Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh (VPBank) - Chi nhánh Hà Nội

Tài liệu Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh (VPBank) - Chi nhánh Hà Nội: ... Ebook Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh (VPBank) - Chi nhánh Hà Nội

doc83 trang | Chia sẻ: huyen82 | Ngày: 03/10/2013 | Lượt xem: 78 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng thương mại cổ phần các Doanh nghiệp Ngoài Quốc doanh (VPBank) - Chi nhánh Hà Nội, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
LỜI MỞ ĐẦU Hoạt động ngân hàng là dạng hoạt động rất nhạy cảm, đặc biệt, nó liên quan và ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Đối tượng kinh doanh của ngân hàng là tiền tệ – loại hàng hoá nhạy cảm với rủi ro; tính dễ lây lan rủi ro giữa các NHTM với nhau. Sự hoạt động yếu kém hay đổ vỡ của một ngân hàng sẽ gây ra phản ứng dây chuyền đối với toàn bộ hệ thống ngân hàng. Khách hàng của ngân hàng rất đông và chỉ cần một khách hàng gặp rủi ro sẽ gây tác động xấu tới hình ảnh của ngân hàng. Như vậy, muốn tồn tại và phát triển, các NHTM phải có đủ năng lực quản lý rủi ro. Nếu không, sẽ không có khả năng tồn tại kinh doanh trên thị trường. Ngày nay, hoạt động Quản trị tài sản nợ-tài sản có và quản lý rủi ro được các NHTM đặc biệt quan tâm. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin thì mức độ rủi ro trong hoạt động ngân hàng cũng đa dạng, phức tạp và tinh vi hơn rất nhiều so với trước đây. Chính điều này đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng cần phải phát hiện sớm các rủi ro, đặc biệt là các rủi ro tiềm ẩn. Phát hiện sớm các rủi ro và đưa ra các mô hình quản lý rủi ro đóng vai trò rất quan trọng đối với các ngân hàng hiện đại và đa năng hiện nay. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại tuỳ thuộc vào năng lực quản lý rủi ro. Hoạt động tín dụng hiện đang chiếm tỷ trọng lớn nhất: từ 60-70% trong danh mục tài sản có. Đặc biệt nguồn tín dụng này đã và đang đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập thị trường tài chính – ngân hàng ngày càng phát triển, đang đòi hỏi ngành ngân hàng phải có những cải cách mạnh mẽ để nâng cao năng lực quản lý rủi ro trong từng hoạt động. Kết quả của một số cuộc điều tra về dịch vụ ngân hàng gợi ý rằng, các ngân hàng đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng hình thức. Thực tế những thay đổi ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng quan trọng đến nỗi rất nhiều nhà phân tích coi đó là một cuộc “cách mạng ngân hàng”. Hoạt động tín dụng của các ngân hàng cũng đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ. Với sự xuất hiện và phát hiện về thị trường khách hàng cá nhân trong tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đang hướng tới khách hàng cá nhân như một khách hàng trung thành đầy tiềm năng. Hoạt động tín dụng tiêu dùng phục vụ khách hàng cá nhân đã và đang đem lại nguồn lợi nhuận cao cho ngân hàng. Tuy nhiên, lợi nhuận và rủi ro là hai mặt của một vấn đề, lợi nhuận cao cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng phải đối mặt với những rủi ro tiềm ẩn mà phía cá nhân, cũng như phía chủ quan của ngân hàng đem lại. Điều này khiến mỗi ngân hàng phải xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cá nhân riêng cho mình. Vậy, quản lý rủi ro tín dụng cá nhân và những nội dung của quản lý rủi ro là gì? Một chương trình quản lý rủi ro toàn diện phải có những yếu tố nào? Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiện nay tại ngân hàng VPBank – chi nhánh Hà Nội và những biện pháp được nào coi là hiệu quả để giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng? Đó chính là lý do để em chọn đề tài “Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại ngân hàng VPBank – Chi nhánh Hà Nội” làm Luận văn của mình. Bố cục Luận văn ngoài phần mở đầu và kết luận gồm có ba phần: Chương I: Những vấn đề cơ bản về quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Chương II: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng VPBank – Chi nhánh Hà Nội. Chương III: Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng VPBank – Chi nhánh Hà Nội . CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN CỦA NHTM 1.1. Tín dụng cá nhân của NHTM. 1.1.1. Tín dụng của Ngân hàng Thương mại. Trước khi tìm hiểu về tín dụng của ngân hàng thương mại, để có điều kiện tìm hiểu rõ về tín dụng cá nhân của ngân hàng. Cần phải hiểu ngân hàng là gì? Ngân hàng là một trong các tổ chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. NHTM xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử nhân loại. Sự ra đời của hệ thống NHTM có tác động rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế hàng hóa và ngược lại, kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất của nó – kinh tế thị trường thì hoạt động NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và ngân hàng trở thành tổ chức không thể thiếu trong nền kinh tế. Đứng trên góc độ pháp luật, mỗi nước có một đạo luật để thực hiên quản lý ngân hàng trong đó có nêu ra định nghĩa ngân hàng. Theo điều 20 Luật các tổ chức tín dụng của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Số 20/2004/QH), thì “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan”; trong đó: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Như vậy, có thể hiểu: Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả, sử dụng số tiền đó để cho vay, làm phương tiện thanh toán hay thực hiện các dịch vụ theo uỷ thác của khách hàng. Hoạt động của ngân hàng rất đa dạng và phong phú, trong đó hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm tỷ trọng cao nhất. Hệ thống tín dụng năng động, là điều kiện cần thiết cho sự phát triển kinh tế theo một hệ số tăng trưởng vững chắc. Hoạt động này hiện nay đang chiếm tỷ trọng lớn nhất: từ 60 – 70% trong danh mục tài sản có. Đặc biệt nguồn tín dụng này đã và đang đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.Vậy tín dụng là gì? Những lý giải sau đây sẽ làm rõ điều này. Tín dụng - theo thuật ngữ tiếng la tinh là Credium, còn theo tiếng Anh là Credit- nghĩa là vay mượn. Tín dụng được định nghĩa là một phạm trù kinh tế được phản ánh các quan hệ kinh tế trong đó cá nhân hay tổ chức nhường quyền sử dụng một giá trị thể hiện bằng tiền hay hiện vật cho một cá nhân hay tổ chức khác với những điều kiện ràng buộc nhất định về thời hạn hoàn trả (cả gốc và lãi), lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa một bên là ngân hàng và một bên là các cá nhân, tổ chức kinh tế khác.trong đó ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay. Ngân hàng cho vay tức là ngân hàng cấp tín dụng cho các cá nhân, tổ chức kinh tế xã hội (đầu ra của ngân hàng). Trong nền kinh tế, vốn kinh doanh có thể được huy động dưới nhiều hình thức khác nhau như:góp vốn, phát hành cổ phiếu, trái phiếu,vốn vay ngân hàng...Trong đó vốn vay ngân hàng là nguồn vốn linh động và tiện lợi nhất, đặc biệt là đối với nền kinh tế như nước ta hiện nay. Hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam vẫn chiến tỷ trọng lớn nhất (trên 60%) trong danh mục tài sản có. Trong những năm qua, hoạt động tín dụng ngân hàng đã đạt được những thành tựu không nhỏ đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước. Các ngân hàng đã quan tâm hơn tới việc kiểm soát tỷ lệ tăng trưởng tín dụng, tập trung vào hiệu quả của các hoạt động tín dụng. Quy trình tín dụng được thực hiện gần hơn với chuẩn mực quốc tế. Danh mục cho vay theo nhóm khách hàng của các ngân hàng tiếp tục thay đổi tích cực theo hướng giảm dần tỷ trọng cho vay các doanh nghiệp nhà nước, tăng dần tỷ trọng cho vay đối với các thành phần kinh tế phi nhà nước (tỷ trọng dư nợ tín dụng khu vực nhà nước chiếm khoảng 39%/ tổng dư nợ và giảm xuống còn 34% vào 12/2004). 1.1.2. Tín dụng cá nhân của NHTM Ngay từ thời kỳ sơ khai dưới hình thức là ngân hàng của các thợ vàng, hoặc ngân hàng của những kẻ cho vay nặng lãi – thực hiện cho vay đối với các cá nhân, chủ yếu là những người giàu nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Lúc này các ngân hàng đã nhận thấy được các lợi ích to lớn từ các khoản cho vay đối với cá nhân, điều này dự báo cho sự phát triển của dịch vụ này. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới là sự xuất hiện và tăng trưởng nhanh chóng về số lượng cũng như quy mô của các doanh nghiệp, tín dụng cá nhân mất dần vi trí quan trọng của nó. Trong lịch sử, hầu hết các ngân hàng không tích cực cho vay đối với cá nhân, hộ gia đình bởi vì họ tin rằng các khoản cho vay cá nhân có quy mô rất nhỏ với rủi ro vỡ nợ cao và do đó làm cho chúng trở nên có mức sinh lời thấp. Cùng với sự phát triển, các ngân hàng bắt đầu dựa nhiều hơn vào tiền gửi của khách hàng để tài trợ cho những món vay thương mại lớn và rồi sự cạnh tranh khốc liệt trong việc giành giật tiền gửi và cho vay đã buộc các ngân hàng phải hướng tới những cá nhân như một khách hàng trung thành, tiềm năng. Cho tới những năm 1920 và 1930 nhiều ngân hàng lớn đã thành lập phòng tín dụng cá nhân lớn mạnh. Sau Chiến tranh thế giới thứ II, tín dụng cá nhân đã trở thành một trong những loại hình tín dụng có mức tăng trưởng nhanh nhất. Mặc dù tốc độ tăng trưởng này gần đây đã chậm lại do cạnh tranh về cho vay đối với cá nhân ngày càng trở nên gay gắt trong nền kinh tế. Tuy nhiên, khách hàng cá nhân vẫn là khách hàng mục tiêu của các ngân hàng thương mại và vẫn tạo ra một trong số những nguồn thu quan trọng nhất. Trước đây, người vay tiền, nhất là cá nhân ít có tiếng nói. Người ta chỉ cấp rất ít hoặc không cấp tín dụng cho họ. Tín dụng cấp cho cá nhân trên thực tế được xem là không lành mạnh. Hơn nữa đối với một chủ ngân hàng có danh tiếng thì chỉ quan tâm đến tín dụng cho các doanh nghiệp. Có thời kỳ đó được coi là chức năng cao quý của những ngân hàng lớn. Sau đó, các ngân hàng khác với tư cách là người đi tiên phong đã tiến hành những hoạt động mà các ngân hàng cổ điển khác xem thường. Hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân. Đó cũng chính là một trong những lý do quan trọng đóng góp vào sự thành công của những ngân hàng mới. Muốn đề cập chủ yếu tới các doanh nghiệp, song cũng không quên tầm quan trọng không ngừng tăng lên của tín dụng đối với cá nhân. Sự tăng lên này có phần bắt nguồn từ sự đình trệ nào đó của tín dụng đối với các doanh nghiệp lớn, do sự cải tiến của việc tự cấp vốn, việc thực hiện mạnh mẽ các nghiệp vụ tài chính, sự phát triển của các thị trường và cũng do việc tăng trưởng yếu ớt của đầu tư bởi giá cả thực tế của tín dụng đã buộc chỉ tiến hành các đầu tư có doanh lợi thực sự. Vậy tín dụng cá nhân là gì? Tín dụng cá nhân là một hình thức tín dụng mà đối tượng vay vốn là cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng hay phục vụ sản xuất, kinh doanh. Các cá nhân đi vay là những ai? Họ có thể là những người buôn bán nhỏ, nông dân, hộ thủ công nghiệp, thợ may, cơ khí, thanh niên, phụ nữ, sinh viên, tài xế taxi, cơ sở sản xuất nhỏ…. Hoặc là đại diện của hộ gia đình (là những người được các thành viên có đủ năng lực pháp luật và hành vi dân sự trong hộ gia đình uỷ quyền những người thay mặt hộ gia đình ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng bảo đảm tiền vay và cam kết cùng trả nợ cho Ngân hàng). Các đặc tính cho vay cá nhân: Thường là các khoản vay vốn ngắn và trung hạn; Thường dựa vào tư cách người vay hơn là tài sản thế chấp; Cho vay từng bước; bắt đầu từ cho vay nhỏ rồi tăng dần theo quy mô cho vay; Phân tích lưu chuyển tiền mặt đơn giản cho các khoản cho vay cá nhân, hộ gia đình; Giải ngân cho vay ngay và chứng từ thủ tục đơn giản; 80% các khoản