu trên thị tr−ờng đạt khoảng 400 tỷ nhân dân tệ. Nhìn chung, công tác cổ phần hoá ở Trung Quốc trong thời gian thí điểm mới chỉ dựa trên cơ sở tự nguyện của các DNNN mà ch−a thực sự mở rộng thành một chủ tr−ơng có mục tiêu, chỉ tiêu rõ ràng. Nếu so sánh với tổng số khoảng 305.000 doanh nghiệp (số liệu năm 1997) thì con số vài nghìn doanh nghiệp đ−ợc cổ phần hoá thực sự là khiêm tốn (chỉ chiếm gần 1%). Tuy nhiên, trong giai đoạn này ch−ơng trình cổ phần hoá của Trung Quốc cũng đạt đ−ợc rất nhiều thành công. Các doanh nghiệp đã cổ phần hoá đều hoạt động có hiệu quả, khả năng cạnh tranh trên thị tr−ờng trong và ngoài n−ớc tăng. Mặc dù thấy đ−ợc những −u điểm của loại hình công ty cổ phần, song do có nhiều ràng buộc liên quan đến sở hữu, lao động, xã hội,… nên vấn đề cổ phần hoá ở Trung Quốc vẫn th−ờng bị né tránh [27]. (2) Giai đoạn triển khai Tr−ớc thực trạng ì ạch của tiến trình cổ phần hoá, cộng thêm sức ép từ việc làm ăn thua lỗ ngày càng lớn của DNNN, Đại hội lần thứ XV của Đảng Cộng sản Trung Quốc (9-1997) đã nhấn mạnh việc đẩy mạnh công tác cổ phần hoá và xây dựng doanh nghiệp hiện đại theo công thức “củng cố doanh nghiệp lớn và giải phóng doanh nghiệp nhỏ” với kế hoạch giảm dần theo 3 cấp: 41 • Cấp cao nhất: Nhà n−ớc nắm quyền sở hữu 100% vốn, khoảng 1.000 tập đoàn lớn trong các lĩnh vực chiến l−ợc nh− an ninh, quốc phòng, năng l−ợng, công nghệ cao… • Cấp trung gian: Nhà n−ớc là cổ đông tham khảo (có thể là cổ đông chi phối nh−ng cũng có thể là cổ đông th−ờng) đối với các doanh nghiệp lớn và vừa không có tính chiến l−ợc. • Cấp thứ 3: Nhà n−ớc tiến hành cổ phần hoá, t− nhân hoá hàng loạt các doanh nghiệp nhỏ và vừa; nhà n−ớc Trung Quốc không nắm giữ bất kỳ cổ phần nào trong doanh nghiệp này. Có thể nói, sau Đại hội Đảng lần thứ XV, chính phủ Trung Quốc đã phát động một cuộc cải cách DNNN quy mô lớn ch−a từng có. Về mục tiêu 100.000 DNNN sẽ đ−ợc cổ phần hoá, bán (t− nhân hoá) các xí nghiệp nhỏ cho t− nhân, sáp nhập hoặc giải thể. Với chủ tr−ơng mạnh nh− vậy, chỉ trong một thời gian ngắn hàng loạt doanh nghiệp đã đ−ợc các cấp chính quyền địa ph−ơng “bán tống, bán tháo” bất chấp giá cả nhằm giải quyết ngân sách thiếu hụt của các địa ph−ơng cũng nh− sự t− lợi từ việc mua bán doanh nghiệp nh−ng vẫn đ−ợc coi là biện pháp cải cách. Hậu quả là việc sa thải hàng loạt công nhân tại các doanh nghiệp đã diễn ra. Tại thời điểm đó, chính phủ Trung Quốc ch−a có chính sách hỗ trợ lao động dôi d−, cộng với các vấn đề phúc lợi xã hội của DNNN tr−ớc đây bị xoá bỏ đã làm cho sức ép về lao động thất nghiệp ngày một tăng, đe doạ sự ổn định chính trị. Số lao động bị sa thải khỏi DNNN khoảng từ 15 đến 20 triệu ng−ời. Tình hình trên đã buộc Chính phủ Trung Quốc kiềm chế tốc độ cổ phần hoá và bán các DNNN. Việc làm này đồng nghĩa với việc làm chậm tốc độ cổ phần hoá để điều chỉnh chính sách, nhất là chính sách với ng−ời lao động và chính sách giá trong cổ phần hoá và bán DNNN [27]. 42 c. Những bài học rút ra Nh− vậy, sau hơn 20 năm tiến hành cổ phần hoá DNNN d−ới nhiều cấp độ và quy mô khác nhau, thành tựu cơ bản không thể phủ nhận là Trung Quốc đã có b−ớc đi t−ơng đối vững chắc trên 2 mặt lý luận và thực tiễn. Việc thực hiện cổ phần hoá DNNN và thành lập các doanh nghiệp đa sở hữu đã góp phần đáng kể trong việc duy trì tốc độ phát triển kinh tế cao trong nhiều năm liên tục ở Trung Quốc. Tuy nhiên, quá trình cổ phần hoá DNNN ở Trung Quốc đ−ợc tiến hành khá thận trọng (từ thăm dò, thí điểm, triển khai hẹp, mở rộng) cho thấy, chính phủ Trung Quốc thời kỳ đầu còn lo ngại những ảnh h−ởng tiêu cực của việc cổ phần hoá. Cộng với sự chuẩn bị thiếu chu đáo khi sức ép cải cách gia tăng, việc cổ phần hoá một khối l−ợng lớn DNNN đã tạo nên cú sốc cho xã hội Trung Quốc. Thực tế này cho thấy, cổ phần hoá chỉ đ−ợc tiế._.