Đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập

Đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt nam trong hội nhập Mục lục Mở đầu 1 I - Mục đích của khảo sát và phương pháp thực hiện 2 1. Mục đích 2 2. Phương pháp thực hiện 2 II - Kết quả của khảo sát 2.1. Nhận xét chung 4 2.2. Đánh giá sơ bộ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 8 2.3. Đầu vào và các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. 12 2.3.1.Vốn (Money): 12 2.3.2. Nguyên vật liệu (Materials): 13 2.3.3. Thiết bị công nghệ (Marchinery): 14 2.3.

doc96 trang | Chia sẻ: huyen82 | Lượt xem: 1282 | Lượt tải: 0download
Tóm tắt tài liệu Đánh giá năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập, để xem tài liệu hoàn chỉnh bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên
4. Lao động (Manpower): 15 2.3.5. Quản lý (Management): 18 2.3.6. Tiếp thị (Marketing): 19 2.3.7. Các yếu tố khác: 20 2.4. Môi trường kinh doanh: 24 2.5. Kết Luận: 26 III - Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt nam trong 4 ngành kinh doanh chủ yếu: Dệt may, Da giày, gạo và hải sản 3.1. Ngành dệt may 28 3.1.1. Về Vốn (Money) 29 3.1.2. Về Nguyên vật liệu (Materials) 29 3.1.3. Về Thiết bị - công nghệ (Machinery) 30 3.1.4. Về Lao động (Manpower) 31 3.1.5. Về Quản lý (Management) 33 3.16. Về Thị trường (Marketing) 33 3.2. Ngành da giầy 36 3.2.1. Về Vốn (Money) 36 3.2.2. Về Nguyên phụ liệu (Materials) 37 3.2.3. Về Thiết bị - công nghệ (Machinery) 38 3.2.4. Về Lao động (Manpower) 39 3.2.5. Về Quản lý (Management) 40 3.2.6. Về Thị trường (Marketing) 42 3.3. Ngành gạo 50 3.3.1. Sản xuất và chế biến lúa gạo 50 3.3.2. Nhu cầu lúa gạo 54 3.3.3. Giá cả lúa gạo 55 3.3.4. Thị trường xuất khẩu lúa gạo 58 3.4. Ngành hải sản 62 3.4.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hải sản 62 3.4.2. Giá cả 66 3.4.3. Phân bố sản xuất và xuất khẩu hải sản 66 3.4.4. Thị trường và các biện pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của xuất khẩu hải sản Việt nam 68 IV - So sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước Châu á 4.1. "Báo cáo Năng lực cạnh tranh tổng thể năm 1999 " (The Global Competitiveness Report 1999) 74 4.2. Hội thảo "Xây dựng năng lực cạnh tranh"tại Hà nội 13-3-2002 78 4.3. Chỉ số thực hiện thương mại 81 4.4. Bảng so sánh giá cả và dịch vụ giữa Việt nam và một số nước của JETRO 83 4.5. Kết luận 86 Phụ lục I: Phiếu điều tra Phụ lục II: Tỷ lệ doanh nghiệp trả lời phân bổ theo địa phương Danh mục Tài liệu tham khảo Mở đầu Căn cứ vào bản thoả thuận hợp tác giữa Ban Quan hệ quốc tế- Phòng Thương mại và Công nghiệp (gọi tắt là VCCI) và Công ty Tư vấn đầu tư và kinh doanh quốc tế Hà Minh (Công ty TNHH Hà Minh - IBCI) thực hiện việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam, trên cơ sở các phiếu điều tra doanh nghiệp do VCCI lập và đã nhận được phản hồi. Theo phân giao nhiệm vụ (Terms of Reference, trong báo cáo được gọi tắt là TOR), IBCI phải : Lập phần mềm xử lý và nhập dữ liệu điều tra; Xử lý số liệu trên cơ sở thống kê kết quả điều tra; Xây dựng bản báo cáo nghiên cứu năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam có so sánh với một số nước ASEAN và Trung Quốc và đưa ra một số kiến nghị để xem xét. Báo cáo được kết cấu theo nội dung sau: Mục đích của khảo sát và phương pháp thực hiện Kết quả điều tra: Phân tích số liệu theo từng tiêu chí căn cứ theo nội dung câu hỏi (Theo mẫu kèm theo), và theo tiêu thức 6 Ms của Philip Kotler. Một số khuyến nghị của Doanh nghiệp. Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong 3 ngành: dệt may, da giầy, nông sản thực phẩm có so sánh với một số nước Asean và Trung quốc. IV. So sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước Châu á I-Mục đích của khảo sát và phương pháp thực hiện 1. Mục đích Mục đích của khảo sát là nhằm thu thập các thông tin có liên quan đến sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Việt nam ở tất cả các thành phần kinh tế: Nhà nước, tư nhân, liên doanh đầu tư nước ngoài trên mọi lĩnh vực, đặc biệt lưu ý đến 4 ngành sản xuất: dệt may, da giầy và nông sản, hải sản; mô tả thực trạng năng lực sản xuất kinh doanh, và các yếu tố tác động đến môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp đã phúc đáp làm cơ sở để phân tích những yếu tố thuận lợi cũng như cản trở năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt tập trung vào mấy ngành được yêu cầu, và, phần nào có so sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước trong ASEAN và Trung quốc 2. Phương pháp thực hiện Phương pháp tiếp cận Một phiếu điều tra tổng thể từ nhiều góc độ (theo Phụ lục 1) về tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được VCCI lập nhằm phục vụ cho cuộc điều tra này. VCCI đã gửi phiếu điều tra trên tới hơn 6000 doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần khác nhau (chiếm gần 10% so với tổng số doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh trong cả nước vào thời điểm tiến hành điều tra) với mục tiêu là sẽ nhận được 1000 phiếu trả lời. Thực tế đã nhận được 529 phiếu phản hồi, chiếm 8,82% số phiếu đã gửi đi và so với mục tiêu đạt 52,9%. IBCI đã lập trình phần mềm dựa trên những câu hỏi nêu trong phiếu điều tra để xử lý số liệu, trong đó các tiêu chí để phân loại, phân tích và đánh giá bám sát nội dung câu hỏi có mục tiêu của phiếu điều tra. Trong khi xử lý số liệu, để tiện cho người đọc, IBCI đã cố gắng nhóm các vấn đề vào 6 nhóm theo tiêu thức 6Ms của Philip Kotler khi đánh giá một doanh nghiệp, đó là đánh giá về: Tài chính, tiền tệ; Money; Vật tư ; Materials; Máy móc thiết bị/công nghệ; Machinery; Nhân lực; Manpower; Quản lý; Management; Thị trường. Market. TOR có yêu cầu tập trung vào một số ngành như đã nêu trên và so sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước ASEAN và Trung quốc. Do khi thiết kế các câu hỏi chưa thể hiện đầy đủ dụng ý này, nên khi làm báo cáo về phần này, IBCI, vượt ra khỏi khuôn khổ của 529 phiếu phúc đáp, phải dựa vào các tiêu thức hoặc kết quả nêu trong các tài liệu tham khảo khác (Xem Phụ lục 1) để có tư liệu và tự kiểm chứng kết quả xử lý của mình. Trong quá trình xử lý số liệu và làm báo cáo, IBCI đã thường xuyên trao đổi ý kiến với các chuyên gia của Bộ Thương mại, đặc biệt là Vụ Châu á - Thái bình dương, Viện Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)...và một số doanh nghiệp, những người hàng ngày đang điều hành công việc quản lý, nghiên cứu và kinh doanh. II - Kết quả của khảo sát 2.1. Nhận xét chung : Tuy số doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra chỉ là 529 đơn vị, đạt 52,9 % so với mục tiêu, chiếm một tỷ lệ rất nhỏ so với tổng số doanh nghiệp Việt nam hiện có vào thời điểm điều tra (khoảng dưói 5%) , nhưng số doanh nghiệp phúc đáp đủ đại diện cho nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh và dịch vụ, từ nhiều khu vực thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau. Phần lớn phiếu điều tra thu được có chất lượng cao, các doanh nghiệp đã điền khá đầy đủ vào các câu hỏi, đồng thời nêu được những lợi thế cạnh tranh cũng như khó khăn của doanh nghiệp và đưa ra được những khuyến nghị nhằm nâng cao sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp mình. Những dữ liệu mà các doanh nghiệp cung cấp qua việc trả lời phiếu điều tra đáp ứng được yêu cầu đánh giá về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam 2.1.1. Tổng số phiếu điều tra thu về là 529 phiếu, chiếm 52,9% so với mục tiêu đề ra. 2.1.2. Phân bổ theo thành phần kinh tế: Kinh tế tư nhân : 270 đơn vị (chiếm 51,04%); Doanh nghiệp Nhà nước: 230 đơn vị (chiếm 43,48%); Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: 29 đơn vị (chiếm 5,48%). Tỷ lệ trên cũng tiệm cận với tỷ lệ đóng góp trong tổng sản phẩm (GDP) trong nước tương ứng với tỷ lệ đóng góp của các thành phần này theo Niêm giám thống kế năm 2000 là: 45,86%; 40,97% và 13,2%. 2.1.3. Phân bổ theo địa phương Phần lớn các phiếu điều tra được điền và gửi về từ các tỉnh, thành phố lớn, từ các vùng kinh tế trọng điểm của Việt nam, nơi có số lớn các doanh nghiệp đang hoạt động. Phiếu trả lời nhận được cao nhất là từ thành phố Hồ Chí Minh với 132 phiếu (chiếm 24,95%), tiếp đến là Hải phòng là 105 phiếu (chiếm 19,85%), Đà nẵng là 74 phiếu (chiếm 13,99%). Trái với mong đợi, mức độ phản hồi từ các doanh nghiệp ở thành phố Hà nội lại rất thấp với 27 phiếu (chiếm 5,10%). Chính tỷ lệ trả lời thấp ở Hà nội đã làm giảm tỷ lệ trả lời chung so với mục tiêu đề ra. Mặc dù vậy, chúng tôi cho rằng số lượng các doanh nghiệp trả lời từ 39 tỉnh và thành phố, trên tổng số 61 tỉnh thành phố trong cả nước, chiếm 63,93%, cũng có thể làm cơ sở để đánh giá chung năng lực sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt nam. (Xin xem phụ lục 2) 2.1.4. Về thời gian thành lập doanh nghiệp, tính từ năm 1955 đến năm 2001 được phân bổ theo các thời kỳ sau: Thời kỳ 1955- 1975 : 28 đơn vị (chiếm 5,3%); Thời kỳ 1976-1986 : 77 đơn vị (chiếm 14,55%); Thời kỳ 1987-hiện nay : 424 đơn vị (chiếm 80,15%); Riêng số doanh nghiệp thành lập sau khi có Luật doanh nghiệp (từ năm 2000 tới nay) có 109 đơn vị (chiếm 20,6%). Điều này phản ánh được tác động lớn lao của Luật Doanh nghiệp trong việc tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp cũng như tính năng động, khả năng tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Việt nam. 2.1.5. Về ngành nghề, phiếu điều tra nhận được từ các doanh nghiệp ở nhiều ngành nghề sản xuất kinh doanh khác nhau được phân bổ như sau: Kinh doanh dịch vụ : 440 doanh nghiệp (chiếm 83,18%); Sản xuất : 89 doanh nghiệp (chiếm 16,82%); Trong đó: Ngành dệt may: 86 doanh nghiệp (chiếm 16,26%); Ngành da giầy: 44 doanh nghiệp (chiếm 8,32%); Ngành gạo: 34 doanh nghiệp (chiếm 6,43%); Ngành hải sản: 59 doanh nghiệp (chiếm 11,15%); Ngành nghề khác: 306 doanh nghiệp (chiếm 57,84%); 2.1.6. Về quy mô, trong số 529 doanh nghiệp trả lời phiếu điều tra, có: Doanh nghiệp vừa và nhỏ * : 280 đơn vị ( chiếm 52,93%), Doanh nghiệp lớn : 249 đơn vị ( chiếm 47,07%). (*) Việc xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ theo tiêu chí của nhà nước về vốn và lao động (theo Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP banh hành ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ quy định: "Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người."). 2.1.7. Về chất lượng quản lý/sản phẩm : Tuy rằng, phiếu điều tra đã không đưa ra câu hỏi về ISO 9000, ISO 14000 và HACCP nhưng một số doanh nghiệp phúc đáp đã được cấp chứng nhận ISO 9000, ISO 14000 và HACCP. Điều này chứng tỏ một số doanh nghiệp đã nhận thức được đây là một trong những yếu tố quan trọng để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong khu vực và thế giới khi thâm nhập vào các thị trường khó tính như: EU, Mỹ, Nhật 2.2. Đánh giá sơ bộ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 2.2.1. Về thị trường, các doanh nghiệp tự đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ của mình trên thị trường như sau: Thị trường trong nước: Không trả lời: 71 phiếu (chiếm tỷ lệ: 13,42%) Nhận định kém: 25 phiếu (chiếm tỷ lệ: 4,72%) Nhận định trung bình: 233 phiếu (chiếm tỷ lệ: 44,05%) Nhận định tốt: 200 phiếu (chiếm tỷ lệ: 37,81%) Thị trường ASEAN Không trả lời: 169 phiếu (chiếm tỷ lệ: 31,95%) Nhận định kém: 44 phiếu (chiếm tỷ lệ: 8,32%) Nhận định trung bình: 195 phiếu (chiếm tỷ lệ: 36,86%) Nhận định tốt: 121 phiếu (chiếm tỷ lệ: 22,87%) Thị trường quốc tế Không trả lời: 127 phiếu (chiếm tỷ lệ: 24,01%) Nhận định kém: 51 phiếu( chiếm tỷ lệ: 9,64%) Nhận định trung bình: 204 phiếu (chiếm tỷ lệ: 38,56%) Nhận định tốt: 147 phiếu (chiếm tỷ lệ: 27,79%) Như vậy, các doanh nghiệp tự khẳng định là sản phẩm và dịch vụ của mình đã được người tiêu dùng trong nước chấp nhận, có thể đứng vững và phần nào đủ sức cạnh tranh với hàng hoá nhập ngoại. Tuy nhiên, trên thị trường quốc tế, kể cả với ASEAN, số phiếu tự nhận năng lực cạnh tranh của mình ở mức tốt mới chỉ ở mức dưới 30%, loại kém và trung bình vẫn gần 50%. 