Chính sách tỷ giá và tác động của nó tới hoạt động của các Doanh nghiệp ở Việt Nam

Phần I : Phần mở đầu Đồng tiền là một khái niệm kinh tế phức tạp , tỷ giá hối đoái với tư cách là quan hệ trao đổi giữa hai đồng tiền lại càng phức tạp hơn . Đây vốn dĩ là một thế giới bí ẩn , đầy bất trắc , sự vận động của chúng thường vượt ra ngoài dự đoán và khả năng chế ngự của nhà nước . Do đó tại bất kì một quốc gia nào tỷ giá được xem là một biến số kinh tế vĩ mô có vai trò cực kì quan trọng . Nó rất nhạy cảm và sự thay đổi của nó sẽ gây ra những tác động phức tạp , ảnh hưởng đến toà

doc39 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1472 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Chính sách tỷ giá và tác động của nó tới hoạt động của các Doanh nghiệp ở Việt Nam, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
n bộ nền kinh tế quốc dân và có khi tới cả chế độ chính trị . Để lấy ví dụ , chúng ta chắc vẫn chưa thể quên sự khủng hoảng của đồng Pêsô (Achentina) năm 2001 , gây ra cú sốc trầm trọng tới nền kinh tế của Achentina .Rồi trong lịch sử có thể kể đến sự lên giá đột biến của đồng USD năm 1996 … Tất cả những cuộc khủng hoảng đó đều có nguyên nhân cơ bản sâu xa là việc lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái chưa thật sự hợp lý của chính phủ các quốc gia trong từng thời kỳ . Là một nước đang đi những bước đi đầu tiên cả trên phương diện lý luận và thực tiễn , hơn bao giờ hết việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá hối đoái nhằm xem xét tác động của nó tới các doanh nghiệp như thế nào trở nên cấp bách . Nghiên cứu đề tài “ Chính sách tỷ giá và tác động của nó tới hoạt động của các doanh nghiệp ở Việt Nam’’ cũng không nằm ngoài mục đích đó . Đề án được cấu trúc thành hai chương lớn , trong đó đề cập tới những vấn đề sau : - Chương I : Tổng quan về tỷ giá hối đoái và chính sách điều hành tỷ giá hối đoái - Chương II : Việt Nam với tiến trình cải cách chế độ tỷ giá hối đoái Qua đề tài này chúng tôi hy vọng làm sáng tỏ hơn một số vấn đề về tỷ giá hối đoái với mục đích không gì khác là giúp chúng ta hiểu rõ hơn về cơ chế tỷ giá hối đoái của Việt Nam và định hướng điều chỉnh nó . Nhóm sinh viên thực hiện đề tài này xin chân thành gửi tới thầy Đào Văn Hùng và thầy Đặng Anh Tuấn lòng biết ơn sâu sắc về sự hướng dẫn nhiệt tình của các thầy để chúng tôi có thể hoàn thành được đề tài này . Vì tính phức tạp của đề tài lại thêm những hạn chế về kiến thức và tài liệu tham khảo nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót , vì vậy rất mong nhận được sự phê bình và góp ý của các thầy và các bạn . Nhóm sinh viên lớp TC 42C Phần II : Giải quyết vấn đề Chương I : Tổng quan về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái I\ Tỷ giá hối đoái và các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái. 1\ tỷ giá hối đoái_các quan điểm: Về hình thức,tỷ giá hối đoái (TGHĐ) là đơn vị tiền tệ của một quốc gia được biểu hiện bằng các đơn vị tiền tệ nước ngoài,là hệ số quy đổi của một đồng tiền này so với một đồng tiền khác, được xác định bởi mối quan hệ cung – cầu trên thị trường. Về nội dung, tỷ giá hối đoái là phạm trù kinh tế bắt nguồn từ nhu cầu trao đổi hàng hoá, dịch vụ, phát sinh trực tiếp từ tiền tệ, quan hệ tiền tệ (sự vận động của vốn, tín dụng … ) giữa các quốc gia. Đồng tiền là một khái niệmkinh tế phức tạp, tỷ giá hối đoái với tư cách là quan hệ trao đổi giữa hai đồng tiền lại càng phức tạp. Mặc dù TGHĐ có lịch sử lâu dài nhưng cho đến nay vẫn gây ra nhiều tranh luận trên cả phương diện lý luận và thực tiễn cụ thể là : + Quan điểm của C.Mac và các nhà kinh tế Macxit về tỷ giá hối đoái trực tiếp gần với lý thuyết về giá trị lao động và lý thuyết tiền tệ thế giới , bởi lẽ sự hình thành tương quan giữa các đồng tiền là một trong số biểu hiện chức năng của tiền tệ . Theo C.Mac bản thân quan hệ cung cầu tự nó tuyệt nhiên không giải thích được cái gì , vấn