Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản trong thời kỳ hội nhập WTO

MỤC LỤC DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT FTA (Free Trade Area): Khu vực mậu dịch tự do WTO (World Trade Organization): Tổ chức thương mại thế giới VCCI (Vietnam Chamber of Commerce and Industry): Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam HACCP (Hazard Analysis Critical Control Point): phân tích nguy cơ và kiểm soát các khâu trọng yếu ISO (International Standard Organization): Tổ chức tiêu chuẩn quốc tế Cà phê Robusta: cà phê vối Cà phê Abrica: cà phê chè NA : Not Available DANH MỤC

doc101 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 918 | Lượt tải: 3download
Tóm tắt tài liệu Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản trong thời kỳ hội nhập WTO, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
CÁC BẢNG Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản giai đoạn 2002 - 2006 28 Bảng 2.2: Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực giai đoạn 2001-2006 32 Biểu 2.3: Xuất khẩu Cà phê sang thị trường Châu Âu giai đoạn 2001-2006 41 Biểu 2.4: Xuất khẩu hạt điều sang EU giai đoạn 2001-2006 44 Bảng 2.5: Xuất khẩu Cao su sang thị trường EU giai đoạn 2001-2006 47 Biểu 2.6: Giá gạo 15% tấm của Việt Nam và Thái Lan năm 2007 56 LỜI NÓI ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài: Ngày nay, quá trình hội nhập sâu rộng đã giúp các quốc gia đưa hàng hoá của mình vượt khỏi biên giới địa lý nhỏ hẹp của một nước để đến tận cùng ngõ ngách của thế giới. Nhưng cũng chính trong thời kỳ hội nhập, vấn đề cạnh tranh ở tầm quốc tế của sản phẩm hàng hoá lại càng trở thành một đề tài nóng bỏng và cấp thiết đối với mọi quốc gia có chính sách kinh tế mở cửa. Các nước, một mặt kêu gọi sự tự do hoá mậu dịch mặt khác lại có những chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước, bóp méo thương mại quốc tế và gây ra sự bất đồng trong các cuộc đàm phán toàn cầu. Nhưng cho dù có kêu gọi tự do hay âm thầm bảo hộ thì thực chất của những chính sách thương mại này đều nhằm mục đích nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá ở thị trường trong nước lẫn thị trường quốc tế. Lĩnh vực được bảo hộ nhiều nhất và gây tranh cãi nhiều nhất là lĩnh vực nông nghiệp. Điều này cho thấy mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong tổng GDP của các quốc gia ngày càng giảm nhưng các nước luôn nhận thức và coi trọng tầm quan trọng của nó trong sự phát triển ổn định và thịnh vượng của nền kinh tế. Trong bối cảnh như thế, Việt Nam, một nước sản xuất nông nghiệp và có chính sách kinh tế mở cửa không thể nào không quan tâm đến vấn đề cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường quốc tế. Từ một nền nông nghiệp nghèo nàn lạc hậu, không đủ cung cấp lương thực cho nền kinh tế quốc dân, chúng ta đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới, hàng nông sản của chúng ta đã có mặt ở rất nhiều thị trường thế giới, trong đó có những thị trường khó tính và yêu cầu cao, đặc biệt là hai thị trường lớn: EU và Nhật Bản. Thực tế chứng minh thời gian qua Việt Nam đã thành công đáng kể trong việc nâng cao giá trị cũng như chất lượng hàng nông sản xuất khẩu vào thị trường EU và Nhật Bản. Tuy nhiên, để hàng nông sản thực sự có sức cạnh tranh trên hai thị trường quan trọng này lại là một vấn đề không đơn giản. Như vậy, nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản trên thị trường EU và Nhật Bản vẫn là một vấn đề cấp thiết đặt ra không chỉ đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu vào hai thị trường này mà còn đối với nhà nước, các cấp ngành liên quan và đối với người nông dân. Chính vì như thế mà người viết quyết định chọn đề tài “Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản trong thời kỳ hội nhập WTO” để nghiên cứu cho Luận văn tốt nghiệp của mình. 2. Tình hình nghiên cứu: Thời gian qua, Việt Nam đã có một số đề tài nghiên cứu của một số tác giả về vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam, tuy nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản. Do vậy, đây là đề tài đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này. Người viết chọn nghiên cứu chung cả hai thị trường bởi lẽ hai thị trường này có sự tương đồng về các tiêu chuẩn đặt ra đối với hàng nông sản nhập khẩu vào quốc gia mình. 3. Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu về tình hình xuất khẩu nông sản của Việt nam vào hai thị trường EU và Nhật Bản, luận văn tìm ra các giải pháp để hàng nông sản xuất khẩu của Việt nam có thể có một thị phần đáng kể trên hai thị trường này và có thể cạnh tranh được với các nước xuất khẩu tương đồng như Thái Lan, Trung Quốc. 4. Nhiệm vụ nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận tổng quan về năng lực cạnh tranh của sản phẩm nói chung và nông sản nói riêng. Tìm hiểu, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản. Đề xuất các giải pháp để hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam ngày càng có sức cạnh tranh trên hai thị trường này. 5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung chủ yếu vào phân tích năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản. Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ giới hạn nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản từ khoảng năm 2000 đến nay để đưa ra giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam vào hai thị trường này trong thời gian tới. 6. Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu, hoàn thiện, luận văn dựa trên cơ sở vận dụng phép duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp như: Phương pháp phân tích. Phương pháp thống kê. Phương pháp tổng hợp. Phương pháp so sánh. Đồng thời dựa vào các lý luận, quan điểm kinh tế, tài chính và định hướng phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, xuất phát từ thực tiễn để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu. 7. Kết cấu của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận và mục lục, kết cấu của luận văn được chia làm 3 chương. Chương 1:Tổng quan về năng lực cạnh tranh của sản phẩm và sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường EU và Nhật Bản. Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt nam trên thị trường EU và Nhật Bản. Chương 3: Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt nam trên thị trường EU và Nhật Bản. TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM SANG THỊ TRƯỜNG EU VÀ NHẬT BẢN Tổng quan về năng lực canh tranh của sản phẩm và các nhân tố ảnh hưởng Khái niệm năng lực cạnh tranh của sản phẩm Định nghĩa năng lực cạnh tranh của sản phẩm Ngày nay, để một hàng hoá có thể tồn tại được trong môi trường cạnh tranh quốc tế, sản phẩm đó nhất định phải mang một hoặc nhiều tính ưu việt hơn các sản phẩm khác, hay nói cách khác sản phẩm đó phải có năng lực cạnh tranh. Năng lực canh tranh của sản phẩm hay sức cạnh tranh, hoặc còn gọi là khả năng cạnh tranh của sản phẩm chính là yếu tố đảm bảo cho sự tồn tại của sản phẩm trên thị trường, đặc biệt là thị trường thế giới. Sản phẩm có sức cạnh tranh chính là sản phẩm có thể đứng vững khi có mức giá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay mức giá cân bằng. Sản phẩm có sức cạnh tranh sẽ tạo được mặt vượt trội về chất lượng, giá cả và cơ chế vận hành của nó trên thị trường, tạo nên sức hấp dẫn của sản phẩm với khách hàng trong quá trình sử dụng. Vậy như thế nào là năng lực cạnh tranh của sản phẩm? Xét một cách tổng thể thì năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, tính độc đáo hay sự khác biệt, thương hiệu, bao bì … vượt trội so với những sản phẩm cùng loại. 1.1.1.2. Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Thị phần Thị phần là phần thị trường tiêu thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh. Cũng có định nghĩa cho rằng thị phần là phần lượng cầu của thị trường đối với hàng hoá của doanh nghiệp trong dung lượng thị trường. Trên thị trường quốc tế, thị phần là phần thị trường tiêu thụ một loại sản phẩm mà một quốc gia chiếm lĩnh. Ngày nay, cuộc tranh giành thị phần giữa các doanh nghiệp và giữa các quốc gia với nhau trở nên gay gắt hơn bao giờ hết. Chính điều này tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển đa dạng và người tiêu dùng có quyền lựa chọn các sản phẩm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu của họ với giá cả hợp lý. Về mặt định tính, thị phần được tính bằng doanh số bán của doanh nghiệp chia cho tổng doanh số của thị trường hoặc số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp chia cho tổng số sản phẩm tiêu thụ của thị trường. Chất lượng Có thể nói, ngày nay chất lượng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của một sản phẩm hàng hoá. Chất lượng của sản phẩm bị chi phối bởi nhiều yếu tố, trong đó có thể kể đến các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, phụ liệu), trình độ máy móc thiết bị, công nghệ, chế biến, trình độ tay nghề của đội ngũ nhân công. Một sản phẩm được coi là có chất lượng tốt không chỉ khi nó kết hợp được các nhân tố trên mà quan trọng nó phải thoả mãn được thị hiếu của người tiêu dùng. Chất lượng của sản phẩm càng cao thì vòng đời sản phẩm càng dài hay nói cách khác là khoảng thời gian tồn tại của sản phẩm trên thị trường càng lâu. Giá cả Trên một thị trường, đối với một mặt hàng có chất lượng tương đối giống nhau, người tiêu dùng nhìn chung có xu hướng lựa chọn các sản phẩm có giá cả thấp hơn và như thế sản phẩm sẽ tiêu thụ được nhiều hơn. Rõ ràng, giá cả của sản phẩm là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp trên thị trường, hay nói cách khác nó ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Vì thế, người ta sử dụng giá cả như một vũ khí cạnh tranh, trong đó các doanh nghiệp đều cố gắng tìm cách hạ giá thành sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh đến mức hợp lý nhất sao cho đáp ứng được khả năng chi trả của khách hàng mà vẫn đảm chất lượng sản phẩm và lợi nhuận cho doanh nghiệp. Việc định giá sản phẩm cần tiến hành dựa trên cơ sở phân tích mức giá thị trường, giá của đối thủ cạnh tranh và chiến lược kinh doanh mà doanh nghiệp lựa chọn. Thêm vào đó, mỗi giai đoạn khác nhau trong vòng đời sản phẩm lại nên áp dụng một mức giá khác nhau cho phù hợp. Ngày nay, việc dùng giá cả như một vũ khí cạnh tranh có phần ít đi nhưng nó vẫn ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn hàng hoá của người tiêu dùng. Vì thế, các doanh nghiệp cần phải tiết kiệm các nguồn lực đầu vào, sử dụng hợp lý các nhân tố khác trong quá trình kinh doanh và có chiến lược ổn định giá phù hợp để đưa ra được mức giá tối ưu. Mẫu mã Mẫu mã của sản phẩm là hình thức bên ngoài của sản phẩm đó, là cái tác động trực tiếp vào cảm quan thẩm mỹ của khách hàng trước khi tiêu dùng sản phẩm. Nó thể hiện thông qua các yếu tố như hình dáng, màu sắc, kích thước… của sản phẩm. Càng ngày, mẫu mã sản phẩm càng có vai trò lớn trong quyết định mua hàng của khách hàng. Mẫu mã càng có tính thẩm mỹ cao, kích thích trí tò mò và tâm lý tiêu dùng của khách hàng càng được ưa chuộng và có lợi thế cạnh tranh. Đặc biệt với những sản phẩm có tính thời trang và các sản phẩm thoả mãn trực tiếp từng người tiêu dùng như thực phẩm. Chính vì thế, khi đưa hàng hoá đến người tiêu dùng, các doanh nghiệp phải chú ý đến hình thức bên ngoài của sản phẩm mới. Thương hiệu Khái niệm thương hiệu (tiếng Anh còn gọi là Trademark) ngày nay xuất hiện càng nhiều trên các phương tiện truyền thông, các diễn đàn kinh tế bởi vì thương hiệu cũng được xem là một tài sản quý giá của doanh nghiệp, tác động trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Thương hiệu được định nghĩa là sự xác định riêng biệt của một sản phẩm hay dịch vụ dưới hình thức một tên gọi, từ ngữ, chữ số, tên người, tổ hợp màu sắc, châm ngôn, biểu tượng, hình tượng, dấu hiệu mà một nhà sản xuất dùng các biện pháp kỹ thuật thể hiện trên sản phẩm của mình khiến người ta phân biệt với sản phẩm khác. Ngày nay, thương hiệu trở thành một đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ dưới hình thức “nhãn hiệu hàng hoá”. Thương hiệu cũng có khả năng làm cho khách hàng tin tưởng và tiêu thụ hàng hoá, bởi lẽ một hàng hoá có thương hiệu đã được xây dựng và kiểm chứng trên thị trường sẽ được phần lớn người tiêu dùng tin tưởng và sử dụng. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm 1.1.2.1.Các nhân tố thuộc môi trường vĩ mô Trình độ phát triển của nền kinh tế trong nước và các chính sách của chính phủ Trình độ phát triển của một quốc gia tất yếu có ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của hàng hoá quốc gia đó, trình độ phát triển quốc gia đó có sự ảnh hưởng như sau: Tăng trưởng kinh tế là nhân tố tác động trực tiếp đến sức mua của xã hội tạo điều kiện để sản phẩm mở rộng quy mô sản xuất. Tài chính-tín dụng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh tranh của một sản phẩm. Ngoài ra, lãi suất tín dụng ảnh hưởng đến khả năng vay mượn của các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm. Đầu tư mang lại động lực chủ yếu cho nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Đây là yếu tố rất quan trọng có tính quyết định đến việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng sản xuất sản phẩm chủ lực. Mở cửa thương mại nhất là việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan nhập khẩu đòi hỏi sự nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển các sản phẩm chủ lực. Tiến bộ kỹ thuật tác động quan trọng đến chi phí sản xuất và chất lượng sản phẩm hàng hoá. Các chính sách vĩ mô trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, ứng dụng tiến bộ khoa học-công nghệ và huy động nguồn vốn tài chính cần thiết cho nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển các sản phẩm chủ lực. Phát triển nguồn nhân lực tạo ra những điều kiện thuận lợi cho nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Bối cảnh và các mối quan hệ thương mại quốc tế Trong thời kỳ hội nhập, một quốc gia sẽ bị ảnh hưởng rất nhiều trước sự biến động kinh tế của quốc gia khác, hay biến động của thị trường quốc tế do đó, bối cảnh và các mối quan hệ quốc tế sẽ tác động lớn đến năng lực cạnh tranh hàng hóa của một quốc gia: Bối cảnh quốc tế (như xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá đang gia tăng trở thành đặc điểm mới nổi bật của nền kinh tế thế giới) sẽ đưa đến các mặt thuận lợi, những cơ hội cũng như những thách thức cho cạnh tranh của các sản phẩm. Các hiệp định thương mại song phương đa phương, các tổ chức hợp tác phát triển, các khu vực thương mại tự do như AFTA, NAFTA trên thế giới ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh của hàng hoá của các nước trong khối so với các nước ngoài khối. 1.1.2.2.Các nhân tố thuộc môi trường vi mô Đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp Rõ ràng, sản phẩm của một doanh nghiệp cũng có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh sản phẩm của doanh nghiệp khác ở các góc độ sau: Quy mô của đối thủ cạnh tranh: đối thủ cạnh tranh có quy mô lớn sẽ làm giảm chi phí, tạo ra giá cả sản phẩm thấp hơn sản phẩm của doanh nghiệp do đó đe dọa đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Tính khác biệt của sản phẩm của đối thủ cạnh tranh: Nếu đối thủ tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm của mình so với các sản phẩm có cũng chức năng tương tự thì đối thủ sẽ có ưu thế cạnh tranh. Khả năng tiếp cận thị trường của đối thủ cạnh tranh: con đường đưa sản phẩm của đối thủ đến người tiêu dùng sẽ ngắn hơn, và do đó sản phẩm của doanh nghiệp sẽ bị giảm ưu thế Số lượng đối thủ cạnh tranh, quy mô đối thủ, tốc độ tăng trưởng sản phẩm: đối thủ cạnh tranh sẽ giành giật thị phần do những ưu thế này tạo ra. Áp lực từ sản phẩm thay thế có cùng công năng: nếu các sản phẩm thay thế trên thị trường cho sản phẩm của doanh nghiệp nhiều, mức giá hợp lý sẽ làm hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Các nhà cung cấp Các nhà cung cấp đầu vào sẽ tác động đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm theo các hướng sau: Khả năng ra đời nhiều loại nguyên vật liệu mới có tính ưu việt của nhà cung cấp đầu vào sẽ giúp các doanh nghiệp ra sản phẩm có nhiều ưu điểm hơn sẽ làm cho sản phẩm của doanh nghiệp có ưu thế cạnh tranh hơn. Các nhà cung cấp cải tiến công nghệ làm hạ giá thành đầu vào giúp các doanh nghiệp hạ giá thành sản phẩm, tối ưu hoá chi phí sản xuất nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Các nhà cung cấp độc quyền ép giá đầu vào sẽ làm giảm sức cạnh tranh của các doanh nghiệp. Khách hàng Áp lực từ phía khách hàng: khác hàng đỏi hỏi ngày càng về chất lượng sản phẩm, tính mới lạ và chất lượng phục vụ. Nếu sản phẩm doanh nghiệp có thể đáp ứng cao nhất là việc thoả mãn nhu cầu của khách hàng, sản phẩm đó sẽ có tính cạnh tranh cao. Các khách hàng so sánh giá cả mặt hàng do đó các doanh nghiệp ngày càng phải giảm giá thành chi phí sản xuất, đầu tư công nghệ và tối ưu đầu vào để nâng cao chất lượng sản phẩm. Như vậy, để có thể tạo được một lợi thế cạnh tranh, cần có sự kết hợp hài hoà và đồng bộ giữa các yếu tố thuộc cả môi trường vĩ mô lẫn vi mô. Ngày nay, vòng đời sản phẩm trở nên ngắn hơn rất nhiều, một sản phẩm có thể có sức cạnh tranh trong thời điểm này nhưng trong thời điểm khác nó trở nên lu mờ. Chính vì thế, để cho một sản phẩm có thể “sống lâu” cần có một chiến lược hợp lý và dài hạn. 1.1.3.Các yếu tố chính tạo nên năng lực cạnh tranh của hàng nông sản 1.1.3.1.Điều kiện sản xuất vốn có Điều kiện sản xuất vốn có là tiền đề quan trọng để tạo nên khả năng cạnh tranh của hàng hoá đặc biệt là hàng nông sản. Điều kiện sản xuất vốn có bao gồm các nhân tố chính như tài nguyên thiên nhiên, lực lượng lao động, vị trí địa lý, điều kiện thời tiết khí hậu, tài nguyên thiên nhiên. Đối với sản xuất nông nghiệp thì nguồn đất, nguồn nước là hết sức cần thiết. Nếu có nguồn đất đai, nước ngọt dồi dào thì sẽ thuận lợi để phát triển nông nghiệp, giúp giảm đi một phần chi phí sản xuất. Đây là yếu tố sử dụng nguồn nguyên liệu tại chỗ. Lực lượng lao động: Sản xuất nông nghiệp so với các ngành khác yêu cầu một lực lượng lao động tương đối nhiều hơn, đặc biệt với những nước chưa được cơ giới hoá, hiện đại hoá trong sản xuất nông nghiệp. Nếu lực lượng lao động dồi dào, giá rẻ có nghĩa là giá thành lao động giảm thì chi phí sản xuất tạo ra một sản phẩm sẽ giảm đáng kể. Vị trí địa lý: Yếu tố tác động lớn đến điều kiện và chi phí vận tải. Nếu nằm ở chi phí các cảng, điểm giao lưu quốc tế thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho việc giao lưu hàng hoá giữa Việt Nam với các nước khác dễ dàng, đôi khi còn góp phần tiết kiệm thời gian, giảm chi phí vận tải. Điều kiện thời tiết khí hậu: Cho dù khoa học kỹ thuật đã phát triển vượt bậc thì các sản phẩm nông nghiệp vẫn không thể nào tránh khỏi sự chi phối của thời tiết khí hậu. Chính đặc điểm của khí hậu tạo nên sự độc đáo và riêng có của sản phẩm. Ví dụ như các nước Trung Á có thể trồng rất nhiều cây ô liu vì điều kiện thích hợp trong khi lại không phát triển được cây lúa, ngô. Các nước nhiệt đới tạo ra được rất nhiều sản phẩm độc đáo mang đặc điểm của vùng khí hậu như xoài, cam... Như vậy, sự phát triển và tồn tại của sản phẩm nông nghiệp không thể không có các yếu tố thuộc điều kiện sản xuất vốn có, đây chính là nhân tố tạo ra khả năng cạnh tranh ban đầu cho sản phẩm phát triển. 1.1.3.2.Giống Trong nông nghiệp, giống là một yếu tố hết sức quan trọng tạo nên những đặc trưng riêng có của sản phẩm về chất lượng và năng suất. Sự tiến bộ vượt bậc trong công nghệ sinh học, cuộc cách mạng về gene đã tạo ra được những giống cây trồng, vật nuôi đem lại năng suất cao, chất lượng tốt. Nhu cầu thế giới về nông sản ngày càng đa dạng và phong phú. Để tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá cần tìm hiểu thị trường và xác định đặc trưng của từng loại thị trường về cà phê, lúa gạo, hoa quả... và từ đó chọn ra những giống thích hợp đưa vào canh tác và xuất khẩu sang các thị trường phù hợp. 1.1.3.3.Năng suất, sản lượng Năng suất cao tạo được sản lượng lớn và do đó làm tăng khả năng xuất khẩu. Một sản phẩm muốn có khả năng cạnh tranh cao trên thị trường thường phải có số lượng lớn và do đó sẽ chi phối tình hình cung của thị trường, thị phần lớn và có khả năng đánh bại các sản phẩm cạnh tranh cùng loại hơn là những sản phẩm có thị phần thấp. Năng suất cao cũng góp phần giảm chi phí sản xuất và do đó có thể hạ giá thành nâng sức cạnh tranh đối với những thị trường mà chiến lược giá cả có phát huy được tác dụng. 1.1.3.4.Giá cả sản phẩm Mặc dù hiện nay, việc cạnh tranh bằng giá cả không còn hữu hiệu, nhưng ở một số thị trường, giá rẻ vẫn là một lợi thế cạnh tranh lớn. Giá bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố: chi phí sản xuất ra chính sản phẩm, chi phí nhân công, chi phí quảng cáo, chi phí vận tải, chi phí bảo hiểm, chi phí bảo quản, chi phí lưu kho bãi... Cạnh tranh bằng giá tức là bán sản phẩm với chất lượng giống như các sản phẩm khác nhưng giá cả thấp hơn. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải giảm chi phí sản xuất. Đối với hàng nông sản thì những điều kiện sản xuất vốn có góp phần đáng kể tiết kiệm chi phí sản xuất. Giá thấp, chất lượng không thay đổi sẽ tạo ra cho sản phẩm sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao hơn so với sản phẩm khác. 1.1.3.5.Chất lượng sản phẩm Chất lượng sản phẩm là yếu tố được khách hàng quan tâm hàng đầu. Hàng nông sản phần lớn là để phục vụ nhu cầu ăn uống nên yêu cầu về chất lượng lại càng quan trọng nhằm bảo đảm sức khỏe người tiêu dùng. Tiêu chuẩn chất lượng thường do khách hàng quy định, căn cứ trên những quy định quốc tế đối với mặt hàng cụ thể. Mỗi dân tộc, mỗi người tiêu dùng ở quốc gia khác nhau lại có quy định riêng về kích thước, khẩu vị. Thí dụ đối với gạo, người dân khu vực Đông Nam Á, Trung Đông, châu Âu thích gạo hạt dài trong khi người Nhật, Hàn Quốc thích gạo hạt tròn. Hoặc do điều kiện trưng bày hay tồn trữ mà kích cỡ sản phẩm cũng phải thay đổi. Nếu kích thước không đạt, sản phẩm sẽ khó mà được chấp nhận. Người tiêu dùng cũng rất tinh tế trong việc lựa chọn màu sắc, độ tươi và mùi vị của hàng hóa. Do đó, công nghệ bảo quản hết sức quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng của hàng nông sản. Công nghệ bảo quản nhiều trái cây Việt Nam như xoài, vải thiều, vú sữa... nếu được nâng cao thì chất lượng sản phẩm sẽ đảm bảo khi xuất khẩu sang thị trường thế giới và do đó giá trị sẽ cao hơn. Thành phần sinh hoá học của mỗi sản phẩm, nhất là sản phẩm chế biến, cần được lưu ý khi sản phẩm xuất vào các thị trường khó tính và phải ghi rõ đầy đủ nhãn hiệu. Ngày nay, rất nhiều nước quan tâm đến vấn đề này và rất nhiều tiêu chuẩn được đặt ra như không được pha chế hay dùng những hoá chất trong danh sách cấm nhập khẩu của những nước này (kháng sinh, vết lưu tồn thuốc trừ sâu...). Vệ sinh thực phẩm là điều kiện khách hàng quan tâm nhiều nhất. Nhiều nước nhập khẩu quy định khắt khe vấn đề kiểm dịch thực, động vật. Trước tiên phải được cơ quan kiểm tra thực/động vật, cơ quan y tế thực phẩm và môi trường chấp nhận công ty nhập khẩu mới được đưa vào nước họ. 1.1.3.6.Công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến Bất kỳ loại cây nông sản nào cũng đều tuân theo chu kỳ: gieo trồng-phát triển-ra hoa kết trái-thu hoạch. Thời gian thu hoạch được tiến hành rất ngắn, diễn ra trong một vài tháng. Nếu thu hoạch quá sớm hoặc quá muộn đều làm ảnh hưởng đến chất lượng và nông sản của loại hàng hoá đó. Trong khi đó các mặt hàng nông sản đều chịu ảnh hưởng rất nhiều của thời tiết, khí hậu, nếu như thu hoạch không đúng thời vụ mà gặp mưa gió thì coi như không đảm bảo hiệu quả sản xuất kinh doanh. Do vậy, muốn đảm bảo giữ được chất lượng hàng hoá cần phải thu hoạch đúng thời vụ, nhanh chóng tiết kiệm. Đặc biệt, sau khi thu hoạch hàng nông sản vẫn tiếp tục hoạt động sống của nó như thở, bốc hơi, toả nhiệt (đặc biệt là hàng rau quả). Vì vậy, các biện pháp thao tác kỹ thuật và công nghệ hiện đại áp dụng cho khâu sau thu hoạch đảm bảo duy trì chất lượng hàng nông sản đóng vai trò rất quan trọng. Trong điều kiện khoa học kỹ thuật đang phát triển hết sức mạnh mẽ, giá các loại hàng hoá chế biến ngày một cao và càng có xu hướng cách biệt xa so với hàng sơ chế. Cho dù giống tốt, thu hoạch đúng thời vụ, nhưng nếu các mặt hàng nông sản không có điều kiện chế biến tốt thì không thể xâm nhập vào các thị trường xa và khó tính được, không đảm bảo điều kiện vệ sinh và thời gian tiêu dùng lâu dài được. Do đó giá xuất khẩu cũng không thể cao, hiệu quả thấp. Điều này sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Tóm lại, nếu thực hiện tốt thời gian thu hoạch và hiện đại hoá được công nghệ bảo quản sau thu hoạch thì sẽ góp phần tạo ra khả năng cạnh tranh cho hàng nông sản thông qua việc nâng cao chất lượng. 