2.2.2. Về yếu tố năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp trả lời như sau: Do giá cả sản phẩm và dịch vụ: 77.71% Do môi trường thuận lợi: 36.19% Do tính độc đáo của sản phẩm: 37.33% Do hỗ trợ của Chính phủ: 22.86% Do lợi thế cạnh tranh của Việt nam: 54.29% (về nguồn nguyên liệu và giá nhân công) Theo đó, 411 doanh nghiệp (77.71%) cho là do yếu tố giá cả sản phẩm và dịch vụ; tiếp đến 287 doanh nghiệp (54.29%) cho là do lợi thế cạnh tranh của Việt nam (về nguồn nguyên liệu, giá nhân công); sau đó mới đến yếu tố tính độc đáo của sản phẩm và môi trường thuận lợi. Chỉ có 121 doanh nghiệp (22.86 %) cho là do có sự hỗ trợ của Chính phủ. Nhấn mạnh thứ tự yếu tố tạo khả năng cạnh tranh mà các doanh nghiệp tự cảm nhận và nêu ra nhằm đánh giá đúng thực trạng của các doanh nghiệp và chỉ rõ những biện pháp cần thiết phải làm từ chuyển biến nhận thức cũng như các chính sách nhằm phát huy tối đa tiềm năng của các doanh nghiệp. Bên cạnh các yếu tố tạo năng lực cạnh tranh kể trên, các doanh nghiệp có liệt kê thêm một số yếu tố khác như: Uy tín của công ty đươc tạo từ chất lượng sản phẩm dịch vụ cao và ổn định, có đội ngũ công nhân lành nghề và siêng năng; quan hệ với bạn hàng tốt; tổ chức và quản lý tốt, chủ động tìm kiếm thị trường, tìm hiểu kỹ lưỡng thị trường từng nước để đưa ra sản phẩm thích hợp 2.2.3. Về đối thủ cạnh tranh, các doanh nghiệp tự đánh giá sản phẩm của họ chủ yếu phải cạnh tranh với sản phẩm của một số nước và khu vực như sau: Với ASEAN : 231 doanh nghiệp (43.62%) Với Trung quốc: 224 doanh nghiệp (42.29%) Thị trường khác: 169 doanh nghiệp (31.81%) Như vậy, bản thân các doanh nghiệp đã nhận thức được sản phẩm của họ phải cạnh tranh trước tiên với sản phẩm của các nước ASEAN và Trung quốc ngay chính tại thị trường nội địa và sau đó là xuất khẩu. Điều này sẽ được phân tích rõ trong phần nghiên cứu năng lực cạnh tranh của 4 ngành dệt may, da giầy, nông sản và hải sản. Nhận thức đúng đắn này sẽ giúp cho doanh nghiệp thấy được những điểm thuận lợi và khó khăn; những nguyên nhân khách quan và chủ quan; đặc điểm nội tại và môi trường kinh doanh quyết định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam so với các nước ASEAN và Trung quốc. 2.3. Đầu vào và các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh. Bên cạnh những yếu tố kể trên, căn cứ vào tình hình thực tế sản xuất kinh doanh của đơn vị mình, các doanh nghiệp còn nêu hàng loạt các yếu tố khác với 77 ý kiến khác nhau, chúng tôi tổng hợp vào 6 nhóm dựa theo tiêu thức 6Ms của Philip Kotler về đánh giá doanh nghiệp về: Vốn (Money) Nguyên vật liệu (Materials) Máy móc thiết bị/công nghệ (Machinery/Technology) Nhân lực (Manpower) Quản lý (Management) Thị trường (Marketing) 2.3.1. Vốn (Money): Vốn luôn là yếu tố quan trọng đối với doanh nghiệp. Nó là cơ sở, nền tảng để doanh nghiệp tiến hành các hoạt động của mình nhằm hướng tới lợi nhuận cao nhất có thể. Yếu tố vốn luôn có mặt trong các quá trình hoạt động của doanh nghiệp từ sản xuất đến lưu thông sản phẩm. Trong nền kinh tế hội nhập, yếu tố vốn đối với doanh nghiệp càng trở nên quan trọng, nó là cơ sở để doanh nghiệp có thể tiến hành cải tiến công nghệ theo kịp trình độ chung trên thế giới, là cơ sở để doanh nghiệp phát triển mở rộng quy mô tạo thế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác trong khu vực và thế giới. 2.3.1.1. Các doanh nghiệp Việt nam không có vốn lớn, theo thống kê phiếu điều tra: Trên 10 tỷ đồng : 139 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 26,28%) Dưới 10 tỷ đồng: 390 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 73,72%) Trong số các doanh nghiệp có số vốn lớn trên 10 tỷ đồng thì: Doanh nghiệp nhà nước: 96 doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân và có vốn đầu tư nước ngoài chỉ có: 43 doanh nghiệp. Số doanh nghiệp lớn như theo thống kê ở trên: 249 doanh nghiệp là do nhiều doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 10 tỷ đồng nhưng thu hút trên 300 lao động (theo Điều 3 Nghị định 90/2001/NĐ-CP banh hành ngày 23/11/2001 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ). Điều này nói lên tỷ lệ vốn, trong đó có tài sản cố định, kể cả máy móc, thiết bị và công nghệ tính trên một lao động là rất nhỏ, yếu tố này cũng ảnh hưởng lớn đến khả năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.3.1.2. Phân tích số liệu điều tra cho thấy số doanh nghiệp Việt nam có vốn lớn chiếm tỷ trọng nhỏ. Một số doanh nghiệp muốn phát triển, thêm quy mô thì còn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt là vấn đề mặt bằng sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp còn gặp những khó khăn về hoàn thuế nhập khẩu và VAT gây ứ đọng vốn. Đây là điều đáng lo khi các chính sách bảo hộ của nhà nước đến năm 2006 hầu như không còn nữa theo lịch trình giảm thuế quan cho khu vực mậu dịch tự do ASEAN-AFTA. Khi đó, các doanh nghiệp Việt nam sẽ dễ dàng bị các tập đoàn lớn của các nước trong khu vực đánh bại. Trong nhiều nghiên cứu trước đây đã nêu lên những khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn vốn, trong khi vốn tồn đọng còn nhiều trong các nguồn, lưu thông khó khăn, và việc huy động vốn trong dân vào đầu tư sản xuất, trong việc cổ phần hoá, chưa được cải thiện là bao. 2.3.2. Nguyên vật liệu (Materials): Theo điều tra, chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong giá thành (bình quân là 42.52%). Nên việc chi phí nguyên liệu cao hay thấp trong sản xuất sẽ có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. 2.3.2.1. Có đến 450 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 85.06%) cho biết có sử dụng nguyên vật liệu có sẵn trong nước. Điều này nói lên ưu thế cạnh tranh nổi bật của các doanh nghiệp Việt nam. Tuy nhiên, số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc cung ứng nguyên liệu cũng không nhỏ (41.22%), bởi những lý do: Nguồn cung ứng không ổn định 44.37% Xa nguồn nguyên liệu, vận chuyển 34.46% khó khăn, cước vận chuyển lớn Ngoài ra, đối với những ngành sử dụng sản phẩm của trồng trọt và chăn nuôi, để có nguồn nguyên liệu sản xuất, các doanh nghiệp phải đầu tư cho các hộ nông dân, ngư dân về vốn, giống và khoa học kỹ thuật nhưng đến khi thu hoạch xảy ra tình trạng không lành mạnh khá phổ biến và nghiêm trọng là tranh mua, tranh bán, tăng hoặc ép giá thậm chí mua cả của hộ không đầu tư dẫn đến việc doanh nghiệp bị mất vốn đầu tư nguyên liệu. 2.3.2.2 Có đến 349 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 65.90%) cho biết phải sử dụng nguyên vật liệu nhập khẩu, chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc ngành dệt may, da giầy và công nghiệp chế tạo. Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp do không chủ động về nguồn cung ứng và giá cả nguyên vật liệu. Trong số này, có 39.83% doanh nghiệp cho biết họ gặp khó khăn trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu, chủ yếu là do: Nhập khẩu phải có quota: 7.56% Nhập khẩu phải có giấy phép: 28.20% Thuế nhập khẩu cao: 44.77% Ngoài những khó khăn trên, trong việc nhập khẩu nguyên vật liệu, các doanh nghiệp còn gặp nhiều trở ngại liên quan đến thủ tục Hải quan, thuế suất nhập khẩu cao và không ổn định, và nhất là việc áp mã số thuế bất hợp lý của Hải quan. Những khó khăn trên dẫn đến việc chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng và không ổn định làm cho các doanh nghiệp không kiểm soát được giá thành sản phẩm. 2.3.3. Thiết bị công nghệ (Marchinery): Thiết bị công nghệ là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá trình độ năng lực sản xuất cũng như trình độ tiên tiến của công nghệ sản xuất. Nó quyết định hàm lượng chất xám trong cơ cấu giá thành sản phẩm, là cơ sở để tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Qua điều tra, các doanh nghiệp tự đánh giá trình độ công nghệ hiện mình đang sử dụng như sau: Công nghệ đơn vị đang sử dụng: Không trả lời: 40 phiếu (chiếm tỷ lệ: 7,56%) Lạc hậu: 23 phiếu (chiếm tỷ lệ: 4,35%) Trung bình: 300 phiếu (chiếm tỷ lệ: 56,71%) Tiên tiến: 166 phiếu (chiếm tỷ lệ: 31,38%) Thiết bị đơn vị đang sử dụng: Không trả lời: 32 phiếu (chiếm tỷ lệ: 6,05%) Quá cũ: 5 phiếu (chiếm tỷ lệ: 0,95%) Cũ: 20 phiếu (chiếm tỷ lệ: 3,78%) Trung bình: 206 phiếu (chiếm tỷ lệ: 38,94%) Mới: 266 phiếu (chiếm tỷ lệ: 50,28%) Qua số liệu kể trên có thể thấy trong một số ngành sản xuất công nghiệp trình độ công nghệ và thiết bị đã đạt trên trung bình và đã tiệm cận với trình độ công nghệ tiên tiến. 2.3.4. Lao động (Manpower): Theo phiếu điều tra thu được, có: Trên 300 lao động: FDI: 16 DN (Chiếm: 3,02%) Tư nhân: 68 DN (Chiếm: 12,85%) Nhà nước: 127 DN (Chiếm: 24,01%) Các doanh nghiệp này hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, gia công sản phẩm, thủy hải sản,... cần nhiều lao động thủ công có tay nghề.. Chí phí lao động bình quân chiếm tỷ lệ trong giá thành khá cao (chiếm 21.63%). Theo số liệu phiếu điều tra: Trình độ lao động có tay nghề: Không trả lời: 62 phiếu (chiếm tỷ lệ: 11,72%) Có sẵn: 188 phiếu (chiếm tỷ lệ: 35,54%) Trung bình: 229 phiếu (chiếm tỷ lệ: 43,29%) Khó tìm: 50 phiếu (chiếm tỷ lệ: 9,45%) Năng suất lao động so với các nước trong khu vực: Không trả lời: 91 phiếu (chiếm tỷ lệ: 17,20%) Cao : 106 phiếu (chiếm tỷ lệ: 20,04%) Trung bình: 254 phiếu (chiếm tỷ lệ: 48,02%) Thấp: 78 phiếu (chiếm tỷ lệ: 14,74%) Hiện nay, nhiều ý kiến cho rằng lao động là một lợi thế cạnh tranh và thu hút đầu tư nổi bật của Việt nam bởi chi phí lao động rẻ, trình độ dân trí của lao động Việt nam cao (phần lớn đã tốt nghiệp PTCS và PTTH), có truyền thống lao động cần cù, ham học hỏi, khéo tay nhanh trí. Nhưng chúng ta phải nhìn nhận rằng chi phí lao động tuy rẻ nhưng năng suất lao động chỉ ở mức trung bình và thấp( trên 60%), chủ yếu lại là lao động thủ công, tác phong lao động công nghiệp chưa hình thành. Do đó nếu so sánh lao động Việt nam với lao động các nước trong khu vực thì có thể nói đây lại là điểm yếu của Việt nam bởi: Nếu xét về chi phí lao động thì chi phí lao động của Việt nam cao hơn nhiều so với Indonesia Các mức lương (USD/month) Indonesia (Jakarta) Việt Nam (Hà nội) Mức lương tối thiểu 31.75 45 Công nhân 44 - 83 79 - 108 Kỹ sư 139 - 242 187 - 314 Quản lý 238 - 1208 476 - 546 Nguồn: "Biểu so sánh về các điều kiện đầu tư tại các quốc gia ASEAN", tháng 3/2000, JETRO Nếu xét tới lao động có trình độ kỹ thuật và có năng suất cao thì lao động Việt nam lại không thể so sánh với Thái lan, Malaysia, Singapore. Thêm nữa, phần lớn các doanh nghiệp phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động (chiếm 85.06%), chứ không phải lao động được đào tạo qua hệ thống trường dạy nghề tập trung, điều này dẫn đến chi phí đào tạo cho lao động cao nhưng trình độ hiểu biết khoa học kỹ thuật của lao động thấp, nên rất hạn chế trong việc phát huy sáng kiến cải tiến công nghệ và đặc biệt là lao động gặp rất nhiều khó khăn mỗi khi doanh nghiệp có sự chuyển đổi công nghệ và sản phẩm mới. Đại học Trung cấp CN Điều này phản ảnh một thực trạng "Thừa thầy, thiếu thợ" trong hệ thống giáo dục-đào tạo của ta hiện nay. Trong một khảo sát về lĩnh vực này, tỷ lệ đào tạo giữa đại học / trung cấp / công nhân kỹ thuật là 1 / 0,83 / 0,6. Một vấn đề thuộc chiến lược giáo dục-đào tạo quốc gia được đặt ra là sớm khắc phục mô hình "hình tháp lộn ngược" này để lao động Việt nam được đào tạo lành nghề, có năng suất cao chứ không phải chỉ vì" giá rẻ", thực sự trở thành một lợi thế cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Theo điều tra trong cải tiến cơ cấu lao động, các doanh nghiệp đã đưa ra nhiều ý kiến nhưng chủ yếu tập trung vào: Nâng cao ý thức trách nhiệm, trình độ văn hóa, tác phong làm việc của người lao động; Cố gắng tập trung đào tạo và đào tạo lại để có lao động có tay nghề hướng chuyên ngành, có chiều sâu, nhằm đáp ứng được yêu cầu đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm bớt số lượng lao động dư thừa để hạ giá thành sản phẩm; Cải cách chế độ tiền lương, khuyến khích kịp thời lao động có sáng kiến cải tiến năng suất lao động; Cắt giảm các chi phí trung gian trong quá trình sản xuất.. 2.3.5. Chi phí quản lý (Management): Chi phí quản lý là chỉ tiêu quan trọng đánh giá trình độ quản lý sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp, tỷ lệ chi phí quản lý trong giá thành sản phẩm càng cao chứng tỏ bộ máy quản lý của doanh nghiệp cồng kềnh, chưa hợp lý và ngược lại nếu tỷ lệ này thấp góp phần làm hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. 2.3.5.1. Tỷ lệ chi phí quản lý trong giá thành giá sản phẩm của các doanh nghiệp bình quân là 12.81%. Tỷ lệ bình quân này là tương đối cao, trong đó: Không trả lời: 42 doanh nghiệp (12,59%) Mức từ 0-10%: 367 doanh nghiệp (69,37%) Mức từ 11-20%: 105 doanh nghiệp (19,84%) Mức từ 21-30% : 13 doanh nghiệp ( 2,45%) Mức từ 31-40% : 02 doanh nghiệp ( 0,37%) Trong khi có 367 doanh nghiệp được hỏi (chiếm tỷ lệ 69,38%) đã có nhiều cải tiến trong quản lý, áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật trong quản lý, giảm tối đa biên chế quản lý và tiết kiệm các chi phí gây lãng phí để đạt được tỷ lệ dưới 10% (tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp sản xuất có trình độ công nghệ tiên tiến), thì tỷ lệ chi phí quản lý chiếm trong giá thành sản phẩm ở một số doanh nghiệp còn lại khá cao, 105 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 19,85%) có chi phí quản lý từ 11-20%), đặc biệt 13 doanh nghiệp có tỷ lệ chi phí quản lý là 21% đến 30%, thậm chí có 2 doanh nghiệp có tỷ lệ chi phí quản lý là 31- 40% (chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ và tư vấn.) Việc xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 sẽ làm cho doanh nghiệp chủ động việc xây dựng qui trình công tác cho từng lao động và mối quan hệ dây truyền giữa các lao động và bộ phận công tác nhằm hợp lý hoá sản xuất và quản lý, giảm biên chế hành chính góp phần giảm chi phí quản lý, hạ giá thành sản phẩm. Tuy nhiên, việc thuê chuyên gia và đào tạo để ứng dụng ISO có thể đòi hỏi một số chi phi tương đối lớn ban đầu, coi như một khoản đầu tư để cải tiến quản lý. 2.3.6. Chi phí tiếp thị (Marketing): Chi phí tiếp thị là loại chi phí quan trọng trong việc tiêu thụ sản phẩm. Nó làm cho người tiêu thụ biết đến thương hiệu sản phẩm và tên tuổi của nhà sản xuất, đồng thời giúp cho người tiêu dùng có đủ thông tin để lựa chọn loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của mình. Trước kia, trong nền kinh tế kế hoạch tập trung, yếu tố này thường không được chú ý; nay chuyển sang nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp đã bước đầu chú ý đến yếu tố này. 2.3.6.1. Tỷ lệ chi phí tiếp thị trong giá thành sản phẩm bình quân 12.32% được phân theo các mức như sau: Không trả lời* : 89 Doanh nghiệp (16,82%) Từ 0 - 10% : 359 Doanh nghiệp (67,86%) Từ 11-20% : 64 Doanh nghiệp (12,09%) Từ 21 - 30% : 14 Doanh nghiệp (02,64%) Từ 31 - 40% : 03 Doanh nghiệp ( 0,56%) Cá biệt, có 03 doanh nghiệp tư nhân thuộc lĩnh vực sản xuất và kinh doanh nội địa (phần mềm tin học và tư liệu sản xuất , tư liệu tiêu dùng) có chi phí tiếp thị chiếm 31-40% giá thành sản phẩm. * 89 phiếu không trả lời về loại chi phí này được hiểu là không có chi phí tiếp thị hoặc doanh nghiệp không hạch toán riêng loại chi phí này ( tập trung chủ yếu vào các doanh nghiệp Nhà nước hoặc doanh nghiệp xuất khẩu 100% sản phẩm, lại chủ yếu là phương thức làm gia công cho nước ngoài nên vì lẽ đó không có quan tâm tới tiếp thị) Trong phiếu điều tra không hỏi tới tiếp thị quốc tế nên không thể có câu trả lời về mặt này. Tuy nhiên, theo tư vấn, nếu có câu hỏi này trong phiếu thì con số này đối với doanh nghiệp Việt nam có thể còn rất nhỏ, phần vì nhận thức, phần vì doanh nghiệp Việt nam không chịu nổi chi phí cao này ở thị trường nước ngoài . Dấu hiệu đáng mừng là một vài doanh nghiệp đã thấy trong hội nhập muốn tồn tại được phải có "Đầu óc kinh doanh quốc tế" nên đã bắt đầu có những tính toán phải tiếp thị để vươn ra ngoài. 2.3.6.2. Các con số thống kê trên cho thấy đại đa số các doanh nghiệp đã chú ý đến việc tiếp thị sản phẩm, tuỳ theo ý chí của từng doanh nghiệp, cũng như mục tiêu hoặc kế hoạch tiêu thụ sản phẩm khác nhau mà các doanh nghiệp bỏ chi phí này cao hay thấp. Tuy nhiên, các doanh nghiệp phải tìm ra các biện pháp và hình thức tiếp thị phù hợp nhằm đạt hiệu quả cao, tiết kiệm chi phí tiếp thị một cách hợp lý. 2.3.7. Các yếu tố khác: 2.3.7.1 Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới Chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới là chi phí quan trọng trong nền kinh tế hiện đại bởi các doanh nghiệp muốn tồn tại, có sức cạnh tranh thì cần phải biết đổi mới mình. Do đó, hầu hết các doanh nghiệp trên thế giới hiện nay, nhất là tại các nước phát triển thì chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới chiếm tỷ trọng khá lớn trong cơ cấu chi phí nhằm đầu tư nghiên cứu các công nghệ kỹ thuật mới làm tăng chất lượng và năng suất lao động hay tạo ra các sản phẩm mới độc đáo hiện đại đáp ứng hơn các yêu cầu của khách hàng qua đó làm tăng hiệu quả kinh doanh và tạo một vị trí vững chắc trên thị trường. Qua phiếu điều tra, tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trung bình là: 12,24%, được phân theo các mức sau: Không trả lời:* 132 doanh nghiệp (24,95%) Từ 0 - 10%: 329 doanh nghiệp (62,19%) Từ 11 - 20%: 54 doanh nghiệp (10,20%) Từ 21 - 30%: 12 doanh nghiệp (02,26%) Từ 41 - 50% : 01 doanh nghiệp ( 0,18%) Từ trên 50% : 01 doanh nghiệp ( 0,18%) Cá biệt có 02 doanh nghiệp có tỷ lệ chi phí cho nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trên 41% trong lĩnh vực thuốc trừ sâu, phân bón nông sản xuất khẩu. Theo tư vấn, hiện nay có một thực tế là nhiều doanh nghiệp Việt nam chưa có chiến lược kinh doanh, trong điều hành chủ yếu vẫn là "xử lý tình huống" với công việc hàng ngày, chưa thấy được yêu cầu của quản lý hiện đại nên chưa chú ý đến công tác nghiên cứu và phát triển (R&D). Như vậy, bên cạnh số lớn các doanh nghiệp trong nước đã có ý thức nghiên cứu và phát triển sản phẩm, cho dù tỷ lệ chi phí này còn thấp nhưng cá biệt vẫn còn một bộ phận doanh nghiệp chưa coi trọng vấn đề này (132 doanh nghiệp không trả lời). Đây sẽ là một yếu tố ảnh hưởng tới tạo sức cạnh tranh cho doanh nghiệp Việt nam khi Việt nam hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới. 2.3.7.2. Các chi phí tiện ích (điện, nước, v.v...): Các chi phí điện, nước ... luôn là một yếu tố được xem xét khi có dự án đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Nó cũng được xem xét đến khi so sánh năng lực cạnh tranh giữa các nước. Điều đó nói lên, chi phí điện, nước ... ảnh hưởng không nhỏ tới giá thành sản phẩm trong một số ngành và nó ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo điều tra, tỷ lệ chi phí điện, nước... trong giá thành như sau: Không trả lời:* 43 doanh nghiệp ( 8,12%) Từ 0 - 10%: 370 doanh nghiệp (71,29%) Từ 11 - 20%: 96 doanh nghiệp (18,14%) Từ 21 - 30%: 18 doanh nghiệp (03,40%) Từ 41 - 50%: 02 doanh nghiệp ( 0,37%) Như vậy, nhìn chung tỷ lệ chi phí điện nước trong giá thành dưới 10%, nhưng với một số doanh nghiệp còn khá cao (trên 11%). Một số doanh nghiệp có phản ảnh về chi phí điện quá cao, lại hay bị ngắt điện không báo trước khiến doanh nghiệp phải ngừng sản xuất đột ngột, ảnh hưởng tới tuổi thọ dây chuyền, làm chậm tiến độ sản xuất và ảnh hưởng tới thời hạn giao hàng. 2.3.7.3. Mặt bằng sản suất kinh doanh: Thống kê phiếu điều tra cho thấy: 324 doanh nghiệp (chiếm tỷ lệ 61,25%) phải thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh. Tỷ lệ phí thuê mặt bằng tro._.ng giá thành được phân theo các mức sau: Từ 0 - 10% : 262 doanh nghiệp Từ 11 - 20% : 52 doanh nghiệp Từ 21 - 30% : 07 doanh nghiệp Từ trên 50% : 03 doanh nghiệp Nhìn chung phí thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh chiếm tỷ lệ nhỏ trong giá thành. Riêng có 03 doanh nghiệp có tỷ lệ phí thuê mặt bằng rất cao trên 50%, đó là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực giao nhận vận tải phải thuê mặt bằng làm kho chưa hàng hóa và bãi container Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp nhà nước dễ dàng có mặt bằng sản xuất kinh doanh ngay từ khi thành lập (được nhà nước giao với phí thuê đất rất thấp), đặc biệt một số doanh nghiệp lớn không sử dụng hết số đất được giao đã cho các doanh nghiệp thuộc thành phần tư nhân thuê lại. Trong khi đó một tình trạng ngược lại là các doanh nghiệp thuộc thành phần tư nhân lại rất khó khăn trong việc thuê đất: từ việc tìm kiếm mặt bằng đến việc làm thủ tục thuê đất (các doanh nghiệp phản ảnh là rườm rà, phức tạp) 2.3.7.4. Chi phí vận tải Theo điều tra, tỷ lệ chi phí vận tải trong giá thành là: Không trả lời* : 46 doanh nghiệp ( 8,69%) Từ 0 - 10% : 372 doanh nghiệp (70,32%) Từ 11 - 20% : 90 doanh nghiệp (17,01%) Từ 21 - 30% : 12 doanh nghiệp ( 2,27%) Từ 31 - 40% : 03 doanh nghiệp ( 0,57%) Từ 41 - 50% : 01 doanh nghiệp ( 0,19%) Từ trên 50% : 05 doanh nghiệp ( 0.95%) Các doanh nghiệp nói chung có chi phí vận tải không cao, số doanh nghiệp có chi phí vận tải cao chủ yếu là các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đại lý giao nhận và vận tải. Chi phí vận tải phụ thuộc nhiều yếu tố: giá nhiên liệu, loại phương tiện, cơ sở hạ tầng. Thực tế hiện nay, nhiên liệu nước ta chủ yếu là phải nhập khẩu (xăng, dầu). Thêm nữa, cơ sở hạ tầng nước ta còn quá yếu nhiều đường và cầu quá nhỏ và không chịu được tải trọng cao, không cho phép xe chở container chạy qua (theo doanh nghiệp phản ảnh) khiến doanh nghiệp phải dỡ hàng từ xe container chuyển sang chuyên chở bằng xe tải nhỏ làm chi phí vận tải tăng. 2.4. Môi trường kinh doanh: Theo điều tra về môi trường kinh doanh, kết quả thu được như sau: Số doanh nghiệp trả lời Không có ý kiến Thuận lợi Trung bình Không