đề là ở chỗ những yếu tố nào đứng sau nó . Về thực chất TGHĐ là tương quan giữa nội tệ và ngoại tệ đưỡcác định bởi sức mua của chúng và hangf loạt các yếu tố khác như giai đoạn phát triển của xã hội , tính chất của thị trường v.v… + nếu như các nhà kinh tế Macxit đặt trọng số của TGHĐ vào sức mua của đồng tiền , thì các nhà kinh tế thị trường lại đặt trọng số cho cac yếu tố khác. Theo lý thuyết tổng số sức mua (Ricacdo) tương quan sức mua được xác định bởi số lượng tiền tệ trong lưu thông của các nước tương ứng .Keynes bổ sung yếu tố tâm lý và sự vận động của vốn … Song về mặt cơ bản tư tưởng chủ yếu vẫn không thay đổi cho tới hôm nay.A.Samuelson khẳng định , bên cạnh các điều kiện khác không thay đổi , thì sự thay đổi quan hệ tỷ giá tỷ lệ với sự thay đổi tương quan giữa giá cả trong nước và giá cả nước ngoài. * Do tính chất phức tạp của tỷ giá hối đoái , cùng với quá trình phát triển của nó qua các giai đoạn đã xuất hiện nhiều lý thuyết về nó : +Lý thuyết ngoại tệ được điều chỉnh xuất hiện trong thời kì khủng hoảng 1929 –1932 .Lý thuyết này dựa trên những lý luận của Keynes , đề cao vai trò điều chỉnh của nhà nước , cho rằng có thể điều chỉnh sức mua của tiền tệ bằng điều chỉnh thông số vàng của tiền tệ , Keynes bảo vệ hệ số co giảm áp dụng với tiền giấy bởi vàng đã lùi vào quá khứ . Ông cho rằng , có thể giảm giá trị đồng nội tệ để đạt các mục tiêu tác động vào giá cả , xuất khẩu , sản xuất , việc làm và cạnh tranh với bên ngoài . + Lý thuyết ngoại tệ chủ chốt , chứng minh sự cần thiết và tất yếu hình thành các nhóm ngoại tệ chủ yếu , ngoại tệ mạnh và ngoại tệ yếu và sự cần thiết định hướng chinýh sách ngoại hối của tất cả các nước TBCN vào USD . Ngoài ra còn hàng loạt lý thuyết mô hình tiếp cận vấn đề tỷ giá như : lý thuyết các vùng ngoại tệ tối ưu , lý thuyết tỷ giá danh nghĩa … Nhìn chung , cùng với sự phát triển kinh tế , quan hệ kinh tế quốc tế , nhất là trong lĩnh vực tiền tệ , ngoại hối , hệ thống lý thuyết về tiền tệ nói chung ,tỷ giá nói riêng đã không ngừng hoàn thiện , phát triển nhằm lý giải những vấn đề mới nảy sinh từ thực tiễn . Để có được cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về TGHĐ , chúng ta sẽ làm rõ hơn một số khái niệm có liên quan .Thiết nghĩ là cần thiết vì chúng sẽ gắn bó với nhau hơn trong toàn bộ quá trình nghiên cứu . *Vấn đề phá giá đồng tiền : Phá giá đồng tiền là việc nâng cao hoặc giảm thấp sức mua của đồng tiền đối với ngoại tệ . Kết quả của phá giá đồng tiền sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sự tăng giảm của TGHĐ . Đây là điểm giống nhau giữa phá giá đồng tiền và điều chỉnh tỷ giá hối đoái . Nhưng không phải là không có sự khác nhau , điều chỉnh tỷ giá hối đoái là việc làm của nhà nước được tiến hành một cách thường xuyên , nhằm mục đích duy trì sự ổn định của TGHĐ , ổn định sức mua của đồng tiền , kiềm chế và đẩy lùi lạm phát , góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội đã dự kiến . Thông thường TGHĐ điều chỉnh theo nguyên tắc duy trì biên độ dao động cho phép tăng hoặc giảm một tỷ lệ nhất định so với tỷ giá hối đoái được sử dụng làm chuẩn . TGHĐ được điều chỉnh thường là với mức nhỏ , khong gây ra những biến động lớn cho sự phát triển kinh tế – xã hội , khác hẳn với giải pháp phá giá đồng tiền là một biện pháp mạnh , cực đoan , chỉ được sử dụng trong những trường hợp cần thiết . Trên thế giới , việc phá giá đồng tiền thường được sử dụng ở những nước có tiềm lực kinh tế dồi dào , nhưng phải đối đầu với nguy cơ suy thoái kinh tế , đi đôi với lạm phát kinh tế ngày càng trầm trọng hoặc cán cân thanh toán bị mất cân đối nghiêm trọng . Việc Mỹ tuyên bố phá giá đồng USD vào tháng 12/ 1971 ở mức 7,89% nhằm đối phó với tình hình sức mua của USD thường xuyên gây khó khăn cho sản xuất đầu tư , nhờ đó Mỹ đã cải thiện được cán cân ngoại thương . Phá giá không chỉ bao gồm những nội dung kinh tế đơn thuần mà bao gồm những nội