−ời lao động có đ−ợc sở hữu nhất định trong công ty cổ phần khi năng lực tài chính của bản thân họ không đủ để mua cổ phần theo giá mà nhà n−ớc bán −u đãi cho họ. • Đối với một số nội dung quy định trong các văn bản do các Bộ, ngành ban hành nhằm h−ớng dẫn thực hiện Nghị định 44/1998/NĐ-CP mà trái với tinh thần của Nghị định này đều phải đ−ợc sửa đổi bổ sung cho thống nhất. 100 • Cần phải nghiên cứu các văn bản luật và d−ới luật có liên quan đến doanh nghiệp cổ phần hoá để hạn chế tối đa mức chênh lệch về lợi ích giữa doanh nghiệp nhà n−ớc sau khi cổ phần hoá với doanh nghiệp nhà n−ớc. (3) Về những −u đãi đối với ng−ời lao động trong doanh nghiêp nhà n−ớc cổ phần hoá: • Nên giao việc xác định tiêu chí ng−ời nghèo cho Ban chỉ đạo Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp giải quyết sao cho phù hợp với quy định hiện hành, cho phép đảm bảo công bằng mà không chia đều cho mọi ng−ời. Lý do là trên thực tế tiêu chí ng−ời lao động nghèo tuy đã qua nhiều lần sửa đổi và mới đây nhất tại Thông t− số 03 của Bộ lao động, Th−ơng binh và Xã hội ban hành ngày 09 tháng 01 năm 1999 nh−ng trên thực tế đến nay vẫn khó vận dụng vì mức thu nhập bình quân năm 1999 mãi đến giữa năm 1999 mới có. Quy định năm 2000 thì ch−a có. Theo đó các doanh nghiệp cổ phần đầu năm 1999 vận dụng lúng túng, mặt khác quy trình tính thu nhập bình quân phức tạp, tốn nhiều thời gian để xác định. • Để khuyến khích và tạo sự công bằng cho doanh nghiệp có một phần vốn tự tích luỹ, mặt khác nhằm cân đối hơn về lợi ích giữa ng−ời lao động trong cùng một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp khác với nhau thì Khoản 1 Điều 14 nên sửa đổi bổ sung nh− sau: “đ−ợc nhà n−ớc bán với giá −u đãi cho ng−ời lao động trong doanh nghiệp tuỳ theo năm công tác của từng ng−ời. Một năm làm việc cho nhà n−ớc đ−ợc mua tối đa 10 cổ phần (giá trị một cổ phần: 100.000 đồng) với mức giảm giá 30% so với đối t−ợng khác. Tổng giá trị −u đãi cho ng−ời lao động 101 không quá 20% giá trị vốn nhà n−ớc tại doanh nghiệp. Những doanh nghiệp không dùng hết số tiền thừa phụ trội sẽ trích quỹ này để bù đắp.” Ng−ời lao động trong các doanh nghiệp có vốn tự tích luỹ ngoài những −u đãi chung còn đ−ợc phát không một số cổ phần tuỳ theo năm công tác của từng ng−ời. Tổng giá trị cổ phần phát hành không bằng 50% vốn tự tích luỹ của doanh nghiệp. (4) Về quy định khống chế việc bán cổ phần Một số chính sách thủ tục còn ch−a thông thoáng, thủ tục phiền hà. Khoản 2 Điều 13 Pháp lệnh chống tham nhũng quy định:“ Cán bộ lãnh đạo quản lý ngiệp vụ của doanh nghiệp, vợ hoặc chồng, con của họ làm việc tại doanh nghiệp chỉ đ−ợc mua cổ phần không quá mức bình quân trong doanh nghiệp cổ phần hoá”. Điều này làm cán bộ quản lý bị thiệt thòi quyền lợi tạo ra sự thiếu bình đẳng giữa những ng−ời làm việc lâu năm với ng−ời làm việc ít năm, không khuyến khích cán bộ quản lý doanh nghiệp mua cổ phần −u đãi, nh− những ng−ời lao động khác và làm nảy sinh t− t−ởng ngại mua nhiều cổ phần vì dễ bị đánh giá là có thể có biểu hiện tham nhũng. Để giải quyết vấn đề này cần xoá bỏ mức giới hạn mua cổ phần đối với cán bộ lãnh đạo doanh nghiệp cổ phần hoá mà tr−ớc hết phải xem lại Điều 13 của Pháp lệnh chống tham nhũng về các quy định đối với các doanh nghiệp cổ phần hoá. Việc khống chế quyền mua cổ phiếu lần đầu của cán bộ lãnh đạo trong doanh nghiệp là một vấn đề gây tâm lý e ngại, lo lắng về vị trí công tác, việc làm của ng−ời lao động. Hiện tại những cán bộ này là những chủ chốt trong guồng máy hoạt động của doanh nghiệp, sự phát triển h−ng thịnh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều vào hàng ngũ cán bộ này, song việc khống chế nh− trên dẫn đến 102 tâm lý chung là khi doanh nghiệp tiến hành cổ phần hoá thì quyền và lợi ích của họ trong công ty cổ phần không nhiều (phần vốn mà họ nắm giữ do bị khống chế là quá nhỏ so với tổng vốn của doanh nghiệp) nh−ng vị trí công tác bấp bênh, đời sống và thu nhập thì không có gì đảm bảo chắc chắn. b. Tăng c−ờng hợp tác giữa các Bộ, Ngành trong công tác cổ phần hoá, xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền các cấp, của lãnh đạo doanh nghiệp nhà n−ớc trong việc thực hiện chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp nhà n−ớc. Các bộ cùng phối hợp với nhau và với Ban Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp Trung −ơng kịp thời sử lý những v−ớng mắc của doanh nghiệp cổ phần hoá tạo tiếng nói chung thống nhất của cơ quan quản lý nhà n−ớc chỉ đạo ch−ơng trình này. Phối hợp giữa bộ, ngành tổng hợp ở trung −ơng thành lập một số các tổ công tác đến các Bộ, địa ph−ơng để kiểm tra đôn đốc việc thực hiện và giả quyết những v−ớng mắc của doanh nghiệp nhà n−ớc cổ phần hoá. Cụ thể: (1) Bộ Lao động, Th−ơng binh và Xã hội Chủ trì phối hợp với các bộ, ban ngành chỉ đạo, kiểm tra, tổng hợp