1.1.3.7.Bao bì, bao gói, bảo quản, vận chuyển Bao bì, bao gói không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa bảo vệ hàng hoá mà còn là nhãn hiệu để quảng cáo hàng hoá, hướng dẫn tiêu dùng. Trong nghiên cứu Marketing người ta sử dụng khái niệm về sản phẩm rộng hơn so với khái niệm thông thường. Nó không chỉ phản ánh bản thân cốt lõi hàng hoá mà còn kèm theo cả giá trị bao bì, bao gói, ký mã hiệu và các dịch vụ kèm theo. Nhiều loại hàng hoá chính bao bì, bao gói mang lại hiệu quả cao hơn cả chính sản phẩm bên trong. Còn khi xâm nhập thị trường mới chính ký mã hiệu trên bao bì là một sự hướng dẫn, quảng cáo đầy hiệu quả để sản phẩm bước đầu cạnh tranh với sản phẩm cùng loại trên thị trường. Bao bì dành cho hàng nông sản có nhiều loại tuỳ theo khách hàng quy định, có thể bằng ni lông, hộp kim loại, lọ bằng nhựa hoặc thuỷ tinh. Thường các nhà cung cấp hàng hoá rất quan tâm đến bao bì sản phẩm, vì chính màu sắc và hình dáng bao bì trưng bày lẫn lộn giữa hàng chục loại hàng hoá khác trên kệ mới gây sự chú ý cho người mua. Mỗi công ty sản xuất phải tốn công nghiên cứu trang trí nhãn hiệu để dán trên bao bì, và nhãn hiệu đó phải được đăng ký với cơ quan có thẩm quyền nhà nước. Ngoài ra nếu không có phương tiện, bảo quản, vận tải tốt, bao bì bao gói an toàn hàng hoá không thể giữ được chất lượng lâu, đồng thời làm giảm sức cạnh tranh của hàng hoá. Chẳng hạn nhiều lô cà phê, chè của Việt Nam do bao gói không tốt, khi ra đến cảng lại phải mang về bán ở nội địa do mất mùi thơm. Bao bì của Việt Nam chưa đa dạng và cũng chưa gây được sự tò mò chú ý cho người tiêu dùng. Việc cải tiến bao bì sản phẩm cũng là một yếu tố quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Nhìn chung, hàng nông sản là thứ hàng hoá mà con người trực tiếp tiêu dùng, thoả mãn nhu cầu thực phẩm hàng ngày. Ngày nay, khi đời sống của chúng ta càng nâng cao, càng quan tâm đến vấn đề thực phẩm. Con người không chỉ ăn no mà còn phải ăn ngon, đủ dinh dưỡng. Chính vì thế mà có thể nói chất lượng hàng hoá chính là yếu tố cạnh tranh quan trọng nhất, có đảm bảo được chất lượng thì mới có thể có thể tồn tại trên thị trường thế giới. 1.1.3.8.Các yếu tố gián tiếp tạo nên năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Chính sách của chính phủ:Chính sách của chính phủ đối với ngành nông nghiệp cũng ảnh hưởng lớn tới việc tạo ra năng lực cạnh tranh cho sản phẩm. Trên thế giới, các nước thường thực hiện trợ cấp cho hàng nông sản của họ bằng phương thức này hay phương thức khác. Các chính sách trợ cấp như trợ cấp đầu vào, trợ cấp khoa học kỹ thuật, thưởng xuất khẩu, bù giá .v.v. Chính sách của quốc gia nhập khẩu: Sức cạnh tranh của hàng nông sản khi được xuất khẩu ra thị trường quốc tế còn bị chi phối bởi chính sách của nước nhập khẩu. Các chính sách hạn chế nhập khẩu hay khuyến khích đối với mặt hàng nông sản nào đó có thể dẫn đến tăng hoặc giảm khả năng cạnh tranh của mặt hàng đó. Các đối thủ cạnh tranh trên thị trường: Đôi khi chính các đối thủ cạnh tranh lại tạo nên khả năng cạnh tranh của hàng nông sản. Ưu thế vượt trội của đối thủ sẽ làm giảm năng lực cạnh tranh của hàng nông sản chúng ta, ngược lại, nếu hàng nông sản của đối thủ kém ưu thế, chất lượng thấp, giá cả, mẫu mã không có nét riêng biệt thì hàng nông sản của chúng ta có khả năng dành được nhiều thị phần hơn. 1.2.Những cơ hội và thách thức đối với mặt hàng nông sản xuất khẩu Việt nam trong quá trình hội nhập WTO. 1.2.1. Cơ hội Mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông sản Trong thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam càng ngày càng mở rộng và thay đổi về cơ cấu thị trường. Sau khi hệ thống XHCN tan rã, thị trường này không còn nữa thì các nước châu Á đã nhanh chóng trở thành các bạn hàng xuất khẩu chính của ta. Trong số các nước ở châu Á thì Nhật Bản và ASEAN đóng vai trò lớn, tuy nhiên tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của ta sang các nước đó cũng đã thay đổi theo hướng giảm dần và tăng ở các nước khối EU và châu Mỹ. Có được sự thay đổi linh hoạt về thị trường như thế là nhờ việc Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào thị trường thế giới. Trong thời gian tới, các rào cản thuế quan và hạn ngạch được giảm dần do những cam kết của các nước là thành viên của WTO được hưởng giúp chúng ta tăng khối lượng xuất khẩu, nhiều quốc gia mở cửa thị trường để hàng hóa của chúng ta có thể cạnh tranh một cách công bằng với các quốc gia khác Việc không bị phụ thuộc vào một thị trường sẽ khắc phục được sự khủng hoảng thị trường khi có biến động lớn và có nhiều cơ hội lựa chọn bạn hàng thích hợp. Đó cũng là một trong những điều kiện hàng đầu của quá trình chuyển nền nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá. Ngoài ra, chúng ta có cơ hội giới thiệu sản phẩm nông sản cho bạn bè quốc tế biết đến và do đó có thể lựa chọn đối tác làm ăn Các hội nghị quốc tế, các triển lãm hàng hoá trên thế giới. Nâng cao trình độ khoa học công nghệ Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế cũng tạo ra sức ép hữu hình thúc đẩy quá trình sản xuất và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp, phát huy lợi thế riêng có của chúng ta như tài nguyên sinh học đa dạng, nguồn lao động rẻ và dồi dào của nông thôn. Việc gia nhập WTO khiến cánh cửa đầu tư của chúng ta thông thoáng hơn, và do đó, các doanh nghiệp nước ngoài mạnh dạn thực hiện đầu tư vào Việt Nam. Do đó chúng ta có thể tiếp nhận chuyển giao khoa học công nghệ, học hỏi kinh nghiệm quản lý và nâng cao trình độ khoa học công nghệ của nền kinh tế nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng. Như vậy, quá trình hội nhập tạo điều kiện cho quá trình chuyển giao công nghệ thông qua các dự án đầu tư, các chương trình hỗ trợ kỹ thuật khi Việt Nam tham gia các tổ chức quốc tế với tư cách là một nước nghèo và chậm phát triển, hay các chương trình hợp tác khoa học song phương. Việt Nam cũng có thể học hỏi kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các quốc gia qua trao đổi chuyên gia, tham dự các khoá đào tạo quốc tế. Hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới giúp Việt Nam rút ngắn khoảng cách lạc hậu về công nghệ, đặc biệt là công nghệ chế biến, khai thác hiệu quả các tiềm năng vốn có về tài nguyên thiên nhiên nhiệt đới, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Quá trình này cũng giúp chúng ta nâng cao trình độ khoa học công nghệ và trình độ quản lý của cán bộ kỹ thuật trong ngành nông nghiệp. Đồng thời để nhận được tài trợ cho các dự án, Việt Nam buộc phải cải tổ cơ chế của nền kinh tế nói chung và trong ngành nông nghiệp nói riêng, thúc đẩy chuyển dịch sang nền sản xuất hàng hoá._. một cách nhanh chóng và hiệu quả. Tăng cường thu hút đầu tư vào phát triển nông nghiệp và nông thôn Việt Nam là một nước có tiềm năng và lợi thế để phát triển nền nông nghiệp có giá trị kinh tế cao, trong đó có nhiều mặt hàng nông sản đã xây dựng được uy tín trên thị trường thế giới. Việc tham gia vào WTO buộc chúng ta phải thực hiện các cam kết về mở cửa kinh tế, thực hiện các chính sách minh bạch, tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng để thu hút đầu tư. Nông nghiệp lại là ngành được nhà nước dành nhiều quan tâm, ưu ái, tạo ra một môi trường đầu tư khá thuận lợi và nhiều điều kiện ưu đãi để khuyến khích thu hút các nhà đầu tư. Những động thái này sẽ giúp khơi thông dòng vốn đầu tư đổ vào nền nông nghiệp, xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành, phát huy những lợi thế mà chúng ta chưa khai thác hoặc chưa đủ điều kiện để khai thác có hiệu quả bởi thực tế là tích luỹ nội bộ ngành của chúng ta còn quá kém, không đủ vốn đẩu tư và phát triển. Tận dụng yếu tố ngoại lực là hết sức quan trọng kết hợp với nội lực phát huy thế mạnh của ngành đúng như các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà Nước. 1.2.2.Thách thức Nền nông nghiệp xuất phát điểm ở trình độ thấp Nền nông nghiệp Việt Nam có điểm xuất phát thấp, mặc dù trong thời gian qua chúng ta đã có những bước tăng trưởng đáng kể về sản lượng tuy nhiên, sản xuất của chúng ta phần lớn vẫn thực hiện trên quy mô nhỏ, phân tán, tình trạng quy hoạch lẻ tẻ và hết sức tự phát cản trở rất nhiều đến việc áp dụng các thành tựu khoa học, công nghệ, do đó mà gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Nông nghiệp chưa phát triển theo chiều sâu mà chủ yếu tăng trưởng theo bề rộng dựa trên những ưu đãi sẵn có của tự nhiên. Mức đầu tư vào công nghệ thấp, hàm lượng kỹ thuật chế biến trong sản phẩm còn thấp trong khi chí phí sản xuất cao, do đó giảm sức cạnh tranh trên thị trưòng thế giới. Hàng nông sản Việt Nam luôn gặp khó khăn khi vượt qua các rào cản kỹ thuật hết sức khắt khe của các nước công nghiệp nhằm bảo hộ sản xuất trong nước của họ (các yêu cầu về dư lượng kháng sinh trong một số mặt hàng nông thuỷ sản, điều kiện vệ sinh và kiểm dịch động thực vật...), và khó đáp ứng tiêu chuẩn của người tiêu dùng ở các nước này. Cơ sở hạ tầng, dịch vụ yếu kém, năng lực quản lý yếu So với các nước trong khu vực như Thái Lan, Inđônêxia..., cơ sở hạ tầng dịch vụ phục vụ cho nền nông nghiệp của chúng ta còn kém xa. Hạ tầng thương mại dịch vụ phục vụ cho ngành nông nghiệp còn thiếu nhiều trong khi chi phí cầu cảng, chi phí đợi bốc xếp lại cao so với mặt bằng trong khu vực. Hệ thống pháp lý phức tạp, thiếu minh bạch và hay thay đổi gây cản trở cho rất nhiều nhà đầu tư vào lĩnh vực này. Trình độ quản lý của cán bộ trong lĩnh vực nông nghiệp yếu kém, tư tưởng tiểu nông còn in sâu trong tiềm thức của chúng ta gây cản trở cho quá trình đổi mới và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và nuôi trồng. Hầu hết các cơ sở sản xuất vẫn chưa nhận thức đúng đắn tầm quan trong của vấn đề vệ sinh dịch tễ, các tiêu chuẩn về an toàn và chất lượng quốc tế. Kiến thức nhà nông dựa vào kinh nghiệm là chính mà thiếu chuyên môn hay cơ sở khoa học. Quá trình đổi mới chậm chạp và còn thụ động hạn chế rất nhiều khả năng canh và hội nhập của nông nghiệp Việt Nam. Khí hậu nhiệt đới thất thường thường xuyên đe doạ đến năng suất và chất lượng của nền nông nghiệp Hàng năm, nước ta phải đối phó với thiên tai gây thiệt hại lớn cho ngành sản xuất nông nghiệp, xói mòn thoái hóa đất canh tác, ô nhiễm môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên rừng. Trong khi đó cơ sở