dung chính trị – xã hội .Vì vậy phá giá đồng tiền là một bài toán không phải lúc nào cũng vận dụng được và không phải ai cũng có thể dùng bài toán này để giải quyết những vấn đề kinh tế gay cấn của đất nước . Cũng cần phải nhấn mạnh là chúng ta thường hay có sự nhầm lẫn giữa khái niệm giảm giá đồng tiền và khái niệm phá giá đồng tiền + Bên cạnh việc giảm giá sức mua đồng tiền bản tệ là việc nâng giá sức mua của đồng tiền bản tệ .Việc nâng giá sức mua của bản tệ với ngoại tệ thường xảy ra trong các trường hợp sau : -Giá hàng hoá và dịch vụ trong xuất khẩu được xác định thấp so với giá trên thị trường thế giới . Hạn chế xuất khẩu do sức ép của các nước bạn hàng nhằm tạo thế cân bằng trong thương mại quốc tế . -Tăng khả năng nhập khẩu và kiềm chế lạm phát Việc nâng giá đồng bản tệ cũng có thể xuất phát từ tình trạng phải tiếp nhận các ngoại tệ đang bị mất giá và trở thành một công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa các ngoại tệ đang bị mất giá chạy vào nước mình . 2\ Các nhân tố tác dộng vào quá trình hình thành tỷ giá . Trên thực tế , sự hình thành quan hệ tỷ giá là quá trình tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan … Tuy có những mâu thuẫn trong phương pháp nghiên cứu , tiếp cận và đánh giá vai trò , tính chất , phương thức , cường độ ,tốc độ , tác động của các yếu tố cụ thể song nhìn chung , giữa các nhà kinh tế , các lý thuyết hiện đại vẫn có sự thống nhất trong việc thừa nhận các yếu tố quan trọng , trực tiếp cấu thành nội dung và tác động lên quá trình hình thành tỷ giá hối đoái ,đó là: sức mua của các đơn vị tiền tệ và tốc độ lạm phát ở các nước hữu quan. Trạng thái cán cân thanh toán quốc tế trực tiếp ảnh hưởng đếncung cầu ngoại tệ , thông qua đó tác động lên mức tỷ giá và kéo theo sự giao động của tỷ giá , lệch khỏi sức mua của đồng tiền . Chênh lệch mức lãi suất giữa các nước , giữa thị trường tín dụng nội địa và quốc tế . Các tính toán theo lý thuyết kinh tế cho thấy khi lãi suất ở Mỹ tăng 1%/ năm thì đòi hỏi lãi suất ở các nước có đồng tiền yếu phải tăng cao hơn nhiều nhằm đối phó với tình trạng chuyển đổi tài sản sang USD . Trong khi lãi suất tiền gửi USD ở trong nước thấp hơn so với mặt bằng lãi suất quốc tế , chính điều này làm cho việc đầu tư tại nước ngoài với các ngân hàng trở nên vô cùng hấp dẫn .Điều này dẫn tới chiến dịch chạy đua nâng lãi suất huy động USD cuả ngân hàng khiến cho việc nắm giữ đồng USD càng trở nên hấp dẫn hơn và tất yếu đồng nội tệ sẽ giảm giá so với USD . Thực trạng hoạt động của các thị trường tài chính , ngoại hối và xu hướng , nghiệp vụ đầu cơ ảnh hưởng đến tỷ giá Hệ số tín nhiệm đối với đồng tiền trên thị trường tài chính trong nước cà quốc tế . Các công thức , công cụ diều chỉnh can thiệp của nhà nước . Các cú sốc kinh tế , chính trị ,xã hội và các quyết sách lớn của nhà nước trong lĩnh vực kinh tế , tài chính tiền tệ . Sự phức tạp của vấn đề tỷ giá trên phương diện nghiên cứu , điều hành không phải ở việc xem xét , xử lý các yếu tố biệt lập trạng thái tĩnh mà trong một chỉnh thể thống nhất ở trạng thái động và mối quan hệ qua lại giữa các quốc gia trong bối cảnh xu hướng quốc tế hoá ,toàn cầu hoá đời sống kinh tế ngày càng gia tăng và sâu sắc , nhất là trong lĩnh vực tài chính tiền tệ . Vì vậy , TGHĐ ở một thời điểm cụ thể chính là véctơ tổng hợp của nhiều véctơ bộ phận khác . 3\ Phân loại chế độ tỷ giá . Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống tỷ giá cho thấy có hai loại chế độ tỷ giá cơ banr như sau : Chế độ cố định tỷ giá : những nước áp dụng chế độ tỷ giá này thường gắn đồng tiền nước mình vào một đồng tiền quốc tế chủ chốt hoặc vào một rổ các loại đồng tiền ( có thể là rổ đồng tiền giao dịch chính hoặc hỗn hợp các đồng tiền tiêu chuẩn như đồng tiền Châu Âu hay quyền rút vốn đặc biệt ). Chế độ thả nổi tỷ giá : trong chế độ này , tỷ giá thường có sự điều chỉnh và linh hoạt . Nếu tỷ giá hoàn toàn do thị trường và các lực lượng thị trường quyết định , thì nó là dạng thả nổi tự do . Còn nếu tỷ giá thường xuyên được điều chỉnh trên cơ sở đánh giá diễn biến của các biến số như tinhf hình dự trữ , thanh toán thì đó lad dạng thả nổi có quản lý . Hiện nay , trên thế giới đã và đang tồn tại nhiều loại chế độ TGHĐ biến tướng từ hai loại hình thức cơ bản này . Trong thế giới mà sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng gia tăng , việc lựa chọn một chế độ ngoại hối phù hợp với bối cảnh quốc tế , điều kiện cụ thể từng nước và đáp ứng yêu cầu điều chỉnh kinh tế vĩ mô , nhất là đối với các nước đang thực hiện chuyển đổi cơ chế thực sự là vấn đề nan giải . Có nhiếu cơ sở để dùng làm căn cứ lựa chọn chế độ tỷ giá , mà một trong số đó có cai trò cực kì quan trọng mang tính chất quyết định đó là : sự can thiệp của nhà nước để điều chỉnh TGHĐ dựa vào những công cụ gì ? II\ Lý thuyết can thiệp của nhà nước vào tỷ giá hối đoái . Ngân hàng trung ương là người thay mặt nhà nước can thiệp và điều chỉnh thị trường ngoại tệ tỷ giá ngoại hối .NHTƯ đóng vai trò rất lớn trong lĩnh vực tỷ giá , trên thị trường ngoại hối NHTƯ đóng vai trò kép : ngân hàng mua và bán ngoại tệ, ngoài ra NHTƯ còn sử dụng hàng loạt công cụ khác để can thiệp khi cần . 1\ Các loại hình can thiệp của ngân hàng trung ương : Sự can thiệp của NHTƯ thường tác động có tính chất quyết định và nhiều khi còn ấn định mức tỷ giá hối đoái . Trước tiên là các loại hình can thiệp : +Can thiệp theo trách nhiệm . Theo lý thuyết khi tỷ giá của một đồng tiền trong hệ thống tỷ giá cố định đạt tới cận điểm hoặc đỉnh điẻm quy định can thiệp thì cần phải can thiệp .Điều này áp dụng cho tỷ giá cố định . +Can thiệp tự do (ngược lại với can thiệp trách nhiệm ). Có thể xảy ra không chỉ trong hệ thống tỷ giá cố định mà ngay cả trong hệ thống tỷ giá hối đoái thả nổi . Xét về mặt kinh nghiệm thông thường NHTƯ phải can thiệp trước khi sự giao động của tỷ giá hối đoaí đạt tới những điểm cần can thiệp , nhằm giảm bớt sự căng thẳng của tình hình . Sự can thiệp của NHTƯ có thể là sự can thiệp hữu hình hay vô hình . -Là sự can thiệp vô hình khi có sự can thiệp này chỉ có được nếu những thay đổi khối lượng tiền tệ do ảnh hưởng của can thiệp được khắc phục bằng những biện pháp của các ngân hàng phát hành khác . Là sự can thiệp hữu hình khi khối lượng tiền tệ quốc gia được thay đổi một cách công khai . Sựcan thiệp của NHTƯ vào thị trường ngoại hối gây ra hai hiệu ứng chính sau : Thứ nhất tác động trực tiếp đến khối lượng ngoại tệ Thứ hai trực tiếp gây ra biến đọng mức lãi suất trong nước 2\Mục đích và khả năng can thiệp của ngân hàng trung ương. Mục đích can thiệp của NHTƯ là không hoàn toàn giống nhau , điều nay phụ thuộc vào tình hình , ý đồ , chiến lược cửa mỗi nước . Có những quốc gia mục đích can thiệp của NHTƯ là nhằm duy trì một cách đúng đắn các quan hệ thị trường có tổ chức , không đối phó với các xu hướng bản năng của thị trường . Do đó sự can thiệp là nhằm duy trì một cách hợp lý các quan hệ thị trường có tổ chức mà khắc phục những biến động dữ dội của tỷ giá . Có thể nhận thấy ngay rằng , ngày nay các nước công nghiệp hoá đang hoạt động trong một cơ chế TGHĐ được thả nổi và được điều tiết – một hệ thống mà trong đó chính phủ có thể cố gắng điều hoà sự vận động của TGHĐ mà khong hề giữ chúng một cách cứng nhắc . Để minh hoạ , xin nêu trường hợp cảu nước Đức 1974 : về nguyên tắc ngân hàng liên bang chỉ can thiẹp nhằm duy trie một cách đúng đắn các quan hệ thị trường có tổ chức . Hơn nữa , cần phải tìm cách tạo thế ổn định tỷ giá danh nghĩa với USĐ với sau những biến động mạnh trong thời gian dài. Trong khi đó , một số nước lại đưa ra mục tiêu tạo ra cho được tỷ giá hối đoái phù hợp , đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước và giảm đến mức thấp nhất rủi ro thiệt hại trong lĩnh vực tỷ giá có thể gây ra . Nhà nước và thị trường là hai lực lượng chủ yếu quyết