báo cáo tình hính quản lý sử dụng lao động, thực hiện luật lao động, chế độ bảo hiểm xã hội, tiền l−ơng ở các doanh nghiệp cổ phần hoá, thẩm định kế hoạch đào tạo công nhân, cán bộ quản lý của doanh nghiệp trình UBND tỉnh duyệt kinh phí hỗ trợ. (2) Bộ Tài chính Có ph−ơng án sửa đổi, bổ sung cải tiến quy trình ph−ơng pháp xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hoá, đảm bảo nhanh, gọn bảo toàn đ−ợc tài sản nhà 103 n−ớc; đồng thời thực hiện từng b−ớc việc bán đấu giá doanh nghiệp nhà n−ớc khi chuyển đổi sở hữu nói chung. Sớm ban hành văn bản h−ớng dẫn thống nhất việc trích chi phí hoạt động cũng nh− mức thù lao cho Hội động quản trị. Cần tăng c−ờng kiểm tra, tổng hợp báo cáo tiến độ bán cổ phần, số vốn Nhà n−ớc còn lại ở từng doanh nghiệp, tình hình tạm ứng, thanh toán cổ tức với các cổ đông, nộp cổ tức phần vốn nhà n−ớc còn lại ở doanh nghiệp vào tài khoản “Quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần hoá”. (3) Ban Đổi mới và Quản lý các doanh nghiệp nhà n−ớc: Cần làm tốt nhiệm vụ t− vấn, công tác tham m−u cho Tỉnh uỷ, UBND tỉnh trong lãnh đạo chỉ đạo tổ chức sắp xếp doanh nghiệp. Cần có ph−ơng pháp quản lý công ty cổ phần để cung cấp thông tin cũng nh− h−ớng dẫn các công ty này hoạt động thống nhất và theo đúng chế độ quy định của Đảng và Nhà n−ớc. c. Tạo điều kiện phát triển thị tr−ờng chứng khoán Thị tr−ờng chứng khoán tại Việt Nam ra đời mới đ−ợc một thời gian rất ngắn nh−ng đó là một trong những nhân tố thúc đẩy quá trình cải cách hệ thống doanh nghiệp nhà n−ớc, đặc biệt là cổ phần hoá theo các nguyên tắc thị tr−ờng và tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tiếp cận với các nguồn vốn dồi dào của xã hội. Các doanh nghiệp phải tự củng cố uy tín, chủ động để huy động nguồn vốn thị tr−ờng và có trách nhiệm hơn với việc sử dụng vốn kinh doanh. Hơn nữa, trong điều kiện giá vốn cao (12%/năm - lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng), các công ty cổ phần sẽ có xu h−ớng chuyển mạnh hình thức huy động vốn thông qua thị tr−ờng chứng khoán và đó sẽ là điều kiện để phát huy tác dụng của thị tr−ờng chứng khoán. Thực tiễn sôi động 104 diễn ra tại Sàn giao dịch của Trung tâm giao dịch chứng khoán phía Nam hiện nay không những khẳng định sự có mặt khách quan của một định chế tài chính bậc cao của nền kinh tế thị tr−ờng, mà còn chứng tỏ cần và có thể tháo gỡ nhu cầu “động” về vốn luôn luôn có chiều h−ớng gia tăng của các doanh nghiệp bằng cách phát hành cổ phiếu công khai, hợp pháp trên thị tr−ờng chứng khoán. Vì vậy, sự hình thành và hoàn thiện cơ chế hoạt động của thị tr−ờng chứng khoán nói chung và thị tr−ờng cổ phiếu nói riêng là điều kiện và công cụ ngày càng trở nên quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển cuả doanh nghiệp cổ phần. d. Tranh thủ tối đa các nguồn tài trợ thông qua các dự án để hỗ trợ các Bộ, ngành, địa ph−ơng và các Sở tích cực thực hiện chủ tr−ơng cổ phần hoá, tăng c−ờng năng lực cho các Ban Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp, bổ sung vào quỹ hỗ trợ sắp xếp và cổ phần để giải quyết kịp thời những yêu cầu về chính sách đối với doanh nghiệp và ng−ời lao động. e. Xây dựng hệ thống cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cổ phần (1) Tạo mọi điều kiện cần thiết để cho các doanh nghiệp tự chủ, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, bảo toàn và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đ−ợc giao và tự bổ sung. Tạo cơ chế chính sách để doanh nghiệp tự hoàn thiện, tự nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh theo pháp luật. Về vốn: cần phải có quy định cụ thể về tỷ lệ cổ phần nhà n−ớc trong các doanh nghiệp cổ phần theo các quy mô, ngành nghề khác nhau để có những ph−ơng thức quản lý vốn nhà n−ớc t−ơng ứng. Đối với đầu t− mới, nhất thiết phải theo quy hoạch phát triển ngành kinh tế kỹ thuật, vùng và địa ph−ơng trên cơ sở 105 tuân thủ chế độ quản lý đầu t− xây dựng cơ bản do chính phủ ban hành. Chính phủ khẩn tr−ơng hoàn thiện cơ chế này theo h−ớng phân cấp mạnh, chủ đầu t− và ng−ời phê duyệt dự án đồng chịu trách nhiệm về hiệu quả của dự án. Về lao động tiền l−ơng: Nhà n−ớc cần quy định về quyền hạn của doanh nghiệp đối với quy định về l−ơng, th−ởng, cũng nh− các quy định về phụ cấp cho Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Về