vật chất phục vụ cho công tác phòng chống thiên tai còn lạc hậu, công tác phòng chống và khắc phục thiên tai thiếu tổ chức chặt chẽ và hết sức thụ động, đối phó. Điều này dẫn đến sự bất ổn trong phát triển nông nghiệp Việt Nam và ảnh hưởng đến việc thực hiện các hợp đồng hay giao dịch quốc tế về hàng nông sản mà chúng ta tham gia. Các rào cản kỹ thuật của các nước nhập khẩu nông sản ngày càng gay gắt Mặc dù khi chúng ta gia nhập WTO, theo các hiệp định song phương, đa phương chúng ta sẽ được hưởng các ưu ái về thuế quan, nhưng ngược lại chúng ta lại gặp các hàng rào phi thuế quan hết sức chặt chẽ. Các nước nhập khẩu hàng nông sản của chúng ta đặt ra các rào cản về vệ sinh an toàn thực phẩm, các tiêu chuẩn về môi trường, sức khoẻ cộng đồng … khắt khe khiến hàng hoá của chúng ta nhiều khi đã vượt qua các rào cản thuế quan vẫn bị trả lại. Hơn nữa, chúng ta cũng đối mặt với rất nhiều vụ kiện chống bán phá giá, kiện trợ cấp xuất khẩu .v.v. Mặt khác, hàng hoá xuất khẩu của chúng ta sẽ phải có chứng chỉ an toàn để chứng minh mặt hàng nông sản luôn đảm bảo an toàn vệ sinh, chẳng hạn như chứng chỉ xác định nguồn gốc (chẳng hạn chứng chỉ xác nhận giống không thuộc loại cây biến đổi gen), chứng chỉ báo cáo chất lượng (hàm lượng protein, chống ôxy hoá…) Đây thực sự là một trở ngại cho các nhà sản xuất xuất khẩu nông sản của chúng ta. Bởi từ trước đến nay, chúng ta thường tiếp cận thị trường nước ngoài không qua các quy trình kiểm định nghiêm ngặt. Chính vì thế mà nhiều lô hàng xuất khẩu của chúng ta không đáp ứng được tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu và bị giảm uy tín cạnh tranh trên thị trường nông sản quốc tế. Các đối thủ cạnh tranh ngày càng mạnh Gia nhập vào WTO chúng ta sẽ đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của các nước khác như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia… không chỉ trên thị trường quốc tế mà ngay trên thị trượng trong nước. Rõ ràng, một khi các quốc gia mở cửa với chúng ta thì chúng ta cũng phải mở cửa với họ, thực hiện các cam kết bình đẳng. Nếu chúng ta không nâng cao chất lượng hàng nông sản thì nguy cơ thua ngay trên sân nhà có thể xảy ra. Một điều có thể nhận thấy là chất lượng sản phẩm của chúng ta có thể không thua kém Thái Lan hay Trung Quốc, tuy nhiên, chúng ta lại thiếu nhiều khâu, như khâu bảo quản và an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng yêu cầu của các nước nhập khẩu. Ngoài ra, giá thành của chúng ta cũng kém cạnh tranh hơn so với các quốc gia này bởi họ có những quy trình sản xuất đồng bộ, từ khâu đầu vào đến khâu cuối cùng cho ra sản phẩm. Gia nhập WTO đồng nghĩa với việc chúng ta sẽ phải tham gia vào một cuộc cạnh tranh mà thực chất là cuộc cạnh tranh giữa nông nghiệp nhỏ và nông nghiệp lớn, nông nghiệp truyền thống với nông nghiệp hiện đại, nông nghiệp tập trung nhiều lao động với nông nghiệp có hàm lượng vốn và kỹ thuật cao. Đứng trước thực tế khi không còn bảo hộ sản xuất cho một nông sản xuất khẩu nào, cách tồn tại và phát triển là phải phát huy những ngành có lợi thế so sánh hoặc ngay từ bây giờ chúng ta phải tạo ra lợi thế so sánh để tồn tại và phát triển. Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam sang thị trường EU và Nhật Bản Nguyên nhân chủ quan Hàng nông sản Việt Nam nhìn chung chưa có sức cạnh tranh cao trên thị trường EU và Nhật Bản Nhật Bản và EU là hai thị trường đòi hỏi cao đối với hàng nông sản, họ cần những mặt hàng có tiêu chuẩn cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Trong khi đó, hàng nông sản Việt Nam rõ ràng có những mặt hạn chế có thể nhận thấy rõ. Thứ nhất, hàng nông sản của chúng ta chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, dư lượng kháng sinh của chúng ta trong hầu hết các mặt hàng còn cao, chưa đáp ứng tiều chuẩn của hai thị trường này. Thứ hai, hàng nông sản của chúng ta chưa đa dạng, số lượng chủng loại còn đơn điệu, phần lớn chỉ phụ thuộc vào một số mặt hàng chủ lực như cà phê, gạo, hạt điều, rau quả...không tạo ra sự lựa chọn phong phú cho người tiêu dùng trên các thị trường này. Hơn nữa, mẫu mã hàng nông sản của chúng ta chưa bắt mắt, không đều và không gây được dấu ấn riêng Do đó, để có thể tăng cường xuất khẩu vào thị trường EU và Nhật Bản, hàng nông sản được người tiêu dùng EU và Nhật bản chấp nhận không cách nào khác Việt Nam cần nâng cao khả năng cạnh tranh của mặt hàng này. Hàng nông sản Việt Nam chưa tạo được dấu ấn thương hiệu Thương hiệu là vấn đề mà hàng nông sản Việt nam đặc biệt yếu kém. Một điều đáng buồn là gần 90% hàng Việt Nam trên thi trường EU và Nhật Bản phải mang thương hiệu của nước khác. Chúng ta xuất khẩu nông sản vào thị trường EU và Nhật Bản dưới tên của nhà nhập khẩu hoặc tên nước khác, hoặc chủ yếu chỉ xuất nguyên liệu thô rồi được các nhà nhập khẩu chế biến. Hiện nay, công tác yểm trợ và xúc tiến thương mại của chúng ta hết sức yếu kém và không có tính chuyên nghiệp, hạn chế rất nhiều khả năng xâm nhập thị trường và sức cạnh tranh của hàng hoá chúng ta trên thị trường các nước này. Một vấn đề then chốt là các doanh nghiệp Việt Nam chưa đánh giá một cách đầy đủ và đúng đắn tầm quan trọng của hoạt động xúc tiến thương mại (promotion) nên công tác này còn nhỏ, lẻ tẻ chưa tạo được hiệu quả cao. Việt Nam có nhiều mặt hàng nông sản chất lượng cao, năng suất tốt nhưng chưa gây được tiếng vang trên thị trường quốc tế do vấn đề xúc tiến thương mại, tiếp thị trong xuất khẩu và trao đổi và xây dựng thương hiệu. Trong khi đó các nước bạn như Thái Lan, Indonesia ...thực hiện rất thành công khâu này. Để hàng nông sản của Việt Nam gây được một dấu ấn riêng và có sức cạnh tranh, chúng ta không chỉ tập trung đến vấn đề chất lượng, giá cả mà còn phải lưu ý đến xúc tiến quảng bá, nghiên cứu thị trường và khách hàng, nghiên cứu xu hướng người tiêu dùng, xây dựng kênh phân phối đa dạng... Nếu Việt Nam tạo được thương hiệu hàng nông sản thì giá trị xuất khẩu sẽ cao hơn rất nhiều. Muốn tạo được thương hiệu Việt Nam cần có những bước đột phá trong công tác marketing, nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Thương hiệu và năng lực cạnh tranh của sản phẩm có sự liên quan tác động lẫn nhau. Một mặt, thương hiệu là một tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm Mặt khác, nếu hàng nông sản của chúng ta có thương hiệu, thì đây là một vũ khí cạnh tranh tương đối hiệu quả trên thị trường EU và Nhật Bản. Do đó, sự cần thiết nâng cao Nguyên nhân khách quan EU và Nhật Bản đặt ra các tiêu chuẩn kỹ thuật chặt chẽ đối với hàng nông sản Các quốc gia thuộc liên minh châu Âu và Nhật Bản đều có chung đặc điểm là yêu cầu rất cao về an toàn vệ sinh thực phẩm, chất lượng do đó họ đặt ra các hàng rào kỹ thuật gay gắt cho hàng nông sản nhập khẩu vào quốc gia họ. Đối với mỗi một mặt hàng, thị trường châu Âu đều có những tiêu chuẩn áp dụng riêng, chẳng hạn như: mặt hàng rau quả tươi yêu cầu đạt chứng chỉ chất lượng GAP, mặt hàng thủy sản phải đạt chứng nhận chất lượng của Cục Quản lý an toàn vệ sinh và thú y thủy sản (NAFIQUAVED) cấp, mặt hàng lâm sản, đồ gỗ khi xuất vào thị trường châu Âu phải có chứng chỉ rừng FSC (Forest Stewardship Council - Hội đồng Quản lí rừng Quốc tế), trong khi Nhật Bản cũng yêu cầu các chứng chỉ chứng nhận xuất xứ, hay chất lượng sản phẩm. Tham gia thị trường các nước liên minh châu Âu, doanh nghiệp không chỉ phải đối mặt với những tiêu chuẩn chung, mà còn phải thỏa mãn những quy định riêng của từng nhà nhập khẩu hàng hóa, bởi lẽ các nhà nhập khẩu vẫn có thể đưa ra những quy định riêng cho hàng hóa trong hệ thống phân phối của mình. Còn đối với Nhật Bản họ cũng có những quy định gết sức chặt chẽ. Hàng hóa sẽ không được phép nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản nếu không có Giấy chứng nhận vệ sinh thực phẩm của Chính phủ nước xuất khẩu cấp. Điển hình như tất cả các loại rau nhập khẩu vào thị trường Nhật Bản đều phải đáp ứng các điều khoản của Luật Bảo vệ thực vật và Quy định vệ sinh thực phẩm. Khi tiêu thụ rau tươi phải dán nhãn quốc gia xuất khẩu theo yêu cầu của Luật về tiêu chuẩn và dán nhãn hàng nông lâm sản.. (Luật JAS) Chính vì thế, để hàng nông sản của chúng ta đi qua cánh cửa kiểm soát chặt chẽ của Nhật Bản và EU, không còn cách nào khác là chúng ta phải nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo các chỉ tiêu về mặt kỹ thuật cũng như hàm lượng kháng sinh, vệ sinh an toàn thực phẩm. Ngoài ra, các nước EU và Nhật Bản còn đặt vấn đề môi trường, vấn đề sức khỏe của người tiêu dùng khi quyết định nhập khẩu một loại nông sản của một quốc gia nào đó. Vấn đề môi trường có thể là một cản trở nếu chúng ta không áp dụng theo các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của họ. Khả năng cạnh tranh của quốc gia có ưu thế về xuất khẩu nông sản vào EU và Nhật Bản ngày càng nâng cao EU và Nhật Bản là những thị trường mà các nước có ưu thế về xuất khẩu nông sản như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Malaysia… nhắm tới. Hàng nông sản của những quốc gia này không những có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp mà giá cả lại rẻ. Trong thời gian quá, hàng nông sản của các quốc gia này đã tạo được một chỗ đứng tương đối trên thị trường EU và Nhật Bản và trở thành những đối thủ cạnh tranh gay gắt với chúng ta. So với các đối thủ cạnh tranh, Việt Nam có công nghệ chế biến lạc hậu, chưa đảm bảo chất lượng sản phẩm theo yêu cầu tiêu dùng của các thị trường khó tính như Nhật Bản, EU. Mặt khác, kết cấu hạ tầng phục vụ cho việc vận chuyển, bảo quản dự trữ, bốc xếp hàng hóa nông sản, nhất là hàng tươi sống rất yếu kém nên giá thành sản phẩm và phí gián tiếp khác tăng nhanh. Như vậy, để có thể cạnh tranh với hàng hoá các nước khác chúng ta không thể sản xuất các sản phẩm chất lượng trung bình mà phải thể hiện Việt Nam là một nền kinh tế quan tâm đến chất lượng và dịch vụ, đồng thời nhiều mặt hàng cũng phải có lộ trình hạ giá thành hợp lý, các doanh nghiệp phải tập trung hơn nữa cho công nghệ chế biến cũng như thương hiệu của hàng nông sản, có như thế chúng ta mới có thể đưa hàng hoá vào quốc gia họ. Việc xuất khẩu hàng nông sản Việt Nam sang EU và Nhật Bản mang lại cho chúng ta những lợi ích thiết thực, tuy nhiên, con đường xâm nhập và tạo dấu ấn thương hiệu cho chúng ta trên thị trường này không phải là đơn giản. Nhật Bản và EU là hai thị trường đòi hỏi cao đối với hàng nông sản, họ cần những mặt hàng có tiêu chuẩn cao, chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng. Trong khi đó, hàng nông sản của chúng ta rõ ràng có những mặt hạn chế cần phải khắc phục trước khi muốn có sức cạnh tranh trên hai thị trường này. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG NÔNG SẢN VIỆT NAM TRÊN THỊ TRƯỜNG EU VÀ NHẬT BẢN Tổng quan năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam Tổng quan về thực trạng trạng xuất khẩu hàng nông sản Việt nam Kim ngạch xuất khẩu Có thể nói, trong giai đoạn vừa qua, xuất khẩu nông sản đã đóng một phần quan trong trong tăng trưởng GDP của Việt Nam. Kim ngạch nông sản xuất khẩu luôn tăng, và thường xuyên cao hơn kim ngạch xuất khẩu lầm sản và thủy sản của Việt Nam. Bảng 2.1: Kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản giai đoạn 2002 - 2006 Đơn vị: tỷ USD Chỉ tiêu 2002 2003 2004 2005 2006 Kim ngạch 2,39 2,67 3,38 5,46 6,91 Tăng trưởng (%) NA 11,5 26,6 61,5 26,6 Nguồn: - Niên giám thống kê (2002-2005) - Báo cáo thương niên ngành nôngnghiệp 2007 Từ bảng 2.1, có thể thấy rõ trong giai đoạn từ 2003 – 2005 xuất khẩu nông sản của Việt Nam đã có sự tăng trưởng đều đặn từ 11,5% năm 2003 lên 26,6% năm 2004 và 61,5% năm 2005. Sự tăng trưởng này làm cơ sở cho tăng trưởng nông nghiệp cũng tăng đều đặn từ 3,62% năm 2003 lên 4,04% năm 2005. Riêng năm 2006, kinh tế Việt Nam nói chung và nông nghiệp nói riêng gặp nhiều khó khăn. Đó là thiên tai (hạn hán, bão số 1( Chin Chu), bão số 6 (Xangsane), lốc mưa đá, bão số 9 (Durian)), dịch cúm gia cầm, dịch lở mồm long móng… Điều này làm cho việc sản xuất và xuất khẩu nông sản gặp nhiều khó khăn và ảnh hưởng lớn đến nông nghiệp Việt Nam vì nông nghiệp là ngành chịu tác động lớn nhất của điều kiện tự nhiên. Nhìn chung, nông sản là một trong những mặt hàng nông sản có tốc độ tăng trưởng rất đáng khích lệ. Dự báo Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng xuất khẩu nông sản ổn định trong thời gian tới đây, khi mà giá nông sản thế giới tăng cao và hàng nông sản của chúng ta được cải thiện. Giá cả xuất khẩu Hàng nông sản của chúng ta đến nay cũng đã có sự cải thiện về mặt giá cả. Hàng loạt nông sản đạt được mức giá ngang bằng hoặc chênh lệch chút ít so với nông sản của các nước khác như hồ tiêu, cà phê, gạo … Sự thay đổi về giá cho thấy hàng hóa của chúng ta bước đầu đã có sức cạnh tranh so với các sản phẩm khác cùng loại của các nước trên thế giới. Sự thay đổi về giá cả này cũng chứng tỏ vị thế của hàng nông sản Việt Nam. Đặc biệt, trong thời gian qua có một số mặt hàng đạt được mức giá đáng khích lệ. Ví dụ như Hồ tiêu với giá xuất khẩu bình quân 3.500 USD/tấn (năm 2006 là 1.500 USD/tấn). Những nỗ lực của ngành chè trong việc đầu tư phát triển các cơ sở công nghiệp chế biến theo quy hoạch, tăng nhanh tỷ lệ các sản phẩm chè tinh chế, có chất lượng cao đã cải thiện đáng kể giá chè xuất khẩu của Việt Nam với mức tăng khoảng 25%, tương ứng 270-280 USD/tấn Giá hạt điều xuất khẩu bình quân năm 2007 cũng đạt khoảng 4.274 USD/tấn, cao hơn năm 2006 8%. Giá gạo xuất khẩu bình quân năm 2007 đạt khoảng 300 USD/tấn, tăng 17,5% so với năm 2006. Đặc biệt, khoảng cách giá gạo xuất khẩu của Việt Nam với Thái Lan đã thu hẹp, có thời điểm đạt mức ngang giá.. Mới đây giá gạo loại 25% tấm của Việt Nam đã trúng thầu với giá 350 USD/tấn, cao hơn 8 USD/tấn so với giá gạo Thái Lan. Với những biến động có lợi cho Việt Nam hiện nay trên thị trường nông sản thế giới, hàng nông sản chúng ta cần nâng cao chất lượng hơn nữa để đạt được mức giá cao, góp phần tăng giá trị xuất khẩu nông sản. Thị trường xuất khẩu Thị trường Châu Á Châu Á vẫn là thị trường nhập khẩu hàng nông sản lớn nhất của Việt Nam, chiếm 46,4% kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của chúng ta vào năm 2000, và hơn 50% vào năm 2003 trong đó ASEAN, Trung Quốc và Nhật Bản là 3 bạn hàng đáng kể nhất. Trên 3 thị trường này, hàng nông sản Việt Nam cũng dần dần có chỗ đứng, tuy nhiên, vẫn chưa tương xứng với tiềm năng xuất khẩu của ngành. Trên thị trường châu Á, ASEAN và Trung Quốc vừa là bạn hàng lại vừa là 2 đối thủ cạnh tranh lớn chủ yếu nhất của chúng ta. Vì hàng nông sản của Việt Nam, ASEAN và Trung Quốc tương đối giống nhau về cơ cấu mặt hàng. Chúng ta chủ yếu xuất khẩu cao su vào thị trường Trung Quốc, hiện tại Việt Nam là nước xuất khẩu thứ 4 cao su vào Trung Quốc, sau Thái Lan, Indonesia và Malaysia. Thị trường Mỹ Mỹ là một thị trường khổng lồ, quy mô lớn và thu nhập cao. Hàng năm, Mỹ nhập khẩu khoảng 40 tỷ USD hàng nông lâm sản và là thị trường mục tiêu của chúng ta. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Mỹ là cà phê, hạt điều, rau quả, cao su, mật ong...Nổi bật là mặt hàng cà phê, năm 2003 chúng ta đã xuất khẩu được 83.100 tấn, trị giá 73,6 triệu USD , chiếm 13,3% thị phần. Cạnh đó, những mặt hàng xuất khẩu như hạt điều nhân, rau quả chế biến ... tăng mạnh. Mặc dù trong thời gian qua, kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam vào Mỹ đã tăng đáng kể, nhiều mặt hàng được người Mỹ ưa chuộng như cà phê, rau quả nhiệt đới, hạt tiêu, hạt điều... nhưng hiện tại kim ngạch xuất khẩu nông lâm sản của Việt Nam vào Mỹ quá khiêm tốn, chỉ chiếm 0,69% thị trường rộng lớn này. Nguyên nhân chủ yếu là do năng lực cạnh tranh, rõ ràng năng lực cạnh tranh của chúng ta trên thị trường Mỹ so với các đối thủ gần gũi như Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia còn kém về nhiều mặt. Thị trường Châu Âu Xuất khẩu hàng nông sản của chúng ta vào khu vực châu Âu tăng trưởng bình quân 18,9%/năm, dự kiến đến năm 2010 tỷ trọng giữ ở mức khoảng 22% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông sản Các mặt hàng chủ lực ở thị trường này là cà phê, chè, hạt điều tăng nổi trội. Đánh giá một cách tổng quát, khả năng cạnh tranh hàng nông sản của chúng ta trên thị trường Châu Âu còn rất thấp. So với các đối thủ cạnh tranh trong khu vực như Thái Lan, Indonesia sản phẩm chúng ta thua kém về chất lượng, mẫu mã, công nghệ, chế biến đặc biệt là khả năng tiếp thị, quản bá sản phẩm, khả năng tiếp cận thị trường. Trong thời gian tới, chúng ta cần chú tâm khai thác thông tin thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ để tạo chỗ đứng trên thị trường khó tính này. Thị trường Châu Phi Châu Phi có thể xem là một thị trường nông sản đầy tiềm năng của chúng ta do thị trường không yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm cũng như các tiêu chuẩn khác. Các mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi chủ yếu là gạo, hạt tiêu… trong đó gạo chiếm đến 60%. Có thể nói châu Phi là thị trường tương đối dễ tính và ở đây chúng ta có thể phát huy các lợi thế cạnh tranh vốn có của hàng nông sản Việt Nam. Châu Phi có nhu cầu lớn đối với các mặt hàng Việt Nam có ưu thế như gạo, cà phê, cao su, chè... đặc biệt là mặt hàng gạo. Tuy nhiên, chúng ta chưa tạo ra được nhiều ưu thế trên thị trường nay do một số hạn chế của một số doanh nghiệp xuất khẩu nông sản. Thứ nhất, chúng ta chưa thể cung cấp tín dụng cho các bạn hàng châu Phi như các đối thủ cạnh tranh. Khoảng cách địa lý xa xôi cũng làm tăng độ rủi ro và các chi phí vận chuyển cho doanh nghiệp. Hơn nữa, chúng ta cũng chưa hiểu rõ về thị trường châu Phi. Để tăng khả năng xuất khẩu nông sản trong thời gian tới cần có sự trợ giúp của chính phủ như hỗ trợ kinh phí xúc tiến, phát triển hợp tác thương mại, thành lập các quỹ bảo hiểm hộ trợ xuất khẩu phòng rủi ro cho doanh nghiệp xuất khẩu sang thị trường này. Mặt hàng xuất khẩu Hàng nông sản là một trong những mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Trong cơ cấu mặt hàng, lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất (23,8%), thứ đến là cà phê (13,5%), hạt điều (4,4%) và cao su (3,2%), còn rau quả chiếm tỷ trọng quá nhỏ (mới chiếm từ 0,5 đến 1,4%), chưa tương xứng với tiềm năng của ngành Bảng 2.2: Giá trị xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực giai đoạn 2001-2006 Đơn vị: triệu USD Mặt hàng Gạo Cao su Cà phê Hạt điều Hat tiêu Rau quả 2001 624,7 166,0 391,3 151,7 91,2 330,0 2002 725,5 267,8 322,3 209,0 107,2 219,7 2003 720,5 377,9 504,8 284,9 104,9 182,6 2004 950,4 596,9 641,0 436,0 152,4 178,8 2005 1407,2 804,1 735,5 501,5 150,5 235,5 2006 1266,9 1274,8 1189,5 489,4 158,6 211,1 2007 1454,0 1400 1854,0 649,0 282,0 299,0 Nguồn: Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn Cà phê là mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu cao trong thời gian qua. Năm 2007, cà phê đạt kim ngạch khoảng 1,8 tỷ USD, tăng gần 50% so với năm 2006 (năm 2006 xuất khoảng 1,2 tỷ USD). Mặt hàng gỗ chế biến đạt khoảng 2,34 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006; cao su trên 1,4 tỷ USD, tăng 10%; gạo là 1,48 tỷ USD, tăng 16%, trong khi đó thủy sản vẫn dẫn đầu với mốc 3,75 tỷ USD. Lượng gạo xuất năm 2007 ước đạt 4,5 triệu tấn, kim ngạch 1,46 tỷ USD, so với năm 2006 giảm 3% về lượng, nhưng tăng 14,4% về giá trị. So với kế hoạch năm, điều xuất khẩu vượt 43% về lượng và 28% về kim ngạch. Để đạt mức xuất khẩu trên, ngành điều đã phải nhập lượng điều thô lớn để đáp ứng cho chế biến xuất khẩu. Lượng điều xuất khẩu năm 2007 ước đạt 150 ngàn tấn, kim ngạch 641 triệu USD, so với năm trước tăng 18% về lượng và 27% về giá trị [1,15]. Ngoài ra, gần đây Việt Nam cũng đã xuất khẩu được một số mặt hàng nông sản chế biến như rau quả đóng hộp, một số loại quả sấy khô ...Tuy nhiên, cho đến nay, phần lớn mặt hàng nông sản chủ yếu xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô, nên giá trị không tương xứng. Việt Nam chưa thực sự xây dựng được một ngành công nghiệp chế biến hàng nông sản xuất khẩu tương xứng với tiềm năng mà một quốc gia có nhiều lợi thế nông nghiệp như chúng ta có thể đạt được. Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam Có thể khẳng định rằng trong thời gian qua, năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới có sự cải thiện đáng kể. Điều này thể hiện trước hết là cơ cấu, sản lượng lương thực đã chuyển dịch sang hướng tích cực: vừa đa dạng hoá, vừa tăng chất lượng sản phẩm để đáp ứng tốt hơn yêu cầu của thị trường các nước. Cùng với việc củng cố các thị trường chủ chốt, nối lại các thị trường với Nga, SNG, nhiều thị trường mới được mở rộng, trong đó có các thị trường châu Phi, Nam Mỹ... Chúng ta đang có chỗ đứng trên thị trường về các mặt hàng cà phê, gạo, hạt điều và tiếp tục tăng cường các mặt hàng như cao su, hàng rau quả, hạt tiêu, thịt lợn. Hàng nông sản xuất khẩu đã chuyển dần từ lượng sang chất. Chúng ta đang tích cực đưa những giống mới cho năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất, nâng cao chất lượng của những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều... Đưa các mặt hàng này vào các thị trường khó tính nhưng hiệu quả kinh tế cao như Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ. Xuất khẩu nông sản không chỉ khởi sắc về mặt lượng mà còn về mặt giá. Điều này cho thấy năng lực cạnh tranh hàng nông sản của chúng ta đang có dấu hiệu tích cực. Giá tăng không chỉ làm tăng kim ngạch xuất khẩu mà còn tạo ra sự ổn định yên tâm cho người dân đầu tư sản xuất, tạo ra những sản phẩm có chất lượng cao phục vụ người tiêu dùng trong nước và nước ngoài. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường thế giới được nâng cao do vẫn còn những hạn chế lớn. Mặc dù sản lượng của chúng ta về một số mặt hàng như gạo, cà phê, hạt điều là khá lớn, nhưng lại chưa ổn định. Điều này khiến nguồn cung của chúng ta trên thị trường thế giới không đều và chưa tạo được uy tín. Chúng ta bị phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và thị trường thế giới rất lớn làm cho sản lượng trong nước cũng như xuất khẩu trở nên bấp bênh. Hơn nữa, công nghệ chế biến lạc hậu đã làm giảm đáng kể giá trị của mặt hàng xuất khẩu. Nhiều mặt hàng chúng ta xuất khẩu dưới dạng thô, các nước nhập khẩu nông sản của chúng ta về chế biến đặt dưới thương hiệu của họ, và nâng cao giá trị lên rất nhiều. Đây là một điểm mà chúng ta nhận thấy, “xót xa” nhưng vẫn chưa cải thiện rõ rệt. Vấn đề thương hiệu cũng là một điểm yếu lớn của hàng nông sản nói riêng và hàng hoá Việt Nam nói chung. Không xây dựng được thương hiệu có tiếng, tạo uy tín và dấu hiệu riêng thì hàng hoá chúng ta sẽ bị lấp dưới thương hiệu của nước khác chưa nói đến việc cạnh tranh hay “đối đầu” với các thương hiệu nổi tiếng của thế giới. Tóm lại, xét về tổng thể, năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ và có nhiều lợi thế cần được khai thác, nhưng vẫn còn nhiều tồn tại và bất lợi. Những tồn tại và bất lợi này đều có sự liên quan chặt chẽ với nhau, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau, đòi hỏi phải được xử lý một cách dứt điểm, đồng bộ và toàn diện. Nền nông nghiệp Việt Nam đang trên đà phát triển và hòa nhập vào xu thế chung của nông nghiệp các nước trong khu vực và toàn cầu, tuy nhiên tiến trình này về mức độ và hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào bản thân sự cố gắng của phía Việt Nam, mà còn phụ thuộc vào xu thế chung của thị trường hàng hóa nông sản thế giới. Trong định hướng phát triển nông