định sự vận động của TGHĐ . Bên cạnh việc thừa nhận vai trò quan trọng của cung – cầu đối với tỷ giá hối đoái , cũng phải thấy khả năng chi phối rất lứon của ngân hàng nàh nước , khả năng này bắt nguồn từ tính độc quyền của nhà nước trong lĩnh vực quản lý ngoại tệ . tuy vậy nếu nhà nước can thiệp một cách thô bạo vào thị trường thì lại có hại , ngược lại nếu can thiệp một cách đúng đắn thì thị trường ngoại tệ sẽ ;ành mạnh . Khả năng thành công trong can thiệp của nàh nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố , tuy nhiên quan trọng nhất là : Phạmvi hoạt động mua bán ngoại tệ . Mức độ tác động vào những dự tính về sự biến động tỷ giá trong tương lai . Bên cạnh đó vấn đề quyết định là sẽ sử dụng những công cụ nào của chính sách tiền tệ . 3\ Hệ thống công cụ can thiệp . Việc áp dụng phương pháp can thiệp nào phụ thuộc vào nhiều yếu tố (mục đích , thực trạng thị trường …) song trước hết phu thuộc phần lớn vào chế độ tỷ giá hiện hành đang áp dụng . +Phương pháp lãi suất chiết khấu . Đây là phương pháp thường sử dụng để điều chỉnh TGHĐ trên thị trường . Với phương pháp này , khi TGHĐ đạt đến mức báo động cần phải can thiệp thì NHTƯ nâng cao lãi suất chiết khấu . Do lãi suất chiết khấu tăng , kết quả là vay vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ bị dồn vào để thu lãi cao hơn . Nhờ thế mà sự căng thẳng về nhu cầu ngoại tệ sẽ bớt đi , làm cho tỷ giá không còn có cơ hội tăng nữa . Vào những năm 1971 đến năm 1973 USD rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng , tổng thống Mỹ Nixon đã phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứu nguy cho USD bằng cách tăng lãi suất chiết khấu lên cao hơn để thu hút vốn ngắn hạn trên thị trường quốc tế . Tuy nhiên vấn đề là : lãi suất do quan hệ cung cầu của vốn vay quyết định . Nó có thể biến động trong phạm vi lợi nhuận binh quân , và chỉ trong những trường hợp thật đặc biệt nó có thể vượt quá tỷ suất lợi nhuaanj bình quân . Còn tỷ giá thì do quan hệ cung cầu về ngoại tệ quyết định . quan hệ này bị chi phối chủ yếu bởi tình hình của cán cân thanh toán . Điều này có nghĩa là các yếu tố để hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau , do vậy mà biến động cuả lãi suất không nhất thiết kéo theo sự biến động của tỷ giá . Vậy cho nên trong thời kì khủng hoảng USD thời kì 1971 – 1973 mặc dù lãi suất trên thị trường NewYork cao gấp rưỡi thị trường London nhưng vốn vay ngắn hạn lại được chuyển tới Tây Đức và Nhật Bản . +Các nghiệp vụ thị trường hối đoái . Đây là biên pháp trực tiếp tác động vào TGHĐ . Thông qua các nghiệp vụ mua bán ngoại tệ , điều chỉnh tỷ giá hối đoái là một trong những biện pháp quan trọng của nhà nước để giữ vững sự ổn định cuat sức mua đồng tiền quốc gia . Tuỳ từng quốc gia mà việc lựa chọn quy mô là khác nhau , việc mua bán ngoại tệ được thực hiện trên nguyên tắc diễn biến giá cả ngoại tệ trên thị trường và ý đồ can thiệp mang tính chất chủ quan của nhà nước . Việc lựa chọn các thời điểm cần mua , cần bán ngoại tệ trên thị trường với tỷ giá nào để đạt được mục tiêu điều chỉnh là những hoạt động có ý nghĩa quyết định . Đẻ nắm được một cách đầy đủ tình hình cung cầu ngoại tệ trên thị trường , ngày nay , nhiều nước trên thế giới đã và đang tổ chức các thị trường ngoại tệ liên ngân hàng – là nơi tốt nhất để khai thác các thông tin cần thiết cho nghiệp vụ thị trường ngoại hối . Tuy nhiên việc áp dụng phương pháp này , chính phủ thường gặp phải những phản ứng trái ngược nhau từ phía các doanh nghiệp cũng như các taàng lớp dân cư khác nhau trong xã hội bắt nguồn từ lợi ích kinh tế . Mâu thuẫn này thường xảy ra giữa các doanh nghiệp nhập khẩu và xuất khẩu , giữa những người đang nắm trong tay số lượng lớn ngoại tệ với những người trong túi chỉ có nội tệ . Giải pháp là mỗi quốc gia phải có một lượng dự trữ ngoại tệ dư sức để can thiệp vào thị trường khi cần . +Lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái . Trong điều kiện tình hình giá cả thị trường luôn không ổn định thậm chí xảy ra những biến động lớn , các nước thường sử dụng quỹ dự trữ bình ổn hối đoái như là một công cụ để điều chỉnh TGHĐ . Nguồn vốn để hình thành quỹ dự trữ bình ổn hối đoái là : phát hành trái khoán kho bạc bằng tiền quốc gia (Anh , Hà Lan ) . khi ngoại tệ vào nhiều thì sử sụng vốn từ quỹ dự trữ này để mua nhằm hạn chế mất giá của ngoại tệ . Ngược lại trong trường hợp vốn chạy ra nước ngoài , quỹ bình ổn hối đoái tung ngoại tẹ ra bán và tiếp tục mua các trái khoán đã phát hành để ngăn chặn giá ngoại tệ tăng lên . Sử dụng vàng để lập quỹ dự trữ bình ổn hối đoái (Pháp , Mỹ …). Theo phương pháp này khi cán cân thanh toán quốc tế bị thâm hụt , quỹ dự trữ bình ổn hối đoái sẽ đưa vàng ra bán thu ngoại tệ về để cân bằng cán cân thanh toán . Trường hợp khi ngoại tệ vào nhiều , quỹ sẽ tung vàng ra bán thu về đồng tiền quốc gia để mua ngoại tệ nhằm duy trì sự ổn định của tỷ giá hối đoái . Hạn chế của phương pháp này là nó chỉ có tác dụng lớn khi khủng hoảng về ngoại tệ nghiêm trọng . Hơn nữa việc tạo lập được quỹ bình ổn hối đoái đòi hỏi các quốc gia phải có một thực lực nhất địnhvề kinh tế . III\Chính sách tỷ giá hối đoái – nguyên tắc lựa chọn Tỷ giá hối đoái là một khâu xung yếu , là cầu nối quan trọng để một nền kinh tế hội nhập với nền kinh tế thế giới . Có một chính sách tỷ giá đúng đắn sẽ góp phần quan trọng trong việc ổn định nền kinh tế vĩ mô , thúc đẩy sản xuất phát triển . 1\ Về chính sách tỷ giá tối ưu Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống tỷ giá cho thấy có hai loại chế độ tỷ giá cơ bản là chế độ tỷ giá cố định và chế độ tỷ giá thả nổi bao gồm thả nổi tự do , và thả nổi có quản lý . Khó có câu trả lời đúng , dứt khoát về việc một nước nhỏ sẽ có lợi khi áp dụng tỷ giá hối đoái cố định hay linh hoạt . Nói chung sự quản lý tối ưu TGHĐ phụ thuộc vào các mục tiêu kinh tế của các nàh hoạch định chính sách , vào nguồn gốc của các cơn sốc đối với nền kinh tế và vào đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế đang xét . Một kết quả quan trọng của nghiên cứu lý thuyết là nói chung tỷ giá hối đoái cố định cực đoan lẫn tỷ giá hối đoái hoàn toàn linh hoạt đều không phải là tối ưu đối với ổn định kinh tế vĩ mô . Thật vậy , một mức độ tương đối của linh hoạt lại nhiều khả năng thành công hơn trong việc ổn định nền kinh tế , khi cần phản ứng lại với các cú sốc ngẫu nhiên . Chính vì vậy nó đã trở thành cơ chế tỷ giá phổ biến nhất ở các nước đang phát triển . Câu hỏi đặt ra là chấp nhận tới mức độ nào của sự linh hoạt trong các trường hợp cụ thể . * Như vậy là loại cơn sốc mà nền kinh tế thị trường phải đối phó trở thành vấn đề cốt lõi cần xem xét khi định liệu tỷ giá hối đoái cố định hay điều chỉnh . Có quan điểm cho rằng TGHĐ linh hoạt sẽ có tác dụng hơn về khả năng che chở của điều chỉnh tỷ giá hối đoái trước các cơn sốc bên ngoài , tức là đứng trước biến động của mặt bằng giá quốc tế , các giá cả nội địa có thể được ổn định bằng sự điều chỉnh thích đáng . Như vậy là khi có cơn sốc từ bên ngoài thì sự linh hoạt trong quản lý TGHĐ được coi là phù hợp . Còn đối với các cơn sốc nội địa việc áp dụng chế độ tỷ giá vào sẽ phụ thuộc vào tính chất của cơn sốc,đó là cơn sốc tiền tệ hay cơn sốc thực tế (xuất phát từ thị trường hàng hoá ). Khi cơn sốc là tiền tệ thì quan điểm xưa nay là duy trì tỷ giá cố định sẽ có hiệu lực hơn trong việc ổn định tổng sản phẩm vì cung tiền tệ là một biến nội sinh dưới chế đodọ tỷ giá cố định các đột biến trong thị trường tiền tệ nội địa đơn giản sẽ được hấp thụ bởi thay đổi của dự trữ ngoại tệ mà không ảnh hưởng đến điều kiện của cung cầu hàng hoá . Đổi lại khi cơn sốc là thực tế thì TGHĐ cần phải được điều chỉnh để ổn định tổng sản phẩm bằng cách tạo nên (hoặc giảm )cầu bên ngoaì . Tóm lại , theo mục tiêu của chính sách nhằm ổn định tổng sản phẩm trước các cơn sốc tạm thời , TGHĐ càn