kiểm tra, kiểm soát: Nhà n−ớc thông qua các cơ quan của mình thực hiện việc kiểm tra giám sát trên cơ sở luật pháp và đảm bảo quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần, tránh sự chồng chéo, trùng lặp giữa các cơ quan,các cấp thanh tra, kiểm tra khác nhau về cùng một nội dung, gây phiền hà, tốn kém cho doanh nghiêp. Cụ thể: • Cần xác định một tiêu chí hợp lý để vừa bảo đảm thực hiện chức năng quản lý nhà n−ớc, vừa bảo đảm quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cổ phần. • Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức nhà n−ớc thấm nhuần mục đích chính của thanh tra, kiểm tra là nhằm tăng c−ờng quản lý, phát hiện những bất cập của chính sách, cơ chế để bổ sung, hoàn thiện và h−ớng dẫn, giúp đỡ doanh nghiệp thực hiện tốt luật pháp,chính sách chứ không phải lấy thanh tra kiểm tra là cớ để hạch sách, vòi vĩnh doanh nghiệp. • Kiện toàn hệ thống t− pháp bảo đảm việc giải quyết các vụ án kinh tế một cách công bằng, chính xác, đồng thời nâng cao hiệu lực của công tác thi hành án. (2) Ban hành chính sách xử lý lao động dôi d− trong doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá, đảm bảo nguồn tài chính thoả đáng cho việc này. 106 Nhà n−ớc cần hoàn chỉnh các chính sách trong đó có các chính sách trợ cấp thôi việc đối với ng−ời lao động có thời gian làm việc tại khu vực nhà n−ớc đã chuyển sang cổ phần. Theo đó, nhà n−ớc cần quy định cụ thể nguồn chi, trình tự, thủ tục, tránh phiền hà cho ng−ời lao động khi nhận trợ cấp thôi việc. (3) Xây dựng cơ chế −u đãi hợp lý xử lý nợ để khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi sơ hữu và niêm yết trên thị tr−ờng chứng khoán, bao gồm cả các biện pháp khoanh nợ, xoá nợ và chuyển nợ thành cổ phần ở những doanh nghiệp cổ phần hoá. (4) Ban hành Quy chế quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh đối với doanh nghiệp ngoài quốc doanh. (5) H−ớng dẫn triển khai Quy chế quản lý phần vốn nhà n−ớc tại các doanh nghiệp khác (đặc biệt là việc cử ng−ời trực tiếp quản lý phần vốn nhà n−ớc ở các doanh nghiệp khác). Chính phủ cần có các biện pháp đôn đốc và quy trách nhiệm cụ thể cho các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trong việc thực hiện tốt công tác sắp xếp, phân loại và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc, hỗ trợ các doanh nghiệp đã thực hiện xong cổ phần hoá tiếp tục hoạt động. Các bộ, ngành, địa ph−ơng và tổng công ty nhà n−ớc chủ động đ−a ra lộ trình thực hiện cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu cho các doanh nghiệp thuộc đối t−ợng quản lý, kiên quyết thực hiện giải thể, phá sản đối với doanh nghiệp cổ phần kinh doanh thua lỗ kéo dài, mất khả năng thanh toán, kịp thời tháo gỡ khó khăn , v−ớng mắc trong quá trình thực hiện. Có cơ chế cụ thể xử lý đối với những tài sản và nợ loại khỏi giá trị doanh nghiệp, thành lập Công ty quản lý tài sản và mua bán nợ theo tinh thần Nghị quyết số 11-2000/NQ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ để hỗ trợ các doanh 107 nghiệp xử lý những vấn đề tồn tại về tài chính khi thực hiện các đề án chuyển đổi sở hữu và giảm thiểu tổn thất của nhà n−ớc trong quá trình thực hiện chuyển đổi sở hữu. Mặt khác sự ra đời của công ty này sẽ giúp cho các doanh nghiệp lành mạnh hoá tình hình tài chính ngay trong quá trình sản xuất kinh doanh và hỗ trợ các doanh nghiệp cổ phần không đủ điều kiện niêm yết thực hiện mua bán, trao đổi cổ phiếu. g. Kiện toàn tổ chức chỉ đạo Cần củng cố và tăng c−ờng hệ thống Ban chỉ đạo Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp nhà n−ớc hiện nay cả về tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn. Về tổ chức lãnh đạo cần sâu sát, cụ thể Ban chỉ đạo của chính phủ cần tăng c−ờng sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ ngành và các điạ ph−ơng, các cơ quan hữu trách, để quá trình thực hiện đ−ợc thông suốt. Giải quyết kịp thời các v−ớng mắc ở các doanh nghiệp cổ phần theo sự phân cấp; không buông lỏng chỉ đạo ở các cấp đối với cổ phần hoá. Những doanh nghiệp nào giám đốc hoặc cán bộ quản lý không thực hiện hoặc thực hiện cổ phần hoá mang tính chất đối phó đề nghị các bộ ngành, địa ph−ơng có biện pháp xử lý kể cả xem xét cần thiết thay thế cán bộ khác. 4.3.2.2. Giải pháp cụ thể (1) Nâng cao nhận thức của ng−ời lao động trong doanh