Căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Nguyễn Thị Thu CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở CỦ CHI TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC (1954 - 1975) Chuyên ngành : Lịch sử Việt Nam Mã số : 60 22 54 LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ MINH HỒNG Thaønh phoá Hoà Chí Minh - 2009 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vừa qua đã để lại cho dân tộc ta nhiều bài học kinh nghiệm quí giá. Trong đó, bài học v

pdf112 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 5173 | Lượt tải: 2download
Tóm tắt tài liệu Căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
ề xây dựng hậu phương kháng chiến có ý nghĩa quan trọng. Như V.I. Lênin từng nói: “Muốn tiến hành chiến tranh một cách nghiêm chỉnh, phải có một hậu phương được tổ chức vững chắc”[49, tr. 90]. Trong tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, có một nội dung quan trọng là vấn đề căn cứ địa và hậu phương. Căn cứ địa là nơi đứng chân xây dựng, là nguồn cung cấp, tiếp tế, là bàn đạp tiến công của các lực lượng vũ trang cách mạng trong khởi nghĩa vũ trang. Hậu phương là chỗ dựa, là nguồn chi viện nhân lực, vật lực và cổ vũ về tinh thần cho tiền tuyến đánh giặc, là nhân tố thường xuyên quyết định thắng lợi của chiến tranh. Tiếp thu học thuyết quân sự của chủ nghĩa Mác-Lênin và kế thừa truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của cha ông ta trong lịch sử, Đảng ta luôn đặt vấn đề xây dựng hậu phương lên hàng quan trọng bậc nhất, vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, nên đã nhân lên gấp bội sức mạnh của một dân tộc nhỏ bé, kinh tế còn nghèo nàn, lạc hậu, nhưng đủ sức đánh bại kẻ thù là một cường quốc. Một trong những chìa khóa tạo nên sức mạnh của hậu phương chiến tranh Việt Nam là vấn đề xây dựng căn cứ địa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn khởi nghĩa phải có căn cứ địa, muốn kháng chiến phải có hậu phương” [28, tr. 360]. Từ thực tiễn Việt Nam – một nước đất không rộng, người không đông, nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu phải chống lại những tên đế quốc có nền công nghiệp và khoa học kỹ thuật phát triển, có tiềm lực kinh tế và quân sự to lớn, Hồ Chí Minh xác định: “thắng lợi phải đi đôi với trường kỳ, kháng chiến càng lâu dài và ác liệt, càng phải huy động cao nhất sức người, sức của của căn cứ địa, hậu phương. Vì vậy, nhất thiết phải xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh, toàn diện về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa…” [28, tr. 378]. Trên cơ sở lý luận đó, căn cứ địa đã được xây dựng và phát triển mạnh mẽ, rộng khắp toàn miền Nam, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trong cuộc chiến tranh ở miền Nam Việt Nam, miền Đông Nam Bộ là chiến trường tranh chấp chính giữa ta và địch. Nhưng có lẽ Củ Chi là nơi được địch chú ý hơn hết vì “cái vị trí đặc biệt, cái thế đứng lợi hại của Củ Chi về mặt quân sự đối với sự sống còn của chế độ Sài Gòn” [84, tr. 18]. Vì vậy, trong suốt 21 năm, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã dồn về đây những nỗ lực cao nhất để đè bẹp cuộc kháng chiến. Nhưng cuối cùng, lực lượng kháng chiến đã giành thắng lợi. Trong thắng lợi đó có vai trò to lớn của căn cứ địa Củ Chi với tư cách là hậu phương tại chỗ. Vậy, căn cứ địa Củ Chi đã được xây dựng, bảo vệ và phát huy vai trò như thế nào trong cuộc kháng chiến trên địa bàn? Đã có một số công trình nghiên cứu lịch sử quân sự nói chung và về căn cứ địa ở Củ Chi nói riêng đề cập đến vấn đề này, nhưng chưa có công trình nghiên cứu nào phản ánh được toàn diện, có hệ thống căn cứ địa ở Củ Chi trong kháng chiến chống Mỹ. Là người con của Củ Chi, đang giảng dạy Lịch Sử cho thế hệ trẻ, bản thân tôi thấy cần thiết đi sâu tìm hiểu về vấn đề này nhằm góp phần làm rõ hơn một mảng quan trọng của lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn mình đang sinh sống. Qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, kiên cường chống giặc ngoại xâm của dân tộc cho thế hệ trẻ ngày nay. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Do tầm quan trọng của vấn đề hậu phương – căn cứ địa trong chiến tranh nên đề tài này đã được sự quan tâm nghiên cứu rộng rãi của các lãnh tụ, tướng lĩnh, các cơ quan nghiên cứu khoa học, các nhà khoa học… Những tác phẩm, bài viết, luận án…đề cập đến vấn đề căn cứ địa ngày càng nhiều hơn, nội dung sâu sắc hơn. Trong các tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta”, (Nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội, 1970) và “Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta” (Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1973), Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày về căn cứ địa dưới góc độ lý luận, giải quyết một số vấn đề: Khái niệm căn cứ địa, các hình thức phát triển từ thấp đến cao của căn cứ địa, cơ sở để xây dựng và vai trò của căn cứ địa trong chiến tranh giải phóng. Sau năm 1975, do nhu cầu bảo vệ tổ quốc, đề tài căn cứ địa được tiếp tục nghiên cứu trên cả hai bình diện: lý luận, tổng kết và viết lịch sử. Về lý luận, xuất hiện nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong và ngoài quân đội, đáng chú ý là các bài của nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng: “ Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam” (Tạp chí lịch sử quân sự số 3 năm 1993) và của nhà nghiên cứu Sử học Văn Tạo: “ Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại” (Tạp chí lịch sử quân sự số 4 năm 1995). Các bài viết này tiếp tục làm rõ những vấn đề lý luận về căn cứ địa như: khái niệm, nguồn gốc, tính chất, đặc điểm …nêu bật những đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam nói chung và trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nói riêng. Về tổng kết, có một số công trình quan trọng. Tổng kết chung của cả nước có sách: “ Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975) ( Bộ quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997), sách “ Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975) (Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2005)…Bên cạnh đó có sách “ Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - Cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ” (Tổng cục hậu cần, 1986) có liên quan nhiều đến vấn đề căn cứ. Ngoài các tổng kết chung, một số căn cứ địa trên địa bàn miền Đông Nam Bộ cũng được quan tâm, nghiên cứu trong các công trình tổng kết hoặc viết lịch sử như: “Chiến khu Rừng Sác”, “Lịch sử Chiến khu Đ”,…Riêng cuốn sách “Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 – 1954)” của tác giả Hồ Sơn Đài (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1996) và luận án tiến sĩ lịch sử “ Căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975)” của Trần Thị Nhung (năm 2001) đã nghiên cứu một cách khái quát và có hệ thống về toàn bộ căn cứ địa miền Đông Nam Bộ trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đem lại những kiến thức bổ ích và những bài học về phương pháp cho việc nghiên cứu. Qua đó, có thể thấy đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm…đề cập đến một số mặt lý luận và thực tiễn của việc xây dựng căn cứ địa ở các thời kỳ và các địa phương cụ thể. Qua các nghiên cứu này, các tác giả đã lý giải về khái niệm căn cứ địa, về chức năng hoạt động, nội dung xây dựng và vai trò của căn cứ địa đối với sự nghiệp kháng chiến nói chung và kháng chiến chống Mỹ nói riêng, đưa ra một số đặc trưng của căn cứ địa ở Việt Nam, các kiến thức về một số căn cứ địa cụ thể. Riêng về Củ Chi, có một số sách, tài liệu có đề cập đến đề tài này như: Sách “Lịch sử Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định kháng chiến” (1945- 1975) (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1994); sách “ Sơ thảo lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Củ Chi ( 1930-1975)” (Ban chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi, 1985) và sách “ Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Củ Chi (1945- 2005)” (Ban chỉ huy quân sự huyện Củ Chi, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2006), sách “ Bến Dược – vùng đất lửa” của tác giả Nguyễn Văn Tào (Nhà xuất bản Văn Nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1994), sách “Củ Chi - huyện anh hùng” của tác giả Phạm Cường ( Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 2008, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi xuất bản sách “ Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của đảng bộ và nhân dân huyện Củ Chi” (Nhà xuất bản Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh)…Các công trình trên đã phán ánh khá đầy đủ, toàn diện về cuộc kháng chiến chống Mỹ của Đảng Bộ và nhân dân Củ Chi nói riêng, của quân khu Sài Gòn – Gia Định… nói chung trên địa bàn Củ Chi. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về căn cứ địa ở Củ Chi một cách toàn diện và có hệ thống. Với luận văn này, tôi sẽ tiếp tục quá trình tìm hiểu, nghiên cứu sâu hơn về căn cứ địa trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên địa bàn Củ Chi. 3. Ðối tượng và phạm vi nghiên cứu Trong luận văn này, tôi tập trung nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động chức năng của căn cứ địa ở Củ Chi trong bối cảnh cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Từ đó, rút ra những đặc điểm và đánh giá vai trò của nó đối với tiến trình chung của cuộc kháng chiến. Phạm vi thời gian nghiên cứu được tính từ sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết đến khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng. Không gian đề cập của luận văn là vùng đất Củ Chi - huyện ngoại thành của thành phố Hồ Chí Minh ngày nay. 4. Phương pháp nghiên cứu Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là lý luận về cách mạng giải phóng dân tộc và căn cứ địa để làm cơ sở nghiên cứu. Về phương pháp chuyên ngành, luận văn vận dụng phương pháp lịch sử là chủ yếu, kết hợp với phương pháp lôgic để dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và các hoạt động chức năng của căn cứ địa ở Củ Chi với tất cả những diễn biến, sự kiện điển hình một cách chân thực như nó từng có. Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp khác như: phương pháp liên ngành, tiếp xúc các nhân chứng lịch sử, phương pháp so sánh lịch sử, phương pháp tổng hợp, trên cơ sở khảo cứu các nguồn tư liệu… để nghiên cứu và trình bày luận văn. 5. Ý nghĩa và đóng góp của luận văn Trên cơ sở tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trước, luận văn góp phần dựng lại toàn bộ quá trình hình thành, phát triển và những hoạt động của căn cứ địa ở Củ Chi trong tiến trình của cuộc kháng chiến chống Mỹ dưới sự lãnh đạo của Xứ ủy Nam Bộ và Đảng bộ địa phương các cấp. Từ đó, thấy được những giá trị và kinh nghiệm mà nó để lại, bổ sung thêm vào những mảng còn trống trong nghiên cứu lịch sử Việt Nam hiện đại, đặc biệt là lịch sử địa phương; góp phần vào nghiên cứu về chiến tranh cách mạng nói chung, về căn cứ địa trong chiến tranh cách mạng nói riêng. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng giảng dạy lịch sử địa phương ở Củ Chi, giáo dục truyền thống yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Từ đó, khơi dậy ý thức giữ gìn, bảo tồn các khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi trong các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hiện nay. 6. Bố cục của luận văn - Mở đầu (7 trang). - Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương: Chương 1: Khái quát về căn cứ địa và sự tái lập căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi khi bước vào kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1960) (31 trang). Chương 2: Quá trình phát triển và hoạt động của căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi (1961 - 1975) (41trang). Chương 3: Đặc điểm, vai trò của căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975) (27 trang). - Kết luận (4 trang) - Tài liệu tham khảo (11 trang). - Phụ lục (38 trang). Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CĂN CỨ ĐỊA VÀ SỰ TÁI LẬP CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở CỦ CHI KHI BƯỚC VÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1954 – 1960) 1.1. Khái quát về căn cứ địa Từ điển bách khoa Việt Nam giải thích căn cứ địa cách mạng là “vùng được chọn để làm bàn đạp xây dựng và phát triển phong trào cách mạng rộng ra các vùng khác. Căn cứ địa cách mạng phải có khả năng tạo được những cơ sở chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội và địa lý thuận lợi cho đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Xây dựng căn cứ địa cách mạng phải bắt đầu từ xây dựng cơ sở chính trị, cơ sở vũ trang, xây dựng chính quyền cách mạng để trên cơ sở đó từng bước xây dựng kinh tế, xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển của cách mạng… Ở Việt Nam, trong cách mạng giải phóng dân tộc đã xây dựng được một số căn cứ địa cách mạng làm chỗ dựa cho cách mạng phát triển ra cả nước như các căn cứ địa Việt Bắc, Đồng Tháp Mười, U Minh…” [63, tr. 371]. Bàn về căn cứ địa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đội du kích trong lúc hoạt động đánh quân thù cần có một vài nơi đứng chân làm cơ sở. Tại nơi ấy, đội du kích tích trữ lương thực, thuốc đạn, lâu lâu về đó nghỉ ngơi, luyện tập. Nơi ấy phải có địa thế hiểm yếu che chở và quần chúng cảm tình ủng hộ. Đội du kích hoạt động phát triển nhiều thì chỗ cơ sở nhỏ đầu tiên ấy có thể trở nên căn cứ địa vững vàng, nhất là sau khi đội du kích đánh đuổi được quân giặc và thành lập chính quyền cách mạng trong địa phương. Chưa thành lập được chính quyền địa phương thì căn cứ địa khó thành lập và không thể củng cố được. Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”[71, tr. 504]. Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong tác phẩm “Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta” lý giải “căn cứ địa cách mạng là những vùng giải phóng xuất hiện trong vòng vây của địch, cách mạng dựa vào đó để tích lũy và phát triển lực lượng của mình về mọi mặt, tạo thành những trận địa vững chắc về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, lấy đó làm nơi xuất phát để mở rộng dần ra, cuối cùng tiến lên đánh bại kẻ thù lớn mạnh, giải phóng hoàn toàn đất nước. Căn cứ địa là chỗ đứng chân của cách mạng, đồng thời là chỗ dựa để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, đẩy mạnh đấu trang vũ trang cách mạng; trên ý nghĩa đó, nó cũng là hậu phương của chiến tranh cách mạng” [49, tr. 90]. Trong chiến tranh cách mạng ở nước ta, ngoài các căn cứ địa cách mạng, còn có một số vùng (xã, ấp…) chưa được giải phóng hoàn toàn, cũng có những khu vực cho du kích xã đứng chân trong các ấp đã được giải phóng. Những khu vực này được gọi là các căn cứ lõm, tức là các căn cứ ăn sâu hay nằm lọt giữa vùng tạm chiếm của địch, có khi còn được gọi là các căn cứ du kích hoặc lõm du kích [76, tr. 54]. Trong giai đoạn đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, trước hành động khủng bố, trả thù của Mỹ - Diệm, cách mạng miền Nam bị tổn thất về tổ chức và lực lượng ngày càng nặng. Quần chúng cách mạng bị kìm kẹp, khống chế gắt gao. Nhiều nơi đảng viên phải rút vào hoạt động bí mật, chuyển vùng…Một số địa phương, cán bộ, đảng viên, quần chúng cách mạng chuyển vào các căn cứ kháng chiến cũ ở rừng núi, bưng biền, tổ chức sản xuất tự túc và tự vệ. Miền rừng núi Khu 5, Tây Nam Bộ, Tây Nguyên xuất hiện các “trại bí mật”. Ở chiến khu Đ, Dương Minh Châu (miền Đông Nam Bộ) hình thành “làng chiến đấu”, “làng thoát ly”. Vùng Đồng Tháp Mười ra đời các “túi dân tản cư”. Sâu trong miệt rừng U Minh thuộc Tây Nam Bộ có các “làng rừng”. Vùng đồng bào S.Tiêng có các “làng Độc Lập”… Đó là những hình thức khác nhau, là cơ sở ban đầu hình thành các căn cứ địa trong giai đoạn đầu kháng chiến chống Mỹ [29, tr. 188]. Khi qui mô và cường độ cuộc chiến tranh tăng lên thì căn cứ địa cũng phát triển rộng khắp. Tùy theo điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình… mà căn cứ địa được xây dựng dưới nhiều hình thức. Ở miền rừng núi Đông Nam Bộ, lợi dụng địa hình có rừng rậm, hiểm trở, lực lượng cách mạng đã khôi phục 2 căn cứ địa lớn đã có từ thời kháng chiến chống Pháp là Chiến khu Đ và chiến khu Dương Minh Châu, phát triển thành căn cứ Đông Bắc và Tây Bắc Sài Gòn, thành các căn cứ chiến lược của cả Nam Bộ. Bên cạnh căn cứ vùng rừng núi, ở miền Trung và Tây Nam Bộ nước ta còn có các căn cứ từ thời kháng chiến chống Pháp như căn cứ Đồng Tháp Mười, là vùng đồng nước mênh mông vào mùa mưa hoặc dạng rừng tràm, đước ngập nước như căn cứ U Minh. Căn cứ Rừng Sác cũng là một căn cứ nổi tiếng từ thời chống Pháp. Là một vùng rừng ngập mặn, nằm ở phía Đông Nam thành phố Sài Gòn. Tại đây, hàng trăm sông rạch lớn nhỏ dọc ngang chằng chịt như mạng nhện, chia cắt Rừng Sác thành hàng nghìn đảo triều lớn nhỏ, thoắt chìm thoắt nổi theo nước thủy triều. Phủ lên Rừng Sác đủ các loại cây rừng ngập mặn, đan níu nhau tầng tầng lớp lớp. Sông rạch, đảo triều, rừng cây làm cho Rừng Sác trở thành một khu vực cực kỳ hiểm trở, lại nằm sát cạnh thành phố Sài Gòn và ôm gọn đường giao thông thủy chiến lược nối Sài Gòn ra quốc tế [41, tr. 77-78]. Ở những vùng không có địa thế hiểm yếu, lực lượng cách mạng cũng sáng tạo ra một dạng căn cứ độc đáo để bảo tồn và phát triển lực lượng, đó là căn cứ địa đạo, là “căn cứ chìm”, ngầm trong lòng đất mà tiêu biểu nhất là căn cứ địa đạo ở Củ Chi. Ngoài ra, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, các gia đình cơ sở cách mạng ở nội thành thành phố Sài Gòn trở thành nơi chứa vũ khí, nuôi giấu, trú ém cán bộ, chiến sĩ, nơi đặt chỉ huy sở của các đội biệt động, nơi tập kết lực lượng và bàn đạp tiến công vào các mục tiêu nội đô trong quá trình thực hiện Tổng công kích. Những gia đình cơ sở đó đã làm công việc của một căn cứ địa thu nhỏ, trở thành một dạng phát triển cao của “căn cứ địa lòng dân”, tạo nên một hình thức hoàn toàn mới về căn cứ địa [76, tr. 92]. Như vậy, căn cứ địa ở nước ta nói chung, ở Nam Bộ nói riêng đa dang về hình thức. Tùy điều kiện tự nhiên, xã hội, địa hình mà từng nơi, Đảng bộ các cấp đã lãnh đạo nhân dân xây dựng căn cứ địa với dạng thức phù hợp, tạo nên sự phong phú, đa dạng về các loại hình căn cứ địa ở nước ta. 1.2. Căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trước khi bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ 1.2.1. Những điều kiện xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi 1.2.1.1. Điều kiện tự nhiên và xã hội Củ chi là huyện nông nghiệp ngoại thành nằm về phía Tây- Bắc của thành phố Hồ Chí Minh. Thị trấn Củ Chi cách trung tâm thành phố 35 km theo quốc lộ 22. Củ Chi nằm trong vành đai xanh của thành phố với tổng diện tích tự nhiên là 42.856 ha. Củ Chi là vùng đất tiếp giáp của bốn tỉnh miền Đông Nam Bộ. Phía Bắc- Tây Bắc giáp huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Phía Đông - Đông Bắc giáp huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương, ngăn cách bởi con sông Sài Gòn. Phía Tây - Tây Nam giáp huyện Đức Hòa tỉnh Long An, ranh giới tự nhiên là kênh đào Thầy Cai. Phía Nam giáp huyện Hóc Môn, thành phố Hồ Chí Minh [9, tr. 10]. Với vị trí như vậy, Củ Chi là cửa ngõ Tây Bắc của thành phố Hồ Chí Minh. Trong chiến tranh, đối với địch, Củ Chi là một khu vực vành đai then chốt bảo vệ cơ quan đầu não và bộ máy chiến tranh của chúng ở Sài Gòn. Đối với lực lượng cách mạng, đây là bàn đạp tấn công vào đầu não của kẻ thù. Vì vậy, Củ Chi được cả địch và lực lượng cách mạng coi là một địa bàn chiến lược quan trọng. Do là vùng đất tiếp nối giữa đồng bằng và cao nguyên Đông Nam Bộ nên địa hình Củ Chi cơ bản là đồng bằng, rãi rác có một ít đồi chồi. Độ cao địa hình Củ Chi từ 0 đến 20 mét so với mặt nước biển, nghiêng dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam. Thổ nhưỡng của Củ Chi có thể phân ra 3 loại chủ yếu: - Vùng bưng trũng: tập trung ở các xã phía Tây Nam, phía Nam và ven sông Sài Gòn, có độ cao trung bình từ 1-2 mét, thường bị ngập úng vào những tháng cuối mùa mưa, chiếm 1/2 diện tích toàn huyện. Đây là vùng đất nông nghiệp chủ yếu sản xuất lúa và rau màu các loại. - Vùng đất triền: cao từ 5-10 mét, là vùng chuyển tiếp giữa gò và bưng trũng, chủ yếu là đất xám bazan, chiếm 1/4 tổng diện tích và được phân bố trên hầu hết các xã của huyện, trừ các vùng phía Bắc và ven sông Sài Gòn. - Vùng đất gò: độ cao từ 10 đến trên 20 mét so với mặt nước biển, thường mặt gò được trải rộng, bằng phẳng, phân bố trên khu vực các xã: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây.Vùng gò thích hợp với việc bảo dưỡng cây rừng và trồng cây công nghiệp như cao su, tre, trúc, tầm vông… Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, giá trị của đất Củ Chi còn lớn hơn nữa vì chất đất khô ráo, cứng chặt, là điều kiện quan trọng để lực lượng cách mạng có thể xây dựng những đường hầm dài hàng trăm kilômét trong lòng đất, tạo nên căn cứ địa đạo Củ Chi nổi tiếng. Củ Chi có hệ thống sông ngòi khá thuận lợi. Sông Sài Gòn là con sông lớn nhất chảy qua huyện, ôm lấy toàn bộ phía Đông với chiều dài 54 kilômét, là ranh giới tự nhiên giữa Củ Chi và Bến Cát (Bình Dương). Đây là một trong những tuyến vận tải đường thủy quan trọng của miền Đông Nam Bộ. Trước năm 1975, Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã lập ở khúc sông này một cảng sông, gọi là cảng Phú Cường (thuộc thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương). Hàng chục chiến thuyền của đơn vị giang thuyền quân đội Việt Nam cộng hòa đóng tại đây đã khống chế, kiểm soát mọi hoạt động đi lại, vận chuyển của nhân dân trên sông. Ngoài sông Sài Gòn, Củ Chi còn có nhiều sông, suối và kênh rạch lớn nhỏ. Ở phía Tây huyện có một nhánh nhỏ của sông Vàm Cỏ Đông chảy vào, nối với huyện Đức Hòa (tỉnh Long An), có suối Thai Thai (Phú Mỹ Hưng), suối Hố Bò, rạch Kè, rạch Láng The, rạch Bà Phước, rạch Sơn… Các con sông, kênh rạch này vừa là nguồn nước sinh hoạt, nước tưới tiêu nông nghiệp, vừa là những con đường thủy thuận tiện. Trong chiến tranh, các sông, kênh, rạch này là những con đường liên lạc, vận chuyển vũ khí, hậu cần quan trọng của lực lượng cách mạng. Củ Chi có mạng lưới đường bộ phong phú. Xuyên qua huyện trên dọc dài 21 kilômét từ thành phố Hồ Chí Minh ở phía Nam lên Tây Ninh ở hướng Tây Bắc là quốc lộ 1 (nay là quốc lộ 22, còn gọi là đường Xuyên Á). Đây là con đường chiến lược quan trọng trên hướng Tây Bắc miền Đông Nam Bộ nối với Campuchia. Trong chiến tranh, địch đã sử dụng con đường này để cơ động lực lượng, thường xuyên bố trí nhiều đồn bót, tháp canh, trạm kiểm soát để bảo vệ trục lộ và khống chế các hoạt động vận chuyển của lực lượng cách mạng. Đồng thời, đây là một trong những con đường độc đạo chạy qua vùng Bắc và Tây Bắc rộng lớn, nên các căn cứ cách mạng tại đây dễ dàng xác định hướng tiến công càn quét của địch để đối phó. Củ Chi còn có các tỉnh lộ như: Tỉnh lộ 8 chạy ngang qua huyện, nối tỉnh Long An với tỉnh Bình Dương; Tỉnh lộ 15 dài 34 kilômét chạy từ Hóc Môn lên Bến Súc (Bình Dương); Tỉnh lộ 7 dài 22 kilômét, nối Long An với tỉnh lộ 15; Tỉnh lộ 9 dài 6,2 kilômét…Ngoài ra, Củ Chi còn có nhiều hương lộ, nối liền các xã, ấp trong huyện. Như vậy, có thể nói hệ thống giao thông của Củ Chi rất thuận lợi, cả đường thủy lẫn đường bộ, và cũng vì vậy mà cuộc giành giật giữa lực lượng cách mạng