Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài: Từ một nền kinh tế còn lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội. Việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, đó là biện pháp hữu hiệu, là sự lựa chọn những bước đi phù hợp với hoàn cảnh lịch sử – cụ thể của nền kinh tế ở nước ta. Vì nền sản xuất còn ở trình độ thấp kém, không qua bước phát triển tư bản chủ nghĩa tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là sự lựa chọn đúng đắn "cái không thể bỏ qua". Có như vậy chúng

doc86 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 09/12/2013 | Lượt xem: 1214 | Lượt tải: 1download
Tóm tắt tài liệu Nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ta mới có đủ điều kiện phát triển lực lượng sản xuất. Với những thành tựu to lớn trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã và đang từng bước khắc phục một cách có hiệu quả những sai lầm của nhân tố chủ quan nước ta trước đây: Đó là bệnh nóng vội, chủ quan duy ý chí mà chúng ta đã vấp phải trước thời kỳ đổi mới. Song, sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta cũng đã bộc lộ những khuyết tật, có nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế ở những giai đoạn tiếp theo đòi hỏi phải có sự nỗ lực, phát huy tính sáng tạo của nhân tố chủ quan ở nước ta. Đáp ứng đòi hỏi này, chúng tôi chọn “nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay" làm đề tài luận văn nghiên cứu. Vì đây vẫn còn là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn chính trị nóng bỏng. 2. Tình hình nghiên cứu đề tài Vấn đề vai trò “ nhân tố chủ quan” và “điều kiện khách quan” trong lịc sử đã được các nhà triết học đề cập và giải thích nhiều. Ngay trong các tác phẩm của mình các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác – Lê Nin cũng đã đề cập nghiên cứu nhiều về vấn đề đó. Do vị trí và ý nghĩa cả về lý luận và thực tiển, những năm gần đây ở nước ta nhiều nhà khoa học đã nghiên cứu về "nhân tố chủ quan" và "điều kiện khách quan" đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, như các công trình nghiên cứu sau: - “Điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong xây dựng con người mới ở Việt Nam” Luận án PTS của Nguyễn Thế Kiệt Hà Nội 1988 - “Quan hệ biện chứng giữa khách quan và chủ quan trong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng XHCN ở nước ta” Luận án Thạc Sĩ của Chế Công Tâm, Hà Nội 1993. - “Tác động của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan đối với quá trình xây dựng nền kinh tế thi trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Luân án PTS của Dương Thị Liễu ; Hà Nội 1996 - “Về nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan. Một số vấn đề về lý luận và thực tiển ở nước ta hiện nay” Luân án TS của Phạm Ngọc Minh, Hà Nội 2000 Bên cạnh những công trình nghiên cứu về vấn đề này, như đã nêu trên, các tạp chí “ Cộng Sản”, “Triết Học”, “Nghiên Cứu Lý Luận”, “ Thông Tin Lý Luận”… Cũng đã xuất hiện những bài của các tác giả nghiên cứu đề cập tới việc phát huy vai trò nhân tố chủ quan như: - “Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong cách mạng xã hội chủ nghiã ở miền bắc nước ta” của Dương Phú Hiệp, tạp chí triết học số 2/1973. - “Vị trí và vai trò của nhân tố chủ quan trong cơ chế tác động của quy luật xã hội” của Phạm Văn Đức, tạp chí triết học số 3/1989. - “Những yếu tố cơ bản làm tăng cường chất lượng của nhân tố chủ quan trong xây dựng chủ nghĩa xã hôị” của Trần Bảo, tạp chí triết học số 3 tháng 9.1991. - “Xu hướng và các nhân tố bảo đảm định hướng XHCN của nền kinh tế nhiều thành phần” của Nguyễn Chí Mỹ, tạp chí cộng sản số 10/5/1997. Kết quả nghiên cứu của các công trình trên đây rất có giá trị , các tác giả nghiên cứu đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhau của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong quá trình phát triển xã hội nói chung và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta nói riêng. Tuy nhiên cho tới nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu vào nghiên cứu có tính hệ thống "vai trò nhân tố chủ quan" với việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. Vì vậy, tác giả luận văn mạnh dạn đi sâu vào tìm hiểu nghiên cứu vấn đề này. Với mong muốn có những đóng góp nhất định về phương diện lý luận và thực tiễn, góp phần vào việc xây dựng giải pháp nâng cao chất lượng nhân tố chủ quan, nhằm giữ vững định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta. 3.Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 3.1. Luận văn có mục đích: Phân tích và làm rõ vai trò nhân tố chủ quan ở nước ta trong việc bảo đảm dữ vững định hướng chính trị trong phát triển nên kinh tế thị trường theo hướng XHCN. Qua đó, nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng nhân tố chủ quan ở nước ta. Để đạt được mục đích trên, luận văn có nhiệm vụ: Thứ nhất: Làm rõ nội dung khái niệm “ nhân tố chủ quan”và “nhân tố khách quan”. Vai trò của nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội nói chung và bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta nói riêng. Thứ hai: Chỉ ra những bất cập của nhân tố chủ quan. Từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao nhân tố chủ quản nhằm bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta. 3.2. Giới hạn của luận văn Luận văn chỉ tập trung đi vào phân tích và làm rõ vai trò nhân tố chủ quan của Đảng và Nhà nước ta là hai chủ thể cơ bản và quan trọng nhất trong việc lãnh đạo, quản lý và định hướng nền kinh tế phát triển theo hướng XHCN. 4. Cái mới của luận văn - Góp phần làm rõ vai trò nhân tố chủ quan với việc bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế ở nước ta hiện nay . - Đề xuất một số giải pháp nhămg nâng cao vai trò nhân tố chủ quan( nhất là ở đơn vị cơ sở) với việc bảo đảm đính hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta. 5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn - Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở các nguyên lý và các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mac- LêNin. Tư tưởng Hồ Chí Minh. - Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn đã dùng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: Phân tích, tổng hợp, lôgic và lịch sử, hệ thống và yếu tố v.v... 6. Ý nghĩa của luận văn Kết quả nghiên cứu của luận văn trước tiên nhằm nâng cao nhận thức cho tác giả. Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy bộ môn triết học trong các trường chính trị tỉnh thành. 7. Cấu trúc của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận các phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn gồm 2 chương 4 tiết. Chương I NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI VIỆC BẢO ĐẢM ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 1.1. NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI 1.1.1. Khái niệm: “Nhân tố chủ quan”, “ Điều kiện khách quan” Khái niệm nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan được hình thành và phát triển trong quá trình nghiên cứu hoạt động thực tiễn của con người. Do vậy, để làm sáng tỏ nội dung của các khái niệm đó, đòi hỏi phải đề cập tới các khái niệm có liên quan tới hoạt động của con người. Đó là những khái niệm : "chủ thể", "khách thể" "Nhân tố chủ quan" và "điều kiện khách quan" - Khái niệm chủ thể và khách thể Khái niệm "chủ thể" : trong hoạt động tác động và cải tạo thế giới khách quan, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh khách quan; đồng thời là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh khách quan, từ đó hình thành nên khái niệm chủ thể đây là một khái niệm đã được nhiều triết học quan tâm nghiên cứu. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về nội dung của khái niệm này như : Có người cho rằng : "Chủ thể" là con người (cá nhân hoặc nhóm...) Tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiển [ ,92] . Củng có người hiểu : "chủ thể là con người có ý thức và ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài" [ .192] . Qua những quan niệm khác nhau trên đây cho thấy : tuỳ theo cấp độ xem xét, chủ thể có thể là cả loài người, có thể là một nhóm, một giai cấp, một đảng phái ... Đang thực hiện một quá trình hoạt động nhằm cải tạo khách thể tương ứng . Kế thừa những cách hiểu trên, trong luận văn này chúng tôi quan niệm: Chủ thể - đó là con người với những cấp độ tồn tại khác khác nhau (cá nhân, nhóm, gia công) đã và đang thực hiện sự tác động đến khách thể. Với khái niệm chúng tôi đã nêu trên, cho thấy: Con người là chủ thể, đó là con người thực tiễn, con người hành động, đặc trưng cơ bản nhất đó là có năng lực hoạt động sáng tạo nhằm cải tạo khách thể (Tự nhiên, xã hội). Nét biểu hiện về năng lực sáng tạo của chủ thể đó là việc lựa chọn những hình thức và phương pháp tác động, xây dựng ý chí và quan tâm trong quá trình tác động vào khách thể, nhằm đạt được mục đích đề ra. Đúng như trước đây Lê Nin đã từng viết : "Khái niệm ấy (bằng con người) là khuynh hướng tự mình thực hiện mình, qua bản thân mình, một tích khách quan trong thế giới khách và tự hoàn thiện (Tự thực hiện) mình" [ ,228]. Khái niệm “khách thể” Khái niệm“khách thể” và khái niệm "chủ thể" có mối liên hệ hửu cơ và liên quan mật thiết với nhau. Với cách hiểu nội dung khái niệm "chủ thể" như đã nêu trên. Chúng tôi quan niệm về khách thể, đó là: Khách thể là tất cả những gì mà chủ thể hướng vào nhằm nhận thức và cải tạo nó Với cách hiểu và quan niệm như vậy, theo chúng tôi: Khách thể phải được xác định tuỳ thuộc vào chủ thể tương ứng với nó và do vậy khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan, nó chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan (là các sự vật hiện tượng, quá trình ...), các bộ phận đó chịu sự tác động của chủ thể xác định. Nói cách khác, tuỳ cung cấp độ xác định về chủ thể để chúng ta xác định khách thể. Do, hiện thực khách quan hết sức phong phú, từ đó khách thể là những bộ phận của nó củng hết sức đa dạng. Có khách thể là những hiện tượng, quá trình thuộc thể giới tự nhiên ; có khách thể là những hiện tượng, quá trình thuộc về lĩnh vực đời sống xã hội. Chẳng hạn, những quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị - xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thể của những chủ thể tương ứng [xem ] . Khách thể và chủ thể có liên quan mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau. Không thể nói tới một khách thể cụ thể, nếu không nói tới một chủ thể xác định. Bởi vì, chủ thể và khách thể có mối quan hệ biện chứng với nhau, chúng chỉ tồn tại với tư cách là chủ thể và khách thể khi lấy nhau làm tiền đề. Khách thể tồn tại bên ngoài, không lệ thuộc vào chủ thể song khách thể không đối lập trừu tượng với chủ thể. Vì nó chính là đối tượng mà chủ thể luôn luôn hướng vào cải tạo bằng hoạt động có ý thức của mình . - Khái niệm "Nhân tố chủ quan" và "Điều kiện khách quan" Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu các khái niệm chủ thể và khách thể ; mà còn quan tâm tới khái niệm "nhân tố chủ quan "và" điều kiện khách quan. Bởi vì các khái niệm điều kiện và nhân tố chủ quan được dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt động có ý thức của con người và hoàn cảnh mà trong đó con người hoạt động. - Khái niệm "Nhân tố chủ quan" Khái niệm nhân tố chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm chủ thể. Hiện nay trên sách, báo tạp chí nghiên cứu xuất hiện nhiều những quan niệm khác nhau về khái niệm nhân tố chủ quan. Chẳng hạn, trong khi nghiên cứu khái niệm "nhân tố chủ quan", có tác giả đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung. "Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức của những con người, những giai cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch sử " [xem ,18 ]. Cũng có tác giả lại giới hạn và đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người. Như vậy, nhóm quan niệm nêu trên thường nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo của ý thức, tư tưởng, vai trò của ý thức trong việc phản ánh điều kiện khách quan. Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Nhưng, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có thức của con người; hoặc giới hạn nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người, thì theo chúng tôi chưa thật đầy đủ và như vậy dễ dẫn đến tình trạng "chủa quan hoá " hoạt động của con người. Bởi vì, hoạt động của con người không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan. Ngoài những quan niệm nêu trên, còn có quan niệm đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức của chủ thể hoạt động. Về quan niệm này trước đây đã được A.K.ULeđôp đã nhận xét và phê phán một cách xác đáng, rằng : "Nhiều phẩm chất tư tưởng, tâm lý xã hội, đạo đức của các tập đoàn xã hội, của các giai cấp và các tổ chức của nó, của các dân tộc là nằm trong nội dung của nhân tố chủ quan, nhưng sẽ là sai lầm khi cho rằng toàn bộ ý thức xã hội củng nằm trong đó. "Nhân tố chủ quan không phải là ý thức nói chung (cũng hệt như là sự hoạt động), mà là các ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và phương châm của hoạt động. Nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể " [ , 69]. Qua đó có thể khẳng định rằng, nhân tố chủ quan chỉ bao gồm những bộ phận ý thức của chủ thể tham gia vào quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể. Theo chúng tôi, nói tới "nhân tố chủ quan", trước hết chúng ta cần đề cập tới đặc trưng cơ bản của nó là "tính tích cực, tính sáng tạo" của chủ thể hoạt động. Bởi lẽ, các nguyên lý triết học Mác xít chỉ ra rằng, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của mọi quá trình diễn ra trong lịch sử - xã hội loài người. Do đó, khi đạt con người với tư cách là chủ thể (Tuỳ ở cấp độ xem xét là nhóm, giai cấp ...) trong trạng thái đang tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo nó theo một mục đích nhất định, với đầy đủ các mặt yếu tố, động lực, phẩm chất và năng lực ... tạo thành. Tính tích cực của chủ thể - Các nhân tố tạo thành nguyên nhân và điều kiện của mọi hoạt động tích cực của chủ thể, chúng ta có khách niệm nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điều kiện khách quan [xem , 58-59]. Như vậy, "vấn đề nhân tố chủ quan trong lịch sử dù người ta tiếp cận việc giải quyết nó về mặt nào và ở bình diện nào đi nữa cũng chỉ có thể được vạch ra thông qua sự phân tích đặc trưng về chất của những chủ thể lịch sử" [ ,67]. Những điều lưu ý ở đây đó là, không phải là bản thân các chủ thể lịch sử đó đóng vai trò nhân tố chủ quan, mà là những thuộc tính, những phẩm chất, những trạng thái của chủ thể biểu hiện trong hoạt động đóng vai trò nhân tố chủ quan. Những thuộc tính, phẩm chất của chủ thể là nhân tố chủ quan, là những yếu tố cần thiết để tạo ra khả năng tích cực, sáng tạo của chủ thể. Biểu hiện sức mạnh sáng tạo đó của chủ thể phải được thể hiện thông qua hành động thực tiển cải tạo các khách thể xác định. Tổng hợp toàn bộ những yêu cầu đó tạo thành khái niệm nhân tố chủ quan. Như trước đây, nhấn mạnh điều đó tác giả V.N Lavrineko cho rằng : "Nhân tố chủ quan trong quá trình lịch sử là những khả năng khác nhau của con người mà bằng sự tác động của mình, đã đem lại sự biến đối trong những mặt nhất định của đời sống xã hội. Điều quan trọng nhất cấu thành nhân tố chủ quan là ý thức và nói chung là đời sống tinh thần của con người, những kỷ năng, kỷ xảo và thói quen của họ trong hoạt động sản xuất, kinh nghiệm xã hội, trình độ văn hoá và đồng thời là những phẩm chất ý chí của họ: Tính tổ chức trong hoạt động của con người có một ý nghĩa to lớn" [trích theo ,20]" . Từ những nội dung phân tích trên đây, theo chúng tôi, giữa nhân tố chủ quan và chủ thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau. Sự thống nhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở chổ : nhân tố chủ quan về tất yếu luôn thuộc về chủ thể. Còn giữa các khái niệm này có sự khác nhau và tính độc lập tương đối. Vì nhân tố chủ quan, là khái niệm để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực của chủ thể nhằm để biến đổi khách thể cụ thể. Do đó: Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt động cụ thể của chủ thể cũng như bản thân sự hoạt động đó. Với quan niệm về khái niệm nhân tố chủ quan nêu trên, theo chúng tôi xét về cấu trúc nhân tố chủ quan, bao gồm. Thứ nhất : ý thức của chủ thể là nhân tố cấu thành nội dung khái niệm nhân tố chủ quan. Song điều đáng lưu ý đó là, không phải là ý thức nói chung của chủ thể là nhân tố chủ quan, mà là những bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và là phương châm của hoạt động, nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể [xem ,19] . Thứ hai: Nói tới nhân tố chủ quan là nói tới hoạt động có ý thức của con người (con người cụ thể, của giai cấp, của chính đảng ...) để sáng tạo ra lịch sử; là nói tới tính tổ chức, ý chí và nghị lực của họ để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định. Do đó, nhân tố chủ quan không chỉ thuần tuý là ý thưc của chủ thể mà còn bao gồm cả bản thân quá trình hoạt động đó. Vì ý thức của chủ thể cùng lắm mới chỉ dừng lại ở "giai thích thế giới". Điều đó, như trước đây Mác cũng đã từng khẳng định : "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" [ , 187]. Từ những nội dung trên đây, chúng tôi cho rằng, cấu thành nhân tố chủ quan còn bao gồm cả quá trình hoạt động cải tạo thực tiển của chủ thể đối với một khách thể xác định. Thứ ba: Sức mạnh hoạt động thực tiễn của các chủ thể lịch sử - xã hội là sự thống nhất biện chứng giữa sức mạnh thể chất và sức mạnh tinh thần. Do đó, thuộc về nhân tố chủ quan còn bao gồm cả những phẩm chất, những trạng thái thuộc về năng lực thể chất của chủ thể. Tức là, khi chủ thể được xem xét là con người cụ thể thì đó là phẩm chất thể lực. Còn khi chủ thể được xem xét với tính cách là một tổ chức, một lực lượng xã hội thì điều đó được xem xét dưới góc độ là tính tổ chức ; sự phối kết hợp giữa những bộ phận cấu thành nên tổ chức hay lực lượng xã hội đó. Bởi vì, trong quá trình lịch sử, các chủ thể lịch sử được xem xét tuỳ theo cấp độ đó là những con người cá biệt với ý thức ý chí và khả năng hoạt động của họ...; mặt khác còn xem xét ở cấp độ đó là những lực lượng xã hội (như giai cấp, Đảng phái...) . Khái niệm "Điều kiện khách quan" Như trên đây chúng tôi đã có dịp đề cập, điều kiện khách quan là khái niệm có quan hệ với hoạt động cải tạo thực tiễn của con người, của các chủ thể lịch sử xã hội. Bất cứ một chủ thể lịch sử xã hội nào trong quá trình hoạt động và tồn tại đều gắn liền với một điều kiện khách quan xác định. Trong nghiên cứu, khi đề cập tới khái niệm điều kiện khách quan các nhà nghiên cứu cũng đã có nhiều cách tiếp cận khác nhau và cũng đã đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm đó, chẳng hạn : - Những điều kiện khách quan là tất cả những gì tạo nên một hoàn cảnh hiện thực quy định và tác động lên mọi hoạt động của chủ thể, tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể hoạt động [ ,19] . - Điều kiện khách quan là tổng thể các mặt, các nhân tố tạo nên một hoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể và tác động vào hoạt động của chủ thể trong hoàn cảnh cụ thể đó [ ,12]. - Điều kiện khách quan là những yếu tố tạo nên một hoàn cảnh hiện thực tồn tại bên ngoài, độc lập với chủ thể đang hoạt động ở những thời điểm cụ thể nhất định và có tham gia vào việc quy định kết quả hoạt động của chủ thể [ , 16]. Như chúng ta đều biết, bất cứ một chủ thể lịch sử - xã hội nào, cho dù ở các vị trí và địa vị xã hội khác nhau, trong hoạt động và tồn tại đều gắn liền với một điều kiện khách quan xác định cụ thể. Do vậy, trong mỗi hoạt động của chủ thể, các yếu tố hợp thành điều kiện khách quan rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều mặt. Như, các yếu tố, các kết cấu vật chất tồn tại dưới dạng có sẵn trong tự nhiên ; các yếu tố vật chất tồn tại dưới dạng xã hội. Những yếu tố có tính vật chất, cùng với các yếu tố tinh thần như tư tưởng, tâm lý, tập quán ... đang tồn tại hiện thực trong xã hội hợp thành một hoàn cảnh để chủ thể tồn tại và hoạt động - Đó là điều kiện khách quan. Do vậy, theo chúng tôi điều kiện khách quan đó là : Tổng thể các mặt, các yếu tố, các mối quan hệ tồn tại ở bên ngoài chủ thể, độc lập với chủ thể, hợp thành một hoàn cảnh hiện thực, thường xuyên tác động, quy định hoạt động của chủ thể trong mối hoạt động xác định. Từ khái niệm điều kiện khách quan như chúng tôi đã nêu trên cho thấy : Điều kiện khách quan đó là hoàn cảnh tồn tại và hoạt động của chủ thể, nó quyết định hoạt động của chủ thể. Bởi vì "Bất kỳ một hoạt động nào của chủ thể cũng có thể được thực hiện khi có những điều kiện nhất định. Những điều kiện đó đóng vai những tiền đề của hoạt động" [ ,71-72 ]. Với quan niệm và những nội dung phân tích như trên, thuộc về điều kiện khách quan, trước hết là những hiện tượng, điều kiện, đối tượng vật chất tạo nên một hoàn cảnh hiện thực, độc lập với chủ thể xác định và quy định hoạt động của chủ thể đó. Những điều kiện vật chất là yếu tố chính cấu thành điều kiện khách quan, trước hết đó là các yếu tố vật thể của lực lượng sản xuất ; là trình độ sản xuất đã đạt được của xã hội. Nếu như các điều kiện vật chất bao giờ cũng là những điều kiện khách quan xét trong mối tương quan chung với ý thức, song điều kiện khách quan được xác định cụ thể lại không phải chỉ là những điều kiện vật chất mà còn bao gồm cả những yếu tố thuộc lĩnh vực ý thức tư tưởng. Bởi vì, những hiện tượng tinh thần, ý thức khi nó tồn tại khách quan đối với một chủ thể cụ thể, mà trong đó hoạt động của chủ thể hướng tới cải tạo nó và đồng thời nó tác động tới hoạt động của chủ thể. Do đó nó được xác định là yếu tố câu thành điều kiện khách quan. Chẳng hạn : những tập quán, tâm lý phong kiến lạc hậu cũng như tâm lý sản xuất nhỏ..., đang là yếu tố cấu thành điều điện khách quan tác động đến hoạt động của các chủ thể ở nước ta, trong quá trình xây dựng về phát triển nền sản xuất xã hội chủ nghĩa [xem thêm ] . Như vậy những yếu tố vật chất và tinh thần tư tưởng tồn tại khách quan với chủ thể cụ thể, cấu thành hoàn cảnh và tác động đến hoạt động của chủ thế đó là điều kiện khách quan . Nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan có mối liên hệ hữu cơ với nhau. Theo nguyên tắc phương pháp luận của triết học Mác xít, trong mối quan hệ biện chững giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan, điều kiện khách quan là tính thứ nhất, nó quyết định đối với nhân tố chủ quan và được thể hiện trên các bình diện : Một là : Hoạt động của chủ thể là quá trình thực hiện mục đích nhằm để thoả mãn nhu cầu. Vai trò quyết định của điều kiện khách quan đối với nhân tố chủ quan thể hiện ở chỗ, mục đích, mục tiêu chủ thể đặt ra nhằm để thực hiện, phải xuất phát từ những điều kiện và khả năng của hiện thực. Chỉ những mục tiêu nào của chủ thể xuất phát từ khả năng của hiện thực, của điều kiện khách quan thì hoạt động của chủ thể mới có thành công. Như trước đây Lê Nin đã từng viết: "Thật ra, mục đích cuả con người là do thế giới khách quan