nghiệp của mình vấn đề quan trọng được đặt ra là khả năng thực sự về mức độ đáp ứng của sản xuất - xuất khẩu đối với nhu cầu thế giới đến đâu, không chỉ về số lượng mà còn yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm, đẹp về hình thức, phong phú và đa dạng về chủng loại và giá cả hợp lý nhằm tăng sức hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Do vậy, nâng cao khả năng sản xuất, phát huy các lợi thế cạnh tranh của nông sản hàng hóa Việt Nam trên thị trường là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển nông nghiệp hướng ra xuất khẩu Thực trạng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt nam sang thị trường EU và Nhật Bản Năng lực cạnh tranh trên thị trường EU Thực trạng chung về năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam trên thị trường EU Thị phần EU là một trong những thị trường nhập khẩu hàng nông sản chủ chốt của Việt Nam, thị trường này hiện nay chiếm khoảng 18% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của chúng ta. Tuy nhiên, hàng nông sản Việt Nam vẫn chỉ chiềm một thị phần nhỏ trên thị trường EU đối với hầu hết mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Chẳng hạn, Cà phê là mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang EU, chiếm 50% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cà phê cả nước. Mặc dù cà phê Việt Nam được ưa thích ở thị trường EU nhưng chỉ đáp ứng 4%-5% nhu cầu của người tiêu dùng. Với mặt hàng chè, Việt Nam xuất khẩu sang EU không nhiều, cao nhất là năm 2002 với gần 5.000 tấn, trị giá khoảng 5 triệu USD, chỉ chiếm dưới 2% thị phần và khoảng 10% tổng lượng chè xuất khẩu. Trong khi đó, EU phải nhập khẩu gần như 100% chè uống, khối lượng lên tới 450.000-470.000 tấn/năm. Thống kê của Hiệp hội Chè cho thấy, Việt Nam mới chỉ xuất sang Ba Lan khoảng 2.000 tấn/năm, trị giá 1 triệu USD. Giá chè trung bình xuất vào EU là 2.500-2.600 USD/tấn, còn giá chè xuất khẩu Việt Nam chỉ đạt trên dưới 1.000 USD/tấn, mà nguyên nhân vẫn là do khâu chất lượng. Một số mặt hàng khác như điều, cao su đều chiếm một thị phần rất nhỏ trên thị trường đầy tiềm năng này. Như vậy, mặc dù EU là một đối tác lớn của chúng ta nhưng thị phần nông sản của chúng ta ở hầu hết các mặt hàng đều không nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta chủ yếu là mặt hàng nông sản của chúng ta chưa đa dạng, chất lượng không cao so với tiêu chuẩn của EU, chi phí vận chuyển của chúng ta cao và việc bảo quản khó khăn trong suốt thời kỳ vận chuyển hàng xâm nhập vào thị trường này. Như vậy, thị phần hàng nông sản Việt Nam trên thị trường EU còn khiêm tốn, do đó hàng nông sản chúng ta không có sự chi phối trên thị trường này, hàng nông sản của chúng ta sẽ hết sức thiệt thòi vì chúng ta chỉ là những nhà nhập khẩu nhỏ. Trong thời gian tới, hàng nông sản Việt nam cần có những nỗ lực hơn nữa để có thể có chỗ đứng vững chắc hơn trên thị trường tiềm năng này. Cơ cấu xuất khẩu Số lượng mặt hàng nông sản của chúng ta trên thị trường EU trong thời gian qua đã có những cải tiến đáng kể, đầu mục nông sản đa dạng phong phú hơn. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực vào thị trường này bao gồm cà phê, chè, rau quả, cao su, mật ong, hạt có dầu (điều, lạc,vừng). Tuy nhiên, một điều dễ dàng nhận thấy hầu hết các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu của chúng ta vào thị trường này là nông sản thô, chưa qua chế biến, chủng loại hàng chưa đa dạng và chưa phù hợp thị hiếu người tiêu dùng Cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu như vậy làm giảm sức cạnh tranh đối với của Việt Nam. Hàng nông sản chúng ta khi xuất khẩu vào thị trường này hầu như dưới dạng nguyên liệu thô, sau đó được đưa vào hệ thống phân phối bán lẻ của thị trường EU dưới tên nhà nhập khẩu. Điều này khiến giá trị hàng xuất khẩu của chúng ta không cao, lại không có thương hiệ._. khẩu nông sản nói chung sẽ tạo ra một hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang EU và Nhật Bản hoạt động hiệu quả đồng thời cũng ngăn chặn những doanh nghiệp xuất khẩu sang EU và Nhật Bản có hành vi đầu cơ, chộp giật hoặc thao túng thị trường, ảnh hưởng đến hình ảnh của hàng nông sản Việt Nam. Đối với giải pháp này, nhà nước cần: Ban hành các quy định bắt buộc đối với việc kiểm dịch hàng nông sản xuất khẩu đặc biệt là sang EU và Nhật Bản, đảm bảo cho hàng nông sản của chúng ta đáp ứng tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu này và không làm ảnh hưởng đến uy tín của hàng nông sản Việt Nam. Các công ty được chọn làm đầu mối xuất khẩu phải chứng minh được năng lực tài chính, năng lực kinh tế ở một mức nhất định dựa trên các tiêu chí về năng lực chế biến, năng lực kho hàng bến bãi, hệ thống đại lý... Nhà nước tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển bằng các cơ chế, chính sách và tạo hành lang pháp lý để họ hoạt động có hiệu quả. Có như vậy thì các giải pháp này mới được phổ biến rộng rãi đối với nhiều doanh nghiệp. Các giải pháp hỗ trợ xuất khẩu vào EU và Nhật Bản của nhà nước. Hỗ trợ xúc tiến thương mại Hiện tại, trên thị trường EU và Nhật Bản các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản của Việt Nam phải cạnh tranh rất gay gắt với các đối thủ mạnh của Thái Lan, Trung Quốc... chưa kể đến các nước phát triển khác. Tiềm lực của doanh nghiệp Việt Nam chưa đủ mạnh để có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh lớn nếu không có sự trợ giúp của chính phủ, việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ xuất khẩu như sau là hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam: Thực hiện các chuyến đi khảo sát sang EU và Nhật Bản cho các doanh nghiệp xuất khẩu với sự hỗ trợ thông tin từ phía chính phủ, phát huy sự khai thác thông tin thông qua các đại sứ quán, lãnh sự quán, tổ chức các triển lãm, hội chợ giới thiếu sản phẩm nông sản Việt Nam ờ các nước thuộc khối EU và Nhật Bản, qua đó các doanh nghiệp có cơ hội hợp tác làm ăn với các doanh nghiệp nhập khẩu nông sản vào EU và Nhật Bản. Tăng cường vai trò của cục xúc tiến thương mại Việt Nam (Vietrade) để tích cực hỗ trợ cho các doanh nghiệp xuất khẩu trong việc tìm kiếm các bạn hàng thuộc EU và Nhật Bản, khuyến khích đầu tư, trao đổi thông tin, khoa học và công nghệ, tuyên truyền đến khách hàng những ưu điểm của sản phẩm nông sản Việt Nam thông qua các cơ hội giới thiệu sản phẩm như các hội chợ triển lãm ở các nước EU, ở Nhật Bản, thậm chí các hội nghị quốc tế, các diễn đàn hợp tác khu vực và quốc tế. Có như thế hàng nông sản Việt Nam mới có cơ hội giới thiệu rộng rãi hơn đến với doanh nghiệp và người tiêu dùng EU và Nhật Bản. Đặt thêm các đại diện thương mại ở các nước Liên minh Châu Âu và Nhật Bản để tìm hiểu các khả năng thâm nhập thị trường, thực hiện đàm phán ký kết các hiệp định thương mại ở các cấp độ khác nhau nhằm đảm bảo quan hệ thương mại ổn định và dài lâu. Trợ giúp nâng cao năng lực thị trường cho các chủ thể sản xuất nông sản. Hiện nay trình độ nhận thức của người nông dân về vấn đề thị trường, tiếp cận thông tin thị trường nói chung và thị trường EU và Nhật Bản nói riêng còn kém khiến họ bị thua thiệt rất nhiều. Chỉ khi nào bản thân người sản xuất hàng hoá có hiểu biết về thị trường và các quan hệ thị trường họ mới biết cách điều chỉnh sản xuất theo thị trường, để từ đó có thể chủ động hơn trong việc cung cấp nông sản, điều chỉnh giá cả. Hỗ trợ các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia vào việc nghiên cứu thị trường châu Âu và Nhật Bản, tìm kiếm thị trường, khách hàng và tổ chức sự phối hợp nhịp nhàng của các chủ thể này trong việc đưa hàng hoá thâm nhập vào các thị trường này. Hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ Mặt bằng khoa học công nghệ của Việt Nam nhìn chung là thấp so với các nước trong khu vực. Do đó, việc cải tiến công nghệ sản xuất, nuôi trồng, chế biến là hết sức cần thiết. Tuy nhiên, đầu tư công nghệ vào lĩnh vực sản xuất chế biến để có thể tạo ra các mặt hàng “made in Vietnam” có sức cạnh tranh trên thị trường EU và Nhật Bản nói riêng cần có sự hỗ trợ về tài chính của nhà nước Hỗ trợ áp dụng khoa học công nghệ hiện đại vào sản xuất và chế biến nông sản xuất khẩu: Hiện tại, các nước EU và Nhật Bản cần nhập khẩu các sản phẩm có độ tinh chế cao, các sản phẩm này sẽ mang lại lợi nhuận nhiều hơn cho chúng ta, chính phủ cần hỗ trợ tìm các giây chuyền công nghệ hiện đại, tìm kiếm và trợ giúp các giây chuyền công nghệ hiện đại tập trung chế biến hàng nông sản xuất khẩu vào hai thị trường lớn này. Chính phủ hỗ trợ các viện nghiên cứu, các viện nông học để tìm ra các giống cho chất lượng cao phục vụ sản xuất hàng nông sản xuất khẩu sang EU và Nhật Bản. Ưu tiên hàng đầu cho việc hình thành quỹ gen về giống chất lượng cao cho xuất khẩu, tuyển chọn giống từ các địa phương đạt chất lượng tốt nhất và các giống đặc sản địa phương, ví dụ có thể chọn các giống gạo có chất lượng cao xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản. Thuần hoá các giống du nhập từ nước ngoài chất lượng cao để tạo ra những sản phẩm đặc biệt cho các thị trường có yêu cầu loại sản phẩm này Sau khi xác định được giống mới tập trung cho EU hoặc Nhật Bản, trước khi đưa giống mới vào hoạt động sản xuất đại trà, cần có các phương pháp thử nghiệm một cách khoa học và chắc chắn, cần trồng thử ở các địa phương, nhằm đảm bảo giống cho năng suất và chất lượng như dự kiến, tránh rủi ro cho bà con nông dân. Thực hiện các bước trên một cách khoa học và có chiến lược cụ thể, chúng ta có thành công đầu tiên trong chiến lược nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu về chất lượng của từng thị trường tiêu dùng thế giới và tạo niềm tin cho khách hàng. Như vậy, mới có thể tạo ra những lượng cầu ổn định trên thị trường. Hỗ trợ tạo nguồn cung ổn định, vững chắc xuất khẩu vào hai thị trường trên Sau khi đã tạo được một mạng lưới nhân giống tốt ở khắp các địa phương, việc triển khai đem giống vào sản xuất để xuất khẩu có hiệu quả cũng hết sức quan trọng. Sản xuất một cách tập trung, trên cơ sở phát huy lợi thế từng vùng đem lại hiệu quả cao cho ngành nông nghiệp. Nhà nước hỗ trợ nguồn cung nông sản ổn định thông qua các giải pháp sau: Thực hiện quy hoạch vùng sản xuất nông sản chất lượng cao dành cho xuất khẩu vào EU và Nhật Bản. Ở những vùng chiến lược này, đầu tư khoa học, kỹ thuật, vốn để cho những sản phẩm có năng suất cao, chất lượng tốt Trên cơ sở quy hoạch phát triển vùng sản xuất tập trung, tiến hành các chương trình dự án cụ thể đối với từng mặt hàng, ngành hàng để thu hút vốn đầu tư. Cần xây dựng những chính sách cụ thể, ưu tiên, sát thực với từng vùng, từng ngành sản xuất mũi nhọn để tạo ra những sản phẩm có tính chiến lược. Tiếp tục sản xuất kinh doanh theo vùng đáp ứng nhu cầu xuất khẩu lớn và hiện đại. Hiện nay, tiềm năng và khả năng xuất khẩu của chúng ta còn rất lớn nhưng tổ chức sản xuất của chúng ta lại manh mún, lạc hậu nên lượng xuất khẩu của chúng ta chưa nhiều. Nhiều khi chúng ta có những đơn hàng lớn từ các nước Liên minh châu Âu và Nhật Bản, nhưng chúng ta lại không sản xuất đủ đáp ứng đơn hàng đó. Do đó, sản xuất kinh doanh theo vùng có tạo ra một lượng cung lớn, ổn định, giá thành không cao và có thể chiếm thị phần lớn hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Khi đó, các sản phẩm của chúng ta mới có chỗ đứng vững chắc trên hai thị trường lớn này. Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực Hỗ trợ về đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về xuất khẩu nông sản: Sự hỗ trợ này rất quan trọng vì hiện tại năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về xuất khẩu hàng nông sản chưa cao, chính vì thế các chính sách xuất khẩu nông sản vào hai thị trường này chưa nhạy bén, linh hoạt. Chính phủ cần trao đổi chuyên gia với nước ngoài để học tập kinh nghiệm trong xuất khẩu nông sản, cử các chuyên gia sang các nước có nền nông nghiệp tiên tiến, có kinh nghiệm xuất khẩu sang các nước EU và Nhật Bản để học hỏi kinh nghiệm. Hỗ trợ kiến thức thị trường EU và Nhật Bản cho các nhà doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu nông sản, chuyên gia về nông sản, tổ chức các chương trình tập huấn, hội thảo nghiên cứu về thị trường EU và Nhật Bản cho các doanh nghiệp tham gia tìm hiểu nâng cao hiểu biết về hai thị trường này. Các giải pháp khác Bảo hiểm và hỗ trợ xuất khẩu Việc nhà nước thực hiện bảo hiểm và hỗ trợ xuất khẩu có thể giúp cho các doanh nghiệp tránh rủi ro và an tâm xuất khẩu. Nhóm biện pháp này có thể phát huy tác dụng rất lớn khi thực hiện theo các bước sau : Tăng cường mở rộng các nội dung hoạt động của quỹ hỗ trợ xuất khẩu vào EU và Nhật Bản để giúp các doanh nghiệp có tiềm năng xuất khẩu nhưng lại bị hạn chế bởi nguồn tài chính. Mở rộng thêm diện các mặt hàng nông sản được hỗ trợ xuất khẩu vào các thị trường này. Cung cấp các tín dụng cho các doanh nghiệp để các doanh nghiệp có thể thực hiện phương thức bán hàng trả chậm cho các doanh nghiệp nhập khẩu nông sản trên thị trường EU và Nhật Bản. Hỗ trợ giảm chi phí đầu vào Trong thời gian qua, có một nghịch lý là mặc dù nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu vào EU và Nhật Bản được giá nhưng nông dân lại lo lắng, các doanh nghiệp xuất khẩu cũng không thu được nhiều lợi nhuận do giá dầu vào tăng nhanh hơn giá hàng nông sản xuất khẩu sang các thị trường này. Do đó, để có thể khuyến khích người nông dân và các doanh nghiệp tham gia sản xuất xuất khẩu hàng nông sản sang EU và Nhật Bản, nhà nước cần phải hỗ trợ giảm các chi phí đầu vào: Giảm thuế đối với các mặt hàng đầu vào, như thuế mua giây chuyền công nghệ chế biến, thuế các mặt hàng phân bón, giống … Miễn giảm thuế đất nông nghiệp, tăng cường hỗ trợ tín dụng cho người nông dân và các hợp tác xã với lãi suất thấp, quy mô và thời hạn vay phù hợp để người nông dân có thể đầu tư hiệu quả vào sản xuất, tránh tình trạng chưa thu hoạch đã lo đi trả nợ. Nhóm giải pháp vi mô Nâng cao chất lượng sản phẩm nông sản xuất khẩu Chúng ta biết rằng, người tiêu dùng EU và Nhật Bản đặc biệt khó tính trong việc lựa chọn sản phẩm tiêu dùng, nhất là các sản phẩm nông sản trực tiếp thoả mãn nhu cầu ăn uống hàng ngày của họ. Chính vì thế mà chất lượng sản phẩm chính là yếu tố cạnh tranh cần thiết và hàng đầu của bất kỳ loại nông sản nào khi muốn xuất khẩu sang 2 thị trường này. Trong chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm, các doanh nghiệp trước hết phải nhớ đến việc xây dựng hình ảnh chất lượng sản phẩm đó. Nâng cao chất lượng là một giải pháp có tính chiến lược, trước mắt cũng như lâu dài. Tuy nhiên với những đặc trưng riêng, hàng nông sản để đến tay người tiêu dùng thường trải qua một quá trình khá lâu và phức tạp, từ khâu nuôi trồng, thu hái, chế biến, bảo quản đều cần có những biện pháp thích hợp. Chất lượng cuối cùng của sản phẩm phụ thuộc chất lượng của sản phẩm qua từng khâu, giải quyết vấn đề chất lượng hàng hoá qua từng khâu một cách thấu đáo, chúng ta sẽ có chất lượng tối ưu cuối cùng của sản phẩm. Do đó chúng ta phải để ý sản phẩm ngay từ khâu đầu tiên đến khâu cuối cùng. Giải pháp nâng cao chất lượng các yếu tố đầu vào: Để có sản phẩm “đầu ra” tốt phục vụ cho xuất khẩu vào thị trường EU và Nhật Bản, thì ngay từ yếu tố đầu vào các doanh nghiệp phải xây dựng một chiến lược phù hợp theo các hướng sau: Lựa chọn các giống có chất lượng tốt phù hợp với sở thích và thị hiếu của người tiêu dùng EU và Nhật Bản: Chẳng hạn, đối với người Nhật Bản họ thích gạo trắng, tròn, có độ dẻo và thơm, do đó chọn những giống phù hợp với nhu cầu của họ. Hoặc người tiêu dùng châu Âu rất quan tâm đến màu sắc hạt, độ to nhỏ của hạt, độ thơm ngon của hạt, hạt nguyên hay vỡ của các mặt hàng cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cần lựa chọn những giống cho sản phẩm phù hợp với thị trường này. Đối với các loại nông sản như rau, chè... giống cũng tác động đến chất lượng thơm ngon của sản phẩm, khả năng chống sâu bệnh và sự thay đổi thất thường của thời tiết... Đảm bảo chất lượng sản phẩm trong quá trình thu hoạch và phơi sấy sản phẩm: bằng cách vận dụng ánh nắng mặt trời trong phơi sấy sản phẩm kết hợp các phương pháp phơi sấy truyền thống và tiết kiệm với các phương pháp phơi sấy hiện đại. Sử dụng công nghệ khoa học hiện đại trong các khâu này. Sử dụng các máy móc hiện đại, nhập từ nước ngoài kết hợp với các máy móc do chúng ta chế tạo, phù hợp với tình hình và điều kiện sản xuất của nước ta. Nhóm giải pháp hiện đại hoá khâu chế biến và bảo quản nhằm nâng cao giá trị của hàng nông sản xuất khẩu vào EU và Nhật Bản. Hiện nay, một trong những điểm yếu hạn chế năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam là khâu chế biến. Phần lớn sản phẩm xuất khẩu của chúng ta là sản phẩm thô, hoặc chỉ mới sơ chế nên giá trị không cao. Để nâng cao chất lượng sản phẩm trong khâu này, cần thực hiện các biện pháp sau: Ra soát lại tất cả các nhà máy chế biến hiện nay, loại bỏ những công nghệ đã quá cũ kỹ, lạc hậu, không đáp ứng hiệu quả kinh tế. Đồng thời, xây dựng thêm các nhà máy tại vùng nguyên liệu, xây dựng một số nhà máy có trình độ công nghệ chế biến cao, tạo ra các sản phẩm phù hợp với một số thị trường yêu cầu các sản phẩm chất lượng như Nhật Bản và EU. Ưu tiên công nghệ bảo quản nông sản, nhất là rau quả tươi kéo dài thời gian sử dụng và tăng giá trị thương phẩm, chú ý khâu bao bì nhãn mác, đóng gói sản phẩm. Trên cơ sở nắm bắt nhu cầu của thị trường, xây dựng các chương trình công nghệ đáp ứng nhu cầu của thị trường về chất lượng sản phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh công nghiệp cũng như vệ sinh thực phẩm, đặc biệt cần nghiên cứu tiêu chuẩn của các nước EU và Nhật Bản. Hoàn thiện chế độ đăng ký và kiểm tra chất lượng sản phẩm đối với hàng xuất khẩu nhằm đáp ứng tiêu chuẩn của EU và Nhật Bản EU và Nhật Bản là hai thị trường tiêu dùng khắt khe và còn nhiều rào cản kỹ thuật. Trên 80% hàng hóa của EU và Nhật Bản là theo tiêu chuẩn quốc tế. Để có thể thích ứng với yêu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng Châu Âu và Nhật Bản và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá, thì vấn đề đăng ký và kiểm tra chất lượng sản phẩm cần phải được thực hiện nghiêm túc chặt chẽ theo các chỉ tiêu đã quy định. Thông qua biện pháp này có thể giúp các doanh nghiệp quan tâm hơn nữa đến vấn đề công nghệ (đặc biệt là vấn đề công nghệ sạch) trong từng khâu sản xuất - chế biến - bảo quản - vận chuyển - xuất khẩu, vừa nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm, lại vừa xây dựng uy tín cho doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường quốc tế. Áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn quốc tế được EU và Nhật Bản chấp nhân: hiện tại, cần áp dụng hệ thống tiêu chuẩn ISO 9000, HACCP, ISO 14000, SA 8000. Đẩy mạnh việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng hàng nông sản theo tiêu chuẩn của HACCP và ISO là một trong những giải pháp hàng đầu nhằm bảo đảm nâng cao chất lượng của hàng nông sản. HACCP và ISO 9000 là các tiêu chuẩn quốc tế được nhiều nước thừa nhận, việc áp dụng các tiêu chuẩn này có thể đảm bảo về chất lượng và vệ sinh dịch tễ. Trong lĩnh vực sản xuất lương thực, thực phẩm đặc biệt chú ý đến tiêu chuẩn HACCP. T7 Ngoài việc áp dụng các tiêu chuẩn chung, đối với mỗi một mặt hàng, thị trường các nước này lại có những tiêu chuẩn áp dụng riêng. Chẳng hạn ở Châu Âu, đối với mặt hàng rau quả tươi yêu cầu đạt chứng chỉ chất lượng GAP. Nhập khẩu nông sản vào Nhật Bản cần có giấy chứng nhận vệ sinh thực phẩm của Chính phủ nước xuất khẩu cấp. Thực hiện tốt công tác nêu trên là một giải pháp hữu ích giúp hàng nông sản của chúng ta thâm nhập sâu hơn vào thị trường khó tính nhưng mang lại hiệu quả kinh tế cao như EU, Nhật Bản trước các rào cản kỹ thuật ngày càng chặt chẽ và nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu như hiện nay. Các giải pháp về giá (price) Xây dựng chiến lược giá hợp lý bằng cách giảm chi phí sản xuất Theo Marketing Mix, giá cả là một yếu tố quan trọng trong chiến lược nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Nếu sử dụng chiến lược giá cả một cách đúng đắn, thích hợp với từng thị trường có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao cho doanh nghiệp. Trong nhóm giải pháp về giá này, chúng ta cũng cần cân nhắc đến vấn đề chi phí, bởi chi phí có tính chất quan trọng trong việc quy định giá. Yếu tố này càng trở nên quan trọng trong cuộc cạnh tranh mang tính toàn cầu. Hàng nông sản trước khi đến tay người tiêu dùng EU và Nhật Bản thường phải qua rất nhiều khâu, và mỗi khâu lại phát sinh nhiều chi phí, làm tăng giá thành sản phẩm. Do vậy giảm chi phí là một yêu cầu cho tất cả các doanh nghiệp muốn tăng hiệu quả xuất khẩu. Tuy nhiên, không phải cứ giảm chi phí càng nhiều càng tốt mà cần giảm ở một mức phù hợp mà vẫn đảm bảo tạo ra những sản phẩm có chất lượng như yêu cầu. Có thể sử dụng các biện pháp sau để giảm chi phí hiệu quả và nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá: Sử dụng các giống tốt cho năng suất cao, sử dụng các phương pháp nuôi trồng hiện đại nâng cao năng suất, giảm chi phí lao động, xây dựng vùng chuyên canh xuất khẩu để khai thác lợi thế do quy mô nhờ đó mà chi phí trên mỗi sản phẩm giảm. Ổn định giá cả các đầu vào như giống, phân bón, thuốc trừ sâu, máy móc thiết bị trong nông nghiệp. Tổ chức lại hệ thống phân phối ở nước ta. Hiện nay, chi phí vận chuyển, bảo quản, tỷ lệ hao hụt trong các khâu trung gian làm tăng đáng kể chi phí tổng thể, tăng giá thành và giá bán, dẫn đến giảm năng lực cạnh tranh của hàng hoá. Giảm chi phí hoa hồng cho các khâu trung gian bằng cách xuất khẩu trực tiếp ra thị trường EU và Nhật Bản. Muốn được như thế phải tăng cường công tác quảng cáo, xây dựng chiến lược phù hợp với từng thị trường nhập khẩu, đặc biệt là các thị trường nhập khẩu với khối lượng lớn và thường xuyên. Điều quan trọng là các doanh nghiệp cần xây dựng thương hiệu hàng hoá có tiếng trên thị trường để có thể đến trực tiếp người tiêu dùng nước ngoài mà không phải qua trung gian. Định giá hợp lý linh hoạt đối với thị trường EU và Nhật Bản Song song với việc giảm chi phí một cách thích hợp thì việc định giá như thế nào cũng ảnh hưởng rất lớn đến năng lực cạnh tranh của nông sản chúng ta trên thị trường EU và Nhật Bản. Đối với một số thị trường, giá rẻ là một vũ khí cạnh tranh lợi hại nhưng ở thị trường Nhật Bản và EU thì giá rẻ chưa hẳn đã là một ưu thế. Hơn nữa, các doanh nghiệp cần phải tuỳ vào tình hình cung cầu của thị trường naỳ mà đưa ra mức giá tối ưu. Việc định giá sản phẩm không phải tuỳ tiện mà nên theo những bước hợp lý: Định giá theo chất lượng sản phẩm và loại thị trường. Các doanh nghiệp nên tìm kiếm các hợp đồng dài hạn thay vì các hợp đồng chuyến để ổn định giá. Cố gắng xuất khẩu giá CIF thay vì giá FOB. Việc đưa ra mức giá ổn định hợp lý không chỉ làm tăng năng lực cạnh tranh của hàng nông sản trên hai thị trường lớn mà còn mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp, người nông dân và lợi ích quốc gia. Tuy nhiên, giải pháp về giá cả cần đi kèm với giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm mới có thể phát huy hết tác dụng của nó trong thời gian dài. Nghiên cứu giá nhập khẩu của từng chủng loại mặt hàng của những đối thủ cạnh tranh khác như Thái Lan, Trung Quốc trên hai thị trường này trên cơ sở đó đưa ra mức giá hợp lý ở từng thị trường mục tiêu, tránh tình trạng găm hàng hay bán tống bán tháo làm tổn hại đến các ngành nông nghiệp