và địch trên địa bàn, trong đó có mục đích làm chủ các tuyến đường giao thông, cũng trở nên quyết liệt hơn. Về mặt hành chính, trước năm 1954, Củ Chi bao gồm toàn bộ phần đất của tổng Long Tuy Hạ, tổng Long Tuy Trung và một phần của tổng Long Tuy Thượng, Bình Thạnh Trung thuộc quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Đến năm 1957, chính quyền Sài Gòn thành lập quận Củ Chi, trực thuộc tỉnh Bình Dương, gồm 14 xã. Năm 1963, để dễ cai trị, kiểm soát và tổ chức lại chiến trường, chính quyền Sài Gòn đã chia quận Củ Chi ra làm 2 quận: quận Củ Chi thuộc tỉnh Hậu Nghĩa mới thành lập, trụ sở quận lỵ đặt tại ngã tư quốc lộ 22 và tỉnh lộ 8 và quận Phú Hòa thuộc tỉnh Bình Dương, trụ sở quận lỵ lúc đầu đặt tại xã Phú Hòa Đông, sau dời về ngã tư Tân Qui (tỉnh lộ 8 và tỉnh lộ 15) [4, tr. 49-50]. Về phía cách mạng, sau năm 1954, Củ Chi vẫn là phần đất thuộc quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định. Cuối năm 1959, Tỉnh ủy Gia Định đã tách Hóc Môn thành hai quận: Hóc Môn và Củ Chi, thành lập hai cấp Ủy riêng. Từ đây, Quận ủy Củ Chi trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng của nhân dân trong quận. Đầu năm 1960, Trung ương Cục miền Nam quyết định sáp nhập Gia Định vào Sài Gòn – Chợ Lớn thành Khu Sài Gòn – Gia Định. Về mặt Đảng, thành Khu ủy Khu Sài Gòn – Gia Định. Tháng 10 năm 1967, để thực hiện tổng công kích – tổng khởi nghĩa, Trung ương Cục quyết định giải thể Quân khu Sài Gòn – Gia Định và Quân khu 1 tổ chức lại chiến trường miền Đông; tổ chức Sài Gòn – Gia Định thành khu trọng điểm. Khu Sài Gòn – Gia Định và một phần các tỉnh lân cận, lập thành 6 phân khu. Phân khu 1 gồm các huyện Củ Chi, Hóc Môn, Gò Vấp, Bến Cát, Dầu Tiếng (Bình Dương), Trảng Bàng (Tây Ninh). Tháng 10 năm 1968, do địa bàn Củ Chi trở nên hết sức ác liệt, Phân khu 1 chia Củ Chi thành 2 quận: Nam Chi và Bắc Chi, mỗi địa bàn có 1 Quận ủy, Quận đội riêng để tiện việc chỉ đạo hoạt động. Đến tháng 9 năm 1972, tình hình thuận lợi, ta thống nhất lại thành huyện Củ Chi như cũ. Hiện nay, Củ Chi có một thị trấn và 20 xã, gồm: Thị trấn Củ Chi và các xã: Tân An Hội, Tân Thông Hội, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Thái Mỹ, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Nhuận Đức, Phạm Văn Cội, Trung Lập Thượng, Trung Lập Hạ, An Nhơn Tây, An Phú, Phú Mỹ Hưng, Phú Hòa Đông, Tân Thạnh Tây, Tân Thạnh Đông, Trung An, Hòa Phú và Bình Mỹ. Cư dân Củ Chi biến động nhiều nhất trong khoảng thời gian chiến tranh (1945-1975), đặc biệt trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), do đây là một trong những vùng chiến sự diễn ra ác liệt nhất của miền Đông Nam Bộ. Năm 1960, dân số Củ Chi có khoảng 10 vạn người. Đầu năm 1970, tụt xuống còn khoảng 7 vạn người. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết (1973), nhân dân hy vọng, phấn khởi trở về quê cũ làm ăn, dân số tăng lên đến 13, 14 vạn người. Người Củ Chi tương đối thuần nhất về dân tộc và tôn giáo. Toàn huyện Củ Chi có 13 dân tộc sinh sống. Trong đó người Kinh chiếm 99,36% tổng số dân. Kế đến là người Hoa 0,58%, người Khơme 0,04%. Các dân tộc khác: Tày, Thái, Mường, Nùng, H’Mong, Dao, Chàm,...chiếm một tỉ lệ không đáng kể [4, tr. 43]. Tất cả các dân tộc đều sống bình đẳng, tự do, hòa hợp nhau theo đường lối chính sách chung về các dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các tín đồ theo các tôn giáo như Phật giáo, Thiên Chúa giáo… cũng không có nhiều. Đa số nhân dân không tín ngưỡng, chỉ thờ cúng ông bà, tổ tiên. Do vậy, nhà thờ, chùa chiền, thánh thất chỉ rãi rác một vài nơi. Tính chất thuần nhất của cư dân Củ Chi là một điều kiện thuận lợi để Khu uỷ Sài Gòn – Gia Định xây dựng Củ Chi thành căn cứ địa vững chắc trong kháng chiến chống xâm lược. Tuy nhiên, cái gốc để Củ Chi trở thành vùng “ Đất Thép Thành Đồng” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ vừa qua chính là lòng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm đã có từ lâu đời trên mảnh đất này. 1.2.1.2. Truyền thống yêu nước và cách mạng của nhân dân Củ Chi Tháng 2 năm 1859, thực dân Pháp đánh chiếm thành Gia Định. Nhân dân Gia Định và cả Nam Bộ không chịu khuất phục, đã đứng lên tự tổ chức các đội nghĩa quân kháng chiến chống xâm lược khắp nơi, tiêu biểu là cuộc kháng chiến của Trương Định. Sau khi thành Gia Định thất thủ, Trương Định cùng một số quan quân rút về đồn Thuận Kiều (nay thuộc phường Đông Hưng Tân, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh) để tiếp tục chống Pháp. Nhân dân Củ Chi đã góp công, góp của xây đồn Thuận Kiều, kho lương lớn nhất phục vụ cho đại đồn Chí Hòa. Trương Định mất, con trai là Trương Quyền, tiếp tục sự nghiệp của cha, cầm quân chiến đấu. Trương Quyền đã chọn vùng 18 thôn Vườn Trầu làm căn cứ kháng chiến. Nhân dân Củ Chi lại trực tiếp nuôi dưỡng, che chở cho nghĩa quân hoạt động. Trai tráng Củ Chi tham gia đội nghĩa binh, góp phần tạo nên nhiều chiến công ngay trên đất quê hương như tiến đánh đồn Rạch Tra, diệt tên trưởng đồn người Pháp… Đêm 8 tháng 2 năm 1885, nhân dân Hóc Môn nổi dậy dưới sự lãnh đạo của ông Phan Công Hớn, tiến công dinh quận Hóc Môn. Một cánh quân từ Củ Chi, gồm dân binh các xã Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An… dưới sự chỉ huy của ông Nguyễn Văn Kê, theo trục lộ 22 tiến về thị trấn, phối hợp với hai cánh quân khác từ Đức Hòa, Chợ Cầu đã chiếm gọn và đốt cháy dinh quận. Đầu thế kỷ XX, vùng đất Củ Chi có những biến đổi sâu sắc. Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã biến nhiều vùng đất của Nam Bộ nói chung và Củ Chi nói riêng thành các đồn điền cao su bạt ngàn của tư bản Pháp. Xã hội Củ Chi, ngoài nông dân và địa chủ, xuất hiện thêm tầng lớp công nhân cao su, đa số là dân phu từ đồng bằng Bắc Bộ và có một số là nông dân địa phương bị tước đoạt ruộng đất để làm đồn điền. Xuất thân như vậy nên công nhân cũng như nông dân ở Củ Chi rất gắn bó với nhau và nung nấu tinh thần yêu nước, kháng Pháp. Thời kỳ này, nhiều tư tưởng cách mạng cấp tiến của các nước Âu, Á bắt đầu du nhập vào Việt Nam, những người yêu nước Việt Nam tìm kiếm những con đường khác nhau để giải phóng dân tộc với sự ra đời và vận động của nhiều tổ chức, đảng phái chính trị yêu nước. Những phong trào có ảnh hưởng nhiều ở vùng đất Củ Chi là các phong trào “Thiên địa hội” do Phan Xích Long chủ xướng, trong những năm 1913-1916; phong trào Hội kín Nguyễn An Ninh những năm 1924-1929… Năm 1929, những hạt giống cộng sản bắt đầu đến với đất Củ Chi, đó là đồng chí Lê trọng Mân và đồng chí Bùi Văn Châu, hai đảng viên của An Nam Cộng sản Đảng. Dựa vào những thành quả từ phong trào yêu nước của Nguyễn An Ninh, hai đảng viên Mân và Châu đã nhanh chóng gây dựng được nhiều cơ sở ở các xã Bình Lý, Tân Mỹ (tức Bình Mỹ ngày nay). Sau sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam (ngày 3 tháng 2 năm 1930), thì hàng loạt Chi bộ Đảng đã ra đời trên địa bàn quận như ở các xã Bình Lý, Tân Phú Trung, An Nhơn Tây, Phú Hòa Đông… Các chi bộ này trực tiếp lãnh đạo phong trào đấu tranh của nhân dân trong quận. Tháng 8 năm 1930, nhân dân xã Hòa Phú biểu tình chống sưu cao thuế nặng. Công nhân đồn điền cao su Mây Sắc (Phú Mỹ Hưng) và đồn điền cao su Chà Vơ (An Nhơn Tây) đấu tranh chống sa thải, đòi tăng lương. Cuộc đấu tranh diễn ra khá mạnh mẽ buộc hai tên chủ đồn điền phải chấp nhận yêu sách của công nhân. Đặc biệt, tháng 10 năm 1930, khi có lời kêu gọi của Trung ương Đảng ủng hộ Xô Viết Nghệ Tĩnh, nhiều cuộc biểu tình diễn ra ở Tân Mỹ, Bình Lý, Tân Thạnh Đông, Tân Phú Trung… Đầu năm 1932, nghiệp đoàn xe ngựa Hóc Môn - Củ Chi đấu tranh phản đối sưu cao thuế nặng. Ngày 8 tháng 4 năm 1932, hơn 1.400 nông dân Hóc Môn -Củ Chi kéo về huyện lỵ Hóc Môn đấu tranh trực diện với kẻ thù để chống thuế, chống khủng bố trắng… Nhìn chung, đến năm 1935, mặc dù bị quân thù tiến hành khủng bố trắng, cơ sở Đảng và các tổ chức quần chúng ở Củ Chi có bị tổn thất nhưng cán bộ, đảng viên được quần chúng cách mạng che chở vẫn kiên trì, bám đất, bám dân gây dựng phong trào. Trong cao trào 1936-1939, vùng 18 thôn Vườn Trầu được chọn làm căn cứ địa của Trung ương Đảng. Vì vậy, phong trào diễn ra rất sôi nổi dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy Gia Định và Quận ủy Hóc Môn, hàng chục Ủy ban hành động được thành lập ở các làng xã, phân phát truyền đơn, báo ._.chí, cổ động toàn dân đấu tranh đòi triệu tập “Đại hội Đông Dương”. Tháng 11 năm 1939, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 6 tại Bà Điểm – Hóc Môn quyết định phát triển phong trào cách mạng theo phương hướng chuẩn bị những điều kiện để tiến tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc. Tháng 6 năm 1940, Nhật chiếm Đông Dương, thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng. Trước tình hình trên, Xứ ủy Nam kỳ quyết định lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa. Tháng 11 năm 1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7, nhận định tình hình chưa chín muồi để khởi nghĩa, nên chỉ thị cho Xứ ủy ngưng cuộc khởi nghĩa lại. Nhưng đồng chí Phan Đăng Lưu từ miền Bắc mang Chỉ thị không vào kịp nên đêm 22 rạng 23 tháng 11 năm 1940, cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ vẫn bùng nổ. Quận Hóc Môn là trọng điểm của cuộc khởi nghĩa, lực lượng địch ở đây có hai trung đội lính khố xanh đóng giữ. Quận ủy Hóc Môn đã huy động lực lượng nghĩa quân của 4 tổng, chia làm 4 cánh tiến đánh thị trấn Hóc Môn. Trong 4 cánh quân tham gia khởi nghĩa thì có 3 cánh mà lực lượng chủ yếu là từ các xã của Củ Chi đảm nhiệm. Khi nghĩa quân chiếm quận lỵ Hóc môn, địch kéo quân đến phản kích. Trước lực lượng địch đông và hỏa lực súng ống mạnh, nghĩa quân buộc phải rút khỏi thị trấn. Nhân dân tản về các xã, còn du kích một cánh rút về vùng Mướp Xanh, Đồng Tháp Mười, một cánh khác gồm 70 nghĩa quân và 30 khẩu súng rút về rừng Bàu Cúc, Bàu Kính (thuộc các xã Nhuận Đức và Phú Hòa Đông). Cánh quân này lưu lại 3 ngày, được nhân dân Củ Chi che giấu, tiếp tế chu đáo. Sau đó, do sự truy lùng ráo riết của lính Pháp, cánh quân tiếp tục rút về Bàu Đồn, Truông Mít (Tây Ninh). Cũng có một số du kích không rút khỏi Củ Chi mà đào hầm bí mật (hầm ếch) để ẩn nấp trong sự đùm bọc của làng xóm, gia đình. Chính từ việc đào hầm ếch mà sau này họ trở thành những người đầu tiên nẩy ra ý tưởng đào hầm bí mật và địa đạo khi bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp và những người trong cánh quân này về sau là nồng cốt xây dựng thành Giải phóng quân liên quận (Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa). Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Củ Chi có lắng xuống một thời gian, cơ sở Đảng bị tổn thất nặng nề, cán bộ đảng viên và quần chúng trung kiên lớp thì bị giết hại, lớp thì bị bắt đưa đi tù đày. Nhưng chỉ sau chưa đầy một năm, cơ sở Đảng ở Củ Chi được gây dựng lại. Đầu năm 1944, các Chi bộ mới ở các xã: Thái Mỹ, Trung Lập, Nhuận Đức…được thành lập. Đầu tháng 8 năm 1945, ở Củ Chi, Hóc Môn cũng như ở những tỉnh, thành khác của Nam Bộ, nhân dân hừng hực khí thế nổi dậy giành độc lập. Ngày 24 tháng 8 năm 1945, lực lượng Thanh niên cứu quốc và Thanh niên tiền phong, mà nòng cốt là các đảng viên và du kích trong khởi nghĩa Nam Kỳ, đã đồng loạt nổi dậy biểu tình, kéo qua các xã trong quận. Hoảng sợ trước khí thế của quần chúng, một số xã ở Củ Chi như Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập, Nhuận Đức, chính quyền tay sai bỏ chạy, lực lượng khởi nghĩa tiến vào giành lấy chính quyền. Nhân dân xã Phước Vĩnh An xông vào đồn giựt súng Nhật đem trang bị cho lực lượng ta. Tại Bến Mương (Nhuận Đức), một số chị em phụ nữ vào đồn, dùng lý lẽ thiệt hơn buộc Nhật nộp súng. Nhìn chung, các xã của Củ Chi đều giành được chính quyền trước ngày 24 tháng 8 năm 1945. 