thuận lợi 1 - Quy chế đầu tư 88 187 210 44 2 - Pháp luật về kinh doanh 53 182 269 25 3 - Quản lý xuất nhập khẩu 95 176 224 34 4 - Khả năng tiếp cận nguồn vốn 57 118 204 150 5 - Thủ tục hải quan 81 124 235 89 6 - Thuế 31 123 252 123 7 - Tỷ giá ngoại tệ 99 136 210 84 8 - Cơ sở hạ tầng 39 132 285 73 9 - Thông tin liên lạc 35 225 217 52 10 - Thanh tra kiểm tra 55 109 295 70 11 - Vấn đề môi trường 45 152 290 42 12 - Hàng rào của nước nhập khẩu 136 93 218 82 Nếu cho điểm: Không có ý kiến = 0; Không thuận lợi = 1; Trung bình = 2; Thuận lợi = 3. Số điểm cao nhất của mỗi mục sẽ là 529 x 3 = 1.587, chúng tôi lấy số tròn là 1.500 điểm để tiện so sánh. Như vậy, theo từng tiêu chí để đánh giá môi trường kinh doanh sẽ như sau : 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 1025 1019 1010 912 931 996 912 1039 1161 987 1078 797 Trong biểu đồ trên, số ghi tại các đỉnh của hình tô đậm ứng với các chỉ tiêu nêu trên, con số bên trong là số điểm được tính cho chỉ tiêu đó. Qua biểu đồ, ta có thể thấy môi trường kinh doanh theo đánh giá của doanh nghiệp qua phiếu điều tra và rút ra nhận định sau: Như vậy, so với mức độ thuận lợi từ cao xuống thấp ta được một thứ tự khác như sau : Thông tin liên lạc (9): 1161/1500 Vấn đề môi trường (11): 1078/1500 Cơ sở hạ tầng (8): 1039/1500 Quy chế đầu tư (1): 1025/1500 Pháp luật về kinh doanh (2): 1019/1500 Quản lý xuất nhập khẩu (3): 1010/1500 Thuế (6): 996/1500 Thanh tra kiểm tra (10): 987/1500 Thủ tục hải quan (5): 931/1500 Khả năng tiếp cận nguồn vốn (4): 912/1500 Tỷ giá ngoại tệ (7): 912/1500 11. Hàng rào của nước nhập khẩu (12): 797/1500 Trong phần sau của bản báo cáo, chúng tôi sẽ đưa ra các biểu đồ so sánh về môi trường kinh doanh giữa Việt nam với một số nước Châu á để làm rõ hơn vể năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt nam cũng như của nền kinh tế Việt nam. 2.5. Kết Luận: 2.5.1. Lợi thế cạnh tranh: Thống kê phiếu điều tra thu được, thì lợi thế canh tranh của doanh nghiệp là: Nguồn nhân công địa phương dồi dào và rẻ. Có vị trí thuận lợi cho kinh doanh và tiếp nhận nguyên liệu, gần vùng nguyên liệu, nguyên liệu rẻ Chất lượng sản phẩm cao và ổn định, tạo được lòng tin và uy tín với khách hàng (thời hạn giao hàng và chất lượng sản phẩm) Có quan hệ tốt với các khách hàng Giá thành sản phẩm thấp Không ngừng cải tiến, đa dạng hóa sản phẩm, tạo tính độc đáo cho sản phẩm Trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm Chủ động trong kinh doanh. 2.5.2. Khó khăn, vướng mắc: Khó khăn mà doanh nghiệp gặp phải chủ yếu là: Thiếu vốn: vốn đầu tư, vốn lưu động Thiếu thông tin: thông tin về thị trường đầu ra ở nước ngoài còn ít, nếu tự tìm hiểu thì chi phí lớn và gặp nhiều khó khăn Chi phí điện quá cao, cắt điện không có kế hoạch làm giảm tuổi thọ dây chuyền và chậm tiến độ sản xuất Mặt bằng sản xuất Phải đào tạo lao động ban đầu Khó khăn trong tìm kiếm thị trường tiêu thụ và mở rộng thị trường tiêu thụ DNNN: một bộ phận nhân sự không đáp ứng yêu cầu nền kinh tế tri thức hiện nay. 2.5.3. Khuyến nghị: Các doanh nghiệp có đưa ra một số đề nghị để giúp doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh và nâng cao sức cạnh tranh như sau: Nhà nước hỗ trợ đẩy mạnh đào tạo tay nghề cho lao động (trường dạy nghề) Đơn giản cải tiến thủ tục xét hoàn thuế XNK Giảm thuế suất thuế NK để giảm giá mua nguyên vật liệu Đẩy mạnh và cải tiến thủ tục hoàn thuế GTGT để doanh nghiệp có vốn hoạt động Đơn giản hơn các thủ tục kê khai và kiểm tra của Hải Quan Thủ tục xin cấp thuê đất phức tạp, rườm rà, chậm chạp, có phần tồn kém Đề nghị cung cấp thông tin về thị trường, có hỗ trợ xúc tiến thương mại cụ thể Chính phủ cần có kế hoạch trong phát triển nguồn nguyên liệu. Nhà nước cần có biện pháp quản lý hữu hiệu chống hàng giả, hàng nhập lậu. Giảm lãi suất vay vốn ngắn hạn, hỗ trợ lãi suất vốn vay ngân hàng, giải quyết vốn vay dài hạn lãi suất thấp để đầu tư mở rộng sản xuất, cải tiến thủ tục cho vay Điều chỉnh giảm giá các dịch vụ viễn thông và điện sản xuất, cần ổn định điện sản xuất và phải có kế hoạch thông báo trước nếu ngắt điện Nâng cấp cơ sở hạ tầng: các đường quốc lộ số 1 quá chật hẹp, cầu thô sơ và yếu không chịu nổi tải trọng của xe có container III - Năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp Việt nam trong 4 ngành kinh doanh chủ yếu: Dệt may, Da giày, gạo và hải sản Nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ để tăng nhanh khả năng tiêu thụ sản phẩm là vấn đề then chốt đối với sản xuất kinh doanh trong giai đoạn chuyển đổi của Việt nam từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Phân tích năng lực cạnh tranh của 4 ngành mũi nhọn của kinh tế Việt nam là dệt may, da giầy, gạo và hải sản nhằm đánh giá đúng thực trạng và khả năng cạnh tranh của những ngành kinh tế này so với Trung quốc và một số nước ASEAN là những đối thủ trực tiếp, để từ đó có cách nhìn tổng thể về sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam, Những yếu tố quyết định của cạnh tranh dẫn đến thành công hay thất bại của một số ngành (theo tiêu thức 6Ms của Philip Kotler): Vốn (Money) Nguyên vật liệu (Materials) Thiết bị công nghệ (Machinery) Nhân lực (Manpower) Quản lý (Management) Thị trường (Marketing) 3.1. Ngành dệt may: Dệt may hiện nay là ngành có ý nghĩa quan trọng trong chính sách định hướng xuất khẩu và là một trong những nỗ lực của Việt nam để hòa nhập vào nền kinh tế quốc tế. Sự thành công của ngành này sẽ mở đường cho sự xuất hiện một chiến lược định hướng xuất khẩu có cơ sở rộng hơn, ngược lại sự thất bại về xuất khẩu của ngành này là một trở ngại cho việc phát huy lợi thế hiện nay. Cho đến nay ngành dệt may Việt nam đã đạt được thành công đáng kể. Tăng trưởng xuất khẩu: từ dưới 100 triệu USD năm 1989 tăng lên trên 1,3 tỷ USD năm 1997 và đến năm 2000 đạt con số là 1,815 tỷ USD. Hiện nay ngành này tạo ra khoảng 20% tổng kim ngạch xuất khẩu, đứng thứ hai chỉ sau dầu lửa. Ngành thu hút hơn nửa triệu công nhân ( có 80% lao động nữ ). Mức tăng trưởng xuất khẩu gần đây là kết quả của môi trường xuất khẩu, tận dụng được điều kiện hạn ngạch (quota) xuất khẩu vào Châu âu và tiếp cận với thị trường Mỹ. Tuy nhiên, những trở ngại trong nước đã kìm hãm các doanh nghiệp Việt nam và hạn chế khả năng của doanh nghiệp trong việc cạnh tranh trên các thị trường quốc tế, đặc biệt là với Trung quốc là nước xuất khẩu sản phẩm dệt may chính ở Đông á (tính trên kim ngạch cũng như trị giá xuất khẩu dệt may tính trên đầu người) và các nước ASEAN. 3.1.1. Về Vốn (Money): Xét trên loại hình sở hữu: ngành dệt may Việt nam có các loại hình sở hữu sau: Loại hình sở hữu Ngành dệt Ngành may Doanh nghiệp Nhà nước 60% 36% Doanh nghiệp tư nhân 24% 49% Đầu tư nước ngoài 16% 15% Nguồn: Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt nam - Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc, UNIDO và Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Nét đặc trưng không bình thường của tỷ trọng chia theo loại hình sở hữu đó là khu vực tư nhân chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong ngành dệt may Việt nam, phản ánh dấu tích của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, điều này cho thấy khả năng huy động vốn trong dân đầu tư vào ngành dệt may còn rất nhỏ bé. Mặt khác, các doanh nghiêp tư nhân lại không có điều kiện tiếp cận vay vốn của ngân hàng Nhà nước và chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt nam. Trong khi tại Trung quốc và các nước ASEAN, khu vực kinh tế tư nhân phát triển đủ sức chi phối ngành công nghiệp dệt may. Tuy nhiên, sau khi Việt nam thực hiện tự do hoá chính sách về FDI thì các dự án đầu tư nước ngoài được phê duyệt tăng lên một cách nhanh chóng. Từ năm 1993 trở lại đây, đầu tư nước ngoài đạt bình quân trên 100 triệu USD/ năm, cá biệt năm 2001 có nhà đầu tư Đài Loan đã đầu tư xây dựng tổ hợp kéo sợi và dêt may tại tỉnh Đồng nai với trị giá trên 230 triệu USD. 3.1.2. Về Nguyên vật liệu (Materials): Bông và sản phẩm hoá dầu là đầu vào cơ bản của xơ sợi tự nhiên và tổng hợp, các sản phẩm này lại là đầu vào chính của quá trình dệt vải, quá trình này cung cấp vải cho ngành may. Ưu thế lớn của Trung quốc là có một ngành công nghiệp dệt may đồng bộ, các nhà sản xuất may mặc có thể dễ dàng tìm mua nguyên liệu trong nước nhất là sợi thiên nhiên, mặc dù vẫn còn phải nhập sợi tổng hợp. Các nước ASEAN cũng như Việt nam phải nhập khẩu phần lớn nguyên phụ liệu cho ngành dệt may (trừ Indonesia và Malaysia có sản xuất được sợi hoá học là chế phẩm của công nghiệp hoá dầu). Sản lượng bông (cotton) của cả nước trong năm 2000 ước đạt 19,1 nghìn tấn, trong khi ngành dệt vải cần hơn 100 nghìn tấn (phải nhập khẩu 81,8 nghìn tấn).Như vậy riêng về sợi bông ngành dệt may Việt nam phụ thuộc vào thị trường bên ngoài hơn 80%. 3.1.3. Về Thiết bị - công nghệ (Machinery): Tình trạng máy móc thiết bị ngành dệt may của Việt nam rất lạc hậu, đặc biệt là ngành dệt. Thiết bị trong ngành may được đánh giá là hiện đại hơn. Trong số các doanh nghiệp dệt quốc doanh, ước tính chỉ có : 15% máy móc đạt chất lượng sản xuất hiện đại; 45% cần sửa chữa ;và 40% cần thay thế (một nửa số này đã được sử dụng ít nhất là 25 năm). Hậu quả là nhiều doanh nghiệp chỉ hoạt động dưới 50% công suất. So sánh Trung quốc - Việt nam: Trung quốc có lịch sử công nghiệp hoá lâu hơn so với Việt nam (công nghiệp dệt may ở Việt nam đã có khoảng một thế kỷ, còn những sản phẩm thủ công truyền thống như thêu thùa thì đã tồn tại từ rất lâu đời) và họ đã có quá trình xuất khẩu công nghiệp trước Việt nam hơn một thập kỷ. Ưu thế nổi bật của Trung quốc là hiện nay họ đã phát triển công nghiệp chế tạo thiết bị dệt may, trong khi Việt nam chủ yếu phải nhập khẩu. So sánh các nước ASEAN - Việt nam: các nước ASEAN nói chung có điểm xuất phát của ngành công nghiệp dệt cùng thời gian với Việt nam, nhưng các nước này dã từng là thuộc địa của Anh trước đây nên thừa hưởng được một phần công nghệ của ngành dệt của Anh, một nước có ngành dệt phát triển trong thế kỷ trước. Đặc điểm chung là cả Việt nam và các nước ASEAN đều phải nhập khẩu thiết bị công nghệ từ các nước công nghiệp phát triển, nhưng họ đã có bước phát triển khá trong thời gian ba chục năm trở lại đây, đặc biệt có sự phát triển nhảy vọt vào những năm tám mươi của thế kỷ trước. (Tiêu biểu là các nước Thái lan, Indonesia và Malaysia thừa hưởng kết quả chuyển giao công nghệ của các ngành có tỷ trọng lao đông cao- Labor intensive sector- từ các nước công nghiệp phát triển(Nhật) và các nước công nghiệp mới (NIC: Hàn quốc, Đài loan, Hongkong) Do đi chậm hơn nên Việt nam lại có ưu thế tiếp nhận được thiết bị công nghệ tiên tiến hơn. 3.1.4. Về Lao động (Manpower): 3.1.4.1. Tiền lương: Đầu những năm 1990 mức lương trong ngành công nghiệp dệt may của Việt nam là một trong mức lương thấp nhất ở các nước Châu á. Tuy nhiên, hiện nay mức lương ở Việt nam đã tăng lên, bình quân là 700 USD/ năm. Cho nên: Mức lương trung bình của ngành dệt may của Trung quốc hiện nay thấp hơn Việt nam, đặc biệt là của các doanh nghiệp hương trấn rất thấp. Sự giảm giá một số đồng tiền ở Đông nam á làm cho mức lương của một số nước trở nên thấp hơn mức lương của Việt nam, đặc biệt năm 1998 mức lương của Indonesia thấp hơn một nửa mức lương của Việt nam. Bảng 01: Trả