nghiệp cổ phần về chủ tr−ơng chính sách cổ phần hoá Tr−ớc hết về mặt quan điểm, cần tổ chức tuyên truyền, vận động đả thông t− t−ởng cũng nh− chủ tr−ơng cổ phần hoá của nhà n−ớc ở tại doanh nghiệp cho tất cả mọi đối t−ợng từ lãnh đạo đến mọi ng−ời lao động. Những vấn đề liên quan đến môi tr−ờng, tâm lý, tập quán của ng−ời Việt Nam nh−: phần lớn các cán bộ của chúng ta đ−ợc đào tạo từ chế độ XHCN, t− t−ởng bao cấp, ỷ lại 108 trông chờ vào sự giúp đỡ, phân phối của các cơ quan cấp trên đã trở thành nếp sống của mỗi ng−ời dân, mỗi cán bộ công nhân viên chức. Điều này đặt ra vấn đề đào tạo lại cán bộ là vấn đề cấp bách đồng thời cũng phải nhận thức rằng việc chuyển biến t− t−ởng không phải một sớm một chiều, phải có thời gian. Mọi sự áp đặt đều đ−a đến những kết quả không tốt do vậy công tác giáo dục chính trị, t− t−ởng về cổ phần hoá phải làm tốt hơn nữa. Tiến hành cổ phần hoá là một chủ tr−ơng lớn, đúng đắn mà bất kỳ một n−ớc phát triển nào trên thế giới cũng đã phải thực hiện. Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc không dẫn tới làm suy yếu kinh tế nhà n−ớc vì trong cơ cấu kinh tế quốc dân nhà n−ớc vẫn giữ các doanh nghiệp then chốt, trọng yếu. Thứ hai, việc thực hiện cổ phần hoá không làm ảnh h−ởng tới quyền lợi kinh tế và vị trí của mỗi ng−ời trong doanh nghiệp nếu họ thực sự có khả năng và có đóng góp tích cực vào nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. (2) Giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở các doanh nghiệp cổ phần hoá Các doanh nghiệp phải tiến hành rà soát định mức, định biên lao động để xác định số l−ợng lao động hợp lý theo nguyên tắc “có việc - có ng−ời”, đảm bảo giờ công, ngày công, thu nhập theo luật định. Các doanh nghiệp cần hết sức chú ý ph−ơng án đầu t− và phát triển sản xuất, kinh doanh để có thể thu hút tối đa ng−ời lao động có việc làm ở doanh nghiệp cổ phần. Tr−ờng hợp ng−ời lao động tự nguyện thôi việc hoặc mất việc thực hiện giải quyết theo chế độ hiện hành và sử dụng quỹ hỗ trợ sắp xếp, cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc để bổ sung. Đồng thời phải dành một phần ngân sách để hỗ trợ giải quyết việc làm cho số lao động mất việc qua việc sắp xếp lại, giải thể, phá sản doanh nghiệp cổ phần, gắn việc cấp tiền với tạo việc làm, không cấp tiền “chay” nh− khi thực hiện Quyết định 176 tr−ớc đây, tuy có tác 109 dụng tích cực nh−ng không ít tr−ờng hợp nhà n−ớc cấp tiền nh−ng ng−ời lao động vẫn không có việc làm mới. Gắn việc giải quyết lao động dôi d− với các ch−ơng trình quốc gia tạo việc làm. Giải quyết việc làm cho ng−ời lao động là vấn đề cấp thiết đặt ra với nhiều doanh nghiệp cổ phần. Để giải quyết và có đ−ợc kết quả mang tính t−ơng đối và giảm thiểu sức ép về xã hội, cần có một cơ chế với nhiều ý t−ởng mới hơn cho vấn đề này. Đó là để đạt đ−ợc hiệu quả cao nhất, cần có sự chia sẻ của cả ba bên: ng−ời lao động, doanh nghiệp và nhà n−ớc. Nếu chỉ khuôn lại trọng trách thuộc về một phía nào đấy, vấn đề chắc chắn v−ớng phải trở ngại bởi chính quyền lợi của phía đấy. Có thể đề cập cụ thể một số vấn đề nh− chi phí cho đào tạo lại lao động, nâng mức trợ cấp… (3) Tăng c−ờng tổng kết, đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cổ phần Đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp là sự đo l−ờng nhằm xác định vị thế hiện tại của doanh nghiệp từ đó đ−a ra dự báo về triển vọng. Tổng kết công tác cổ phần hoá là một lĩnh vực công tác rất mới mẻ đối với n−ớc ta. Trong bối cảnh môi tr−ờng kinh doanh luôn luôn biến động, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra từng ngày, từng giờ, thì áp lực trong công việc phải tìm cách nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là hết sức gay gắt, khiến các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới để có thể tồn tại và phát triển bền vững. Để trụ vững trong môi tr−ờng kinh doanh nh− vậy, các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần th−ờng muốn biết rõ về tình trạng “sức khoẻ” của mình, trên cơ sở đó đề ra các kế hoạch điều chỉnh hay cải tiến các hoạt động kinh doanh nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh. Điều này cho thấy, việc tổng kết, đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cổ phần hiện trở thành nhu cầu khá bức xúc. 110 Việc đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cổ phần cũng rất cần thiết đối với các chủ nợ và chủ sở hữu doanh nghiệp vì qua đó, họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình trong doanh nghiệp. Chẳng hạn, các cổ đông lớn của một doanh nghiệp có thể dựa trên những kết quá đánh giá mà quyết định ủng hộ ban lãnh đạo hay phải thay thế họ. Đối với các nhà đầu t− chứng khoán, các cổ đông tiềm tàng, thì kết quả đánh giá doanh nghiệp là cơ sở để họ quyết định đặt đồng vốn vào hay rút ra khỏi doanh nghiệp đó. Đối với các chủ nợ hiện tại, thì họ sẽ dựa vào kết quả đánh giá doanh nghiệp mà quyết định cho vay hay từ chối. Cuộc khủng hoảng kinh tế châu á cho thấy, do không đánh giá đúng tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong ngành kinh doanh bất động sản, nên các ngân hàng, các nhà đầu t− cho vay nhiều triệu USD. Sau khi những khách hàng này mất khả năng thanh toán, các chủ nợ cũng phá sản theo. Riêng với các khách hàng lớn, việc đánh giá doanh nghiệp chủ yếu nhằm xác định mức độ ổn định đối với nguồn nguyên liệu hay bán thành phẩm mà họ mua từ doanh nghiệp khác vì khi nhà cung ứng bị mất khả năng cung ứng nguyên liệu thì sản xuất của doanh nghiệp th−ờng đình trệ, gây thiệt hại không nhỏ. Còn với các nhà cung cấp, việc đánh giá doanh nghiệp lại nhằm xác định khả năng thanh toán các khoản tiền mua hàng của doanh nghiệp khách hàng và hạn chế tình trạng phát sinh những món “nợ khó đòi”, giúp nhà cung cấp đánh giá triển vọng hay khả năng trả nợ của khách hàng trong t−ơng lai. Đối với các đối thủ cạnh tranh, việc đánh giá doanh nghiệp nhằm biết rõ tiềm lực mọi mặt của một doanh nghiệp cạnh tranh và triển vọng t−ơng lai của nó để có thể sớm đ−a ra các quyết định hoặc có giải pháp chống lại sự tấn công của các đối thủ. Việc đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cổ phần có một ý nghĩa quan trọng nh− thế nh−ng cho đến nay công tác này diễn ra rất chậm ở các doanh nghiệp cổ 111 phần, thậm chí nhiều doanh nghiệp cổ phần còn không thực hiện. Về phía Nhà n−ớc thì công tác tổng kết đánh giá tình hình hoạt động của các doanh nghiệp cổ phần chậm chạp, ch−a đ−a ra đ−ợc tổng kết mặt mạnh yếu, nguyên nhân, biện pháp khắc phục hỗ trợ các doanh nghiệp sau cổ phần hoá. Đây là một yêu cầu bức xúc trong giai đoạn hiện nay. (4) Ban hành quy chế về quyền hạn, trách nhiệm của ng−ời đại diện phần vốn nhà n−ớc tại các công ty cổ phần theo h−ớng gắn trách nhiệm với quyền lợi của những thành viên này để họ thực sự thực hiện tốt vai trò của nhà n−ớc trong doanh nghiệp cổ phần. Nghị định 73/2000/NĐ-CP ngày 6/12/2000 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý phần vốn nhà n−ớc ở doanh nghiệp khác, có quy định về ng−ời đại diện và ng−ời trực tiếp quản lý phần vốn nhà n−ớc tại doanh nghiệp. Ng−ời đại diện phần vốn nhà n−ớc tại các DNNN thuộc Thành phố là UBND Thành phố. Vậy vai trò của cơ quan chủ quản cũ là Tổng công ty, hoặc quận huyện hay sở ngành thì nh− thế nào. Điều này cũng cần có h−ớng dẫn bổ sung để DNNN sau cổ phần hoá hoạt động đ−ợc dễ dàng hơn. 112 5. Kết luận và khuyến nghị 5.1. Kết luận Từ những nghiên cứu thực tiễn nh− trên, chúng tôi đi đến một số kết luận nh− sau: (1) Cổ phần hoá đã có những tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Do xác định rõ ràng về sở hữu của các cổ đông khi cổ phần hoá nên quyền lợi, trách nhiệm của cổ đông và của doanh nghiệp cũng rõ ràng hơn, từ đó hạn chế đ−ợc tình trạng thất thoát vốn, tài sản th−ờng thấy trong DNNN. Ưu điểm của cổ phần hoá thể hiện ở chỗ tất cả các DNNN chuyển đổi theo hình thức này đều không sa thải ng−ời lao động (trừ một số tr−ờng hợp tự nguyện chấm dứt hợp đồng lao động), đồng thời một bộ phận ng−ời lao động đã trở thành cổ đông của doanh nghiệp, nên quyền lợi và trách nhiệm của họ gắn chặt với quyền lợi và trách nhiệm của công ty. Cổ phần hoá đã thu hút thêm một l−ợng vốn khá lớn của các cá nhân, pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế để đầu t− chiều sâu, đổi mới công nghệ, nhờ đó mà nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Phần vốn nhà n−ớc tại các doanh nghiệp cổ phần hoá đ−ợc xác định lại một cách rõ ràng, minh bạch hơn, đ−ợc đánh giá đúng hơn, nên vốn nhà n−ớc đã tăng lên so với sổ sách kế toán, đồng thời tăng lên sau cổ phần hoá. (2) Chuyển một bộ phận doanh nghiệp nhà n−ớc thành công