1.2.2. Quá trình xây dựng căn cứ địa cách mạng ở Củ Chi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1954) Chỉ một tháng sau ngày cả nước giành độc lập, thực dân Pháp được quân Anh hỗ trợ, đã quay trở lại xâm lược Việt Nam lần thứ hai, bắt đầu từ việc tiến chiếm Sài Gòn. Trước tình thế đó, nhiều cánh quân từ các tỉnh Nam Bộ vừa khẩn cấp thành lập đã kịp về Sài Gòn tham gia chiến đấu, bao vây quân Pháp ở Sài Gòn. Trong hơn một tháng quân Pháp bị cầm chân ở mặt trận Sài Gòn – Chợ Lớn, lực lượng kháng chiến Nam Bộ đã kịp vận chuyển được một số máy móc, tài liệu ra khỏi thành phố, rút lui về các vùng có địa thế, xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dài. Thực hiện chủ trương “lập những khu căn cứ kháng chiến ngay ở ngoại ô, phụ cận Sài Gòn”, “Không rút đi xa, cố bám đất, bám dân, làm chiến tranh du kích, làm chiến tranh nhân dân” [77, tr. 83] của Tỉnh ủy Gia Định, hàng loạt căn cứ địa đã lần lượt ra đời, tạo thành một hệ thống chiến khu bao quanh thành phố như: Chiến khu An Phú Đông, chiến khu Rừng Sác, căn cứ Vườn Thơm… Riêng ở Củ Chi, có căn cứ Bình Mỹ, căn cứ An Phú Xã và căn cứ khu 5 Hóc Môn. Căn cứ Bình Mỹ nằm ở phía Bắc thành phố, gồm ba xã Bình Lý, Tân Mỹ, Mỹ Bình (lúc bấy giờ thuộc quận Hóc Môn) là nơi đứng chân của Quận ủy, Ủy ban kháng chiến hành chánh, Ủy ban mặt trận Việt Minh và các lực lượng vũ trang quận Hóc Môn, bên cạnh đó còn có 3 đại đội giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Để bảo vệ căn cứ, nhân dân đắp ụ chiến đấu và cắm chông dọc các ngã đường dẫn vào. Trong căn cứ, bộ đội, nhân dân đào hầm hào, rào làng chiến đấu và tổ chức tuần tra canh gác ngày đêm. Nhằm ngăn chặn địch từ xa, nhân dân và du kích còn đào đường, chặt cây cao su ngăn chặn địch trên các trục lộ. Trên nhánh sông Sài Gòn, du kích đánh sập cầu Rạch Tra án ngự cửa ngõ vào căn cứ Bình Mỹ. Căn cứ Khu 5 Hóc Môn thuộc khu vực 5 xã giải phóng: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Trung Lập, Phú Hòa Đông, chạy cặp theo sông Sài Gòn bên bờ hữu ngạn. Phía Tây Bắc nối liền với căn cứ Trảng Cỏ, Bời Lời (Trảng Bàng, Tây Ninh), kéo dài lên phía Bắc nối với chiến khu Dương Minh Châu. Phía Đông tiếp giáp căn cứ liên xã An Thành, Phú An, An Điền, Thanh Tuyền, Long Nguyên, Kiến An (Bến Cát, Thủ Dầu Một). Giữ một vị trí cơ động nối liền với các căn cứ địa quan trọng, nằm ở cửa ngõ phía Tây Bắc Sài Gòn, căn cứ Khu 5 Hóc Môn trở thành một địa bàn luôn uy hiếp địch. Năm 1946 và nửa đầu năm 1947, căn cứ khu 5 Hóc Môn chỉ mới là căn cứ của các Chi đội vệ quốc quân 12, 11, Liên quân B và Liên quân 18… Nhưng từ giữa những năm 1947, do chiến khu An Phú Đông thường xuyên bị địch bao vây, tiến công, nên các cơ quan của tỉnh Gia Định như Tỉnh ủy, Ủy ban chiến đấu, Mặt trận Việt Minh, công an… đều rút về căn cứ Khu 5 Hóc Môn đứng chân hoạt động. Vì vậy, căn cứ Khu 5 Hóc Môn được xây dựng vững chắc hơn để bảo toàn cho các cơ quan, lực lượng vũ trang và nhân dân. Hình thức tổ chức phòng thủ theo kiểu xã, ấp chiến đấu với hầm chông, cạm bẫy, ụ, ổ chiến đấu, giao thông hào và địa đạo trở thành cách phòng thủ chủ yếu của căn cứ Khu 5 Hóc Môn. Dựa vào hệ thống phòng thủ này, bộ đội và dân quân sáng tạo ra những cách đánh rất phong phú. Mỗi khi xuống hầm, các chiến sĩ rút bỏ cầu thang, bên dưới miệng hầm đã bố trí sẵn các hố chông, cạm bẫy, xung quanh có tên, nỏ nằm trong các ống tre sẵn sàng bay ra, gươm, lựu đạn đã rút chốt, cây gỗ từ trên cao đập xuống… tất cả có thể làm thiệt mạng tên lính Pháp nào dám cả gan nhảy vào địa đạo. Gần miệng hầm, các ngách xung quanh được móc hàm ếch có thể ẩn thân được từng người, tránh được đạn bắn thẳng của địch, đồng thời cũng là điểm phục kích bất ngờ để tiêu dịêt địch khi chúng tiến vào. Trong địa đạo có lỗ thông hơi, có chỗ dự trữ đạn, lương thực, giếng ăn… nên từng tiểu đội du kích có thể bám trụ trong địa đạo chiến đấu nhiều ngày liên tục với kẻ địch đông hơn gấp bội. Căn cứ địa đạo không chỉ bảo vệ lực lượng tại chỗ mà còn che chở cho rất nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ của các tỉnh và miền Đông Nam Bộ khi hành quân ngang qua vùng căn cứ. Quân pháp tìm mọi cách để hủy diệt căn cứ Khu 5 Hóc Môn, chúng liên tục ráo riết tiến công, càn quét nhưng căn cứ vẫn tồn tại bất khả xâm phạm cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp. Ngoài căn cứ Khu 5 Hóc Môn, ở Củ Chi còn có các hành lang và lõm căn cứ liên xã nối liền các địa bàn của Củ Chi – Hóc Môn như Tân Mỹ - Bình Lý; Mỹ Bình – Hòa Phú – An Phú Xã; Tân Phú Trung – Phước Vĩnh An – Tân Thông Hội (vùng này có thời gian là căn cứ chỉ đạo của chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Sài Gòn – Chợ Lớn Phạm Ngọc Thạch cho đến năm 1950). Những căn cứ của Củ Chi là chỗ dựa vững chắc để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang ở địa phương. Tỉnh ủy Gia Định về đứng chân ở An Phú Đông để chỉ đạo cuộc kháng chiến trong toàn tỉnh. Quận ủy Hóc Môn kêu gọi nhân dân tự vũ trang. Một số đảng viên, du kích Nam Kỳ cũ, có từ 3 đến 5 khẩu súng cũng đứng ra tự thành lập các đơn vị bộ đội. Bộ đội Bảy Sanh, Sáu Sai, Hai Chiểu, Tô Ký, Hai Bứa, Hai Phần…đóng căn cứ ở An Phú Xã (thuộc Củ Chi). Ngày 1 tháng 11 năm 1945, Xứ ủy và Tỉnh ủy Gia Định quyết định thống nhất các đơn vị vũ trang trên vùng Tây Bắc Sài Gòn thành Giải phóng quân liên quận Hóc Môn – Bà Điểm – Đức Hòa. Từ các căn cứ ở vùng ven, bộ đội và du kích Hóc Môn liên tục đánh bại các cuộc càn quét của địch, trong đó, nổi bật nhất là trận Trung Hưng – Ràng (xã Trung Lập) ngày 17 tháng 12 năm 1946. Sau trận Trung Hưng – Ràng, du kích Củ Chi tổ chức trận đánh vào đồn Thầy Biên (xã Phú Hòa Đông), còn gọi là trận Binh La (tháng 2 năm 1947). Trận đánh được chuẩn bị rất qui mô, công phu nhưng cuối cùng không giành được thắng lợi. Tuy vậy, qua trận đánh vỡ lòng này, quân và dân Phú Hòa Đông nói riêng và Hóc Môn nói chung có thêm nhiều kinh nghiệm quý giá về xây dựng lực lượng, phát động quần chúng và vận động binh lính trong hàng ngũ địch. Năm 1947, Mặt trận Việt Minh quận được thành lập. Các tổ chức đoàn thể như hội Phụ nữ cứu quốc, Nông dân cứu quốc, Thanh niên… được củng cố, mở rộng thêm. Sự tổ chức chặt chẽ và lớn mạnh của Mặt trận và các đoàn thể là chỗ dựa quan trọng để xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, vì đây là nguồn cung cấp hậu cần và nhân lực cho tất cả các đơn vị. Thông qua sự vận động của Mặt trận và các đoàn thể, thanh niên các xã ở Củ Chi đều hăng hái gia nhập bộ đội, du kích. Cuối năm 1947, các xã ở Củ Chi đều xây dựng được đội du kích. Một số xã như Tân An Hội, Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An, Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây,… lực lượng du kích phát triển đến trung đội và được trang bị vũ khí tương đối đầy đủ [9, tr. 59]. Công tác củng cố và phát triển lực lượng mọi mặt, đặt biệt là lực lượng vũ trang đã đem lại bước phát triển mới cho cuộc kháng chiến ở Củ Chi, Hóc Môn. Lực lượng vũ trang ba thứ quân của Củ Chi đã lập nhiều thành tích trong chống càn và tiến công tiêu diệt địch. Phong trào du kích chiến tranh của Củ Chi, Hóc Môn phát triển mạnh, đặc biệt từ năm 1947, khiến quân Pháp càng ra sức tiến công, càn quét vào vùng giáp ranh Sài Gòn này. Mỗi lần hành quân, chúng đốt nhà, cướp của, hãm hiếp phụ nữ và bắn giết nhân dân vô tội. Để duy trì được cuộc chiến đấu và bảo vệ được nhân dân, đầu năm 1946 chi bộ xã Tân Phú Trung do đồng chí Võ Văn Tạo, nguyên là một chiến sĩ du kích Nam Kỳ, làm bí thư, đã phát động nhân dân toàn xã, đào hầm bí mật và xây dựng xã, ấp chiến đấu chống giặc. Hưởng ứng lời kêu gọi của Chi bộ, toàn dân xã Tân Phú Trung cả nam, phụ, lão, ấu mà nồng cốt là dân quân du kích đều tích cực tham gia đào hầm. Mỗi ngày mọi người đào từ 6 giờ tối đến 1, 2 giờ sáng. Đất mới đào lên được rãi khắp nơi trong xã để địch không xác định được chỗ nào mới đào. Trong quá trình đào, hầm bí mật được cải tạo dần. Lúc đầu hầm bí mật chỉ rộng đủ 1, 2 người nấp, sau đó, khoét dài ra 3 đến 5 mét cho nhìều người cùng ẩn nấp. Từ chỗ không có nắp (chỉ khoét hầm hàm ếch) và không có lỗ thông hơi, dần dần hầm đã có nắp trổ thẳng lên mặt đất và có lỗ thông hơi nằm trong bụi tre, bụi tầm vông hoặc ụ mối. Mọi người không chỉ đào hầm quanh nhà, quanh vườn, mà đào cả trong rừng, dưới những nơi cây cối rậm rạp, âm u. Ban đầu, các hầm chỉ đào riêng lẻ, dần dần để linh hoạt chạy tránh giặc và chiến đấu, các hầm được kéo dài nối thông với nhau, nối đến các ụ chiến đấu và giao thông hào, từ nhà này nối sang nhà khác, từ xóm này sang xóm khác. Hệ thống hầm hào, ụ chiến đấu còn được kết hợp với hầm chông, cạm bẫy tạo nên một thế trận rất lợi hại. Cùng thời gian với xã Tân Phú Trung, tại xã Phước Vĩnh An, chi bộ do đồng chí Võ Văn Tạo làm bí thư cũng vận động nhân dân đào địa đạo và xây dựng xã, ấp chiến đấu. Phong trào đào hầm bí mật, địa đạo phát triển mạnh nhất ở ấp Bà Giã (xã Phước Vĩnh An). Nhân dân thi đua đào địa đạo với ấp Cây Da (xã Tân Phú Trung) với khẩu hiệu: “đào cho nhanh, đào cho tốt, đào cho nhiều”. Giữa năm 1946, đồng chí Tô Ký, Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy, phụ trách về quân sự đã đến xem xét hệ thống đường hầm bí mật ở ấp Cây Da, xã Tân Phú Trung. Sau chuyến tham quan này, Chi bộ xã nhận được nghị quyết của Tỉnh ủy về phát triển đường hầm bí mật. Đến năm 1947, các đường hầm địa đạo được nhân dân xây dựng nối liền ấp Bàu Sim, ấp Cây Da (xã Tân Phú Trung), với ấp Bà Giã (xã Phước Vĩnh An) dài gần 500 mét. Lực lượng nhân dân và dân quân tham gia đào địa đạo có lúc tập trung đến 200 người. Nhà ông Mười Thắng (ấp Phước Lợi, xã Phước Vĩnh An) được vinh dự là điểm nối thông đường hầm đầu tiên của hai xã. Hệ thống địa đạo liên xã đã xuất hiện kể từ lúc này. Nhờ vậy, chiến tranh du kích ở hai xã có thêm thế chủ động để phát triển mạnh hơn. Hai ấp Bà Giã và Cây Da trở thành “căn cứ lõm” của Khu 5 Hóc Môn. Mặc dù quân Pháp đẩy mạnh bình định, càn quét ở miền Đông Nam Bộ trong các năm 1947, 1948, đặc biệt ở các vùng ven Sài gòn, nhưng lực lượng cách mạng vẫn làm chủ phần lớn Củ Chi, trong đó có những vùng căn cứ vẫn là bất khả xâm phạm với quân Pháp, điển hình như căn cứ Khu 5 Hóc Môn. Giữa năm 1949, thực hiện sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh về việc thành lập bộ đội địa phương và Hội nghị dân quân toàn Khu 7 về phát triển dân quân du kích và lập các làng, ấp chiến đấu, trung đội du kích tập trung của quận Hóc Môn chuyển thành trung đội bộ đội địa phương quận. Lực lượng dân quân du kích các xã tiếp tục được phát triển thêm về số lượng và tăng cường trang bị bằng vũ khí lấy được của địch và vũ khí tự tạo. Phong trào xây dựng địa đạo và xã, ấp chiến đấu lan rộng trên toàn Củ Chi, góp phần vào nhiệm vụ tiêu diệt sinh lực địch. Ngày 10 tháng 8 năm 1951, Pháp huy động 7 tiểu đoàn bộ binh Pháp và tay sai, một đại đội công binh và nhiều xe tăng từ Sài Gòn lên đánh phá vùng căn cứ địa đạo Tân Phú Trung - Tân An Hội - Phước Vĩnh An. Suốt 15 ngày đêm, 7 tiểu đoàn địch cùng xe tăng bao vây xung quanh căn cứ, bắn hàng chục ngàn quả đạn đại bác, dùng hơn 2.000 kilôgam bộc phá để phá hủy địa đạo. Bộ đội địa phương và du kích xã dưới sự chỉ huy của Đại đội trưởng Bùi Thanh Vân đã chiến đấu kiên cường, bám vào thế trận địa đạo, chiến đấu chống trả quyết liệt, tiêu diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, làm thất bại ý đồ của địch [9, tr. 80]. Sang năm 1953, diễn biến chiến trường chung của cả nước đang thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta, bộ đội địa phương Hóc Môn tổ chức thành các phân đội vũ trang tuyên truyền tỏa về các