lương theo lao động ngành dệt may. (USD/người/năm) Năm Việt Nam Trung Quốc Inđônêxia Malayxia Xingapore 1996 550 540 940 3990 11430 1997 650 550 890 3840 10890 1998 690 570 330 2870 10210 Nguồn: Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt nam - Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc, UNIDO và Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tham khảo bảng trên, thấy rõ ràng rằng mức lương của lao động ngành dệt may Việt nam trước kia là một lợi thế cạnh tranh so với Trung quốc và một số nước ASEAN thì nay không còn nữa. 3.1.4.2. Năng suất lao động: Nếu xét năng suất lao động theo giá trị gia tăng tính trên một lao động, thì : Giá trị gia tăng theo lao động của Việt nam trong ngành dệt may vào đầu những năm 1990 rất thấp so với Trung quốc và đã đuổi kịp trong những năm gần đây. Tại khu vực ASEAN cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và1998 đã làm cho năng suất lao động tính theo giá trị gia tăng theo lao động bằng USD đã giảm đột ngột, đặc biệt đối với Indonesia. Bảng 02: Giá trị gia tăng theo lao động (tính bằng USD cho 1 năm) Năm Việt nam Trung Quốc Inđônêxia Malaixia Xingapore 1996 1.720 1.490 4000 10.450 16.270 1997 1.720 1.650 3.700 10.700 16.190 1998 1.770 1.760 1.100 7.980 15.560 Nguồn: Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt nam - Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc, UNIDO và Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 3.1.4.3. Nguồn nhân lực: Lao động Việt nam tuy nhiều nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, chưa qua đào tạo cơ bản về nghề nghiệp nên hầu hết các doanh nghiệp phải tự đào tạo nghề cho lao động của mình, dẫn đến chỉ số về chi phí cho một lao động của Việt nam cao hơn so với Trung quốc, Indonesia, và Malaysia. Chỉ số này có thể được xem như là đại diện cạnh tranh quốc tế về chi phí. 3.1.5.Về Quản lý (Management): Với đặc điểm ngành công nghiệp dệt may còn mang nhiều dấu tích của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, nên đã hạn chế phần nào sự năng động trong quản lý. Trong khâu quản lý nội bộ doanh nghiệp, hiện nay có rất ít các doanh nghiệp trong ngành dệt may được cấp chứng chỉ quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000. Môi trường kinh doanh ở Việt nam kém thuận lợi. Điều này biểu hiện trên các khía cạnh: luật lệ không rõ ràng; chính sách thuế không ổn định và đồng nhất giữa các loại hình sở hữu; sự cồng kềnh và tệ quan liêu trong bộ máy quản lý hành chính; thủ tục xuất nhập khẩu thường phức tạp. Thời gian gần đây Nhà nước đã cố gắng cải thiện dần môi trường kinh doanh với mục tiêu hướng về các doanh nghiệp, nhằm tạo điều kiện phát huy mọi nguồn nhân tài vật lực phục vụ cho sản xuất và kinh doanh. 3.1.6. Về Thị trường (Marketing): Trước kia, ngành công nghiệp dệt may của Việt nam chủ yếu đáp ứng một phần nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu vào thị trường các nước trong khối COMECON. Từ khi Việt nam chuyển đổi từ nền kinh tê kế hoạch hoá tập trung sang kinh tế thị trường, thì dệt may là bộ phận cấu thành quan trọng trong định hướng xuất khẩu của Việt nam. Trị giá xuất khẩu hàng dệt may tăng nhanh qua từng năm, đến năm 2000 đạt 1,815 tỷ USD, chiếm hơn 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt nam và đứng thứ hai sau dầu mỏ. Song, phần lớn các doanh nghiệp chỉ cố gắng duy trì sản xuất ra những sản phẩm có tính truyền thống mà không nghĩ đến việc thay đổi mẫu mã mới để tiếp cận với yêu cầu của thị trường trong và ngoài nước, chủ yếu làm gia công hay theo đơn đặt hàng của nước ngoài, chưa chú ý xây dựng được các kênh phân phối và tiêu thụ sản phẩm phù hợp với xu hướng phân công lao động trong nền kinh tế thị trường. Các viện mẫu, thời trang chưa thực sự gắn với sản xuất và thị trường nên chưa có tác dụng rõ dệt đối với việc xúc tiến và phát triển thương mại. Trung quốc là một trong những nước dẫn đầu thế giới về hàng dệt may xuất khẩu với kim ngạch hơn 31 tỷ USD ( năm 2000 ), Trung quốc là đối thủ cạnh tranh lớn và trực tiếp của Việt nam về mặt hàng này ngay tại thị trường nội địa Việt nam (hàng dệt may chiếm 15% kim ngạch 2 chiều giữa Việt nam -Trung quốc) và cả trên thị trường quốc tế, các mặt hàng dệt may của Việt nam và Trung quốc thường hướng mạnh vào các nước Châu á, đặc biệt là thị trường Châu Âu ( hiện còn có quota bắt buộc, song dự kiến sẽ được bãi bỏ dự kiến vào 01/01/2005 ). Riêng với thị trường Mỹ, dệt may Việt nam tuy mới xuất khẩu được dưới 5% kim ngạch nhưng cũng có cơ hội phát triển sau khi Hiệp định Thương mại Việt- Mỹ có hiệu lực và còn chờ kết quả đàm phán hiệp định dệt may giữa ta và Mỹ. Theo báo cáo khảo sát của Đoàn đệt may của Mỹ vào Việt nam đầu năm 2002, ngoài việc hai phía chưa bắt tay vào đàm phán Hiệp định dệt may, trong 35 vấn đề được nhận xét thì chỉ có 9 điều thuận, còn lại 26 vấn đề ngành dệt may của ta cần nghiên cứu để hoàn thiện mình đặng hy vọng có thể đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may của ta vào thị trường Mỹ. Nguồn: So sánh khả năng cạnh tranh giữa Việt Nam - Trung Quốc của Trung tâm khảo sát và nghiên cứu về phát triển quốc tế CERDI Trong khu vực ASEAN, hàng dệt may Việt nam chủ yếu phải cạnh tranh với Thái lan, Indonesia và Malaysia, những nước này có một số ưu thế cạnh tranh nhất định về nguyên liệu, tiền lương và công nghệ, đồng thời là những nước đã là thành viên của WTO. Từ sự phân tích đánh giá trên, các yêu cầu đặt ra để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành dệt may Việt nam là: Tạo những điều kiện tốt hơn cho việc duy trì và tăng nhanh tốc độ tăng năng suất lao động, với các biện pháp ưu tiên: Tăng hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm ngang với tiêu chuẩn quốc tế, trên cơ sở hợp lý hoá qui trình sản xuất và nâng cao năng lực quản lý. Xây dựng và áp dụng hệ thống chất lượng quản lý theo tiêu chuẩn ISO 9000 và TQM (kiểm tra chất lượng toàn bộ) Phát triển công tác thị trường; nâng cao kiến thức về thị trường, năng lực tiếp thị, tìm hiểu xu hướng thay đổi thị hiếu của người tiêu dùng nhằm giành lại phần lớn thị trường nội địa đang đầy ắp hàng Trung quốc. Đẩy mạnh xuất khẩu: tận dụng tối đa quota xuất khẩu thị trường Liên minh châu Âu, có những thay đổi mẫu mã phù hợp với thị hiếu của thị trường truyền thống không hạn chế quota như Nhật bản, Đông Âu, đặc biệt là chuẩn bị mọi mặt để xuất khẩu vào thị trường Mỹ đầy tiềm năng, trong đó phải lưu ý cải thiện điều kiện lao động theo SA 8000 và WRAP 3. Cải thiện điều kiện để các doanh nghiệp có khả năng tiếp cận với nguồn vốn trong và ngoài nước. Trong đó quyền sử dụng đất phải được coi như tài sản thế chấp vay vốn của các tổ chức tài chính tín dụng. Chủ động hơn trong việc tìm kiếm nguồn nguyên liêu và phụ liệu để hạn chế mức độ phụ thuộc vào nước ngoài; đẩy mạnh công tác R&D để mở rộng và cải tiến, đa dạng hoá mẫu mã đáp ứng được nhiều đối tượng khách hàng về nhiều chủng loại. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tháo bỏ các thủ tục hành chính liên quan đến thuế, quản lý xuất nhập khẩu. Tuân thủ các cam kết về kinh tế của Việt nam với các tổ chức AFTA, APEC, và tới đây là WTO. 3.2. Ngành da giầy : Ngành công nghiệp da giầy Việt nam được quan tâm phát triển ngay thời kỳ đầu của nền công nghiệp và có vị trí quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, đây là ngành thu hút nhiều lao động xã hội với tay nghề đòi hỏi không cao lắm, vốn đầu tư ban đầu không lớn và thu hồi vốn nhanh và có điều kiện mở rộng thương mại với chủ yếu là xuất khẩu. Trong mấy năm gần đây, sản xuất của toàn ngành phát triển nhanh, với sản lượng hơn 302 triệu đôi giầy dép Việt nam đứng thứ tám trong 10 nước dẫn đầu thế giới về sản xuất chiếm 2,1% tổng sản lượng giầy thế giới, (Trung quốc là nước dẫn đầu, khối ASEAN có Indonesia đứng thứ 3 và Thái Lan đứng thứ 7), do đó không những đáp ứng được đòi hỏi tiêu dùng của thị trường nội địa với gần 80 triệu dân mà phần lớn sản phẩm sản xuất ra là để xuất khẩu (đạt tỷ lệ 91,8%) Bảng 03: Sản lượng ngành da giầy 1997-2000 Đơn vị tính: 1000 đôi 1997 1998 1999 2000 Giầy thể thao 93.360 96.390 108.702 126.470 Giầy vải 38.900 34.690 37.270 34.080 Giầy nữ 34.780 38.200 43.262 59.470 Các loại khác 39.000 43.370 51.582 82.780 Tổng số 206.040 212.650 240.816 302.800 Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt nam Kim ngạch xuất khẩu của ngành cũng có tốc độ tăng trưởng cao, từ 964,50 triệu USD năm 1997 lên 1,468 tỷ USD năm 2000. 3.2.1. Về Vốn (Money): Với lợi thế giá nhân công rẻ, môi trường đầu tư thuận lợi, Việt nam đã tiếp nhận được sự chuyển dịch sản xuất da- giầy từ các nước công nghiệp mới như Đài loan, Hàn quốc, Hongkong, Singapre... nên đầu tư nước ngoài chiếm tới gần 50% năng lực sản xuất của ngành. Nguồn: Hiệp hội da giầy Việt nam Các doanh nghiệp trong nước ít nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước về vốn cho đầu tư phát triển và hoạt động sản xuất kinh doanh. Hầu hết là phải vay ngân hàng với lãi suất cao, hoặc tự vay đối tác nước ngoài (mua thiết bị trả chậm). Do đó phần đông các doanh nghiệp phải lựa chọn phương thức gia công, dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp, các lợi thế phía đối tác được hưởng (trong cung cấp đầu vào, đầu ra và trong khai thác nhân công rẻ ...). Tất cả những hạn chế trên làm cho khả năng cạnh tranh yếu, bỏ lỡ nhiều cơ hội đầu tư và giảm tính năng động sáng tạo. 3.2.2.Về Nguyên phụ liệu (Materials): Trong nước mới chỉ cung cấp được nguyên liệu cho sản xuất giầy vải, dép đi trong nhà và phần đế, còn lại hầu hết nguyên liệu để sản xuất giầy đều phải nhập ngoại. Tuy là nước nông nghiệp, có nguồn da trâu, bò phong phú, nhưng Việt nam vẫn chưa phát triển công nghiệp thuộc da nên không cung cấp đủ da thuộc cho các nhà sản xuất giầy mà phải xuất khẩu dưới dạng da trâu, bò muối cho một số nước như Thái lan, Italy. Để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành da giầy đã đề ra kế hoạch sản xuất nguyên vật liệu trong nước, cố gắng đáp ứng yêu cầu cho sản xuất của toàn ngành trong chiến lược phát triển đến năm 2010. Bảng 04: Mục tiêu sản xuất nguyên vật liệu chủ yếu. Nguyên vật liệu Đơn vị tính Thực hiện 2000 Kế hoạch 2005 Kế hoạch 2010 Da Triệu sqft 15,0 40,0 80,0 Giả da Triệu yard 15,0 60,0 90,0 Vải các loại Triệu yard 25,0 100,0 155,0 Đế giầy Nghìn tấn 244,0 370,0 550,0 Keo tổng hợp Tấn 4.447,0 6.652,0 10.000,0 Phụ liệu Tấn 16.350,0 41.325,0 98.960,0 Nguồn: dự án QHTT phát triển ngành da giầy đến năm 2010 So với Việt nam, Trung quốc và một số nước ASEAN như Indonesia và Thái lan đã tự sản xuất được phần lớn nguyên vật liệu cho ngành da giầy. Nhất là Thái lan, ngành thuộc da của Thái lan rất phát triển. Thái lan là khách hàng chủ yếu mua da trâu, bò của Việt nam và sau đó lại là người cung cấp nguyên liệu da thuộc cho Châu âu, thậm chí bán lại cho Việt nam. 3.2.3. Về Thiết bị - công nghệ (Machinery): Hầu hết các máy móc thiết bị cho sản xuất giầy dép các loại được nhập khẩu từ Đài loan, Hàn quốc với phương thức trả chậm trừ dần vào công phí hoặc do phía đối tác cung cấp để gia công không thanh toán. Các dây chuyền được bố trí theo hệ thống băng tải, kết cấu đơn giản của thế hệ cuối thập kỷ 70, đầu 80 nên tuổi thọ ngắn.Vì vậy, chỉ sau năm 2003 sẽ phải đổi mới trang thiết bị tiên tiến hơn mới đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trừ mặt hàng giầy vải và dép đi trong nhà, các mặt hàng giầy dép khác chủ yếu làm gia công cho nước ngoài nên việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới đang rất hạn chế. Trình độ thiết bị đã được đổi mới đáng kể song mới chỉ ở mức trung bình trong khu vực, số máy móc thiết bị cũ, thế hệ 2,3 còn đang phổ biến. Do vậy, sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế của doanh nghiệp Việt nam ( DNNN, DNTN và DNLD ) còn yếu và hạn chế. Riêng khu vực doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ( chiếm hơn 42% năng lực sản xuất giầy dép VN ) hầu như xây dựng mới theo tiêu chuẩn sản xuất công nghiệp hiện đại với qui mô hợp lý, khép kín sản xuất trong phạm vi doanh nghiệp. 