cho vay cá nhân là những khoản cho vay nhỏ; Quy mô cho vay trung bình từ 300 – 25.000 USD; Lịch trả nợ theo tháng, quý; Tỷ lệ % các khoản cho vay cá nhân trên tổng số các khoản cho vay chiếm 65-75%; Số khách hàng trung bình của mỗi cán bộ tín dụng lớn: khoảng 200 khách hàng; Số nợ khó đòi trên dư nợ cho vay < 8%; Đặc biệt 80-90% nguồn vốn các ngân hàng sử dụng để cho vay là tiền gửi của khách hàng; 1.2. Phân loại tín dụng Đối với hầu hết các ngân hàng, khoản mục cho vay chiếm quá nửa giá trị tổng tài sản và tạo hầu hết các nguồn thu của khách hàng. Ngân hàng cung cấp rất nhiều hình thức tín dụng, cho nhiều đối tượng khách hàng với nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Có nhiều tiêu thức phân loại tín dụng khác nhau, tuỳ theo yêu cầu của khách hàng và mục tiêu quản lý của ngân hàng. Để tránh nhầm lẫn và có cái nhìn tổng quát về các loại hình tín dụng, khi xem xét tín dụng ngân hàng, chúng ta phải phân loại theo các tiêu thức khác nhau để thuận lợi cho quá trình quản lý. Trong bài viết này, với mục đích tiếp cận những vấn đề liên quan đến rủi ro tín dụng cá nhân, từ đó đưa ra những biện pháp nhằm tăng cường quản lý rủi ro này. Do đó, chỉ xin phép tiếp cận với những tiêu thức phân loại tín dụng mà có ảnh hưởng đến mục đích bài viết. - Theo đối tượng khách hàng vay vốn, tín dụng được chia làm hai loại: +Tín dụng cá nhân: Là các cá nhân hay đại diện hộ gia đình vay vốn nhằm mục đích tiêu dùng hay tài trợ cho sản xuất kinh doanh cá nhân. +Tín dụng đối với doanh nghiệp: Đối tượng đi vay là các doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân. Doanh nghiệp có nhu cầu tín dụng để mua sắm trang thiết bị, xây dựng, cải tiến kỹ thuật, mua công nghệ … Khách hàng vay vốn của ngân hàng rất đa dạng, việc phân loại theo đối tượng vay giúp xác định rõ người vay, người đại diện vay vốn để có những biện pháp quản lý tín dụng. Ví như, đối với một doanh nghiệp lớn, nơi mà trách nhiệm được chia nhỏ thì việc quản lý khác so với những món vay cá nhân, nơi mà ông chủ là người quyết định tối cao. - Theo mục đích vay, tín dụng được chia làm hai loại: + Cho vay tiêu dùng: Cho vay tiêu dùng được hiểu là hình thức tài trợ cho mục đích chi tiêu của cá nhân, hộ gia đình. Các khoản cho vay là nguồn tài chính quan trọng giúp người tiêu dùng có thể trang trải các nhu cầu trong cuộc sống như mua nhà, mua sắm các phương tiện đi lại, tiện nghi sinh hoạt học tập … trước khi họ có đủ năng lực tài chính để hưởng thụ. + Cho vay kinh doanh: Đối với hầu hết các ngân hàng, cho vay kinh doanh - thường được gọi là các khoản cho vay thương mại và công nghiệp. Đây được xem là một trong những khoản mục cho vay quan trọng nhất của hầu hết các ngân hàng thương mại. Vay kinh doanh nhằm mục đích tài trợ cho tài sản lưu động, tài sản cố định … và hầu hết đó là những khoản vay trung dài hạn. Như vậy, người đi vay sau khi nhận được quyền sử dụng vốn vay, sẽ sử dụng cho các mục đích khác nhau như tiêu dùng hay sản xuất kinh doanh. Mục đích sử dụng vốn vay khác nhau sẽ đưa đến những nội dung quản lý rủi ro tín dụng khác nhau. Việc phân loại tín dụng theo tiêu thức mục đích vay là rất quan trọng, bởi lẽ mục đích vay vốn là yếu tố hàng đầu quyết định đến việc sử dụng vốn vay của khách hàng và khả năng thu hồi vốn vay của ngân hàng. Tuỳ theo mục đích vay, khách hàng và ngân hàng xác định nguồn trả nợ ngân hàng. Đối với khoản vay tài trợ cho sản xuất, kinh doanh, nguồn trả nợ chính là từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh đó. Đối với những khoản vay tiêu dùng, nguồn trả nợ là nguồn thu nhập của người vay. Từ đó cho thấy, với mỗi mục đích vay khác nhau sẽ dẫn đến nguồn trả nợ khác nhau, mỗi nguồn này lại chịu sự tác động của các yếu tố không giống nhau và chứa đựng những rủi ro tiềm tàng khác nhau. Vì lý do này, mỗi NHTM lại phải xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cho mỗi loại hình mục đích vay vốn. -Theo thời hạn sử dụng, tín dụng được chia thành ba loại: +Tín dụng ngắn hạn: Là loại tín dụng có thời hạn không quá một năm, dùng để “bổ sung” phần vốn lưu động còn thiếu phát sinh trong quá trình kinh doanh của các doanh nghiệp, đôi khi cũng được doanh nghiệp bổ trợ tạm thời cho vốn đầu tư dài hạn khi có nguồn đảm bảo chi trả trong ngắn hạn. Đối với mỗi hộ gia đình, tín dụng ngắn hạn được sử dụng để mua sắm đồ dùng phục vụ nhu cầu cá nhân. +Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1đến 5 năm , được thực hiện để phục vụ cho những đầu tư dài hạn hay đầu tư vào tài sản cố định +Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên . Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lợi của khoản vay cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng. Thời gian càng dài, rủi ro tiềm ẩn của khoản vay càng cao. Ngân hàng phải có những chính sách quản lý ngay cả khi rủi ro còn là tiềm ẩn. Theo phương thức đảm bảo đối với khoản vay, tín dụng được chia làm hai loại: + Tín dụng có bảo đảm bằng tài sản + Tín dụng không có tài sản bảo đảm Phân loại theo phương thức đảm bảo giúp các nhà quản lý ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp giám sát kiểm tra và thu hồi nợ phù hợp với từng khoản vay. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, tín dụng ngân hàng ngày càng xuất hiện nhiều loại khác nhau, với những ưu điểm mới nhằm đáp ứng nhu cầu đó. 1.3. Các loại rủi ro trong tín dụng cá nhân. 1.3.1. Khái niệm rủi ro tín dụng cá nhân. Rủi ro tín dụng trong hoạt động rất đa dạng nó có thể là rủi ro khi ngân hàng bị ứ đọng vốn, rủi ro thiếu vốn khả dụng do sự chênh lệch về tỷ trọng giữa vốn cho vay và vốn đi vay theo tiêu thức thời gian, rủi ro tín dụng khi các vật bảo đảm tín dụng không còn giá trị như khi đánh giá ban đầu trước khi cho vay hay rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ. Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu này chỉ xem xét rủi ro tín dụng khi ngân hàng không thu hồi được nợ hay còn gọi là nợ quá hạn, nợ khó đòi đối với những khoản tín dụng cá nhân. Rủi ro tín dụng cá nhân là một loại hình nằm trong nhóm rủi ro tài chính. Vậy rủi ro tín dụng cá nhân là gì? Mối quan hệ của rủi ro tín dụng này đối các rủi ro khác như thế nào? Những lý giải sau đây sẽ làm rõ điều đó. Rủi ro tín dụng cá nhân được định nghĩa là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi cấp tín dụng cho một khách hàng cá nhân. Có nghĩa là cá nhân vay vốn không trả được nợ theo hợp đồng gắn liền với mỗi khoản tín dụng ngân hàng cấp cho họ. Hoặc nói một cách cụ thể hơn, luồng thu nhập dự tính mang lại từ các tài sản có sinh lời của ngân hàng có thể không được hoàn trả đầy đủ xét cả về mặt số lượng và thời hạn. Các ngân hàng sẽ không bị đe doạ bởi rủi ro tín dụng nếu luôn luôn nhận lại được cả gốc và lãi của các khoản vay đúng thời hạn, ngược lại nếu người vay gặp khó khăn tài chính, thì cả gốc và lãi khoản vay bị đặt trong tình trạng rủi ro không thu hồi được. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, theo điều 2 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử 0dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, “là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Mục đích của quản lý rủi ro tín dụng là nhằm tối đa hoá lợi nhuận và duy trì rủi ro tín dụng trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được. Khi gặp rủi ro tín dụng, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi. Khi không thu được nợ thì vòng quay vốn tín dụng giảm làm ngân hàng kinh doanh không có hiệu quả. Khi gặp phải rủi ro tín dụng ngân hàng thường rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, làm mất lòng tin người gửi tiền, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng. Như vậy, rủi ro tín dụng của một ngân hàng xảy ra ở mức độ khác nhau: nhẹ nhất là ngân hàng bị giảm lợi nhuận khi không thu hồi được lãi cho vay, nặng nhất khi ngân hàng không thu được vốn lãi, nợ thất thu với tỷ lệ cao dẫn đến ngân hàng bị lỗ và mất vốn. Nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống ngân hàng nói riêng. Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị ngân hàng phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay. 1.3.2. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cá nhân. Các loại rủi ro tín dụng cá nhân Rủi ro ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra, gây mất mát thiệt hại tài sản, thu nhập của ngân hàng trong quá trình hoạt động. Rủi ro thất thoát tài sản khi cấp tín dụng cá nhân có thể phát sinh khi một bên đối tác (cá nhân vay vốn) không thực hiện nghĩa vụ tài chính hoặc nghĩa vụ theo hợp đồng đối với ngân hàng, bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Việc phân loại rủi ro tín dụng cá nhân theo nguyên nhân dẫn đến rủi ro hợp lý sẽ giúp nâng cao khả năng và hiệu quả áp dụng những phương pháp phù hợp trong việc quản lý rủi ro. Cơ sở khoa học của việc phân loại rủi ro sẽ tạo điều kiện cho các nhà quản trị ngân hàng có thể xác định rõ ràng vị trí của từng loại rủi ro, nguyên nhân dẫn đến trong hệ thống rủi ro. Rủi ro tín dụng cá nhân dẫn đến nợ quá hạn do nhiều nguyên nhân và tuỳ vào từng tiêu thức phân loại, mục đích nghiên cứu hoặc đứng dưới giác độ khác nhau, người ta có thể phân loại theo những nhóm nguyên nhân khác nhau. Ngo¹i b¶ng Ho¹t ®éng ChiÕn l­îc C«ng nghÖ Nh©n lùc S¶n phÈm Néi b¶ng L·i suÊt Thanh kho¶n C¬ cÊu vèn TiÒn göi TÝn dông Ngo¹i hèi X· héi ChÝnh trÞ Kinh tÕ LuËt ph¸p C¹nh tranh §Þa lý Rñi ro Néi tè Ngo¹i tè Hình: Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến mức độ rủi ro Thứ nhất, các nguyên nhân khách quan - Rủi ro do các nguyên nhân bất khả kháng thuộc về thiên nhiên như: Thiên tai dịch hoạ, sự thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng … gây ra các biến động xấu ngoài dự kiến trong mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình. Những nguyên nhân này có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến hoạt động của khách hàng cá nhân. Lĩnh vực hoạt động của cá nhân thường có phạm vi nhỏ, chỉ một thay đổi nhỏ cũng có thể gây ra những tác động mạnh mẽ đến hoạt động đó. Từ đó, dẫn đến khả năng không hoàn trả được nợ của khách hàng, rủi ro tín dụng xảy ra. - Rủi ro do thay đổi cơ chế chính sách như: Chính trị, điều chỉnh chính sách, chế độ luật pháp của nhà nước hoặc thay đổi địa giới hành chính các địa phương, sự sáp nhập hay tách ra của các bộ ngành trong nền kinh tế. Những thay đổi và điều chỉnh này tuy cần thiết trong quá trình phát triển của đất nước, nhưng đôi khi cũng có tác động tiêu cực đến quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng của mình. - Rủi ro do môi trường pháp lý: Nếu môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh sẽ không đảm bảo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho các hoạt động kinh tế. Đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến rủi ro trong sản xuất kinh doanh, dẫn đến các khoản nợ quá hạn cho ngân hàng. Cơ chế, chính sách, quy hoạch của Nhà nước, của chính quyền các cấp thay đổi cũng có thể dẫn đến rủi ro khi khách hàng sử dụng vốn vay của khách hàng. - Rủi ro do thiếu thông tin: Do thiếu hoặc không thể biết hết các thông tin về khách hàng, ngân hàng thường phải đối mặt với các rủi ro như: (1) Rủi ro do sự thiếu chính xác trong cung cấp thông tin cho ngân hàng của các cơ quan chức năng có liên quan, hoặc do thiếu các quy định, chế tài cần thiết của nhà nước trong việc cung cấp thông tin như chế độ báo cáo tài chính của khách hàng các quy định về cung cấp và sử dụng thông tin; (2) Rủi ro đạo đức: Mặc dù ngân hàng đã có gắng kiểm tra kĩ càng, nhưng khách hàng vẫn cố tình vi phạm, che dấu thông tin hoặc làm sai lệch thông tin về mình như cố tình lập báo cáo tài chính thiếu trung thực, cố tình sử dụng vốn sai mục đích …Trong lĩnh vực tài chính sau khi cấp tín dụng, những người được cấp tín dụng luôn luôn có xu hướng muốn thực hiện các đầu tư rủi ro hơn những người cho vay mong đợi, vì chủ đầu tư sẽ có được những khoản lợi nhuận rất lớn nếu dự án thành công, trong khi những người cấp tín dụng chỉ nhận được một khoản lợi ích cố định. Ngược lại, nếu dự án thất bại thì bên cho vay sẽ bị mất một phần hoặc toàn bộ vốn do không được hoàn trả đầy đủ. - Rủi ro do nhân tố quốc tế: Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hoá, tín dụng trong nước có mối quan hệ chặt chẽ với tín dụng quốc tế, dễ bị ảnh hưởng bởi tình hình kinh tế, chính trị quốc tế, các chính sách tài chính của các quốc gia. Thứ hai, các nguyên nhân chủ quan -Rủi ro do ngân hàng không có chính sách cho vay rõ ràng, phù hợp với thực trạng nền kinh tế. Chính sách cho vay của một ngân hàng là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng đó. Chính sách cho vay thống nhất, đầy đủ và đúng đắn sẽ giúp cán bộ tín dụng xác định đúng phương hướng khi thực hiện nhiệm vụ của mình, nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng. Ngược lại, một chính sách tín dụng không đầy đủ, đúng đắn và thống nhất sẽ làm cho hoạt động tín dụng lệch lạc, dẫn đến việc cấp tín dụng không đúng đối tượng, tạo ra kẽ hở cho ngưới sử dụng vốn, dẫn đến tín dụng – nợ quá hạn. - Rủi ro do tính toán không chính sác hiệu qủa đầu tư dự án xin vay, dẫn đến các quyết định sai lầm trong cho vay. Cán bộ tín dụng chưa được đào tạo đầy đủ, không am hiểu về lĩnh vực kinh doanh mà mình đang cho vay hoặc đôi khi, do chính cán bộ tín dụng cố ý cho vay, măc dù biết dự án cho vay không hiệu quả, gây rủi ro cho ngân hàng. - Rủi ro do ngân hàng đánh giá chưa đúng mức về khoản vay, về người đi vay hoặc do chủ quan tin tưởng vào khách hàng quen của mình mà coi nhẹ khâu kiểm tra về tình hình tài chính, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai, nguồn trả nợ … - Rủi ro do thiếu thông tin tín dụng, hoặc thông tin tín dụng không chính xác, kịp thời, dẫn đến ngân hàng không có danh sách “ phân loại khách hàng ” để có sự phân tích, đánh giá khách hàng cá nhân một cách khách quan, đúng đắn. - Rủi ro ngân hàng thiếu một cơ chế theo dõi, quản lý rủi ro, thiếu hạn mức tín dụng tối đa cho từng khách hàng thuộc các nghành nghề, lĩnh vực sản phẩm, địa phương khác nhau để phân tán rủi ro, chưa đủ các tiêu thức để đo lường rủi ro, rủi ro tối đa cho phép chấp nhận đối với từng khách hàng, nhóm khách hàng thuộc các nghành khác nhau. 1.4. Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của ngân hàng thương mại. 1.4.1. Khái niêm quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là hoạt động từ khi ngân hàng gặp gỡ khách hàng, bắt đầu cho vay đến khi tất toán hợp đồng nhằm đảm bảo thu hồi lãi và gốc đúng như hợp đồng tín dụng được ký kết. Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là một bộ phận của quản lý rủi ro tín dụng nằm trong khuôn khổ quản lý rủi ro chung của NHTM. Ban lãnh đạo NHTM có trách nhiệm xây dựng mục tiêu, chiến lược, nhiệm vụ kinh doanh đối với đối tượng khách hàng cá nhân, trong đó xác định rõ những rủi ro và lợi nhuận của ngân hàng, để thiết lập một hệ thống kiểm soát và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân hiệu quả, ban lãnh đạo ngân hàng phải tổ chức, giám sát các hoạt động tín dụng theo đúng quy định, đánh giá mức độ rủi ro của hoạt động tín dụng, đưa ra các biện pháp tổ chức để hạn chế rủi ro, đặt ra các hạn mức và giám sát rủi ro. Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả là điểm căn bản cho một phương pháp quản lý rủi ro toàn diện và thành công của bất kỳ NH nào. 1.4.2. Sự cần thiết phải quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Hoạt động ngân hàng chứa đựng nhiều rủi ro. Một trong những nội dung hoạt động của NHTM là huy động tiền nhàn rỗi từ những người thừa vốn để cho người thiếu vốn vay với mục đích thu hồi được tiền gốc và lãi cho vay vào một thời điểm nhất định trong tương lai. Tuy nhiên, hoạt động cho vay của các ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro khiến cho ngân hàng có thể không thu hồi được hoặc không thu hồi đủ tiền gốc và lãi khi đến hạn. Cùng với thời gian, tính chất rủi ro của tín dụng cũng thay đổi khi mỗi cá nhân, các doanh nghiệp phải cạnh tranh ngày càng khốc liệt hơn trong lĩnh vực hoạt động của họ nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước và quốc tế. Các khoản tín dụng đối với cá nhân thường không lớn, tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng thì số lượng khách hàng cá nhân và quy mô đối với nó so với các khách hàng khác cũng là phụ thuộc vào chính sách tín dụng và thị trường mục tiêu của ngân hàng. Tuy nhiên, nó lại chịu tác động của nhiều yếu tố khách quan nên các khả năng kiểm soát thấp, rủi ro xảy ra là cao. Vì vậy, đặt ra vấn đề quản lý rủi ro tín dụng đối với cá nhân là cần thiết. Hơn nữa, hoạt động của ngân hàng dựa trên uy tín và niềm tin. Khách hàng của ngân hàng rất đông, chỉ cần một khách hàng gặp rủi ro sẽ gây tác động xấu tới hình ảnh ngân hàng. Phản ứng dây chuyền trong hoạt động ngân hàng là rất lớn. Do đó, để xây dựng được hình ảnh tốt về ngân hàng, mỗi ngân hàng nên xây dựng chiến lược quản lý rủi ro đối với từng đối tượng khách hàng, không phân biệt quy mô khách hàng lớn hay nhỏ, khách hàng cá nhân hay khách hàng doanh nghiệp. Cuối cùng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, là sự lớn mạnh của thị trường khách hàng cá nhân. Thị trường này đang được coi là thị trường mục tiêu của không ít các ngân hàng. Lượng khách hàng cá nhân ngày càng gia tăng với tốc độ lớn tại các ngân hàng. Như vậy, xây dựng một chiến lược quản lý rủi ro tín dụng cá nhân là tất yếu đối với mỗi NHTM. 1.4.3. Nội dung quản lý rủi ro tín dụng cá nhân Để thực hiện quản lý rủi ro tín dụng đối với khách hàng cá nhân một cách hiệu qủa nên chia đối tượng khách hàng này thành hai nhóm khách hàng theo tiêu thức mục đích sử dụng vốn vay. Theo tiêu thức này nhóm khách hàng cá nhân được chia thành hai nhóm: cá nhân vay tiêu dùng và cá nhân vay sản xuất kinh doanh. Đối với mỗi mục đích vay sẽ định hướng trước nguồn trả nợ và xác định nội dung quản lý rủi ro tín dụng riêng. Tuy nhiên, đối với khách hàng cá nhân vay vốn dù với mục đích tiêu dùng hay kinh doanh đều có một chung một chung một chương trình quản lý rủi ro tín dụng cá nhân toàn diện bao gồm các hoạt động sau: Nh÷ng nguyªn t¾c qu¶n lý rñi ro tÝn dông c¸ nh©n cña ng©n hµng ChÊp nhËn rñi ro HiÖu qu¶ kinh tÕ §iÒu hµnh rñi ro cho phÐp ChuyÓn ®Èy c¸c kho¶n rui ro kh«ng cho phÐp phÐp Phï hîp víi chiÕn l­îc cña ng©n hµng Thêi gian hîp lý thùc hiÖn c¸c nghiÖp vô Qu¶n lý ®éc lËp c¸c rñi ro riªng biÖt Phï hîp víi møc ®é rñi ro cho phÐp vµ thu thËp cña ng©n hµng Phï hîp víi møc ®é rñi ro cho phÐp vµ kh¶ n¨ng c¹nh tranh Hình: Những nguyên tắc cơ bản trong quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Nhận biết rủi ro tín dụng Khách hàng của ngân hàng rất đa dạng và phức tạp. Tính chính xác trong việc đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay được quyết định bởi sự hiểu biết của ngân hàng về khách hàng. Mức độ hiểu biết về khách hàng phụ thuộc vào lượng thông tin mà ngân hàng thu thập được và khả năng xử lý hiệu quả các thông tin đó. Nguồn thông tin đầu tiên về khách hàng mà ngân hàng có thể tiếp cận được là thông qua bộ hồ sơ vay vốn mà khách hàng cung cấp. Để nhận biết những rủi ro có thể xảy ra khi cho vay, cán bộ tín dụng thường tiến hành xem xét khách hàng và phương án vay vốn trên những khía cạnh như: tính hợp pháp, hợp lệ của hồ sơ vay vốn, tình hình tài chính của khách hàng, tính khả thi của phương án xin vay và khả năng đảm bảo tiền vay. Đo lường rủi ro tín dụng Để đánh giá mức rủi ro tín dụng trong các quyết định cho vay, các ngân hàng cần có các phương pháp nhằm xác đị._.nh khả năng trả nợ của khách hàng. Điều này phụ thuộc vào khối lượng thông tin về khách hàng mà các ngân hàng có thể thu thập được. Đối với cấp tín dụng cá nhân, phần lớn nguồn thông tin thu thập được là do sự cung cấp của khách hàng và sự điều tra của ngân hàng (không giống như tín dụng đối với doanh nghiêp còn có sự công bố thông tin rộng rãi trên các báo cáo tài chính… ). Tuy nhiên, lợi thế của công nghệ thông tin đang làm cho sự đánh giá rủi ro tín dụng về mặt lượng thậm chí của một khách hàng nhỏ cũng trở nên có tính khả thi và chi phí thấp. Các nhà kinh tế, các ngân hàng và các nhà phân tích đã sử dụng nhiều mô hình khác nhau để đánh giá rủi ro tín dụng. Các mô hình đánh gía này rất đa dạng, bao gồm các mô hình phản ánh về mặt số lượng và cả những mô hình phản ánh về mặt chất lượng của rủi ro tín dụng. Mặt khác các mô hình này không loại trừ lẫn nhau, nên một ngân hàng có thể sử dụng nhiều mô hình để phản ánh rủi ro tín dụng từ nhiều góc độ khác nhau. Đo lường rủi ro tín dụng ngân hàng thể hiện trên hai phương diện: Một là, đo lường hay xác định số thiệt hại rủi ro gây ra. Đây là chỉ số phản ánh hậu quả rủi ro khi rủi ro đã xảy ra. Chỉ số này có thể là số tuyệt đối hoặc số tương đối theo các tiêu thức khác nhau như giá trị thiệt hại, số lần rủi ro, tỷ lệ tài sản bị rủi ro. Sau một thời gian nhất định, có thể thống kê số tài sản bị rủi ro trong kỳ: Tổng giá trị tài sản bị rủi ro trong kỳ báo cáo = Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại rủi ro mỗi lần trong kỳ Kỳ báo cáo có thể là quý, năm… hoặc tương ứng với thời hạn tín dụng: ngắn hạn, trung hạn dài hạn. Tổng giá trị tài sản rủi ro là số tuyệt đối. Từ đây có thể xác định : Tỷ lệ tài sản bị rủi ro trong kỳ = Tổng giá trị tài sản rủi ro trong kỳ *100% Tổng giá trị các tài sản có sinh lãi trong kỳ Đây là hai công thức xác định tài sản rủi ro đã xảy ra. Theo quan điểm xác xuất thống kê, chúng ta có thể lượng hoá được khả năng bị rủi ro của mỗi loại tài sản có của ngân hàng. Hai là, đo lường khả năng bị rủi ro (xác suất bị rủi ro P) dựa vào công thức tính xác suất của một biến cố ngẫu nhiên theo quan điểm thống kê, xác định xác suất rủi ro tín dụng ngân hàng như sau: P = Số món vay bị rủi ro trong kỳ báo cáo *100% Tổng số lần vay trong kỳ báo cáo Hoặc P = Tổng giá trị các tài sản bị rủi ro *100% Tổng giá trị các món cho vay trong kỳ Theo công thức này nếu mỗi món cho vay coi như thực hiện một phép thử và nếu có số liệu thống kê rủi ro đầy đủ chúng ta có thể xác định một cách tương đối chính xác xác suất bị rủi ro của từng loại tài sản của ngân hàng trong từng thời kỳ, từng loại hình tín dụng, từng lĩnh vực đầu tư …Điều này có ý nghĩa rất quan trọng: - Trên cơ sở xác suất rủi ro; ngân hàng có thể xây dựng cơ cấu lãi xuất cho phù hợp đảm bảo kinh doanh có lãi. Bởi vì, lợi nhuận ngân hàng thu được trên cơ sở lãi cho vay, lãi suất này phải đảm bảo chi trả phần tiền lãi đi vay, chi phí quản lý ngân hàng, bù đắp được rủi ro và có lãi. Đối với mỗi tài sản có ngân hàng, nếu mức độ rủi ro cao, độ an toàn thấp thì lãi suất của chúng phải cao hơn. - Trên cơ sở xác suất rủi ro, ngân hàng có chiến lược quản lý các tài sản có và các tài sản nợ thích hợp sao cho đảm bảo khả năng thanh toán. Để đánh giá mức rủi ro tín dụng trong các quyết định cho vay, các ngân hàng cần có phương pháp nhằm xác định khả năng trả nợ của khách hàng. Điều này phụ thuộc vào khối lượng thông tin về khách hàng mà ngân hàng có thể thu thập được. Đối với cấp tín dụng cá nhân, phần lớn nguồn thông tin thu thập được là do sự cung cấp của khách hàng và do sự điều tra của ngân hàng. Yếu tố con người: nói chung người