vùng du kích, vùng tạm chiếm để gây dựng cơ sở trong nhân dân, phát triển lực lượng du kích. Bộ đội Khu, Tỉnh, và bộ đội Quận phối hợp đẩy mạnh hoạt động tác chiến đánh địch càn quét, giành nhiều thắng lợi vang dội. Nhân dân tích cực hỗ trợ bộ đội, du kích diệt tề, trừ gian, bao vây đồn bót địch,… Các lõm căn cứ, căn cứ cách mạng ở Củ Chi được củng cố, làm chỗ dựa cho lực lượng vũ trang hoạt động ngày càng mạnh mẽ hơn, tạo thế và lực góp phần vào thắng lợi của chiến cuộc Đông Xuân 1953-1954 trên cả nước. Phát huy truyền thống bất khuất của 18 thôn Vườn Trầu, quân dân Củ Chi đã thể hiện tinh thần anh dũng và sáng tạo, kiên trì bám đất và bám dân xây dựng địa đạo chiến, làm nồng cốt cho cuộc chiến tranh nhân dân bám rễ vững chắc và phát triển trên mảnh đất Củ Chi. Chín năm kháng chiến gian khổ, hy sinh và thắng lợi đã để lại những cơ sở quan trọng và kinh nghiệm quý báu để lực lượng vũ trang cùng nhân dân Củ Chi tiếp tục vươn lên, trở thành một trong những địa phương đi đầu trong cuộc kháng chiến chống Mỹ những năm tiếp theo. 1.3. Củ Chi tái lập căn cứ địa cách mạng trong những năm đấu tranh giữ gìn lực lượng, tiến tới “Đồng khởi” (1954 – 1960) 1.3.1. Tình hình cách mạng miền Nam sau Hiệp định Giơnevơ và chủ trương mới về vũ trang tự vệ, xây dựng căn cứ địa Hiệp định Giơnevơ được ký ngày 21 tháng 7 năm 1954 đã công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của 3 nước Đông Dương. Theo qui định của Hiệp định, tại Việt Nam, hai bên sẽ đình chiến và tạm thời lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới phân chia khu vực kiểm soát. Sau 2 năm, Pháp sẽ rút khỏi Việt Nam và hai miền Nam – Bắc sẽ thực hiện tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Về phía ta, ngày 22 tháng 7 năm 1954, lực lượng vũ trang cách mạng Nam Bộ cùng lực lượng vũ trang cả nước thực hiện ngừng bắn theo mệnh lệnh của Bộ tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam. Tháng 9 năm 1954, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng họp, xác định nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc của ta chưa hoàn thành, cuộc đấu tranh cứu quốc không vì đình chiến mà kết thúc, mà đang tiếp tục, song về phương châm đấu tranh thì “Phải thay đổi từ đấu tranh vũ trang chuyển sang đấu tranh chính trị”, mọi “hình thức đấu tranh kịch liệt (như kiểu khởi nghĩa và chiến tranh du kích) cần phải thay đổi ngay”[77, tr. 285]. Chủ trương này của Đảng được Đảng bộ địa phương nỗ lực thực hiện trong 2 năm đầu sau Hiệp định (1954-1956). Thời kỳ này, Tỉnh ủy Gia Định đẩy mạnh phong trào quần chúng đấu tranh đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, bảo vệ hòa bình, đòi hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất đất nước, đòi các quyền dân sinh, dân chủ…mà không vũ trang. Về phía Mỹ - Diệm, ngay khi Pháp thất trận ở Điện Biên Phủ, Mỹ đã lo sợ: “Cộng sản kiểm soát toàn bộ Đông Nam Á sẽ làm cho vị trí của Mỹ ở cái mắt xích gồm các đảo ngoài khơi Thái Bình Dương trở nên mỏng manh và sẽ phá hoại nghiêm trọng lợi ích an ninh cơ bản của Mỹ ở Viễn Đông” (Tài liệu mật Bộ quốc phòng Mỹ) [106, tr. 6]. Vì vậy, Pháp không rút khỏi Việt Nam như tinh thần Hiệp định mà buộc phải chuyển giao quyền lực cho Mỹ. Ngày 23 tháng 10 năm 1955, Ngô Đình Diệm lên ghế “quốc trưởng”, sau đó tuyên bố thành lập chính phủ “Việt Nam cộng hòa”, lấy Sài Gòn làm “thủ đô”. Ngày 11 tháng 3 năm 1956, Ngô Đình Diệm “trúng cử” tổng thống Việt Nam cộng hòa trong cuộc bầu cử dân chủ do Mỹ dàn dựng. Những hành động của Mỹ - Pháp và tay sai Diệm đã đơn phương xóa bỏ tinh thần Hiệp định Giơnevơ và nguyện vọng của nhân dân Việt Nam về tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Song song với việc thâu tóm quyền lực, Mỹ - Diệm từng bước loại bỏ các đối thủ uy hiếp sự tồn tại của chính quyền mới được dựng lên ở miền Nam. Từ tháng 4 đến cuối năm 1955, Ngô Đình Diệm thanh lọc quân đội, loại bỏ những tướng lĩnh cao cấp thân Pháp ra khỏi quân đội. Đồng thời, vừa dụ dỗ, mua chuộc, vừa tiến công tiêu diệt các lực lượng vũ trang Bình Xuyên, lực lượng vũ trang giáo phái thân Pháp, Cao Đài, Hòa Hảo,… giành trọn quyền kiểm soát Sài Gòn – Chợ Lớn và nhiều vùng khác ở Nam Bộ. Đối với lực lượng cách mạng, Diệm thực hiện chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” với các khẩu hiệu phản động như: “Tiêu diệt cộng sản tận gốc”, “Thà giết lầm còn hơn bỏ sót”. Cảnh sát và quân đội Việt Nam cộng hòa đã triển khai các chiến dịch Trương Tấn Bửu (7/1956 - 2/1957), Nguyễn Trãi (4/1957 - 11/1958), Hồng Châu (7/1958)…đánh phá lực lượng cách mạng. Càn quét, vây ráp diễn ra hàng ngày, đặc biệt tại các vùng căn cứ cũ của cách mạng. Ở Củ Chi, bộ máy chính quyền tay sai từ quận đến xã được chấn chỉnh. Cảnh sát, mật vụ, dân vệ, chỉ điểm… nhan nhản trên đường phố, rình mò khắp mọi ngõ hẻm, tìm bắt đảng viên cộng sản, các cơ sở Đảng, những người yêu nước… Trong kháng chiến chống Pháp, đặc biệt trước khi bộ đội tập kết ra Bắc, chính quyền cách mạng đã cấp hàng trăm ngàn héc ta ruộng đất cho nông dân, trong đó có nông dân ngoại thành Sài Gòn – Gia Định. Nhưng từ đầu năm 1955, Diệm ban hành các dụ số 27 và 57 về “cải cách điền địa”, truất quyền sở hữu đất đai của dân chuyển về tay chính quyền và địa chủ, bắt nông dân trở lại chế độ làm khế ước, đóng địa tô. Nguy cơ bị mất hết đất đai mới được cấp khiến nông dân hết sức phẫn nộ. Nông dân ngoại thành Sài Gòn còn bị đuổi khỏi các vùng đất đang sinh sống để chính quyền Diệm xây dựng các căn cứ, sân bay, khu dinh điền để tạo vành đai an toàn cho Sài Gòn . Về quân sự, địch lập các đội bảo an quận, các tiểu đội dân vệ xã, xây dựng thêm đồn bót, nhất là dọc theo quốc lộ 1 và các tỉnh lộ 7, 8, 15. Cùng với việc giám sát từng nhà, từng người thông qua các hình thức “liên gia” và bộ máy kềm kẹp từ trung ương đến xóm, ấp, chính quyền Diệm còn tổ chức “Phong trào cách mạng quốc gia”, “Thanh niên cộng hòa”, “Phụ nữ liên đới”…để “đoàn kết quốc gia loại trừ cộng sản”. Các gia đình có người thân tập kết hoặc từng đi theo kháng chiến thường xuyên bị tập trung học tập “tố cộng”, “cải huấn”, “tẩy não”…Phụ nữ bị buộc phải ly khai chồng, con v.v…Tất cả các thủ đoạn trên đều nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân phải sợ hãi, khủng khiếp mà khuất phục. Ở tỉnh Gia Định, sau năm 1954, Tỉnh ủy thực hiện phân loại đảng viên, khiến số đảng viên còn hoạt động giảm hẳn. Sau chiến dịch Trương Tấn Bửu, trước tổn thất lớn, Tỉnh ủy chủ trương “điều lắng”. Những biện pháp đối phó có tính bị động và thúc thủ này của tỉnh không hạn chế được thiệt hại lại còn làm cho lực lượng của tỉnh bị tổn thất lớn trước sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù. Vì tuân thủ kỷ luật Đảng, một số đảng viên có súng trong người mà không dám bắn, đành chịu để địch bắt. Nhiều cán bộ, đảng viên bị bắt cóc, thủ tiêu. Tháng 4 năm 1956, tên cai tổng Cộng, ác ôn khét tiếng ở Củ Chi cho tay chân mổ bụng 16 người dân xã Phú Hòa Đông vì “tội” đấu tranh đòi thi hành Hiệp định [77, tr. 290]. Những vụ sát hại dã man như thế liên tiếp diễn ra, đã làm cho đảng viên và quần chúng sớm nhận thức được bản chất của kẻ thù và báo trước con đường tất yếu của nhân dân miền Nam là phải võ trang, chứ không thể đơn thuần đấu lý với kẻ thù được. Từ tháng 6 năm 1956, trước những hành động phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp những người cách mạng của chính quyền Mỹ - Diệm, Bộ Chính trị Trung ương Đảng ra Nghị quyết về “Tình hình nhiệm vụ cách mạng miền Nam” xác định hình thức đấu tranh phổ biến ở miền Nam trong giai đoạn này là đấu tranh chính trị, không phải đấu tranh vũ trang, nhưng chỉ rõ: “Như thế không có nghĩa không dùng võ trang tự vệ trong những hoàn cảnh nhất định”, “cần thiết phải củng cố các lực lượng vũ trang và bán vũ trang hiện có và xây dựng các căn cứ làm chỗ dựa”[77, tr. 297]. Chỉ thị cho thấy Bộ Chính trị đã sớm nhìn thấy khuynh hướng phát triển tất yếu của cách mạng miền Nam. Tuy nhiên, việc phổ biến tinh thần nghị quyết từ trên xuống tới Chi bộ là việc hết sức gay go, thậm chí Nghị quyết không đến được từng khu vực quan trọng của Nam Bộ, trong đó có Sài Gòn – Gia Định, cho nên lực lượng cách mạng đã bị hao tổn nhiều. Từ thực tiễn tổn thất to lớn của các Đảng bộ và nhân dân miền Nam, Xứ ủy Nam Bộ chỉ đạo chuyển hướng, “trong chừng mực nào đó cần phải có lực lượng tự vệ và vũ trang tuyên truyền để hổ trợ cho đấu tranh chính trị và tiến tới sau này phát triển lực lượng đó để đánh đổ ngụy quyền”[77, tr. 297]. Xứ ủy xác định: “Con đường tất yếu của cách mạng miền Nam là bạo lực, chủ trương tích cực xây dựng lực lượng vũ trang tuyên truyền, lập các đội vũ trang bí mật, xây dựng căn cứ rừng núi…” [77, tr. 298]. Nghị quyết 6 Bộ Chính trị tháng 12 năm 1956 là cái mốc đánh dấu việc chính thức tái lập lực lượng vũ trang và các căn cứ địa kháng chiến ở Nam Bộ nói chung và Củ Chi nói riêng. Ngay sau khi Hiệp định Giơnevơ có hiệu lực, bộ đội ta rút khỏi các căn cứ, tập kết ra Bắc. Vì vậy, sau tháng 7 năm 1954, các căn cứ không còn những hoạt động kháng chiến. Trong khi đó, các chiến dịch “tố cộng”, “diệt cộng” của Mỹ - Diệm đã khiến cho nhiều cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, cơ sở cách mạng… không còn sống trong dân được nữa, buộc phải rút vào các vùng căn cứ cũ thời kháng chiến chống Pháp để tránh né sự khủng bố. Ở Củ Chi, việc xây dựng căn cứ, đào hầm bí mật, địa đạo được xúc tiến, nhất là phát triển hệ thống địa đạo ở Tân Phú Trung, Phước Vĩnh An và các xã phía Bắc quận như: Phú Mỹ Hưng, An Nhơn Tây, Trung Lập…để làm nơi đứng chân của các cơ quan và chỗ dựa để các đơn vị vũ trang xây dựng lực lượng và chiến đấu chống địch khủng bố, càn quét. Từ năm 1955, một bộ phận của Tỉnh ủy Gia Định đóng cơ quan tại nhà bà Võ Thị Khâu ở ấp Ba Sòng (xã An Nhơn Tây), gồm các đồng chí: Sáu Thấm, Tám Gân, Thuần, Thả. Năm 1956, các đồng chí lãnh đạo của Liên Tỉnh ủy miền Đông như: Tư Trường, Bảy Khánh, Sáu Khiêm, Tư Hùng được bố trí ăn ở và làm việc tại nhà bà Chín Gốc, bà Tư Mài và ông Sáu Xẳng tại ấp Ba Sòng, xã An Nhơn Tây. Năm 1957, địa bàn của Liên Tỉnh ủy miền Đông được mở rộng ra khu vực quốc lộ 1 (quốc lộ 22 ngày nay). Căn cứ của Liên Tỉnh ủy được xây dựng tại ấp Đồng Lớn (nhà bà Hai Kiểu, nhà anh Tám Xu, nhà anh Út Khi), xã Trung Lập. Ở ấp Ràng (xã Trung Lập), các đồng chí lãnh đạo như: Sáu Khiêm, Trọng Tuyển, Hai Bình, Ba Cát, Tư Hùng cũng đứng chân hoạt động tại nhà anh Tư Túc, nhà bà Đen, được nhân dân che giấu, bảo vệ. Trong thời gian này, Chi bộ đã chọn ra 8 đồng chí đảng viên và đoàn viên để đào hầm gắn liền với hệ thống địa đạo: 1 hầm giành cho Văn phòng Tỉnh ủy Gia Định làm nơi cất giấu tài liệu (ở rừng nhà ông Ba Lên), 2 hầm làm nơi hội nghị của Tỉnh ủy (ở rừng phía sau nhà anh Thành). Ngoài ra, còn nhiều hầm bí mật trong nhà, trong vườn tre, trúc… như ở nhà bà Hai Mành, bà Võ Thị Khâu cũng được gấp rút xây dựng để nuôi giấu cán bộ, làm nơi chôn vũ khí. Trong rừng nhà ông Võ Văn Mãi còn có hộp thư bí mật, trực tiếp bỏ và lấy thư hàng ngày là anh Tư Bên, nguyên là Quận đội phó Quận đội Hóc Môn và đồng chí Nguyễn Văn Quyết, đảng viên Chi bộ ấp Ba Sòng. Như vậy, một số ấp của xã An Nhơn Tây, Trung Lập là nơi đứng chân đầu tiên, là chỗ dựa để Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh, từng bước xây dựng lực lượng kháng chiến, là nhân tố khởi đầu của hậu phương tại chỗ trên địa bàn Củ Chi. Nối tiếp truyền thống trong kháng chiến chống Pháp, Củ Chi sớm xuất hiện và phát triển lực lượng vũ trang tự vệ. Hầu hết mỗi xã có 2 tổ tự vệ, có nơi lên tới tiểu đội vũ trang và bán vũ trang. Đến năm 1957, các xã Phú Hòa Đông, An Nhơn Tây, Nhuận Đức, Phú Mỹ Hưng, Trung Lập …lập được các tổ du kích và tự vệ từ 3 đến 7 người, trang bị bằng những vật dụng thô sơ, hoạt động dưới danh nghĩa là các đội chống trộm cướp để bảo vệ Đảng, cán bộ, trừng trị những tên ác ôn khét tiếng chuyên rình mò, lùng bắt cán bộ, hỗ trợ quần chúng đấu tranh chống đuổi nhà, cướp đất, chống bắn pháo bừa bãi, đòi tự do đi lại, làm ăn. Nhờ có các đội vũ trang và bán vũ trang này, một số cơ sở Đảng được an toàn, vai trò lãnh đạo của Đảng vẫn xuyên suốt từ trên xuống tới xã, ấp. Như vậy, việc tổ chức lực lượng vũ trang và khôi phục lại các căn cứ cũ thời kháng chiến chống Pháp đã có tác dụng hạn chế một phần sự khủng bố của địch, chuẩn bị điều kiện để tiến lên kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang. Hoạt động diệt ác, ngăn chặn khủng bố của địch được đẩy mạnh,… đã làm cho tình hình an ninh của địch ngày càng bất ổn. Tuy nhiên, cho tới thời gian này, hoạt động vũ trang mới được nhen nhóm nên chưa rộng khắp, ta chưa có cơ sở vững chắc và điều kiện để đẩy mạnh phong trào đấu tranh vũ trang để thực sự hỗ trợ cho đấu tranh chính trị của quần chúng diễn ra sôi động và liên tục. 1.3.2. Phong trào “Đồng khởi” và sự hình thành khu căn cứ cách mạng ở Củ Chi Tháng 4 năm 1959, “Quốc hội” của Diệm thông qua Luật 10/59 (ban hành ngày 6 tháng 5 năm 1959) về thành lập các “Tòa án quân sự đặc biệt”. Theo luật 10/59, tội chỉ xử có 2 mức: tử hình và khổ sai chung thân. Ở Củ Chi, máy chém của Diệm đặt giữa các chợ Trung Hòa, Tân An Hội với lời đe dọa: “Ai liên quan đến cộng sản sẽ mất đầu”. Cán bộ, đảng viên và quần chúng cách mạng bị tổn thất lớn lao chưa từng có. Cho đến năm 1959, ở Củ Chi đã có 500 người bị moi gan, mổ bụng, 600 người bị dồn vào bao bố cột đá dìm xuống sông, 150 người bị buộc vào sau xe ô tô kéo trên đường đá…Toàn bộ số cán bộ ở Củ Chi bị bắt, bị giết lên đến 75% [76, tr. 310]. Từ thực tế tổn thất này, ta có thể thấy rằng: “Do khuyết điểm bọc lộ lực luợng trong cao trào đấu tranh chính trị, khi địch đã lộ mặt phát xít, ta không kịp chuyển hướng tổ chức và lâm vào thế bị động” [77, tr. 311]. Tháng 11 và 12 năm 1959, Trung ương Cục họp bàn thực hiện Nghị quyết 15, quyết định đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh vũ trang hỗ trợ đấu tranh chính trị nhằm chuyển thế cách mạng đồng loạt trên nhiều xã, ấp ở Nam Bộ. Cuối năm 1959, Xứ ủy đã cử đồng chí Võ Văn Kiệt và cả một tập thể cán bộ Đảng bổ sung về thành phố, với trách nhiệm quan trọng nhất lúc này là nhanh chóng khôi phục lại lực lượng cách mạng ở thành phố. Theo đề nghị của đồng chí Võ Văn Kiệt, Xứ ủy chấp thuận giải thể Khu Sài Gòn – Chợ Lớn và tỉnh Gia Định, lập thành Khu Sài Gòn – Gia Định, tạo thế liên hoàn nông thôn - đô thị. Địa bàn một số quận, huyện cũng được tổ chức lại. Trong đó, quận Hóc Môn được chia thành 2 quận Hóc Môn và Củ Chi. Cơ quan lãnh đạo và chỉ huy Khu Sài Gòn – Gia Định đứng chân tại vùng Hố Bò, xã Phú Mỹ Hưng. Do nằm sát nách Sài Gòn nên căn cứ của Khu ủy, Quân khu Sài Gòn – Gia Định được xây dựng thành căn cứ địa đạo. Hình thức căn cứ địa đạo này đã xuất hiện ở Củ Chi từ những năm 1947, 1948 trong kháng chiến chống Pháp, nhưng chỉ mới gồm một số đoạn ngắn, nay được xây dựng qui mô hơn, khoa học hơn, tạo thành một hệ thống liên hoàn giữa các xã, đủ sức chứa hàng ngàn con người làm việc, sinh hoạt và chiến đấu. Từ căn cứ này, các cán bộ, đảng viên bung ra đi gây dựng, khôi phục lại cơ sở, phát triển lực lượng chính trị. Tháng 10 năm 1959, các cấp ủy cơ sở đã sinh hoạt, tập hợp các chiến sĩ, đảng viên, đoàn viên đủ để thành lập một tiểu đội vũ trang. Vì quân số có 13 người nên lấy số hiệu 13 để đặt tên. Tháng 12 năm 1959, Khu ủy Sài Gòn – Gia Định thành lập trung đội vũ trang đầu tiên của Khu tại Củ Chi. Để ch._. vạn thế soi chung…”[38, tr. 90]. Di tích lịch sử địa đạo Củ Chi mãi mãi là niềm tự hào của cả nước và của quê hương Củ Chi “ Đất Thép Thành Đồng”. Vì thế, mỗi người chúng ta cần phải có ý thức “ tôn tạo, bảo vệ, giữ gìn tốt để đồng bào và chiến sĩ cả nước, nhất là thế hệ trẻ và khách nước ngoài đến tham quan, nghiên cứu, học tập; giúp cho mọi người hiểu thêm về sức mạnh thần kỳ của con người Việt Nam, những người đã góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại 30-4-1975 và hiện đang vững vàng đi tới thực hiện mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh” [38, tr. 156]. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Võ Ngọc An (1994), Nghệ thuật đào địa đạo, tài liệu của nhà truyền thống huyện Củ Chi. 2. Ấn định khẩu phần gạo cấp cho công nhân đồn điền để hạn chế lúa gạo tiếp tế ra vùng Cộng sản năm 1968-1969, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 16553. 3. Bài học xây dựng hậu phương tại chỗ và tổ chức bố trí hậu cần chiến trường, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 1827. 4. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi (1995), Củ Chi 20 năm xây dựng và phát triển (30-4- 1975 – 30-4-1995), Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh. 5. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi (1985), Sơ thảo lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân huyện Củ Chi. 6. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Củ Chi (2008), Lịch sử truyền thống đấu tranh cách mạng của Đảng bộ và nhân dân Huyện Củ Chi (1930-1975), Nxb Tổng Hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 7. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (2000), Chiến tranh cách mạng Việt Nam 1945 – 1975- thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Ban chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ chính trị (1995), Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước: thắng lợi và bài học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 9. Ban chỉ huy quân sự huyện Củ Chi (2006), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân huyện Củ Chi 1945 – 2005, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 10. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh (1981), 50 năm đấu tranh kiên cường của Đảng bộ và nhân dân Thành phố, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 11. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng – Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (1995), Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 1968 ở Sài Gòn – Gia Định, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 12. Ban quản lý di tích lịch sử văn hóa huyện Củ Chi (2008), Lý lịch di tích Khu căn cứ Tỉnh ủy Gia Định thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược (1945- 1960). 13. Ban thường vụ huyện ủy Củ Chi (1995), Một số trận đánh tiêu biểu trên quê hương Củ Chi đất thép anh hùng. 14. Ban tổng kết chiến tranh B2, Đề cương tỉ mỉ báo cáo tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trên chiến trường Nam Bộ và Cực Nam Trung Bộ (B2), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 15351/1. 15. Ban tuyên giáo Huyện ủy Củ Chi (2001), Củ Chi ký sự. 16. Báo cáo tình hình xây dựng, phát triển và nâng chất các lực lượng vũ trang địa phương năm 1972 của huyện Củ Chi, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 4943. 17. Báo cáo tình hình một số mặt của một số đơn vị tại Phân khu I, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 7232. 18. Báo cáo tổng kết cuộc càn của quân đoàn 3 vào chiến trường Củ Chi (từ 1/2 đến 11/2/1974), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 1026. 19. Báo cáo trận chống càn với 8.000 quân Mỹ ở quận Củ Chi (Gia Định) (từ ngày 8-1 đến ngày 31-1 năm 1966), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 2258. 20. Báo cáo tình hình cơ bản của huyện Củ Chi, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 19656. 21. Báo cáo 1 tháng huấn luyện thí điểm ở Củ Chi (thuộc Quân khu IV)(Qua 1 lớp của Huyện cho cán bộ cơ sở và 1 lớp cho du kích xã Phú Mỹ Hưng 11/1972), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 4925. 22. Báo cáo với Miền tình hình của ta cho đến ngày 29/4/1975 ở Củ Chi, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 4717/2. 23. Bảo tàng cách mạng thành phố Hồ Chí Minh (1998), Di tích lịch sử văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Trẻ. 24. Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hồ Chí Minh (1995), Trung đoàn Gia Định, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 25. Bộ nội vụ - Công an thành phố Hồ Chí Minh (1997), Lịch sử Công an nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 26. Bộ ngoại giao – Trung tâm báo chí nước ngoài (2001), Việt Nam cuộc chiến không quên, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 27. Bộ quốc phòng – Quân khu 7 (2004), Lịch sử Bộ chỉ huy Miền (1961-1976), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 28. Bộ quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2002), Tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 29. Bộ quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1997), Hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam (1945 – 1975), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 30. Bộ tư lệnh Quân khu 7, Lịch sử hậu cần Quân khu 7 (1945- 2000) (2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 31. Vũ Tang Bồng, Đảm bảo vũ khí, trang bị - Một thành công chiến lược của Đảng ta trong 30 năm kháng chiến, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 2, tháng 3 và 4 năm 1999. 32. Vũ Tang Bồng, Công tác hậu cần của Biệt động Sài Gòn, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 1993. 33. Các cuộc hành quân đánh phá các hệ thống địa đạo, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 7699. 34. Chỉ thị số 06/CT.74 – Ra sức đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giữ vững trật tự trị an, xây dựng cuộc sống mới lành mạnh trong nhân dân, bộ đội, cán bộ và nhân viên các cấp, góp phần tích cực vào việc xây dựng vùng giải phóng, bảo đảm căn cứ, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 8991. 35. Con đường chiến thắng, (Bài học về phong trào chiến tranh du kích ở Củ Chi), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL4950. 36. Công an huyện Củ Chi (2001), Sơ thảo lịch sử truyền thống Ban an ninh quận Củ Chi Thành phố Sài Gòn – Gia Định (1961-1975) . 37. Phạm Cường (1980), Củ Chi – huyện anh hùng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 38. Trần Đình Dũng (1996), Địa đạo Củ Chi trong lòng dân tộc và khách quý năm châu, Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi xuất bản. 39. Trần Đình Dũng (1997), Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược – Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, Khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi xuất bản. 40. Hồ Sơn Đài (1990), Miền đông chiến công, Nxb Đồng Nai. 41. Hồ Sơn Đài (1996), Chiến khu ở miền Đông Nam Bộ (1945 – 1954), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 42. Hồ Sơn Đài (1997), Lịch sử Chiến khu Đ, Nxb Đồng Nai. 43. Đảng ủy – Bộ chỉ huy quân sự Thành phố Hồ Chí Minh (1998), Lịch sử lực lượng võ trang Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 44. Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 7 (1995), 50 năm lực lượng vũ trang Quân khu 7, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 45. Trần Bạch Đằng, Vài suy nghĩ về hậu phương chiến tranh nhân dân Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3, năm 1993. 46. Đề án thương nghiệp căn cứ địa, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 3741/1. 47. Địa đạo chiến Huyện Củ Chi, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 11776/1. 