3.2.4.Về Lao động (Manpower): Ngành da giầy do sử dụng lao động có mức đòi hỏi về trình độ tay nghề không cao lắm nên tiền lương của lao động Việt nam trong ngành da giầy là rất thấp. Đây là một đặc điểm lợi thế cạnh tranh của ngành. Bảng 05: Giá nhân công của một số nước sản xuất giầy 1997-2000 Đơn vị tính: USD/giờ Nước 1997 1998 1999 2000 Việt Nam 0,30 0,34 0,34 0,35 Trung Quốc 0,38 0,44 0,46 0,48 Đài Loan 5,89 5,44 5,70 5,98 Hàn Quốc 7,22 3,36 3,53 3,70 Indonesia 0,44 0,28 0,88 0,92 Thailand 1,64 0,84 0,88 0,92 Malaysia 1,187 1,25 1,31 1,37 Philippine 1,23 0,94 0,987 1,04 Nguồn: Bản tin công nghiệp da giầy Việt nam Theo số liệu trên, Việt nam thuộc các quốc gia Đông Nam á có tiền công gần như là thấp nhất (chỉ cao hơn Indonesia do nước này bị ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 1998). Mức lương bình của ngành giầy không cao bằng mức lương của toàn ngành công nghiệp, nhưng so với lương bình quân của cả nước thì mức lương bình quân của ngành giầy cao hơn nên tạo khả năng thu hút lao động ngành giầy lớn hơn (xem Bảng 06). Tổng số lao động trong ngành da giầy chiếm tỷ lệ đáng kể so với lao động toàn ngành công nghiệp Việt nam và tăng dần qua các năm, đến năm 2000 đạt tỷ lệ 10,8% (400.000/3.692.000 ) Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật chuyên ngành và công nhân lành nghề được đào tạo ở các nước XHCN cũ vào những năm 70,80. Trong những năm gần đây hầu như không được bổ xung thêm. Trong nước chưa có các trường, lớp đào tạo kỹ sư chuyên ngành, nên rất thiếu cán bộ kỹ thuật, nhất là ở các doanh nghiệp giầy tư nhân. Đội ngũ công nhân kỹ thuật chủ yếu do các doanh nghiệp tự mở trường lớp đào tạo, chỉ chiếm khoảng 20% tổng số lao động của ngành, còn lại ở dạng kèm cặp để đáp ứng yêu cầu sản xuất của đơn vị. Bảng 06: Thu nhập bình quân ngành giầy so với toàn ngành và cả nước Đơn vị: 1000 đồng/người/tháng STT 1997 1998 1999 2000 1 Ngành CN Da- Giầy 744,0 742,0 770,0 798,0 2 Ngành CN 762,4 806,4 855,1 852,2 3 Cả nước 642,1 697,1 728,7 736,2 %1/2 97,6 92,0 90,1 93,64 %1/3 115,9 106,5 105,7 108,4 Nguồn: - Niên giám thống kê 2000 - Báo cáo Hội nghị Ngành giầy. Mặt khác, công nhân ngành này chủ yếu thu hút từ nông thôn, có trình độ văn hoá không đồng đều (30% chưa học hết phổ thông trung học), tuy có ưu điểm là cần cù chịu khó, xong nhận thức xã hội, độ tinh xảo, khéo léo thấp, nên trình độ của công nhân nói chung là còn thấp, cấp bậc công nhân bình quân là 2,5 (phân thành 6 bậc trên cơ sở độ phức tạp của các nguyên công), gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện các đơn hàng mới, năng suất lao động không nâng cao được (một phần do thường xuyên có số lao động mới vào nghề) và trong quản lý lao động. Đây chính là yếu tố làm hạn chế khả năng cạnh tranh của ngành da giầy. 3.2.5.Về Quản lý (Management): Với đặc điểm cơ cấu của ngành là đầu tư liên doanh chiếm tới hơn 50% (trong đó DN 100% vốn nước ngoài 42,02%), và giá trị xuất khẩu của các thành phần kinh tế cũng tương ứng theo cơ cấu này. Do vậy, công nghiệp da giầy là ngành phát triển với tốc độ cao và chứa đựng nhiều yếu tố cả tích cực lẫn hạn chế trong việc quản lý phát triển bền vững của ngành. Những biện pháp cần thiết trong quản lý để chủ động nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành da giầy gồm: Về đầu tư trong và ngoài nước: tận dụng những nhân tố tích cực trong đầu tư từ hai nguồn vốn đó không những làm cho ngành có những tăng trưởng mà cơ cấu nội bộ cũng được tăng cường và phát huy nội lực, để tạo thế chủ đạo trong quản lý và phát triển. Bên cạnh việc đẩy mạnh xuất khẩu, phải quan tâm thích đáng đến yêu cầu của thị trường tiêu thụ nội địa (thay đổi mẫu mã, nghiên cứu sản phẩm mới) để cạnh tranh được với hàng nhập ngoại, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của gần 78 triệu dân, tận dụng tối đa năng lực sản xuất của ngành. (năm 2000 toàn ngành mới chỉ sản xuất được 302,80 triệu sản phẩm so với 422 triệu sản phẩm theo năng lực sản xuất, đạt tỷ lệ 71,75%. Trong đó tiêu thụ nội địa chỉ chiếm 8,65% so với sản lượng và 6,2% so với năng lực sản xuất.) Xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, nhằm hoàn chỉnh và hợp lý hoá qui trình sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm nguyên vật liệu, hợp lý hoá lao động, nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm để tạo ra ưu thế cạnh tranh rõ rệt của sản phẩm trên thị trường. Hiện trong toàn ngành mới chỉ có 11 doanh nghiệp được cấp chứng chỉ. Xây dựng chính sách rõ ràng cụ thể trong công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới và đào tạo cán bộ công nhân kỹ thuật có trình độ cao về KHCN, quản lý sản xuất, công nghệ, kỹ thuật. Nhà nước cần phải có chính sách và biện pháp nhằm giảm giá điện, nước, và viễn thông (những lĩnh vực còn có sự độc quyền của Nhà nước) nhằm tạo môi trường thuận lợi về cơ sở hạ tầng thu hút đầu tư nước ngoài và nhằm giảm chi phí đầu vào ngành da giầy, góp phần hạ giá thành sản phẩm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường. Những chi phí này hiện chi._.uốc với kim ngạch xuất khẩu vào Trung quốc năm 2002 là 360-370 triệu USD, đạt tỷ lệ tăng trưởng 20% /năm, nâng thị phần của thị trường Trung quốc và Hongkong lên 23-25% kim ngạch xuất khẩu hải sản của Việt nam. Vì vậy các doanh nghiệp Việt nam cần: Tìm kiếm những bạn hàng, đối tác tốt tại Trung quốc và luôn tạo cho họ sự tín nhiêm và uy tín của công ty Việt nam Xây dựng thương hiệu thuỷ sản Việt nam với chính bao bì đóng gói từ Việt nam, cung cấp ổn định, chất lượng cao và ngày càng tăng. Nghiên cứu việc đóng gói nhỏ các sản phẩm thuỷ sản để cung cấp thẳng cho các siêu thị và các chuỗi cửa hàng bán lẻ. Thực hiện các chiến dịch quảng bá, xúc tiến tiếp thị rộng rãi đến công chúng Trung quốc để họ biết đến thương hiệu thuỷ sản Việt nam. 3.4.4.4. Thị trường các nước thuộc liên minh châu âu ( EU ): Thị trường EU là thị trường lớn và có xu hướng gia tăng về nhập khẩu hải sản, một phần do nguyên nhân giảm sút nghề cá nội địa, mức độ nhập khẩu tăng. Các nước nhập khẩu lớn nhất là Tây Ban Nha, Pháp, Italia. Hiện tôm đông lạnh là mặt hàng nhập khẩu chiếm ưu thế của Việt nam. Tuy chỉ đứng thứ tư về nhập khẩu hải sản Việt nam, năm 2001 kim ngạch 90 triệu USD, chiếm gần 6% thị phần, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng vì đây là thị trường rất ổn định và trở thành thị trường đối trọng mỗi khi có biến động tại thị trường Mỹ và Nhật bản. Để đạt mục tiêu phấn đấu tăng kim ngạch vào EU với tỷ lệ 10-12%/năm, chiếm 8-9% thị phần hải sản xuất khẩu, các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản Việt nam phải lưu ý: Yêu cầu lớn nhất của thị trường EU là tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm ( VSATTP ), tiêu chuẩn này là bắt buộc đối với hàng hải sản vào EU. Tháng 11/1999, mới chỉ có 18 doanh nghiệp Việt nam được EU chính thức công nhận vào Danh sách I, đến năm 2001 đã có 61 doanh nghiệp nằm trong danh sách xuất khẩu thuỷ sản đi EU, chiếm 24,8% doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu hiên nay. Tuy nhiên, theo Bộ Thuỷ sản trong năm 2001 đã có 44 lô hàng hải sản ( khoảng 359,76 tấn ) của Việt nam bị EU cảnh báo về chất lượng, đó là dư thừa chất kháng sinh : nhiễm chất chloramphenicol và dư lượng oxytetracylin. Do đó EU đã quyết định, từ tháng 9/2001 kiểm tra 100% các lô hàng của Việt nam vào Châu Âu. Do vậy, công tác quản lý chất lượng và VSATTP phải đặt trọng tâm vào việc kiểm soát môi trường, kiểm soát dư thừa độc chất trong động vật thuỷ sản, sản phẩm thuỷ sản nuôi trồng, xây dựng một hệ thống kiểm soát đáng tin cậy từ khâu sản xuất nguyên liệu như đánh bắt, nuôi trồng, chế biến, tiêu thụ, xuất khẩu. Xu hướng tiêu dùng thuỷ sản ở châu Âu đang có những thay đổi lớn. Phần lớn người tiêu dùng châu Âu ngày càng tiến tới sự tiện ích, muốn mua thực phẩm được chế biến tương đối, hoặc có thể ăn ngay. Họ mua thuỷ sản tại các siêu thị lớn nơi họ có thể mua đồng thời nhiều thứ khác, nên chuỗi cửa hàng nhỏ ( do các nhà bán buôn cung cấp hàng ) sẽ giảm sút. Do đó, để đáp ứng sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng trên, các doanh nghiệp xuất khẩu hải sản Việt nam cần hướng các nhà sản xuất và chế biến theo xu hướng này, sản phẩm phải được cắt miếng, cắt khúc và các dạng cắt khác; đóng gói với trọng lượng phù hợp trong bao bì giữ được độ ẩm, không có mùi và thấy rõ được sản phẩm bên trong. Theo các chuyên gia tư vấn châu Âu, nếu Việt nam có chiến lược tiếp thị tốt và đáp ứng được những thay đổi tập quán tiêu dùng của châu Âu, thì chỉ hai ba năm nữa xuất khẩu thuỷ sản Việt nam sẽ vượt qua Trung quốc. IV - So sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước Châu á Để Báo cáo khảo sát được phong phú thêm, các nhà tư vấn được huy động để làm Báo cáo này muốn phần nào giới thiệu với người đọc một số tài liệu của các tổ chức trong và ngoài nước đã từng nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt nam. Qua đó ta có thêm cơ sở so sánh và có thể thấy những kết luận rút ra từ cuộc khảo sát này và những tài liệu được giới thiệu sau đây, ở một chừng mực nào đó, đã tiếp cận được với nhau. Chúng tôi xin miễn không có ý kiến bình luận về các số liệu, phương pháp tính toán và các kết luận của các tài liệu đó. 4.1. "Báo cáo Năng lực cạnh tranh tổng thể năm 1999 " (The Global Competitiveness Report 1999) 4.1.1. Căn cứ theo "Báo cáo Năng lực cạnh tranh tổng thể năm 1999 " (The Global Competitiveness Report 1999) do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (World Economic Forum-WEF) chọn 59 nước, trong đó có Việt nam, có kết hợp với việc thăm dò 1.500 công ty trên thế giới, để so sánh theo 155 chỉ tiêu, được chia thành 8 nhóm: Độ mở của nền kinh tế; Vai trò và hiệu lực của Chính phủ; Sự phát triển của hệ thống Tài chính-tiền tệ; Trình độ phát triển công nghệ; Trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng; Trình độ quản lý doanh nghiệp; Số lượng và chất lượng lao động; và Trình độ phát triển thể chế. 4.1.2. Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi không thể so sánh toàn bộ 155 chỉ tiêu mà chỉ lựa chọn một số chỉ tiêu đại diện cho 8 nhóm trên và dùng biểu mẫu Radar để so sánh, đó là : Tiếp cận thị trường vốn nước ngoài Access to Foreign Capital Markets 2. ảnh hưởng của Chính phủ Government Inluence 3. Tiếp cận tín dụng Access to Credit; 4. Mức độ hạ tầng so với thế giới Overall Infrastructure; 5. Mức độ công nghệ so với thế giới Technologycal Sophistication; 6. Chất lượng quản lý chung Overall Manegement Quality; 7. Lợi thế cạnh tranh Competitive Advantages; 8. Phân quyền Delagation of Authorty. 