phải được điều chỉnh khi cơn lốc xuất phát từ bên ngoài hoặc từ thị trường hàng hoá . * Mặt khác tính chất , cơ cấu cảu nền kinh tế , ví dụ như mở cửa đối với thương mại , mức độ tự do giao lưu vốn nước ngoài và độ cứng nhắc của thị trường lao động , sẽ ảnh hưởng đến tính bảo vệ trung lập của các chế độ TGHĐ. Thoạt tiên có thể lập luận rằng nền kinh tế cùng mở cửa thì càng chứng minh cho sự cần thiết áp dụng tỷ giá cố định , vì tồn tại cái giá phải trả tiềm tàng cho các giao dịch quốc tế do thường xuyên điều chỉnh tỷ giá gây nên . Hơn thế nữa , một sự mở cửa như vậy làm cho tỷ giá cố định có hiệu lực hơn trong việc đẩy một cơn sốc tiền tệ trong nước ra nước ngoài . Mặt khác thì trong nền kinh tế mở việc điều chỉnh tỷ giá giúp cho sự ổn định tổng sản phẩmảtước các cơn sốc bên ngoài và cơn sốc nội địa . Khi mở cửa làm cho nền kinh tế bất ổn hơn trước các cú sốc bên ngoài thì có thể phải thường xuyên điều chỉnh tỷ giá hối đoái . * Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác xác định chế độ tỷ giá như mức độ giao lưu vốn , liên kết trực tiếp lãi suất nội địa và lãi suất quốc tế , ví dụ như xét sự tăng lên của cầu bên ngoài do chính sách tiền tệ bành trướng và việc giảm lãi suất quốc tế gây nên . Dưới chế độ tỷ giá cố định và trong điều kiện tự do giao lưu vốn thì lãi suất nội địa giảm làm taưng thêm tác động mất ổn định từ phía cầu bên ngoài thông qua cán cân vãng lai .Trong trường hợp này TGHĐ phải giảm để ổn định tổng sản phẩm nội địa . Vởy bản chất của cơn sốc bành trướng bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến việc lựa chọn chính sách tỷ giá cụ thể . Thêm nữa , mức độ cứng nhắc của tiền lương cũng tác động đến tính hiệu lực của chính sách TGHĐ . Tác động của phá giá danh nghĩa lên các biến kinh tế vĩ mô phụ thuộc chủ yếu vào tiền lương và giá cả phản ứng như thế nào đối với phá giá . Tiền lương danh nghĩa càng tăng cao để phản ứng lại với phá giá thì tiền lương thực tế thay đổ ít .ảnh hưởng của chỉ số hoá tiền lương lên sự lựa chọn mong muốn của tỷ giá linh hoạt vì vậy là lớn . 2\ Nguyên tắc lựa chọn chế độ tỷ giá . Các nghiên cứu trên gợi một số tiêu chuẩn quy định tỷ giá phụ thuộc vào bản chất của cơn sốc lên nền kinh tế cũng như đặc trưng cơ cấu của nền kinh tế . Tuy vậy , trên thực tế áp dụng cũng gặp phải những khó khăn trong những trương hợp cụ thể , ví như trong thực tế , sự nhận biết nguồn gốc các cơn sốc , bản chấtcủa các cơn sốc là rất khó . Thêm nữa lại còn tồn tại những mâu thuẫn tiềm tàng giữa các mục tiêu lựa chọn . Nhận biết được nguồn gốc của các cơn sốc là khó vì nền kinh tế thường chịu đồng thời tác động của nhiều cơn sốc từ nhiều nguồn khác nhau , do đó không thể nhận biết được chính xác nếu định lượng chúng riêng biệt . Các nhân tố gây giảm sút hoạt động kinh tế có thể là : cầu nội nhập thấp , các điều kiện tiền tệ thắt chặt , cầu bên ngoài giảm . Do đó trong quá trình xem xét lựa chọn chế độ tỷ giá phải xem xét tổng thể các nhân tố tác động đến sự ổn định hay mất ổn định của kinh tế vĩ mô. Có thẻ nói chế độ tỷ giá là véctơ tổng hợp của nhiều véctơ khác nhau . Mặt khác tiêu chuẩn để lựa chọn một chế độ tỷ giá hối đoái thích hợpcòn phụ thuộc vào các mục tiêu chính sách do chính phủ đặt ra . Mục tiêu đó có thể là mục tiêu ổn định tổng sản phẩm . Trong trường hợp này mục tiêu ổn định cán cân thanh toán quốc tế là phải từ bỏ . Vì tổng sản phẩm sẽ ổn định khi cán cân thanh toán quốc tế làm chức năng hấp thu các cơn sốc , để triệt tiêu tác động của các thay đổi đột biến trên tổng sản phẩm . Tuy nhiên mâu thuẫn của các chính sách có thể xảy ra khi một cán cân thanh toán quốc tế cũng đưọc coi là mục tiêu chính sách . Thật vậy, sẽ là rất khó khăn khi cùng một lúc lựa chọn một chế độ tỷ giá để cơ chế đạt được nhiều mục tiêu kinh tế khác nhau , ví dụ : sử dụng TGHĐ để đẩy cơn sốc tiền tệ thuận chiều ra nước ngoài có thể là không khả thi nếu dự trưc ngoại tệ ở dưới