sản sinh ra và lấy thế giới khách quan làm tiền đề " [ ,201]. Hai là": Vai trò quyết định của điều kiện khách quan đối với nhân tố chủ quan còn được thể hiện ở khâu hoạt động thực tiển của chủ thể. Tức là, phương thức hoạt động thực tiễn của chủ thể nó bị quy định bởi điều kiện, hoàn cảnh khách quan. Để khẳng định về điều này, trước đây Mác đã từng nêu "Nhân loại bao giờ cũng chỉ đạt ra cho mình những nhiệm vụ mà có thể giải quyết được, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở qua trình hình thành" [ ,16] . Từ luận điểm của Mác cho thấy điều kiện khách quan là yếu tố chi phối và quyết định đến phương tiện và phương pháp hành động của chủ thể . Ba là: Điều kiện khách quan quyết định ra sự phát triển của nhân tố chủ quan. Điều đó cũng có nghĩa, tuỳ ở điều kiện khách quan mà đòi hỏi chủ thể hoạt động cải tạo điều kiện đó phải có những phẩm chất tương ứng. Khi điều kiện khách quan đã thay đổi thì nhân tố chủ quan cũng phải thay đổi theo cho phù hợp với sự đòi hỏi của điều kiện khách quan mới. Tuy bị điều kiện khách quan quyết định, nhưng nhân tố chủ quan không phải thụ động hoàn toàn, mà nó có tính tích cực ; tính sáng tạo của nó. Vai trò tích cực và sự tác động sáng tạo trở lại của nhân tố chủ quan đối với điều kiện khách quan, đó là : Dựa trên năng lực nhận thức của mình, chủ thể xem xét, đánh giá điều kiện khách quan, từ đó chủ thể đặt ra phương hướng, phương thức để thực hiện nhiệm vụ đã đặt ra. Ngoài ra, nhân tố chủ quan - Bằng hoạt động thực tiển, chủ thể đã cải tạo điều kiện, hoàn cảnh khách quan; thông qua sự biến đổi của chủ thể, đã làm cho các điều kiện khách quan luôn biến đổi và tới sự chín muồi. Thực chất vai trò nhân tố chủ quan ở đây, là sự phát hiện ra những khả năng khách quan, trên cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất vốn có của hoàn cảnh khách quan để biến đổi hoàn cảnh theo quy luật vận động vốn có của nó . 1.1.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển của xã hội Như chúng ta đã biết, xã hội là một kết cấu vật chất đặc biệt, là kết quả vận động lâu dài tách ra theo quy luật khách quan của thế giới tự nhiên [xem , 399]. Vì xã hội, là hình thức vận động cao nhất của vật chất. Hình thức vận động này lấy mối quan hệ của con người và sự tác động lẫn nhau giữa người với người làm nền tảng. Như trước đây C.Mác đã từng khẳng định: "Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì ? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa con người " [ ,657] . Con người là sản phẩm cao nhất của tự nhiên, bằng hoạt động của mình, con người đã làm nên lịch sử, tạo ra xã hội. Do vậy, xã hội là một bộ phận đặc biệt của tự nhiên. Song, đồng thời với quá trình tiến hoá tiếp tục của tự nhiên, xã hội cũng có một quá trình phát triển của nó. Sự vận động và biến đổi của xã hội tuân theo quy luật khách quan vốn có của nó, thể hiện bằng sự vận động, biến đổi và phát triển không ngừng trong cơ cấu của xã hội. Quá trình vận động biến đổi của cơ cấu xã hội dẫn đến sự phát triển của xã hội luôn thể hiện vai trò của con người - chủ thể của lịch sử xã hội [xem thêm ]. Quá trình vận động và biến đổi của xã hội, luôn là quá trình thống nhất biện chứng giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan; mà trước hết là vai trò nhân tố chủ quan trong sự biến đổi điều kiện khách quan của xã hội. Như trong khi phân tích vai trò của nhân tố chủ quan trong mối quan hệ biện chứng giữa nó với điều khách quan, chúng tôi đã có dịp đề cập tới tính tích cực ; chủ động và sáng tạo của nó trước điều kiện và hoàn cảnh khách quan . Nhân tố chủ quan có vai trò to lớn trong sự phát triển của xã hội. Do chổ : Con người ở bất kỳ hoàn cảnh nào, với tất cả sức mạnh của năng lực hoạt động có ý thức của mình, luôn là chủ thể của lịch sử, đó là sức mạnh và năng lực của nhân tố chủ quan. Hành động làm nên lịch sử xã hội đầu tiên của con người, đó là con người tiến hành cải tạo thế giới tự nhiên nhằm để đáp ứng những nhu cầu của mình. Như trước đây Lê Nin đã viết : "Thế giới không thoả mản con người và con người quyết định biến đổi thế giới bằng hành động của mình" [ ,229] . Hành động cải tạo và biến đổi tự nhiên nhằm để thoả mản nhu cầu của con người, đó là con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất . Chính sản xuất vật chất, là cơ sở tồn tại và là động lực cơ bản thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Trong quá trình sản xuất vật chất, con người đồng thời thực hiện hai mối quan hệ cơ bản, đó là, mối quan hệ giữa con người với tự nhiên và mối quan hệ giữa con người với con người . Từ việc thực hiện các mối quan hệ cơ bản đó, đã tạo nên xã hội loài người. Vai trò của nhân tố chủ quan đối với sự phát triển của xã hội được thể hiện trên cả hai mối quan hệ cơ bản nêu trên. Quá trình sản xuất vật chất, trước hết là quá trình con người nhằm vào tự nhiên, thay đổi các kết cấu vật thể của tự nhiên, tạo ra những dạng thể vật chất mới đáp ứng nhu cầu của con người. Thông qua hoạt động cải tạo đó, con người làm cho tự nhiên không ngừng biến đổi. Mỗi bước biến đổi của tự nhiên đều ghi lại và phản ánh lại những dấu ấn về vai trò hoạt động có ý thức của con người, vai trò của nhân tố chủ quan. Biểu hiện vai trò nhân tố chủ quan trong quá trình con người cải tạo tự nhiên, trước hết đó là, con người dựa trên cơ sở sự hiểu biết của mình đã lợi dụng những quy luật khách quan của tự nhiên; những điều kiện tự nhiên khách quan, qua đó biến đổi những điều kiện khách quan hiện có của tự nhiên, nhằm đáp ứng nhu cầu. Nói cách khác, con người với những phẩm chất của mình - nhân tố chủ quan, đã cố gắng tránh những ngẩu nhiên của tự nhiên ; không chờ đợi để cho các lực lượng tự nhiên đó hình thành dưới ảnh hưởng tự phát. Chẳng hạn, con người với những sự hiểu biết về tự nhiên và năng lực hành động thực tiễn của mình, con người đã tạo ra những điều kiện "nhân tạo" mà tự nó có trong giới tự nhiên, để biến đổi những khả năng của tự nhiên phục vụ và đáp ứng nhu cầu của con người. Nhưng trong sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở hiểu biết về các giống cây, con trong tự nhiên, con người đã bằng phương pháp nhân tạo, tạo ra những giống cây trồng ; vật nuôi có những đặc tính đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người. Đây là một thí dụ nêu rõ vai trò nhân tố chủ quan trong quá trình biến đổi điều kiện khách quan của tự nhiên nhằm phục vụ cho xã hội. Cùng với quá trình biến đổi tự nhiên, con người - chủ thể lịch sử xã hội, bằng những phẩm chất trí tuệ và năng lực thực tiển của mình đã biến đổi những điều kiện khách quan của đời sống xã hội thúc đẩy xã hội phát triển . Như chúng ta đã biết, bằng hoạt động cải tạo tự nhiên của con người, đã xác lập nên mối quan hệ khách quan giữa con người với con người trong việc cải tạo tự nhiên, từ đó tạo nên các quan hệ xã hội của con người và tạo thành xã hội. Xã hội ra đời, không ngừng vận động và phát triển theo quy luật khách quan của nó. Những quy luật khách quan của sự phát triển xã hội biểu hiện ra không phải bằng cách nào khác, mà là thông qua hoạt động của con người dù là tự phát hay là tự giác . "Xã hội với tính cách là hệ thống là tổng thể những hình thức hoạt động khác nhau của con người, các quan hệ xã hội, các hình thức cộng đồng của con người" [ ,106] . Do vậy vai trò nhân tố chủ quan đối với sự phát triển của xã hội trước hết đó là vai trò của các chủ thể của lịch sử trong việc nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của sự vận động của xã hội . Quá trình các chủ thể lịch sử xã hội nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan của sự vận động xã hội là sự biểu hiện vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội. Bởi vì, tuy quy luật khách quan của quá trình vận động của xã hội được hình thành và phát huy tác dụng thông qua h._.oạt động của con người. Nhưng không phải vì thế mà con người có thể sáng tạo ra quy luật hay xoá bỏ quy luật. Nhưng con người có thể thay đổi hình thức và trật tự tác động của những quy luật khách quan xã hội, bằng cách tạo ra những điều kiện khách quan mới, tạo ra những địa bàn mới cho quy luật hoạt động [xem ,34 ]. Do vậy, vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển của xã hội là ở chổ, trên cơ sở hiểu biết những quy luật, điều kiện khách quan đã có, nhận thức được yêu cầu tất yếu của quy luật, từ đó, cải biến những điều khách quan hiện có, hình thành và tạo nên những điều kiện khách quan mới, trên cơ sở đó điều chỉnh hình thức, trật tự tác động của quy luật khách quan. Thậm chí, dựa trên cơ sở sự hiểu biết và năng lực cải tạo thực tiễn, các chủ thể hình thành điều kiện khách quan mới, qua đó có thể làm cho các quy luật tác động trong điều kiện cũ mất hiệu lực, nhường chổ cho quy luật mới hình thành. Ví dụ, trong điều kiện nền kinh tế tiểu nông ở nước ta, những năm trước đây dựa trên cơ chế tập trung thời bao cấp, có những quy luật vận hành của nó. Song, cũng điều kiện ấy của nền kinh tế sẽ mất hiệu lực, nhường chỗ cho các quy luật của nền sản xuất hàng hoá (nhất là quy luật giá trị) phát huy tác dụng mạnh mẽ đối với nền kinh tế. Điều đó nói lên vai trò to lớn của nhân tố chủ quan trong sự nhận thức và vận dụng các quy luật của sự phát triển xã hội [xem thêm ]. Sự vận động và phát triển của xã hội, tương xứng với mỗi nấc thang phát triển là một chế độ kinh tế - xã hội. Trong mỗi chế độ kinh tế - xã hội cùng tồn tại và phát huy tác dụng của nhiều quy luật khách quan, trong đó có thể có những quy luật có vai trò tác động trái ngược nhau. Vai trò nhân tố chủ quan còn được biểu hiện ở chổ : Trên cơ sở năng lực nhận thức các quy luật khách quan đó, các chủ thể của chế độ kinh tế - xã hội ấy, điều chỉnh một cách tự giác sự tác động tổng hợp của các quy luật, tạo ra khả năng và làm cho các quy luật phát huy tác dụng một cách hài hoà, có lợi nhất, nâng cao tính hiệu quả hoạt động thực tiển của chủ thể. Khi phân tích về cấu trúc của nhân tố chủ quan mà chúng tôi đã đề cập ở phần trước, đó là, nhân tố chủ quan còn bao gồm cả bản thân hoạt động cải tạo thực tiển của chủ thể. Quá trình phát triển của lịch sử xã hội, trước hết dựa trên những hoàn cảnh và điều kiện khách quan nhất định. Trong những điều kiện khách quan đó, có thể tạo ra những khả năng phát triển khác nhau, vai trò nhân tố chủ quản đối với sự phát triển của xã hội được biểu hiện : Các chủ thể cải tạo điều kiện khách quan đó, dựa trên sự nhận thức về sự chín muồi của những khả năng từ những điều kiện khách quan ; phát hiện những nhân tố cơ bản đã chín muồi, qua đó các chủ thể lựa chọn khả năng có lợi nhất theo mục đích của mình ; tìm ra những biện pháp thích hợp, lựa chọn phương tiện và cách thức tác động đúng đắn nhất trong quá trình cải tạo nhằm biến khả năng thành hiện thực. Như trước đây cố Tổng bí thư Lê Duẫn đã từmg viết : "Trong hoàn cảnh lịch sử nhất định bao giờ cũng có thể có nhiều khả năng tiến lên. và sự vật tiến lên theo khả năng này hay khả năng khác còn tuỳ thuộc vào ý định của con người. Cũng như để đạt đến mục đích nhất định, không phải chỉ có một con đường mà có thể có nhiều con đường, giống như đi đến một điểm trung tâm, người ta có thể đi từ trên xuống, hoặtc từ dưới lên, từ tả qua hay từ hửu lại - Đi theo con đường nào, cái đó do con người quyết dịnh" [ ,116]. Từ sự phân tích trên đây cho thấy, khi những điều kiện khách quan đã chín muồi cho việc giải quyết một nhiệm vụ nào đó của lịch sử đặt ra và tạo ra khả năng hiện thực hoá của nhiệm vụ đó, vai trò nhân tố chủ quan được biểu hiện, đó là : Dựa trên sự phân tích, lựa chọn khả