ta xem xét yếu tố con người là lòng tin giữa người cho vay và người vay, lòng tin này dẫn đến các tiếp sức mà người ta có thể thấy. Nó phát sinh và phát triển theo dòng thời gian. Khi nói về lòng tin, tất nhiên là nói về sự trung thực, đúng đắn, nghĩa là quan tâm trả nợ của người vay khi tới thời hạn khoản tín dụng đã vay, nhưng cũng nói tới khả năng của người vay trong hoạt động nghề nghiệp của họ. Khả năng tất nhiên đó là yếu tố nền tảng để cấp tín dụng bởi vì một công việc kinh doanh quản lý kém là công việc nguy hiểm nhất là trong thị trường cạnh tranh gay gắt trong quốc gia cũng như quốc tế. Tất nhiên là lòng tin với nghĩa đầy đủ của nó có thể được thiết lập khó hơn đối với một doanh nghiệp lớn, nơi mà trách nhiệm được chia nhỏ nhưng lại dễ dàng hơn đối với một cá nhân sản xuất, kinh doanh nhỏ hoặc trung bình nơi mà ông chủ là người quyết định tối cao; do đó được đồng nhất hoá với toàn bộ quá trình sản xuất, kinh doanh. Ngày nay, nhiều ngân hàng đôi khi còn có sai lầm bởi vì ở mức độ nào đó đã mất đi thói quen quan tâm đến những vấn đề con người tới môi trường xung quanh sự hoạt động của khách hàng cá nhân, tới môi trường mà trong đó chúng phát triển. Công cụ quản lý rủi ro tín dụng An toàn tín dụng là một nội dung chính trong quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Để quản lý rủi ro tín dụng mỗi ngân hàng phải nghiên cứu và đưa ra những công cụ quản lý phù hợp với quy mô và tính chất hoạt động của ngân hàng đó. Sau đây là các công cụ chính để quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng của một NHTM. Quy trình tín dụng Quy trình cho vay và quản lý tín dụng cá nhân được soạn thảo với mục đích giúp cho quá trình cho vay diễn ra thống nhất, khoa học, nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng, góp phần đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu vay vốn của khách hàng cá nhân. Quy trình tín dụng là các bước (hoặc nội dung công việc) mà cán bộ tín dụng, các phòng, ban có liên quan trong ngân hàng phải thực hiện khi tiến hành tài trợ cho khách hàng. Một quy trình tín dụng hợp lý và thống nhất sẽ giúp cán bộ tín dụng quản lý khoản vay một cách chặt chẽ, tránh sự chủ quan, tuỳ tiện, duy ý trí. Do đó, giảm thiểu nguy cơ phát sinh rủi ro tín dụng do các nguyên nhân chủ quan trong quá trình phân tích, đánh giá cũng như kiểm tra, kiểm soát tín dụng. Về cơ bản, một quy trình tín dụng được chia làm ba giai đoạn: trước, trong và sau khi cho vay. Giai đoạn trước khi cho vay Đây là giai đoạn quan trọng nhất quyết định chất lượng của một khoản tín dụng. Thông qua nội dung phân tích, cán bộ tín dụng sẽ đánh gía được mức độ rủi ro của khoản vay, để từ đó xem xét có thực hiện tài trợ cho khách hàng hay không. -Kiểm tra về hồ sơ cho vay: Cần đánh giá chính xác về tính hợp pháp hợp lệ của hồ sơ cho vay. Đặc biệt, cần lưu ý đến tính pháp lý và tính thực tiễn của những tài liệu trong hồ sơ vay vốn như đơn xin vay, phương án sản xuất kinh doanh, phương án trả nợ … Đối với đơn xin vay, cần làm rõ mục đích và lý do của việc vay tiền. Phương án sản xuất kinh doanh cần phải làm rõ những điều kiện cụ thể thực hiện phương án, dự án, môi trường kinh doanh, khả năng tiêu thụ sản phẩm. Đối với phương án hoàn trả, phải xác minh chính xác nguồn thu nhập, mức lương …Trong giai đoạn này, cán bộ tín dụng cần tổng hợp thông tin về khách hàng và phương án vay vốn, sau đó tiến hành phân tích gồm: đánh giá tổng thể về khách hàng và phương án trả nợ, biện pháp quản lý, kiểm soát của ngân hàng về nguồn tiền trả nợ của khách hàng, khả năng bảo đảm tiền vay và biện pháp quản lý kiểm soát của ngân hàng về tài sản đảm bảo tiền vay của khách hàng . Giai đoạn trong khi cho vay: Sau khi hợp đồng tín dụng được ký kết và vốn vay được giải ngân. Ngân hàng sẽ tiến hàng kiểm soát khách hàng theo các nội dung như: sử dụng tiền vay đúng mục đích, có dấu hiệu lừa đảo hoặc làm ăn thua lỗ không ….Công việc này cho phép ngân hàng thu thập thêm các thông tin về khách hàng. Tăng cường đối chiếu công nợ và phân loại nợ. Việc đối chiếu dư nợ cho vay trực tiếp giữa ngân hàng và khách hàng giúp ngân hàng phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai phạm trong công tác cho vay của cán bộ tín dụng. Nếu các thông tin phản ánh chiều hướng tốt, điều đó cho thấy chất lượng tín dụng đang được đảm bảo. Ngược lại, khi nhận thấy khoản vay đang đứng trước nguy cơ rủi ro tín dụng, ngân hàng cần có các biện pháp xử lý kịp thời. Nếu phân tích tín dụng trước khi cho vay, giúp cán bộ ngân hàng có thể đánh giá được mức độ rủi ro của khoản vay thì việc kiểm tra, kiểm soát trong quá trình vay vốn sẽ giúp ngân hàng kịp thời đưa ra các giải pháp nhằm giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Giai đoạn sau khi cho vay Quan hệ tín dụng sẽ kết thúc khi ngân hàng thu hồi hết gốc và lãi của khoản vay. Các khoản tín dụng đảm bảo hoàn trả đầy đủ và đúng hạn là các khoản tín dụng an toàn. Trong một số trường hợp, người vay không hoàn trả nợ hoặc hoàn trả không đầy đủ và đúng hạn. Điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụng đã xảy ra. Lúc này cán bộ tín dụng phải xem xét, tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc khách hàng không thanh toán được nợ cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Các hướng dẫn trong quy trình tín dụng sẽ giúp cán bộ ngân hàng lựa chọn giải pháp tốt nhất nhằm hạn chế thiệt hại do rủi ro tín dụng gây ra. Tóm lại, kiểm tra trước, trong và sau khi cho vay: Là toàn bộ công việc kiểm tra từ khi khách hàng đặt quan hệ tín dụng cho đến khi ngân hàng duyệt kế hoạch vay vốn, kí hợp đồng tín dụng với khách hàng và thực hiện các cam kết theo hợp đồng. Sau khi đã cho vay, ngân hàng cần kiểm tra xem khách hàng sử dụng tiền vay có đúng mục đích…, việc hoàn trả nợ gốc và lãi có đúng thời hạn không. Các ngân hàng cần thường xuyên kiểm tra, đánh giá việc thực hiện quy trình tín dụng để xây dựng quy trình tín dụng ngày càng hoàn thiện, xoá bỏ cơ chế “biểu mẫu”, thủ tục cồng kềnh, thiếu trọng tâm của các quy trình tín dụng, ứng dụng các phần mềm phân tích tài chính, giảm bớt công tác phân tích thủ công, vừa tốn kém thời gian vừa không chính xác. Chính sách tín dụng cá nhân. Chính sách tín dụng bao gồm hệ thống các quan điểm, chủ trương, định hướng quy định chỉ đạo hoạt động tín dụng và đầu tư của NHTM, do HĐQT ban hành phù hợp với chiến lược phát triển của ngân hàng và những quy định hiện hành. Ngân hàng tiến hành các hoạt động tín dụng và đầu tư nhằm tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Các chính sách tín dụng của ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu cân bằng giữa tối đa hoá lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro, đảm bảo tăng trưởng tín dụng và đầu tư an toàn, hiệu quả, đúng định hướng và chiến lược phát triển của ngân hàng. Một trong những biện pháp quan trọng để các khoản tín dụng ngân hàng đáp ứng được các tiêu chuẩn pháp lý và đảm bảo an toàn là việc hình thành một “ chính sách tín dụng an toàn và hiệu quả ”. Chính sách tín dụng cung cấp cho cán bộ tín dụng và nhà quản lý một khung chỉ dẫn chi tiết để ra quyết định tín dụng và định hướng danh mục đầu tư tín dụng của ngân hàng. Thông qua kết cấu danh mục tín dụng của một ngân hàng, ta có thể biết được chính sách tín dụng của ngân hàng này như thế nào. Nếu một chính sách tín dụng hoạt động không hiệu quả thì phải tiến hành kiểm tra hoặc được tăng cường quản lý bởi ban lãnh đạo ngân hàng. Chính sách tín dụng bao gồm các nội dung chính sau: Chính sách khách hàng. Chính sách quy mô và giới hạn tín dụng. Lãi suất và phí suất tín dụng. Thời hạn tín dụng và kỳ hạn nợ. Các loại bảo đảm tiền vay. Điều kiện giải ngân và điều kiện thanh toán. Chính sách đối với các khoản nợ xấu. Chính sách tín dụng phù hợp khi ngân hàng lựa chọn hay xác định được các mục tiêu cho hoạt động tín dụng là lợi nhuận, an toàn và lành mạnh. Sự lành mạnh được thể hiện thông qua hiệu quả của cả ngân hàng và khách hàng, ngân hàng thu được gốc, lãi bằng kết quả hoạt động của khách hàng chứ không phải từ việc phát mại tài sản. Còn hiệu quả của khách hàng chính là việc sử dụng hiệu quả khoản vay vào hoạt động của mình như nắm bắt được cơ hội kinh doanh, giải quyết được khó khăn về vốn, giải quyết được nhu cầu tiêu dùng… Từ các mục tiêu trên, ngân hàng quy định những nội dung cần thiết để từ đó làm cơ sở hướng dẫn cho quá trình thực hiện cho vay. Mô hình quản lý rủi ro tín dụng: Để xác định chính xác mức độ rủi ro của mỗi khoản vay, các ngân hàng thường áp dụng một số mô hình cụ thể để đánh gía rủi ro tín dụng, Các mô hình này rất đa dạng, bao gồm cả mô hình phản ánh về mặt định tính và mô hình phản ánh về mặt định lượng. Đặc điểm của các mô hình này là không loại trừ lẫn nhau, nên một ngân hàng có thể sử dụng cùng một lúc nhiều mô hình khác nhau để phân tích và đánh giá mức độ rủi ro của khoản vay. Mô hình chất lượng: dựa trên yếu tố 6 C - Tư cách người vay (Character): Tiêu chuẩn này thể hiện tinh thần trách nhiệm, tính trung thực, mục đích rõ ràng và thiện chí trả nợ của người vay. Cán bộ tín dụng phải làm rõ mục đích xin vay của khách hàng, phải nắm chắc mục đích đó và phải xác định xem có phù hợp với chính sách hiện hành của ngân hàng hay không, lịch sử đi vay và trả nợ của khách hàng; thu thập thông tin về khách hàng từ nhiều nguồn khác như: Tổ chức xếp hạng doanh nghiệp (Rating company), Trung tâm phòng ngừa rủi ro (Risk management Center) …Nếu phát hiện người vay gian dối trong kế hoạch sử dụng và trả nợ như đã thỏa thuận thì cán bộ tín dụng phải từ chối cho vay, nếu không rủi ro tín dụng sẽ phát sinh cho ngân hàng. - Năng lực của người vay (Capacity): Tuỳ thuộc vào qui định luật pháp của từng nước. Nhưng nhìn chung, cán bộ tín dụng phải chắc chắn rằng người xin vay phải có đủ năng lực hành vi và năng lực và năng lực pháp lý để ký kết hợp đồng tín dụng. Việc đánh giá này sẽ phần nào đảm bảo khả năng thu hồi nợ và phòng tránh rủi ro cho ngân hàng. - Thu nhập của người vay (Cash): Tiêu chuẩn thu nhập của người vay chủ yếu tập trung vào câu hỏi: Người vay có khả năng tạo ra đủ tiền để trả nợ hay không ? Xác định nguồn trả nợ của người vay như: luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài sản thế chấp, hoặc tiền từ phát hành chứng khoán… Bất cứ nguồn thu hợp pháp nào của khách hàng đều có thể sử dụng đều có thể sử dụng để trả nợ vay cho ngân hàng. Tuy nhiên ngân hàng ưu quan tâm hơn cả và coi nguồn thu căn bản để trả nợ đó là nguồn thu được tạo ra từ chính khoản vay. - Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng và là nguồn tài sản thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng trong trường hợp xảy ra những rủi ro người không trả được nợ. Một khoản tín dụng nếu được đảm bảo bằng tài sản của người vay hoặc người bảo lãnh sẽ gắn chặt trách nhiệm và nghĩa vụ của trả nợ cuả người đi vay. Tuy nhiên, đối với từng ngân hàng tài sản thế, chấp cầm cố phải đáp ứng những điều kiện nhất định. Khi đánh giá khía cạnh đảm bảo tiền vay, cán bộ tín dụng phải đặc biệt chú ý đến những yếu tố nhạy cảm như: giá trị, tuổi thọ điều kiện và mức độ chuyên dụng của tài sản, đồng thời khía cạnh công nghệ cũng cần được chú ý - Các điều kiện (Conditions): Ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo chính sách tín dụng theo từng thời kỳ như cho vay hàng xuất khẩu với điều kiện thâu ngân phải qua ngân hàng, nhằm thực thi chính sách tiền tệ của NHTW quy định theo từng thời kỳ. Đánh gía các điều kiện tức là đánh giá xu hướng nghành và điều kiện kinh tế có ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của khách hàng. Cán bộ tín