mức cần thiết . Cũng như vậy , việc giảm TGHĐ nhằm trung lập hoá sự tăng lên trong cầu nội địa sẽ làm xấu đi cán cân thanh toán quốc tế . Tất nhiên việc đạt được đồng thời các mục tiêu là cũng có thể đạt được thí dụ như , một cơn lốc nội địa không thuận lợi đòi hỏi phải phá giá tỷ giá để ổn định tổng sản phẩm và đồng thời cả thiện cán cân thanh toán quốc tế . Do đó trong quá trình lựa chọn chế độ tỷ giá phải có sự cân nhắc , xem đâu là mục tiêu cơ bản trước mắt để có quyết định cho phù hợp . Ví dụ , khi cán cân thanh toán có vấn đề thì TGHĐ được sử dụng như một công cụ đạt mục tiêu . mặt khác khi lạm phát là vấn đề nổi lên hàng đầu thì TGHĐ làm chức năng hõ trợ cho việc ổn định mặt bằng giá cả . 3\ Một số kết luận . Những phân tích trên đây giúp chúng ta phần nào hiểu được tính chất phức tạp khi lựa chọn một chế độ tài chính để thoả mãn những mục tiêu khác nhau . Lập luận truyền thống trước đây cho rằng cách chấp nhận chế đọ tỷ giá linh hoạt , chính phủ sẽ được tự do lựa chọn chính sách tiền tệ của mình theo đúng các múc tiêu trong nước , cho phép TGHĐ tự điều chỉnh cân bằng cán cân thanh toán quốc tế . Tuy vậy cho đến nay hai lập luận này đang có vấn đề : Thứ nhất , ngày càng thấy rõ ràng với tỷ giá linh hoạt chính phủ không thể tự do lựa chọn các chính sách kinh tế trong nước mà không phụ thuộc vào hạn chế bên ngoài . Trong điều kiện tự do hoá các luồng vốn , các chính sách trong nứơc chịu ảnh hưởng lớn bởi sự vận động của TGHĐ , cán cân vãng lai … Thứ hai , liên quan đến một giả thiết then chốt của quan điểm truyền thống trước đây , là chính phủ có thể sử dụng hiệu quả tính độc lập của họ trong việc ra quyết định chính sách để ddạt các mục tiêu trong nước . Những người ủng hộ TGHĐ cố định giữ quan điểm cho rằng , tiếp nhận chế độ tỷ giá như vậy sẽ đặt ra một mức độ kỷ luật tài chính mà không có dưới chế độ tỷ giá linh hoạt . Khi đó tạo thuận lợi để đạt được giá dựa trên kinh nghiệm . Sự tranh cãi trong vấn đề lựa chọn chế độ tỷ giá sẽ tiếp tục mãi nếu chúng ta khong nghiên cứu chúng dựa vào sự phát triển gần đây của lý thuyết kinh tế học vĩ mô. Trước hết việc áp đặt chế độ tỷ giá cố định sẽ đặt ra những yêu cầu sau : tỷ lệ lạm phát thế giới quy định tỷ lệ làm phát nội địa , một tỷ lệ nào đó của cung tiền phải được bảo đảm bằng dự trữ ngoại tệ để bảo vệ tỷ giá so sánh cố định nếu không tỷ giá so sánh cố định không duy trì được . Từ đó tốc độ tăng tín dụng nội địa không thể cao hơn tốc độ tăng cầu tiền tệ danh nghĩa trong dài hạn . Thời kì chuyển tiếp bành trướng nhanh tín dụng là khong thích hợp với duy trì tỷ gia so sánh cố định . Để làm cho chế độ TGHĐ có được lòng tin , chính phủ bỏ quyền thay đổi tỷ giá , điều này có thể đạt được bằng cách tham gia khối tiền tệ . Tuy vậy sẽ tồn tại cái giá phải trả nếu hoàn toàn áp dụng chế độ TGHĐ cố định . Như là : sẽ là tối ưu nếu thay đổi tỷ giá để phản ứng lại các cơn sốc dài hạn bên ngoài . Bỏ qua công cụ tỷ giá chính phủ buộc phải dựa vào các chính sách tài chính có thể dẫn tới việc thu hẹp tổng sản phẩm và giảm phát do có sự thay đổi dài hạn điểm cân bằng của TGHĐ thực , dẫn đến việc phải điều tiết lại giá cả giữa hàng hóa thương mại và hàng hóa không thương mại . điều này được chứng minh là đắt giá hơn một lần điều chỉnh giá . Tóm lại , việc diều hành tỷ giá ở các nước đã trải qua nhiều thay đổi trong thập kỷ rưỡi qua . Sự biến động của các đồng tiền chính , lạm phát đòi hỏi việc điều chỉnh tỷ giá thường xuyên hơn . Rồi các cơn sốc kinh tế bên ngoài cũng đưa đến việc chuyển đổi chế độ tỷ giá từ cố định sang linh hoạt . Việc lựa chọn chế độ tỷgiá tối ưu cũng phải dựa trên một số tiêu chuẩn gồm : mục tiêu của chính phủ , bản chất của các cơn sốc ngoại sinh và đặc trưng cơ cấu của nền ki nh tế . Chương II : Việt nam với tiến trình cải cách tỷ giá hối đoái I \ Lịch sử tỷ giá hối đoái 1\ Tổng q._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • doc32344.doc