năng, các chủ thể xây dựng cho mình lòng quyết tâm, niềm tin và từ đó tiến hành trong thực tiển quá trình cải tạo hoàn cảnh, nhằm thực hiện mục đích của mình. Mặt khác trong quá trình hoạt động cải tạo điều kiện khách quan, các chủ thể dựa trên những phẩm chất năng lực trí tuệ và năng lực thực tiễn của mình, từng bước xác định cách thức tiến hành cải tạo điều kiện khách quan đó. Tức là, dựa trên điều kiện vật chất khách quan hiện có, các chủ thể đã biết lợi dụng và sử dụng các lực lượng vật chất khách quan tác động chúng với nhau, nhằm để đạt hiệu quả. Để đạt được điều đó đòi hỏi các chủ thể phải dựa trên năng lực hiểu biết, những kinh nghiệm, kỹ năng hoạt động của mình. Đó chính là vai trò nhân tó chủ quan. Sự tác động trở lại của nhân tố chủ quan đối với điều kiện khách quan trong sự phát triển của xã hội, vai trò nhân tố chủ quan ngày càng được nâng cao trong tiến trình phát triển đó. Bởi lẽ, điều kiện khách quan của xã hội không ngừng biến đổi và phát triển , từ đó, đòi hỏi các chủ thể lịch sử tương ứng với những điều kiện đó không ngừng nâng lên. Các chủ thể hoạt động ngày càng mang tính tự giác. Quá trình phát triển của xã hội biểu hiện trên những nấc thang lịch sử, đó là các hình thái kinh tế - xã hội. Tương ứng với mỗi hình thái kinh tế - xã hội có giai cấp, giai cấp đại diện cho. Đó là những lực lượng xã hội đại diện và phù hợp với xu hướng tiến bộ của lịch sử, đóng vai trò là chủ thể của chế độ kinh tế xã hội đó. Do đó, vai trò nhân tố chủ quan trong sự phát triển của xã hội được xem xét ở vai trò định hướng và hoạt động sống trực tiếp nhằm cải biến sự phát triển của chế độ kinh tế - xã hội của giai cấp đóng vai trò chủ thể. Quán triệt nguyên tắc đó trong sự phát triển của lịch sử xã hội, trươc đây nhà khoa học Xô viêt G.E.Glê-Dec-Man đã từng khẳng định : "Bước chuyển từ một chế độ xã hội này sang chế độ xã hội khác là một tất yếu khách quan do sự ra đời của những lực lượng sản xuất ra đời hoàn toàn không phải vì con người quyết định trước một cách có ý thức sẽ thay đổi chế độ xã hội của mình . Lực lượng sản xuất do con người tạo ra ; họ không đặt nhiệm vụ cho mình như vậy, mà chỉ theo đuổi lợi ích tính trước mắt hàng ngày của họ mà thôi. Nhưng khi lực lượng sản xuất mới đã ra đời và mâu thuẩn với quan hệ sản xuất cũ, thì xã hội đứng trước sự cần thiết phải thay đổi quan hệ đó. Sự cần thiết đó sớm muộn rồi cũng được những lực lượng xã hội tiên tiến có lợi ích xung đột với lợi ích của lực lượng đang suy tàn nhưng cố duy trì chế độ của nhận thức ra" [ , 223] . Tóm lại : Sự vận động của lịch sử xã hội là quá trình thống nhất biện chứng giữa những điều kiện khách quan của xã hội và nhân tố chủ quan. Sự phát triển của xã hội, về tất yếu khách quan phải xuất phát và dựa trên nhưng điều kiện, hoàn cảnh khách quan. Nhưng các hoàn cảnh và điều kiện khách quan của sự phát triển xã hội, tự nó không thể tự phát và trở thành động lực cho sự phát triển của xã hội. Để các hoàn cảnh điều kiện đó thực sự là động lực phát triển của xã hội phải được thực hiện và phát huy vai trò to lớn của nhân tố chủ quan. Đây là nguyên tắc của sự phát triển xã hội. 1.2. VAI TRÒ NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC BẢO ĐẢM ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA SỰ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA Từ một nền kinh tế thuần nhất về thành phần và chế độ sở hửu chuyển qua kinh tế nhiều thành phần và đa dạng sơ hửu ; Từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển quan cơ chế thị trường ; Từ một nền kinh tế đóng cửa chuyển qua nền kinh tế mở cửa với bên ngoài - Đó là sự chuyển hướng lớn lao, một sự thay đổi sâu sắc trong xây dựng nền kinh tế ở nước ta. Nhưng toàn bộ sự chuyển hướng đó, không phải là chúng ta đã thay đổi mục tiêu, con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn và thực hiện suốt mấy thập kỷ qua. Sự thay đổi đó, chỉ là sự thay đổi về biện pháp ; về bước đi để chúng ta càng có khả năng sớm đến với mục tiêu xã hội chủ nghĩa. 1.2.1. Phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa - một khả năng khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay - Xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần là yêu cầu khách quan đó với nước ta. Nước ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa không phải là ý muốn chủ quan, mà là sự nhận thức và tuân thủ lôgíc khách quan của lịc sử. Bởi vì, về tất yếu khách quan, loài người sẽ tiến đến một xã hội văn minh, hiện đại ; quan hệ giữa người với người là bình đẳng. Như trước đây C.Mác đã khái quát Lôgíc vận động khách quan đó bằng học thuyết hành thái kinh tế - xã hội, học thuyết đó đã khái quát và phác hoạ quy luật vận động tổng quát của lịch sử. Từ học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng, về tất yếu lịch sử, chế độ kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ ra đời mà giai đoạn thấp của nó, đó là chủ nghĩa xã hội. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới được mở ra từ thắng lợi của cuộc cách mạng tháng mười nga vĩ đại, cuộc cách mạng đó, trước đây đã được Lênin đánh giá là "mở đầu cho một thời đại mới trong lịch sử", là giai đoạn lịch sử nhân loại phát triển hướng tới một chế độ xã hội mới xã hội chủ nghĩa. Ngày nay, tuy chủ nghĩa xã hội đang lâm vào một thời kỳ khủng hoảng, thoái trào, nhiều mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ. Nhưng không phải vì thế mà tính chất của thời đại đã thay đổi; xu hướng khách quan lên chủ nghĩa xã hội đã bị triệt tiêu mà xu hướng lên chủ nghĩa xã hội đang tồn tại khách quan ngay trong lòng mỗi quốc gia, ngoài ý chí của lực lượng cầm quyền. Nước ta, vốn là một nước nền kinh tế lạc hậu. lực lượng sản xuất còn ở trình độ thấp và phát triển không đều ; sản xuất nông nghiệp và dân số nông thôn vẫn còn chiếm tỉ lệ lớn, đời sống xã hội còn nhiều khó khăn. Nền kinh tế còn nghèo so với thế giới và khu vực; tính chất tự túc, tự cấp của nền kinh tế đang là vấn đề nổi cộm. Vì vậy, vấn đề đặt ra, chúng ta lựa chọn con đường phát triển của đất nước theo con đường XHCNtrong dòng chảy lịch sử tự nhiên, với những quy luật vốn có của nó, là sự lựa chọn đúng đắn, nhưng hết sức khó khăn. Bởi vì, biện chứng của cuộc sống đã tạo ra một thời đại mới, với những khả năng mới, để các nước có thể tiến lên chủ nghĩa xã hội từ bất cứ trình độ nào của lực lượng sản xuất. Nhưng đặc điểm về hoàn cảnh kinh tế thấp kém ở nước ta đang là một thực tế khách quan, là những khó khăn trở ngại. Chỉ có thể lựa chọn con đường phát triển đất nước theo hướng xã hội chủ nghĩa như Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Vì thực tiễn đã chứng minh "sự phát triển tư bản chủ nghĩa không thể khắc phục được những mâu thuẩn và đáp lại đòi hỏi củ lý trí loài người, mà chúng chỉ có thể khắc phục khi loài người phát triển theo xu hướng khác, xu hướng xã hội chủ nghĩa" [ ,34] . Muốn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có lực lượng sản xuất phát triển . Đất nước ta có thể quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, đó là xu hương và khả năng khách quan của thời kỳ lịch sử hiện nay. Nhưng, chúng ta không thể bỏ qua những tiền đề kinh tế, kỹ thuật, văn hóa, xã hội cần thiết cho sự quá độ đó. Cái thiếu của nền kinh tế nước ta là lực lượng sản xuất chưa phát triển; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa không thể thiết lập tràn lan trên một lực lượng sản xuất thấp kém [xem thêm, .9] Nên chúng ta khẳng định rằng, chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, mới phù hợp với thực trạng trình độ thực tế của lực lượng sản xuất ở nước ta ; chỉ có phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta mới có khả năng huy động được mọi tiềm năng về vốn, kỹ thuật ; mới có khả năng tạo thêm công ăn việc làm và phát huy nguồn lao động dồi dào ở nước ta để đẩy nhanh sự phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế. [xem , 35 ]. Như vậy, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần là nhu cầu khách quan và phù hợp với quy luật từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa đối với nước ta. Đó là con đường để tạo ra tiền đề kinh tế kỹ thuật cần thiết cho sự quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Một nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường phát triển ở một nước tiền tư bản như ở nước ta, liệu có đi lên và phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa được không? Cho dù đi lên chủ nghĩa xã hội là một xu hướng khách quan của thời đại. Như trước đâu, trong các nguyên lý triết học của mình, các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - LêNin đã khẳng định rằng, hiện thực này hoặc hiện thực khác đều sinh ra bởi tác dụng của những quy luật khách quan nhất định tồn tại trên những điều kiện khách quan nhất định . Như ở phần trên chúng tôi đã phân tích, đi lên chủ nghĩa xã hội là xu hướng và là quy luật khách quan của thời đại ngày nay. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, là biện pháp thực tiễn để biến nền kinh tế của nước ta trở thành nền kinh tế có bước phát triển cao. Bởi vì "thực tế đã cho thấy quốc gia nào kinh tế hàng hoá kém phát triển thì đời sống thấp kém nghèo nàn và lạc hậu" [ ,31]. Vậy, hà cớ gì Chủ nghĩa xã hội không sử dụng nền kinh tế hàng hóa, như một công cụ nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế, trong khi điều kiện khách quan của lịch sử, đã cho phép và tạo ra nhiều con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tính phong phú của các phương thức đi tới mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà vốn trứơc đây được xem là dị thường xa lạ, nay mỗi con đường, mỗi phương thức trong tính phong phú của nó mà các quốc gia lựa chọn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa lựa chọn, đã và đang mở ra các khả năng gây ảnh hưởng mạnh mẽ một cách toàn diện và sâu sắc tới sự phát triển của các xã hội, tạo ra những bước ngoặt bất ngờ. Góp phần đưa các nước này ra khỏi khủng hoảng một cách hiện thực, [xem thêm ,24] mà nước ta là một trong các nước đó. - Điều kiện khách quan nền kinh tế thế giới, tác động quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta . Ngày nay khoa học và công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, các thành tựu khoa học do quá trình lao động sáng tạo của con người đã nhanh chóng được con người ứng dụng vào quá trình sản xuất. Từ đó, đã nâng lên một trình độ mới về chất quá trình sản xuất vật chất của nhân loại. Do vậy, trật tự nền kinh tế thế giới đã có những biến đổi khác so với thời kỳ trước. Xu thế hội nhập giữa mọi quốc gia dân tộc mở ra tốc độ nhanh, tạo ra sự giao thoa về lợi ích kinh tế giữa các quốc giữa dân tộc, giã các khu vực. Làm cho, toàn cầu hoá toàn bộ đời sống xã hội diễn ra nhanh chóng. Toàn cầu hoá về bản chất chính là sự tăng cường của hoạt động kinh tế nói chung ; toàn cầu hoá có nội dung chỉ đạo là cầu hoá về kinh tế. Phát triển kinh tế vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình toàn cầu hoá. Đây là nhu cầu khách quan của nền kinh tế hiện đại. Chính vì lẻ đó, ngay ở các nước tư bản phát triển , giai cấp tư sản đã có bước điều chỉnh lớn về quan hệ sản xuất cho phù hợp với xu thế khách quan của xu hướng toàn cầu hoá. Các Công ty tư bản xuyên quốc gia luôn mở rộng liên kết, đầu tư về đi kèm động thái sát nhập để đủ mạnh và tăng khả năng cạnh tranh, thúc đẩy sự phát triển quá trình chu chuyển vốn bằng con đường đầu tư, nhằm tăng mức thu lợi nhuận. Từ đó đã thúc đẩy quá trình quốc tế hoá sản xuất và dịch vụ. Do, sự phát triển nhanh và mạnh