dụng phải biết được thực trạng công việc và nghành nghề kinh doanh của khách hàng, cũng như khi các điều kiện kinh tế thay đổi sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hoạt động của người vay. Những yếu tố thay đổi cả điều kiện bên trong (việc mua sắm, đầu tư, chính sách lương thưởng… ) và điều kiện bên ngoài (định hướng phát triển kinh tế xã hội của nhà nước, chính sách thuế) - Kiểm soát (Control): Tập trung vào những vấn đề như các thay đổi trong pháp luật và quy chế có ảnh hưởng xấu đến người vay hay không? Yêu cầu tín dụng của người vay có đáp ứng được tiêu chuẩn của ngân hàng hay không? Mô hình điểm số tín dụng cá nhân: Để đưa ra được một mô hình quản lý rủi ro hiện đại và hiệu quả phù hợp với từng ngân hàng, trước hết các ngân hàng cần phải lượng hóa được rủi ro tín dụng. Không giống như các mô hình khác, mô hình điểm số tín dụng lại dựa trên các yếu tố liên quan đến tiêu dùng của khách hàng (chủ yếu áp dụng đối với khách hàng là cá nhân). Dựa vào một số các tiêu chuẩn mà mô hình sẽ đưa ra điểm cho danh mục đó. Do biết chắc có lựa chọn bất lợi sẽ xảy ra, ngân hàng sẽ sử dụng cơ chế sàng lọc (screening) nhằm lựa chọn dự án tốt, khách hàng tốt để cho vay. Các yếu tố, tiêu chí quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình cho điểm tín dụng tiêu dùng nhằm sàng lọc, đánh giá lựa chọn khách hàng bao gồm: mức độ tín nhiệm của khách hàng (thể hiện qua thương hiệu, mối quan hệ lâu dài, kinh nghiệm, trình độ quản lý, khả năng hiểu biết và thực hiện dự án …); năng lực tài chính hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài sản, số người phụ thuộc, sở hữu nhà, thu nhập, điện thoại cố định, số tài khoản cá nhân, thời gian công tác. Mô hình này bao gồm một hệ thống các tiêu chí liên quan đến từng đối tượng khách hàng, mỗi chỉ tiêu có điểm số khác nhau phụ thuộc vào tính chất và tầm quan trọng của chúng. Căn cứ vào tình trạng của khách hàng và thang điểm của ngân hàng, cán bộ tín dụng sẽ quyết định số điểm tương ứng cho từng chỉ tiêu, sau đó cộng tổng số điểm. Khi đã có tổng số điểm, căn cứ vào bảng chuẩn cán bộ tín dụng có thể đệ trình quyết định cho vay hoặc từ chối yêu cầu xin vay. Với tổng số điểm cao hơn mức điểm chuẩn thì khách hàng đó được vay và thấp hơn mức điểm chuẩn thì ngân hàng từ chối. Mức điểm chuẩn tuỳ thay đổi theo từng thời kỳ và phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của nền kinh tế cũng như tiềm lực tài chính của ngân hàng và khách hàng. Tuy nhiên đối với tín dụng cá nhân, trong trường hợp đánh giá một khách hàng vay vốn, có khi tổng số điểm thấp hơn mức điểm chuẩn để cho vay song lại cao hơn mức chuẩn khác, thì ngân hàng vẫn có thể xem xét kèm theo một số điều kiện bổ xung. Mỗi ngân hàng có thể tự lựa chọn hệ thống các chỉ tiêu và thang điểm riêng cho mình, dựa vào chính sách tín dụng của ngân hàng đó. Đối với tín dụng cá nhân, có thể bao gồm các chỉ tiêu sau: - Các chỉ tiêu tài chính: Thu nhập hàng năm của người vay, số dư tiền gửi tiền gửi tại ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác mà khách hàng có giao dịch … - Chỉ tiêu phi tài chính: tuổi tác, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tình trạng cư trú, số người ăn theo … Mô hình điểm số theo chỉ tiêu đã loại bỏ được sự đánh giá chủ quan trong quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian ra quyết định tín dụng của ngân hàng. Hơn nữa, mô hình này cũng đã xem xét một cách toàn diện tất cả các yếu tố, đánh giá các yêu tố phi tài chính bên cạnh các yếu tố tài chính của khách hàng. Tuy nhiên, không thể phủ nhận được những khó khăn mà hệ thống đánh giá xếp hạng tín dụng theo kiểu này sẽ gặp phải đó là vấn đề thông tin không cân xứng giữa ngân hàng thương mại và khách hàng vay. Một hạn chế nữa là nó không thể điều chỉnh nhanh chóng để thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế cũng như chưa phản ánh được những trường hợp khách hàng có hoàn cảnh cá biệt. Một mô hình điểm số không linh hoạt có thể ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của ngân hàng, bỏ sót những khách hàng lành mạnh, làm giảm lòng tin của khách hàng vào dịch vụ của ngân hàng. Vì vậy, mỗi ngân hàng phải tự xây dựng cho mình một mô hình chấm điểm tín dụng phù hợp với đặc điểm, tiềm lực tài chính của ngân hàng và các khách hàng. Sau khi xác định được mức độ rủi ro tín dụng và quyết định cho vay, ngân hàng có thể thực hiện một số biện pháp phòng ngừa để hạn chế được tổn thất của khoản vay nếu rủi ro tín dụng xảy ra. - Thực hiện các biện pháp hạn chế tổn thất khi cho vay và khi rủi ro xảy ra -Cho vay có tài sản đảm bảo: Việc cho vay có tài sản đảm bảo nhằn giúp cho ngân hàng có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu từ thu nhập do chính khoản vay tạo ra không còn khả năng. Nếu người vay không trả nợ như cam kết trong hợp đồng tín dụng thì ngân hàng có quyền bán các tài sản cầm cố, thế chấp để thu hồi nợ. Thứ hai, nhận đảm bảo tín dụng tạo cho ngân hàng lợi thế về tâm lý so với người vay. Bởi vì, một tài sản khi đã là vật đặt cọc ( như xe hơi, đất đai, nhà cửa ... ) buộc người vay phải có trách nhiệm hơn trong việc hoàn trả nợ vay để khỏi phải gán những tài sản giá trị của mình . Đặc biệt đối với tín dụng cá nhân, hầu hết các khoản vay nhằm thỏa mãn nhu cầu mua sắm hàng tiêu dùng lâu bền như nhà cửa, phương tiện vận chuyển ... thì vịêc gắn những tài sản này với trách nhiệm trả nợ là một phương pháp hữu ích. Với một môi trường kinh tế luôn thay đổi, thì rủi ro luôn rình rập đối với khách hàng và cả NHTM, vì vậy cho vay có tài sản đảm bảo là điều kiện khá tiên quyết của NHTM đối với khách hàng, và vấn đề quản trị danh mục TSBĐ tiền vay là một yêu cầu cần thiết. Quản trị danh mục tài sản là yêu cầu khách quan trong công tác quản trị NHTM, nó là một mắt xích quan trọng trong quy trình cho vay thu hồi nợ, xử lý các khoản nợ có vấn đề. Như vậy, quản lý phân tích đánh giá loại tài sản nhận làm đảm bảo của hệ thống NHTM là một khâu tất yếu của công tác quản trị kinh doanh ngân hàng. Đồng thời, quản lý tình trạng của TSBĐ, kiểm tra đánh giá lại giá trị TSBĐ và khi tình huống xảy ra phải có xử lý kịp thời là một công việc không thể thiếu với cán bộ tín dụng. - Kiểm tra, giám sát rủi ro: Được thực hiện liên tục trong quy trình cho vay từ khâu tiếp nhận hồ sơ, giải ngân và sau cho vay. -Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHTM Muốn hạn chế rủi ro tín dụng đòi hỏi phải quản lý rủi ro tín dụng. Trong quản lý rủi ro tín dụng có hai nhóm biện pháp là chủ động và thụ động. Chủ động đối phó với rủi ro là tốt nhưng đối với loại hình rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn nhiều cần phải trích lập dự phòng rủi ro. Trích lập dự phòng rủi ro là một hình thức dự trữ tài chính chuyên dùng, được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết. Đây là công việc cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng. Khi khoản vốn vay bị mất có giá trị lớn thì việc loại trừ một lúc theo giá trị thực của nó sẽ ảnh hưởng bất lợi đến tình hình tài sản và trạng thái vốn của ngân hàng. Với quỹ dự phòng rủi ro được trích lập như một quỹ khấu hao thì khi rủi ro tín dụng xảy ra, việc loại trừ các khoản mất vốn cho vay không gây biến động lớn đến kết quả tài chính hiện tại của NHTM. Trong thực tế, không một NHTM nào có thể tính toán đo lường được một cách chính xác tuyệt đối những rủi ro có thể xảy ra trong hoạt động tín dụng của mình để chủ động quản lý thì việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là biện pháp phòng ngừa rủi ro tín dụng bằng cách xác định và trích lập ra một khoản tiền dự phòng để bù trừ các thay đổi về giá trị khấu hao và lưu chuyển tiền tệ của những khoản cho vay được trích lập dự phòng rủi ro tín dụng. Rủi ro tín dụng tồn tại không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay truyền thống mà còn tiềm ẩn ở các hoạt động mang tính chất tín dụng khác như bảo lãnh, L/C, cho thuê tài chính và các nghiệp vụ phái sinh khác. Hiên nay, hoạt động tín dụng trong ngân hàng vẫn là hoạt động kinh doanh chiếm tỷ trọng lớn nhất. Các ngân hàng thương mại cần phải có những khoản dự trữ bù đắp cho các khoản tổn thất có thể xảy ra, hay nói cách khác là các NHTM cần phải lập dự phòng rủi ro tín dụng cho mình. Có thể nói, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng là một “điều kiện đủ” để các NHTM giải quyết được “phương trình quản lý rủi ro tín dụng” của mình. Mua bảo hiểm tín dụng: Nếu khoản vay được ngân hàng mua bảo hiểm tín dụng thì khi rủi ro tín dụng xảy ra, công ty bảo hiểm có nhiệm vụ bồi thường cho ngân hàng theo quy định. Thêm vào đó ngành bảo hiểm tín dụng còn phối hợp với các ngành hữu quan để tổ chức các biện pháp phòng ngừa, hạn chế các tổn thất xảy ra bảo đảm an toàn cho cả công ty bảo hiểm và ngành ngân hàng. Mặt khác tham gia bảo hiểm tín dụng, ngân hàng sẽ được bù đắp nhanh chóng kịp thời, tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh diễn ra bình thường. Cho vay đồng tài trợ: Khi một ngân hàng không đủ khả năng tài trợ cho khách hàng hoặc khó xác định được mức độ rủi ro dự tính của khoản vay, ngân hàng sẽ kết hợp với một hoặc nhiều ngân hàng khác để cho vay. Thông qua việc đồng tài trợ, các ngân hàng sẽ cùng tham gia vào đánh giá khách hàng, phân tích khả thi của phương án xin vay ... Do đó, sẽ đưa ra được các quyết định cho vay chính xác, giảm thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Nếu ngân hàng là người cấp tín dụng duy nhất, trong trường hợp quy mô tín dụng lớn , rủi ro của ngân hàng sẽ rất cao. Việc có nhiều bên tham gia cấp tín dụng sẽ san sẻ rủi ro cho ngân hàng. Như vậy cho vay đồng tài trợ là phương thức san sẻ rủi ro chủ yếu giữa các NHTM. Nếu rủi ro xảy ra, tổn thất cũng sẽ được chia sẻ để đảm bảo lợi ích của các bên ngân hàng tham gia. Phân tán rủi ro: Phân tán rủi ro được thực hiện thông qua việc đa dạng hóa danh mục đầu tư tín dụng. Đây là biện pháp hạn chế rủi ro theo phương châm “ không bỏ tất cả trứng vào một giỏ ”. Ngoài những nội dung và các công cụ dùng quản lý rủi ro như những cá nhân vay vốn tiêu dùng đã trình bày ở trên, đối với cá nhân vay vốn để sản xuất, kinh doanh ngân hàng có thêm những mối quan tâm khác trong vấn đề quản lý rủi ro. Mối quan tâm chủ yếu của ngân hàng khi là người cho vay sản xuất kinh doanh: Khi nghiên cứu các yêu cầu xin vay của các khách hàng, chủ ngân hàng phải tiếp cận tới các yếu tố con người, môi trường kinh tế xã hội và tiền tệ. Họ phải tiến hành nghiên cứu thị trường, vấn đề sản xuất hoặc các sản phẩm do xí nghiệp sản xuất hoặc chế biến. Cuối cùng là phân tích tài chính, vấn đề này đặt ở cuối cùng không phải vì nó kém phân quan trọng mà muốn nhấn mạnh rằng mà việc xem xét bảng cân đối, báo cáo tài chính và các khoản lỗ lãi chỉ là một phần ở sự cần thiết nghiên cứu trước yêu cầu tín dụng. Cần phải tính trước tới các yếu tố khác. Kế hoạch sản xuất kinh doanh đối với cá nhân: Khi một cá nhân đến vay vốn với mục đích kinh doanh, thường có quan niệm khoản vay cá nhân là khoản vay nhỏ. vậy, liệu có cần phải là một kế hoạch sản xuất kinh doanh đối với cá nhân không? và tại sao cần phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh đó? Câu trả lời là cần thiết và những lý do của nó sẽ lần lượt được trình bày. Từ góc độ ngân hàng: (1) để tìm hiểu về ngành nghề kinh doanh của cá nhân vay vốn. (2) là một công cụ giảm thiểu rủi ro tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại. Từ góc độ cá nhân vay vốn: là nguồn thông tin báo cáo chi tiết về các hoạt động kinh doanh của mình, trong đó nhấn mạnh trạng thái tình hình kinh doanh khả năng kinh doanh trong tương