48. Đại tướng Võ Nguyên Giáp với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (2000), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 49. Võ Nguyên Giáp (1970), Mấy vấn đề về đường lối quân sự của Đảng ta, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 50. Võ Nguyên Giáp (1973), Đường lối quân sự của Đảng là ngọn cờ trăm trận trăm thắng của chiến tranh nhân dân ở nước ta, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 51. Võ Nguyên Giáp (1959), Chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 52. Trần Văn Giàu , Trần Bạch Đằng ( 1998), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh, tập I, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 53. Trần Văn Giàu (1978), Miền Nam giữ vững thành đồng, tập V, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 54. Trần Văn Giàu (2006), Tổng tập, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 55. Giới thiệu thành tích xây dựng Công trường nhân dân xã Phú Mỹ Hưng quận Củ Chi tỉnh Gia Định, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 4927. 56. Vũ Quang Hiển (2001), Đảng lãnh đạo xây dựng căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ (1946 – 1954), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 57. Trần Thị Thu Hương (2003), Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến lược của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 58. Lê Trung Hoa (1991), Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 59. Trương Lợi Hoa (1998), Cuộc chiến tranh chống Mỹ của Việt Nam (người dịch: Lê Thanh Dũng), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 60. Hoạt động kinh tài của Việt Cộng bằng hình thức thu các loại thuế trên lãnh thổ Việt Nam cộng hòa năm 1964-1966, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 15641. 61. Học viện Quốc phòng – Viện lịch sử quân sự Việt Nam (2003), Đại thắng mùa xuân 1975 – nguyên nhân và bài học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 62. Học viện quân sự cao cấp – Ban tổng kết kinh nghiệm chiến tranh (1980), Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 1954 -1975 – Những sự kiện quân sự, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 63. Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1994), Từ điển bách khoa Việt Nam, tập 1, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội. 64. Hà Minh Hồng (2000), Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (giai đoạn 1969-1972), Nxb Quân đội nhân dân. 65. Lâm Quang Huyên (1997), Cách mạng ruộng đất ở miền Nam Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 66. John Penycate và Tom Mangold (1988), Hầm Củ Chi – Câu chuyện khó tin về cuộc chiến tranh trong lòng đất ở Việt Nam (người dịch: Ngô Dư), Nxb Văn Nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh. 67. Kế hoạch bình định cấp tốc của địch khu vực dọc trục lộ số 1 vùng Củ Chi và Trảng Bàng, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 7311. 68. Dương Đình Lập (2004), Căn cứ địa trong phong trào Cần Vương chống Pháp (1885 – 1896), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 69. Phạm Ngọc Liên (2005), Hậu phương lớn, tiền tuyến lớn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội. 70. Thăng Long (1997), Đồng đô la trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. 71. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 72. Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Văn Tiến Dũng, Song Hào (1966), Bàn về chiến tranh nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 73. Nghệ thuật tổ chức thế trận chiến tranh nhân dân trên Vành đai diệt Mỹ - Củ Chi, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 21403. 74. Nguyễn Nhâm, Hồ Chí Minh với vấn đề xây dựng hậu phương, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 5, tháng 9 và 10 năm 1998, tr.14-18. 75. Trần Thị Nhung, Tìm hiểu về địa đạo ở miền Đông Nam Bộ trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 2, tháng 3 và 4 năm 1999, tr.23- 26. 76. Trần Thị Nhung (2001), Căn cứ địa ở miền Đông Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ (1954 – 1975), Luận án tiến sĩ lịch sử, Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh. 77. Trần Hải Phụng, Lưu Phương Thanh (1994), Lịch sử Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định kháng chiến (1945 – 1975), Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 78. Phòng Chính trị - Bộ chỉ huy quân sự thành phố Hồ Chí Minh (1985), Bước đường quyết thắng của lực lượng vũ trang nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 79. Quân Khu 7 (2002), Những trận đánh của lực lượng võ trang Quận khu 7, tập II (1954- 1968), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 80. Robert S. McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ: Tấm thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 81. Hoàng Quốc Sử, Vài nét về chiến tranh hóa học của Mỹ ở Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3 năm 1993, tr.42-43. 82. Nguyễn Viết Tá (1990), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945 -1975), tập I, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 83. Nguyễn Viết Tá (1993), Miền Đông Nam Bộ kháng chiến (1945 -1975), tập II, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 84. Nguyễn Văn Tào (1994), Bến Dược – Vùng đất lửa, Nxb Văn Nghệ, thành phố Hồ Chí Minh. 85. Văn Tạo, Căn cứ địa cách mạng – truyền thống và hiện tại, Tạp chí lịch sử quân sự, số 4, tháng 7 và 8 năm 1995. 86. Võ Tấn Tạo, Võ Văn Sổ, Võ Ngọc An, Địa đạo Tân Phú Trung và Phước Vĩnh An – Cái nôi của địa đạo Củ Chi, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 87. Tài liệu của Võ Phòng, Bộ nội vụ về kết quả kế hoạch phong tỏa các khu rừng để chặn đứng sự tiếp tế cho phiến cộng của các tỉnh miền Đông Nam phần năm 1964-1965, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 15321. 88. Tài liệu của Phòng Nhì về trận liệt Khu ủy Việt Cộng Sài Gòn – Gia Định (không rõ thời gian), Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 18611. 89. Nguyễn Đình Thanh (1997), Di tích địa đạo Củ Chi, Luận văn Thạc sĩ khoa học Văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội. 90. Hồ Sĩ Thành (2001), Địa đạo Củ Chi – 100 câu hỏi đáp, Nxb Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh. 91. Hồ Sĩ Thành, Nhìn lại 10 bài học về chiến tranh nhân dân ở Củ Chi, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3, năm 1993. 92. Hoàng Minh Thảo (1995), Nghệ thuật quân sự Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước và bảo vệ tổ quốc, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội. 93. Lê Song Toàn (2003), Căn cứ địa kháng chiến chống thực dân Pháp ở miền Trung và Tây Nam Bộ (1945 – 1954), Luận án tiến sĩ lịch sử, Viện Khoa học xã hội thành phố Hồ Chí Minh. 94. Lê Toàn, Một số đơn vị quân đội Mỹ tham gia chiến tranh ở Việt Nam, Tạp chí Lịch sử quân sự, số 3, năm 1993. 95. Thông báo của quân giải phóng quân khu Sài Gòn về “tình hình, âm mưu, thủ đoạn chiến tranh gián điệp, chiến tranh tâm lý của địch và những sơ hở, mất cảnh giác của ta” năm 1967, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 16066. 96. Tổ Sử Phụ nữ Nam Bộ (1989), Truyền thống cách mạng của Phụ nữ Nam Bộ thành đồng, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh. 97. Tóm tắt của Đại tướng Hoàng Văn Thái về những bài học kinh nghiệm của huyện Củ Chi trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 5422. 98. Tổng cục hậu cần (1986), Tổng kết công tác hậu cần chiến trường Nam Bộ - Cực Nam Trung Bộ (B2) trong kháng chiến chống Mỹ. 99. Tổng kết kinh nghiệm vành đai diệt Mỹ tại căn cứ hành quân Bắc Hà Củ Chi (trong 33 ngày từ 24-4 đến 25-2-1966), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 4945. 100. Tổng kết tình hình chống phá A.C.L ở chiến trường T4 (phần nông thôn ngoại thành), Tài liệu từ cuối năm 1961 đến 04/ 1963, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 15397/1. 101. Tội ác Mỹ - ngụy ở miền Đông Nam Bộ (tư liệu), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 15423. 102. Trận đánh vào ấp chiến lược Trung Hòa(24-25/4/1972), Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 9839. 103. Vành đai diệt Mỹ, Phòng khoa học công nghệ môi trường Quân khu 7, số TL 9849. 104. Về những biện pháp cần được áp dụng đối với những phần tử trong tổ chức hậu cần và kinh tài cộng sản năm 1971, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 17239. 105. Về kế hoạch phong tỏa kinh tế Việt Cộng và kiểm soát tài nguyên quốc gia năm 1964, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 14944. 106. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1990), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), tập I, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 107. Viện lịch sử quân sự Việt Nam (1991), Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 – 1975), tập II, Nxb Sự Thật, Hà Nội. 108. Viện lịch sử Đảng (1985), Những sự kiện lịch sử Đảng, tập III, Nxb Thông tin lý luận, Hà Nội. 109. Viện nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995), Lịch sử Đảng cộng sản Việt Nam, tập II, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 110. Viện Sử học (1995), Thắng lợi kháng chiến chống Mỹ và 20 năm xây dựng đất nước sau chiến tranh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. 111. Việt Cộng thành lập Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam năm 1967-1969, Trung tâm lưu trữ Quốc Gia II, phông Phủ thủ tướng, hồ sơ số 16677. PHỤ LỤC - Sơ đồ hành chánh huyện Củ Chi. - Sơ đồ hệ thống địa đạo huyện Củ Chi. PHỤ LỤC 1: Lãnh đạo huyện Củ Chi qua các thời kỳ (1959 – 1975). PHỤ LỤC 2: Danh sách đơn vị, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Củ Chi. Danh sách anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân quê ở Củ Chi. PHỤ LỤC 3: Các ảnh tư liệu (Sao chụp lại từ “Tập ảnh tư liệu Củ Chi 1960 – 1975” của tác giả Dương Thanh Phong). PHỤ LỤC 1: LÃNH ĐẠO HUYỆN CỦ CHI QUA CÁC THỜI KỲ (1959-1975) I. CÁC ĐỒNG CHÍ CÁN BỘ HUYỆN ỦY (1959-1964) 1. Các đồng chí Bí thư Huyện ủy đầu tiên: - Đồng chí Huỳnh Văn Rành (Ba Rành – Ba Nam, còn gọi Trường). - Đồng chí Lê Văn Xược (Tư Đuông). - Đồng chí Huỳnh Thanh Châu (Minh Tân). - Đồng chí Lê Văn Hiền (Bảy Tấc). - Đồng chí Trần Vạn An (Một Sơn). - Đồng chí Nguyễn Văn Tỷ (bí danh Hà Minh Nam). 2. Các đồng chí Phó Bí thư, Ủy viên Thường vụ: - Đồng chí Nguyễn Văn Luân (Ba Luân), Phó Bí thư. - Đồng chí Tám Quét (Quẹt-Châu), Ủy viên Thường vụ, Quận đội trưởng. - Đồng chí Nguyễn Văn Rô (Ba Rô), Ủy viên Thường vụ. - Đồng chí Võ Thành Ưng (Bảy Thành), Ủy viên Thường vụ. - Đồng chí Huỳnh Thị Phước, (Út Phước, Mười Phước), Ủy viên Thường vụ, Quận đội trưởng (1960-1961). - Đồng chí Nguyễn Văn Thanh (Mười Lan), Ủy viên Thường vụ, Quận đội trưởng (1961-1962). - Đồng chí Nguyễn Xuân Trường (Hai Nhơn), Ủy viên Thường vụ, Quận đội trưởng (1963- 1964). 3. Các đồng chí Huyện ủy viên: - Đồng chí Trần Thị Đang (Năm Đang). - Đồng chí Võ Thị Bằng (Hai Sót). - Đồng chí Bùi Quang Hảo (Hai Mỏ) (sau là Phó Bí thư thay Ba luân). - Đồng chí Ba Đại. - Đồng chí Nguyễn Văn Hoàng (Hai Hoàng), xã Thái Mỹ sau về làm Bí thư Phú Nhuận. II. CÁC ĐỒNG CHÍ CÁN BỘ HUYỆN ỦY (1965-1967) - Đồng chí Nguyễn Văn Tỷ (bí danh Hà Minh Nam), Bí thư. - Đồng chí Trần Vạn An (Một Sơn), Phó Bí thư năm 1967, hy sinh năm 1969. - Đồng chí Nguyễn Văn Luân (Ba Luân), Ủy viên Thường vụ, phụ trách Tuyên huấn. - Đồng chí Bùi Quang Hảo (Hai Mỏ), Ủy viên Thường vụ, phụ trách Công an. - Đồng chí Võ Thị Bằng (Hai Sót), Ủy viên Thường vụ, phụ trách Phụ nữ. - Đồng chí Nguyễn Văn Tước (Sáu Tước), Ủy viên Thường vụ. - Đồng chí Nguyễn Văn Định (Ba Định), Huyện ủy viên. III. CÁC ĐỒNG CHÍ CÁN BỘ HUYỆN ỦY (1968-1972)  Năm 1968 - 1972, huyện Củ Chi chia ra thành Nam Chi và Bắc Chi, lãnh đạo Huyện ủy gồm các đồng chí: 1. Cấp ủy Nam Chi: - Đồng chí Trần Văn Mà (Năm Dương), Phân Khu ủy viên, Bí thư. - Đồng chí Võ Thị Bằng (Hai Sót), Phó Bí thư. - Đồng chí Sáu Thanh, phụ trách Nông hội (sau giải phóng về công tác tại Hội nông dân Thành phố). - Đồng chí Lâm Văn Lá (Út Lá). - Đồng chí Nguyễn Văn Đường (Sáu Đường). - Đồng chí Trần Văn Phương (Ba Phương), phụ trách Thanh niên. - Đồng chí Đỗ Văn Rẻ (Năm E), Ủy viên Thường vụ - Huyện đội trưởng. - Đồng chí Ba Cà, Ủy viên Thường vụ (hy sinh). - Đồng chí Nguyễn Văn Định (Ba Định), Ủy viên Thường vụ (bị giặc bắt). - Đồng chí Trần Văn Dương (Năm Dương): Đêm 3 rạng sáng ngày 4 tháng 9 năm 1969 bị địch phục kích hy sinh. Đồng chí Nguyễn Văn Luân làm Bí thư thay đồng chí Nguyễn Văn Dương. - Đồng chí Võ Thị Bằng (Hai Sót): tháng 5/1975 là Phó Bí thư Quận Gò Vấp. - Đồng chí Nguyễn Văn Tước (Sáu Tước), Ủy viên Thường vụ.  