4.1.3. Trong Bảng 27: So sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam với một số nước theo các chỉ tiêu nêu trên, trong từng cột, những con số mờ là thứ hạng của nước đó trong số 59 nước được chọn để so sánh về chỉ tiêu đó, những chữ số đậm là số điểm được tính theo hệ số 7. Dùng các biểu đồ Radar dựa trên số liệu trong Bảng 21 trên phần nào cũng phản ảnh năng lực cạnh tranh của các nền kinh tế của một số nước được chọn để so sánh. Trong đó, số ghi tại các đỉnh của bát giác ứng với các chỉ tiêu nêu trên, con số bên trong là số điểm được tính cho chỉ tiêu đó. Bảng 27: So sánh năng lực cạnh tranh của Việt nam so với một số nước trên thế giới Thu hút vốn nước ngoài ảnh hưởng của Chính phủ Tiếp cận Tín dụng Mức độ hạ tầng cơ sở so với thế giới Mức độ công nghệ so với thế giới Chất lượng quản lý chung Lợi thế cạnh tranh Phân quyền 1 2 3 4 5 6 7 8 Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Xếp hạng (1-59) Điểm (1-7) Việt Nam 49 4.41 59 2.70 28 4.37 51 2.63 51 2.77 58 2.74 59 1.92 59 2.71 Thái Lan 46 4.68 31 3.83 57 2.08 29 4.12 36 3.43 44 3.92 42 3.00 40 3.74 Malaysia 45 4.74 32 3.82 43 2.76 18 5.80 26 4.37 33 4.63 36 3.29 23 4.45 Singapore 17 6.44 39 3.66 32 3.79 1 6.73 9 5.65 13 5.32 14 5.21 20 4.73 Indonesia 33 6.09 29 3.85 56 2.18 38 3.72 47 2.97 50 3.48 58 2.19 54 3.21 Philippines 41 5.49 46 3.52 50 2.52 53 2.40 45 3.05 22 5.02 39 3.17 19 4.76 Nhật Bản 25 6.32 12 4.25 45 2.64 16 5.88 2 6.25 16 5.20 4 6.05 18 4.81 Hàn Quốc 47 4.49 52 3.27 39 3.22 26 4.39 23 4.61 38 4.34 25 4.17 32 4.02 Đài Loan 40 5.54 58 2.94 26 4.48 23 4.90 17 5.20 14 5.26 18 4.88 16 4.86 Trung Quốc 57 3.29 57 3.02 40 3.14 46 2.87 41 3.23 56 2.87 47 2.81 47 3.40 Nguồn: Tài liệu riêng của IBCI căn cứ theo "Báo cáo Năng lực cạnh tranh tổng thể năm 1999 " Hình 19: Các biểu đồ Radar về năng lực cạnh tranh của Việt nam và một số nước Châu á 4.2. Hội thảo "Xây dựng năng lực cạnh tranh"tại Hà nội 13-3-2002 4.2.1. Cũng theo tài liệu của CIEM sử dụng tại Hội thảo “ Xây dựng năng lực cạnh tranh” được tổ chức tại Hà nội ngày 13-3-2002 việc xếp hạng 59 nước diễn biến qua từng năm từ 1997 đến 2001 được thể hiện trong Bảng 28: "Xếp hạng tính cạnh tranh của các nước /nền kinh tế thế giới" cũng do WEF công bố ngày 8-10-2001. Theo TOR của đề tài khảo sát lần này có yêu cầu so sánh Việt nam với các nước ASEAN và Trung quốc. Chúng tôi xin lưu ý, trong 59 nước được chọn để so sánh, chỉ có Việt nam, Thái lan, Singapore, Malaysia và Philippines là thành viên của ASEAN, còn các nước thành viên khác của ASEAN là Laos, Campuchia, Myarma và Bruney không có tên trong 59 nước được chọn để só sánh. Để minh hoạ thêm, ngoài Trung quốc như TOR có yêu cầu, chúng tôi có chọn thêm 3 nền kinh tế khác ở Châu á, đó là Nhật bản, Hàn quốc và Đài loan để so sánh. Nếu dùng thêm sơ đồ "ma trận", chia 59 nước được WEF chọn để so sánh thành 4 khối nước: Các nước công nghiệp phát triển, các nước Công nghiệp mới (NIC), các nước đang phát triển, và các nước đang phát triển ở trình độ thấp, với những vếc tơ theo tỷ lệ dài ngắn khác nhau chỉ riêng về 8 chỉ số chúng tôi đã chọn thì ta có thể thấy được một phần những vấn đề tồn tại mà từng nước phải giải quyết để tiến tới “hoàn mỹ” trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước mình. Tuy nhiên, chúng ta cũng không quên là trong khi các nhà nghiên cứu đang tinh toán thì mọi nền kinh tế đều chuyển động và không dừng lại. Trong bối cảnh hội nhập và tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện nay, tốc độ chuyển đôỉ ngay càng lớn, nhu cầu về hàng hoá và dịch vụ cũng thay đổi theo... Điều đó đòi hỏi nhà quản lý ở mọi cấp phải tự hoàn thiện cho phù hợp với 3 yếu tố “ C ” chính của quản lý hiện đại là: - Khách hàng ( Customers ) - Đối thủ cạnh tranh ( Competitors ) - Sự thay đổi ( Changes ) Bảng 28: Xếp hạng tính cạnh tranh của các nước /nền kinh tế thế giới STT Nước/nền kinh tế Xếp hạng năm 2001 Xếp hạng năm 2000 Xếp hạng năm 1999 Xếp hạng năm 1998 Xếp hạng năm 1997 1 United States 2 1 2 3 3 2 Singapore 10 2 1 1 1 3 Luxembourg ... 3 7 10 11 4 Netherlands 3 4 9 7 12 5 Ireland 16 5 10 11 16 6 Finland 1 6 11 15 19 7 Canada 11 7 8 5 4 8 Hong Kong SAR 18 8 3 2 2 9 United Kingdom 7 9 8 4 7 10 Switzeland 5 10 6 8 6 11 Taiwan 21 11 4 6 8 12 Australia 9 12 12 14 17 13 Sweden 6 13 19 23 22 14 Denmark 8 14 17 16 20 15 Germany 4 15 25 21 25 16 Norway 19 16 15 9 10 17 Belgium 14 17 24 27 31 18 Austria 13 18 20 20 27 19 Israel 17 19 28 29 24 20 New Zealand 20 20 13 13 5 21 Japan 15 21 14 12 14 22 France 12 22 23 22 23 23 Portugal 31 23 27 26 30 24 Iceland 16 24 18 30 38 25 Malaysia 37 25 16 17 9 26 Hungary 26 26 38 43 46 27 Spain 23 27 26 25 26 28 Chile 29 28 21 18 13 29 Korea 28 29 22 19 21 30 Italy 24 30 35 41 39 31 Thailand 38 31 30 21 18 32 Czech Republic 35 32 39 35 32 33 South Africa 25 33 47 42 44 34 Greece 43 34 41 44 48 35 Poland 41 35 43 49 50 36 Mauritius 52 36 ... ... ... 37 Philippines 54 37 33 33 34 38 Costa Rica 50 38 34 ... ... 39 Slovak Republic 39 39 45 48 35 40 Turkey 33 40 44 40 36 41 China 47 41 32 28 29 42 Egypt 45 42 49 38 28 43 Mexico 51 43 31 32 33 44 Indonesia 55 44 37 31 15 45 Argentina 53 45 42 36 37 46 Brazil 30 46 51 46 42 47 Jordan 44 47 40 34 43 48 Peru 63 48 36 37 40 49 India 36 49 52 50 45 50 El Salvador 64 50 46 ... ... 51 Bolivia 75 51 55 ... ... 52 Colombia 56 52 54 47 41 53 Vietnam 62 53 48 39 49 54 Venezuela 66 54 50 45 47 55 Russia 58 55 59 52 53 56 Zimbabue 65 56 57 51 51 57 Ukraine 60 57 58 53 52 58 Bulgaria 68 58 56 ... ... 59 Ecuador 72 59 53 ... ... 4.3. Chỉ số thực hiện thương mại Trong TOR có yêu cầu tư vấn thông qua 529 điều tra được phản hồi mà nêu ra năng lực cạnh tranh của một số ngành xuất khẩu, chúng tôi có nghiên cứu qua một số tài liệu trong và ngoài nước từng đề cập tới vấn đề này. Trong giai đoạn phát triển với tốc độ cao như hiện nay để xây dựng một nền kinh tế tri thức (K-economy), kinh doanh dịch vụ ngày càng tăng và chiếm tỷ trọng lớn trong GDP của từng nước, hàm lượng tri thức trong giá thành của hàng hóa ngày càng tăng và là yếu tố quyết định cho cạnh tranh, ngoài các chỉ số về lượng, người ta còn xem xét cả các chỉ số về chất trong phát triển. Chúng tôi xin giới thiệu chỉ số thực hiện thương mại (Trade Performance Index) của Trung tâm Thương mại quốc tế (ITC) thuộc Diễn đàn Thương mại và Phát triển thuộc Liên hiệp quốc (United Nations Conference on Trade and Development) và WTO nêu trong tài liệu Hội thảo về Hội nhập của các nước Đông dương vào môi trường Thương mại toàn cầu. Dựa trên số liêu của ngân hàng dữ liệu của COMTRADE của Cục Thống kê của Liên hiệp quốc (United Nations Statistics Devision) lấy từ 14 ngành thuộc 178 nước có kim ngạch xuất khẩu mỗi ngành chiếm trên 0,5% của tổng kim ngạch xuất khẩu của mỗi nước có trên 1 triệu USD để só sánh. Tuy số liệu có lạc hậu, nhất là, theo ITC, Việt nam chưa cung cấp đầy đủ số liệu cho COMTRADE, và vì có thể chưa có một tổng kết nào mới, song, qua Hình 19: "Chỉ số thực hiện thương mại của Việt nam", ta có thể thấy thứ hạng của Việt nam trong buôn bán quốc tế tại thời điểm 1998 về trị giá và mức độ thích ứng với thay đổi của thị trường của một số nhóm hàng. Và, theo như lý thuyết quản lý hiện đại là có quản lý sự thay đổi (Management of changes) thì thứ hạng nhanh nhậy trong thay đổi để đáp ứng thị trường lại có ý nghĩa hơn. 4.3.3. Điều này cũng phản ảnh phần nào trong các phiếu điều tra được phúc đáp, đòi hỏi các doanh nghiệp của ta cần phải quan tâm hơn nữa tới khâu đầu Thiết kế/Nghiên cứu và phát triển (Designing/R&D) và khâu phân phối tiêu thụ (Distribution). Bấy lâu nay ta tập trung nhiều vào khâu sản xuất (Production)- như một nhà gia công thuần tuý- mà coi nhẹ hai khâu quan trọng này, trong nền kinh tế đương đại, từng khâu này trung bình chiếm tới 30% trong việc giúp tạo thêm giá trị gia tăng. Hình 20: Chỉ số thực hiện thương mại một số ngành của Việt nam Nguồn: Vietnam Market opportunities and a quantitative assessment of trade potential at the specific product level - ITC 4.4. Bảng so sánh giá cả và dịch vụ giữa Việt nam và một số nước của JETRO 4.4.1. TOR cũng yêu cầu xem xét năng lực cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài. Chúng tôi thiết nghĩ, ngay các biểu đồ Radar nhằm so sánh năng lực cạnh tranh giữa một số quốc gia về lĩnh vực này phần nào đã nói lên điều đó. Sau sự kiện 11-9-2001, nước Mỹ bị bọn khủng bố tấn công, theo sự đánh giá của công ty PERC ( Politic-Economic Risks Consultants) , một công ty tư vấn độc lập có trụ sở tại Hong Kong, Việt nam được được xếp trong thứ hạng 5 quốc gia được coi là nơi an toàn nhất cho việc đầu tư và kinh doanh của người nước ngoài. Sự đánh giá này cũng trùng hợp với đánh giá của JETRO, Nhật bản, trong một nghiên cứu tương tự. Tuy nhiên, JETRO cũng đưa ra những con số so sánh cảnh báo là giá cả một số hàng hoá và dịch vụ của Việt nam còn cao hơn nhiều nước trong khu vực. (Xem Bảng 29: So sánh giá cả và dịch vụ giữa Việt nam và một số nước). 4.4.2. Điều này cũng phù hợp với nhiều kiến nghị ghi trong các phiếu phúc đáp, ngay đối với các doanh nghiệp Việt nam, chưa nói tới các nhà đầu tư nước ngoài, một số giá cả hàng hoá và dịch vụ còn quá cao so với nhiều nước trong khu vực làm cho giá thành hàng hoá và dịch vụ ngay tại Việt nam cũng đã cao rồi, giá thành đầu tư sẽ cao, làm yếu sức cạnh tranh, chưa kể tới những khoản chi " Luật bất thành văn" chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong giá thành. Bảng 29: So sánh các điều kiện đầu tư của các nước ASEAN Thailand (Bangkok) Malaysia (Kuala Lumpur) Indonesia (Jakarta) The Philippines (Manila) Vietnam (Ha Noi) Giá đất Giá mua bán đất công nghiệp $/m2 51.79 20 49.8 21 74-85 22 85 2.6/năm 23 Các phương tiện thông tin Phí kết nối điện thoại $ 168.39 24 131.58 62.11 132.92 114.24 Thuê bao điện thoại hàng tháng $/tháng 2.59 9.21 4.94 28.16 8.93 Điện thoại gọi quốc tế (3 phút gọi đi Nhật) $ 3.11 2.61 2.59 3.78 8.52 Phí tiêu dùng Giá điện $/kwh 0.03 0.06 0.0161-0.0193 0.09 0.07 Giá nước $/m3 0.28-0.41 0.29 0.2291-0.5038 0.25 0.21 Các mức lương Mức lương tối thiểu $/tháng 4.2/ngày 25 Không 31.75 26 5.26 27 45 28 Công nhân (kỹ thuật bậc trung) $/tháng 176 329 29 44-83 137-319 79-108 Quản lý bậc trung (trưởng bộ phận hoặc nhóm) $/tháng 727 1,407 238-1,208 417-824 476-546 Vận chuyển Vận chuyển container (container 40: nhà máy -> cảng gần nhất -> cảng của Yokohama) $ 1,466.53 30 895.06 31 1,252.09 32 994.60 33 1,700-1,950 34 Thuế Thuế chung (mức thuế cơ bản) % 30 28 10-30 32 25 Nguồn: So sánh về chi phí thứ 10 các điều kiện đầu tư tại một số trung tâm Châu á chính, tháng 3/2000, JETRO, Nhật Bản. 20 Khu công nghiệp Amata Nakorn 21 Khu công nghiệp khoa học Selangor 22 Giá cho một số lô tại khu công nghiệp KIIC và MM2100 23 Giá thuê trên m2 hàng năm tại khu công nghiệp Sài Đồng 24 Giao kết hợp đồng 75,57 USD và phí kết nối 92,82 USD 25 Cập nhật ngày 1 tháng 1 năm 1998 26 Cập nhật ngày 1 tháng 4 năm 1999 (West Java) 27 Cập nhật ngày 1 tháng 5 năm 1999 28 Cập nhật ngày 1 tháng 7 năm 1996 29 Theo tài liệu tìm thấy của Phòng Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản - Malaysia (JACTIM, tháng 10 năm 1999) 30 Từ khu Amata Nakorn -> Cảng Laem Chabang ($ 116,53) -> Cảng Yokohama ($ 1.350) 31 Shar Alam -> Cảng Kelang -> Cảng Yokohama 32 Vận chuyển từ KCN Bekasi đến Cảng Tanjungpriok: box rate, 130+B/L phí 20 + các phí khác 102,09 33 Laguna -> Cảng Manila -> Cảng Yokohama 34 Hà nội -> Cảng Hải Phòng ($ 200-250) -> Cảng Yokohama ($ 1.500 - 1.700) 35 Luật Đầu tư nước ngoài và các văn bản dưới luật phân ra 3 mức thuế thu nhập (I - III), với mức thuế 20%, 15%, 10%. 