lai kế hoạch hoạt động để đạt được kết quả Một kế hoạch sản xuất kinh doanh cụ thể, chi tiết sẽ giúp người vay dự tính những điều muốn làm và xác định những khó khăn trở ngại có thể phát sinh. Từ đó vạch ra những hướng đi rõ ràng, phù hợp với mục tiêu đề ra. Một người vay phải suy nghĩ, cân nhắc kỹ khi quyết định làm ăn, cạnh tranh với người khác. Đồng thời trongkế hoạch sản xuất kinh doanh cũng nêu lên những sự kiện (hợp đồng mua bán, doanh thu đạt được…) qua đó, đưa ra các tiêu chuẩn có thể đo lường, so sánh và đánh gía việc làm ăn để thuyết phục người cho vay. Cũng thông qua quá trình lập kế hoạch, kể cả những đầu tư suy nghĩ trước đó, buộc người vay phải có cái nhìn khách quan, nghiêm túc về một phương án làm ăn tổng thể. Kế hoạch sản xuất kinh doanh truyền đạt ý tưởng và cung cấp thông tin cơ bản để đề nghị vay vốn. Đồng thời là công cụ theo dõi, quản lý thực hiện công việc, hướng đến hiệu quả mong muốn. Như vậy, kế hoạch sản xuất kinh doanh cũng là một trong những công cụ hữu hiệu cho việc quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Kinh nghiệm cho thấy nguyên nhân chính đưa đến sự thất bại trong sản xuất kinh doanh là không lập kế hoạch, đặc biệt là kế hoạch dự phòng. Tóm lại, đối với một cá nhân vay vốn kinh doanh thì việc thiết lập một kế hoạch sản xuất kinh doanh rất quan trọng bởi lẽ: nó giúp định hướng mục tiêu hoạt động, đề ra công việc chính và thứ tự ưu tiên, cho biết chương trình hoạt động trong tương lai và là tài liệu tham chiếu cho việc phát triển sau này. Đây là tài liệu quan trọng để cá nhân vay vốn xác định được: (1)số vốn cần; (2) lãi thực hiện; (3) hiệu quả thực hiện. Từ phía ngân hàng, nhờ phân tích kế hoạch kinh doanh của khách hàng cá nhân mà xác định: liệu thị trường có nhu cầu đối với sản phẩm hoặc dịch vụ của người vay không? những kế hoạch trong tương lai của khách hàng có thực tế không? từ đó ra quyết định đúng đắn trong việc cho vay nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng. 1.5. Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. 1.5.1. Những nhân tố thuộc về khách hàng Việc ngân hàng thực hiện công tác quản lý rủi ro tín dụng có hiệu quả hay không, không chỉ phụ thuộc vào ngân hàng mà còn phụ thuộc vào khách hàng vay vốn. Rủi ro tín dụng xảy ra khi khách hàng vay vốn ngân hàng không trả được nợ và lãi đúng hạn do chủ quan như: dự án, phương án sản xuất kinh doanh thiếu hiệu quả, do sử dụng vốn sai mục đích đã đưa ra trong đơn vay vốn hoặc cá biệt có trường hợp khách hàng cố tình lừa đảo nhằm chiếm đoạt vốn vay… Đối với khách hàng là cá nhân thường gặp rủi ro do thiên tai như mất mùa, dịch bệnh, hoặc rủi ro trong đời sống như ốm đau, tai nạn hoặc bị chết. 15.2. Những nhân tố thuộc về Ngân hàng Trước hết: Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ tín dụng Chất lượng cán bộ tín dụng bao gồm trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp là nhân tố đầu tiên trực tiếp ảnh hưởng đến công tác quản lý rủi ro tín dụng của NHTM. Khi cán bộ tín dụng có thái độ chủ quan, quá tín tưởng vào khách hàng quen của mình mà coi nhẹ khâu kiểm tra đánh giá người vay, tính khả thi của phương án xin vay …. sẽ dẫn đến việc cho vay vượt quá khả năng chi trả của khách hàng. Bên cạnh đó nếu coi, nếu coi tài sản đảm bảo là điểm xuất phát, là điều kiện tiên quyết khi xét duyệt một khoản tín dụng mà coi nhẹ công tác thẩm định thì có thể ngân hàng sẽ bỏ lỡ những khoản vay có chất lượng tốt. Như vậy, phải kể đến rủi ro đạo đức của một bộ phận cán bộ liên quan đến cho vay vốn, cố ý làm trái quy định về tín dụng, thiếu tinh thần trách nhiệm … là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý rủi ro của ngân hàng. Về phía ngân hàng, việc thẩm định dự án, phương án kinh doanh chưa toàn diện, trình độ cán bộ thẩm định chưa đáp ứng được yêu cầu, quản lý việc phát tiền vay cho khách hàng, sử dụ._.ro tín dụng. Về cơ cấu tổ chức, quản lý rủi ro tín dụng cá nhân: Trong khi hiện nay hầu hết các ngân hàng khác ở Việt Nam đều thành lập riêng một phòng chuyên quản lý rủi ro tín dụng, quản lý nợ vay thì tại ngân hàng VPBank chưa có các phòng này, các cán bộ tín dụng phải thực hiện tất cả các nghiệp vụ từ tiếp xúc khách hàng, đánh giá khách hàng, đánh giá rủi ro, ngoài ra cán bộ tín dụng vẫn phải thực hiện các công việc khác như soạn thảo và lập hợp đồng, giúp khách hàng làm thủ tục công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm, đôn đốc thu nợ … Do đó không có sự chuyên môn hoá trong công việc và với khối lượng công việc khá lớn nên việc quản lý rủi ro tín dụng cá nhân còn sơ sài, thông tin cá nhân khách hàng thu thập cho việc quản lý rủi ro chưa đủ, chưa thật chính xác. Điều này tạo nguy cơ rủi ro tín dụng rất cao. 2.4.3. Nguyên nhân. Mặc dù đã có sự quan tâm, đầu tư, hệ thống quản trị rủi ro tín dụng cá nhân tại VPBank vẫn còn những thiếu sót như phân tích ở phần trên. Ban lãnh đạo VPBank đã tích cực tìm kiếm nguyên nhân và đưa ra các biện pháp khắc phục. - Cán bộ tín dụng tiêu dùng hầu hết mới tiếp nhận điều chuyển từ bộ phận nghiệp vụ khác. - Trong giai đoạn 2003-2005 cùng với sự tăng trưởng nhanh của nền kinh tế nước ta, tín dụng cá nhân cũng không ngừng lớn mạnh. Khối lượng công việc tăng mạnh, phát sinh thêm nhiều yêu cầu mới về quản lý hồ sơ sau cho vay (như đăng ký giao dịch bảo đảm, bổ sung mua bảo hiểm vật chất năm thứ 2 đối với ôtô trả góp, quy chế chuyển nợ quá hạn mới…) nên công tác quản lý cho vay chưa được quan tâm đúng mức. Dư nợ tín dụng cá nhân tăng trưởng nóng, kéo theo sự tăng lên của các khoản nợ quá hạn. Tư duy trong quá trình quyết định cho vay hiện nay tại các ngân hàng Việt Nam nói chung và tại VPBank nói riêng, không chỉ riêng nhân viên tín dụng mà ngay cả một số lãnh đạo ngân hàng vẫn thường quá coi trọng yếu tố tài sản bảo đảm và coi đó là yếu tố quan trọng nhất khi quyết định cho vay. Với tư duy cũ đó, cán bộ tín dụng chưa thật sự đánh giá đúng mức tư cách cá nhân vay vốn, không coi trọng tính khả thi của phương án sản xuất, kinh doanh từ đó dẫn đến việc thẩm định còn sơ sài có tính hình thức. Đây là điều hết sức đáng lo ngại, một mặt ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng cá nhân của ngân hàng, mặt khác bỏ lỡ những cơ hội kinh doanh tốt. Từ phía ngân hàng, ngân hàng bao giờ cũng muốn thu hút được nhiều khách hàng đến vay vốn nhất. Nhưng nhiều khách hàng không đảm bảo đủ các điều kiện của ngân hàng (phần lớn là do điều kiện về tài sản thế chấp, vốn tự có), nhiều khách hàng không chịu chấp hành các điều kiện cam kết trong hợp đồng tín dụng. Một trong những khó khăn nữa về phía ngân hàng là sự thiếu thông tin tín dụng và nhân tố góp phần tạo ra khó khăn đó chính là về phía khách hàng đã không cung cấp đầy đủ những thông tin hoặc cung cấp những thông tin thiếu chính xác và hiện tượng “thông tin không cân xứng” giữa ngân hàng và khách hàng. Điều này liên quan chặt chẽ đến uy tín và phẩm chất của khách hàng. Đối với khách hàng truyền thống của ngân hàng thì điều này ít khi xảy ra, tuy nhiên đối với những khách hàng mới có quan hệ giao dịch lần đầu tiền thì trường hợp cung cấp thông tin không chính xác có khi còn sai lệch để đạt được yêu cầu và mục tiêu xin vay là đã xảy ra. Chính điều này đã gây cản trở cho công tác tín dụng và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của ngân hàng. - Mức lương của CBTD còn thấp so với mặt bằng chung của ngân hàng và các ngân hàng tương đương, chưa tương xứng với trách nhiệm của người cán bộ tín dụng trước ngân hàng và khách hàng. Cuối cùng, nguyên nhân khách quan là do môi trường pháp lý như những quy định về bảo đảm tiền vay đang còn nhiều vướng mắc, chẳng hạn việc đảm bảo tài sản thế chấp bằng giá trị quyền sử dụng đất chỉ có khách hàng có “sổ đỏ” mới được mang thế chấp, trong khi đó các quy định về chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn quá nhiều phức tạp. Một nguyên nhân nữa, là do sự biến động của nền kinh tế thế giới trong những năm gần đây, đặc biệt là xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, sự cạnh tranh diễn ra trên mọi mặt của nền kinh tế trong đó có ngành ngân hàng. Sự cạnh tranh không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng trong nước mà đã vượt khỏi phạm vi lãnh thổ quốc gia và ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Để tồn tại, đôi khi ngân hàng phải chấp nhận những rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng cá nhân. CHƯƠNG 3: TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG VP BANK – CHI NHÁNH HÀ NỘI 3.1. Định hướng phát triển hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng VPBank – chi nhánh Hà Nội trong những năm tới. Để xây dựng VPBank trở thành một ngân hàng bán lẻ hàng đầu ở khu vực phía Bắc và tiến tới là ngân hàng thuộc nhóm dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng TMCP trong cả nước theo định hướng chiến lược của HĐQT, trong năm 2006 VPBank sẽ tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm sau: - Quyết định lựa chọn đối tác, kí kết hợp đồng và triển khai thực hiện hệ thống phần mềm ngân hàng lõi ( Core Bank ). Triển khai hoạt động của Trung tâm Thẻ, cung cấp các dịch vụ Thẻ ngân hàng tới khách hàng. - Nghiên cứu phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại, đồng thời tiếp tục cải tiến các dịch vụ ngân hàng truyền thống theo định hướng ngân hàng bán lẻ. - Nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập công ty chứng khoán. - Tiếp tục tăng cường hơn nữa công tác phát triển thương hiệu. Tăng cường đào tạo nhân viên, nâng cao chất lượng tuyển dụng đối với nhân viên mới, bảo đảm đủ trình độ để tiếp thu công nghệ mới và đáp ứng yêu cầu hội nhập. - Tiếp tục tăng vốn điều lệ của VPBank để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng số lượng chi nhánh mới, và đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu trong điều kiện tài sản có rủi ro sẽ không ngừng tăng lên. Phát triển mạng lưới chi nhánh VPBank đến các đô thị lớn như: Đồng Nai, Bình Dương, Khánh Hoà, Nghệ An … khi vốn điều lệ của VPBank đáp ứng được quy định về mở chi nhánh. Ưu tiên tíêp tục mở rộng các điểm giao dịch tại 2 đô thị lớn nhất là Hà Nội và TP HCM -Lựa chọn đối tác thích hợp để bán từ 10-20% cổ phần cho cổ đông nước ngoài. Các mục tiêu hoạt động chủ yếu trong năm 2006 như sau (tỷ đồng): Chỉ tiêu 2006 Tăng thêm Tỷ lệ tăng 1/ Vốn điều lệ cuối năm ( tối thiểu) 765 455 148% 2/ Tổng tài sản 8.500 2,407 40% 3/ Lợi nhuận ròng trước thuế 100 23,8 31% 4/ Số lượng điểm giao dịch 45 15 50% 5/ Số công ty trực thuộc 2 2 6/ Số lượng CBNV 1.000 218 28% 3.2. Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng cá nhân tại Ngân hàng Bản thân các ngân hàng thương mại Việt Nam trình độ năng lực tài chính còn non kém, trình độ quản lý kinh doanh còn yếu, công tác quản lý rủi ro ngân hàng còn lỏng lẻo, chưa được thực sự chú trọng và mang tính chuyên nghiệp, thu nhập từ hoạt động tín dụng vẫn chiếm tỷ lệ cao (trên 60%) và cho vay chủ yếu dựa vào tài sản bảo đảm. Trong khi đó, năng lực thẩm định tín dụng, hệ thống phân loại nợ chưa phù hợp, nguyên tắc kiểm tra, kiểm soát nội bộ tiếu chặt chẽ, sản phẩm ngân hàng còn đơn điệu và chất lượng chưa cao. Mặt khác hoạt động phi tín dụng và dịch vụ chưa phát triển, các sản phẩm dịch vụ tiên tiến ít rủi ro đi kèm chưa có môi trường để thực thi …. điều này bắt buộc chúng ta cần sớm chủ động xây dựng một hệ thống đồng bộ các giải pháp quản trị rủi ro của ngân hàng nói chung, quản lý rủi ro tín dụng cá nhân nói riêng. 