mẻ của quá trình quốc tế hoá kinh tế. Từ đó, đã làm cho nền kinh tế thế giới có sự biến đổi, đã thúc đẩy lực lượng sản xuất của thế giới bước vào thời kỳ phát triển cao chưa từng có, mở rộng phân công lao động và hợp tác quốc tế về quá trình sản xuất và dịch vụ trên phạm vi quốc tế, củng như khu vực; tạo điều kiện quan trọng cho các quốc gia dân tộc đẩy mạnh sự phát triển kinh tế. Bởi vì, bất kỳ một quốc gia nào, nếu biết tận dụng thành tựu của khoa học công nghệ; nắm được thời cơ của hợp tác và tìm con đường thích hợp cho mình tham gia vào quá trình hội nhập thì chỉ trong một vài thập kỷ, có thể biến đổi từ một nước lạc hậu thành một nước có công nghệp phát triển. Và như vậy sẽ cho phép quốc gia dân tộc đó có thể sử dụng nó như một yếu tố, để đẩy mạnh sự phát triển kinh tế . Với những đặc điểm khái quát về nền kinh tế thế giới như trên, đã mở ra một vận hội và thời cơ lớn cho các nước nghèo, nước chậm phát triển có thể rút ngắn thời gian, đi tắt, đón đầu trong tiến trình phát triển kinh tế; đẩy nhanh tốc độ phát triển lực lượng sản xuất. Con đường rút ngắn trong phát triển kinh tế đối với các nước nghèo, đó là, bằng con đường phát triển kinh tế đối ngoại, tham gia vào quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế, thu hút vốn và công nghệ nhằm phát huy tối đa các nguồn lực kinh tế của nước mình. Qua đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội, phát huy tiềm năng kinh tế của đất nước . Với những nội dung đã đề cập và phân tích trên đây, cho thấy, quá trình phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là sự lựa chọn đúng đắn điều kiện khách quan của nền kinh tế thế giới. Sự tác động của điều kiện nền kinh tế hiện đại của thế giới đối với quá trình định hướng xã hội chủ nghĩa, sự phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta, có thể khái quát trên một số mặt . + Do sự phát triển của khoa học và công nghệ, xu hướng chung của nền kinh tế thế giới đã hình thành nên những khu vực kinh tế, cũng như nền kinh tế toàn cầu. Từ đó, tạo ra sự liên kết kinh tế giữa các nước trong từng khu vực và trên phạm vi quốc tế. Qua đó làm cho bất kỳ quốc gia nào, cũng đều có lợi thế riêng trong nền kinh tế hội nhập. Làm cho đẩy nhanh sự phân công lao động và hợp tác trên phạm vi quốc tế và ở từng khu vực. Do đó mở ra những khả năng thực tiễn to lớn quá trình phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta . + Xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới đã làm cho thị trường kinh tế thế giới thống nhất và mang tính toàn cầu. Quá trình phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia dân tộc nào, cũng đều bị cuốn hút và khách quan đòi hỏi phải tham gia vào quá trình đó. Từ đó, làm cho thị trường thế giới có sự thống nhất, sự cạnh tranh không còn dừng lại ở phạm vi quốc gia, mà đã được mở rộng ra ở phạm vi quốc tế và khu vực. Nên, đã tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nươc ta, kích thích sự phát triển thị trường trong nước; kích thích tới mọi thành phần kinh tế trong nước không ngừng đổi mới công nghệ; đổi mới cung cách quản lý, thu hút đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng năng suất để đủ năng lực cạnh tranh, làm cho sức sản xuất xã hội ở nước ta được giải phóng . + Toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, đã tạo ra quan hệ kinh tế đa phương và song phương. Do đó, mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế của nước ta với các nước trong khu vực (Khối ASEN) và trên phạm vi quốc tế. Sự mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại của nước ta, làm tăng mức đầu tư phát triển sản xuất của các công ty Tư bản nước ngoài lên một mức cao. Do đó, làm cho nền kinh tế nước ta có bước tăng trưởng nhanh . - Điều kiện khách quan trong nước tạo ra khả năng khách quan phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta . Bên cạnh những điều kiện khách quan của hoàn cảnh quốc tế, mà trước hết là sự phát triển nền kinh tế thế giới như chúng tôi đã đề cập. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta còn được thực hiện từ những điều kiện khách quan trong nước . Trước thời kỳ đổi mới, do chưa nhận thức và quán triệt đầy đủ đặc điểm và hoàn cảnh bao trùm của nước ta, đó là đi lên chủ nghĩa xã hội với một xuất phát điểm về kinh tế còn thấp; từ một nước nông nghiệp lạc hậu chưa trải qua bước phát triển tư bản chủ nghĩa. nNên chúng ta đã vấp phải những sai lầm chủ quan đáng kể. Trong lĩnh vực kinh tế, chúng ta đã nóng vội muốn có ngay nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thuần nhất dưới hai hình thức kinh tế quốc doanh và tập thể, nóng vội xóa bỏ các thành phần kinh tế Phi XHCN. Do đó, chúng ta đã quá nôn nóng trong việc thực hiện phong trào hợp tác hoá ở miền Bắc vào những năm 1958 - 1976 ; nóng vội cải tạo công thương nghiệp miền nam năm 1978 là những ví dụ điển hình. Từ đó, làm cho nền kinh tế ở nước ta không những không phát triển, mà còn bị suy thoái, nhiều tiềm năng và lợi thế kinh tế của đất nước không được khai thác và phát huy. Nhận thức ra những sai lầm trên đây, Đảng ta đã khởi xướng và lảnh đạo sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước. Đó là một cuộc biến đổi sâu sắc trong tư duy chính trị của Đảng, là biểu hiện năng lực nhận thức đúng đắn các quy luật khách quan quá trình phát triển của xã hội. Vì "Một xã hội, ngay cả khi phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó cũng không thể nào nhảy qua được các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh xóa bỏ những giai đoạn đó, nhưng có thể rút ngắn, làm dịu bớt những cơn đau đẻ " [ ,21] . Quán triệt quan điểm có tính nguyên tắc nêu trên, Đảng ta đã chủ động xây dựng và phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với đường lối phát triển kinh tế đúng đắn đã được Đảng ta đề ra từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) và tiếp tục được bổ sung và hoàn thiện trong các văn kiện tiếp theo, đã tạo thành động lực thúc đẩy quá trình phát triển nền kinh tế nước ta thời gian qua. Từ thực tiễn, [của thời kỳ đổi mới], nhất là thời kỳ thực hiện định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta (Từ Đại hội VII tháng 6/1991của Đảng đến nay). Nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển vượt bậc. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần từng bước được phát triển , cơ chế thị trường ngày càng được hình thành rõ nét và phát triển theo hướng văn minh hiện đại. Biểu hiện rõ nét đó là nền kinh tế thị trường luôn có sự quản lý và điều tiết của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là Nước của dân do dân và vì dân. Do đó, trong quá trình phát triển của nền kinh tế, các yếu tố xã hội luôn được quan tâm giải quyết . Nước ta có nguồn lao động dồi dào, thực tiễn những năm qua, các thành phần kinh tế đã thu hút được một tiềm năng lớn sức lao động xã hội dư thừa vào quá trình sản xuất. Do vậy, kinh tế nhiều thành phần đã và đang đóng vai trò tích cực vào việc giải quyết việc làm cho xã hội, tăng thu nhập và mức sống cho đội ngũ người lao động ở nước ta. Từ đó, làm cho đời sống xã hội có bước phát triển và ổn định . Nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường ở nước ta, không phải là vận động và phát triển theo hướng bất kỳ, mà theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Do đó, kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác luôn được Đảng ta xác định là nền tảng vật chất của chế độ mới. Thực tiễn những năm qua, kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác là hai thành phần kinh tế đang được phát triển mạnh, từng bước thể hiện vai trò nòng cốt và đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Nhờ liên tục đổi mới hệ thống chính sách đối với kinh tế Nhà nước nói chung và doanh nghiệp nhà nước nói riêng, nên đã làm cho cơ cấu sở hửu Nhà nước được đổi mới, tạo ra động lực thúc đẩy việc sử dụng có hiệu quả tài sản Nhà nước và huy động vốn xã hội vào quá trình phát triển kinh tế; góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá nền kinh tế. Chúng ta đã hắc phục tình trạng hoạt động tách biệt trong từng thành phần kinh tế, "nhất là tình trạng cách bức giữa doanh nghiệp Nhà nước với các thành phần kinh tế khác" [ ,33]. Đó là quá trình, không ngừng hoàn thiện sự hợp tác và đa dạng hoá các hình thức hiệp tác giữa các thành phần kinh tế. Thông qua đó kinh tế Nhà nước thực hiện vài trò chủ đạo và điều tiết các thành phần kinh tế khác. Như vậy, xét trên lĩnh vực kinh tế, thời gian qua ở nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, kinh tế tăng trưởng nhanh, lạm phát được đẩy lùi, đầu tư phát triển quá trình sản xuất tăng đáng kể. Kinh tế Nhà nước không ngừng được củng cố theo hướng giảm về số lượng, tăng tính hiệu quả trong cạnh tranh. Kinh tế Nhà nước đã thể hiện được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân [xem thêm, 11]. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa tiếp tục được xác lập và cũng cố. Quá trình đó được thực hiện trên cả ba phương diện, như: - Về sở hữu, chúng ta đã thực hiện đa dạng hoá các hình thức sở hửu cho phù hợp với trình độ phát triển thực tế của lực lượng sản xuất, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất. - Về quản lý và phân phối không ngừng được cũng cố, đổi mới. Nhất là trong phân phối, đã có sự thay đổi lớn, đã kết hợp chặt chẽ nhiều hình thức phân phối làm cho quá trình phân phối hợp lý, bảo đảm tính công bằng xã hội và tạo ra động lực to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung . Bên cạnh tiền đề kinh tế khách quan như đã nêu trên. Trong quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nươc ta, một điều kiện khách quan rất cơ bản và có ý nghĩa to lớn, tạo ra khả năng phát triển theo hướng XHCN ở nước ta đó là, chúng ta có một hệ thống chính trị vững chắc, đã được tôi luyện và thử thách trong đấu tranh cách mạng, luôn được quần chúng tin yêu. Quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần hệ thống chính trị ở nước ta tiếp tục được đổi mới cho phù hợp với kết cấu kinh tế xã hội; luôn giữ vững được sự ổn định về chính trị xã hội, đó là cơ sở khách quan cho quá trình phát triển kinh tế theo định hướng XHCN . Toàn bộ những lập luận trên đây khẳng định: Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa là khả năng khách quan, vì đã xuất hiện và có sự chín muồi của những điều kiện khách quan cả trong nước và quốc tế. Vấn đề đặt ra, liệu có thể phát huy được vai trò nhân tố chủ quan để làm cho khả năng khách quan đó trở thành hiện thực được hay không? Đây là vấn đề có ý nghĩa thực tiễn to lớn. 1.2.2. Vai trò nhân tố chủ quan trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta hiện nay Sự lựa chọn và định hướng đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa là hợp với quy luật khách quan của lịch sử ; là sự lựa chọn đúng đắn các điều kiện khách quan trong nước và quốc tế của Đảng ta trong việc lãnh đạo đất nước. Thể hiện bằng việc xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường theo quy định hướng XHCN. Nên bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, thực chất đó là cuộc cách mạng XHCN trong lĩnh vực kinh tế. Cuộc cách mạng đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân và cả dân tộc ta. Đây là một vấn đề lớn, cần được nghiên cứu và lý giải một cách nghiêm túc và công phu. Do giới hạn và điều kiện nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung vào tìm hiểu vai trò định hướng chính trị trong phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta, là hai chủ thể quan trọng nhất, nhằm bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Nước ta, muốn quá độ lên CNXH, trước hết phải có một lực lượng sản xuất phát triển . Chúng ta bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, chỉ có nghĩa là không trải qua chủ nghĩa tư bản với tính cách là một chế độ chính trị thống trị; nói cách khác là nội dụng bên trong của sự bỏ qua đó, là quá trình "phát triển rút ngắn" quá trình lịch sử tự nhiên khi đã xuất hiện những điều kiện và những khả năng khách quan cho phép. Nhưng, hoàn toàn không cho phép chúng ta đốt cháy giai đoạn theo ý muốn chủ quan. Đúng như điều mà trước đây C.Mác đã viết : "Con người làm ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tuỳ tiện của chính mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt đã cho sẵn và do quá khứ để lại [ ,145] . Trong khi phân tích khả năng khách quan sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở những phần trên, chúng tôi đã có dịp đề cập và chỉ ra những điều kiện khách quan cho phép, như nền kinh trong nước; điều kiện nền tế thế giới và xu hướng của thời đại đi lên chủ nghĩa xã hội. Nhưng, trong sự phát triển của xã hội từ một khả năng khách quan không thể tự phát trở thành hiện thực. Vì, mỗi bước phát triển của xã hội luôn là sản phẩm hoạt động có ý thức của các chủ thể lịch sử xã hội. Nên khâu quyết định chuyển từ khả năng khách quan trở thành hiện thực, để đưa nền kinh tế nước ta từng bước trở thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, phụ thuộc vào vai trò nhân tố chủ quan của Đảng và Nhà nước. Đó chính là vai trò lãnh đạo, định hướng chính trị trong phát triển kinh tế của Đảng và vai trò quản lý, giám sát, điều tiết của Nhà nước ta trong sự phát triển kinh tế. Vai trò định hướng chính trị trong phát triển kinh tế của Đảng. Như chúng ta đã biết, mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội là nâng cao mức sống, xoá bỏ bóc lột, không để phân hoá giàu nghèo, bảo đảm cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho mọi người. Đúng như điều trước đây Bác Hồ đã viết : "Chủ nghĩa xã hội là làm cho dân đủ ăn đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được học hành ... Tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt" [ ,38]. Với mục tiêu định hướng XHCN như đã nêu trên, quá trình thực hiện và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, trên lĩnh vực kinh tế, phải là quá trình từng bước hình thành những tiền đề kinh tế, những điều kiện vật chất của xã hội, nhằm phục vụ cho quảng đại quần chúng lao động. Do đó, một mặt chúng ta phải chăm lo phát triển lực lượng sản xuất, tăng trưởng kinh tế, mặt khác cần phải chăm lo các vấn đề chính trị, xã hội, vấn đề con người. Để thực hiện được những đòi hỏi khách quan đó, phải phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, vì "Đảng cộng sản Việt Nam, đội quân tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc" [ ,14] . Do vậy, Đảng lãnh đạo quá trình phát triển kinh tế của đất nước, trước hết là xác định mục tiêu chính trị định hướng cho sự phát triển kinh tế xã hội nhằm nâng cao mức sống cho mọi thành viên xã hội, hướng qua trình phát triển, tới một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, kinh tế thị trường, "một mặt tạo ra động mạnh mẽ thúc đẩy cả về kinh tế xã hội ; mặt khác nó cũng tạo ra nhiều hậu quả tiêu cực cả về kinh tế lẫn xã hội" [ ,89]. Đảng lãnh đạo và định hướng chính trị trong phát triển nền kinh tế được thể hiện bằng các chủ trương, đường lối; bằng những định hướng lớn. Do vậy, đòi hỏi các chủ trương, Nghị quyết, đường lối định hướng cho sự phát triển nền kinh tế thị trường của Đảng, trước hết phải tuân theo quy luật khách quan từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bằng cách "Thực hiện nhất quán chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa " [ ,23]. Vì, không._.ạng nhất là chủ nghĩa Lê Nin" [ , 268] . Do đó việc học tập nghiên cứu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu khách quan trong việc nâng cao lập trường chính trị của giai cấp công nhân và trí tuệ của Đảng . Đại hội VII của Đảng đã chỉ rõ: "Những gì mà nhận thức của chúng ta đạt tới hôm nay sẽ còn được bổ sung, phát triển cùng với sự phát triển sau này của thực tiển và của tư duy lý luận" [ , 111] . Quan điểm đó của Đảng ta đã thể hiện việc quán triệt và nhận thức đúng đắn tư tưởng của Bác Hồ về vai trò lý luận cách mạng, "Chủ nghĩa làm cốt" . Như chúng ta đã biết, quá trình bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta là một phát hiện sáng tạo của Đảng ta, là cách đi Việt Nam trong xu thế của thời đại. Tuy vậy, đây là cách làm mới, nhiều vấn đề nảy sinh cần được giải đáp cả về lý luận và thực tiển. Do đó, đòi hỏi trong quá trình nâng cao trí tuệ của Đảng, chúng ta phải không ngừng nâng cao trình độ lý luận, trình độ và trí thức khoa học của thời đại. Vì không có trình độ lý luận và trí thức khoa học tiên tiến thì không thể lý giải nhiều vấn đề của thực tiễn đặt ra, chẳng hạn : Thế nào là kinh tế thị trưởng định hướng XHCN. Mặt khác Đảng cần phải đẩy mạnh tổng kết thực tiển chính trị, kinh tế, xã hội trong nước, rút ra những bài học cần thiết, gồm cả những thành công và sai lầm, Để từ đó, chúng ta tiếp tục bổ sung, điều chỉnh cả về chủ trương đường lối và chỉ đạo thực tiển. Đó là biện pháp nhằm để khắc phục chủ nghĩa kinh nghiệm, giáo điều, chủ quan duy ý chí mà Đảng ta đã vấp phải. Vì chỉ thông qua công tác tổng kết kinh nghiệm từ trong thực tiễn, chúng ta mới có khả năng phát hiện những sai lầm thiết sót ngay cả từ chủ trương đường lối đến chỉ đạo thực tiển quá trình thực hiện những chủ trường đường lối đó trong đời sống xã hội; làm cho Đảng ta thực sự là đội tiên phong, có đủ mọi khả năng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước. Thứ ba: Chấn chỉnh các tổ chức của Đảng làm cho Đảng ta là một Đảng cách mạng có sức mạnh thống nhất từ Trung ương đến cơ sở. Sức mạnh và uy tín lãnh đạo của Đảng là một thể thống hoàn chỉnh của cả hệ thống từ Trung Ương đến cơ sở. Trên thực tế, những năm qua trước những thử thách và tác động của cơ chế mới của nền kinh tế trước những khó khăn về kinh tế - xã hội của đất nước, đa số các tổ chức cơ sở Đảng vẫn vững vàng luôn trung thành với sự nghiệp cách mạng và tin tưởng vào sự lãnh đạo cuả Trung ương Đảng. Do đó, cấp ủy các cấp đã tìm cách vận dụng tốt đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, phát huy tinh thần trách nhiệm, lắng nghe quần chúng, đưa phong trào quần chúng vươn lên trong việc thực hiện các mục tiêu và tích luỷ được nhiều kinh nghiệm tốt. Tuy vậy, tới nay vẫn còn một bộ phận không nhỏ các tổ chức cơ sở đảng (khoảng 20%) đang ở trong tình trạng yếu kém kéo dài. Tình trạng yếu kém đó biểu hiện ở chổ. Trình độ hiểu biết năng lực lảnh đạo năng lực quản lý kinh tế, quản lý xã hội nhất là năng lực tổ chức thực tiễn của cấp uỷ cơ sở và của đảng viên chưa được nâng lên theo yêu cầu mới. Sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của các cơ sở Đảng bị sa sút, có nơi sa sút nghiêm trọng. Nhiều tổ chức cơ sở Đảng chưa nắm chắc chức năng, nhiệm vụ của mình, do đó thường dẫn đến hai khuynh hướng : Hoặc là bao biện làm thay, can thiệp quá sâu vào công việc quản lý, điều hành cụ thể của chính quyền của các tổ chức kinh tế và các đoàn thể quần chúng (đây là hướng nổi trội) ; hoặc là buông lỏng, đi đến tự phủ định vai trò lãnh đạo của mình. Sự lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng đối với các tổ chức quần chúng còn mang nặng tính chất hành chính, sự vụ, và mang tính hình thức. Nhiều đảng viên chưa thật sự là tấm gương sáng để các tổ chức quần chúng và quần chúng nhân dân noi theo. Nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng Đối với quá trình phát triển nền kinh tế nhằm bảo đảm định hướng XHCN thì vai trò của các tổ chức cơ sở Đảng lại càng trỏ nên quan trọng. Do đó phải gấp rút kiện toàn các tổ chức cơ sở Đảng để nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của nó. Quá trình nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là cũng cố các tổ chức Đảng cơ sở, nhằm làm cho cả hệ thống từ Trung ương đến cơ sở có sự thống nhất, hoạt động nhịp nhàng, có đủ năng lực và khả năng định hướng chính trị, cũng như chỉ đạo thực tiễn. Muốn vậy, trước hết chúng ta cần xác định thật rõ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cở Đảng. Trong điều kiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng kinh tế đối ngoại; thực hiện quá trình dân chủ hoá cao của đời sống kinh tế, đòi hỏi Đảng phải xác định và phân định rõ chức năng nhiệm vụ lãnh đạo chính trị của các tổ chức cơ sở Đảng. Điều cốt lõi của việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của các tổ chức cơ sở Đảng nhằm góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đó là : Quán triệt đầy đủ "là tổ chức chính trị, là hạt nhân lãnh đạo chính trị", hoàn toàn không phải là cơ quan quyền lực. Với tư cách là hạt nhân lãnh đạo chính trị, đòi hỏi các tổ chức cơ sở Đảng phải không ngừng đổi mới nội dung về phương thức lãnh đạo đổi mới tổ chức, thực sự tôn trọng và phát huy vai trò của các tổ chức của hệ thống chính trị, các đoàn thể quần chúng, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân lao động. Mặt khác, Đảng cần tăng cường công tác kiểm tra giám sát nhất là công tác kiểm tra hoạt động của bộ máy chính quyền cơ sở. Công tác kiểm tra đó có thể được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau. Như kiểm tra trực tiếp hoặc giám tiếp thực hiện thông qua sự kiểm tra của quần chúng nhân dân. Muốn vậy, Đảng cần thực hiện quá trình dân chủ hoá đời sống chính trị xã hội nhằm phát huy quyền làm chủ của quần chúng nhân dân. Thứ tư: Đổi mới và nâng cao công tác cán bộ của Đảng . Chúng ta có thể khẳng định để bảo đảm định hướng XHCN sự phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường trong điều kiện hội nhập quốc tế thì nâng cao vai trò lãnh đạo và định hướng chính trị cho quá trình phát triển đó, là đòi hỏi khách quan cần thiết. Muốn vậy, đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng. Và "Trong xây dựng Đảng thì công tác cán bộ là quan trọng nhất, là khâu then chốt của vấn đề then chốt" . Nâng cao vai trò lãnh đao của Đảng, đòi hỏi Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng đội ngủ cán bộ có đủ phẩm chất và năng lực gánh vác các nhiệm vụ cách mạng. Bởi vì, là Đảng cầm quyền trong điều kiện nền kinh tế thị trường, vấn đề lựa chọn đúng đội ngũ cán bộ trong các tổ chức và cơ quan của Đảng và Nhà nước trung thành kiên định thực hiện lý tưởng của Đảng có ý nghĩa hết sức to lớn. Trong công tác cán bộ, "Đảng ta phải đặc biệt coi trọng xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ từ cấp chiến lược vĩ mô đến cơ sở". Đổi mới cả quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng dân chủ, tập thể kết hợp với tập trung thống nhất theo một quy trình chặt chẽ " [ , 13] . Cương quyết khắc phục tư tưởng chuyên quyền trong công tác cán bộ. Để có được một đội ngũ cán bộ; đủ khả năng đảm nhận những trách nhiệm, công việc trước đòi hỏi ở thời kỳ cách mạng mới, thời kỳ bảo đảm dữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa Đảng phải đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ, chú trọng cả phẩm chất, trình độ và năng lực trong quá trình đào tạo, lựa chọn và quy hoạch. Do, Đảng ta là đảng cầm quyền lãnh đạo giai cấp công nhân cũng như toàn xã hội nói chung, thông qua ba "kênh" chủ yếu : Đảng, nhà nước và các đoàn thể quần chúng. Do dó trong công tác cán bộ đòi hỏi phải đặc biệt chú ý tới đội ngũ cán bộ từ trong các phong trào thực tiễn của các "kênh" đó, [xem ]. Cương quyết . Khắc phục tình trạng quy hoạch, bố trí, sử dụng cán bộ theo kiểu áp đặt theo lối từ người tìm việc ; khắc phục tình trạng bố trí, đề bạt cán bộ theo ý muốn chủ quan của người có chức có quyền, theo lối tình cảm cá nhân . Để có được một đội ngủ cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của hời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế theo định hướng XHCN. Đòi hỏi, trước hết Đảng phải xây dựng được hệ thống quan điểm về xây dựng đội ngủ cán bộ theo lập trường giai cấp với những nội dung xác thực và khoa học, qua đó để làm căn cứ chỉ đạo thực tiễn. Mặt khác, Đảng phải thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngủ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa việc lãnh đạo công tác cán bộ của Đảng với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị . Để có được một đội ngủ cán bộ có chất lượng đồng bộ và toàn diện với cơ cấu hợp lý, năng động, hoạt động có hiệu quả, vững vàng về chính trị và lối sống đạo đức trong sáng, nhằm đáp ứng yêu cầu khách quan của thời kỳ cách mạng mới của Đảng là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Trong những năm trước mắt Đảng cần tập trung làm tốt một số nội dung sau: + Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các quy chế, quy trình công tác cán bộ, chuẩn hoá đội ngủ cán bộ cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ mới. + Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nhằm tạo ra một đội ngủ cán bộ có phẩm chất chính trị vững vàng kiên định với con đường XHCN ; có trình độ tiên tiến, hiện đại tương xứng với trình độ của thế giới đồng thời phải phát huy được trí tuệ, tinh hoa của dân tộc. + Tăng cường và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát, quản lý cán bộ của Đảng . + Kết hợp chặt chẻ giữa việc chỉnh đốn bộ máy tổ chức làm công tác cán bộ với xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách cán bộ. Khẩn trương khắc phục những mặt hạn chế và thiếu sót về công tác cán bộ hiện nay. Thứ năm: Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước . Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là việc cụ thể hoá các quan điểm, chính sách kinh tế của Đảng thành pháp luật kinh tế, cơ chế kinh tế. Do Đảng lãnh đạo Nhà nước được thực hiện thông qua các Nghị quyết, các quan điểm phương hướng, nguyên tắc và những giải pháp lớn để giải quyết những vấn đề trọng đại của quốc tế dân sinh ; có ý kiến chỉ đạo đối với các vấn đề có ý nghĩa chính trị quan trọng, liên quan và quan hệ tới nhiều tầng lớp dân cư trong xã hội. Để những đường lối, những quan điểm định hướng trên đây của Đảng đi vào đời sống xã hội đòi hỏi Nhà nước cần thể chế hoá, cụ thể hoá thành các văn bản pháp luật, thành các thông tư, Nghị định ... Đó chính là thể hiện đặc trưng về vai trò lãnh đạo xã hội của Đảng. Thực tế cho thấy đây là một trong những khâu quan trọng nhất của phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Thời gian qua, vịệc lãnh đạo Nhà nước thể chế hoá các quan điểm, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng để nhân dân tổ chức thực hiện có mặt còn hạn chế, mà nhất là những chủ trương trong đổi mới quản lý kinh tế Nhà nước. Chẳng hạn Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ IV (Khoá VIII) đã chỉ rõ "Đối với doanh nghiệp Nhà nước có hội đồng quản trị, Hội đòng quản trị là cơ quan của Nhà nước đại diện trực tiếp chủ sở hữu tại doanh nghiệp, chịu trách nhiệm về việc bảo toàn và phát triển tài sản và vốn Nhà nước giao cho doanh nghiệp. Giám đốc do hội đồng quản trị tuyển chọn và ký hợp đồng với sự chấp thuận của cơ quan hành chính có thẩm quyền" [ ,70-71]. Nhưng trên thực tế gần 3 năm qua chính phủ chưa có đề án thực hiện chủ trương này. Ví dụ trên đây là để chỉ ra yêu cầu cắp bách việc tăng cường nâng cao vai trì lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong việc thể chế hoá các đường lối phát triển kinh tế của Đảng thành pháp luật và các chính sách kinh tế cụ thể của Nhà nước . Do vậy, trong những năm trước mắt, cần phải tập trung nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng với Nhà nước trong việc thể chế hoá đường lối của Đảng thành pháp luật của Nhà nước. Quá trình đó đòi hỏi Đảng phải kết hợp cả mặt chỉ đạo khâu chuẩn bị kế hoạch xây dựng các dự án luật theo trình tự lập pháp, lập quy ; ngoài ra cần phải giám sát, đôn đốc việc thực hiện quá trình thể chế hoá đó. Toàn bộ quá trình đó cần phải quán triệt và thực hiện một cách khoa học, dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể . 2.2.2. Xây dựng Nhà nước trong sạch vững mạnh có đủ hiệu lực quản lý kinh tế - xã hội. Đất nước ta đang phấn đấu vì mục tiêu xây dựng tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh" [Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi phải có sự nổ lực của Đảng, Nhà nước và của toàn dân ta. Nhiệm vụ đầu tiên hướng tới việc thực hiện mục tiêu như đã nêu trên, chúng ta phải "Xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, đi tới với tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa" [ ,72] . Với nhiệm vụ trước mắt và lâu dài đã được Đảng ta xác định trên đây cho thấy, nhiệm vụ và vai trò của Nhà nước ta là hết sức to lớn. Bởi vì, trong hệ thống quản lý xã hội, Nhà nước với tư cách là công cụ chuyên chính của giai cấp thống trị xã hội; là người quản lý trực tiếp sự phát triển của xã hội trên tất cả các lĩnh vưc. Như : Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội ... Trong đó, việc quản lý của Nhà nước đối với lĩnh vực kinh tế giữ vai trò, vị trí quan trọng nhất. Bởi lẽ, kinh tế là nền tảng vận chất của xã hội, nó chi phối và quyết định đến sự vận động của các lĩnh vực khác trong đời sống xã hội. Chủ trương của Đảng về việc thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, là thể hiện quan niệm, tư duy mới của Đảng ta về quy luật khách quan "sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất". Mục đích phát triển nền kinh tế đó, là để phát triển lực lượng sản xuất; đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỷ thuật của chủ nghĩa xã hội. Việc chúng ta sử dụng cơ chế thị trường, xây dựng và phát triển đa dạng các hình thức kinh tế, sử dụng phương pháp quản lý của kinh tế thị trường là để kích thích sản xuất, phát huy tính năng động sáng tạo của người lao động, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội. Từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta lên một trình độ mới. Vì kinh tế thị trường, đó là cách tổ chức kinh tế phát huy được mạnh mẽ động lực của mọi chủ thể kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh, làm cho lực lượng sản xuất phát triển nhanh. Như vây có thể khẳng định rằng, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường là cách làm là sự lựa chọn bước đi đúng đắn trong điều kiện của nước ta để tiến lên chủ nghĩa xã hội, chỉ bằng cách làm đó chúng ta mới có được khả năng thúc đẩy nhanh sự tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện vật chất để thực hiện chính sách xã hội. Nhưng, "trong điều kiện kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường thì xu hướng tự phát TBCN tăng lên, cuộc đấu tranh giữa xu hướng tự phát đi lên TBCN với xu hướng tự giác đi lên XHCN diễn ra một cách gay gắt về phức tạp" [ ,3]. Bởi vì trong nền kinh tế nhiều thành phần vì lợi ích và lợi nhuận trong sản xuất kinh doanh luôn là động lực thôi thúc các chủ thể kinh tế. Do đó các chủ thể kinh tế trong các thành phần kinh tế, như : Cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân trong quá trình cạnh trạnh luôn có xu hướng tự phát lên CNTB ; mặt khác kinh tế thị trường, quá trình cạnh tranh diễn ra gay gắt, khương trường như là "chiến trường", làm nảy sinh nhiều mâu thuẩn, tiêu cực đối chọi với bản chất CNXH. Nên, để một nền kinh tế nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, tất yếu đòi hỏi phải có sự quản lý, sự tác động, sự điều tiết của Nhà nước vai trò tác động, quản lý và định hướng chính trj của Nhà nước nhằm bảo đảm định hướng XHCN quá trình phát triển nền kinh tế thị trường chính là quá trình. Một mặt tiếp tục thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường nhằm thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế; mặt khác để ngăn ngừa, hạn chế những mặt trái của nền kinh tế thị trường gây nên những nguy cơ chệch hướng XHCN. Để quá trình quản lý điều tiết và định hướng phát triển của nền kinh tế thị trường theo đúng định hướng XHCN một cách có hiệu quả, thì bản thân Nhà nước phải được nâng lên về mọi mặt. Hoạt động của các cơ quan quản lý phải luôn nhạy cảm, phải không ngừng được đổi mới để có đủ khả năng giải quyết những mâu thuẩn mới nảy sinh trong mỗi bước phát triển của nền kinh tế; nếu không có sự đổi mới mọi mặt trong hoạt động của Nhà nước theo kịp với yêu cầu khách quan của nền kinh tế thị trường thì cả hai khả năng khách quan đều có thể xảy ra tất yếu như nhau là : - Hoặc nền kinh tế tiếp tục bị trì tuệ không phát triển . - Hoặc là kinh tế có sự phát triển và tăng trưởng, nhưng những mâu thuẩn mới nảy sinh làm nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn sau gần 15 năm đổi mới và 10 năm thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa quá trình phát triển nền kinh tế cho thấy, Nhà nước ta đã có những bước tiến đáng kể. Chúng ta đang từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật đi liền với kiện toàn, cũng cố, hoàn thiện bộ máy Nhà nước, làm cho Nhà nước ta đang từng bước được xây dựng theo hướng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân vì dân. Song cũng từ thực tiễn cũng đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế và yếu kém của Nhà nước ta trong quản lý kinh tế - xã hội. Như "Nhà nước chưa thực sự quản lý bằng pháp luật và theo pháp luật". Hệ thống hành pháp chưa thống nhất và chưa thông suốt từ Trung ương đến địa phương và cơ sở. Quyền lập quy của hệ thống hành pháp không đầy đủ trên cơ sở hoạt động lập pháp và hệ thống luật không đầu đủ, hệ thống pháp luật vừa thiếu, không đồng bộ không hoàn chỉnh, vừa có mặt lạc hậu, không đáp ứng yêu cầu của cơ cấu kinh tế và cơ chế thị trường mới cùng những yêu cầu khác" [ ,66]. Bộ máy Nhà nước chậm được sắp xếp lại theo hướng tinh giảm và nâng cao chất lượng. Nạn tham nhũng, buôn lậu, lảng phí của công trong các cơ quan Nhà nước chưa được ngăn chặn kịp thời. Công tác chỉ đạo, điều hành nền kinh tế còn nhiều yếu kém, như "việc sử dựng các công cụ quản lý kinh tế như kế hoạch, tài chính, tiền tệ, luật pháp chưa nhạy bén, sáng tạo" [ ,24 ]. Quá trình quản lý, định hướng sự phát triển của nền kinh tế nhiều thành phần còn có mặt yếu kém, nhất là việc tạo lập các điều kiện để kinh tế Nhà nước và kinh tế hợp tác phát triển có đủ khả năng đóng vai trò chủ đạo trong nền kinh tế còn nhiều lúng túng, dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lổ kéo dài, gây tổn thất và thất thoát tài sản của Nhà nước. Như chúng ta đã biết, để bảo đảm định hướng XHCN quá trình phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta đòi hỏi vai trò nhân tố chủ quan của Nhà nước phải không ngừng được tăng lên. Phạm vi bao quát của nó phải được mở rộng nhằm giảm bớt tương ứng vai trò và tác dụng của những mặt trái của cơ chế thị trường, từng bước khắc phục và ngăn ngừa những yếu tố tự phát theo con đường tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường. Xuất phát từ những hạn chế và yếu kém của Nhà nước trong quản lý xã hội nói chung và quản lý nền kinh tế thị trường nói riêng. Chúng