4.5. Kết luận 4.5.1. Đưa ra các tài liệu về cạnh tranh trên, nhà tư vấn những mong người đọc khi xem xét các khuyến nghị rút ra từ các phiếu điều tra có thể bổ sung thêm các vấn đề cần phải giải quyết ở các cấp độ khác nhau, và điều cơ bản là muốn lưu ý tới một thách thức lớn nhất của nền Kinh tế Việt nam đó là sức ép về thời gian, các mốc thời gian như việc tham gia đầy đủ AFTA (trước kia cho phép tới năm 2006, nay có thể rút ngắn lại do các nước ASEAN cũ đã rút xuống 1 năm, từ 2003 xuống 2002); lộ trình thực hiện Hiệp định Thương mại song phương Việt nam-Mỹ(BTA); mong muốn gia nhập Tổ chức Thương mại Quốc tế (WTO) vào năm 2004-2006...và các hoạt động hội nhập khác đang dồn dập " gõ cửa " thúc ép nền kinh tế Việt nam phải hoàn thiện và chuyển đổi mạnh mẽ hơn. 4.5.2. Các nhà tư vấn tham gia làm bản Báo cáo này cũng thấy rằng việc Việt nam được kéo dài lộ trình hiệu chỉnh mức thuế, các dịch vụ và thủ tục... để hội nhập với các tổ chức khu vực, quốc tế và với các quốc gia khác, là một vấn đề có hai mặt. Một mặt, tốt cho Việt nam là dãn được sức ép về thời gian, ở mức độ nào đó, có thể kéo dài thời hạn bảo hộ với một số hàng hoá và dich vụ..; song, mặt khác lại làm giảm năng lực cạnh tranh của Việt nam trong việc thu hút vốn đầu tư của nước ngoài, đầu tư vào Việt nam sẽ kém hấp dẫn hơn vào những nới khác. Một vấn đề cần lưu tâm là, trong khi xây dựng một nền kinh tế hướng về xuất khẩu và tiến tới hội nhập khu vực và thế giới cần cân bằng cả thời gian và sức lực trong việc xây dựng một thị trường nội địa cạnh tranh lành mạnh chẳng riêng gì vì lợi ích người tiêu dùng, đẩy lùi hàng hoá và dịch vụ nhập ngoại, mà còn giúp cho nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia trên thương trường quốc tế một khi chọn được lợi thế đúng để phát triển. Thị trường nội địa là nơi từ đó doanh nghiệp nhận được sự phản hồi nhanh nhất của người tiêu dùng về hàng hoá và dịch vụ mình cung cấp, là nơi gần nhất cho việc thực tập với chi phí thấp cho việc hội nhập quốc tế sau này...Có lẽ, còn quá ít khảo sát của Việt nam về thị trường nội địa, và trong nhiều cuộc khảo sát về năng lực sản xuất, cạnh tranh...còn có ít quan tâm về thị trường nội địa nên chưa khảng định điều này. Để một thị trường nội địa mỏng manh (Fragile), thiếu lựa chọn lợi thế cho phát triển, còn mung lung tiếp tục đầu tư vào những ngành mà giá thành sản xuất còn cao hơn bên ngoài...ngay trước thềm hội nhập phải chăng là một điều cần cảnh báo (?). Phụ lục I Phiếu thăm dò Năng Lực cạnh trạnh của Doanh nghiệp trong hội nhập Giới thiệu về doanh nghiệp; 1.1 Tên doanh nghiệp: ......................................................................................... 1.2 Địa chỉ: ................................................... Thành phố: ....................... Điện thoại: ................................................... Fax: .................................. Địa chỉ e-mail của doanh nghiệp: ................................................................. Năm thành lập: ............................ Vốn đăng ký: ............................. VND Loại hình doanh nghiệp: Nhà nước   Tư nhân   Đầu tư nước ngoài   1.7 Số lượng nhân công: Chính thức: ..................... Hợp đồng: ....................... 1.8 Lĩnh vực hoạt động: Sản xuất   Kinh doanh   Dịch vụ   Sản phẩm chính: .......................................................................................... Kim ngạch năm 2000: ............................. trong đó tỷ lệ xuất khẩu: ......... (%) Thị trường xuất khẩu chính (nước nào): ........................................................ Đánh giá sơ bộ về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: Hiện nay sản phẩm/ dịch vụ của doanh nghiệp có thể cạnh tranh trên các thị trường như sau: (đánh dấu ệ vào ô thích hợp) Tốt Trung bình Kém - Thị trường trong nước - Thị trường ASEAN - Thị trường quốc tế Khả năng cạnh tranh như trên chủ yếu là do: - Giá cả sản phẩm/dịch vụ:   - Tính độc đáo của sản phẩm:   - Môi trường thuận lợi:   - Hỗ trợ của Chính phủ:   - Lợi thế cạnh tranh của Việt nam (về nguồn nguyên liệu, giá nhân công..)   Yếu tố khác (Đề nghị cho biết cụ thể): ............................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. Sản phẩm của doanh nghiệp phải chủ yếu cạnh tranh với sản phẩm khác: - Trung Quốc:   - ASEAN:   - Các nước khác:   Đầu vào các yếu tố nội tại ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh Nguyên liệu sản xuất: 1.1. Nguyên liệu có sẵn ở Việt nam:   - Việc cung ứng nguyên liệu có khó khăn gì không? - Không   - Cung ứng không ổn định   - Xa nơi sản xuất, vận chuyển khó khăn, cước phí vận chuyển lớn   1.2. Phải nhập khẩu nguyên liệu:   - Việc nhập khẩu nguyên liệu có khó khăn gì không? - Không   - Phải có Quota:   - Phải có giấy phép:   - Thuế NK cao   Khó khăn khác: (Đề nghị nêu rõ): ..................................................................... .............................................................................................................................. Chi phí nguyên liệu trong giá thành: (tỷ lệ chi phí nguyên liệu trong giá thành) (đánh dấu ệ vào ô thích hợp) 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Lao động: - Lao động có tay nghề tốt: - Có sẵn:   - Trung bình:   - Khó tìm:   Năng suất lao động so với các nước trong khu vực: - Cao:   - Trung bình:   - Thấp:   Doanh nghiệp có phải tự đào tạo tay nghề cho người lao động không? - Có:   - Không:   Tỷ lệ chi phí lao động trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Theo ý kiến doanh nghiệp, cần phải cải thiện những yếu tố nào trong cơ cấu chi phí lao động để nâng cao sức cạnh tranh: ............................................. ......................................................................................................................... ......................................................................................................................... Công nghệ đơn vị đang sử dụng - Tiên tiến:   - Trung bình:   - Lạc hậu:   Thiết bị đơn vị đang sử dụng: Mới (vận hành khoảng 5 năm trở lại đây)   Trung bình (vận hành từ 5 - 10 năm)   Cũ (vận hành từ 10 - 20 năm )   Quá cũ (vận hành trên 20 năm)   Tỷ lệ khấu hao về thiết bị trong giá thành 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% - Doanh nghiệp có phải trả phí bản quyền hay không? - Có:   Không:   Nếu có thì tỷ lệ phí bản quyền trong giá thành là: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Tỷ lệ chi phí quản lý trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Tỷ lệ chi phí tiếp thị trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Tỷ lệ chi phí nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Tỷ lệ chi phí tiện ích (điện, nước, .v.v..) trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Doanh ghiệp có phải thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh hay không? - Có:   - Không:   Nếu phải thuê thì tỷ lệ chi phí thuê mặt bằng sản xuất kinh trong giá thành là: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Chi phí vận tải trong giá thành: 0 - 10% 11 - 20% 21 - 30% 31 - 40% 41 - 50% Trên 50% Môi trường kinh doanh: Thuận lợi Trung bình Không thuận lợi - Quy chế đầu tư - Pháp luật về kinh doanh - Quản lý xuất nhập khẩu - Khả năng tiếp cận nguồn vốn - Thủ tục hải quan - Thuế - Tỷ giá ngoại tệ - Cơ sở hạ tầng - Thông tin liên lạc - Thanh tra kiểm tra - Vấn đề môi trường - Hàng rào của nước nhập khẩu Kết luận: Lợi thế cạnh tranh lớn nhất của doanh nghiệp là gì? .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. ............................................................................................................................................................................................................................................................ Khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp là gì: .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. Khuyến nghị của doanh nghiệp nhằm nâng cao sức cạnh tranh của đơn vị: .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. ý kiến bổ sung, làm rõ thêm những vấn đề doanh nghiệp trả lời trong mục câu hỏi: Mục bổ sung: .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. ý kiến bổ sung: .............................................................................................................................. .............................................................................................................................. Phụ lục II Tỷ lệ doanh nghiệp trả lời phân bổ theo địa phương STT Tỉnh, Thành phố Số Lượng Tỷ lệ 1 Hồ Chí Minh 132 24.95% 2 Hải Phòng 105 19.85% 3 Đà Nẵng 74 13.99% 4 Cần Thơ 35 6.62% 5 Bình Định 27 5.10% 6 Hà Nội 27 5.10% 7 An Giang 11 2.08% 8 Đồng Nai 10 1.89% 9 Quảng Nam 9 1.70% 10 Đắc Lắc 9 1.70% 11 Cà Mau 8 1.51% 12 Kiên Giang 7 1.32% 13 Sóc Trăng 6 1.13% 14 Bình Dương 5 0.95% 15 Vĩnh Long 5 0.95% 16 Phú Yên 5 0.95% 17 Thừa Thiên Huế 5 0.95% 18 Hưng Yên 5 0.95% 19 Quảng Ngãi 5 0.95% 20 Kon Tum 4 0.76% 21 Đồng Tháp 4 0.76% 22 Hải Dương 3 0.57% 23 Gia Lai 3 0.57% 24 Bắc Ninh 2 0.38% 25 Bạc Liêu 2 0.38% 26 Bình Thuận 2 0.38% 27 Hà Giang 2 0.38% 28 Trả Vinh 2 0.38% 29 Tiền Giang 2 0.38% 30 Long An 2 0.38% 31 Phú Thọ 2 0.38% 32 Hà Tây 2 0.38% 33 Bà rịa Vũng tầu 1 0.19% 34 Bình Phước 1 0.19% 35 Quảng Binh 1 0.19% 36 Quảng Ninh 1 0.19% 37 Quảng Trị 1 0.19% 38 Tây Ninh 1 0.19% 39 Thái Bình 1 0.19% Tài liệu tham khảo Niên giám thống kê năm 2000. Các Báo cáo chuyên đề về công tác thương mại năm 2000 và 2001 - Bộ Thương mại. Báo cáo về tình hình sản xuất và một số biện pháp tiêu thụ lúa gạo năm 2002 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn Báo cáo về chiến lược xuất khẩu ngành da giầy năm 2001 - 2010. Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt nam - Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc, UNIDO và Viện chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư. So sánh khả năng cạnh tranh giữa nền kinh tế Việt nam và nền kinh tế Trung quốc - Trung tâm Khảo sát và Nghiên cứu về Phát triển quốc tế, CERDI. Báo cáo tại Hội thảo "Xây dựng năng lực cạnh tranh" tại Hà nội ngày 13/03/2002 - Viên quản lý Kinh tế, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (CIEM) The Global Competitiveness Report 1999 - World Economic Forum Vietnam Market opportunities and a quantitative assessment of trade potential at the specific product level - ITC. The 10th Cost Comparision of Investment Conditions in Key Asian Centers - JETRO Các bài báo liên quan của Báo Đầu tư và Thời báo kinh tế. ._.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

  • docJ0015.doc
Tài liệu liên quan