3.2.1. Hoàn thiện hệ thống thông tin đánh giá khách hàng. Trước hết cần thiết lập hệ thống thông tin về khách hàng trên nhiều phương diện. Bên cạnh những thông tin về bản thân khách hàng, các ngân hàng cần thu thập thông tin về ngành nghề kinh doanh của khách hàng để dự đoán được khuynh hướng phát triển, áp lực cạnh tranh, các đối thủ của khách hàng, từ đó đánh giá vị thế khách hàng, khả năng kinh doanh cũng như khả năng hoàn trả nợ của người vay. Cần tổ chức những buổi hội thảo, nói chuyện Luận văn, khơi dậy nhận thức của cán bộ ngân hàng về vai trò của thông tin trong quy trình tín dụng, là điều kiện để phòng tránh rủi ro tín dụng. Sau đó, có kế hoạch đào tạo đội ngũ chuyên môn thu thập, xử lý, phân tích, sử dụng và quản lý thông tin, cử cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài, “ đặt hàng ” tại các cơ sở đào tạo chuyên nghành ngân hàng, mời các chuyên gia nước ngoài về nghiên cứu và hướng dẫn nghiệp vụ tại chính các ngân hàng. Bản thân các ngân hàng cần có những kế hoạch đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại có thể tìm kiếm, phân tích, quản lý thông tin với số lượng lớn và phức tạp, thành lập các kho dữ liệu, phòng công tác thông tin và phải có kế hoạch kiểm tra, điều chỉnh và tái sử dụng thông tin đã lưu. Khuyến khích thành lập các công ty chuyên thu thập, xử lý và cung cấp thông tin một cách rộng rãi. Tạo cơ chế liên thông thông tin giữa các ngân hàng. Các ngân hàng nên trao đổi thông tin bảo vệ nhau, loại bỏ khách hàng xấu, tạo sự an toàn cho hoạt động của cả hệ thống 3.2.2. Thực hiện tốt chính sách tín dụng và quy trình tín dụng. Khách hàng của ngân hàng rất đông, chỉ cần một khách hàng gặp rủi ro sẽ gây tác động xấu đến hình ảnh ngân hàng vì vậy muốn tồn tại và phát triển, các ngân hàng cần có phải có đủ năng lực quản lý rủi ro nói chung và năng lực quản lý rủi ro tín dụng nói riêng. Để làm được điều này cần thực hiện các biện pháp đồng bộ duới đây: Thứ nhất, phải xây dựng và hoàn thiện chiến lược chính sách quản trị rủi ro đúng đắn. Thực hiện cải tổ toàn diện các yếu tố có ảnh hưởng tác động đến năng lực quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm hoạch định và xây dựng chiến lược và chính sách quản lý rủi ro, tái cơ cấu bộ máy tổ chức, đẩy mạnh áp dụng các công cụ đo lường ….. Thứ hai, tái cơ cấu bộ máy quản trị rủi ro theo hướng bộ phận chuyên trách quản lý, tách bạch bộ máy quản trị rủi ro độc lập với kinh doanh, tiến tới thực hiện quản trị rủi ro theo nghành dọc, giảm dần mức độ uỷ quyền phân cấp theo hàng ngang. Thứ ba, thực hiện quy trình, quy chế hoá mọi hoạt động trong ngân hàng, thực hiện nguyên tắc “ hai tai bốn mắt” ở mọi khâu trong ngân hàng. Thứ tư, nâng cao chất lượng các công cụ đo lường rủi ro và tiếp tục áp dụng các công cụ đo lường rủi ro mới nhất. Ngoài ra, phối kết hợp với các biện pháp dưới đây: - Cung cấp dịch vụ tư vấn cho khách hàng - Lựa chọn các hình thức bảo đảm tiền vay thích hợp - Hoàn thiện mô hình đánh giá rủi ro tín dụng - Tăng cường các biện pháp hạn chế tổn thất nếu rủi ro xảy ra 3.2.3. Tổ chức các phòng ban riêng quản lý nợ vay và quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Các ngân hàng nên thành lập những phòng ban riêng thực hiện chức năng quản lý rủi ro, nhằm tạo ra sự tập trung trong công tác quản lý này. Đồng thời cũng nhằm giảm áp lực công việc của cán bộ tín dụng trong cho vay. Các phòng được lập thêm bao gồm phòng Quản lý nợ vay, phòng Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. Cùng với các phòng sẽ có các cán bộ chuyên trách thực hiện nhiệm vụ của các phòng. Việc phê duyệt tín dụng khi có thêm các phòng ban này được mô tả theo sơ đồ sau: Th¶o luËn v/v n©ng cao chÊt l­îng vÒ néi dông, c¸ch tr×nh vµ c¸ch tr×nh B¸o c¸o ®Ò xuÊt tÝn dông (b¶n cuèi cïng ) do CBKH ký. CBRR thùc hiÖn rµ so¸t kÕt qu¶ thÈm ®Þnh lÇn cuèi BC§XTD ®¸p øng c¸c yªu cÇu c¬ b¶n vÒ néi ®óng c¸ch vµ tr×nh bµy N©ng cao chÊt l­îng B¸o c¸o ®Ò xuÊt tÝn dông B¸o c¸o rµ so¸t rñi ro do CBRR so¹n vµ ký CBRR rµ so¸t kÕt qu¶ thÈm ®Þnh ( cã thèng nhÊt ý kiÕn víi l·nh ®¹o phßng ) Tr­ëng /phã P. QHKH ký ®ång ý Nhiệm vụ của phòng quản lý nợ vay: - Nhập dữ liệu hệ thống - đảm bảo thông tin trên hệ thống khớp đúng với thông tin trên hồ sơ. - Nhận lưu giữ đầy đủ an toàn hồ sơ tín dụng. - Thực hiện các công tác liên quan đến rút vốn. - Lập các báo cáo định kỳ về hạn mức, dư nợ, ngày đáo hạn, thời điểm kiểm tra và sử dụng vốn vay…. - Thực hiện các nghiệp vụ thu nợ. - Các nghiệp vụ khác do TGĐ/ GĐ giao. Nhiệm vụ của phòng Quản lý rủi ro tín dụng cá nhân; - Xây dựng chiến lược, chính sách quản lý rủi ro tín dụng cá nhân. - Quản lý danh mục đầu tư. - Trực tiếp tham gia vào quy trình thẩm định, phê duyệt tín dụng. - Giám sát quá trình thực hiện phê duyệt tín dụng (gồm cả hoạt động của phòng Quản lý nợ vay). - Hỗ trợ, phát hiện và kiểm soát các dấu hiệu rủi ro. - Nhiệm vụ khác do TGĐ / GĐ giao. 3.2.4. Những giải pháp liên quan đến công tác tổ chức đào tạo. Tại VPBank chịu trách nhiệm về hoạch định các chính sách cũng như đưa ra các quyết định về quản lý là đại hội cổ đông, HĐQT, Ban tổng giám đốc, Hội đồng tín dụng, Hội đồng quản lý tài sản. Do vậy, việc hoàn thiện các bộ phận này là một yêu cầu cấp thiết để tạo dựng một VPBank ngày càng tốt hơn trong lòng khách hàng. Hội đồng tín dụng để đẩy mạnh việc kiểm tra các kết quả đạt được trong chính sách tín dụng, đánh gía các rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng danh mục đầu tư thì Hội đồng tín dụng không thể thiếu được đối với mỗi ngân hàng. Chức năng Hội đồng tín dụng là thực hiện các chính sách tín dụng trong năm hiện tại. Công việc của Hội đồng tín dụng được tổ chức dựa trên kế hoạch thường niên phù hợp với quy định của ngân hàng đã được Hội đồng quản trị thông qua. Hội đồng sẽ xem xét, đánh giá thẩm định tuỳ khoản vay và thay đổi các khoản vay chậm trả cũng như thông qua quyết định của Ban tín dụng các chi nhánh. Thiết lập các uỷ ban chuyên môn trợ giúp cho Ban Tổng giám đốc như UB quản lý rủi ro, UB khen thưởng, UB đề cử … Rủi ro được xem như tính không ổn định của các khoản thu nhập trong tương lai và các giá trị kinh tế của nguồn vốn cổ đông do sự thay đổi các điều kiện môi trường và thị trường. Theo đó quản lý rủi ro được phát triển thành một quá trình với mục đích cuối cùng là đảm bảo sự tồn tại và phát triển phát triển bền vững của ngân hàng. Nó cũng nhằm mục đích góp phần tăng lợi nhuận lâu dài và lợi ích bền vững cho các cổ đông. Cụ thể uỷ ban quản lý rủi ro sẽ giám sát hoạt động của ban lãnh đạo trong việc quản lý tín dụng, các hoạt động trên thị trường, khả năng thanh toán cũng như những rủi ro về hoạt động, rủi ro pháp lý và những rủi ro khác của ngân hàng. 3.3. Kiến nghị. 3.3.1. Đối với Ngân hàng VPBank. -Thị trường bất động sản phát triển thu hút một khối lượng lớn vốn tín dụng ngân hàng. Tại ngân hàng VPBank tính đến 31/12/2005 cho vay vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản đạt 287277 tỷ đồng chiếm 47 % tổng dư nợ, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 26.14% tổng dư nợ quá hạn. Mặc dù tỷ lệ nợ quá hạn thấp, nhưng không phải là không lo ngại về rủi ro tín dụng, đồng thời trước động thái đóng băng của thị trường bất động sản ngân hàng không nên tập trung cho vay trong lĩnh vực này nhằm tránh những rủi ro tín dụng như bài học của Thái Lan và một số nước trong khu vực trong cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ năm 1997-1998, cho thấy bài học lớn về đầu tư vốn của các ngân hàng cho các dự án bất động sản. Tình hình giá cả bất động sản ở các thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hiện nay đang ở mức khá cao, có khả năng gây đổ vỡ cho công tác tín dụng ngân hàng. Vì vậy để phòng tránh rủi ro khi cho vay, cần cẩn trọng trong việc quyết định cho vay, nhất là đối với khách hàng mới, phải thẩm định kỹ lưỡng tư cách, lai lịch của khách hàng cũng như khả năng thực hiện việc trả nợ. Đồng thời thận trọng trong việc định giá tài sản bảo đảm, xử lý nhanh và kiên quyết với các khoản nợ quá hạn để kịp thời thu hồi vốn khi khách hàng không có khả năng trả nợ nhằm tránh cho VPBank lâm vào tình trạng khó khăn khi có khủng hoảng về bất động sản. Không giải quyết cho vay đầu tư vào dự án bất động sản. -Xu hướng mở rộng mạng lưới quá nhanh của VPBank, kèm theo đó là năng lực và trình độ cán bộ quản lý, trình độ và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng không phải nơi nào cũng tăng lên tương ứng.Trong khi đó, môi trường kinh doanh mới trên những địa bàn mới mở chi nhánh có tính cạnh tranh cao hơn. Các chi nhánh mới lại bị sức ép về khoán tài chính, về giới hạn thời gian lỗ, về việc làm ra lợi nhuận. Mâu thuẫn này dự báo dễ xảy ra rủi ro tín dụng, mặc dù thời điểm hiện nay chưa thấy xuất hiện. Như vậy, việc mở rộng mạng lưới nên đi đôi với khả năng quản lý, nhất là quản lý rủi ro tín dụng. Đồng thời, cần chuẩn bị đủ cán bộ quản lý, tăng cường giáo dục, nhận thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên. Tăng cường quản lý rủi ro tín dụng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, tính tự giác đối với cán bộ trực tiếp cho vay. -Thường xuyên rà soát những sơ hở trong quy trình cho vay, bao gồm cả quy trình ban hành và việc tuân thủ cả quy trình ở tất cả các cấp ngân hàng. Việc phân cấp tín dụng cần được điều chỉnh định kỳ hay sát với thực tế dựa trên cơ sở hiệu quả, năng lực, bộ máy và chất lượng hoạt động của đơn vị cơ sở. Cần thiết lập một bộ phận chuyên nghiên cứu phân tích diễn biến, dự báo kinh tế vĩ mô kể cả ngắn hạn và trung dài hạn, với các chuyên gia giàu kinh nghiệm. Cần có bộ phận nghiên cứu riêng, độc lập của mình dựa trên các kênh thông tin đại chúng các nguồn nghiên cứu và dự báo khác để làm định hướng cho hoạt động tín dụng, chiến lược quản lý rủi ro tín dụng, chiến lược khách hàng và chiến lược đầu tư vốn tín dụng của mình. Thường xuyên giám sát, quản lý theo dõi hoạt động của cán bộ ngân hàng nhất là cán bộ tín dụng, cán bộ thẩm định, hay cán bộ liên quan trực tiếp đến các quyết định cho vay. Việc quan này để tránh những rủi ro đạo đức của cán bộ tín dụng dẫn đến rủi ro tín dụng.Trách nhiệm theo dõi giám sát thường được phân cấp như: Ban giám đốc chi nhánh theo dõi, giám sát cán bộ nhân viên tại chi nhánh, Hội đồng quản trị, Ban Tổng giám đốc theo dõi giám sát cán bộ lãnh đạo các chi nhánh. Trách nhiệm này có thể giao cho phòng quản lý tín dụng hoặc giao cho trung tâm thông tin phòng ngừa rủi ro của ngân hàng. - Cho vay tiêu dùng là khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp các cá nhân và hộ gia đình trang trải nhu cầu về tiêu dung của mình như nhà ở, nhu cầu gia đình và xe cộ …. Hầu hết các ngân hàng đều đánh giá, mảng cho vay tiêu dùng trong dân cư là một thị trường đầy tiềm năng. Nhu cầu này đã được VPBank nắm bắt và phát triển rất tốt. Tuy nhiên một số lượng lớn khách hàng còn bị bỏ ngỏ do quy chế cho vay còn phức tạp trong thủ tục thẩm định tài sản thế chấp, nên không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Trước thực trạng đó, ngày 18/8/2000, NHNN ban hành quyết định số 266/2000/QĐ (về việc cho vay không có đảm bảo bằng tài sản đối với các NHTM cổ phần, công ty tài chính cổ phần và ngân hàng liên doanh) và thông tư hướng dẫn 06 ngày 04/04/2000. Nhờ vậy các ngân hàng đã mạnh dạn đưa ra dịch vụ cho vay tín chấp tiêu dùng. Tuy nhiên hình thức cho vay cá nhân này còn chưa được áp dụng tại VPBank. Trong quá trình thực tập và nghiên cứu tại VPBank, tôi mạnh dạn kiến nghị ngân hàng nên triển khai hình thức tín dụng này bởi những lý do sau: Trong các quan hệ tín dụng, thiện chí trả nợ của một khách hàng vốn đã là nhân tố quyết định trong việc quan hệ tín dụng được thực hiện. Nếu như khách hàng chần chừ trả nợ hoặc không trả nợ và từ chối đàm phán với ngân hàng trong việc thanh toán các khoản vay thì ngân hàng sẽ tịch thu các khoản thế chấp và bán nó để thanh toán các khoản nợ. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp cuối cùng bởi vì ngân hàng thực sự là một doanh nghiệp cho vay chứ không phải là nơi thanh lý các tài sản thế chấp của những cá nhân vay ngân hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc cố tình không trả nợ. Do vậy, với dịch vụ cho vay tiêu dùng, ngân hàng sẽ đặt tiêu chuẩn Character (tư cách và uy tín của khách hàng) lên hàng đầu (trong nhón 6 C) và đóng vai trò quan trọng nhất. Như vậy cho vay tín chấp tiêu dùng vì thế không phải là một sự phưu lưu mạo hiểm mà là một sự lựa chọn đúng đắn, phù hợp với xu thế của thời đại. Ngoài ra, nhu cầu vay tiêu dùng thông thường là những món vay nhỏ, thời hạn vay ngắn nếu ngân hàng kết hợp tốt giữa thu nhập/ tháng của người vay với thời hạn cho vay và số tiền vay tối đa thì sẽ không khó khăn cho công tác quản lý rủi ro của ngân hàng. Hơn nữa, cho vay tín chấp tiêu dùng được áp dụng bước đầu đối với đối tượng khách hàng là cán bộ, công nhân viên hiện đang công tác tại các đơn vị hàng chính sự nghiệp, công ty, xí nghiệp quốc doanh, bệnh viện, trường học …, có thể nói cho “vay tiêu dùng là chiếc xích vàng gắn kết người lao động với doanh nghiệp”. ở đây, xin đưa ra sự kết hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng đồng thời đảm bảo được công tác quản lý rủi ro, tránh được rủi ro trong cho vay của ngân hàng như sau: Thu nhập / tháng Thời hạn cho vay 1.5-3 triệu đồng Từ 6 - 12 tháng > 3 triệu đồng Từ 12-36 tháng Thu nhập / tháng Số tiền vay tối đa 1.5-3 triệu đồng 10 triệu đồng >3-4 triệu đồng 10-20 triệu đồng > 4-5 triệu đồng 20-30 triệu đồng >5 triệu đồng 30-50 triệu đồng Dịch vụ cho vay tín chấp tiêu dùng sẽ mở cho ngân hàng nhiều cơ hội kinh doanh hơn. Nhưng “lợi nhuận cao luôn đi kèm với rủi ro cao” do vậy ngân hàng cần nắm bắt thông tin về khách hàng và đưa ra các quyết định cho vay đúng đắn. 3.3.2. Đối với các cấp ngành khác. -Kiến nghị đối với Chính phủ Để góp phần phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân cho ngân hàng, đề nghị Chính phủ: Nghiên cứu phát triển hệ thống lưu thông séc, hối phiếu và hệ thống thanh toán thay thế thanh toán bằng tiền mặt giúp cho việc quản lý, sử dụng vốn vay đúng mục đích. Ban hành các quy định tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc thành lập các công ty thẩm định giá, đồng thời mở rộng điều kiện thành lập doanh nghiệp thẩm định không chỉ giới hạn đối với doanh nghiệp nhà nước, công ty hợp doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời tạo điều kiện cho các công ty cổ phần tham gia hoạt động thẩm định giá. Chỉ đạo Bộ Tài chính làm đầu mối phối hợp với các bộ nghành liên quan như Ngân hàng nhà nước, Bộ kế hoạch đầu tư, Tổng cục thống kê, … thống nhất chuẩn hoá một số chỉ tiêu cơ bản làm cơ sở cho các Bộ Ngành đánh giá xếp loại phục vụ cho công tác quản lý. Cho phép thành lập các chi nhánh Cục đang ký quốc gia giao dịch bảo đảm thuộc sở tư pháp tại các địa phương để thuận tiện trong việc đang ký giao dịch bảo đảm. -Kiến nghị đối với các NHTM - Chấp hành tốt các quy định của NHNN về các tỷ lệ an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng của tổ chức tín dụng theo Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005, quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NH ngày 22/4/2005 của Thống đốc NHNN ban hành và các quy định liên quan về bảo đảm tiền vay. - Đẩy mạnh công tác kiểm soát nội bộ với mục tiêu quan trọng xây dựng được hệ thống tìm kiếm những xu hướng tiềm ẩn tiêu cực, bất ổn và thiếu sót trong hoạt động của ngân hàng để đưa ra biện pháp chấn chỉnh. - Thẩm định các dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh được coi là khâu quan trọng nhất trước khi quyết định cho vay hay bảo lãnh, mức độ tín nhiệm trong quá trình giao dịch với ngân hàng, tham khảo thông tin tín dụng của Trung tâm thông tin tín dụng ( CIC) thuộc NHNN... Xem xét, cơ sở khoa học của việc lập dự án đầu tư, thời gian lập đến khi vay vốn, dự kiến thu nhập, lãi và thời gian hoàn vốn… -Những dự án vay vốn lớn, các ngân hàng thương mại nên quy định thuê tổ chức tư vấn độc lập, có tư cách pháp nhân có năng lực uy tín để thẩm định, xác nhận trước khi chấp thuận cho vay; việc này có thể tăng chi phí cho ngân hàng nhưng đảm bảo an toàn khi ngân hàng quyết định cho vay; bởi cán bộ thẩm định của ngân hàng tuy có kinh nghiệm nhưng chưa toàn diện nên việc chấp thuận hoặc từ chối cho vay có thể chưa chính xác. Cần quy định phân cấp quyền phán quyết cho vay đối với Hội sở, các chi nhánh cấp 1, 2, 3 nhằm phân rõ quyền hạn và trách nhiệm của ngân hàng. -Trong quá trình cho vay, ngân hàng cần có phương án cấp tiền vay phù hợp. Đối với khách hàng là cá nhân có thể cấp tiền mặt từng lần hoặc toàn bộ vốn vay, do thông thường số tiền cho vay cá nhân là không lớn như doanh nghiệp. - Theo dõi chặt chẽ việc sử dụng vốn của khách hàng, nếu phát hiện những sai phạm trong quá trình sử dụng vốn vay như sai mục đích … cán bộ tín dụng kiến nghị thu hồi nợ trước hạn, chuyển nợ quá hạn hoặc đưa ra cơ quan pháp luật để xử lý. Đối với tín dụng cá nhân, cán bộ tín dụng cần bám sát diễn biến về thu nhập của người vay để đôn đốc thu nợ đùng kỳ hạn. Nếu do nguyên nhân khách quan không hoàn trả nợ, khi người vay có đơn xin gia hạn, cán bộ tín dụng xác nhận, đề nghị giám đốc ngân hàng cho gia hạn nợ theo quy định. - Tuỳ theo mức độ tin cậy đối với từng khách hàng mà áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay thích hợp như: phải có tài sản thế chấp, cầm cố bảo đảm tiền vay, bảo đảm tiền vay bằng tài sản hình thành từ vốn vay hoặc bảo đảm bằng tín chấp … Tuy nhiên việc thẩm định dự án, phương pháp sử dụng vốn vay vẫn là biện pháp quan trọng nhất để cho vay vốn sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và hoàn trả đựơc tiền vay. Việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro là cần thiết để có nguồn bù đắp rủi ro. - Lựa chọn đầu tư vốn vào các loại hình khác nhau: điều này sẽ hạn chế rủi ro khi một loại hình nào đó gặp rủi ro, tức là “ không bỏ tất cả trứng vào một giỏ ” ví dụ như hiện nay, tình trạng nhà đất, bất động sản đang thời kỳ đóng băng, các cá nhân vay vốn ngân hàng để đầu tư vào nhà đất để bán không có tiền trả nợ ngân hàng dễ dẫn đến nguy cơ phá sản, kéo theo đó là tình trạng nợ xấu của ngân hàng tăng lên. Nhưng ngược lại, các dịch vụ như giao thông vận tải đang làm ăn phát đạt, hoàn trả vốn vay được kịp thời. - Cần xây dựng chiến lược khách hàng, chiến lược đầu tư tín dụng, quản lý rủi ro. Để làm được điều này, cần thành lập bộ phân chuyên trách độc lập, nghiên cứu, đề xuất với lãnh đạo có quyết định đúng đắn khi đầu tư. - Mở rộng hình thức đồng tài trợ với mục tiêu hợp lý hoá sử dụng nguồn vốn và giảm thiểu rủi ro. - Con người vẫn là yếu tố quyết định cho viêc thành, bại của doanh nghiệp. Vì vậy, cần coi trọng việc tuyển chọn, thu nhận người vào làm việc có liên quan đến tiền bạc, ngoài trình độ năng lực chuyên môn thì tiêu chuẩn đạo đức, tính liêm khiết, cần cù, chịu khó cần hết sức coi trọng. Nâng cao chất lượng cán bộ, nhân viên. Trong quá trình làm việc, công tác quản lý cán bộ cần được cán bộ quan tâm đúng mức. Trong các mối quan hệ liên quan đến khách hàng vay, nguồn thu nhập cũng là nguồn quan tâm để phòng ngừa những vi phạm đạo đức nghề nghiệp thiếu trách nhiêm như đã từng xảy ra ở một số ngân hàng. -Kiến nghị đối với NHNN Thành lập chi nhánh của Trung tâm thông tin tín dụng tại các thành phố lớn. Nâng cao chất lượng thông tin trên cơ sở thu thập thông tin trong và ngoài Ngành. Sửa đổi bổ sung quy chế hoạt động và trao đổi thông tin tín dụng trong ngành ngân hàng. Nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin tín dụng tại Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cập nhật và chính xác về khách hàng. Cần có những biện pháp tuyên truyền thích hợp để các NHTM nhận thấy rõ quyền lợi và nghĩa vụ và quyền lợi trong việc cung cấp và sử dụng thông tin tín dụng. Phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khoá đào tạo và bồi dưỡng kiến thức cập nhật để nâng cao năng lực đánh giá, đo lường, phân tích, kiểm soát rủi ro tín dụng. Tăng cường hiệu quả thanh tra kiểm soát hoạt động tín dụng tại các NHTM nhằm hạn chế, phòng ngừa rủi ro tín dụng. KẾT LUẬN Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp và Ngân hàng luôn gắn liền với rủi ro, nhất là rủi ro ttong kinh doanh tín dụng. Để có thể cạnh tranh, tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp và Ngân hàng thương mai không còn con đường nào khác là phải tìm các giải pháp vừa phát triển kinh doanh vừa phòng ngừa, hạn chế để quản lý rủi ro đến mức thấp nhất. Cùng với việc vận dụng phương pháp nghiên cứu khoa học, bám sát mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiêm cứu. Đồng thời trên cơ sở lý luận rủi ro của trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại được nghiên cứu một cách có hệ thống. Đặc biệt là rủi ro tín dụng cá nhân, những dấu hiệu, chỉ tiêu đo lường quản lý và nhân tố ảnh hưởng của nó đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại được lý giải và đi sâu phân tích một cách kỹ lưỡng. Luận văn cũng đã đánh giá, phân tích tương đối toàn diện thực trạng và những rủi ro trong hoạt động tín dụng cá nhân của Ngân hàng VPBank – chi nhánh Hà Nội qua ba năm 2003, 2004, 2005. Những kết quả đạt được và một số tồn tại trong hoạt động quản lý rủi ro tín dụng cá nhân những năm qua được phản ánh một cách rõ nét. Qua phân tích thực trạng - đặc biệt là một số vấn đề tồn tại trong quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của chi nhánh. Luận văn đã đề xuất một số giải pháp có tính đồng bộ để phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng cá nhân trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh Hà Nội – Ngân hàng VPBank cũng như kiến nghị với các NHTM, NHNN Việt Nam, kiến nghị với Chính phủ và các cấp ngành nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý rủi ro tín dụng cá nhân của Ngân hàng. Do những hạn chế về mặt thời gian, cũng như mặt nhận thức, mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng bài viết của em không tránh khỏi còn sai sót. Em rất mong nhận được sự góp ý từ Thầy, Cô về bài viết của em. Danh mục tài liệu tham khảo Giáo trình Ngân hàng thương mại – NXB Thống kê. Đánh giá và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng – TS. Nguyễn Văn Tiến – NXB Thống kê 2004. David – cox – Ngiệp vụ ngân hàng thương mại – NXB Chính trị Quốc gia 1997 F.S Miskin – Tiền tệ ngân hàng và thị trường tài chính – NXB Khoa học kỹ thuật 1990. Giáo trình lý thuyết tài chính tiền tệ – NXB Thống kê 2002. Các văn bản có liên quan về quy chế quản lý rủi ro của ngân hàng thương mại. Các văn bản của VPBank. Báo cáo thường niên của VPBank. Tạp chí Ngân hàng số 5/2004, 10/2005 Tạp chí Kinh tế phát triển quý I/2004 Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ số 8/2004 Các Website. MỤC LỤC Trang LỜI CẢM ƠN Trong suốt thời gian thực tập tốt nghiệp, cùng với sự nỗ lực, cố gắng của bản thân. Em đã nhận được sự quan tâm, nhiệt tình giúp đỡ, hướng dẫn em về lý thuyết cũng như thực hành nghiệp vụ từ thầy giáo hướng dẫn PGS. TS. Vương Trọng Nghĩa và các anh chị cán bộ phòng phục vụ khách hàng cá nhân – Ngân hàng VPBank – Chi nhánh Hà Nội. Em xin chân thành cảm ơn thầy và các anh chị đã giúp đỡ em hoàn thành bài Luận văn của mình. Sinh viên Đào Thị Thuý Nga ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc36425.doc
Tài liệu liên quan