tôi đề xuất một số giải pháp nhằm đề nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát, định hướng và điều tiết nền kinh tế thị trường phát triển theo đúng hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, đó là : Thứ nhất: Từng bước cũng cố, đổi mới và chấn chỉnh Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh theo hướng "nhà nước pháp quyền và xã hội chủ nghĩa". Bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân lao động. Nước ta muốn bảo đảm dữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển điều tất yếu phải có một Nhà nước thực sự của dân, "trong sạch và sáng suốt" . Bởi vì, nhiệm vụ xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa được gắn liền với sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, gắn liền với quyền lực Nhà nước. Nhà nước ta là cơ quan quyền lực của giai cấp công nhân Việt Nam, là công cụ, phương tiện để phát triển kinh tế, chổ dựa vững chắc để thống trị mọi mặt trong đời sống xã hội. Song, do lợi ích của giai cấp công nhân phù hợp với lợi ích của nhân dân lao động nói chung và của cả dân tộc. Do đó, "Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, luôn trung thành với lợi ích của nhân dân" [ ,73-74]. Lịch sử đã chỉ rõ, mọi giai cấp cầm quyền đều phải thông qua những cá nhân đại diện cho giai cấp. Mà cá nhân thì quá đa dạng về tính tích cực và tiêu cực. Khi được giao quyền, không phải lúc nào họ cũng thật sự vì lợi ích chung của toàn giai cấp và của dân tộc mà giai cấp đại diện. Cá nhân cầm quyền rất dễ chuyển quyền lực công cộng thành quyền lực riêng để mưu cầu danh lợi cá nhân. Khả năng làm tê liệt quyền lực công cộng, làm thoái hoá quyền lực Nhà nước qua danh lợi cá nhân. Thực tiễn từ những mặt hạn chế và yếu kém của Nhà nước ta, nhất là mặt yếu kém của đội ngủ cán bộ trong bộ máy các cơ quan Nhà nước. Như hội nghị ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ III khoá VIII đã định "Tình trạng tham ô, lảng phí, quan liêu, cửa quyền, sách nhiểu, ức hiếp dân không những chưa bị ngăn chặn, giảm bớt mà ngược lại , có nơi, có lúc, có việc còn trở nên trầm trọng hơn" [ ,8-9]. Nhận định trên đây của Đảng chỉ rõ nguy cơ tha hoá quyền lực Nhà nước đang đặt ra trên thực tế. Một bộ phận cán bộ, công chức Nhà nước "Vinh thân, phi gia nhờ lợi dụng quyền lực; sống giàu có vương giã trên lưng người khác nhờ vào lợi dụng quyền lực " [ ,29]. Xuất phát từ những yếu kém của Nhà nước ta; từ yêu cầu nhiệm vụ của Nhà nước ta trong việc quản lý, giám sát sự phát triển chung của xã hội cũng như đối với nền kinh tế, đòi hỏi cần phải tập chung cải cách, đổi mới bộ máy Nhà nước, "làm cho Nhà nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh, có hiệu lực và hiệu quả cao" [ ,19] là yêu cầu cấp bách và cấp thiết và chỉ khi chúng ta xây dựng được Nhà nước ta đạt được mục đích trong sạch, vững mạnh như đã nêu trên mới có đủ điều kiện để phát huy vai trò nhân tố chủ quan của Nhà nước trong việc bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở nước ta. Để đạt được mục tiêu đó, trước mắt chúng ta cần tập trung giải quyết một số vấn đề sau: - Đổi mới và cải tiến chế độ bầu cử, tạo ra những điều kiện cần thiết để các cử tri, những công dân lựa chọn đúng những đại biểu vào các cơ quan quyền lực Nhà nước thực hiện quyền lực đại diện của mình. Vì chỉ khi có được đội ngũ những người đại diện có đủ phẩm chất, trình độ ... mới có đủ các điều kiện để đưa ra các chuẩn luật phát và các quyết sách kinh tế - xã hội vì lợi ích của nhân dân. - Tăng cường quyền hạn, trách nhiệm và hoạt động có hiệu quả của quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, vì đây là các cơ quan quyền lựcn đại diện của nhân dân. Trong đó nhất là quyền hạn trách nhiệm của HĐND các cấp và chính quyền cơ sở . - Tăng cường và nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với việc đổi mới, kiện toàn bộ máy Nhà nước; Tăng cướng công tác giám sát, kiểm tra của Đảng đối với hoạt động của Nhà nước. - Nâng cấp chất lượng trong việc xây dựng pháp luật và các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm phát huy vai trò làm chủ của quần chúng nhân dân trong việc xây dựng các văn bản pháp luật. Cần tập trung "cải cách cách để nhân dân tham gia thảo luận và góp ý kiến vào các dự án Luật, các dự thảo nghị quyết của Đảng và Nhà nước thật sự thiết thực và có hiệu quả; Tránh làm hình thức, tràn lan, tốn kém" [ ,44]. Bởi vì "dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ mà những người toàn giỏi, những đoàn thể to lớn nghỉ mãi không ra" [ ,518]. - Kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời các vụ tham nhũng, cương quyết loại bỏ những kẻ cơ hội, những kẻ tham nhũng ra khỏi bộ máy và cơ quan Nhà nước. Thực hiện tốt các văn bản pháp luật của Nhà nước ta về chống tham nhũng hiện có; Tiếp tục xây dựng và bổ sung pháp luật về tội tham nhũng và quyền hạn của nhân dân trong việc phát hiện tham nhũng đối với các cán bộ trong bộ máy Nhà nước. Thứ hai: Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường. Thời gian qua việc nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường ở nước ta đã có những bước tiến. Tuy vậy thực tiễn cho thấy, tới nay trong nhiệm vụ quản lý, giảm sút của Nhà nước đói với nền kinh tế thị trường vẫn còn những mặt hạn chế về yếu kém. Do đó, một số vấn đề xã hội bức xúc và gay gắt nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường chưa được giải quyết ; nền kinh tế phát triển chưa thật sự vững chắc, sức mạnh cạnh tranh thấp. Chẳng hạn: Thị trường nước ta vẫn còn là thị trường sơ khai, thiếu và không đồng bộ làm cho nhiều sản phẩm kinh tế ứ đọng thiếu thị trường tiêu thụ. Bên cạnh những biểu hiện về sự non kém về sự phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta như đã nêu trên. Mặt khác, trong đời sống xã hội và phát triển kinh tế còn bộc lộ rõ nhiều mặt tiêu cực khác. bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển kinh tế, đòi hỏi từng bước phải làm cho kinh tế Nhà nước ta thực sự trở thành thành phần kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước phải được thể hiện trên nhiều phương diện, cả năng suất; chất lượng, hiệu quả trong sản xuất kinh doanh tới khâu chủ đạo của tiền lực vật chất kinh tế. Nhưng trên thực tế những yêu cầu đó còn thấp so với yêu cầu. Toàn bộ những hạn chế biểu hiện trên đây có nguyên nhân là do sự yếu kém và hiệu quả chưa cao của vai trò quản lý giám sát của Nhà nước ta đối với nền kinh tế. Do vậy, theo chúng tôi để nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của nền kinh tế, nhằm đảm bảo đúng định hưỡng xã hội chủ nghĩa. Trước mắt cần tập trung giải quyết một số khâu. - Nhà nước phải căn cứ vào đường lối, chủ trương định hướng chính trị của Đảng và phát triển kinh tế để thể chế hoá thành hệ thống pháp luật, đặt ra cơ chế, chính sách quản lý nền kinh tế một cách khẩn trương, kịp thời. Khắc phục tình trạng chậm chễ triển khai nên dẫn đến nghị quyết nhiều những hiệu quả thực tiễn thấp. (Như việc triển khai Nghị quyết về đổi mới kinh tế Nhà nước là một ví dụ) . - Quá trình xây dựng cơ chế quản lý nền kinh tế bảo đảm sự đồng bộ và nhât quán. Trong các chính sách phát triển nền kinh tế phải thể hiện sự bình đẳng các thành phần kinh tế trong quá trình sản xuất kinh doanh, xoá bỏ những hình thức độc quyền nhưng trên nguyên tắc sự cạnh tranh lành mạnh. "Nhà nước cần phối hợp lựa chọn các công cụ và phương pháp quản lý để làm sao vừa chấp nhận sự tự điều chỉnh của thị trường lại vừa chủ đồng điều tiết nền kinh tế" [ ,124]. Muốn vâyh phải có cơ chế và chính sách thích hợp để làm cho kinh tế Nhà nước từng bước phát triển giữ được vị trí chủ đạo, bảo đảm cho kinh tế Nhà nước có khả năng điều tiết và dữ vững ổn định nền kinh tế. - Tiếp tục xây dựng và bổ sung hệ thống pháp luật để tạo ra một hệ thống đồng bộ về luật pháp, nhất là sự bổ sung các luật kinh tế. Bởi vì nền kinh tế thị trường, các chủ thể kinh tế luôn quan tâm tới luật pháp; luôn đặt ra nhu cầu tìm kiếm những khả năng pháp lý cho việc đề cao nguyên tắc bònh đẳng trước pháp luật của các chủ thể kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế thị trường, phương thức huy động nhân lực, tài lực không chỉ là huy động các nghĩa vụ mà căn bản là điều hoà các lợi ích. Công cụ cơ bản để Nhà nước huy động các nguồn lực là hệ thống pháp luật và cá chính sách kinh tế có lợi cho tất cả mọi người nhằm kích thích và ràng buộc các thành viên xã hội. - Chính vì lẻ đó, Nhà nước cần phải tập trung tạo dựng, sửa đổi, bổ sung hoàn chỉnh hệ thống pháp luật kinh tế. Làm cho hệ thống pháp luật kinh tế thực sự là khuôn khổ pháp lý đồng bộ tạo cho các thành viên xa xhội có sự yên tâm trong đầu tư mở rộng quá trình sản xuất kinh doanh. Tuy pháp luật có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với việc quản lý và Giám đốc của Nhà nước đối với nền kinh tế. Nhưng điều đáng lưu ý trong việc xây dựng bổ sung luật pháp của Nhà nước ta thời gian tới đòi hỏi hệ thống pháp luật đó phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của nền kinh tế. Khi nền kinh tế đã chuyển sang nền kinh tế thị trường đòi hỏi hệ thống luật pháp phải phản ánh đúng cơ sở pháp lý bình đẳng trong kinh tế giữa các chủ thể kinh tế, chống đặc quyền hành chính, khắc phục tình trạng xin cho các quan hệ kinh tế thực sự làm cho cơ chế thị trường hình thành và phát triển. Cần dứt khoát xoá bỏ những pháp luật xây dựng trên cơ sở chế độ quản lý cũ thay bằng hệ thống pháp luật mới. Hệ thống pháp luật kinh tế mới phải bảo đảm "giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm năng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và cũng cố quan hệ sản xuất xã hội của nghĩa" [ ,47] - Phân định rõ chức năng quản lý lãnh hành chính - kinh tế của Nhà nước và quyền quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp kinh tế một cách rõ ràng, rành mạch. Bởi vì, Nhà nước với tư cách là một thiết chế chính trị trong kiến trúc thượng tầng, do đó không thực hiện chức năng như bộ máy sản xuất. Quán triệt nguyên tắc đó Đảng ta đã xác định: "Các bộ và các cấp chính quyền không can thiệp vào chức năng quản trị kinh doanh và quyền tự chủ hạch toán của doanh nghiệp" [ ,104] . Từng bước cải cách các thủ tục và nền hành chính Nhà nước, nhằm giảm bớt khâu trung gian và những phiền hà cản trở sự phát triển của nền kinh tế, khắc phục tình trạng quá nhiều cơ quan Nhà nước cùng trực tiếp tham gia và quyết định tới một quyết định kinh tế . - Sử dụng có hiệu quả các biện pháp và công cụ kinh tế của Nhà nước, nhất là sự thực hiện chiến lược đầu tư phát triển, trách tình trạng đầu tư tản mạn, hướng đầu tư phát triển góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế: Muốn vậy, đòi hỏi Nhà nước cần tăng cường nâng cao chất lượng kế hoạch hoá vĩ mô của Nhà nước trong phát triển kinh tế . Nội dung cơ bản và quan trọng của kế hoạch vĩ mô là xác định phương hướng phát triển kinh tế một cách đúng đắn và biết sử dụng một cách linh hoạt chiếc gậy chỉ huy của Nhà nước để hướng hoạt động của nền kinh tế quốc dân, khắc phục những khuyết tât của thị trường, bảo đảm tính đúng hướng của kế hoạch nhằm mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao trong quá trình phát triển kinh tế. - Tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý của Nhà nước, tạo ra được một đội cán bộ có đủ trình độ quản lý kinh tế tương xứng điều kiện cạnh tranh trong thị trường thế giới thống nhất, để từ đó làm cho nền kinh tế nước ta đủ điều kiện và chủ động hội nhập ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docLVTS45.DOC
Tài liệu liên quan