ty cổ phần đã đ−ợc khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng. Theo Nghị quyết Trung −ơng ba mới đ−ợc ban hành thì đây là một biện pháp quan trọng trong các biện pháp để tiếp tục sắp xếp, đổi mới và nâng cao hiệu quả của các doanh nghiệp nhà n−ớc. 113 (3) Sau cổ phần hoá, các doanh nghiệp không những bảo toàn mà còn tăng đáng kể vốn, các chỉ tiêu tài chính đều tăng, ng−ời lao động tiếp tục có việc làm và tăng thu nhập, điều đó cho thấy đây là chủ tr−ơng đúng đắn của Đảng và nhà n−ớc, đáp ứng đ−ợc nhu cầu thực tiễn của cải cách DNNN và giải quyết việc làm, thu nhập cho ng−ời lao động. (4) Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, các doanh nghiệp sau chuyển đổi còn gặp một số trở ngại, khó khăn về tiếp cận các nguồn lực, một số vấn đề bất bình đẳng giữa DNNN và Công ty cổ phần; DNNN sau cổ phần hoá ch−a thực sự chủ động và chuyển mình theo sự vận động của thị tr−ờng một khi đã tách khỏi chỗ dựa nhà n−ớc. Do đấy, DNNN sau cổ phần hoá cần đ−ợc hỗ trợ một số giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp nhà n−ớc sau cổ phần hoá tiếp tục phát triển mạnh mẽ và bền vững hơn nữa. 5.2. Khuyến nghị Đối với các Bộ, ban ngành có liên quan: (1) Tăng c−ờng tổng kết, đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp cổ phần Đánh giá, xếp hạng doanh nghiệp là sự đo l−ờng nhằm xác định vị thế hiện tại của doanh nghiệp từ đó đ−a ra dự báo về triển vọng. Tổng kết công tác cổ phần hoá là một lĩnh vực công tác rất mới mẻ đối với n−ớc ta. Trong bối cảnh môi tr−ờng kinh doanh luôn luôn biến động, xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra từng ngày, từng giờ, thì áp lực trong công việc phải tìm cách nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp là hết sức gay gắt, khiến các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới để có thể tồn tại và phát triển bền vững. 114 (2) Ban hành quy chế về quyền hạn và nâng cao hơn nữa trách nhiệm của ng−ời đại diện phần vốn nhà n−ớc tại các công ty cổ phần theo h−ớng gắn trách nhiệm với quyền lợi của những thành viên này để họ thực sự thực hiện tốt vai trò của nhà n−ớc trong doanh nghiệp cổ phần. Đối với các doanh nghiệp nhà n−ớc đã cổ phần hoá: (1) Làm tốt công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của ng−ời lao động về chủ tr−ơng cổ phần hoá. (2) Giải quyết vấn đề lao động, việc làm ở các doanh nghiệp cổ phần hoá 115 Tài liệu tham khảo Tiếng Việt 1. Chu Hoàng Anh (2003), Hỏi đáp về chính sách đối với lao động dôi d− và ng−ời lao động trong sắp xếp và cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Lao động- Xã hội, Hà Nội. 2. Ban chỉ đạo Đổi mới và Quản lý doanh nghiệp- Công ty Cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2002), Cổ phần hoá giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 3. Ban Đổi mới quản lý doanh nghiệp Thành phố Hà Nội (2001), Đánh giá tình hình thực hiện cổ phần hoá. Những kiến nghị xử lý về cổ phần hoá của thành phố Hà Nội, Hà Nội. 4. Bộ Lao động, Th−ơng binh và Xã hội (2005), Thông t− số 13/2005/TT- BLĐTBXH ngày 25/2/2005 của Bộ Lao động, Th−ơng Binh và Xã hội h−ớng dẫn chính sách đối với ng−ời lao động theo Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, Hà Nội. 5. Bộ Tài chính (2005), Quyết định 2592/QĐ-BTC ngày 4/8/2005 của Bộ Tài chính ban hành quy trình kết hợp cổ phần hoá với niêm yết, đăng ký, giao dịch cổ phiếu tại các thị tr−ờng chứng khoán, Hà Nội. 116 6. Bộ Tài chính (2005), Công văn số 2499/TC-TCDN ngày 4/3/2005 của Bộ Tài chính về việc thực hiện Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ Tài chính, Hà Nội. 7. Chính phủ (2002), Nghị định 41/2002/NĐ-CP ngày 11/4/2002 của Chính phủ về chính sách đối với lao động dôi d− do sắp xếp lại doanh nghiệp nhà n−ớc, Hà Nội. 8. Chính phủ (2002), Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp nhà n−ớc thành công ty cổ phần, Hà Nội. 9. Chính phủ (2004), Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ về việc chuyển Công ty nhà n−ớc thành công ty cổ phần, Hà Nội. 10. Chính phủ (2004), Nghị định 180/2004/NĐ-CP ngày 28/10/2004 của Chính phủ về việc thành lập mới, tổ chức lại và giải thể công ty nhà n−ớc, Hà Nội. 11. Chính phủ (2005), Chỉ thị 04/2005/CT-TTg ngày 17/3/2005 của Thủ t−ớng chính phủ về đẩy nhanh vững chắc cổ phần hoá Công ty nhà n−ớc, Hà Nội. 12. Bộ Tài chính (2004), Thông t− 126/2004/TT-BTC ngày 24/12/2004 của Bộ tài chính về việc h−ớng dân thực hiện Nghị định 187/2004/NĐ-CP ngày 16/11/2004 của Chính phủ, Hà Nội. 13. Christine Stopp (1999), H−ớng dẫn đầu t− vào thị tr−ờng chứng khoán (Minh Đức, Hồ Kim Chung dịch), Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội. 14. Phạm Ngọc Côn (2001), Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 15. Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây (2001), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Xí nghiệp nuôi cá Trúc Bạch, Hà Nội. 117 16. Công ty Đầu t− khai thác Hồ Tây (2001), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty dịch vụ vui chơi giải trí Hồ Tây, Hà Nội. 17. Công ty Phúc Thịnh (1998), Ph−ơng án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc Công ty Phúc Thịnh, Hà Nội. 18. Lê Duy Đồng (2001), “Chính sách đối với lao động trong doanh nghiệp nhà n−ớc chuyển đổi sở hữu”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội. 19. Trần Xuân Hà (2001), “Vai trò của thị tr−ờng chứng khoán đối với việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở Việt nam”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội. 20. Nguyễn Văn Huy (2001), “Cổ phần hoá và đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp nhà n−ớc- Thực trạng và định h−ớng tiếp tục đẩy mạnh”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội. 21. Bùi Đức Long (2004), Thực trạng và những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc trực thuộc Thành phố Hà Nội. Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Đại học Nông nghiệp I, Hà Nội 22. Phạm Long (2001), “Một số vấn đề về tài chính trong tiến trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc”, Tạp chí Tài chính, 4/2001, Hà Nội. 23. Luật doanh nghiệp Nhà n−ớc (1999), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. Ngô Quang Minh (2000), Kinh tế nhà n−ớc và quá trình cổ phần doanh nghiệp nhà n−ớc- Những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam, Đề tài cấp Bộ 1999-2000, Hà Nội. 118 25. Phạm Viết Muôn (2001), “Tổng quát về đổi mới và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà n−ớc”, Hội thảo Cổ phần hoá doanh nghiệp trong thời kỳ mới, Hà Nội. 26. Nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị và điều hành công ty cổ phần (2001), Phòng Th−ơng mại và Công nghiệp Việt Nam, Hà Nội. 27. Nguyễn Văn Nghĩa (2002), “Bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc”, Cổ phần hoá giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Nghị quyết hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung Ương Đảng khoá IX (2002), Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 29. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội (2004), Quy chế về tổ chức hoạt động của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội, Hà Nội. 30. Nguyễn Thị Thơm (1999), “Tại sao cổ phần hoá chậm”, Tạp chí kinh tế và phát triển số 32, tháng 9-10/1999, Hà Nội. 31. Trần Trung Tín (2000), “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc- Thực trạng và giải pháp”, Tạp chí thông tin lý luận 12/2000, Hà Nội. 32. Nguyễn Anh Tuấn (2001), Những giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam trong việc đẩy mạnh xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực sang thị tr−ờng Nhật Bản, Luận văn tốt nghiệp, Đại học Ngoại th−ơng, Hà Nội. 33. Lê Văn T− (2003), Thị tr−ờng chứng khoán, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội. 34. Trần Anh Vũ (2002), “Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n−ớc ở một số n−ớc trên thế giới”, Cổ phần hoá giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp nhà n−ớc, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội. 119 Tiếng Anh 35. Development of Stock Market in the World (1996), New York Institude of Finance, USA. 36. How the Stock Market Works (1993), Published by The New York Institude of Finance, USA. 37. Securities Market in Japan (1992), published by Japan Securities Research Institute, Japan. 38. The Development of China’s Securities Market (1998), Wang Lin, China. 39. The Efficiency of the Stock Market in Thailand (1997), Naraumol Nuntajindawat, Published by AIT Thailand, Thailand. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfCH2644.pdf
Tài liệu liên quan