và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Các giải pháp về phân phối (Place) Đa dạng hoá hình thức phân phối nhằm tăng khả năng xâm nhập vào thị trường EU và Nhật Bản Đối với một doanh nghiệp, việc nghiên cứu thị trường để đưa ra loại sản phẩm nào, hay định giá thế nào cho phù hợp vẫn chưa đủ mà doanh nghiệp đó cần xét xem nên đưa sản phẩm đó ra thị trường bằng phương thức nào. Trong Marketing quốc tế, vấn đề phân phối lại càng trở nên quan trọng và đòi hỏi sự đầu tư cẩn thận nghiêm túc của các doanh nghiệp, có thể thực hiện các giải pháp sau: Áp dụng nhiều phương thức kinh doanh để thâm nhập vào thị trường EU và Nhật Bản như xuất khẩu qua trung gian, xuất khẩu trực tiếp, liên doanh, đầu tư trực tiếp. Người tiêu dùng EU và Nhật Bản có sở thích và thói quen sử dụng những sản phẩm có nhãn hiệu nổi tiếng. Do vậy liên doanh dưới hình thức sử dụng giấy phép, nhãn hiệu hàng hóa là biện pháp hữu hiệu để các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam thâm nhập thị trường này. Cần tận dụng và khai thác tối đa những công ty của người Việt Nam ở EU, bởi họ hiểu rất rõ thị trường tiêu dùng đến phương thức tiếp cận và thâm nhập vào các kênh phân phối của EU. Tạo nguồn hàng ổn định cho xuất khẩu vào thị trường EU và Nhật Bản Hàng nông sản có đặc trưng là phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên nên cung cầu trên thế giới thường xuyên biến động hơn các loại hàng hoá khác. Do đó, cần có những biện pháp để các doanh nghiệp có thể ổn định nguồn hàng cho xuất khẩu, đảm bảo thực hiện đúng hợp đồng, nâng cao uy tín trên thị trường, từ đó nâng sức cạnh tranh của hàng hoá và thu lợi nhuận lâu dài. Tổ chức liên kết giữa các doanh nghiệp và hộ nông dân, hợp tác xã thông qua các hợp đồng tiêu thụ nông sản để các doanh nghiệp sẽ mua nông sản của người nông dân thông qua hợp đồng với các nội dung quy định rõ ràng các điều kiện về chất lượng, số lượng... và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc cung cấp vốn, các trợ giúp kỹ thuật công nghệ đầu vào sản xuất, các dịch vụ khác cho người nông dân. Bằng cách này, sẽ nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp xuất khẩu đối với nguồn cung nông sản trên thị trường cũng như ổn định nguồn cung có thể xuất khẩu vào EU và Nhật Bản Hoàn thiện các kênh trung chuyển và phân phối trong nước đảm bảo cho kênh phân phối ra thị trường EU và Nhật Bản Chuyên nghiệp hoá dịch vụ thu mua nông sản xuất khẩu cho các thị trường này. Nâng cao vai trò của các hợp tác xã, chủ vựa, tư thương có kinh nghiệm, phương tiện như là các đại lý của các doanh nghiệp và được hưởng dịch vụ đại lý. Đồng thời các doanh nghiệp cũng cần xây dựng mạng lưới thu mua ngay tại các nhà kho, các nhà máy xay xát. Tổ chức lại mạng lưới thu mua hàng nông sản của các công ty và công ty lương thực quốc doanh, khắc phục tình trạng dựa vào thị trường, đầu lậu như những năm qua, thực hiện thống nhất phương thức và địa điểm thu mua lúa, tạo điều kiện thuận lợi cho người nông dân bán lúa cho nhà nước. Sau quá trình sản xuất, thu gom hàng nông sản trong nước để xuất khẩu thì việc phân phối, đưa sản phẩm của chúng ta ra thị trường EU và Nhật Bản như thế nào cũng là một bài toán mà nhà nước và các doanh nghiệp hết sức quan tâm. Do đó, Việt Nam cần xây dựng đồng bộ các loại thị trường, tạo môi trường năng động cho sự vận động của hàng hoá theo hướng cơ chế thị trường có trật tự Nhóm giải pháp xúc tiến thương mại (promotion) Xây dựng thương hiệu hàng nông sản để nâng cao giá trị hàng nông sản trên thị trường EU và Nhật Bản là một việc làm cấp thiết, trước mắt để đưa thương hiệu nông sản Việt nam tiến nhanh hơn tới người tiêu dùng EU và Nhật Bản, công tác xúc tiến thương mại cần thực hiện theo các hướng sau: Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải xác định về năng lực kinh doanh của mình, chịu bỏ sức thực hiện hoạt động quảng bá tiếp cận thị trường và đổi mới hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, vì một khi thương hiệu đã có thì giá trị hàng hóa sẽ được nâng lên cao hơn. Đẩy mạnh xúc tiến thương mại nông sản thông qua các hoạt động hội chợ, triển lãm trong và ở EU cũng như Nhật Bản, qua đó quảng bá hàng nông sản của chúng ta và tăng cơ hội tìm kiếm các đơn đặt hàng quốc tế dài hạn, ổn định. Tiến tới xây dựng các trung tâm giao dịch hàng nông sản chuyên nghiệp. Quảng bá hình ảnh bằng cách xây dựng thương hiệu hàng nông sản, những mặt hàng có thương hiệu được nhiều người biết như cà phê Trung Nguyên, bưởi Năm Roi cần phải đăng ký nhãn hiệu, để bảo vệ được uy tín thương hiệu của doanh nghiệp. Vấn đề thương hiệu cần được xem xét như một vũ khí cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính sách xúc tiến và hỗ trợ thương mại cần phải thực hiện được mục đích của nó là đầy mạnh việc tiêu thụ nông sản, tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, truyền đạt thông tin về doanh nghiệp và sản phẩm đến người tiêu dùng, kích thích nhu cầu người tiêu dùng, từ đó xây dựng được một hình ảnh thương hiệu nông sản Việt Nam trong lòng người tiêu dùng EU và Nhật Bản.. Hoàn thiện và nâng cao năng lực quản lý kinh doanh xuất khẩu: như nghiệp vụ và kiến thức kinh doanh, kiến thức về cơ chế thị trường EU và Nhật Bản, về ngoại ngữ, về nghiệp vụ marketing quốc tế, kỹ năng đàm phán. Tìm hiểu thị trường EU và Nhật Bản để biết thị hiếu của người tiêu dùng để từ đó đưa ra các loại sản phẩm phù hợp với các thị trường này. Các doanh nghiệp cần phải xác định tầm quan trọng của giải pháp xúc tiến để từ đó đưa ra những chiến dịch xúc tiến kịp thời mới có thể tạo sức cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam, một sự khác biệt có thể mang lại lợi ích cho người nông dân, các doanh nghiệp tham gia sản xuất xuất khẩu sang EU và Nhật Bản. Việc tăng cường xuất khẩu nông sản nước ta vào EU và Nhật Bản chỉ có thể thực hiện được khi có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan, các ngành, các doanh nghiệp dưới sự chỉ đạo sâu sát của Chính phủ vì lợi ích quốc gia và lợi ích của người sản xuất, kinh doanh nông sản xuất khẩu. KẾT LUẬN Một khi Việt Nam đã tham gia “sân chơi” WTO thì phải chấp nhận những “luật chơi” của WTO, chúng ta sẽ phải hiểu những quy định cam kết của tổ chức này về bảo hộ, trợ cấp nông nghiệp, đồng thời cũng cần phải biết “luật” của các nước nhập khẩu nông sản như EU và Nhật Bản đặt ra cho hàng nông sản xuất vào nước họ. Cạnh đó, Việt Nam cần học hỏi kinh nghiệm từ những nước đã và đang xuất khẩu nông sản thành công vào hai thị trường này, để từ đó phân tích hàng nông sản của chúng ta có những điểm mạnh gì cần phát huy và những hạn chế gì cần khắc phục để có thể xuất khẩu vào EU và Nhật Bản. Việc nghiên cứu thực trạng hàng nông sản Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản, nhìn nhận những ưu điểm và khuyết điểm để từ đó đưa ra những giải pháp phù hợp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm là một việc làm cấp thiết, chính vì thế tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài ““Năng lực cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản trong quá trình hội nhập WTO”. Trong suốt quá trình nghiên cứu và phân tích thực trạng hàng nông sản xuất khẩu nông sản Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản, tác giả rút ra những kết luận sau: EU và Nhật bản là thị trường đầy tiềm năng cho hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam. Nhìn một cách tổng thể, hàng nông sản của Việt nam đang từng bước đáp ứng yêu cầu của hai thị trường này, chất lượng sản phẩm ngày càng tăng, giá cả có tính cạnh tranh hơn cũng như công tác xúc tiến thương mại có những cải tiến đáng kể. Mặt khác, các đối thủ cạnh tranh “láng giềng” của Việt Nam trên hai thị trường này như Thái Lan, Indonesia, Malaysia cũng ngày càng mạnh, chưa nói đến việc so sánh với các nước phát triển trên thế giới. Cạnh tranh trong hội nhập ngày càng trở nên gay gắt, cơ hội mang lại cho hàng nông sản Việt Nam trên thị trường EU và Nhật Bản rất nhiều nhưng thách thức đặt ra cũng không phải là nhỏ. Trên thực tế, thị trường quốc tế muôn hình vạn trạng với những biến động hàng ngày, hàng giờ, các nước muốn đứng vững trong cuộc cạnh tranh đó cần phải thích ứng với sự thay đổi và có những giải pháp phù hợp. Tuy nhiên, với những ưu thế vốn có về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện khí hậu kết hợp cùng với những tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong sản xuất, nếu các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam áp dụng một cách triệt để và đồng bộ các giải pháp mà luận văn đã đề cập và phân tích, chúng ta hoàn toàn có thể xây dựng một thương hiệu “nông sản Việt Nam” trong lòng người tiêu dùng EU và Nhật Bản nói riêng và thị trường quốc tế nói chung. Đây là một đề tài tương đối rộng, hơn nữa do sự hạn chế về năng lực cũng như thời gian nghiên cứu, Luận văn chắc chắn không tránh khỏi những sai sót, tác giả rất mong được sự góp ý chỉ bảo của các giảng viên, bạn đọc và các bạn bè đồng nghiệp. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Báo cáo thương niên Ngành Nông nghiệp Việt Nam 2007 và Triển vọng 2008(2007), Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. 2. Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu nông sản (2004), Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam 3. Nguyễn Duy Bột (2000), Các giải pháp chuyển dịch cơ cấu hàng nông sản xuất khẩu trong điều kiện tự do hoá thương mại, Đề tài Nghiên cứu KH cấp bộ, Đại học Kinh tế Quốc dân. 5. Phạm Thị Thu Hương, Mối quan hệ giữa xuất khẩu nông sản với tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam, Kinh tế và dự báo (9/2007). 6. Niên giám thống kê 7. www.agro.gov.vn 8. www.gso.gov.vn 9. www.hoinongdan.org.vn 10. www.fao.org Phụ lục phụ lục 1: Các vấn đề trong dây chuyền giá trị ngành trái cây nhiệt đới Việt Nam Cá nhân thu mua Chợ đầu mối Khu vực trồng trọt Thị trường quốc tế Thị trường nội địa Nhà máy chế biến Nhà xuất khẩu Vấn đề tiếp cận khách hàng quốc tế: Phương thức thanh toán và thực hiện hợp đồng: Không thuận lợi (chậm thanh toán, bán trả chậm mà thiếu bảo đảm L/C) Thuế đánh vào đối thủ cạnh tranh nước ngoài: Giảm do tham gia AFTA Rủi ro do sử dụng trung gian nhập khẩu: bị trung gian ép giá và không biết khách hàng cuối cùng là ai Rủi ro thị trường: Thiếu thông tin thị trường Xây dựng thương hiệu: kém Vận tải: xa và đắt Các vấn đề trong giai đoạn thu mua: Người thu mua phần lớn là các cá nhân nhỏ lẻ, có hiện tượng ép giá nông dân Vấn đề trong giai đoạn sau thu hoạch: Hạ tầng: yếu kém, chi phí thu hoạch rẻ nhưng tốc độ chậm Kỹ thuật, công nghệ sau thu hoạch: kém Vấn đề trong giai đoạn canh tác: Giống: Chưa có giống đăng ký Phương pháp trồng trọt: Phi hữu cơ Kiểm dịch, chất lượng: Sử dụng nhiều phân bón, thuốc trừ sâu Năng suất lao động: Thấp, không ổn định Vốn và chi phí sản xuất: Thiếu vốn trong khi các phương pháp canh tác thiếu đổi mới Kỹ năng quản lý và khả năng đổi mới: Thấp Trợ giúp kỹ thuật: kém Trợ giúp kỹ thuật Kém Rủi ro chung: Năng lực sản xuất phân tán Có hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh, thiếu hợp tác trong giây chuyền giá trị Thị trường trong nước chưa đủ mạnh làm điểm tựa cho xuất khẩu Phụ lục 2: Xuất nhập khẩu hàng hoá nông – lâm – thuỷ sản (tỷ USD) Nguồn: Trung tâm thông tin Phát triển nông nghiệp nông thôn Phụ lục 3: Tỷ trọng xuất khẩu nông - lâm - thuỷ sản trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá (%) Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phụ lục 4: Kim ngạch xuất khẩu rau quả sang EU Nguồn: Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Phụ lục 5: sản lượng cà phê thế giới Đơn vị: (nghìn bao) ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS017.doc
Tài liệu liên quan