Sau khi thành lập Nam Chi khoảng 5 tháng thì bổ sung đồng chí Nguyễn Văn Thắng (Năm Thắng) vào Thường vụ (thay cho đồng chí Đỗ Văn Rẻ (Năm E) đã hy sinh và sau đó là Bí thư huyện ủy, Huyện đội trưởng. - Đồng chí Phạm Văn Cạng (Tám Cạng), Huyện ủy viên, Huyện đội phó. - Đồng chí Lâm Văn Lá (Út Lá), Huyện ủy viên, phụ trách An ninh. - Đồng chí Lê Thị Vân (tự Suông), Huyện ủy viên, phụ trách Phụ nữ. - Đồng chí Phạm Tấn Thành (Hai Thành), Ủy viên Thường vụ, Huyện đội trưởng Nam Chi. (Lúc đồng chí Năm Thắng làm Bí thư Nam Chi thì đồng chí Hai Thành thay làm Huyện đội trưởng). 2 Cấp ủy Bắc Chi: a) Năm 1968 - Đồng chí Bùi Quang Hảo (Hai Mõ), Bí thư. - Đồng chí Nguyễn Văn Rô (Ba Rô), Phó Bí thư. - Đồng chí Đoàn Tâm (Út Tâm), Huyện ủy viên. - Đồng chí Nguyễn Văn Thiểu (Hai Cấp), Huyện ủy viên. - Đồng chí Nguyễn Văn Rống (Năm Sang), Huyện ủy viên. b) Năm 1969 - 1972 - Đồng chí Nguyễn Văn Hoàng (Hai Hoàng), Bí thư (sau khi đồng chí Hai Mõ chuyển công tác khác). - Đồng chí Nguyễn Văn Tứ (Ba Tứ), Bí thư (sau đồng chí Hai Hoàng). - Đồng chí Lê Văn Hớn (Lê Văn Gương - Tư Gương), Phụ trách Thanh niên. - Đồng chí Tư Thanh, Trưởng ban Binh vận. - Đồng chí Nguyễn Văn Khoáng (Đoàn Văn Lự - Ba Lự) Trưởng Binh vận, Trưởng Tuyên huấn, Huyện ủy viên. - Đồng chí Chín Khánh, Ủy viên Quân sự, Huyện đội phó. - Đồng chí Trần Văn Thuần (Năm Thuần), Huyện ủy viên, Huyện đội phó. - Đồng chí Hai Quan, Huyện Ủy viên. - Đồng chí Tăng Thành Cao ( Ba Cao), Huyện ủy viên. - Đồng chí Lê Văn Thế (Tám Thế), Phó Bí thư, Huyện đội trưởng  Khi đồng chí Tám Thế hy sinh, đồng chí Năm Thuần là Huyện đội trưởng. - Đồng chí Huỳnh Thị Phước (Út Phước), Huyện Ủy viên Bắc Chi. - Đồng chí Sáu Tiến, Thư ký Nông hội huyện. - Đồng chí Chín Khánh, Huyện đội phó, Phụ trách Quân báo. - Đồng chí Nguyễn Trung (Tám Nhiệm), Huyện ủy viên. - Đồng chí Phùng Văn Phú (Tư Phú- Tư Bò Cất), Huyện ủy viên. - Đồng chí Lê Văn Hải (Sáu Đáp), Huyện ủy viên. - Đồng chí Nguyễn Xuân Trường (Hai Nhơn), Huyện ủy viên. - Đồng chí Nguyễn Văn Thung (Bảy Thung), Huyện ủy viên. - Đổng chí Võ Văn Cuội (Tư Cuội), Huyện ủy viên. - Đồng chí Trần Văn Hái (Tư Hái), Huyện ủy viên. IV. CÁC ĐỒNG CHÍ CÁN BỘ HUYỆN ỦY (1973-1975) Sau Hiệp định Paris 27/1/1973, sáp nhập Nam Chi, Bắc Chi lại thành huyện Củ Chi, lãnh đạo Huyện ủy gồm các đồng chí: - Đồng chí Nguyễn Văn Luân, (Ba Luân), Bí thư. - Đồng chí Nguyễn Văn Thắng (Năm Thắng), Phó Bí thư, phụ trách Quân sự. - Đồng chí Nguyễn Văn Rô (Ba Rô), Phó Bí thư, phụ trách Công an. - Đồng chí Nguyễn Năn Bụi (Sáu Bụi), Huyện ủy viên. - Đồng chí Nguyễn Văn Định (Ba Định), Huyện ủy viên. - Đồng chí Lê Văn Đỗ (Hai Đỗ) Huyện ủy viên. - Đồng chí Tăng Thành Cao (Ba Cao), Huyện ủy viên. - Đồng chí Trần Văn Thuần (Năm Thuần), Huyện ủy viên. V . CÁC ĐỒNG CHÍ CÁN BỘ HUYỆN ĐỘI CỦ CHI - Đồng chí Huỳnh Thị Phước (Mười Phước), Quận đội trưởng (1960- 1961). - Đồng chí Nguyễn Văn Thanh (Mười Lan), Quận đội trưởng (1961- 1962). - Đồng chí Nguyễn Xuân Trường (Hai Nhơn), Quận đội trưởng (1963-1964). - Đồng chí Tám Châu (Tám Quẹt), Quận đội trưởng (1965-1966). - Đồng chí Mười Thứ, Huyện đội trưởng (1967-1968). - Đồng chí Phạm Văn Cạng (Tám Cạng), Huyện đội trưởng Nam Chi (1969). - Đồng chí Đỗ Văn Rẽ (Năm E), Huyện đội trưởng Nam Chi (1970). - Đồng chí Lê Văn Thế (Tám Thế), Huyện đội trưởng Bắc Chi (1969- 1970). - Đồng chí Chín Khánh, Huyện đội phó Bắc Chi. - Đồng chí Trần Văn Thuần (Năm Thuần), Huyện đội phó (1969-1975), Huyện đội trưởng ( 1975-1980). - Đồng chí Phạm Tấn Thành (Hai Thành), Chính trị viên (1969-1970), Huyện đội trưởng (1983-1984). - Đồng chí Đồng chí Võ Thành Ưng (Út Thành), Huyện đội trưởng (1970). - Đồng chí Nguyễn Văn Ga (Bảy Ga), Huyện đội trưởng Bắc Chi (1971- 1972). - Đồng chí Nguyễn Văn Thắng (Năm Thắng), Huyện đội trưởng Nam Chi (1971-1973). - Đồng chí Nguyễn Văn Sơn (Tám Sơn), Huyện đội trưởng (1973- 1975). PHỤ LỤC 2: I- DANH SÁCH ĐƠN VỊ ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN Ở CỦ CHI 1. Lực lượng vũ trang nhân dân huyện Củ Chi, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. 2. Lực lượng an ninh nhân dân huyện Củ Chi, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. 3. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Trung An, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. 4. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Nhuận Đức, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. 5. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Phú Mỹ Hưng, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1976. 6. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Phước Hiệp, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 6 tháng 11 năm 1978. 7. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Phước Thạnh, Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 6 tháng 11 năm 1978. 8. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Trung Lập, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 6 tháng 11 năm 1978. 9. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Bình Mỹ, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 6 tháng 11 năm 1978. 10. Nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Củ Chi, được Nhà nước tuyên dương đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang vào ngày 20 tháng 12 năm 1994. 11. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã An Nhơn Tây, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 12 năm 1994. 12. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã An Phú, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 12 năm 1994. 13. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Phú Hòa Đông, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 29 tháng 11 năm 1996. 14. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Tân Phú Trung, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 20 tháng 10 năm 1996. 15. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Phước Vĩnh An, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 22 tháng 8 năm 1998. 16. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Tân Thạnh Tây, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 22 tháng 8 năm 1998. 17. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Thái Mỹ, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 22 tháng 8 năm 1998. 18. Lực lượng vũ trang và nhân dân xã Tân An Hội, được Nhà nước tuyên dương anh hùng vào ngày 11 tháng 6 năm 1999. II- DANH SÁCH ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG NHÂN DÂN (Quê ở huyện Củ Chi) 1. Mẹ Nguyễn Thị Rành, sinh năm 1900, Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. 2. Đồng chí Lê Văn A, sinh năm 1927, Huyện đội trưởng huyện đội Phước Long, tỉnh Bình Phước. 3. Đồng chí Nguyễn Văn A, sinh năm 1947, khi được tuyên dương Anh hùng là Thiếu úy công an vũ trang. 4. Đồng chí Nguyễn Văn Bích, sinh năm 1947, Trung đội phó công binh. 5. Đồng chí Trần Văn Chẩm, sinh năm 1947, chiến sĩ trinh sát, đội viên du kích. 6. Đồng chí Huỳnh Văn Cọ (Tám Lùn), sinh năm 1939, Huyện đội phó Huyện đội Bắc Chi. 7. Đồng chí Phạm Văn Cội, sinh năm 1940, xã đội trưởng xã Nhuận Đức, huyện Củ Chi. 8. Đồng chí Lê Văn Đạm sinh năm 1920, Chính trị viên xã đội xã An nhơn Tây, huyện Củ Chi. 9. Đồng chí Võ Văn Điều, sinh năm 1924, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 31, bộ đội địa phương Phân khu Bắc- Long An. 10. Đồng chí Tô Văn Đực (Tô Hoài Đức) sinh năm 1942, chiến sĩ quân giới huyện Củ Chi. 11. Đồng chí Bùi Quang Hảo (Hai Mỏ), cán bộ Ban an ninh huyện Củ Chi. 12. Đồng chí Nguyễn Văn Hùng, quê quán xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi, hy sinh năm 1969. 13. Đồng chí Nguyễn Văn Khạ, sinh năm 1918, Trưởng Quốc gia tự vệ cuộc (Công an xã), phụ trách Quốc vệ đội (xã đội). 14. Đồng chí Phan Trung Kiên (bí danh Bê Ka) sinh năm 1945, Trung đoàn phó Trung đoàn Gia Định (khi được tuyên dương Anh hùng). 15. Đồng chí Lê Văn Lên, sinh năm 1936, Đội trưởng bảo vệ thành ủy, Ban An ninh Sài Gòn- Gia Định. 16. Đồng chí Nguyễn Văn Lịch, sinh năm 1948, Tiểu đội trưởng trinh sát bộ độ địa phương huyện Dĩ An thuộc Quân khu Sài Gòn-Gia Định. 17. Đồng chí Huỳnh Minh Mương sinh năm 1940, Trung đội trưởng An ninh bảo vệ Khu Ủy Sài Gòn - Gia Định. 18. Đồng chí Nguyễn Thị Mến (Sáu Ôm) sinh năm 1940, cán bộ trinh sát vũ trang Ban An ninh Sài Gòn - Gia Định. 19. Đồng chí Nguyễn Thị Nê sinh năm 1947, Huyện đội phó huyện Nam Chi. 20. Đồng chí Hoàng Đình Nghĩa, quê quán xã Phước Hiệp, hy sinh năm 1965. 21. Đồng chí Nguyễn Anh Nhiễn, quê quán xã Phú Mỹ Hưng. 22. Đồng chí Lê Minh Nhựt, sinh năm 1938, Trung đoàn phó trung đoàn Quyết Thắng, Phân khu I Sài Gòn – Gia Định. 23. Đồng chí Nguyễn Văn Ni (Bảy Ni), sinh năm 1924, Đại đội phó, Trưởng công binh xưởng huyện Củ Chi. 24. Đồng chí Kiều Văn Niết, sinh năm 1951, Đội trưởng đội thông tin Trung đoàn Đất Thép. 25. Đồng chí Huỳnh Công Oai, sinh năm 1943, cán bộ an ninh vũ trang bảo vệ Khu ủy, Ban an ninh Sài Gòn – Gia Định. 26. Đồng chí Lê Thị Pha, sinh năm 1942, Chính trị viên, Đại đội nữ pháo binh 8 tháng 3, tỉnh Lâm Đồng. 27. Đồng chí Cao Văn Soái, sinh năm 1944, Trung đội trưởng an ninh vũ trang, Ban an ninh Củ Chi. 28. Đồng chí Hồ Văn Tắng, Đội trưởng an ninh vũ trang Ban an ninh Khu Sài Gòn – Gia Định. 29. Đồng chí Nguyễn Minh Thắng, sinh năm 1953, khi được tuyên dương anh hùng (20/12/1973) là Trung đội phó trinh sát tiểu đoàn Quyết Thắng, Phân khu I (Khu Sài Gòn – Gia Định). 30. Đồng chí Lê Văn Thế, sinh Năm 1941, Huyện đội trưởng Huyện đội Củ Chi. 31. Đồng chí Đoàn Thị Thu (tên thật là Đoàn Thị Thào), sinh năm 1940, cán bộ điệp báo Ban an ninh Khu Sài Gòn – Gia Định. 32. Đồng chí Nguyễn Văn Xơ, sinh năm 1932, Phó chính ủy Trung đoàn 1, Sư đoàn 9. PHỤ LỤC 3: CÁC ẢNH TƯ LIỆU VỀ CHIẾN TRANH Ở CỦ CHI (1960 – 1975) ẢNH 1: Củ Chi “đồng khởi” nổi dậy chống chính quyền Ngô Đình Diệm (1960-1961). ẢNH 2: Biểu tình của các mẹ, các chị xã Phước hiệp, Củ Chi (1961). ẢNH 3: Bám đất giữ làng, “một tất không đi, một ly không rời”, chống địch gom dân vào ấp chiến lược. ẢNH 4: Nhà cửa của nhân dân xã An Nhơn Tây, Củ Chi trúng bom Mỹ (1966). ẢNH 5: Phá ấp chiến lược, trở về nền cũ đất cũ (1965). ẢNH 6: Nhân dân xã Trung Lập, Củ Chi đào chiến hào phục vụ chiến đấu (1966). ẢNH 7: Chiến hào và địa đạo là hệ thống liên hoàn phục vụ cho chiến đấu. ẢNH 8: Hốt hoảng chui lên địa đạo, với lính Mỹ, địa đạo Củ Chi là “địa ngục” của chúng. ẢNH 9: Xây dựng hầm chông bảo vệ xóm làng. ẢNH 10: Hầm chông tre và hố đinh, loại vũ khí thô sơ đã gây bao nhiêu khủng khiếp cho đối phương. ẢNH 11: Từ bom đạn lép, chế tạo thành vũ khí để chiến đấu. ẢNH 12: Thiếu nữ Củ Chi lấy thuốc bom cho du kích làm mìn đánh địch (1966). ẢNH 13: Xe tăng M.41 của địch bị Quân giải phóng đánh gục trên chiến trường Củ Chi (1968). ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • pdfLA5679.pdf
Tài liệu liên quan